12 sứ quân

Lượt đọc: 8455 | 5 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồi Thứ Một Trăm Mười Ba
thạch trận tan, tửu luận dâng thành
kể việc đời, mộc đường nộp ải

Quân run run trình:

- Bẩm trình lão tướng, trấn tướng thạch trận gấp cho trình về lão tướng xin lệnh cho ngưng trận đá. Binh tướng Hoa Lư đã lên đến Tây ải, chậm thì tan nát cả!

Trong đời Mạc Cương Hồng, kể từ lúc thơ ấu cho đến lúc này, ngồi trên đỉnh núi Đồng Lư, nhìn thế gian thuần là một hạng tăm tối. Ông tự cho mình đã thoát ra ngoài kiềm tỏa của nhân sinh. Chịu ơn của Sứ quân thì đành ngồi ở đây, đem tài riêng trấn một ngọn núi làm cửa ngõ ra vào cho cả một giang sơn. Tự thị là tài mình dựng thành trận chẳng có binh gia nào trên đời này có thể qua được hai trận lạ của ông. Lại thường bảo chúng thuộc tướng: “Hai trận một đá một rượu của ta, vĩnh viễn còn mải ở nơi này. Người đời có thể vào Hồi Hồ bằng đường khác, nhưng không thể vào Hồi Hồ bằng ngả hai trấn trận Đồng Lư của ta được”. Vậy mà chỉ mới đây có ba người đã thản nhiên nhẹ nhàng đi qua một trận của ông. Bây giờ đến trận thứ hai cùng lại đã bị phá!

Mạc Cương Hồng gay gắt:

- Lệnh đến hòn đá cuối cùng trên đỉnh núi cũng phải đổ xuống!

Lê Thảo cười thành tiếng, bảo:

- Đá đổ hết rồi, Tây ải đã xong, người làm tướng khư khư với định kiến kém cỏi của mình vẫn còn mơ ngủ sao! Tướng trấn ải Đồng Lư quả thật tai điếc không nghe thấy núi Rồng đang đổ. Vì rượu nhiều quá mắt mờ mà chẳng thấy trời cao đất rộng ở ngay trước mắt! Ông hãy xuống lệnh đầu hàng!

Mạc Cương Hồng lạnh lùng:

- Núi Rồng đổ thì ta theo núi. Tửu trận của ta theo sức nóng mặt trời mà bay thành hơi tan vào hư vô! Không ai trên thế gian này có thể sai bảo được ta, chỉ có ta làm được theo ý của ta!

Lê Thảo nghiệm giọng:

- Mạc Cương Hồng, ta vâng lệnh Vạn Thắng Vương lên tận nơi này thay Vương nhận lời lạy tạ dâng ải của ông! Ông đã thua trận, không phải ông là người ra lệnh nữa, ta mới là người ra lệnh!

Mạc Cương Hồng nheo nheo cặp mắt sâu sau hàng mày rậm bạc trắng, tinh quang như chiếu ra sáng ngời. Giọng ông càng khinh mạn hơn nữa:

- Lê Thảo, ngươi sai bảo được ta chăng? Lệnh của ta là người được chết ở trong ải này, thế gian chưa có kẻ nào bên ngoài vào được nơi đây. Đây cũng là một vinh dự lớn cho người rồi!

Tướng Hà Bảo Ninh tay đã chực nắm lấy chuôi dao ngắn, người báo tin còn đứng đó ngơ ngác kinh hãi. Tướng Mạc Sa Cảnh bình tĩnh quan sát hết thảy mọi sự việc ở nơi đây chẳng để lọt một thứ gì. Hai tai cực thính của ông đã nghe thấy nhiều tiếng động, và khi thấy cử động của Hà Bảo Ninh thì ông nói khẽ:

- Không cần! Cứ bình tĩnh!

Cùng với câu nói của Mạc Sa Cảnh. Có tiếng chân người rầm rập, rồi tiếng thét lớn:

- Mạc Cương Hồng đâu, mau ra đầu hàng!

Tiếng thét còn âm vang thì nhiều người đã tràn vào. Đi đầu là một tướng vóc dáng cao lớn, tay lăm lăm cây cương đao. Đây chính là trưởng tử Đinh Liễn của Vạn Thắng Vương Đinh Bộ Lĩnh. Liễn nhìn thoáng qua chưa hiểu sự thể, thấy có cả Quân sư ở đây thì xăm xăm bước tới, thấy một tướng già râu tóc trắng như mây đứng đó, lại nhớ lời Quân sư kể thì đề quyết rằng đây là Mạc Cương Hồng viên tướng kiệt ngạo của Hồi Hồ. Liễn liền nghiêm nghị ra lệnh:

- Mạc Cương Hồng, ông đã bại trận sao không quỳ xuống xin được chết theo ải đi!

Mạc Cương Hồng không cao giọng, nhưng thật kiêu hãnh hỏi:

- Ngươi là ai, sao dám vô lễ ở chốn này?

Đinh Liễn cười lớn, đáp:

- Đinh Liễn là ta, trưởng tử của Vạn Thắng Vương! Mạc Cương Hồng, ông già nua không còn đởm lược chẳng tự dám chết. Ta hẹp gì mà chẳng giúp ông được chết mau!

Dứt lời, Đinh Liễn cử cương đao chực chém tới. Lê Thảo giơ tay cản lại, bảo

- Tướng quân ngừng tay!

Quay sang Mạc Cương Hồng, Quân sư bảo:

- Mạc lão tướng, thạch trận của ngài bày theo phép “Ngũ Toàn Lục Dư”. Luận theo vòng chuyển của trời đất bốn mùa, đem vũ trụ hòa nhập với con người. Mong muốn lấy thiên nhiên hư ảo để trấn áp con người hiện thực, thì chẳng qua đấy chỉ là trò nghịch ngợm của phương pháp sư thuật sĩ lừa bịp chúng nhân, người quân tử sao lại làm như thế?! Nay, binh tướng Hoa Lư vâng lệnh Vạn Thắng Vương là bậc nhân thần vì họa hại mai sau của người quanh núi Đồng Lư, vì phúc lành của người Giao Châu. Nên đã xả thân hủy trận đá ấy của ngài, đem trời đất con người trở lại đúng chỗ đứng của muôn loài muôn vật. Như vậy lẽ ra ngài phải tỉnh ngộ, quỳ gối vọng bái tạ ơn nặng của Vạn Thắng Vương mới phải. Chứ sao lại cứ khư khư với những mơ hồ của mình suốt ngần ấy năm mà vẫn chưa hiểu ra hay sao?

Hốt nhiên Mạc Cương Hồng run giọng nói:

- Thạch trận đã bị phá, quả thật ta đã bại ở mặt trận ấy. Hư ảo hay kiệt xuất ta không cần nói đến, ta chỉ biết ta vẫn chưa đạt được đến chỗ tối diệu của tâm tư! Vậy còn Tửu trận của ta, các ngươi dám đem quân phá chăng? Cái gương Địch Hồng Hà năm xưa các ngươi quên rồi chăng?

Quân sư cười vui vẻ, rồi nghiệm giọng bảo:

- Mạc Cương Hồng, ông lại vẫn mơ hồ chẳng tỉnh ngộ. Tửu trận phía Đông rặng Đồng Lư có nhiều điều sai lầm, bịt mắt được người chẳng biết chữ nghĩa sách vở, chứ làm sao che mắt được người bình thường! Ta đến trước ải của ông cũng đủ để ông phải suy nghĩ rồi mới đúng. Thế mà vẫn còn mù mịt đem chữ “Tửu” ra toan để lừa gạt ta, đến nông nỗi này thì ta không thể không đành phí chút thì giờ dạy dỗ cho ông biết!

Trong đời lão soái, chưa từng bao giờ lại bị nghe những lời nói bất kính. Vậy mà nay ở ngôi soái tướng, tự cho là mình không có đối thủ ở dưới gầm trời, đến nỗi cao ngạo dù Sứ quân có triệu mời cũng chẳng thèm đến gặp chủ. Vậy mà nay lại có một người tuổi trẻ đến tận đại doanh thần tiên của ông trên núi vắng vẻ, để sỉ mắng đến như thế. Lão soái lập tức đáp lại:

- Ngươi có dám đem trăm vạn binh, một ngàn tướng phá Tửu trận của ta không?

Lê Thảo cười ngất, đáp:

- Quả nhiên người đời ngoa ngôn ca ngợi Mạc Cương Hồng là người thần trí, té ra chỉ là một kẻ ưa việc dao búa, cậy bắp thịt để dưỡng danh với đời! Nực cười thay! Này ông, ông có muốn được nghe, được thấy những chỗ sai lầm của thiên hạ nghĩ về ông không? Ông có muốn được thấy chính con người ông kém cỏi đến thế nào không? Ta đã nói là chịu dành chút thì giờ chỉ bảo cho ông được thấy rồi!

Lại một lần nữa Mạc Cương Hồng phải nghe những lời lẽ như vậy, ông lạnh lùng:

- Nói xem!

Quân sư Lê Thảo cũng lạnh lùng:

- Kẻ tiểu nhân gặp gỡ nhau giữa chợ thì kéo vào quán rượu bên đường, người quân tử trải chiếu mới kính cẩn mời nhau lên nhà trên. Ông là tướng ở một nơi tự nhận là trên cao chỉ có trời, dưới thấp chỉ có mình ông là cao hơn tất cả. Thế mà ông lại muốn hạ mình chẳng bằng kẻ tiểu nhân mời nhau vào quán chăng? Ông muốn ta đứng đây để giảng việc lớn cho ông nghe chăng?

Mạc Cương Hồng khẽ nhếch mép nửa như mỉm cười nửa như khinh bỉ. Ông chẳng nói gì thêm quay gót bước đi. Đám người cũng đi theo. Đường đi quanh co giữa những thân tùng già, những cụm trúc xanh mướt, không gian cực yên tĩnh, rồi dẫn vào lối đi nhỏ. Xa xa một gian nhà ẩn dưới một vùng chỉ có trúc ở chung quanh không biết đến đâu thì hết rừng trúc, không khí mát lạnh. Đây chính là nơi lão soái một mình ngồi uống rượu, và cũng là nơi ngày trước lão soái đã từng phát lệnh cho Tửu trận của ông để giết Địch Hồng Hà, tận sát đại binh của Sứ quân Nguyễn Siêu ở Tây Phù Liệt.

Binh tướng của trấn ải Đồng Lư hiếm có người lại được tới nơi này, nói gì là còn được vào bên trong nhà trúc nữa. Vì thế ai cũng tò mò muốn biết ngôi trúc thất, lại muốn xem Quân sư Hoa Lư đấu trí với lão soái như thế nào.

Lại gần ngôi nhà chút nữa, từ xa xa Quân sư Lê Thảo nhận ra ngay trong nhà chỉ có một chiếc ghế trúc lớn, một chiếc bàn thấp cũng bằng trúc. Ngoài hai thứ ấy thì tuyệt nhiên chẳng còn thứ gì nữa. Quân sư ghé tai Hà Bảo Ninh nói nhỏ điều gì, Ninh gật gật đầu rồi rảo bước đi lên trước. Quân sư lại quay sang tướng Mạc Sa Cảnh dặn bảo điều gì, chỉ thấy Cảnh cũng như Ninh gật gật đầu ra điều đã hiểu.

Hà Bảo Ninh đứng trấn ngay giữa của ngôi nhà, vóc dáng Ninh cao lớn dũng mãnh lạ thường. Tướng quân đứng ở đấy mình thật thẳng, mặt hơi ngước lên, mắt chẳng nhìn ai mà nhìn thẳng ra phía trước, chiếu vào khoảng không gian yên tĩnh bên ngoài vách núi.

Lúc đám người đi đến nơi, tướng Hà Bảo Ninh ưỡn ngực oai nghiệm nói:

- Chủ nhân thỉnh mời Quân sư Hoa Lư quang lâm trúc thất!

