12 sứ quân

Lượt đọc: 8437 | 5 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi Thứ Một Trăm Lẻ Sáu
chiến thư lập trận cờ tiên
giảng trăm bước thu thành bát vạn

Thư trình lên vương, vương đọc nhanh rồi cả cười trao lại cho Quân sư, bảo:

- Ngài muốn đánh cờ với thiên hạ, thiên hạ lại đưa thư thách thức ngài trước!

Hóa ra chiến thư của lão tướng Khúc Việt Thư gửi “Hoa Lư Động chúa”. Quân sư vui vẻ đọc lên cho tất cả mọi người cùng nghe:

... Ngồi trên non cao, nhìn xuống giang sơn một dải, mỗi giờ mỗi khắc vạn vật thay đổi, biến hóa. Tuy rằng hôm nay mặt trời vẫn lên mà lại chẳng giống ngày hôm qua, núi rừng vẫn đó mà lúc này lại khác sớm mai. Vì thế bản soái nhìn lên trời cao chiêm nghiệm đường vạn sao đi, lập ra mười nghìn bước tiến, ngó xuống trần gian xếp thành vạn cách sinh hóa trong thiên hạ. Dựa trên Tướng Kỳ của Đế Thích mà dựng thành “Cờ trận”. Trận cờ của bản soái biến hóa không thể lường được! Nay, Hoa Lư Động chúa mang quân vào trận trăm lần, mở thế tung thì đuổi được binh tướng vương triều phải triệt hồi tức khắc, quay sang hoành dẹp quang được đường đi chẳng nơi nào cản nổi. Hùng thế cuộc cờ thật là đáng ngợi khen. Bản soái lập Thần Kỳ Trận trước thành, mời Hoa Lư Động chúa phá thế cờ, thắng trận thì bản soái tình nguyện dâng thành. Bại là một niềm buồn tủi của bản soái, suốt đời chẳng có thần tiên nào thắng nổi bản soái!

Kỳ Vương Khúc Việt Thư thách chiến!

Lời lẽ trong thư thật cao ngạo thắng không thèm đòi hỏi gì ở người thua, chỉ thấy buồn trong lòng vì cả cuộc đời vẫn không có thần tiên hiểu nổi cuộc cờ của ông ta. Chỉ thuần những phường mắt thịt ỷ sức vô trí! Đọc thư xong, Quân sư hỏi quân trình thư:

- Ai đưa thư này tới đây?

- Bẩm, có một người xưng là lính của trấn thành Bát Vạn. Vâng lệnh soái tướng đến đưa chiến thư!

- Người ấy có còn ngoài ấy không?

- Bẩm, ông ta bảo vâng lệnh đợi nhận đáp thư!

Quân sư liền sai lấy giấy bút, tay như múa thảo nhanh thư nhận thách chiến, lại có đoạn nói là: “… Vạn Thắng Vương vốn không ưa cờ tướng của Đế Thích, nên sai văn sĩ Lê Thảo nhiệm mệnh đi phá cuộc cờ... Vì vậy Lê Thảo hẹn cuối giờ Ngọ trong ngày thì sẽ đến hội kiến Khúc đại soái để nhận thành...”.

Thư trao ngay cho người quân mang về. Khúc Việt Thư xem xong thư của Vạn Thắng Vương thì bảo chúng thuộc tướng:

- Đinh Bộ Lĩnh sai Lê Thảo phá trận của ta, ta nghe y là tay kiệt biệt ở đời này, biết được cả thuật thần tiên. Y lại kiêu ngạo bảo là cuối Ngọ sẽ đến gặp ta để nhận thành! Quả là đứa kiêu căng! Vậy, ngay từ bây giờ cho trận cờ phát động!

Một tùy tướng hỏi:

- Bẩm lão soái tướng. Thư nói là Lê Thảo đến cuối giờ Ngọ thì đến gặp lão soái, có ý gì không?

Khúc Việt Thư cười vui vẻ:

- Chính vì thế, mà ta cho trận cờ phát động ngay! Bây giờ là gần giữa giờ Tỵ, vũ trụ thời gian mỗi một khoảng ứng nghiệm vào một chuyển biến huyền nhiệm. Ngàn vạn sao trời di chuyển chiếu vào ngàn vạn việc nơi trần gian. Cuối Ngọ là đi hết một nửa biến chuyển của thời gian một ngày, bắt đầu sang một biến chuyển mới. Lê Thảo hẹn giờ ấy thì ta phải nghĩ là y cũng biết phép chiêm tinh, có thể y lờ mờ biết được chuyển hóa của trời đất!

Khúc Việt Thư nóng lòng đợi binh tướng Hoa Lư tới, ông đang muốn được thấy thần trận của ông hiển hiện thần uy biến hóa. Việc chờ đợi cả một đời người lao tâm khổ trí, đến lúc sắp tàn cuộc mới được chiêm nghiệm một lần!

Ở đại doanh. Quân sư Lê Thảo sau khi trao thư đáp chiến đi, thì bảo tướng quân Lê Hoàn cho binh tiến ngay. Trước khi ra khỏi doanh, Vạn Thắng Vương còn hỏi thêm Lê Thảo:

- Bên ngoài trong thành Bát Vạn Sơn, ta nghe còn mấy thành nữa. Vậy thì mấy thành ấy ta đối xử thế nào? Tại sao ta còn nhiều quân, mà ngài lại chỉ đem có năm nghìn đi Bát Vạn là thế nào?

Quân sư đáp:

- Bẩm trình vương, trước thì quả thật có mấy thành nhỏ dựng làm “tin thành” lấy làm nơi để Bát Vạn thu thập được tin ngoài từ xa. Từ lúc Siêu Loại đánh phá mấy thành ấy thì Khúc Việt Thư bỏ không lập thành nữa. Chắc là tin rằng Siêu Loại chẳng dám tiến binh lần nữa, cho nên ông ta chỉ lập các trạm tế tác mà thôi. Còn ta chỉ mang đi có năm nghìn binh, ấy là vì tôi tin là ta chẳng cần phải giao tranh. Cuộc cờ đấu trí không cần đến sức lực chém giết!

Rồi Quân sư sóng ngựa cùng Vạn Thắng Vương theo binh của tướng Lê Hoàn tiến tới. Các tướng đông quá vì hiếu kỳ nên xin vương cho được đi theo để xem trận lạ, vương vui vẻ chấp thuận. Thế là binh đi lấy trong thành lừng danh đất Giao Châu thời đó là thành núi Bát Vạn. Lại như đám người đi dự lễ hội, chẳng thấy có gì gọi là có “sát khí chiến trường” cả!

Tiền quân tế tác trình về tướng soái trận Lê Hoàn:

- Phía trước, có nhiều điều lạ, cảnh vật chúng tôi thường qua lại nhiều lần nên biết rõ. Nay quang cảnh đổi khác cả, xin tướng quân thận trọng!

Lập tức Lê Hoàn dừng binh rồi trình tin về hậu quân để Quân sư rõ. Quân sư liền thưa với vương:

- Bẩm, như thế là cờ trận của Khúc Việt Thư tác động rộng lắm, kỳ trận đã bắt đầu. Vậy, xin Vương dừng ngựa cùng các tướng ở lại nơi này, đừng di chuyển đi đâu. Tôi lên tiền quân với ông Lê Hoàn, mọi tình thế có tướng Mạc Sa Cảnh đích thân trình lên vương!

Vạn Thắng Vương nghe Sứ quân nói, thì ngài bảo:

- Như thế, thì hôm nay ngài vượt chiến trường lên núi, hãy cố làm cho được: “Với bậc trí giả hãy biến thế trận máu chảy xương tan thành thế Đông tàn Xuân đến trong hoa lệ!”.

Quân sư vâng lệnh rồi cùng tướng Mạc Sa Cảnh giục ngựa vượt đường lên trước. Nghe tế tác trình rõ mọi cảnh vật, Quân sư bảo hai tướng Lê Hoàn, Mạc Sa Cảnh:

- Cờ trận đã chuyển động, ta lập trận để ứng phó!

Lê Hoàn không biết phải lập trận thế nào với một tình thế chẳng biết đối phương ở đâu, vì thế nghe Quân sư nói thì ông ngập ngừng. Quân sư nhìn bóng nắng, ngửa mặt nhìn trời cao, rồi bảo:

- Lúc này khoảng gần cuối giờ Tỵ, ấy là huyền nhiệm dương của trời đất sắp chuyển sang âm. Ta bày trận “Âm dương giao hội” cho ứng với chuyển động của Trời Đất!

Rồi Quân sư bảo Lê Hoàn chia binh làm hai, đem hai nghìn quân lập thành Âm trận, gồm mười tiết khí từ Lập Xuân xuống hết tiết Hàn lộ, mười chuyển biến của trời đất trong một năm. Lấy ba nghìn binh lập thành Dương trận gồm các tiết khí từ Lập Đông tiếp nối vào Hàn lộ, trải qua mười bốn chuyển biến của trời đất trong một năm tận cùng là tiết Đại Hàn. Thế là dương trên ba, âm dưới hai, trận lập gần như vòng tròn. Cửa trận mở ở chính Bắc đối diện với trận cờ của Khúc Việt Thư.

Quân sư đích thân trông nom cho quân lập trận, mỗi phần âm dương một toán quân. Tổng cộng hai mươi bốn toán binh chia đều nhau mỗi toán hai trăm lẻ tám người, còn thừa tám người. Quân sư bảo bốn người mang cờ xanh là âm kỳ, bốn người mang cờ đỏ là dương kỳ. Đấy là tám cửa của Bát quái gồm thâu cả vũ trụ trời đất!

Quân sư dặn các toán quân cứ ở nguyên vị trí như vậy, không được xê dịch thay đổi chỗ. Lại bảo tướng Mạc Sa Cảnh vừa trông nom tế tác theo Quân sư vào trận đón tin. Vừa trông nom trận pháp của Quân sư đừng thay đổi, đợi lệnh sau. Mạc Sa Cảnh vâng lệnh, thế là cùng một lúc Cảnh phải trông nom điều động biết bao nhiêu là tế tác ở khắp các nơi. Còn tướng Lê Hoàn chẳng hiểu trận pháp thế nào, nhìn ra chỉ thấy quan trấn nơi xa nơi gần. Vòng vòng khi rõ khi mơ hồ, chẳng hiểu gì cả.

Quân sư dặn tướng Mạc Sa Cảnh xong. Bảo tướng Lê Hoàn cùng mười hai tế tác rằng:

- Ta đợi cho vừa hết giờ Ngọ thì bắt đầu vào trong trận của Khúc Việt Thư xem ông ta bày thế trận thế nào?

Cả Lê Hoàn lẫn mười hai người quân tế tác vừa hồi hộp, vừa nôn nao mong chờ đến lúc vào trận. Chỉ có mười bốn người vào trận của địch, xoay sở làm sao đây!

Nhìn trời vừa hết Ngọ. Quân sư bắt đầu cho ngựa ung dung bước vào trận, cả bọn theo sát sau lưng. Quân sư theo hướng chính Bắc mà đi. Phong cảnh vừa mới thấy mát mẻ chợt đã như muốn nóng bức, gió miên man khi vừa cho ngựa bước đi thì nay bỗng bặt cả, khí nóng như đùn ra ở khắp nơi. Cả bọn im lặng, Quân sư lặng lẽ cho ngựa kịp bước chạy đều, chợt rẽ sang trái, chưa lâu đã lại quay về Nam, rồi lại sang phải, rồi rẽ sang trái, rồi ngược lên Bắc, bỗng quay hẳn sang Đông, khi thì vào sâu trong trận, lúc lại vòng trở ra. Thời tiết phong cảnh đổi khác cùng với vó ngựa của đám người, biến đổi liên miên không ngừng làm cho tướng quân Lê Hoàn với mười hai quân tế tác kinh mang vô cùng!

Cả bọn cứ chạy như vậy một hồi lâu. Quân sư dừng lại ở một nơi bên trái có nước, bên phải cây leo, trước mặt là núi, sau lưng là rừng. Cả bọn lạc lõng nơi nào rồi đây?

Quân sư bảo mười hai tế tác:

- Bây giờ các ngươi trở về trình vương mọi điều tai nghe mắt thấy, rồi thưa rằng: Khúc Việt Thư lập cờ trận theo thế: “Song Pháo trợ thành, Song Xa mãn địa, Đại Quân yểm giang, Tả Hữu mã hoành”. Ta cùng với tướng quân Lê Hoàn lên núi gặp Khúc Việt Thư, các ngươi nhớ kỹ lời ta dặn: Cứ đi trong trận, trận này ta sẽ giữ cho nó không thay đổi, vì trận của ta ở phía trước đã trấn giữ được cả rồi. Vậy các ngươi lúc vào thấy quanh co nhưng là quanh co rút cục bao giờ cũng trở lại theo đường xoắn trôn ốc. Ấy là ta lấy phép “Tiến binh kiểu loa thành để đối chọi với trận của địch” bao giờ cũng quay về trái. Lúc trở ra các ngươi cứ đi vòng vòng theo những đường chạy về phía phải. Có lạc đường cũng cứ bình tĩnh tìm đường nhỏ hay lớn nào đúng hướng phải thì chạy vào, sẽ ra được khỏi trận. Đừng dại dột chạy theo đường thẳng hay đi ngược đường ra vào, ấy là thảm họa!

Quân tế tác là những người được Mạc Sa Cảnh chọn kỹ, vừa sáng dạ mau trí, lại vừa gan dạ. Nên nghe Quân sư dặn thì nhớ ngay, mừng lắm, vâng lệnh Quân sư. Trước khi quay đi chúng tế tác còn xin phép và Lê Thảo bảo được. Thế là mười hai tế tác lấy hết sức hô to: “Vạn tuế Vạn Thắng Vương!” tiếng hô vang vang trong trận nghe cực hùng hồn. Trên sườn núi trong vọng lâu trấn thành, lão tướng Khúc Việt Thư ruột gan như muốn đảo lộn cả!