Hô xong, Hà Bảo Ninh đứng sang một bên nhường lối. Quân sư Lê Thảo thật ung dung, thản nhiên bước tới, ông chẳng nhìn quanh mà đi thẳng ngay lại ghế. Quân sư tự tay chỉnh ghế rồi ngồi xuống.

Việc xảy ra nhanh quá, Mạc Cương Hồng còn đứng bên ngoài lúng túng không biết phải làm thế nào? Trong nhà trúc chỉ có một ghế. Bây giờ Quân sư Lê Thảo đã ngồi mất rồi! Lúc ấy, tướng Mạc Sa Cảnh nắm ngay lấy tay áo Mạc Cương Hồng lôi đi, miệng nói:

- Quân sư mời lão soái vào!

Mạc Sa Cảnh là một tay nhuệ kiếm, lại rất giỏi nghề xử đao ngắn, sức khỏe như voi, nhưng thân hình lại gọn ghẽ nhanh như vượn như sóc. Tướng quân nắm tay áo lão soái lôi đi khiến lão soái cảm thấy như bị con voi lớn dùng vòi cuốn đi không cưỡng lại được. Mạc Sa Cảnh lôi lão soái vào trong nhà trúc, để lão soái đứng trước bàn, rồi rảo bước đi lại phía sau Lễ Thảo khoanh tay đứng hầu.

Tình cảnh thật là dở khóc dở cười. Lúc này Lê Thảo ngồi ở vị trí chủ nhân đón khách, mà khách thì lại đứng trước bàn chẳng khác nào như một hàng tướng hay một tội phạm đứng trước pháp quan! Quân sư nhìn quanh chung quanh, rồi lên tiếng:

- Quân, lấy ghế mời lão soái ngồi!

Mấy thuộc tướng của lão soái từ đầu vẫn lặng lẽ theo sau chẳng ông nào nói điều gì, cũng chẳng ai có cử chỉ gì. Bây giờ thấy tình thế, lại nghe Lê Thảo nói như vậy, thì cũng lại lúng túng. Người quân tế tác lúc nãy đến trình tin bỗng kêu to lên:

- Vâng lệnh!

Rồi y vội chạy đi, trong nhà trúc tất cả vẫn im lặng. Ngoài cửa tướng Hà Bảo Ninh vẫn uy nghi đứng. Khí thế xem ra bình thản nhưng ai cũng cảm thấy rằng đấy là “núi lớn”, đụng vào tất nguy!

Một lát, quân đem ghế đến. Quân sư chỉ tay, quân đặt ghế trước bàn hơi chếch sang bên trái. Quân sư thản nhiên nói:

- Lão tướng ngồi!

Mạc Cương Hồng ngập ngừng, tướng quân Mạc Sa Cảnh dậm bước như toan bước lên. Lão soái chậm chậm đi lại ngồi xuống ghế chẳng nói một lời, gương mặt vẫn lạnh tanh.

Vừa lúc ấy, quân chạy đến bên ngoài, tướng Hà Bảo Ninh rắn giọng hỏi:

- Việc gì?

- Bẩm, xin vào trình tin khẩn!

- Đứng ở đấy, trình lớn lên!

Người quân thoáng ngập ngừng rồi lớn tiếng thưa:

- Bẩm trình đại tướng, thạch trận đã dứt. Binh Hoa Lư đã vào Tây ải, các tưởng giữ trận đã ra hàng cả rồi!

Mạc Cương Hồng chẳng nói gì, thái độ dường như càng lạnh lùng, Lê Thảo bảo:

- Lão tướng, việc đá núi Đồng Lư đổ, chẳng qua là vận động tự nhiên của trời đất, không có gì phải thắc mắc cả! Nếu như lão tướng thắc mắc, thì nên hiểu rằng: Núi tự nhiên sinh ra, trời bóp đất cho núi trồi lên, thì rồi cũng có lúc trời cậy đá cho núi đổ xuống. Việc con người có làm cho đá trút xuống chẳng qua cũng chỉ như gió nhẹ thoảng mặt hồ, làm sao khuấy động tận dưới đáy bùn được. Thế thì thạch trận tan vỡ chẳng qua chỉ là sự thường của trời đất, sự phải của người làm tướng cầm quân đi qua núi mà thôi! Lão tướng chẳng có gì phải thắc mắc cả, có thắc mắc thì nên thắc mắc về việc trước mặt, việc do chính con người làm ra. Những việc ấy mỗi người thích một thứ, có người thích mây, có người thích gió, có người thích màu xanh, có người thích màu đỏ. Như lão tướng không thích âm thanh, chẳng ưa cuộc sống thế tục, lên núi cao tránh tiếng động. Lại mượn men say cùng trời đất, tự cho là mình có rượu quý cả thiên hạ không có. Sao hôm nay lần đầu tiên có khách vào trúc lâm, ngồi trong trúc thất, nghe lá trúc reo, nhìn măng trúc chui ra khỏi đất, nghiệm trong trời đất lấy chữ “quân tử trúc” để thưởng thức men thần. Lão soái sao lại không cho đem rượu ra đãi khách nhỉ!

Từ đầu đến giờ, Mạc Cương Hồng vốn tính trầm lặng ít nói, khinh cả thiên hạ. Bây giờ việc đến dồn dập, lại bị người ngoài khống chế dồn vào chỗ phải tiếp ứng, chẳng còn chủ động được nữa, thì giận lắm. Tính kiệt ngạo hốt nhiên bừng dậy, lão soái bảo:

- Nhà trúc của ta vấy bẩn vì bọn thế tục rồi, sao lại còn đem thứ “nước trời” ấy ra cho phường mắt thịt thưởng thức được!

Quân sư Lê Thảo đã không giận, còn vui vẻ đáp:

- Phải, “nước trời” của ông uống thì mê man, làm cho con người hư hỏng. Tôn quý đem dựng thành mộng tưởng, nghĩ rằng người ngoài chẳng thể thấu hiểu được, lại hóa ra cuộc bày trò của đám trẻ ranh. Vì thế tửu trận của ông ta mới đi qua được dễ dàng, vì thế “tửu viên” của ông ta qua thuần thấy những loài hoa “lạc thần”, cỏ thì “vô nhãn”, cây thì “vô hồn”. Ngần ấy thứ đọa lạc sao lại gọi là thần tiên để khư khư ôm ấp, vênh mặt kiêu hãnh cho là hay được!

Các tướng nghe Quân sư nói thì chẳng hiểu gì cả, nhưng Mạc Cương Hồng thì lại có vẻ gay cấn, ông cãi:

- Tửu trận của ta, muôn binh nghìn tướng cũng không thể qua được. Sao ngươi dám bảo là cuộc trò của đám trẻ ranh?

Lê Thảo nghiêm mặt đáp:

- Này ông Mạc, sao ông nghĩ chỉ một mình ông đủ đè nén hết được cả thiên hạ, mà lại quên rằng tửu trận của ông chỉ một mình ta cũng đủ sức đi qua rồi. Còn nói gì đến thiến binh vạn mã nữa mà kể lể! Thế mới biết, kẻ nghiện rượu là kẻ tăm tối! Việc xa thì thế, việc gần ngay sau cửa ải của ông, ông hãnh diện lắm với cái vườn con con, bày đặt quanh co để lừa thiên hạ. Lúc nào cũng khoe rượu ngon rượu quý, lại hóa ra toàn là thứ làm cho người ta lạc thần, có mắt mà như không mắt, có hồn mà như không hồn. Thế thì thần tiên ở chỗ nào?

Mạc Cương Hồng tức tối, hỏi:

- Hoa trên lối đi tửu viên của ta là hoa thiên lan, ba năm mới nở một lần. Cỏ đấy là cỏ “thần thảo” mưa không chạm được đến lá, chỉ có sương giữa đêm ngày bước sang xuân phân mới hút sương trời để sống chống tàn, sao lại gọi là vô nhãn chẳng có mắt được. Còn cây ở đấy của ta là loại trường tùng chỉ sống trên núi cao, năm năm lá mới rụng một phần năm, mười năm mới ra một nhánh. Chỉ có đời sống của thần tiên mới có thể đủ lâu dài để thưởng thức được những kì ảo ấy, sao lại gọi là cây vô hồn được!

Lê Thảo cười ngất đáp:

- Này ông Mạc, thế mới biết cái biết của ông mới thật là rộng rãi về lầm lẫn! Nghe ta nói đây! Thiên lan gốc ở tận Định Quân Sơn bên Trung Hoa, chỉ mọc ở trong hốc núi lạnh lẽo, hứng khí ẩm của hang hốc trên cao, tuyệt nhiên không vướng bụi. Thế mà ông lại cất công đem đến sườn Đồng Lư ở mãi phương Nam nóng bức đem trồng xuống đất bên cạnh những giọt rượu nồng khê, thế thì hoa ấy xuất thần sao được mà chẳng phải là hoa lạc thần! Rồi đến cỏ thần của ông là loại chỉ men theo cạnh suối sâu trong rừng, tìm những nơi nước trong lành, chọn những chỗ đá không rêu mà mọc. Thế mà nay ông bứng cỏ ấy, đem lên núi sao khô cằn trồng xuống đất, lại khoe là mỗi năm chỉ hút sương đêm một lần rồi sống mãi chẳng tàn. Cỏ ấy chẳng nhìn thấy chỗ nó sống không phải là khe suối trong nơi tinh khiết không có rêu bẩn, thế có phải là cỏ ấy chẳng có mắt hay không? Đến như mấy cây ông khoe là trường tùng năm năm rụng một phần năm lá, mười năm mới ra một nhánh, thì mới lại thảm bại nữa! Cây ấy, có nhiều mọc sâu trong rừng Vũ Định, Phong Châu, không để cho người đời thấy được, thân cao chạm mây, lá là loài kim diệp thu lại thành chùm, mỗi năm thay lá một lần, gió nhẹ thì reo, gió mạnh thì gào, gõ vào thân phát ra âm thanh nghe như tiếng đàn tiếng sáo. Làm gì có việc năm năm thay một phần lá, mười năm nẩy một chồi! Nay đem lên núi cao trồng giữa nơi phẳng phiu hỗn tạp, lại ghép vào với men nồng của rượu, làm sao cây phát huy được! Lúc ta đi qua, gió núi buổi sáng thổi nhẹ miên man, thế mà cây chẳng reo, cây không reo chẳng phải là nó đã mất hồn rồi không? Cây cỏ hoa lá như thế, nâng niu bên cạnh một vò rượu thì rượu ấy nhất định phải là thứ rượu chỉ đáng để cho trâu uống, thêm hăng nồng trước lúc đem ra thi tài sức lực mà thôi! Bây giờ ta đã rõ rượu thần của ông già họ Mạc trên núi Đồng Lư rồi!

Mạc Cương Hồng kiêu ngạo, cho mình là thần tiên, trên đời này chẳng có gì là không biết. Coi cả thiên hạ không bằng một chén rượu quý của ông, vậy mà lúc này lại bị một người trẻ tuổi cao giọng chê bai đủ thứ. Từ hoa lạ cây kì ông chưa bao giờ lại nghe nói đến như thế, rồi đến cả rượu tiên của ông thì lại bảo là rượu chỉ đáng để trâu uống cho hăng trước lúc thi đấu nữa, thì không chịu được, liền bảo:

- Này, người biết gì về rượu mà dám nói? Liệu tuổi của ngươi có qua được tuổi rượu của ta không mà dám chê bai!

Mạc Cương Hồng có ý khinh Lê Thảo tuổi còn trẻ, làm gì biết được rượu ở trên đời này. Lê Thảo liền đáp:

- Mạc lão soái, ông dựng trấn ải này chắc từ lúc núi mới mọc. Cho nên mới có loại lão đại, cổ tửu vượt xa cả rượu cất bằng nước mặt trời mặt trăng đấy chăng? Nếu ải chỉ mới dựng từ lúc Sứ quân Ngô Nhật Khánh xưng hùng cát cứ, thì lão soái dựng ải được bao năm rồi?

Mạc Cương Hồng cũng như các tướng nghe Lê Thảo nói việc lạ, lại có thứ rượu gì cất bằng nước mặt trời mặt trăng nữa, ai cũng ngơ ngác. Mạc Cương Hồng bảo:

- Rượu của ta do ta cất lấy, trong thì sương đêm mùa thu cũng không sánh bằng. Hồng tửu rót vào chén bạch ngọc rượu chẳng dính chén, thanh tửu uống vào tinh thần thoát tục, miên tửu thấy lại được đời xưa, chuyển tửu uống thì có thể nhìn được kiếp sau của mình chuyển hóa như thế nào. Rượu như thế chưa từng có ở thế gian này. Ta chưa nghe nói thứ rượu nhảm nhí cất bằng nước mặt trời mặt trắng như ngươi nói!

Lê Thảo thâm phục rượu quý của Mạc Cương Hồng, lại đáp:

- Rượu phải ủ men, nấu gạo, lấy nước suối nước giếng hay nước mưa mà cất, đây là những thứ rượu trần tục. Bậc thần tiên sao lại chịu uống thứ rượu ấy! Lão tướng đi khắp thế gian, cuối cùng ngồi trên đỉnh núi cách biệt với đời, lấy rượu làm đạo, sao lại chẳng biết sách Hoài Nam Tử nói rằng: “Kính Dương Toại chiếu vào mặt trời thì cháy và bốc lửa. Kính Phương Chư chiếu vào mặt trăng thì ướt mà chảy nước”. Sách ấy lại ghi nghĩa giảng: “Hai thứ kính ấy đều là tinh của đá ngũ sắc”. Như thế, giữa khoảng trời đất huyền vi hoảng hốt, lấy một thứ vật trong tay đem chiếu lên trên không mà lấy được nước, lấy được lửa, đó là do sự cảm ứng của âm dương mà thành. Rượu là chất do người ta cất ra, thế mà hơi rượu cũng cảm ứng với mặt trời, vì trong đó có “lý do”. Mạc lão tướng đã nghe và biết lý do ấy chưa?

Quả thật Mạc Cương Hồng chưa bao giờ lại biết có sách nào nói như thế. Cho nên lý do ra sao ông càng không biết, tính mê rượu bắt đầu thôi thúc, ông đáp:

- Quả thật ta chưa nghe nói, chưa thấy ở đâu lại có những việc như thế. Cho nên ta không biết lý do!

Lê Thảo bảo:

- Phải, ông làm sao biết được! Lý do của nó có chép rõ trong sách Thái Bình Quảng ký là: “Khi rượu cất được rồi, nước trong ở trên hũ thường chuyển theo phía mặt trời: Buổi sáng thì trong ở góc đông, buổi trưa thì trong ở góc nam. Khi mặt trời xế về chiều thì trong ở góc tây; nửa đêm thì trong ở góc bắc. Còn nước rượu trong luôn cả ngày thì không theo hướng mặt trời”. Vậy, lão soái uống rượu tiên của mình có theo đúng phép “thưởng tửu” của thần tiên ấy chọn lúc rượu trong mới uống hay không?

Mạc Cương Hồng ngẩn người, ông chưa từng nghe nói về rượu chuyển vần theo mặt trời như thế! Tiên sinh thẳng thắn đáp:

- Ta thật chưa nghe như thế về rượu!

Tất cả mọi người lúc ấy ở trong nhà trúc nghe Quân sư nói thì cảm thấy như đang nghe chuyện thần tiên, mê hoặc mà lại là thật! Quân sư tiếp:

- Nước để cất rượu, lửa để nấu rượu, rượu đựng trong vò, nhất nhất phải là những vật, những việc thu hút tinh hoa của trời đất mới làm thành tiên tửu được. Cất rượu đã thế, còn gạo nào ủ rượu, lão soái kể xem sao?

Đến đây thì Mạc Cương Hồng thấy lý thú, ông bảo:

- Gạo để nấu rượu phải là gạo ủ thì lên men mạnh, cất lấy rượu thì trong như nước mưa, rượu ấy là rượu ngũ cốc. Lại có thứ rượu cất bằng mía, gọi là giá mật tửu, rượu sánh như mật, uống vào có thể say ba ngày mới tỉnh. Có thứ rượu cất bằng trái cây, như cất bằng quả đào thì là rượu tiên, rượu của Tây Vương Mẫu trên thiên đình. Rượu của ta là Thanh Tửu, là Hoàng Tửu, là Ngũ Tiên Mộc, là Tuyết Sơn tửu, Hồng Hoàng tửu, là Thâm Tuyền tửu. Lại có thứ rượu lấy từ Hồ Bắc về tên là Quát tửu sắc vàng như lửa, đem trộn vào với rượu Sơn Hải thêm một phần Gia Dục tửu, cuối cùng đem cất lại ba lần, lọc lấy phần tinh hoa. Phơi bảy bảy bốn chín ngày dưới sương đêm mùa Thu, lại hứng chín chín tám mốt ngày ánh chiêu dương mùa hạ. Thành ra thứ rượu uống vào thu được cả mặt trời mặt trăng, mạnh thì như sức nóng mặt trời, êm thì như trăng rằm mùa xuân. Ta gọi rượu riêng ấy của mình là Đồng Lư Tiên tửu! Dưới thế gian này, chỉ mình ta là được uống thứ rượu ấy. Loài người chưa ai được nhìn thấy tiên tửu của ta!

Quân sư hỏi ra vẻ tò mò:

- Mạc lão, rượu tiên ấy màu sắc như thế nào, tửu hương ra sao?

Mạc Cương Hồng ngẩng cao đầu, vẻ kiêu hãnh, đáp:

- Đồng Lư Tiên tửu của ta mùa đông lạnh thì chuyển sang màu hồng tía như cánh thược dược. Vào xuân êm đềm rượu vang hồng đào đẹp như phần trên cánh bướm. Tới hạ thì sắc trong như nước hồ Giao Trì. Tới thu thì sóng sánh vàng như mật quý; đấy là màu sắc của rượu. Mỗi mùa, mỗi màu rượu có vị riêng, mùa đông nồng nàn như rượu A Li Khất của rợ Hồ. Mùa xuân hương ngào ngạt quyến luyến bảy hương thơm của bảy giống lan trên sườn Đài Sơn. Mùa hạ oi bức sắc rượu tím màu tử phấn, thơm nhẹ như đi giữa rừng hoa xứ Hà Đông. Vào thu hương tửu ngào ngạt mà lại phảng phất như ở giữa rừng cúc Tứ Xuyên. Mỗi mùa uống rượu ấy thấy hồn bay trở lại với những thời gian xưa của huy hoàng phương Bắc. Nhờ thế mà tinh thần sáng láng, tâm hồn thanh cao, nhìn cuộc thế ganh đua thấy ô trọc!

Chợt Quân sư cười lớn tiếng, giữa lúc Mạc Cương Hồng còn đang xuất thần đi vào cõi mộng của rượu tiên. Các tướng trong nhà trúc còn đang ngơ ngẩn. Tiếng cười của Lê Thảo làm cho Mạc Cương Hồng nhíu mày, khẽ gắt:

- Ngài cười khổ vì chẳng được thưởng thức rượu tiên đấy chăng? Nếu chẳng phải thế, thì ta tưởng chỉ nghe ta kể cho dù kẻ phàm tục cũng thấy tâm hồn đổi khác, hạnh phúc tràn ngập, người mù sáng ra, kẻ ngu thấy thông tuệ. Vậy mà ngài lớn tiếng cười như vậy thì ta phải hiểu ngài là người thế nào?

Lê Thảo đáp:

- Kể từ lúc ta bước chân đến chốn này, vượt qua một tửu trận, đi qua một tửu viên, nghe một tửu đồ giảng giải, hiểu được nhiều thứ rượu ở ải Đồng lư, ta bật cười là vì thế! Mạc Cương Hồng, quả thật ông tăm tối khác thường, ngồi trên non cao giữa lòng đất nước mình, lại lấy phẩm vật của nước người nuôi thân mình. Ca ngợi những điều hoang đường, hão huyền của người ở mãi đâu đâu. Việc nước mình, việc nhà mình lại chẳng hay biết, cho nên mới khư khư mãi với những định kiến tai hại. Ngay như việc ta tới chỗ này, phía sau núi trận đá tan nát, thế mà ông vẫn chẳng chịu hiểu ra. Để cho ông được biết lẽ phải, hiểu được đất nước ông. Cho dù ta có nói đến mười năm, ông cũng chẳng hiểu được. Thôi thì ông đã thích rượu, ta sẽ chỉ nói về rượu cho ông nghe!

Mạc Cương Hồng lặng người, suốt từ đầu đến giờ ông nghe Quân sư Hoa Lư trách ông nặng lời biết bao nhiêu, rồi rượu làm ông lại quên đi để mê man với những huyền diệu của rượu. Đến lúc này thì ông không thể không nhớ đến thân phận, đến tình thế, và đến việc phải làm, vì thế ông nói:

- Ta biết việc của ta hôm nay, mọi việc ở đời ta xem chẳng bằng một chén rượu quý. Thế thì việc các ngươi đến được nơi này đã đủ để ta nghĩ xong một phía. Chỉ còn một phía nữa là tiên tửu thì ta tin là ta vẫn chẳng sai lầm!

Quân sư nói ngay:

- Việc chiến trận ông sai lầm, thua là điều tự nhiên, dễ hiểu. Tướng cầm quân ở đời nào cũng có thể thấy rõ, chấp nhận việc được thua này được. Duy có việc gọi là rượu tiên của ông mới là sai lầm lớn nhất. Lớn hơn cả việc trấn ải Đồng Lư hai mặt Đông Tây chặn kín cửa ngõ vào Hồi Hồ đấy! Để ta nói ông nghe!

Quân sư luận về sai lầm của lão tướng Mạc Cương Hồng. Bảo sai lầm lớn nhất lại là rượu tiên của ông, làm cho ông thấy vừa khó chịu lại vừa tò mò vô cùng. Lão soái liền hỏi:

- Đã là rượu tiên, trên đời này ngoài ta ra chẳng có đến người thứ hai được biết được hưởng. Sao lại còn có sai lầm là thế nào?

Quân sư đáp ngay:

- Phải! Thế mới có việc đại tướng khinh cả thiên hạ cho nên mới dám nguyện là: “Rượu tiên, tửu trận, ai phá nổi thì tình nguyện dâng ải”. Ngồi trên non cao vâng lệnh chủ trông nom cửa ngõ vào nhà, dám đem cái thích của mình ra để thách đố thiên hạ đến như thế, thì chắc hẳn là ngài tin ở rượu tiên chẳng có người hiểu nổi, tin ở thần trận của mình chẳng có ai qua nổi. Sự thể như lúc này ngài có dám chắc là vẫn giữ lời nguyện xưa không?

Tức thì Mạc Cương Hồng rắn giọng:

- Ta tự nhận là thánh tửu ngồi trên non cao, thưởng thức thứ rượu tiên dưới thế gian chẳng nơi nào có được. Nhờ ở rượu tiên mà trí óc được minh linh thông tuệ, lập ra thần trận với lời nguyền: “Kẻ nào hiểu được rượu của ta thôi, cũng đủ để ta tình nguyện dâng ải”. Còn nói gì đến chuyện biết thưởng thức rượu tiên nữa!

Quân sư cũng nghiêm giọng:

- Người quân tử một lời đã nói ra, thà chịu để mất đầu còn hơn là để mất lời nói. Lão soái nhận đúng như thế?

Mạc Cương Hồng giọng kiêu hãnh:

- Núi Đồng Lư này có thể san bằng hủy đi được, chứ lời nói của ta thì quyết chẳng đổi thay! Ngài dám thách thức ta?