Từ khi nhận thư đáp chiến, Khúc Việt Thư vui vẻ lẫn nóng lòng chờ binh Hoa Lư tới. Rồi tế tác trình: “Hoa Lư xuất quân, đã lập trận”. Thì Khúc Việt Thư bèn dem các thuộc tướng ra hẳn ngoài mặt thành mà quan sát. Các thuộc tướng thấy xa xa, dưới chân thành, trời đất mang mang cảnh vật như ẩn hiện khác hẳn ngày thường. Dường như đang đứng ở một nơi xa lạ nào, các tướng kinh hãi lắm. Rồi chẳng mấy chốc, trong ánh nắng gần giữa ngày cuối tháng Hai trong vắt, thấy có bụi vẩn, cây lá lay động, càng lúc bụi càng vẩn cao. Rồi hồi lâu lắng xuống, cảnh vật cũng lại như đổi khác. Các tướng vận sức cố nhìn cho rõ mà không thấy gì, nhưng Khúc Việt Thư thì đã thấy, ông run run giọng bảo:

- Quả thật thần nhân! Quả thật thần nhân!

Các tướng nghe lão soái lẩm bẩm thì chẳng hiểu gì cả, nhưng cứ nhìn gương mặt lão soái thì thấy rõ ràng ông lo lắng chứ không còn vui vẻ như trước nữa!

Cả bọn đứng nhìn như vậy hồi lâu, Khúc Việt Thư lại bảo:

- Bây giờ ta chuyển thế, thì hỏng mất kỵ binh, vướng mất pháo binh, thế trận hở mặt trước! Đại quân Hoa Lư vượt hà là khóa được chân ngựa ta, cướp được pháo ta! Nguy tai!

Có tướng nghe thấy lão soái nói như vậy, thì bảo:

- Bẩm, lão soái cứ cho chuyển thế. Cuộc cờ biến hóa vô cùng Hoa Lư nhất định chẳng theo kịp được đâu!

Khúc Việt Thư bảo:

- Không được, cứ nhìn phép bài binh lập thế của Hoa Lư, thì ta hiểu là chỉ sơ suất một chút cũng đủ tan thế cờ ngay! Quân sư Hoa Lư trí sáng như nhật nguyệt, ta lừa y không được mà có khi mang họa đấy! Ta đợi xem y có vượt được trận của ta không!?

Khúc Việt Thư vừa nói xong, đã nghe tiếng hô vạn tuế, rồi quân hấp tấp lên vọng lâu trình:

- Bẩm trình lão đại soái. Dưới thành có hai người một văn một võ, trụ ngựa xin vào thành diện kiến lão đại soái!

Sét có đánh cũng không làm Khúc Việt Thư giật mình kinh hãi bằng lời trình này. Lão tướng bàng hoàng một lát mới định thần lại được, run giọng hỏi:

- Hai người ấy có xưng tên họ là chi không?

- Bẩm, người mặc áo văn sĩ bảo là trình với lão đại soái: Có thuộc tướng của Vạn Thắng Vương lên trấn thành vấn an lão đại soái! Hai người ấy không xưng tên họ, dặn là cứ trình lão đại soái đã có hẹn trước!

Bây giờ thì Khúc Việt Thư thật sự thấy lo lắng. Hai người này đi lại trong trận cờ tuyệt diệu của ông, sao lại chẳng vấp váp sai phạm gì. Dưới thế gian này còn có người hiểu cờ hơn ông nữa chăng?

Thuộc tướng Nam Hoa Khang người ở phía Bắc ba núi Tam Thai (Đông Ngân) [→14] liền bảo:

- Bẩm lão soái, thành ta binh hùng tướng mạnh, trận thế này bên ngoài. Bây giờ tướng địch đơn độc chỉ một văn một võ tới dưới thành ta, sao không ra tay bắt giết đi là xong!

Lão tướng Khúc Việt Thư thận trọng đáp:

- Ta không làm thế được, hào kiệt trong thiên hạ không ai lại hành động như thế! Vả chăng, Hoa Lư đã tới được đây thật bình an dễ dàng, tất là họ phải thế nào mới dám như thế. Lại nữa phía sau lưng họ tất thế nào cũng có dàn xếp cả rồi. Ta vọng động vừa mang tiếng xấu với thiên hạ, vừa có khi bại vong ngay cũng không chừng. Quân sư Hoa Lư đáng nể!

Rồi lão tướng truyền quân mở cửa thành mời khách vào.

Ở bên ngoài, tướng quân Lê Hoàn chưa bao giờ trong đời cầm binh vào trận lại có việc qua cửa thành địch kỳ lạ như thế này. Trong lòng ông mới đầu còn hoang mang lo lắng, đến khi nghe Quân sư dặn dò tế tác rồi hai người tiếp tục đường đi. Chẳng mấy chốc thấy lối đi quang đãng, quay nhìn lại sau lưng chỉ thấy núi rừng bạt ngàn phía dưới. Chẳng thấy có gì là trận thế mơ hồ!

Đến khi ngửng mặt nhìn thấy tòa thành vĩ đại kiên cố, thì cả hai đã đến trước của thành đóng kín.

Tướng quân Lê Hoàn nói với Quân sư:

- Thưa Quân sư, tôi là người duy nhất ở Giao Châu này được theo chân ngài vào trận kỳ lạ như thế này. Tôi hiểu là vào trận không hiểu trận thì chỉ có nghìn lần chết không có lấy một lần sống. Thế mà trận cờ của Khúc Việt Thư lẫy lừng Giao Châu chẳng ai qua nổi, hôm nay tôi được đi qua nhẹ nhàng như đi ở nơi đồng trống đường phẳng! Bẩm, ta tới được đây, lỡ ra Khúc Việt Thư lại bất thần cho chuyển thế trận thì binh ta làm sao ứng phó được?

Quân sư mỉm cười đáp:

- Đây là điều thật đúng, binh dụng cũng như chính dụng, đều có quyền được biến hóa lừa đối phương để thủ thắng. Khúc Việt Thư nếu hành động như thế cũng không có gì trách được ông ta. Nhưng, ông ta đưa thư thách chiến, ta trả lời là sẽ đến tận thành hội kiến đấu với ông ta mà nhận thành. Thì chắc chắn Khúc Việt Thư không thể nào chỉ trong một chốc mà lại dám hủy bỏ danh tiếng của một đời mình để phá lời thách hẹn. Vả lại thế nào Khúc Việt Thư cũng phải nghĩ: Ta tới được đây, thế nào sau lưng ta cũng có sửa soạn để Vương đem binh tướng san bằng trấn thành Bát Vạn này ngay. Còn ta chỉ một văn một võ đến đây tất ta chẳng nể nang gì các tướng của thành Bát Vạn, vậy ông cứ yên lòng!

Quân sư vừa nói xong, trống hiệu đập vang, cửa thành Bát Vạn từ từ mở rộng. Tướng hộ thành nhìn ra thấy trước cửa là một văn nhân tuổi quá tuổi thanh niên da mặt đẹp như ngọc, mắt đen biếc kỳ lạ, nước da trắng mà hồng đẹp như ngà chuốt mật. Tà áo văn sĩ phất phơ trước gió núi trên cao! Bên cạnh văn sĩ, là một tướng chiến bào vải thô, gọn ghẽ mà đẹp cùng với vóc dáng thật cao, hơi gầy. Đẹp mà cao quý với khuôn mặt cũng lại đẹp rắn rỏi. Tướng này treo thanh kiếm ngắn ở chiến đai, cả hai nghiêm chỉnh chờ đợi.

Tướng hộ thành bước tới, vòng tay thi lễ rồi cất giọng nghe như sóng vỗ vào đầu ghềnh mà rằng:

- Lão đại soái mời Quân sư Hoa Lư với đại tướng vào thành!

Hai người không nói gì, xuống ngựa rồi vào thành. Tướng hộ thành đưa hai người tới sảnh doanh trấn thành. Bên trong thấy có nhiều người, tướng hộ thành lớn tiếng báo cho bên trong biết khách đã tới. Bên trong có tướng đi ra nói là lão soái mời hai người vào. Tướng Lê Hoàn cởi thanh gươm Thụ Thiên ra khỏi chiến đai, đưa kiếm cho tướng hộ thành rồi mới thản nhiên theo Quân sư lên thềm vào sảnh.

Sảnh doanh trong trận thành núi Bát Vạn thiết trí chẳng ở đâu lại như thế này. Sảnh doanh vách xây bằng đá hộc lớn, có phần tối. Trong sảnh không bài trí gì cả, ghế ngồi lại có phần hỗn độn. Ở phía cuối phòng hơi lệch về bên trái từ ngoài trông vào, là hổ kỷ của lão soái tướng. Lão tướng ngồi như pho tượng râu tóc bạc phơ, hai hàng lông mi dài cũng trắng như mây cao che khuất cặp mắt. Các tướng chia nhau ghế ngồi trong sảnh không có hàng lối gì cả, có người ghế ở xa, có người ở gần, người phương Đông, người phương Tây, người thẳng hàng, người ghế ngồi lại như án phía trước mặt lão soái tướng. Chưa ở đâu lại có sảnh doanh xếp đặt chỗ ngồi thứ bậc lạ như thế này!

Hai vị khách đứng trên thềm sảnh doanh nhìn vào trong, lão tướng im lặng không nói gì, cũng không thấy có ai ra mời khách vào ngồi. Quân sư Lê Thảo từ lúc bước lên thềm, bên trong hơi tối, Quân sư có ý đợi người ra dẫn vào nhưng chẳng thấy ai. Tất cả im lặng thì Quân sư chú mục, định thần xem xét, thần trí cực lạnh lợi quan sát thật nhanh quang cảnh bên trong. Quân sư hơi nhíu cặp mày như cặp kiếm treo, bây giờ đã nhìn quen thấy rõ bên trong, thì ung dung bước vào.

Qua khỏi ngưỡng cửa sảnh doanh, Quân sư dẫn lối đưa tướng quân Lê Hoàn len lỏi giữa những hàng ghế ngang dọc lộn xộn, nhẹ ấn vai tướng quân có ý bảo ngồi xuống một chiếc ghế trống. Rồi Quân sư quay gót lui hẳn lại sát nơi cửa sảnh đi ngược lên hai hàng ghế đứng trước một chiếc ghế, rồi cất tiếng thanh tao mà rằng:

- Quân sư Hoa Lư là Lê Thảo tôi, vượt vạn dặm đường quanh co đi suốt bốn mùa hai mươi tư tiết, ngắm nhìn thế “Song Lôi Định Hướng, Song Hỏa Luân Xa Tổng Oanh Thiên Môn”. Lại vì lão soái dẹp đi một “Bạch Tượng Trấn Sơn Biên” đem Âm Dương Giao Hội để làm cho cuộc thế chuyển động, mở lối đến trước đế thành. Nhìn vào cung “Tà Huy Hồi Thiên” xếp nốt bộ “phản” vào đúng vị trí, dựng lên thế “Trực Diện Trảm Ma Vương”. Xin được lão soái tướng danh trùm Giao Châu ra lời dạy bảo!

Những lời nói của Lê Thảo, chẳng một tướng nào trong sảnh hiểu là thế nào, nhưng lão soái tướng Khúc Việt Thư thì phải tinh mắt lắm mới nhận thấy ông rùng mình, vẫn chẳng nói rời chỗ ngồi đứng lên len lỏi giữa các ghế chúng thuộc tướng rồi cầm tay một ông dẫn đến chiếc ghế ngay trước ghế ông ngồi. Tướng ấy ngồi xuống và lão soái trở lại chỗ cũ không ngồi vào ghế lúc trước mà ngồi vào ghế bên cạnh nhìn thẳng ra chính giữa cửa sảnh.

Sảnh doanh vẫn im phăng phắc sau những lời nói của Lê Thảo.

Sau khi lão soái ngồi xuống, thì Lê Thảo đi lên sát hàng ghế ngoài biên đến trước một tướng ngồi ở ghế hàng đầu. Quân sư khẽ nói:

- Xin mời!

Rồi Quân sư cầm tay tướng ấy dắt đến chiếc ghế thẳng hàng đối diện với ghế ngồi của lão tướng ở cuối sảnh. Xong rồi, Lê Thảo lại đến đưa tướng quân Lê Hoàn tới ngồi ở ghế ngay phía sau tướng vừa rồi. Cuối cùng, Lê Thảo lui lại hai hàng ghế, ngồi vào chiếc ghế áp biên bên phải.

Lê Thảo vừa ngồi xuống, chợt lão tướng reo to lên:

- Thần tiên! Quả thật thần tiên! Hay vô cùng!

Cả sảnh doanh trấn thành núi Bát Vạn, chỉ có hai người là lão soái tướng và Lê Thảo hiểu những lời nói, những hành động của nhau!

Hai ông vừa trải qua bảy mươi bảy bước đi của trận cờ “Cúc vàng đón thu tới”, tiếp theo là trận “Lá rụng bay về cội” tổng cộng một trăm lẻ bốn bước. Vậy mà trận trước thu gọn vào vị trí ngồi của các tướng Tiên Du bị Lê Thảo chỉ xử hai bước một là chỗ ngồi của Lê Hoàn, hai là chính chỗ của Quân sư. Thế là hai bước đã phá xong bảy mươi bảy bước đi của thế cờ Cúc Vàng Đón Thu Tới, rồi chỉ hai thay đổi của mỗi bên cũng đã đi trọn được hơn một trăm bước trước sau của thế trận Lá rụng bay về cội. Hỏi làm sao lão soái lại chẳng thốt lên những lời ngợi khen nồng nhiệt đến như vậy!

Thì ra, sảnh doanh của lão soái, ghế ngồi cũng như cách xếp đặt các vị trí của mỗi tướng, đều là một thế trận trong môn cờ Đế Thích. Lão soái mê cờ đến thiết trí ngay sảnh doanh của mình thành một bàn cờ, ông có thể vừa hội nghị vừa thay đổi biến trận thế của mình. Quả thật lão soái là tay vua cờ ở cõi Giao Châu, thế gian hiếm có như thế!

Về phía Lê Thảo, lúc bước lên thềm sảnh doanh, nhìn bên trong không sáng, lại chưa thấy có ai ra đón, liền đứng lại quan sát. Vận dụng đến khối óc minh tuệ cực kỳ của ông để tức thì nhận ra tất cả, và ông đã ung dung nghênh chiến phá hai trận cờ chỉ trong một thời gian cực ngắn.

Lão tướng Khúc Việt Thư ngợi khen xong, liền đứng lên, và lúc này các tướng của ông cũng đều đứng lên cả. Các tướng lục tục đặt lại các hàng ghế ngồi, sảnh doanh quân đốt đuốc sáng rực, ghế ngồi đã ngay ngắn hàng lối. Vách đá sảnh doanh như nạm nhiều ngọc quý dát vàng điểm bạc hay sao mà thấy long lanh đủ màu cực đẹp.