Quân sư thật tự nhiên, nói:

- Mạc lão soái, việc đầu tiên tôi tới được nơi này, đi qua tửu trận của ngài, đã là một điều để ngài phải suy nghĩ.

Mạc Cương Hồng nói ngay:

- Ta suy nghĩ đủ rồi, tửu trận của ta hai lần phát động, một lần hủy diệt cả đại quân của Tây Phù Liệt. Hồi ấy ta ban ơn cho danh tướng Địch Hồng Hà được núi đá Đồng Lư đắp thành mồ. Từ đấy cho đến nay trận mới phát động lại lần thứ hai, và lần này ngài đã qua được trận của ta, ta biết! Tướng cầm quân, bày trận, dù cho trận ấy mượn đến cả thiên lôi thiên tướng xuống trấn trận, cũng có thể có cách phá. Ngài đã phá được trận của ta, đấy là sự thường của người làm tướng nơi trận tiền, thua hay thắng đều là việc có thật! Ta nhận là tửu trận của ta không làm cho ngài mê man được!

Hết thảy các tướng có mặt trong nhà trúc vừa kính phục tinh thần của lão soái, lại vừa khiếp sợ Quân sư Hoa Lư, ai cũng nghe danh bây giờ được thấy mặt!

Quân sư khoan thai đáp:

- Đa tạ lão soái, bày trận cốt để đánh giết binh ngoài. Vậy mà ngài vẫn cao thượng không dốc cạn bầu, không uống cạn chén, vẫn chừa lối cho người vào trận được thong thả mà đi!

Mạc Cương Hồng mặt vẫn lạnh lùng, nhưng giọng nói lại có phần ấm áp:

- Phải, tửu trận của ta là nghiệt trận, không tha thứ cho một kẻ nào, cũng như rượu không kiêng nể một ai. Tất cả khi đã biết đến rượu thì phải là đầy tớ của rượu, là nạn nhân không thể thoát được của rượu...

Quân sư cắt ngang:

- Trừ lão soái là tửu tiên, sai khiến được rượu!

Mạc Cương Hồng vui vẻ:

- Ngài cũng đã sai khiến được rượu! Ta ngồi trên ải đã nhìn thấy hết mọi hành động của ngài, những đường đi ấy chính là những đường đi của linh hồn tửu trận. Ngài đã chế ngự được nó, làm cho ta theo dõi đến mê say. Thành ra không còn muốn phát hiệu lệnh cho tửu trận chuyển biến nữa, ngài đã là tri kỷ của ta, đã hiểu ta. Cho nên Tây ải là thạch trận phát động ta cũng biết nhưng cũng lại không đối phó, bởi vì thạch trận ấy ứng với tửu trận phía Đông ải. Ngài đã hiểu được trời đất thì có khác gì là đã hiểu ta, kẻ hiểu ta là tri kỉ của ta. Đã là tri kỉ của nhau sao lại còn có thể làm hại nhau được nữa!

Bây giờ thì đến lượt Lê Thảo cảm thấy lạnh trong lòng. Mạc Cương Hồng không phải là không có cách đối phó với Quân sư Hoa Lư, nhưng ông đã không hành động chống lại mà còn mừng rỡ vì xem Lê Thảo là tri kỉ của mình!

Lê Thảo đáp:

- Đa tạ lão tướng khen tôi, thế còn “tửu viên” thì sao?

- Đã gọi là “viên”, thì cho dù có thế nào chăng nữa nó cũng chỉ là một ngôi vườn lớn hay nhỏ, chứ không thể nào lại là một cánh rừng, một biển rộng được. Cho nên chữ Tửu trong vườn chẳng qua cũng chỉ là một cách thử xem khách có biết cách sử dụng rượu trong cuộc diện kiến hay không mà thôi! Nếu như trước khi đi đã định hướng được ngồi trúc thất này rồi cứ đi bừa, dẫm cả lên hoa lên cỏ, đi tắt đi ngang, thì rồi cũng đến được. Nhưng đấy chính là thứ tửu đồ ô trọc, là kẻ uống rượu không khác gì con trâu uống nước suối trong hay nước vũng lầy, cũng chẳng thấy có gì khác nhau. Người như thế làm sao ta lại chịu đón nhận được!

Đến đây thì Lê Thảo thấy kính nể Mạc Cương Hồng. Quân sư có ít nhiều suy nghĩ về hành vi tự ngồi ở chỗ ghế này của mình.

Quân sư lại hỏi:

- Lão soái ngồi trên đỉnh núi cao, thưởng thức rượu tiên, tự đặt mình ra khỏi cuộc đời. Vậy ắt là lão soái thấu hiểu rượu ở thế gian này?

Mạc Cương Hồng nói ngay:

- Kể từ thời trời đất còn hỗn loạn, đến đời Tam Hoàng Ngũ Đế trở xuống. Phương Bắc chính là chỗ giữa của trời đất con người, tinh hoa nhân loại phát xuất từ đấy có bao nhiêu là kì công dị sử. Trong đó phải kể có rượu là thứ đem lại cho con người trần tục một cách sống của thần tiên, rượu đã thành thánh vật không thể thiếu được của tiên gia. Như vậy, bậc quân tử ở đời không thể không cầu đến rượu, mà đã cầu đến rượu thì không thể không biết đến rượu!

Quân sư bảo:

- Tôi xin được lắng nghe về tửu luận của ngài!

- Rượu sinh ra cùng lúc với trời đất, muôn loài chỉ có loài người là biết thưởng thức rượu. Loài người thì lại chỉ có người phương Bắc là hiểu và có được các thứ rượu tiên! Kể từ khi Hoàng Đế được biết chất men do mẹ ngài cho uống, thì từ đấy con người có rượu. Các triều đại lớn lao ở Trung Hoa, triều đại nào cũng đều có thứ rượu quý riêng để dành riêng cho bậc đế vương. Do đấy mà rượu là thứ gắn liền với lịch sử Trung Hoa. Mỗi dân tộc phương Bắc có một thứ rượu riêng, người ngoài quan ải phía Bắc giá lạnh có những thứ rượu, người ở phương Nam nóng bức uống vào có thể nóng đến cháy cả ruột gan, người ở trung nguyên khí hậu êm đềm do đấy rượu cũng theo với hồn người mà trở thành êm đềm, hay là hồn người êm đềm lại nhờ ở men rượu cũng không chừng! Nhà Hạ có “Ngũ Bách Tửu” làm bằng năm trăm loại nước hoa quả, uống vào có thể trở thành bất tử; đời Tấn thì “Hiên Tửu” có sức “cải tử hoàn sinh”; đời Hán có “Lôi Vũ Tửu” có thể gây ra trong lòng người sấm sét gió mưa, thành ra vì thế đời này có nhiều việc hùng liệt, rồi Chu, Tề, Sở, Ngu... Đời nào cũng có những tên nượu còn lưu lại mãi đến ngàn đời sau. Tất cả những thứ rượu ấy, đã giúp làm nảy sinh ra bao nhiêu kì truyện dị sử. Trong văn chương thì có Lý Bạch. Trong võ nghiệp thì tiêu biểu chẳng xa ta là mấy thì có danh tướng Mã Viện chuyên dùng thứ “Vạn Hoa Tửu” cất bằng mật hoa rừng cho nên tuổi già sức vẫn khang kiện, tinh thần vẫn vòi vọi. Còn như rượu của ta chẳng nhất thiết phải là một thứ phẩm vật riêng biệt nào, chẳng là thứ hoa hay quả ở riêng một địa phương nào, mà là kết hợp của các địa phương bên Trung Hoa. Kết hợp nơi núi cao với nơi rừng rậm, kết hợp chốn ruộng đồng với chỗ sông hồ, đem chỗ cao xuống chỗ thấp, nâng chỗ thấp lên đỉnh cao, đi từ biển rộng vào sông hồ ao lạch hẹp nông, thu vũ trụ vào con người, lại đem con người thả vào vũ trụ. Thành ra như thế trong Đồng Lư Tiên tửu của ta có âm có dương, có trời đất vũ trụ với con người, có cả cuộc sống của các thời đại, triều đại nào ở Trung Hoa có được. Tửu thánh nào được uống thứ rượu có một không hai ấy! Ta ngồi trên đỉnh non cao uống thứ rượu ấy, còn có gì phải ưu tư mang vác ở trong lòng nữa!

Các tướng đứng trong trúc thất nghe lão tướng Mạc Cương Hồng nói về rượu của ông ta, không ai lại chẳng khiếp phục.

Quân sư thản nhiên bảo:

- Đồng Lư Tiên tửu của ngài, là báu vật người đời chẳng ai biết được. Hôm nay là ngày trọng đại có cuộc tửu hiến ở đỉnh non cao, có thể lời nguyền của bực thánh tửu quân tử còn hay mất chưa biết được. Ngài đã nói về rượu ấy, thì có thể nào cho tôi được thấy nó hay không?

Mạc Cương Hồng lẳng lặng đứng lên, ông bước vào nhà trong. Tự tay mang ra một vò rượu chỉ lớn bằng cái bắp chuối lớn cùng với một cái chén đá trắng.

Mạc Cương Hồng toan mở nút vò, Quân sư Lê Thảo nói:

- Khoan! Lão tướng muốn để cho người ngoài được biết thứ phẩm vật vô song của mình, thì phải chính ngôi chủ nhân đãi khách mới đúng phép người hiền! Xin mời lão tướng ngồi vào đây!

Lê Thảo đứng lên trả lại chỗ cho Mạc Cương Hồng, lão tướng thoáng ngẩn người rồi lẳng lặng đi lại ghế, vò rượu để trên bàn trúc. Lê Thảo tới ngồi vào ghế chỗ họ Mạc vừa đứng lên, tà áo văn sĩ phủ trên hai đầu gối. Quân sư nhìn vò rượu rồi quay mặt nhìn ra bên ngoài khoảng không bao la. Hai tay chỉnh lại vành khăn ra vẻ cẩn trọng đợi đón thứ rượu tiên.

Mạc Cương Hồng không nhìn lên, nhưng ông cũng thấy cử chỉ của Lê Thảo. Các tướng hồi hộp, tướng quân Hà Bảo Ninh vẫn nghiêm trang đứng ngoài cửa, nhưng lúc này cũng cựa quậy khẽ quay đầu nhìn vào!

Lão soái mở nút vò, nút là lá trúc khô quấn lại thật chặt. Và mở nút rượu chưa rót ra, bao nhiêu cặp mắt đổ dồn vào nhìn nhưng chưa thấy gì, lão soái chưa rót rượu, nhưng tất cả đều đã ngửi thấy hương thơm của rượu quý.

Trong mùi rượu thường tình, hương thơm của Đồng Lư Tiên tửu dường như pha trộn nhiều mùi thơm của hoa của cỏ, có phần nồng, có phần êm, có phần lạnh mà cũng lại có phần ấm. Quân sư chẳng nhìn, nghiêm trang ngồi im. Dường như Quân sư đang lắng hết thần, tụ hết khí để nhận xét hương thơm của rượu ấy.

Mạc lão soái nghiêng vò, chậm chậm rót ra chén đá. Bao nhiêu cặp mắt đồn vào nhìn chất rượu, ai cũng từng nghe nhiều lần về rượu quý của Mạc Cương Hồng ở ải Đồng Lư, chưa ai được thấy, và bây giờ thì một số người đã được thưởng thức hương thơm của rượu, mắt nhìn thấy chất nước lạ từ trong vò sành trút ra. Chất nước ấy dường như sánh như mật ong mùa Đông, nhưng lại chảy lưu loát như thủy ngân qua miệng vò. Bàn tay Mạc Cương Hồng rót rượu thuần nhiên đến độ kỳ lạ, dường như hai bàn tay ấy đã khổ công luyện tập công việc rót rượu này đến trăm vạn lần rồi, cực kỳ chuẩn xác, không kéo dài hơn, không cao hơn hay thấp hơn. Vò sành nghiêng đi đủ để cho rượu trào ra theo đà nghiêng của bình chứ không phải là trôi đi vì bị dốc miệng chúi xuống. Kỳ tuyệt thay là phép rót rượu của lão tướng họ Mạc!

Rượu tiên ra khỏi vò rồi ngừng lại như thể một chất rắn đến chỗ ấy thì bị một ngọn dao cực bén cắt đứt ngang. Dòng rượu tuôn ra rồi ngưng lại tức thì, không một giọt nào tiếp theo, dòng chảy dứt trọn vẹn!

Các tướng thấy chén đá đã đầy rượu. Nắng buổi sáng gần vào trưa rực rỡ ngoài trời. Trong nhà trúc, nắng dịu lại êm đềm nhưng các tướng thấy thật rõ: Rượu rót vào chén đá thật đầy, như thể chất men sánh ấy phồng lên cao hơn cả miệng chén, thế mà không tràn ra ngoài! Chén da trắng bây giờ như trắng thêm vì rượu đựng bên trong đỏ thắm, rực rỡ như vỏ anh đào đang xuân.

Mạc Cương Hồng rót rượu xong, ông lặng lẽ dậy nút lá trúc vào miệng vò. Lão tướng hết sức nghiêm chỉnh ngồi trong lòng ghế trúc như thể đang ngồi trước một hiện tượng siêu nhiên, trước một hình ảnh hết sức khả kính.

Quân sư trịnh trọng ngồi xuống, mắt nhìn thoáng chén đá đựng rượu Đồng Lư Tiên tửu, rồi nhìn Mạc Cương Hồng bảo:

- Mạc lão soái, tôi xin ngợi khen ngài khổ công tạo ra thứ rượu quả thật hiếm có. Duy còn có vài điều tiếc xin được nói ra để tay thánh tửu xét có thấy đúng thì bị khuyết lại cho vẹn toàn thứ tiên tửu này chăng! Trước hết, rượu đựng vò sành, hình dài mà hẹp đấy là kiểu bình đất phơi dời nhà Hạ, người ta dùng làm thứ để đựng hạt ngũ cốc để dành nơi mát, tối. Người phương Nam ta dùng vò đất nung gọi là sành, vò thấp, không có cổ, bụng phình miệng hơi rộng, vò dùng đựng tất cả mọi thứ, để ngoài nắng cũng được, cất chỗ bóng mát cũng được, đem chôn xuống đất cũng được. Đây mới là vò đựng được cả trời đất muôn loài muôn vật, chứ không chỉ để riêng chứa được thứ gì. Rượu mở nút lá trúc, giữa nhà trúc, không khí gần như mát lạnh. Thế mà rượu vẫn nồng ấm của khí dương, ấy là tiên tửu không tự biết được trời đất ở bên ngoài nó. Nó chỉ vận hành được theo với trời đất chủ nhân nó đã ban cho nó, giả sử lúc này đem rượu ngâm vào trong tuyết, tất rượu vẫn tỏa hương nồng mùa Hạ. Thế là rượu tiên thật ra vẫn chỉ là vật vô tri vô hồn, làm sao gọi là tiên tửu được!

Mạc Cương Hồng vốn gương mặt lúc nào cũng lạnh lùng, nghe Lê Thảo nói thì lại càng lạnh lùng hơn nữa. Các tướng đứng nghe chẳng ai hiểu được chút gì.

Lê Thảo thản nhiên đáp:

- Đồng Lư tiên tửu chứa đựng rượu của nhiều địa phương Trung Hoa, mỗi loại tiêu biểu cho một triều đại. Thành ra rượu tàng ẩn bên trong cái mùi của xa hoa tàn ác của nhà Tần lẫn với hương thanh thoát của Thành của Thang, sôi nổi với sóng gió Đông Hán trộn lộn với cái hồn lâng lâng của nhà Đường. Thành ra sự hỗn tạp làm cho người sành rượu cảm thấy khổ tâm! Nguy hại hơn nữa, là rượu có phần lấy từ ải Sơn Hải mãi miền cực Bắc phía Đông, đem trộn với miền cực Tây là quan Gia Dục. Khiến cho hương của rượu thơm phảng phất có những rên rỉ đau khổ của vạn vạn sinh linh lầm than triền miên dựng lên Vạn Lý Trường Thành, oan hồn uổng tử của vạn vạn chiến binh trong ngoài hào Vạn Lý! Chao ôi, rượu tiên ấy chỉ ngửi hương thôi đã thấy bao nhiêu là oan khổ tục lụy rồi, nói gì đến vị của nó nữa!

Mạc Cương Hồng lặng nghe, mặt lạnh lùng trở thành tái mét. Có thật hương tiên tửu của ông đúng như lời Quân sư Hoa Lư nói không? Nếu đúng, hóa ra ông chẳng biết gì về rượu cả! Tiên sinh chực nói, Lê Thảo đã giơ ta ra hiệu cản lại, rồi bảo:

- Chưa hết, trong hương rượu của ngài, quả thật đậm đặc những mùi hương của chốn cung đình phương Bắc xa hoa đọa lạc, thơm mà nặng nề ô trọc. Người quân tử lấy lá quân tử làm nút để giữ hồn mình cho được thanh cao, sao lại nhẫn tâm nâng niu những thứ hương thơm như thế?! Vả chăng, tiên tửu của ngài được thiên hạ cất bằng thứ gì, hoa gì, phép cất ra sao, ngài không biết. Nhưng ngài biết rõ là mình đã đem cả tinh hoa lẫn tội ác của thiên hạ làm báu vật của riêng mình, quên hẳn chính con người mình. Thành ra tiên tửu của ngài uống vào tất mê man, hồn phi phách tán. Làm sao còn hiểu được nghĩa lý phải trái của cuộc đời nữa!

Đến đây thì Mạc Cương Hồng mặt cắt không còn hột máu, nhợt nhạt, ông hổn hển nấc lên toan cố cất lời nói. Quân sư Lê Thảo vẫn thản nhiên tiếp:

- Hương của rượu đã thế, thì vị của nó phải là thế nào? Ta chắc một điều là, rượu ấy lúc này sắc không thể không đỏ hồng, ấy là nó chứa bên trong cái nóng của thái dương, cái nóng hung tàn của sa mạc. Uống vào đặc quánh, chẳng khác gì như uống máu tươi đang đông, nồng mà nóng như lửa đốt cháy hầu. Đến lúc men ngấm thì hai mắt tất mờ đi chẳng thấy cảnh vật, trí óc u mê có thể tàn nhẫn ngang với Kiệt Trụ. Đây phải là thứ rượu ứng với cờ hồng của tửu trận! Có phải thế không?

Bây giờ thì Mạc Cương Hồng như cố gượng ngồi cho vững trên ghế. Hai tay ông bíu lấy mặt bàn trúc khiến cho mặt bàn rung rinh. Chất rượu quánh đặc trong chén đã lay động!

Lê Thảo vẫn không quay đầu lại, tiếp:

- Tiếc rằng trong lúc này ta chẳng thể xoay chuyển được thời gian, đem cả bốn mùa vào nhà trúc để xem tiên tửu của tiên sinh biến hóa tai hại đến thế nào! Duy có điều, rượu ấy đem ứng luận vào trận thế, tất phải là khốc liệt khó kìm hãm được chết chóc. Thương thay, ngày xưa danh tướng Địch Hồng Hà ngay thẳng, đem tâm huyết chính trực ra để đọ với tà ma thành ra uổng mạng! Rượu này người quân tử không nên uống, ta khuyên lão soái nên bỏ nó đi!

Mạc Cương Hồng hổn hển:

- Rượu của ta là tiên tửu, toàn là tinh hoa kết lại mà thành, sao lại bảo là tà ma, sao lại bảo là chẳng nên uống! Nếu thế, ta nên uống thứ rượu của hạng quán lá bên đường, hay uống thứ rượu của bọn chức dịch tranh nhau ở chốn đình trung chăng?

Lê Thảo lạnh lùng:

- Thà là uống những thứ rượu ấy, ít ra nó cũng chỉ là thứ rượu làm cho con người ta say mà thích thú trong chốc lát, tuy thế lại đậm đà hương vị của quê hương dân tộc mình! Tiên sinh có biết rượu có từ bao giờ, đã uống thứ rượu làm bằng gạo chưa?

Mạc Cương Hồng khinh khỉnh:

- Rượu có cùng trời đất, làm bằng ngũ cốc là tục tửu!

- Thưa tiên sinh, sách Thế Bản nói: “Bà Nghi Địch nấu rượu đặc biến thành ngũ vị”. Chiến Quốc sách lại nói: “Bà Nghi Địch cất rượu dâng lên vua Vu”. Sách Thuyết Văn nói có người nấu rượu họ là Đỗ tên Khang; sách Tổ Văn cũng nói đến tửu tương, như vậy, thì rượu có từ đời Hoàng Đế rồi. Trong sách Toàn Hán văn có bài phú về rượu của Châu Dương đời Hán, trong đó có đoạn: “Rượu trong là tửu, rượu đục là lễ; lấy lúa mạch ở Ấp Khâu làm men, lấy gạo ở Dã Điền đem ủ, cất thành thứ rượu trong sạch ngọt thơm. Rượu đã cất xong, bình xanh đã mở, lại gạn, lại lọc, rót vào bình đựng, đậy lại hẳn hoi. Dân thường, dùng uống cho vui. Người quân tử dùng để làm lễ...” Như vậy thì rượu chính nhất là cất bằng gạo, tiền nhân dùng làm lễ, sao lại gọi là tục tửu được! Tửu sử dài dòng, có người bảo là nguồn gốc ở Xiêm La, nhiều sách đều nói là rượu cất bằng gạo, có nhiều cách. Nước ta cũng nấu rượu bằng gạo. Trên cao nhất là từ vua xuống đến dưới đủ mọi hạng người, thảy đều uống rượu cất bằng gạo, sao lại chê rượu cất bằng gạo!

Mạc Cương Hồng bảo:

- Ta không nệ rượu tên gì, cất thế nào. Ta trung thành với tiên tửu của ta!

Quân sư bảo:

- Phải, ngài khư khư với một sai lầm không thể nào vứt bỏ được, cho nên uống rượu mà không biết rượu! Nhân đây, trước khi nói về các thứ rượu cực quý của nước ta, ta cũng nên nói để ngài được rõ vài điều về những thứ gạo để nấu thành rượu. Gạo là ân phẩm của trời ban cho con người, từ ân phẩm ấy, mỗi nơi lại sản sinh ra được thứ cao thứ thấp, do đó mới có loại rượu ngon rượu kém. Như lúa gạo hương đạo, tức lúa tám thơm ở Kim Anh (Bắc Ninh), sắc gạo trắng có hương thơm vừa thanh cao vừa nồng nàn, quý nhất trong loại gạo tám thơm. Đem gạo này ủ cho lên men đủ ngày đủ giờ không xê xích một khắc nào, rồi dùng củi gỗ soan đào cất rượu với lửa. Ngồi xa hai bước, không còn thấy nóng, lại gần một bước thấy ấm mặt. Bếp dựng phải thông gió, ngọn lửa không được có tàn bay lên, như thế thì men ủ trong gạo không bốc ra nhiều quá khiến rượu bị cay. Từ từ để cho tinh hoa của gạo quý theo sức nóng hơi nước ra ngoài. Lúc ấy rượu trắng trong như nước mưa, uống thấy ngọt lịm ở cổ, men ngấm chậm mà sâu, một chén có thể say đến nửa ngày mới hết. Hương thơm lúa gạo quyện vào men rượu có sức làm cho tinh thần sáng láng, xua đuổi hết mọi buồn phiền. Uống vào lúc trăng non thì thấy tinh thần phơi phới như lòng trẻ thơ hạnh phúc, uống vào buổi trăng tròn nhìn cuộc đời thấy rực rỡ vàng son, uống vào ngày trăng khuyết thấy cả dĩ vãng lịch sử hiện về. Tùy theo với tâm hồn người thưởng thức. Rượu ấy người sành rượu lại bảo: Đem rượu pha với quế tinh ở Nga Sơn, đem đổ cho người hấp hối, thì người ấy sống lại thêm được bảy ngày. Đem pha thêm tinh hồi, bột thự dư (củ sơn mài) mọc ở rừng Cổ Pháp, thì hiệu quả cực nhiệm màu, có sức nâng người bại liệt đứng lên, tăng tuổi thọ sánh bằng Bàn Cổ thời xưa!