Lão tướng vô cùng vui vẻ, ông bước nhanh đến trước Lê Thảo. Vòng tay thi lễ thật cung kính nói rằng:

- Tôi đi khắp đất trời, lại ngồi trên vách núi này hơn hai chục năm trời chẳng xuống thấp nữa. Những tưởng cuộc đời mình chẳng bao giờ gặp được người hiểu mình. Nào ngờ trời cao chẳng nỡ đày tôi mãi cho nên đưa thần tiên tới đây! Chỉ vài lần xê dịch, tôi đã được thấy tài nhìn ra trăm bước, định việc được trăm năm sau của ngài! Họ Khúc tôi xin bái phục, bái phục!

Lê Thảo cũng cung kính đáp lại:

- Lão đại soái quá lời, tôi chẳng có được như lời ngài nói đâu! Chẳng qua, nhìn vào trong sảnh thấy không sáng, ghế đặt lại lộn xộn không ra hàng lối gì, thì biết là ngài dựng thế cờ. Rồi trong lúc cùng đường bí lối chẳng biết làm sao liền nói bừa ngồi bậy, lại may mà trúng ý lão đại soái!

Lê Thảo nhún mình tự cho là không biết gì chỉ hành động cầu may mà thôi. Lại càng làm cho lão soái vừa thêm khâm phục vừa thêm kinh hãi thầm.

Lão soái nói:

- Phải, ngài hành động cầu may, cho nên mới như thế! Còn như việc ngài thu cả Trời Đất, Âm Dương lại để soi tỏ mọi việc thế gian nghìn năm trước, nghìn năm sau, đi qua cờ trận trước thành ung dung như bậc đế vương đi ngự cảnh hoa. Chắc cũng là may mà làm ra như thế!

Dứt lời, lão tướng cười lớn xem ra sảng khoái lắm, khiến các thuộc tướng của ông cũng vui lây. Tuy vậy cũng có vài ông có vẻ không bằng lòng thái độ của soái tướng. Sao lại có thể đối xử với địch như thế được!

Lão tướng mời Lê Thảo lên ngồi ghế ngay bên cạnh, lại để Lê Hoàn ngồi ghế cạnh Quân sư. Khúc Việt Thư xem hai người là khách trọng của mình, ông chẳng có chút thái độ nào là thái độ của hai kẻ thù trong trận chiến. Chỉ có thái độ của hai người bằng hữu cực thân, xa nhau lâu ngày mới gặp lại!

Lê Thảo nói:

- Thưa lão đại soái, binh tướng Hoa Lư tôi vâng lệnh Động chúa, nay được bá tánh tôn hiệu là Vạn Thắng Vương. Ra ngoài thiên hạ, trước là để hóa giải những oan khổ của trăm dân. Sau là gồm thâu giang sơn chung về một mối, hợp lực để mai sau thế nào cũng phải có phen đương đầu với họa Bắc phương. Vì thế mới có việc Đằng Châu thấy được đại nghĩa của Hoa Lư mà vui vẻ theo về, Bình Kiều nhận ra được cái thế của mỗi bước đi cho nên trông gương Đằng Châu tránh khỏi phí phạm xương máu của người đồng loại. Chỉ tiếc là Tây Phù Liệt, rồi đến Tế Giang, sau nữa là Siêu Loại chẳng có được những bậc minh tri biết nhìn cuộc thế như lão đại soái trên núi cao này. Cho nên các nơi ấy làm cho binh lửa trở thành việc không tránh được! Hôm nay, lão đại soái gửi thư mời hội chiến, Lê Thảo tôi vâng lệnh Vạn Thắng Vương ra đi, ngài có dặn mãi chỉ một câu: “Với bậc trí giả, hãy chuyển thế máu chảy xương tan thành ra thế Đông tàn Xuân thắm”. Tôi đã được lão đại soái giúp hoàn thành lời dạy bảo của chủ, Lê Thảo tôi xin được tạ ơn, tạ ơn!

Các tướng im lặng, đợi chờ xem soái tướng nói gì. Khúc Việt Thư bảo:

- Tôi vâng lệnh chủ xây thành rồi ngồi nơi đây canh giữ. Suốt hơn hai chục năm vừa nghĩ việc nước vừa làm việc thích riêng, cũng có thấy được đôi chút, nhưng chẳng qua nhìn vào cuộc thế như từ vách núi cao nhìn xuống biển rừng trong sớm sương mù. Chỉ thấy loáng thoáng mấy tàn cây cao, vài chỏm núi lớn, chứ chẳng thấy được đâu là gốc rễ của núi của cây. Đành là để cho những bậc đại trí lo việc ấy vậy. Lúc này, tôi tự biết tuổi trời ban cũng sắp đến hạn, bao nhiêu năm mong ước có một ngày gặp được người đến dạy cho vài bước đi của cuộc cờ Đế Thích. Cho nên một mặt đã chán cuộc thế, một mặt muốn được thỏa mong muốn riêng. Nên có ngông cuồng dại dột đưa ra lời nguyện là: “Ai đả bại được cờ của tôi, thì tôi tình nguyện dâng thành!” Nay trong hội, tôi đã thấy sự thể, xin Quân sư cho tôi được nói rõ mọi việc...

Lê Thảo ngắt lời Khúc Việt Thư:

- Thưa lão đại soái, Hoa Lư tôi cảm phục đức độ của ngài. Vì thế tôi xin được vâng lệnh đại soái để trước là ngài vẫn giữ được lòng trung với chủ, sau là thỏa được mong ước giữ được đúng lời nguyện năm xưa làm cho thiên hạ không còn chỗ nào chê trách được nữa!

Tức thì Khúc Việt Thư đứng ngay lên, ông kính cẩn vòng tay vái Lê Thảo một vái. Nghiêm trang mà sung sướng nói:

- Một vái này tạ đức lớn của bậc đại minh trí, ngài đã hiểu hết lòng tôi! Tôi tin rằng cuộc đời tôi rồi sẽ được hết trong vui thỏa cuối cùng!

Rồi lão soái truyền mở tiệc, bảo: “Trước là để đón mừng tri kỷ, ghi lại mãi buổi kỳ ngộ trước trận hôm nay. Rồi sau sẽ chiến với nhau một cuộc cờ”. Nhưng Lê Tháo bảo:

- Thưa lão đại soái, việc lúc này cấp bách, xin được tạ ơn lão đại soái ban tiệc. Chỉ xin được hầu cờ ngài ngay kẻo trễ lệnh của Vạn Thắng Vương.

Khúc Việt Thư nhận lời, nhưng lại có người lớn tiếng bảo:

- Bẩm trình đại soái, giặc tới trước thành, trận hay của đại soái. sao chẳng cho lệnh phát động đánh đuổi địch đi, mà lại đãi đằng sứ giả ngoa ngôn của địch như thế?

Nhìn ra, người mới nói là một người, râu tóc bờm xờm, xem ra là người có đởm lược, sức khỏe. Đây chính là người đứng đầu trong số năm mươi người của Sứ quân Nguyễn Thủ Tiệp cho ra trấn thành núi Bát Vạn để bảo vệ cho Khúc Việt Thư. Y cùng với bốn mươi chín người nữa thuộc trong số ba nghìn đệ tử dán bùa bất tử của Sứ quân.

Khắc Việt Thư nghiêm giọng bảo:

- Tân Xuân không được nói năng bậy bạ, vô lễ! Ta biết việc ta làm, ngươi muốn làm việc của ta chăng?

Nhìn Tân Xuân, Quân sư chợt hỏi:

- Thưa đại soái, có phải đây là đệ tử dán bùa bất tử của Sứ quân đấy không?

Lão soái có phần hơi ngạc nhiên, đáp:

- Phải, đây chính là một trong những người ấy. Sứ quân sai ra đây bảo vệ cho tôi!

Lê Thảo bảo:

- Tôi có nghe nói Sứ quân có ba nghìn người nhà trời, dán bùa bất tử cởi trần vào trận. Không biết có thật thế không?

Đại hán vênh mặt đáp:

- Dưới gầm trời này, ai mà chẳng biết việc ấy! Chẳng có gì làm cho ta chết được!

Quân sư tỏ vẻ phục lắm, lại bảo:

- Tiếc thật, lúc này chẳng có chiến trường để tôi được một phen mở mắt!

Tân Xuân nói lớn:

- Không cần phải ra chiến trường, ai dám thử với ta? Tướng kia dám chăng?

Tân Xuân có ý muốn thách thức Lê Hoàn. Khúc Việt Thư chưa kịp lên tiếng thì Lê Thảo đã vội vàng:

- Không dám, không dám! Tướng này của tôi không dám làm việc phạm tội với Sứ quân, hôm nay lên ải giết người nhà trời của Sứ quân như thế!

Tức thì Tân Xuân gầm lên:

- Ta thách giết được ta! Tiện đây ta cũng nhân cơ hội để cho thiên hạ biết bùa linh với bản lĩnh của ta!

Lê Thảo hai ba lần khéo can mà không được. Khúc Việt Thư mới đầu thì tức giận vì thái độ thô lỗ của Tân Xuân. Sau cũng lại muốn được thấy bùa linh, mà cùng lúc lại được thấy tài sức của tướng Hoa Lư vóc người đẹp thanh tao này. Vì thế ông bằng lòng để cho Tân Xuân được đấu tài với tướng Lê Hoàn.

Cả sảnh kéo nhau ra khoảng trống phía trước. Ai cũng muốn được thấy linh nghiệm của bùa thiêng. Lại muốn được xem tài tướng Hoa Lư thật! Nhưng khi thấy Tân Xuân cởi áo, lá bùa lạ dán ở ngực, thì Lê Thảo lại có vẻ ngại ngùng bảo:

- Tôi e lỡ ra bùa không phải là giờ linh, tướng của tôi lại lỡ ra sai phạm, mạng người là quý. Lúc ấy biết nói thế nào? Xin tướng quân nghĩ lại hay là ta đừng thử nữa!

Tân Xuân quả quyết:

- Không sao, ông cứ bảo thuộc hạ của ông vào trận! Ta cũng nói trước: Ta sẽ không bao giờ chết, gươm đao đâm chém chẳng chảy máu, quyền cước chẳng khác nào như lấy ngón tay toan chọc thủng núi, cứ việc! Ta cũng nói trước, ta không chết, tất kẻ đấu với ta phải chết, mạng ấy là không quý vậy đừng trách ta!

Thế là đôi bên vào trận, Quân sư còn dặn tướng Lê Hoàn:

- Ông vào trận, phải cẩn thận không được làm thiệt hại đến người nhà trời, nhưng phải cố giữ mạng!

Tân Xuân lại rống lên:

- Tức quá! Không có gì làm ta thiệt hại được cả! Cứ trổ hết tài ra mà giữ mạng!

Lúc ấy, Quân sư nghiêm giọng bảo Lê Hoàn:

- Thì giờ ta không có nhiều, ông liệu không được thì phải nói trước!

Lê Hoàn từ đầu, hiểu ngay là Quân sư muốn ông triệt hạ tên người rừng này để thiên hạ biết là đám đệ tử dán bùa bất tử của Thủ Tiệp cũng bị chết như thường. Làm cho đám thuộc hạ binh tướng của Sứ quân hết tin tưởng, như vậy cũng là phá đi được một phần sức mạnh của Sứ quân. Nghe Quân sư bảo, Lê Hoàn bình thản đáp:

- Thuộc hạ xin vâng lệnh!

Quay sang Tân Xuân, Lê Hoàn nói:

- Xin đại tướng nương tay cho tôi còn được thấy bùa linh!

Tân Xuân chẳng nói, nhảy ngay vào, tay quyền vung ra nghe “vù” một tiếng, chân phóng ra một ngọn đá nghe “vèo” thì Lê Hoàn đã lui lại như thể muốn chạy trốn. Các tướng Tiên Du bật lên tiếng khen, Tân Xuân nức lòng lại lướt tới.

Nhìn ra, Khúc Việt Thư có vẻ gay cấn, tay luôn luôn vuốt chòm râu bạc, nhưng Quân sư Lê Thảo thì hình như lại kín đáo mỉm cười.

Tiếng reo hò cổ vũ bên ngoài làm cho dũng sĩ Tân Xuân nức lòng, hung tính càng bốc cao. Tân Xuân quyết liệt xông tới. Chỉ một quyền một cước là Lê hoàn thấy ngay tên người rừng này không phải là tay có bản lĩnh, làm sao có thể vào cuộc giao tranh được. Nhưng để chứng nghiệm bùa bất tử, lại thêm có lời dặn khéo của Quân sư là “thì giờ chẳng có” thì tướng quân chẳng còn nể nang gì nữa. Nhân lúc Tân Xuân hùng hổ xông tới, tướng quân làm ra vẻ vụng về lẩn tránh càng làm cho Tân Xuân bừng bừng tức giận, mấy đòn đánh ra một kẻ chẳng có gì là vũ dũng thế mà vẫn không trúng, thì Xuân gầm lên một tiếng. Tận lực xông vào, cả hai tay như gọng cua vung rộng hai nắm đấm như hai quả phật thủ lớn, cùng bổ vào hai bên thái dương Lê Hoàn. Tân Xuân tin chắc đòn này sẽ đập đầu Lê Hoàn dẹp như chiếc lá!

Lê Hoàn nhân được thân hình to lớn của Tân Xuân che khuất bên ngoài chẳng ai trông thấy, liền hơi khuỵu hai đầu gối thấp hơn người xuống, tay phải vận hết nội lực ra tay, xỉa thẳng ra phía trước nhằm giữa vùng huyệt Khí Hải của Tân Xuân. Thương thay, Tân Xuân cũng như cả ba nghìn bằng hữu của y là đệ tử của Sứ quân, chẳng giỏi nghề võ, chỉ cậy sức hung hăng, lại tin ở bùa thiêng hộ mệnh bất tử. Ở đâu cũng cậy thế Sứ quân đánh, giết người chẳng ai dám chống trả, thì cho là mình tài giỏi. Lần đầu tiên vào trận thực sự giao đấu, làm sao giữ mình được!

Bên ngoài nếu để ý thính tai lắm thì nghe thấy “Phập” một tiếng không lớn, chỉ thấy Tân Xuân đang hung hăng xông xáo bỗng nhũn người đổ gục xuống. Cả trường im phăng phắc ngỡ ngàng, Lê Hoàn mặt dường như chưa hết sợ hãi vì những đòn tấn công của Tân Xuân!