Những lời Lê Thảo kể về gạo tám thơm đem cất rượu làm cho mọi người thấy như đang nghe chuyện thần tiên. Trên đời này ở cõi Giao Châu lại có những kì tuyệt như thế mà sao chẳng ai biết. Mạc Cương Hồng lắng hết tinh thần nghe từng lời nói, ông chưa bao giờ được nghe nói đến thứ rượu như thế ở đất này.

Lê Thảo lại tiếp:

- Rượu gạo hương đạo đã quý như thế, nhưng người giỏi nghề cất rượu số một Giao Châu ta, gốc tận châu Cửu Chân (Thanh Hóa) họ Mộc tên Khải, thì bảo là: Rượu ấy còn chứa bên trong chất tục nồng của đất, khí nóng của mặt trời, hương thơm còn phảng phất, phải là người có mũi có lưỡi cực tinh tế sành rượu trên thế gian này mới có thể nhận biết được hương thơm ấy chưa thật vẹn toàn. Nó còn chứa những mùi hương của loài ong mật mùa hạ đi lấy mật hoa đánh rơi xuống lúa, thành ra rượu còn bị tạp hương quấy nhiễu. Uống vào còn thấy khó chịu như bậc thần tu đang định hồn ở chốn sơn cốc tĩnh lặng bị người đời đem đàn, đem sáo đến cử om sòm. Vì vậy, Mộc Khải bảo: Rượu hương đạo phải đem lên tận đỉnh Ngọn Am trong rặng núi Hồng Lĩnh 99 ngọn (Nghệ An) mà cất lại. Ngọn này cao chót vót chọc trời mây mù bao phủ, phía tây có hồ rất sâu, phía nam hồ có động có thể chứa được vài ba trăm người, dưới động có đá như hình người ngựa. Sở dĩ chắn bớt sức nóng của thái dương, lại lấy khí thiêng của 99 ngọn núi làm thế quy tụ tinh hoa trời đất đem trộn vào rượu. Cất bằng lò đốt bằng cỏ ất khô mọc ở hai bên bờ sông Lam huyện La Sơn. Cỏ này người ta thường hái về ăn, rượu cất lại liên tục trong chín lần cho ứng với một phần mười của 99 ngọn núi. Khiến cho rượu lúc ấy trong đến phảng phất chất xanh của đỉnh trời. Hương thơm tuyệt diệu của gạo tám thơm Kim Anh lúc ấy mới phát huy được trọn vẹn hương của nó, dịu mà quyến luyến, thu gọn trong lòng chén rượu mà hóa ra lại tỏa khắp không gian. Có thể chỉ ngửi hương rượu cũng đủ thấy say say mơ màng; men nồng bị khói thơm của cỏ ất triệt tiêu chuyển sang thành chất dìu dịu của thần tiên. Uống ít thì lâng lâng như cưỡi mây theo gió bay vào hư vô, uống nhiều say nhưng không loạn thần trí. Lúc ấy có thể trọng đông lội xuống nước hồ cực lạnh vẫn thấy ấm, giữa hạ oi bức uống vào lẽ ra phải nóng bừng bừng thì lại thấy khí huyết chuyển lưu thật bình tĩnh khiến cho giải nhiệt. Rượu hương đạo lúc ấy, uống vào mùa nào thời tiết nào trong năm cũng đều được cả, rượu sẽ tùy theo mùa theo khí hậu, theo hoàn cảnh người thưởng thức để chuyển hóa theo hồn người. Vì thế có người gọi rượu ấy là “Nhân Hồn tửu” ý nói rượu hồn người. Như thế đủ biết thứ rượu ấy là thế nào, quý thế nào! Mạc tiên sinh ngài đã thưởng thức chưa?

Mạc Cương Hồng lắng hết tinh thần nghe Lê Thảo nói, ông như đi trong giấc mộng, đến khi nghe hỏi thì đáp:

- Quả thật ta chưa từng nghe thứ rượu ấy!

- Vậy là hồn rượu của ngài chưa gặp được Nhân Hồn tửu để cùng hòa vào với trời đất! Tiếc thay! Nhưng chưa phải là hết, ngoài hương đạo tửu ấy còn nhiều thứ nữa...

Mạc Cương Hồng bật kêu lên:

- Nói ta nghe nữa đi! Rượu! Tửu tiên hiếm có ở đời!

Quân sư Lê Thảo hơi mỉm cười, bảo:

- Lúa gạo tám thơm đem cất rượu đã thế, đến loại lúa gạo Bạch Cánh nguyên gốc ở Tiên Du mới thật thơm ngon. Nhưng người ta lại đem đến xã Hào Kiệt, châu Vũ Nga (Thái Nguyên), trồng ở những ruộng giữa hai Núi Côi và Núi Hổ. Lúa mọc lên dường như cũng ỷ là quý vật ở thế gian, cho nên khi trổ bông mỗi bông không quá một trăm hạt. Đem gạo lúa ấy nấu lên ủ với thứ men sản xuất ở Ý Yên được bảy ngày đêm thì đem cất rượu. Rượu cất lại cầu kì phải lấy nước giữa dòng sông chỗ ngã ba sông Hoàng, trước khi sông phóng ra cửa biển Ba Lạt. Chỗ ngã ba này sâu lắm, nước lại chảy xiết, thuyền bè qua lại phải kiêng dè lắm, chẳng thế có câu “Núi cao hơn hết là núi Tản Viên, sông sâu hơn hết chỉ có Thủy Tiên”. Gọi là Thủy Tiên vì chỗ này bờ phía Nam có đền thờ Thủy Tiên. Nước Thủy Tiên trong mà xanh như ngọc bích, phải đựng bằng bình gỗ. Đem cất rượu được nước đầu thì rượu trong như nước mưa, hương thơm chỉ mới ở mức độ thơm của lá lúa. Uống thì thấy chua chua pha vị ngọt, say nặng lắm. Đem cất lần thứ nhì, nước rượu trong phảng phất có màu xanh ngọc bích, hương thơm đã có mùi của cả chân lúa. Uống vào thấy ngọt còn hơi chút mặn của đất, không còn vị chua của men, say êm. Đem cất lại lần thứ ba, lần này lò đốt bằng lá cây quế rừng, thì được thứ rượu xanh màu ngọc bích cực trong, dù rót vào chén sành cũng vẫn thấy xanh trong lạ lùng. Hương thơm cực nhẹ mà tinh khiết của bông lúa mới này, đồng pha với hương thoang thoảng của hoa quế, lại đậm đà với mùi khói của lá quế như thể giữa nơi dồng lộng gió, tuyệt chẳng có chút bụi bậm gì. Uống vào tinh thần cực sảng khoái, bao nhiêu ưu phiền tan mất cả. Có truyện kể rằng: “... Lúc ấy ở Ngọc Sơn (Hải Ninh, Quảng Yên ngày nay), có gia đình hào phú ở bên khe Yên Thổ. Vợ chồng hiếm muộn chỉ sinh được một con trai, lên bảy tuổi thì thằng bé một hôm gặp trận mưa lớn quá, lạnh đến phát rồ, mất trí. Càng lớn càng rồ dại. Gia đình ấy phiền muộn vô cùng cho là kiếp trước ăn ở thất đức, nên kiếp này trời mới phạt gặp phải cảnh khổ như thế! Có người nghe biết chuyện, mới đến chỉ cho vào ngày năm tháng Năm năm ấy, có đạo sĩ lên đỉnh Hổ Sơn cất rượu tiên, hãy đến mà cầu cứu... Gia đình ấy cáng người con rồ dại đến gặp lúc đạo sĩ vừa cất xong rượu lần thứ ba. Mở nồi rượu, hương bay ra, người rồ dại ngửi được hương ấy đã tỉnh được đến bảy phần. Đạo sĩ thương tình ban cho một chén rượu tiên. Chàng trai ấy uống vào thì thần sắc đổi khác, hết rồ đại, trí óc thông tuệ lạ lùng. Suốt ngần ấy năm trời, bây giờ đã lớn chẳng học mà việc gì cũng biết. Người đời bảo là tiên trên trời xuống thế, chịu thời hạn trừng phạt...”. Xem như thế, đủ thấy thứ rượu gạo này mới thật là “Hồng Tên Tửu” ở cõi Giao Châu ta, sao lão tửu thánh lại không biết!

Mạc Cương Hồng như đang ngấm mê dược, thẫn thờ bảo:

- Ta đi khắp đất trời, chẳng nơi nào ở phương Bắc lại chẳng để chân tới, lưỡi nếm đủ thứ rượu. Cao thì là tiến tửu của hoàng đế trong cung, hèn thì như rượu của dân ở Dĩnh Xuyên, Bột Hải. Tai ta nghe chuyện rượu kể có đến trăm. Bây giờ mới nghe nói đến những thứ rượu gạo như thế ở Giao Châu này!

Quân sư mỉm cười bảo:

- Chưa hết! Còn nhiều thứ rượu quý nữa ở nước ta. Như ở La Phù, huyện Thượng Phúc hay xã Phụ Cánh huyện Chương Đức. Có thứ thóc dé cánh thượng hạng, gặt về gìn giữ lâu vài ba năm trở lên, gạo nở như hình con ong, trấu bong ra mà gạo không cháy, trắng đẹp như cánh hoa lài. Đem gạo rang ấy phun nước mật, ủ với men đủ chín ngày đêm thì đem nấu rượu. Rượu cất theo lối khác thường không ngâm gạo rang trong nước, mà lại để gạo trên tầng trên. Nước ở tầng nồi dưới phải lấy nước giếng Ngọc Tỉnh ở tận thành Cổ Loa vào giữa đêm Thu lúc trăng tròn nhất. Nồi nấu đun bằng củi cành long não khô, rượu cất hai lần thì được. Lúc ấy nước rượu trắng như sữa nhựa bồ đề mà vẫn thanh thoát không quánh đặc, chứ không trong suốt như rượu thường. Hương của nó nhờ ở thóc rang ướp mật ủ men, nên có hương nồng nàn. Thứ hương tự nhiên ở đầu tóc đại mỹ nhân thế gian không thể pha chế hương hoa gì mà tạo thành được. Vì thế hương rượu dễ làm đắm say lòng người. Uống vào ngây ngất dù uống đến cả vò lớn cũng chỉ say đến một độ nào đấy thì thôi. Chỉ có uống nhiều thì say lâu, có thể say suốt năm bảy hay mười ngày liền. Tuy vậy khi men rượu tan, người không thấy mệt mỏi, tinh thần dường như càng sảng khoái. Người ta bảo rằng sau trận say nhiều ngày ấy tưởng như vừa trải qua những ngày đầu đầy mộng huyền của chuyện chăn gối lần đầu tiên trong cuộc đời. Vì thế rượu này người ta gọi là “Uyên Ương Tửu”, vua chúa ưa dùng ở chốn hậu cung. Dân gian ưa dùng vào việc tế lễ hay việc tân hôn cưới vợ. Lão tướng đã uống Uyên Ương Tửu chưa?

Đến đây thì Mạc Cương Hồng bỗng thẫn thờ, ông bảo:

- Rượu của ta, không chứa đựng những thứ như thế, nhưng tàng chứa sức mạnh thu của vũ trụ, theo từng cấp một mà từ nhẹ đến mạnh. Nhẹ thì say lâng lâng, mạnh thì chỉ một chén cũng đủ có cái quyết tâm giết sạch sáu mươi vạn hùng binh của Hạng Võ, muốn đạp đổ cả Vạn Lý Trường Thành của Thủy Hoàng nhà Tần. Vì thế ta mới nương theo rượu ấy để dựng thành Tửu trận ở Đồng Lư, trận hay rượu của ta dưới thế gian này chẳng có đến hai lần, cũng đáng được gọi là rượu tiên lắm chứ!

Quân sư Lê Thảo bảo:

- Sao lại gọi là rượu tiên được! Phải gọi là rượu quỷ mới đúng! Men say vốn dễ làm cho lòng người nghiêng ngả, sai lệch cả lương tri. Lại còn chứa đựng toàn những tinh hoa của hung bạo qua các triều đại Bắc phương, rồi đem dựng thành trận mong chém giết được nhiều người đến như thế. Hỏi rằng có tiên thánh nào lại hung tàn khủng khiếp như vậy! Lại nữa, ngài là người Giao Châu, sao lại đúc kết những tinh hoa sát nhân muôn vạn chúng của phương Bắc để mong giết cho được nhiều người đồng loại như thế? Cả một đời uổng phí vào những men say hư ảo ngoại bang, đến lúc biết ở nơi giang sơn đất nước mình có những thứ rượu quý thật là thần tiên như vậy, lại chẳng mảy may xúc động. Chẳng động tâm nghĩ ra mà thay đổi định kiến, quay đầu hối cải, đập vò quỷ tửu để đứng lên đi tìm thứ tiên tửu của dân tộc. Con người như thế có đáng để ta lặn lội vượt muôn nghìn chết chóc của ma trận quỷ tửu, đến tận nơi này dạy bảo cho không?

Gian nhà bốn loại trúc quý cực kỳ tĩnh lặng, giọng nói của Quân sư Lê Thảo nghe hùng hồn sang sảng rợn người. Các tướng nghe mà cảm thấy máu trong người chảy mạnh, tinh thần lại thật bình tĩnh.

Chợt Mạc Cương Hồng đứng bật dậy, tay gạt đổ chén rượu còn đầy nguyên trên mặt bàn trúc. Ông run run giọng nói:

- Thưa ngài, tôi đã hiểu ra! Cả cuộc đời lỗi lầm phải đến ngày hôm nay mới thấy được! Sau này sẽ đi tìm rượu tiên của đất nước. Còn bây giờ thì lời nguyền xưa được giải tỏa cùng với định chấp của men say u mê, xin được dâng ải! Xin được dâng ải!

Dứt lời, Mạc Cương Hồng chực bước ra. Quân sư bình thản bảo:

- Mạc lão, ngài chưa nên đi vội! Hãy dừng bước để cho trọn vẹn mọi việc!

Mạc Cương Hồng mặt vẫn lạnh lùng, hỏi:

- Ngài còn đòi hỏi gì nữa ở ta?

- Ta không đòi hỏi, chính ngài mới là người phải hành động! Trước hết, ma trận tửu qủy còn dưới kia, lăm le làm hại muôn nghìn mạng sống, ngài hãy hủy nó đi! Sau nữa, đất nước ta núi sông đẹp như hoa như gấm, lòng người sung sướng với hạnh phúc được tổ tiên trao lại cho giang sơn này, tha hồ đi lại. Sao lại có cảnh núi đá bày trận ngăn cách An Cận, Sài Sơn với Đồng Lư. Khiến cho bước chân của lữ hành dễ bị nguy khốn, mạng người chôn vùi trong đá ấy đã nhiều. Bạo tửu đã đổ đi, sao ngài không hủy trận đá ác nghiệt ấy đi nốt?!

Mạc Cương Hồng đứng lặng một thoáng, rồi khẽ thở dài bảo:

- Ta có dựa vào tửu luận của mình để lập thành trận thật, chịu ơn cơm áo cho vợ con rồi vâng lệnh chủ ra trấn ở đây. Nay cũng nên trả lại cơm áo ấy cùng rượu này cho người đời. Ngần ấy năm ta làm tôi tớ thế là đủ!

Rồi Mạc Cương Hồng quay lại nhấc vò rượu bước ra ngoài, ông thẳng tay ném vò rượu quý xuống núi. Vò rượu bay đi giữa sự sống sót của mọi người. Quân sư Lê Thảo không kịp ngăn lại. Mạc Cương Hồng bảo:

- Một vò rượu này, tạ lỗi với lão tướng Địch Hồng Hà năm xưa, ta tỉnh men say rồi! Không có lệnh, vĩnh viễn tửu trận chẳng bao giờ còn phát động lại nữa!

Lão soái nói với Lê Thảo:

- Thạch trận ở An Cận nếu không biết lệnh sai khiến, chẳng có quân tướng biết cách điều động, thì vạn năm nó vẫn ở nguyên chỗ cũ không làm ai nguy hại cả. Ta không cần phải nhọc lòng!

Rồi họ Mạc lại toan bước đi, Lê Thảo bảo:

- Ta mạn phép thay Vạn Thắng Vương nhận ải Đồng Lư này từ tay lão soái. Ta cũng lại muốn lão soái nên nghĩ đến giang sơn đất nước, chứ không chỉ nghĩ đến có rượu, mà giúp bảo ông Mộc Đường một câu, tránh việc binh đao. Một thành Đan Phượng không thể vững được với đường đi của dân tộc, ngài thấy thế nào?

Mạc Cương Hồng lạnh lùng:

- Ta vốn không ra lệnh mà cũng không quen giúp đỡ cho ai, ngài không nên cầu ở ta việc ấy!

Quân sư nghiêm giọng:

- Không, ta không cầu gì ở ngài cả, mà là việc của ngài, với ngài chỉ cần ba lời nói ngắn là ngài đã hiểu. Vậy ngài nên hiểu cái đạo của người quân tử đối với trách nhiệm của mình trước dân tộc!

Mạc Cương Hồng lặng thinh một lát rồi bảo thuộc tướng:

- Lệnh cho các nơi ngưng tay, tuân lệnh các tướng Hoa Lư!

Thuộc tường kính cẩn lui ra. Quân sư cũng bảo Mạc Sa Cảnh:

- Ông tin cho các nơi biết!

Mạc Sa Cảnh cũng lại bước ra. Mạc Cương Hồng quay sang Lê Tháo bảo:

- Ngài đi theo ta!

Quân sư không nói gì, bước ra ngoài khẽ gật đầu, gọi tướng Hà Bảo Ninh bảo cùng đi. Ba người nhắm hướng Bắc lần lần đi xuống núi.

Lệnh tin của tướng Mạc Sa Cảnh đến trước nhất với tướng Đinh Liễn. Liễn nghe tin Mạc Cương Hồng đã dâng ải thì mừng lắm, lại được biết: Quân sư cùng với Mạc Cương Hồng chắc là đến thành Đan Phượng. Liễn liền đem binh tướng lên ải Đồng Lư, xem xét ải. Rồi triệu tập các thuộc tướng của Mạc Cương Hồng lại nói lời ủy lạo, cũng tiếp nhận luôn trại Trấn Nam ở An Cận là nơi tướng doanh chỉ huy trận đá.

Từ đấy, người qua lại Đồng Lư chẳng còn có cơ hội được thấy kì trận phát động. Trận đá An Cận cũng im lìm. Ba trăm hai mươi ba năm sau, đến năm Canh Dần (1290) vua Nhân Tông nhà Trần ngự giá đi đánh Ai Lao, đường đi gần An Cận. Tương truyền giữa ngày đá trên núi tự dưng trút xuống khủng khiếp, hai ngày hai đêm mới dứt. Người đời bảo rằng đây là thạch trận của tướng Hồi Hồ ngày xưa ra oai trợ chiến cho nhà vua. Sau đấy thì chẳng bao giờ còn thấy đá đổ ở An Cận nữa.

Nhắc lại ba người Mạc Cương Hồng, Lê Thảo và tướng Hà Bảo Ninh xuống đến chân núi Đồng Lư phía Bắc. Thì tướng Tế sứ Mạc Sa Cảnh đã phát lạc tin lệnh đi các nơi xong, lại tiếp tin tế tác cho biết liền chuyển hướng đuổi theo gặp ba người lúc đang ở bên Tây ngạn dòng Sinh Khuyết. Khi được biết ý định của Mạc Cương Hồng là lên thành Đan Phượng, Mạc Sa Cảnh nói:

- Đường lên Đan Phượng sẽ gặp quân mã bộ của tướng Lê Hoàn, không nên làm chộn rộn việc quân. Nên đi đường sông để vừa có thì giờ Quân sư nghỉ ngơi, vừa được mau chóng!

Thế là Mạc Sa Cảnh sai lấy thuyền tế tác đưa cả bọn ngược dòng đi lên. Thuyền đi đến đâu tế tác nhận được tin ngay đến đấy. Tới khi gặp thủy quân của tướng Nghi Bá Tường lúc ấy sắp mở trận trợ chiến cho quân mã bộ của tướng Lê Hoàn ở phía Nam, thì Quân sư bảo Mạc Sa Cành mau mau cho tin lệnh đi: “Lập trận “Song Long Triều Dương” cho Đan Phượng thấy sức mạnh, rồi hãy tạm ngưng mở trận. Đợi lệnh sau từ thành Đan Phượng”.

Các tướng được tin lệnh thì ngạc nhiên lắm, nhưng khi được biết việc Đồng Lư thì ông nào cũng hỉ hả bảo các thuộc tướng: “Như thế thì Đan Phượng cũng sẽ xong êm thấm, chẳng có chiến trận!”. Tướng nào cũng nóng lòng mong sớm được biết rõ từng việc một về ải trấn Đồng Lư, nhưng vâng lệnh Quân sư lập tức điều động binh thuyền qua lại trên sông nước. Chẳng mấy chốc đã lập xong trận, rồi giữ nguyên thế trận đợi chờ.

Rồi tiền quân mã bộ của tướng Lê Hoàn cũng nhận được tin cho hay về việc Quân sư lên Đan Phượng. Lại có lời Quân sư dặn: “Bày trận phía trước là “Trường Thành Đối Ngoại” đem quân bị dàn ra làm thế tiến công lẫn phòng ngự che chở cho quân bộ chiến ở phía sau lập trận “Yên Ba Giang Thượng”. Quân dàn lớp lớp trước sau chẳng khác nào như các lớp sóng trên sông nước xô đẩy nhau liên miên chẳng dứt, đợi lệnh tấn công lấy thành. Nhưng không được xuất chiến, chỉ được đi lại để cho Đan Phượng trông thấy sức mạnh mà thôi”.

Quân sư lại sai gấp tin cho tướng Trịnh Tú cai quản đạo quân trấn ở phía Nam thành Đan Phượng. Chặn lối đi về của Đan Phượng với phủ đường Hồi Hồ, dặn rằng: “Mang hai quân mã bộ áp sát phía Nam thành, phải hết sức ngăn chặn không để một tế tác nào của thành đi lọt xuống Nam về phủ đường. Binh vây thành không được khiêu chiến, đợi lệnh sau”. Trịnh Tú cũng đã được tế tác cho biết tin các nơi, nghe kể về trấn ải Đồng Lư với việc Quân sư vượt trận và đã vào ải. Trịnh Tú mừng khôn xiết kể bảo với các tướng: “Bọn ta vâng lệnh đem quân trấn ở đây, tưởng rằng sẽ bất thần đánh úp phía Nam để trợ chiến cho hai mặt Đông Bắc. Tướng cả chục, binh kể phải là muôn, hóa ra chẳng mặt nào phải mở trận cả! Thế mới biết, Quân sư đi lại, ung dung như đi ngoạn cảnh, chẳng phải dùng đến sức. Thế mà sức lại mạnh hơn ba đạo quân hãm thành gấp bội!”.