Các tướng ùa tới, đỡ Tân Xuân lên, bỗng máu tươi từ trong miệng y trào ra như dòng suối nhỏ. Các tướng vội xem mạch, nghe hơi thở, thảy đều thấy Tân Xuân đã chết hẳn. Toàn thân nhũn như mảnh vải nhúng vào nước. Không ai hiểu ra sao cả. Khúc Việt Thư bước tới, ông cầm tay Tân Xuân xem mạch chẳng thấy gì, sai cởi áo quần Xuân khám xét cũng chẳng thấy có gì khác lạ. Nhưng Lê Thảo cũng như Khúc Việt Thư thì nhận thấy ngay: Ở vùng Khí Hải, có một vết hơi bầm xanh pha màu tím nhạt. Cả hai hiểu rằng chính đây là một đòn đoạt mạng cực cao chỉ để lại dấu vết lờ mờ. Kẻ trúng thương ắt chẳng còn một phủ tạng nào lại chẳng bị tan nát! Khúc Việt Thư không nói gì, Lê Thảo có phần băn khoăn nhưng không lên tiếng trách cứ Lê Hoàn.

Khúc Việt Thư bảo:

- Chắc là bùa không đúng giờ linh nghiệm, nên dũng sĩ mới bất thần bị bùa vật thành ra chết mất rồi!

Các tướng lặng thinh, mỗi người một ý nghĩ. Nghe Khúc Việt Thư nói, tướng Lê Hoàn vẫn với giọng êm đềm mà rằng:

- Khiếp thật, ông ấy quả là người nhà trời. Chắc vì mạng tôi chưa hết cho nên tự nhiên ông ấy mới ra như vậy!

Trở lại sảnh doanh, lão soái Khúc Việt Thư bảo:

- Này các tướng, như vậy thì một điều ta vẫn thắc mắc, hôm nay được sáng tỏ. Ấy là bùa bất tử chỉ là bùa “dị tử” dễ làm cho người có bùa bất cẩn, khinh thường rồi mau chết mà thôi! Bây giờ đến việc lời nguyện thề của ta, liên quan đến việc lớn chiến tranh, cũng hôm nay ta được sáng tỏ!

Rồi Khúc Việt Thu sai quân sửa soạn bàn cờ. Lê Thảo bảo:

- Thưa lão đại soái, tôi nghe trên núi Bát Vạn có tháp trấn yểm của Cao Biền, lại có nơi tụng truyền có lần tiên xuống đánh cờ nơi một thạch bàn lớn, sau đại soái sai khắc bàn cờ trên đấy. Vậy tôi xin vừa được xem cảnh tòa tháp Bát Vạn, vừa được hầu cờ “Kỳ Vương” nơi ngày xưa tiên từng xuống đấy có được không?

Khúc Việt Thư cười thật sảng khoái, ông đứng lên bảo:

- Mời Quân sư!

Rồi đại soái dẫn mọi người lần theo bực đá lên cao nữa, len lỏi qua những cụm cây hoang chỗ dày chỗ mỏng, vượt hẳn lên cao vào nơi chợt quang đãng. Chỉ thấy mấy tàn cây cao, một thạch bàn lớn chơ vơ nơi khoảng trống.

Khúc Việt Thư bảo:

- Thưa Quân sư, tháp Bát Vạn thì tôi cũng nghe Cao Biền có dựng, nhưng thật chưa thấy. Chắc vì mới đầu tôi chẳng lưu tâm tìm kiếm, sau nữa thì công việc xây thành bận rộn nhiều năm, rồi tôi lại chú tâm đến cờ Đế Thích, cho nên đến lúc này vẫn chưa biết tháp ấy ở đâu!

Khúc Việt Thư dẫn Quân sư tới bên thạch bàn, sai quân sửa sang cho sạch sẽ. Lại cấp dựng một loạt lều lá để các tướng ở trong đó mà theo dõi. Quân đông, kỷ luật nghiêm, chẳng mấy chốc mọi việc đã xong. Lúc ấy trời đã bắt đầu ngả về chiều, Khúc Việt Thư sai quân chuẩn bị sẵn thật nhiều đuốc để cho cuộc cờ khỏi bị bóng đêm khiến đôi bên gặp khó khăn!

Quân sư Lê Thảo lẳng lặng xem quân sửa soạn. Tướng quân Lê Hoàn khẽ nói:

- Thưa Quân sư, tôi thấy chẳng có chút gì là quang cảnh chiến trường khốc liệt, mà chỉ có hội lớn đánh cờ mua vui! Tôi tin chắc là con người như Khúc Việt Thư thế nào cũng không bội ước. Quân sư xét tài cờ của mình với ông ta thì đôi bên thế nào?

Quân sư mỉm cười đáp:

- Lúc mới đến trước sảnh, ta thấy thế cờ của Khúc Việt như thật, nhưng không thể nói được rằng cờ của ông ta không địch được ta! Chính ra ta không phải là địch thủ của ông ấy, cờ Đế Thích ta có biết, nhưng không lấy sự biết ấy làm ham mê, người tuổi trẻ ham thích cuộc cờ làm cho mất cả ngày giờ vô ích, người già thì lấy đấy làm điều mua vui. Tuy thế, trong cờ Đế Thích tự nó vốn đã chuyển biến lớn lao đến độ kỳ ảo, rồi người đời qua hàng nghìn năm chau chuốt, thì đến nay không thể nói được là dưới thế gian này ai là người chẳng có đối thủ đấu cờ! Nhưng, ta đã có cách, mọi việc đều phải trông chờ ở chính trí tuệ của ta, vì thế ta nghĩ: Đuốc lửa để đôi bên tiếp tục cuộc cờ không cần thiết. Với con người như Khúc Việt Thư thì chẳng cần phải có đến một nghìn bước đi mới biết được tài cao thấp. Tướng quân đã thấy, hồi trong sảnh doanh, mỗi bên chỉ một lần bày trận, một lần biến trận, thế mà cuộc chiến đã kết thúc được ngay. Đây mới là phong thái thần tiên ở nơi con người Khúc Việt Thư, chứ không phải là phải đốt đuốc thâu đêm vất vả với nhau mới gọi là kỳ tài trong thiên hạ được!

Tướng Lê Hoàn nghe Quân sư nói, ông suy nghĩ nhiều lắm, lại nhớ đến những hành động của Quân sư. Quả thật có những việc tưởng rằng phải dài ngày, dàn trải mênh mông, thế mà chỉ một vài dàn xếp là đại cuộc kết thúc vừa nhẹ nhàng lại vừa thật hiệu quả. Bây giờ sắp vào cuộc đấu có liên hệ đến hàng nghìn mạng binh tướng của đôi bên. Liệu Quân sư có vượt được khó khăn cùng cực ấy không? Nghe Quân sư nói thì quả thật tài của Khúc Việt Thư trong cờ Đế Thích hiếm người theo được! Lê Hoàn cảm thấy có phần lo lắng.

Mọi dàn xếp đã xong, Khúc Việt Thư sẽ ngồi ở ghế phía Đông, sẽ mời Lê Thảo ngồi ghế phía Tây. Thạch bàn rộng có khắc hình thế bàn cờ Đế Thích và bày những con cờ cũng bằng đá trắng.

Các tướng ở cả trong lều dựng sát vách núi, hơi cao hơn chỗ thạch bàn. Từ trong ấy các tướng trông thấy rất rõ quang cảnh cuộc đấu ở thật gần.

Đúng giữa giờ Thân, gió núi thoảng nhẹ, nắng còn trải vàng trên vách núi. Nhìn xuống phía Nam trận cờ của Khúc Việt Thư chuyển biến theo từng thời gian trong ngày. Lúc này trận thế bỗng mênh mông tưởng chẳng có biên giới, rừng xanh lẫn vào với nền trời trong vắt, trong biển rừng xanh mướt ấy dường như thấy có nhiều khoảng sáng lung linh. Quân sư lặng đứng ngắm quang cảnh hùng vĩ kỳ lạ ấy. Trong lòng cảm thấy mến phục Khúc Việt Thư vô cùng.

Họ Khúc bước lại bên Lê Thảo, cung kính:

- Họ Khúc tôi ngồi trên thành cao, gần trọn cuộc đời chỉ mong ước một điều gặp được thần tiên chỉ bảo cho biết rõ đường đi nước bước của cuộc cờ Đế Thích. Phải đợi đến lúc tình thế khốc liệt thế này mới thấy thần tiên xuất hiện. Kính thỉnh Quân sư!

Quân sư chẳng nói gì lẳng lặng theo chân Khúc Việt Thư đến bên thạch bàn, hai kỳ thủ vẫn đứng. Khúc Việt Thư giọng thật trang nghiêm nói đủ để mọi người cùng nghe thấy:

- Thưa Quân sư, trong đời mỗi con người có một mê say thích thú riêng, tôi thấy cuộc cờ Đế Thích có thể bao trùm được cả vũ trụ, biến hóa không lường trước được, trong lòng vô cùng cảm phục được lập ra nó. Lại nguyện rằng: Công lớn của tiền nhân, trải qua bao đời bồi đắp cho đến đời tôi ở góc trời này, tôi tự cho là đã hiểu được nhiều về môn học huyền diệu này. Lại mong ước có người bác bỏ được hiểu biết của mình để được thấy cảnh “vén mây nhìn thấy trời cao vô tận”. Thân làm tướng giữ thành, chiêm nghiệm cuộc đời qua cuộc cờ cho nên dù thờ chủ vâng lệnh giữ thành. Cũng phải nhận tội trước chủ là chẳng trung thành khi tình nguyện dâng thành vì không giữ nổi cuộc cờ khỏi bị bại vong! Lời nguyện của tôi tưởng sẽ đem theo xuống mồ, nào ngờ lại còn có ngày gặp được Quân sư kỳ tài trong thiên hạ. Tôi xin trân trọng nhắc lại lời nguyện ấy: “Tôi tình nguyện dâng thành, nếu như Quân sư chẳng nhún mình chỉ dạy cho tôi đường đi nước bước của cuộc cờ thánh Đế Thích”. Lúc này đứng ở đây, trước thạch bàn tụng truyền rằng ngày xưa có lần tiên trên trời xuống đi cờ ở đây. Vậy tôi cầu mong được Quân sư chẳng tiếc công chỉ dạy cho tôi được thỏa nguyện!

Những lời nói của Khúc Việt Thư rành mạch từng lời, hết thảy các tướng đều nghe rõ. Quân sư cũng trịnh trọng đáp:

- Thưa thần tiên, tài cờ của ngài cả cõi Giao Châu không có người theo được, tôi nghĩ đến cả Bắc phương bao la cũng hiếm có người bằng được. Huống hồ Lê Thảo tôi mặc áo văn sĩ, sống nơi quê mùa tận Bồ Điền đất Phong Châu. Hôm nay vâng lệnh Vạn Thắng Vương lên núi hầu cờ thần tiên, tự biết là có điều chẳng thông, dám làm việc “con bọ ngựa giơ càng chống lại cỗ xe to”. Cho nên đứng trước thạch bàn trong lòng chẳng phải là chẳng lo lắng! Thưa thần tiên, dưới thế gian này còn ai không nghe biết cờ Đế Thích, biến hóa vô lường, lại thêm thần tiên khổ nghiệm mấy chục năm trời, thấu đáo đến chỗ cực tinh mật của cờ Đế Thích. Rao giảng ra ngoài thiên hạ lòng tôn vinh thánh cờ Đế Thích, đấy là việc làm cả thế gian không ai chê trách! Duy, tôi đọc sách nhớ việc tổ tiên gian nan dựng nước, trải qua bao nhiêu mùa gối đất nằm sương, mỗi tấc đất ít ra cũng phải có trăm cân xương trắng đắp nền. Dựng lên được giang sơn riêng của dòng Bách Việt ta ngày nay. Công đức ấy, vạn nghìn năm sau con cháu sẽ càng tung hô thêm nữa. Cho nên vì thế nghĩ đến chỉ một công lớn của tiền nhân lập lên cờ Đế Thích, lại thấy tủi cho tổ tiên mình công lao hiếm thấy mà chẳng có cháu con nào biết đến để nâng niu gìn giữ, quảng bá ra ngoài thiên hạ. Cũng một thiết lập bản đồ giang sơn, quy định pháp định quốc trị dân, trên trời cao ứng hợp với tinh tú bản mệnh của đất nước, dưới hợp với cuộc sống của giống nòi. Danh xưng của nó là “Bản đồ dựng nước của quốc tổ Hùng Vương [→15] ”. Bản đồ ấy, chính là một bàn cờ của dân tộc ta, thần tiên có được biết không?

Chưa bao giờ Khúc Việt Thư nghe nói đến bàn cờ này. Vả lại ông tin chắc một điều là: Dưới thế gian này, chỉ có cờ Đế Thích là vĩ đại, tuyệt vời hơn cả. Cho nên khi nghe Lê Thảo nói thì cũng có phần ngạc nhiên. Đến khi nghe hỏi thì đáp:

- Ngài đã hiểu phẩm chất thần tiên của cờ Đế Thích, đấy là một điều đúng! Mấy mươi năm nghiền ngẫm, thử đi thử lại mấy chục vạn lần, tuyệt nhiên tôi chẳng thấy có điểm nào của cờ Đế Thích lại còn có chỗ chưa hoàn hảo, vì thế mới có lời nguyện. Nay, được nghe Quân sư nói đến một thứ cờ của tổ tiên Bách Việt, tên gọi là Cờ Hùng Vương Dựng Nước, quả thật tôi chưa nghe biết! Vả chăng, Giao Châu ta chỉ là một nước nhỏ, thuộc quốc của các triều đại Bắc phương, thì xem chừng chẳng có thứ gì lại vượt hơn được Bắc phương. Bởi thế nghe nói đến dân tộc ta có cờ Hùng Vương, dù thế nào chăng nữa tôi cũng nghĩ là chẳng thể hơn được cờ Đế Thích. Cũng như lịch sử bảo rằng tiểu quốc ta chẳng thể nào lại đứng ngang hàng với đại quốc được. Vì vậy xin Quân sư cho tôi được nghe hết!

Hết thảy các tướng nghe Lê Thảo nói về cờ, rõ ràng chẳng phải Lê Thảo không biết cờ. Bây giờ lại nói đến một thứ cờ của riêng dân tộc, thì ai cũng lấy làm lạ lùng, nhiều nhiều cùng ý nghĩ với Khúc Việt Thư. Tỏ ra là không tin cờ Hùng Vương, Lê Thảo nói ra ấy lại có thể hơn được cờ Đế Thích!

Lê Thảo nghe Khúc Việt Thư nói, thì đáp:

- Thưa lão đại soái, hôm nay tôi tới đây, đi qua trận cờ huyền diệu của lão đại soái. Thật ra đại soái thật sự tài còn hơn cả Đế Thích [→16] , đại soái đã đem lại cho cờ Đế Thích cái hồn của cả vũ trụ chứ không còn là một trò giải trí tầm thường chẳng liên quan gì đến dòng tộc của người Giao Chỉ ta. Tôi nhờ được ngài chuyển hồn vũ trụ vào đầu óc nên mới thấy đường đi đến đây để hầu ngài một ván cờ. Vậy, trước khi nói về cờ Hùng Vương Dựng Nước, tôi xin được hầu cờ ngài trước. Sau đấy thắng hay bại sẽ xin được trình để đại soái nghe về Cờ Hùng Vương!

Khúc Việt Thư rất hài lòng, thế là hai bên đối kỳ, bắt đầu dàn quân vào trận. Lê Thảo nói:

- Thưa lão đại soái, ngài đưa chiến thư thách chiến. Vậy xin ngài bày trận để cho Lê Thảo tôi được học hỏi về phép bài binh bố trận!

Khúc Việt Thư kinh ngạc, ngừng tay xếp quân cờ. Như thế, Quân sư Lê Thảo của Hoa Lư xem thường ông quá. Chẳng phải là đôi bên cùng dàn quân theo đúng phép cờ rồi mới giao tranh, mà Lê Thảo lại mời ông bày trận thế. Có khác nào ngầm bảo cho ông biết trong cuộc cờ Đế Thích, thì cờ thế là thứ dàn trải trước muôn vàn cạm bẫy để lừa người phá trận. Bao giờ người bày trận cũng giữ đến gần trọn vẹn phần thắng, người phá trận phải là tay có óc minh linh vô cùng mới mong hi vọng phá được vài bước, cuối cùng thì thế nào cũng đại bại. Thế mà Lê Thảo lại bảo Khúc Biệt Thự hãy dàn trận theo lối cờ thế, Lê Thảo xem thường ông thật! Chỉ một bước được đi trước, cũng đủ làm lệch thế cờ. Vậy mà tự do bày trận có khác nào đối phương đã cho mình được nắm chắc phần thắng.

Lẽ nào Quân sư Lê Thảo lại muốn Khúc Việt Thư thắng, vậy thì chuyến lên trấn thành Bát Vạn Sơn của Quân sư để làm gì? Vả chăng, Quân sư không thể không biết một điều hệ trọng là: Khúc Việt Thư chỉ nói đến trường hợp ông ta thua cờ, mà không hề nói đến trường hợp Lê Thảo bị bại. Khúc Việt Thư thua thì tình nguyện dâng thành, đổi lại Lê Thảo phải hiểu rằng: Lê Thảo thua, hãy để đầu lại!

Khúc Việt Thư ngỡ ngàng, con người nho nhã đẹp như thần tiên đang đứng bên kia thạch bàn trước mặt ông, lại có thể đương cự được với tài cờ của ông chăng? Vậy mà, con người ấy lại khinh thường ông đến mức độ nhường ông đi trước. Lại đi trong trận thế của mình dàn ra, chắc chắn đối phương không thể nào biết được cuộc chiến phải đi như thế nào?

Khúc Việt Thư ngẩn người xong, vẫn thấy Lê Thảo thản nhiên chờ đợi, thì ông lẳng lặng giơ tay gạt hết quân cờ ra ngoài rồi chầm chậm chọn nhặt một con, rồi hai con, rồi ba con… Lão đại soái chẳng ngửng đầu ông chậm chậm chọn và bày quân cờ.

Hết thảy các tướng im lặng, chỉ nghe có tiếng gió thỉnh thoảng khẽ lùa qua cây cành trên vách núi.

Đến con cờ thứ năm, Khúc Việt Thư vừa đặt xuống, thì Lê Thảo giơ tay nhặt một con đặt vào một chỗ, rồi một con nữa, một con nữa. Khúc Việt Thư lặng hẳn đi, toàn thân ông như tê cóng. Quân sư Lê Thảo đặt xong con cờ cuối cùng bên trận thế của Khúc Việt Thư, thì nhặt ba con cờ đem đặt vào vị trí trên trận thế bên mình.

Quân sư dừng tay, đứng thẳng nhìn Khúc Việt Thư thật dịu dàng. Các tướng chợt thấy gương mặt họ Khúc với chòm râu trắng như mây hình như không còn sinh khí nữa. Lão đại soái chỉ còn là một hình nhân hoàn toàn không có hồn!

Các tướng không hiểu gì cả, nhưng Khúc Việt Thư thì đã hiểu, ông hiểu thật rõ ràng: Quân sư Hoa Lư đã đả bại thế trận cực kỳ bí hiểm huyền diệu của ông ngay từ khi ông đang bày trận. Bằng chính tay Lê Thảo đã giúp ông tiếp nối việc bày trận ấy. Cuối cùng thì Lê Thảo đã trả lời ông, đã phá tan nát trận thế của ông bằng ba con cờ!

Khúc Việt Thư không thể nào ngờ được. Cả cuộc đời ông với hàng vạn trận thế bày ra trên bàn cờ, ông chọn một trận do chính ông hoán cải, bổ suyết, hợp nhất nhiều phần của nhiều trận thế siêu tuyệt, làm thành trận thế riêng trên thế gian này chẳng ai biết được. Vậy mà Lê Thảo đã giúp ông bày trận, Lê Thảo đã phá trận thế của riêng ông. Trận thế khiến ông tự cho là mình còn cao hơn cả Đế Thích!

Lê Thảo chậm rãi nói:

- Trình lão đại soái, năm thế trận đầu tiên thì một âm một dương, ba bước theo sau là thuận nghịch và trung, một âm biến trận hai mươi chín bước, một dương biến trận bảy mươi bảy bước, sáu bước thuận, mười hai bước nghịch, cộng thêm bảy bước trung, tổng cộng một trăm ba mươi mốt bước thì kết trận! Trong những bước đi ấy, thưa lão đại soái tôi thấy có cả bốn quẻ của Bát Quái, năm lý của Hoàng Thái Công, một của phép điểm binh của Hàn Tín, kỳ dư thì không biết là những pha trộn còn lại. Thưa lão đại soái, nếu như cứ bình thường ra vào trận, thì cũng phải một ngày một đêm mới giải xong được. May được lão đại soái chẳng nỡ để cho tôi phải phơi sương đêm nay gọi nắng chiều mai, cho nên ngài đã cho phép tôi mở ra ba thế Thiên Địa Nhân để thu gọn càn khôn, kết thúc chiến trận! Đa tạ lão thần tiên! Đa tạ lão thần tiên!

Chợt Khúc Việt Thư ngửa mặt cười lớn, tiếng cười chứa đựng nỗi thê lương không sao tả hết. Tiếng cười đập vào vách núi rồi dội trở ra, như cấu xé tim gan mọi người. Các tướng bỗng thấy rùng mình, khiếp sợ.

Chuỗi cười dài thê lương ấy dứt. Khúc Việt Thư thều thào:

- Bẩm trình thần tiên, Khúc Việt Thư tôi tuổi vừa chẵn tám mươi mới được thấy trời cao quả là vô tận! Kẻ ngu muội ngồi trên vách núi mấy chục năm trời vẫn tưởng là ngồi dưới đáy giếng cho trời thu nhỏ lại. Nào ngờ trời không thu nhỏ mà lại bao la, vạn thế cờ Đế Thích thế là ra mây khói. Một trăm ba mươi mốt đường đi của thế trận “Thiên Địa Vô Song” hóa ra chỉ là mơ hồ kém cỏi! Thế là tôi thỏa nguyện, đã có người phá được “huyễn chấp” trong lòng tôi. Từ đây tôi không còn gì để còn vương vấn ở đời này nữa! Xin vạn tạ thần tiên đã giải thoát cho tôi!

Rồi lão đại soái quay sang phía các tướng, ông nghiêm giọng bảo:

Này các tướng của ta, các ông theo ta trên vách núi trong tòa thành này mấy mươi năm, các ông đã hiểu ta. Hôm nay các ông đã được chứng kiến tất cả mọi việc, lại là những người làm chứng cho lời nguyện của ta. Ta đã thua cờ Quân sư Hoa Lư, vậy ta thi hành lời nguyện ấy: Dâng thành Bát Vạn Sơn này cho Hoa Lư! Ta khuyên các ông một lời: Hãy thấy được mặt trời, đừng tự giam mình dưới đáy giếng để tự dối lòng là trời chỉ bằng một bàn tay. Các ông hãy quỳ lạy thần tiên, hãy đem sức mình vâng lệnh Vạn Thắng Vương, mà xin được cùng các hào kiệt đi cứu muôn dân! Ta đã xong công việc của ta, chủ ta Sứ quân Nguyễn Thủ Tiệp nếu hiểu thời biết thế, sẽ không trách gì ta. Ngược lại, nếu Sứ quân chẳng hiểu việc ta cùng với các ông làm hôm nay, thì ta chẳng có gì phải thắc mắc về một con người như thế nữa!

Lại hướng về Lê Thảo, Khúc Việt Thư trịnh trọng:

- Thưa Quân sư Hoa Lư, tướng trấn thành Bát Vạn là Khúc Việt Thư tôi, tự biết tài sức mình. Xin được dâng thành để cho các thuộc tướng của tôi được theo về với Hoa Lư!

Rồi ngay tại thạch bàn các con cờ còn ngổn ngang. Khúc Việt Thư sai thuộc tướng mau mau về sảnh doanh đem ấn phong tướng của Sứ quân Nguyễn Thủ Tiệp ban cho ông, trao lại cho Lê Thảo.

Lê Thảo nhận ấn của tướng trấn thành xong, nói:

- Tôi thay cho Vạn Thắng Vương, ca ngợi tinh thần vòi vọi của lão đại soái. Ngài đã hiểu tình thế, thông suốt được mọi hoàn cảnh của dân tộc hôm nay, giúp sức vào đại cuộc của giống nòi. Ngồi trên thành cao xa lánh hẳn chốn náo nhiệt, đem tài tí ra dàn xếp cuộc thế. Vậy mà vượt hẳn thiên hạ ở chỗ vẫn thấy được chân lý. Cuộc cờ của đại soái đi từ phương Bắc xuống đây, trải qua nghìn năm tung hoành làm mờ mất cả bức dư đồ của tổ tiên mình hoạch định hồi dựng nước. Tôi cầu mong đại soái lại đem thần trí minh linh ra để cứu xét cuộc cờ ấy, làm cho rạng tỏ công đức vô cùng của tổ tiên. Hôm nay, trên vách Bát Vạn Sơn cho dù Cao Biền có dựng tháp yểm trấn nhưng vẫn không thể nào trấn áp được dân tộc ta. Bằng cớ là kỳ vương đã trở lại với dân tộc giống nòi, xóa cuộc cờ Đế Thích để cho xương máu con dân cõi Giao Châu không phải phí phạm vì một huyễn tưởng. Tôi xin được thay cho trăm họ tung hô thần trí của đại soái!

Rồi Quân sư quay sang các thuộc tướng của Khúc Việt Thư, bảo:

- Các ông, chẳng phải là điều khiển ba quân vào ra trăm trận, chém giết lấy muôn đầu người, đoạt trăm thành mới là hào kiệt tướng tài soái giỏi. Mà kẻ cầm vận mạng trăm vạn con người thấy được lẽ tiến lui, hành xử trong trường hợp nào cũng vẫn làm cho trí với nhân hiển hiện được lồ lộ. Thì dù có bỏ mười thành cũng vẫn là bậc anh hùng hào kiệt ở đời này, soái tướng của các ông đã làm được như thế. Các ông đã chứng kiến thái độ cùng hành động của chủ soái thì cũng kể là các ông đã dự phần vào hành động tráng liệt ấy rồi. Trong số các ông còn có ai muốn bỏ vinh dự ấy để muốn tìm tới tối tăm chăng?

Quân sư vừa dứt lời. Toàn thể các thuộc tướng của Khúc Việt Thư bỗng cùng hô to “Vạn tuế Vạn Thắng Vương”.

Thế là trên vách Bát Vạn Sơn, ngay tại thạch bàn cờ tiên, tiếng tung hô của con dân xưng tụng Vạn Thắng Vương nổi lên trong nắng chiều sắp tắt trên ngọn cây rừng. Đuốc lửa chuẩn bị cho cuộc đấu cờ đêm không cần đến nữa. Ngay khi các tướng còn đang tung hô Vạn Thắng Vương, Khúc Việt Thư giang tay vơ hết những con cờ đá, ông lẳng lặng ném hết ra ngoài xa. Những con cờ đá trắng vệt những vệt trắng ngắn rồi mất hút vào không gian.

Khúc Việt Thư dẫn đầu, cả bọn xuống trấn thành. Soái tướng lên vọng lâu trấn thành. Ông giơ tay với chiếc sừng trâu thật lớn treo ngay ở cửa vọng lâu.

Đích thân lão đại soái Khúc Việt Thư nâng sừng trâu ấy hướng ra phía trước. Rồi lão soái vận lực lùa khí vào sừng rúc lên ba hồi hiệu lệnh. Nghe vừa âm u vừa hùng tráng. Tiếng kèn sừng trâu chính là hiệu lệnh thu hồi trận pháp cờ trận phía trước thành.

Lê Thảo đứng bên cạnh lão soái, trong lòng thầm phục khí lực lão tướng quả thật còn hùng hậu lắm. Ba hồi lệnh còi sừng trâu dứt. Khúc Việt Thư quay sang Lê Thảo nói nhẹ như gió thoảng:

- Vĩnh biệt thần tiên, tôi đã thỏa nguyện!

Lê Thảo chưa kịp hiểu ra sao, thì Khúc Việt Thư đã chậm chậm rũ người xuống. Quân sư vội vàng đỡ lấy lão soái tướng, các tướng ùa cả lại. Trong tay Lê Thảo, Khúc Việt Thư gương mặt cực kỳ bình thản, hình như ông vẫn còn đang mỉm cười. Lão soái đã tắt thở!

Hóa ra, ba hồi lệnh sừng trâu thường vẫn được một dũng sĩ thực hiện. Nay Khúc Việt Thư tự làm lấy, ông vận hết sức lực còn lại trong cuộc đời phổ cả vào chiếc sừng trâu lệnh, đến nỗi phá đứt hết kinh mạnh. Lão soái chết mà thật thỏa nguyện!

Ngay lúc ấy, có tiếng mấy vạn khẩu quân binh hô vang. Tiếng hô nghe không rõ nhưng cực kỳ mạnh mẽ. Trên thành Bát Vạn mọi người không hiểu có việc gì. Quân sư gọi tế tác của thành Bát Vạn đến bảo: Mau mau xuống trận, tìm binh Hoa Lư còn ở giữa trận, báo cho hay là thành Bát Vạn đã xin theo về với Vạn Thắng Vương!

Cùng với tiếng hiệu lệnh sừng trâu trên thành Bát Vạn bay xa xuống cả hai phía trận bên dưới. Vó ngựa tế tác các bên khắp nơi gấp lên đường: Vạn Thắng Vương đã được tin, Sứ quân Nguyễn Thu Tiệp đã được tin, tướng quân Lưu Cơ đã được tin, ba đại tướng Đông Thừa Trọng ở Lạn Kha, Lộc Kiệt trấn thành núi Bắc Sơn, An Bình Huy giữ thành Bồ Sơn, hết thảy đều đã được biết trân thành Bát Vạn đã kết thúc. Lão soái Khúc Việt Thư dâng thành xong thì đã về trời.

Sứ quân Nguyễn Thủ Tiệp được tin giữa lúc trọng binh của ngài đã ra khỏi phủ đường, chưa mấy xa trên đường tiến về Cổ Loa. Sứ quân kinh hoàng tay chân rụng rời, vội vàng phát lệnh cho quân quay ngay trở lại. Sứ quân biết là mất thành Bát Vạn thì chẳng khác nào đã mở xong cổng lớn ngoài cùng để binh ngoài dễ dàng vào được bên trong. Ngài muốn cứu thành Bát Vạn!

Đại binh của Sứ quân vừa quay lại, thì ngài được tin khẩn. Đại quân Hoa Lư không biết đi đường nào đã từ phía Cổ Loa đang đuổi theo phía sau, tình hình thật vô cùng nguy ngập! Sứ quân nghe tin, chẳng khác nào như ngồi trên bếp than hồng, loay hoay chẳng biết tính thế nào. Các đệ tử dân bùa bất tử đều nói: “Thành Bát Vạn là nơi xung yếu, ai được thành ấy thì vững được thế. Vậy nay nên quay trở lại lúc Hoa Lư không ngờ, ta đánh chiếm lại làm thế lâu dài. Lại bảo thành Lạn Kha tiếp sức, thì Hoa Lư sẽ không dám tiến về Cổ Loa đâu”. Sứ quân cùng đường đành nghe theo kế ấy. Sai đại tướng Điền Mẫu Nghị ở lại giữ phủ đường. Đích thân Sứ quân mang binh tướng quay gấp trở về Đông Nam. Lại cho tế tác chạy ngựa báo tin ngay cho ba trấn thành còn lại là Bồ Sơn, Bạch Sắc Sơn và Lạn Kha biết việc Sứ quân hồi binh tái chiếm thành Bát Vạn.

Tế tác của Sứ quân ra đi, chẳng bao giờ trở lại. Tướng tế sứ Mạc Sa Cảnh ngay khi được tin Quân sư từ thành Bát Vạn gửi ra bảo cho biết mọi việc. Dặn thưa trình vương rõ, lại nhắc đi nhắc lại: Phải hết sức chặn tế tác của Tiên Du liên lạc với ba thành còn lại, không được để một ai đi thoát. Vì thế lệnh của Sứ quân gửi đi chẳng thành nào nhận được.

Quân sư đã dặn tướng Lưu Cơ ở Cổ Loa từ trước. Cho nên Sứ quân Thủ Tiệp đã kinh hoàng chạy trở lại, rồi băng qua phủ đường tiếp tục đường sang phía Đông, để cho phủ đường bị quân của Lưu Cơ hợp với binh triều vây hãm.

Trước thành Bát Vạn, vương cùng các tướng ngóng đợi tin của Quân sư cùng tướng Lê Hoàn vào trận cờ, nhìn ra thấy trận thế bên Bát Vạn dường như biến đổi theo từng thời khắc. Phong cảnh đổi mới lạ lùng, cho dù hết sức chăm chú theo dõi cũng không nhận ra được. Nhìn ra chỉ thấy các toán binh nhà trước sau vẫn án nguyên chỗ không thay đổi. Bao nhiêu đổi thay của trận cờ bên thành Bát Vạn dường như không ảnh hưởng gì đến binh nhà trấn trận. Từ lúc Quân sư vào trận rồi mất hút, ngoài mười hai tế tác ra báo tin thì Vương không còn nhận được tin tức gì. Vương tin ở tài của Lê Thảo, nhưng cũng không khỏi thắc mắc lo âu. Các tướng thì lại càng nóng lòng không làm sao biết được những sự việc gì đang xảy ra trong trận. Tất cả đành cứ đợi chờ.

Cho đến khi trời chiều sắp tắt nắng, chợt thấy phía xa, dường như ở trên cao, có tiếng tù và thật âm u hùng hậu rúc lên ba hồi dài. Âm thanh vừa hùng tráng vừa bi thiết, mọi người không hiểu là có việc gì hệ trọng. Vương phát lệnh cho các tướng phải đề phòng, nếu có việc không may xảy ra thì lập tức thúc hết mấy muôn binh vào trận, lấy sức mạnh quân đông mà gỡ thế nguy. Ba hồi tù và rúc dứt, đột nhiên các đội binh Hoa Lư giữ trận của Quân sư thấy cảnh rừng thay đổi hẳn, cây rừng lúp xúp, vách núi mờ xa, quang cảnh đúng là cảnh thật. Tin trình ngay về để vương rõ. Vương liền đem các tướng lên phía trước xem sao. Chợt tướng Mạc Sa Cảnh reo to:

- Bẩm vương, Quân sư ta đã thắng trận! Cảnh vật núi rừng đã trở lại như cũ. Trận thế của doanh Bát Vạn không còn nữa! Quân sư đã thắng trận!

Lời trình của Mạc Sa Cảnh làm cho chúng tướng sĩ bỗng thấy mừng vui lạ lùng. Tất cả lại hô vang:

- Vạn tuế Vạn Thắng Vương!

Tiếng hô liên tiếp mãi không thôi, tiền quân trấn trận vội trình về: Có tế tác trên thành xuống trình tin. Mạc Sa Cảnh vội cho ngựa tiến lên, rồi thoắt đã quay trở lại hân hoan trình trước vương:

- Bẩm trình vương, quả nhiên Quân sư đã cho báo tin là thành Bát Vạn đã theo về với Vương!

Tiếng tung hô của binh tướng Hoa Lư lại một phen nữa rung chuyển cả núi rừng.

Đến lúc trời chạng vạng, thì Quân sư cùng với tướng Lê Hoàn trở lại. Lê Thảo trình qua cho vương biết việc thu phục thành Bát Vạn đã xong, rồi xin vương tức thì mang binh ngay trong chiều hôm ấy kéo đến trấn thành Lạn Kha. Quân sư liên miên phát lệnh cho tướng Mạc Sa Cảnh, tế tác rộn rã ra đi khắp các mặt. Quân sư muốn binh Hoa Lư hành động như bão cuốn mây trôi, thu phục các điểm địa trọng thành của Tiên Du. Không cho Sứ quân Nguyên Thủ Tiệp kịp trở tay!

Vương giữ lại ở thành Bát Vạn mười nghìn quân, sai tướng Nguyễn Bặc ở lại giữ thành cùng với các tướng cũ của Khúc Việt Thư. Quân sư dặn Bặc: “Lúc này Nguyên Thủ Tiệp bơ vơ tiến thoái đều không được. Tướng quân trấn thủ ở đây chỉ cần nương vào hiểm địa, lợi thế của thành, thì không có gì phải lo lắng cả. Nhưng cũng nên đề phòng cẩn thận cho đến khi quân ta xong hết mọi việc, tế tác sẽ đi lại luôn luôn để ông được yên lòng”.

Binh tướng lại ầm ầm chuyển động sửa soạn để lại kéo đi, nhưng các tướng thì ông nào cũng dùng dằng chen nhau trong sảnh doanh để nghe Lê Hoàn thuật việc Quân sư đấu tài với Khúc Việt Thư. Lê Hoàn không thể nào hiểu được những gì hai người trong cuộc chiến với nhau, lần lượt kể làm cho các tướng như triền miên sống trong mộng.

Rồi tướng quân Nguyễn Bặc thốt lên:

- Quân sư ta quả thật là dị nhân. Đại Vương ta được người theo về phò tá thế nào cũng xong đại nghiệp?

Mọi người nghe Nguyễn Bặc nói trong lòng bỗng thấy xôn xao kỳ lạ, rồi bất chợt lại nhất tề hô vang “Vạn tuế Vạn Thắng Vương!”.

Đại quân lại chuyển động. Lần này là tướng Chu Kỷ Toàn lĩnh cờ đi tiên phong lấy thành Lạn Kha. Trên đường đi, tế tác lại đi về như mắc cửi. Trình rằng: Trấn thành Lạn Kha vẫn chưa hay biết tin thành Bát Vạn đã mất, chỉ thấy cửa đóng quân canh cẩn mật. Chắc là đã có lệnh của Sứ quân.

Đại binh kéo đi, đến cuối giờ Sửu thì lệnh của Vương ban xuống dừng quân. Lúc này quân Hoa Lư chỉ cách trấn thành Lạn Kha không quá mươi dặm đường.

Vương ban lệnh cho quân được nghỉ, nhưng phải chia nhau canh phòng, cấm không được đốt lửa. Tế tác phải thay nhau đi về không được để một thay đổi nào của Lạn Kha mà không được biết.

Đến sáng, Quân sư xin vương triệu tập các tướng, bàn kế lấy thành Lạn Kha. Vào hội, vương bảo:

- Này các ông, binh ta vượt sông Kinh Phố thì lấy xong Siêu Loại, qua sông Bái là dứt được Bát Vạn. Bây giờ quay về Tây dứt nốt trấn thành Lạn Kha là có thể đã tin được là xong Tiên Du. Nhưng trọng trấn thành Lạn Kha cũng chẳng dễ để cho binh ngoài có thể xâm phạm được. Thành này do một lão danh tướng người đời tặng cho danh hiệu “lão tướng thần tiên” cũng đủ hiểu là ông ta người thế nào. Ở Bát Vạn, thần tiên về cờ Đế Thích đã dâng thành. Thế thì ở Lạn Kha này thần tiên trấn thành có sẽ dâng thành hay không, thành này thế nào? Ta để Quân sư nói để các ông rõ!

Lê Thảo vâng lệnh vương, nói rằng:

- Bẩm trình vương, này các ông, rặng Lạn Kha có nhiều ngọn nằm cách huyện lỵ Tiên Du chừng bốn dặm đường. Trên núi có ao Thứ Long, đỉnh núi Thất Sơn thì có bàn cờ đá. Tương truyền rằng xưa có người tiều phu tên là Vương Chất vào trong núi thấy có hai ông lão đánh cờ dưới bóng cây tùng. Vương Chất bỏ búa đứng xem, khi tan cuộc cờ nhặt búa lên thì thấy cán búa đã mục. Lúc ấy mới biết là được xem tiên đánh cờ, thời gian một ván cờ dài đến nỗi mục được cả cán búa. Lúc Sứ quân Nguyễn Thủ Tiệp giành đất chiếm giữ Tiên Du lập giang sơn riêng, nghe đâu được một thầy phong thủy chỉ cho Tiệp chọn nơi có nhiều cảnh trí tuyệt vời linh thiêng này. Ra sức xây thành đắp lũy chọn giữ các nơi hiểm yếu. Núi Lạn Kha này cũng được Tiệp sai một người giỏi binh pháp, khéo dạy quân, đến dựng một tòa thành kiên cố lập trấn doanh ở đấy. Người ấy tên là Đổng Thừa Trọng, họ Đổng hiện giờ vẫn giữ trọng thành này. Sử sách các đời sau chép là Triệu Đà đóng quân ở núi Tiên Du chống nhau với An Dương Vương chính là tại nơi này [→17] .

Quân sư ngừng lại, tướng Trịnh Tú lên tiếng:

- Bẩm Quân sư, núi Bát Vạn có Khúc Việt Thư giỏi cờ Đế Thích, lập trận cờ để chắn binh ngoài. Núi Lạn Kha có danh tướng Đổng Thừa Trọng có gì đặc biệt không?

Quân sư bảo:

- Tiên Du của Sứ quân Nguyễn Thủ Tiệp lắm việc kỳ lạ! Với rặng núi Lạn Kha thì lại có tướng được người đời tặng cho danh hiệu là lão tướng thần tiên. Chỉ vì ông ta là người vô cùng tinh thâm về âm nhạc!

Cả hội “ồ” lên vui vẻ, lại có kỳ sự lần này lại là âm nhạc!

Quân sư kể cho mọi người nghe về con người và tài nghệ của Đổng Thừa Trọng, rồi tiếp:

- Đổng Thừa Trọng cũng như Khúc Việt Thư, đều đã già nua, sức lực suy kiệt, mỗi ông ham mê một môn. Đổng Thừa Trọng lấy âm nhạc làm thú vui, đem luật âm thanh để ghép vào phép bài binh bố trận. Tôi có nghe nói: Trận nhạc của Đổng Thừa Trọng nếu không dùng đến phần sát phạt chém giết, thì nó có thể giam hãm người lạc trong trận triền miên sống trong huyễn cảnh. Âm thanh làm cho có thể thấy được hết thảy mọi lạ kỳ của cuộc sống, những kỳ lạ ấy hoàn toàn do người giám trận điều khiển tùy ý thích. Giả sử trận do người hung tàn dẫn xuất thì dễ đưa đến cảnh máu đổ thịt rơi, đấy gọi là “hung trận”. Còn nếu như trận do người ưa mơ mộng, thích sự yên bình trong tâm hồn điều khiển, thì người lạc trong trận ấy có thể cứ sảng khoái với những ảo ảnh ảo thanh, cho dù thực thân có chìm trong đau khổ cũng không cảm thấy đau khổ ấy! Đấy là loại trận gọi là “hiền trận”. Dù là hung trận hay là hiền trận, thì mục đích cuối cùng của nó cũng là làm cho phép dụng bình của người làm tướng trở thành lợi hại đến vô cùng. Với Đổng Thừa Trọng, ông ta chỉ muốn cho thiên hạ biết rằng: Dưới thế gian này, toàn là những hàng không hiểu âm thanh “Như chiếc thủ lợn trên bàn tế, có hiểu gì về những dòng nhạc tế đang trầm bổng trước lễ đàn đâu!”. Đổng Thừa Trọng tự thị đến độ dám đưa lời thách ai phá được trận nhạc của ông ta thì ông ta tự nguyện cắt đầu dâng thành!

Có người nói to lên:

- Thôi thế thì phen này Đổng Thừa Trọng mất đầu rồi! Ông ta chưa được biết về nhạc của Quân sư ta rồi!

Người vừa nói, chính là Chu Kỷ Toàn. Cả hội sảnh cười vui. Quân sư bảo:

- Đổng Thừa Trọng cũng như Khúc Việt Thư chán cuộc đời lắm rồi, chỉ một lòng mong được nghe về âm nhạc. Ta có thể chế ngự được ông ta, vậy là thành Lạn Kha lấy cũng không khó!

Vạn Thắng Vương hài lòng lắm, ngài bảo:

- Thủ Tiệp đi lấy Cổ Loa chắc chắn không đi xa được. Đến khi nghe tin thành núi Bát Vạn đã mất, thì thế nào y cũng phải quay về. Nếu ta mở trận đánh Lạn Kha ngay thì có lợi hơn. Đừng để cho Thủ Tiệp kịp hợp binh với Lạn Kha khiến sinh khó dễ. Có khi y không chịu để cho Đổng Thừa Trọng lập nhạc trận để chống lại ta. Tới lúc ấy thì máu phải đổ nhiều đấy!

Lê Thảo đáp:

- Bẩm trình vương, đúng thế! Vậy, tướng tiên phong Chu Kỷ Toàn hãy mang năm nghìn quân đi lấy thành Lạn Kha. Tế tác mở đường xem trong thành đối phó thế nào?

Chu Kỷ Toàn vâng lệnh, đi điểm quân. Tế tác có Mạc Sa Cảnh sai bảo lần lượt đi ra khắp các mặt, tin đưa về liên miên. Quân sư hẹn “khoảng xế trưa thì mở trận” xem trong thành động tĩnh thế nào.

Quân sư vừa nói xong, thì tế tác hấp tấp tới trình:

- Bẩm trình, trước thành Lạn Kha binh dàn ra đông lắm!

Quân sư cùng với Vạn Thắng Vương và các tướng lên chỗ cao quan sát, xem trận của Đổng Thừa Trọng xếp đặt thế nào?

Trong thành, khi tế tác gấp trình tin: “Thành núi Bát Vạn đã quy hàng Hoa Lư”. Thì soái tướng Đổng Thừa Trọng hội chúng thuộc tướng lại mà rằng:

- Trận cờ của ông Khúc Việt Thư vẫn tự cho là dưới thế gian này không có người hiểu nổi, chẳng bao giờ bên ngoài lại có thể xâm phạm được trọng thành ấy. Vậy mà chỉ trong một khoảng thời gian quá ngắn thành đã mất, như vậy thì Hoa Lư quả thật là có tướng kỳ tài!

Có thuộc tướng hỏi:

- Bẩm lão soái, người có biết trong quân của Hoa Lư ai là người phá được cờ trận của ông Khúc Việt Thư không?

- Ta ngồi trên núi cao, gác ngoài tai mọi việc ở thế gian cho nên không được biết rõ lắm. Nhưng ngày trước, ta có nghe ở Siêu Loại một hôm có hai kỳ nhân đến hòa tiêu địch. Ta nghe dân gian nói là hôm ấy có hai bản nhạc thần là Non Nước Cội Nguồn và Âu Lạc Cầu Duyên được hòa tấu. Ta không hiểu vì đâu có việc ấy, nhưng có nghe nói đến những bản nhạc tối cổ ấy của tổ tiên người Giao Châu ta. Hôm ấy bao nhiêu người được nghe, ta tiếc là chẳng được chung hạnh phúc dự nghe hai bản nhạc ấy. Bây giờ Bát Vạn với cờ trận trong một buổi xế trưa đến khi nắng chưa tàn mà đã bại vong, thì rõ ràng là có kỳ nhân xuất hiện. Thành ra như vậy ta nghĩ việc tấu tiêu địch ngày xưa có khi cũng có nguyên nhân của nó. Và người dẫn dắt cho buổi nhạc ấy có khi cũng là người sai khiến phá cờ trận của ông Khúc Việt Thư cũng không chừng!

Thuộc tướng lại hỏi:

- Bẩm trình soại tướng, giả sử như đúng là người lạ ấy chỉ xử tất cả, thì ở thành Lạn Kha này với lão soái tướng thần tiên, ngài sẽ đối phó như thế nào?

Đổng Thừa Trọng nói ngay:

- Ông Khúc mong có người hiểu được cờ của ông ta, ta chỉ mong được nghe hai bản thần nhạc ấy là đủ mãn nguyện với cuộc đời. Ta sẽ giữ lời nguyện ngày xưa “Cắt đầu dâng thành”. Bởi sau hai bản thần nhạc linh thiêng ấy của giống nòi thì người dùng nhạc như ta chẳng còn gì phải luyến tiếc nữa. Sá gì một tòa thành!

Các thuộc tướng nghe lão soái nói vậy, thì không thấy có ai lên tiếng bài bác. Dường như nhạc đạo của lão soái đã thấm vào tâm hồn các thuộc hạ của ông. Chiến trận sẽ chỉ diễn ra trong diễn giảng cung bậc tột cùng của thanh âm mà thôi. Vì thế lão soái tướng nói:

- Dù thế nào chăng nữa, chưa biết trong quân Hoa Lư có người tài như thế nào, ta cũng vẫn phải lập trận cự địch. Vậy ta mang binh ra ngoài thành ngay.

Lão soái từ đầu xếp đặt nhạc trận bên ngoài thành, sai quân đào hào dẫn nước từ sông Thiên Đức tới, đường khe chằng chịt nhiều nơi. Sai lấy những ống tre vậu lớn nhỏ dài ngắn khác nhau ghép lại chắn giữa dòng khe. Lại có nơi sai lấy thân cây rỗng ruột đặt bên dưới, trên treo những tảng đá thông vào với cần treo dưới dòng nước. Lão tướng cho người đi xem xét lại những nơi dàn xếp trước ấy, rồi sửa soạn mang quân lập trận.

Rồi lão đại soái đích thân đứng trên vọng lâu phất cờ cho tướng bài binh bố trận. Chẳng bao lâu trận đã bày xong trên một vùng thật rộng lớn trước thành. Trên thành, lão soái lại sai mang mười tám cỗ đại cổ căng da trâu rừng đặt trên mặt thành. Sai mỗi cổ trống ba lực sĩ túc trực đợi có lệnh thì đập trống theo cờ chỉ huy. Quân được tập luyện thuần thục từ nhiều ngày nhiều lần cho nên trận lập rất nhanh. Lão soái sai dàn ra cả một rừng cờ năm sắc lớn nhỏ. Rồi sai mang hết ghế trong sảnh doanh lên mặt thành để mọi người cùng ngồi xem trận.

Trận vừa bày xong, lão tướng chực quay gót, có quân chạy lên trình:

- Hoa Lư đã mang binh tới, chưa thấy bày trận thế nào?

Lập tức lão tướng thần tiên trở lại mặt thành cùng chúng thuộc tướng nhìn ra xa, chẳng thấy có binh nào, nhưng thấy phía sau rừng bụi vẩn. Quả thật có binh kéo đến.

Tế tác liền liền trình tin, đến quá giữa trưa thì tin báo: Quân Hoa Lư đã đối trận dừng quân đang bày trận để ứng chiến. Lão tướng thần tiên nghe trình, liền sai tướng phát hiệu cờ lệnh. Tức thì mười tám cỗ trống trên một thành gióng lên. Trống giục chẳng phải chỉ một nhịp điệu, mà có cỗ nhanh, cỗ chậm, có cỗ khua rền, có cỗ rời rạc từng tiếng. Các tướng không hiểu nhạc cổ, nhưng thấy bên dưới thành quân theo tiếng nhạc trống mà thay đổi trận thế, bụi vẩn mờ trời, cờ bay loạn mắt. Quân trong trận lúc bước nhanh, khi chậm lại, khi dồn cả sang phải, lúc lại dừng cả ở bên trái, không biết thế nào mà lường trước được. Các tướng tuy vẫn nghe lão soái nói về nhạc trận của ông, nhưng chưa bao giờ lại được thấy trận ấy thực sự tranh hùng với binh ngoài như thế nào. Bây giờ tai chỉ nghe tiếng trống dập, mắt nhìn những dòng quân đi lại luôn luôn, chẳng ai hiểu thế nào cả!

Lão soái sai mở đường chẹn cho nước chảy vào các khe. Trên thành cao các tướng không hiểu mà cũng không nghe được các âm thanh trong trận.

Đối trận, tiếng trống trên thành Lạn Kha vượt không gian bay đến trận Hoa Lư. Mọi người nhìn nhau biết là Lan Kha đã tập trống mở trận, nhưng chưa biết trận của Lạn Kha mở như thế nào.

Tướng quân Chu Kỷ Toàn mang binh dàn ra một dải dài từ Đông sang Tây. Kỵ binh án phía trước, bộ binh chực đằng sau, sẵn sàng nhập trận.

Ở hậu quân, Vương hội chúng tướng với Quân sư lại bảo:

- Lạn Kha đã mở trận, tướng Chu Kỷ Toàn đã dàn quân. Như các ông nghĩ thì Lạn Kha sẽ mở trận thế nào?

Các tướng lao xao bàn tán, tiếng trống trận của thành Lạn Kha vẫn tiếp tục bay đến nghị sảnh hậu quân Hoa Lư. Quân sư dự hội nhưng không nói gì, câu hỏi của Vạn Thắng Vương Quân sư cũng không trả lời. Dường như Quân sư còn đang mải suy nghĩ điều gì.

Đúng! Quân sư còn đang lắng hết tinh thần vào nghe tiếng trống trận của thành Lạn Kha, chỉ một mình Quân sư nghe và hiểu tiếng trống trận ấy!

Quân sư bỗng quay sang vương nói:

- Bẩm trình vương, bây giờ tôi lên tiền quân với ông Chu Kỷ Toàn. Lạn Kha mở trận, tôi lại đi cùng với ông Toàn vào trận xem sao!

Quân sư vừa nói xong, tế tác hấp tấp đến trình: “Sứ quân Nguyễn Thủ Tiệp quay binh gấp trở lại không về phủ đường, chưa biết là ông ta sẽ đi đâu”.

Quân sư nghe trình nói với vương:

- Như thế là Nguyễn Thủ Tiệp đã biết tin Bát Vạn không lợi, ông ta muốn đến tiếp viện. Nếu biết là thành đã mất thì ông ta không đến đấy nữa mà có thể là tới đây để hợp sức với Đổng Thừa Trọng, giữ thành Lạn Kha làm thế lâu dài. Vậy, xin vương chuẩn bị binh tướng, nếu ông Toàn với tôi xong được trận trước khi Thủ Tiệp tới thì không có gì phải phiền phức. Còn nếu như Thủ Tiệp đến sớm thì lại xảy giao tranh mất!

Vương bảo:

- Có thể Thủ Tiệp chưa biết tin thành Bát Vạn đã mất, mà cho là ta đem binh đánh hai thành cùng một lúc. Thế nào y cũng di cứu Bát Vạn chứ không tới đây!

Rồi vương cho lệnh các tướng chuẩn bị binh, để nếu đúng là Thủ Tiệp tới Bát Vạn chứ không tới đây!

Quân sư ra khỏi sảnh doanh, đem theo cả tướng tế sứ Mạc Sa Cảnh lên tiền quân gặp tướng Chu Kỷ Toàn.

Suốt trên đường đi, Quân sư không nói gì cả, nhưng con mắt tinh tường của Cảnh nhận thấy: Quân sư có vẻ quan tâm nhiều lắm đến tiếng trống trận của thành Lạn Kha.

Gặp Chu Kỷ Toàn, Quân sư bảo:

- Ông hãy đem quân tụ cả lại một chỗ, đóng binh làm sao để cùng một lúc có thể trông được ra cả bốn phương tám hướng. Lúc thu lại thì chỉ quay ra bốn phía, thu hẹp nữa thì chỉ nhìn ra hai mặt Bắc Nam. Cuối cùng binh đúc lại chỉ là một dầu một đuôi, có thể thay đổi cho nhau được khiến cho trận liên miên không hết!

Chu Kỷ Toàn vâng lệnh, không hiểu ý Quân sư muốn dàn binh như thế để mở trận như thế nào, nhưng cũng tức thì phát lệnh. Chẳng mấy chốc binh Hoa Lư đã lập xong trận trông có thể là “phương trận”, cũng có thể biến thành “trận tám cửa”...

Trông nom cho trận xếp đặt xong. Quân sư bảo quân: “Cứ trấn binh như vậy, mỗi khắc lại chuyển từ bốn sang tám, lại trở về bốn, rồi hai, rồi một. Sau đấy lại trở lại như trận thế lúc ban đầu”. Quân sư bảo Chu Kỷ Toàn cho quân biến trận vài ba lượt cho thành thạo, lại chọn những người thông minh lanh lẹ sai làm toán trưởng mặt quân. Dặn các toán trưởng phải nhớ các cách biến trận cho đến khi có lệnh mới.

Rồi Quân sư đem tướng Chu Kỷ Toàn và Mạc Sa Cảnh vào trận của soái tướng Lạn Kha.

Đến cửa trận ở phía Đông Nam, tức là hơi chếch xuống phía dưới chứ không đi thẳng vào chính trận. Quân sư dừng lại nói với hai tướng:

- Soái tướng trấn thành Lạn Kha là một người mê thích âm nhạc, ông ta tự cho là mình hiểu âm nhạc, thông lý nhạc chẳng ai hơn được. Trấn thành lại đem nhạc lập thành trận thế, cho nên các ông thấy thần trận của ông ta biến chuyển luôn luôn. Hệ trọng nhất là tiếng trống trận các ông nghe đấy, có thấy gì khác lạ không?

Tiếng trống trận của thành Lạn Kha thì ai cũng nghe thấy, lúc này lại gần trận tiếng trống nghe càng rõ hơn nữa. Hai tướng nghe Quân sư hỏi thì lắng nghe thêm chút nữa, rồi tướng Chu Kỷ Toàn nói:

- Thưa Quân sư, tiếng trống trận này thì ai cũng nghe thấy, hai chúng tôi cũng thế. Nghe Quân sư hỏi chúng tôi nghe kỹ thêm nữa cũng vẫn chẳng thấy có gì đặc biệt. Chỉ biết trống ấy là trống lệnh mà thôi!

Mạc Sa Cảnh cũng nhận đúng là như thế, Quân sư bảo:

- Phải, quả nhiên nhạc trận của tướng Đổng Thừa Trọng người không thạo nhạc thì không hiểu được. Cứ theo tiếng trống trận này, thì ta quyết chắc là “nhạc trận” phải dàn xếp cho ứng chứ không thể khác được. Cho nên mới cho binh ta lập trận như thế. Trống trận của Lạn Kha liên tiếp gióng lên không phải là trống thúc trận bình thường, mà họ Đổng đang cho trình bày một thế “nhạc trận”. Không biết ông ta gọi tên trận là gì, nhưng ý nghĩa của nó thì ta có thể nói được là: Trận mô tả đất trời đi từ lúc mới phân trên dưới, dần dần dựng lập thành núi rừng sông ngòi, rồi xuất hiện muôn vạn sinh vật, chuyển biến theo bốn mùa trong năm, từ đấy có sinh có tử, có ứng có đối. Biết thì đã hẳn là sống, không biết thì nhất định là phải chết. Bởi thế nhạc trận vừa chứa đựng hoan lạc, vừa hàm chứa chết chóc không tránh được như cuộc đời con người! Lúc này, đang vào tiết Lập Xuân, nếu đúng nhạc trận như ta mới nói xong thì ta phải vào đúng cửa hướng trời vừa chấm dứt tiết Đại Hàn. Ta sẽ lần lượt đi qua mười hai tiết khí của sinh khắc vũ trụ, đi qua được đúng hướng lần lượt ta sẽ gặp được cảnh thái hòa an bình của cuộc sống. Đi sai đường ấy là ta mời gọi tai họa của trời đất ập xuống cuộc sống của ta. Tất cả những biến chuyển ấy hoàn toàn ứng hợp với đời sống của đất trời trong một năm. Đi qua được hết, ta sẽ vào đến cửa soái doanh của nhạc trận. Vậy ta theo tiếng nhạc trận diễn tả thiên nhiên đang biến đổi điều hòa tốt đẹp mà vào trận!

Quân sư nói xong, dẫn hai tướng ung dung bước vào trong trận, mỗi bước đi một cảnh sắc hiện ra, tai nghe tiếng trống trận lúc này hết sức rõ ràng chứ không mơ hồ loáng thoáng như lúc ở ngoài trận. Ba người lần lượt đi qua cảnh sắc Quân sư bảo đấy là “Lập Xuân hoan trận”. Đường đi có nơi chỉ một, có chỗ ba bốn lối, khi thì dường như có cả trăm đường đi lối về. Những lúc như thế Quân sư phải dừng bước, lắng nghe tiếng trống trận chỉ đường. Hai tướng nghe những tiếng trống ấy thì từ đầu đến giờ chẳng thấy có gì khác nhau!

Đường đi qua nhiều nơi có những khe nước chảy, trong khe tiếng nhạc lạ phát ra. Quân sư cùng hai tướng lần theo khe nước tìm xem phát giác ra: Có những đoạn tre, vầu, nứa ngắn dài to nhỏ khác nhau. Nước chảy qua những ống ấy đẩy cựa gà khiến phát ra tiếng nhạc hòa với nhau thật khớp. Có chỗ lại tìm được tiếng bọng cây phát ra vì những tảng đá được nước thay đổi đập vào bọng cây rỗng, âm thanh ống nứa. Vầu hòa với trống bọng cây và trống trận trên thành tất cả hợp nhau tấu lên không khúc nhạc ứng hợp với từng tiết thời gian trong mỗi không gian của trời đất. Có nhiều nơi, Quân sư dừng bước lắng nghe điệu nhạc hòa. Quân sư bảo hai tướng sửa lại nhiều ống nhạc nước, xếp lại nhiều tảng đá đập bọng cây. Nhạc dường như thay đổi, tiết tấu cung bậc khác hẳn đi, có nơi đang rời rạc bỗng thành thánh thót êm tai lạ lùng. Khiến cả ba người phải dừng bước lắng nghe dùng dằng mãi chẳng muốn rời bỏ khúc nhạc tuyệt vời ấy...

Nhiều lúc Quân sư thận trọng bước đi, cảnh sắc cực diễm ảo. Có những điệu nhạc lạ biến đổi không ngừng, rất dễ làm cho người đi trong trận nếu không hết sức chú ý là bị mê hoặc lầm đường lạc lối ngay!

Đến một nơi, lúc ấy đang mới đầu tháng Hai, tiết trời hơi lạnh nhưng có nắng ấm của đầu xuân, thế mà mọi người chợt cảm thấy nóng bức. Khí hậu chuyển ngay sang nóng lạ thường. Trong trận trên thành, nhạc nước trong trận chuyển cung thay bực. Quân sư dừng bước, bảo hai tướng:

- Hai ông ắt đã thấy, ta vừa qua Hạ chí, rồi vào Đại Thử cho nên nóng nực đến như vậy. Hai ông hãy chú ý nghe tiếng trống trận lúc này, nhạc ứng thiên nhiên đang điểm những âm nặng nề, rắn rỏi, dứt khoát, xen lẫn là những âm trống cực trong, cao. Đây là nhạc trong mô tả tiết khí dưới đất hợp với vô cùng của trời cao, trong nóng nực này ta vẫn thấy mọi vật biến chuyển êm đềm không có gì sôi nổi. Bây giờ ta thử xem nếu đi sai đường chuyển hóa của vũ trụ trong thời gian này, thì nhạc trận của Đổng Thừa Trọng sẽ xảy ra những hiện tượng gì?

Quân sư bảo: Để tránh được mọi nguy hiểm không thể biết trước được, sau nữa là để biết được đường trở lại lối đi đúng trong trận. Tướng Chu Kỷ Toàn đem thanh gươm của tướng Mạc Sa Cảnh cắm sâu xuống đất ngay nơi ba người đang đứng. Rồi lấy dây lưng chiến bào của cả hai ông xé nhỏ ra nối lại với nhau thành một sợi thật dài, đem dây ấy cột chặt vào chuôi gươm. Sau đó cả ba người tay nắm đây lần bước đi hẳn sang một lối khác.

Đường đi theo dây căng dài mãi ra, dây căng hết thì Quân sư để đếm bước chân đi đã được cả thảy là bảy mươi tám bước. Lúc này ba người không nghe thấy tiếng trống trận nữa, bốn bề im lặng hoàn toàn, cảnh vật lung linh như đứng phía sau lớp sương khói. Sương khói ấy dần dần đùn ra dày thêm. Quân sư vội bảo:

- Mau mau quay lại đường cũ, chuyển biến thời gian xung khắc với thiên nhiên, thế nào cũng có tai họa!

Ba người lần theo đường dây quay trở lại, chẳng mấy lát đã về đến nơi cây gươm cắm sâu xuống đất. Đường dây đã hết, nhưng cảnh sắc không trở lại như cũ, vẫn tiếp tục có những dấu hiệu hung hiểm, tiếng trống trận nhạc cũng vẫn không thấy nổi lên! Thế là ba người lạc trong trận nhạc, chỉ vì muốn biết đi sai đường thì xảy ra việc gì?

Hai tướng Chu Kỷ Toàn với Mạc Sa Cảnh kinh hãi, hỏi Quân sư:

- Thưa Quân sư, thế là ta lạc trong trận! Rõ ràng là ta đã trở lại chỗ cũ, sao vẫn không có lối đi?

Quân sư cũng không biết phải tính thế nào, suy nghĩ rồi đáp:

- Phải làm sao tìm lại được tiếng trống trận, nghĩa là tìm ra được lúc này thời tiết chuyển về đâu. Có thế mới tìm ra được phương cách thuận hòa của vũ trụ. Ta theo đường dây trở lại chỗ cũ, nhưng chỗ ấy thời gian đã đổi khác. Tất nhiên vũ trụ thiên nhiên cũng đổi khác, phải đuổi theo thời gian mới bắt kịp dược thiên nhiên!

Rồi Quân sư sai nhổ cây gươm lên, dẫn hai tướng đi nhanh về phía tay trái. Quân sư hi vọng!

Hai tướng không còn cách nào hơn nữa là phải vội bước theo Quân sư. Vừa bước đi giữa những chuyển biến liên miên không ngừng của cảnh vật, Quân sư còn lẩm nhẩm điều gì. Hai tướng cho là Quân sư đang đọc khẩu quyết về nhạc lý để tìm lối thoát!

Đi một chặp, thấy Quân sư lại rẽ sang bên trái lần nữa, vừa đi Quân sư vẫn lặng lẽ lẩm nhẩm. Hai tướng càng lúc càng lo lắng, bỗng Quân sư bảo:

- Mau mau sang bên trái nữa!

Lần này đi chưa được mươi bước, cả ba người đã lại nghe thấy tiếng trống trận trên thành Lạn Kha. Mạc Sa Cảnh mừng quá reo lên:

- Quân sư, lại có tiếng trống rồi!

Phải, tiếng trống lại đến cùng với thay đổi của cảnh vật trở lại hiền hòa. Nhạc trong trận lại nổi lên, nhưng có mưa như rây bột, dù chẳng lớn cũng đủ ướt áo. Quân sư bảo:

- Có lẽ ta đang ở vào tiết Bạch Lộ, đúng thì chỉ một lát nữa nếu thấy mát mẻ là vào Hàn lộ. Lúc ấy nhất định ta phải đi đúng đường trận, sắp vượt qua được nhạc trận của Đổng Thừa Trọng! Ghê thật, không biết lúc ta lạc trong trận thì bên ngoài thấy thế nào, trên thành thấy thế nào?

Mạc Sa Cảnh hỏi:

- Thưa Quân sư, tại sao khi theo dây trở lại chỗ cũ, ta vẫn lạc đường. Quân sư đi sang trái hai lần thì lại tìm ra đường đi đúng?

Quân sư mỉm cười bảo:

- Phải, lúc theo dây bước đi, ta chú ý đếm thấy được cả thảy bảy mươi tám bước bình thường. Khi quay trở lại chỗ cũ không tìm ra đường, ta sang trái, ấy là từ khi vào trận ta thấy đường đi luôn luôn sang trái, tức là hợp với xoay chuyển của vũ trụ. Cho nên muốn đuổi theo thời gian ta bỏ lại khi cố ý đi sai đường. Ta theo phía trái đi đủ bảy mươi tám bước bỏ qua, vẫn chưa tìm ra được đúng thời gian. Ta đi thêm một lần nữa, cũng chưa thấy. Đến nửa lần thứ ba thì ta đã đuổi theo được thời gian để lại. Như vậy, khoảng cách của trận thế không rộng!

Quân sư nói đến đấy, thì trời đang mát mẻ bỗng thấy có gió hơi mạnh rồi khí hậu chuyển sang lạnh, lạnh thêm nữa. Rồi không gian như có một màng mỏng bao phủ. Quân sư kêu lên:

- Tuyệt diệu, ở non nước này có người huy động nhạc dẫn dắt được thiên nhiên phải theo ý muốn, phương trời nóng bức xứ ta lại có cảnh tượng của tuyết rơi phương Bắc! Ta đang ở trong tiết Đại Tuyết, sau Lập Đông! Đổng Thừa Trọng xứng đáng là thần tiên ở đời này! Phục thay!

Hai tướng nghe Quân sư thốt lên thật cảm khái như thế, cũng thấy vừa hào hứng vừa bâng khuâng cảm phục vị tướng soái hai ông chưa hề được biết mặt!

Tướng Chu Kỷ Toàn nói:

- Thưa Quân sư, như thế thì ta chắc sắp đi qua trọn vẹn nhạc trận của Đổng Thừa Trọng, tức là Quân sư đã phá được trận của ông ta. Theo đúng lời thề nguyền của ông ta, thì “nếu ai hiểu, phá được trận nhạc của ông ta, thì ông ta tự nguyện cắt đầu dâng thành!”. Vậy là lão soái tướng thần tiên hôm nay là ngày mạng vong chăng? Quân sư có cách gì để ông ta không chết uổng như Khúc Việt Thư không?

Quân sư có nghĩ đến điều này, bây giờ nghe tướng Chu Kỷ Toàn hỏi thì Quân sư lặng lẽ. Chính Quân sư chưa biết phải làm thế nào?

Nhìn ra, trời hết sương mờ như tuyết đổ, cảnh vật sáng bừng lạ lùng từ lúc nào chẳng ai hay. Ngay phía trước mặt đường dốc ngược lên cao, một tòa thành đá sừng sững. Phía sau là rặng núi trải dài hết tầm nhìn ở hai phía Đông Tây. Không còn thấy tiếng trống trận nữa, Mạc Sa Cảnh kêu lên:

- Ta tới trước thành Lạn Kha rồi chăng?

Ba người dừng bước, cả Quân sư lẫn tướng Chu Kỷ Toàn cũng nghĩ như Mạc Sa Cảnh, nhưng cả ba chẳng thể trả lời câu hỏi của Mạc Sa Cảnh.

Ngay lúc ấy, trên thành trống gióng ba hồi dài, rồi của thành mở rộng. Một tướng cưỡi ngựa chạy ra, tướng ấy đến trước ba người thì xuống ngựa.

Chưa biết tướng ấy là ai, xuống ngựa có việc gì? Xin xem hồi sau sẽ rõ!

—ooOoo—


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mot Sach đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2024

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của vũ ngọc đĩnh

Truyện bạn đang đọc dở dang