Rồi Tú sai tế tác liên miên thông tin với Lê Hoàn và nghe ngóng tin tức phủ đường.

Tin phủ đường vừa lên trình, Trịnh Tú còn đang hồi hộp đợi chờ, thì đã có lệnh: “Gấp đưa quân xuống phủ đường chỉ xử mọi việc, đợi đón Vạn Thắng Vương vào phủ!”. Trịnh Tú kinh ngạc, như vậy thì trấn ải Đồng Lư tất phải xong trọn vẹn rồi! Tin liên miên gửi đến, cuối cùng thì là tin Quân sư rời Đồng Lư đã lên Đan Phượng, và Trịnh Tú ở phủ đường mới trình vương là: “Quân sư sắp từ Đan Phượng trở về, trấn thành Đan Phượng đã thu phục xong!”...

Kể lại, lúc ấy, thuyền của Quân sư sắp đi qua cửa trận của tướng Nghi Bá Tường. Được tin, Tường vội đem khinh soái thuyền đi đón. Quân sư bảo:

- Việc Đồng Lư đã xong, nay ta lên Đan Phượng để thu phục nốt. Tuy vậy phải nhờ đến sức của các tướng bài binh bố trận, dựng thế, thì ta mới có thể vào Đan Phượng được. Ông cho thủy quân lên, dàn ra trước trấn thành, nhưng đừng cho quân đánh thành. Nếu như thủy quân của Đan Phượng có đến cản thì ông cứ dàn trận nghênh chiến nhưng đừng vào trận vội, chỉ sẵn sàng thôi. Nếu ta vào được Đan Phượng rồi thì có thể không cần phải chém giết!

Nghi Bá Tường nghe Quân sư nói thì mừng lắm, nhưng vẫn nghi ngại, liền thưa:

- Thưa Quân sư, chúng thuộc tướng tin ở lời ngài, nhưng vẫn lo sợ, lỡ ra có biến động nào không lường trước được. Mộc Đường vọng động, lúc ấy tất nguy hiểm. Xin Quân sư cho phép mấy người được đi theo hầu Quân sư vào thành!

Quân sư cười, bảo Nghi Bá Tường cứ yên lòng, dặn: “Cứ theo dõi thật kĩ, cho tế tác lại gần. Nếu thấy động tĩnh khác lạ thì cứ xuất quân lên bộ ngay. Còn nếu thấy Quân sư vào thành rồi thì hãy lui binh trở lại, tránh gây khó chịu cho thủy quân của Hồi Hồ”. Nghi Bá Tường vâng lệnh, nhưng vẫn thấp thỏm không yên. Giao binh quyền cho phó tướng, rồi gọi tướng Đào Bích Hải thường được gọi là “Lữ Bố Đằng Châu” cùng đi với ông. Tự cầm mái chèo đẩy thuyền đưa Quân sư ngược dòng. Quân sư thấy thế cứ lẳng lặng để cho Tường hành động.

Thuyền qua cửa trận, lên phía trên, sông rộng mênh mông vắng lặng không một bóng thuyền, giữa nơi sắp xảy ra giao tranh chẳng thuyền bè nào dám đi qua. Vì thế thuyền nhỏ của Quân sư lặng lẽ chèo đi khắp nơi trông rõ mồn một. Tin trình về các nơi, tướng chỉ huy thủy quân của Đan Phượng ở mạn trên đã biết. Trong thành, lão tướng Mộc Đường đã lên vọng lâu ngay từ khi được tin thủy quân Hoa Lư chuyển động. Bây giờ tin lại trình: Có một thuyền con từ trong thủy quân của Hoa Lư đi ra, hướng đến phía cửa Bắc thành.

Mộc Đường lặng lẽ, các tướng đứng hầu chung quanh cũng im lặng đợi lệnh, chờ đợi trận chiến sắp xảy ra.

Rồi tin trình vào: Thuyền nhỏ cập bờ ngay trước cổng thành, có sáu người lên bộ, không thấy có khí giới. Một ông già gầy gò thân thể cao lắm, râu tóc bạc trắng mặt lạnh lùng, một văn sĩ còn trẻ. Tất cả đi lại trước thành rồi một người gọi to: “Quân sư Hoa Lư xin vào thành diện kiến lão soái Mộc Đường!”.

Tin trình làm cả sảnh phòng vọng lâu rung động, từ Mộc Đường xuống đến các thuộc tưởng thảy đều giật mình. Tưởng như vừa có tiếng sét lớn nổ ngay trong vọng lâu? Quân sư Hoa Lư đến nơi này! Các tướng còn hoang mang, thì Mộc Đường lão tướng đã trấn tĩnh được ngay, ông phát lệnh: “Truyền các tướng giữ quân im lặng, không được khởi chiến, không được vọng động. Phải hết sức vâng lệnh, đợi lệnh sau”. Rồi lão tướng sai tướng Khúc Bắc Hải phát lệnh, rồi xuống đón Quân sư Hoa Lư vào thành.

Lão tướng bảo các thuộc tướng:

- Quân sư Hoa Lư tên là Lê Thảo tài nghiêng trời đất, ông ta còn trẻ, lúc này đến đây tất là muốn ta dâng thành. Đây là tướng đứng trên hết thảy các tướng, sức mạnh trí tuệ của ông ta hết thảy binh tướng ở Giao Châu này hợp lại cũng không bằng được! Cùng đi với ông ta, lại có một ông già cao, râu tóc bạc phơ, mặt lạnh lùng, không thấy nói là ai. Cũng chẳng thấy có trình ông già nói gì không? Ta nghĩ đây là lão tướng Mạc Cương Hồng ở Đồng Lư, nếu đúng thế thì thành Đan Phượng này sắp mất rồi!

Các tướng thất kinh, chợt có người đứng bật dậy, kêu lên:

- Nếu như vậy, tôi xin xuống giết ngay y đi thì hết tai họa!

Mộc Đường vội cản người ấy lại, nghiêm giọng mắng:

- Vương Bách Nhật, ngươi không được hồ đồ! Quân sư Hoa Lư đến nơi này, tức là tự tin ở các xếp đặt của mình, chỉ một vọng động của ta cũng đủ trăm tướng chết, vạn quân tan ngay. Vả lại tất người ta cũng đã dàn xếp thế nào mới dám hành động, sao mình lại hồ đồ để chuốc họa, làm hỏng việc lớn?

Vương Bách Nhật là dũng tướng giữ chức hộ thành, người trung trực, tính khí nóng nảy, rất trung thành với Mộc Đường. Bách Nhật có sức khỏe như trâu, quyền cước lại rất lợi hại, quen xử cây đao, sống như răng cưa thật tài tình. Nghe lão soái mắng thì Vương Bách Nhật tuy phải im lặng nhưng xem ra vẫn có ý không bằng lòng.

Vừa lúc ấy tin trình: Khách đã vào thành, tướng trấn thành đã đưa vào sảnh doanh. Mộc Đường đem các tướng xuống sảnh. Lão tướng chỉ thấy có bốn người chứ không phải là sáu như tin đã trình. Nhìn ra quả nhiên ông già chính là Mạc Cương Hồng! Mộc Đường chân muốn đi nhanh tới mà hóa ra lại xiêu vẹo, hai chân như vướng vào nhau bước đi chẳng được. Nỗi kinh nang làm cho ông run chân đi chẳng vững!

Người khách tuổi trẻ mặc áo văn sĩ quay lại, rất thản nhiên đón lão tướng, người này chính là Quân sư Lê Thảo. Vừa nhìn, Quân sư cũng đoán ra ngay ai là lão tướng Mộc Đường. Quân sư ung dung mà ân cần nói:

- Lê Thảo tôi từ Hoa Lư tới, chào mừng lão tướng tuổi cao thần sắc vẫn nhuận tươi, sức khỏe tráng kiện! Hôm nay việc quân bề bộn, lão soái vẫn cho mở của thành đón khách, lại xuống thành cho tôi được gặp, thật là điều mừng!

Mộc Đường từng nghe danh Lê Thảo, ông chỉ nghĩ đây là một tay anh tài xuất chúng, đến khi gặp mặt thì ông lại kinh ngạc với phong độ thần sắc của Quân sư Hoa Lư. Ông không thể nào ngờ được một người còn trẻ, mặt đẹp thanh cao, phong độ thật ung dung tự tin như thế này, mà lại có được một bản lĩnh khủng khiếp đến như vậy. Nhân vật này hôm nay đến đây lại có thêm cả lão Soái danh tiến lẫy lừng, kiệt ngạo, ngay đến Sứ quân ông ta cũng chẳng xem là trọng. Thế mà lại phải theo sau nhân vật trẻ tuổi mặt ngọc này, ắt hẳn là Đồng Lư hỏng mất rồi! Lão tướng tự nhiên thấy bối rối, bối rối với sự thể mắt nhìn thấy, với những lời nói của Lê Thảo?

Tướng Vương Bách Nhật bước tới, kéo ghế mời lão tướng, lão tướng lặng lẽ ngồi xuống. Lần lượt Mạc Cương Hồng cũng được Vương Bách Nhật nhấc ghế mời ngồi. Xong rồi thì Nhật bỏ đi cùng các tướng đến đứng phía sau lão tướng đợi lệnh, cố ý không nhấc ghế mời khách.

Từ khi thấy Lê Thảo, Vương Bách Nhật cũng đoán rằng đây là Quân sư của Hoa Lư, phong cách văn sĩ thanh tao chẳng có gì là dũng mãnh của một võ tướng làm cho Nhật tự nhiên xem thường Lê Thảo. Bây giờ không nhấc ghế mời khách lại tự cho là hành động của mình là phải, cố ý làm bẽ mặt khách cho hả chút giận. Mộc Đường thấy thế vội tự thân đứng lên nhấc ghế, lúc ấy Vương Bách Nhật mới chịu bước vội tới giành lấy ghế, không để lão soái phải làm việc ấy, Nhật nói:

- Lão soái để thuộc hạ!

Vương Bách Nhật nhấc ghế đem lại cách Mộc Đường ba bước chân đặt xuống chực mời Lê Thảo ngồi. Vị trí ấy chỉ là vị trí của một thuộc hạ ngồi trước chủ tướng để nghe bàn việc.

Từ lúc vào sảnh doanh, tướng Hà Bảo Ninh đã được thấy lão soái Mộc Đường. Trông bề ngoài lão soái Ninh cũng thấy cảm mến con người tài đức cao vời có tiếng ở Hồi Hồ. Nhưng đến khi thấy thái độ thuộc tướng của Mộc Đường thì Ninh không biết tướng này là ai, chỉ thấy ông ta có vẻ thiếu lễ độ, hục hặc. Đến khi thấy ông ta không nhấc ghế mời Quân sư ngồi thì trong lòng Ninh đã giận lắm rồi. Ninh chưa biết phải làm sao thì đã thấy hành động của Mộc Đường, rồi tướng ấy lại tranh việc nhấc ghế để đem ghế đến đặt ở một vị trí như thế, thì Ninh liền bước tới, rắn giọng:

- Để ta!

Cùng với lời nói, Hà Bảo Ninh vươn tay đoạt ghế. Bách Nhật vận sức giữ dằn ghế xuống không cho Hà Bảo Ninh nhấc lên. Thật chẳng may cho Vương Bách Nhật, ông ta không biết Ninh là ai, lại trong lúc bất ý chẳng mấy đề phòng. Chỉ vì vận sức đè ghế xuống mà làm cho Ninh chẳng cần suy nghĩ gì nữa, Ninh nằm ngay lấy tay Vương Bách Nhật vặn ngược trở lên. Bao nhiêu sức mạnh Ninh đem ra hết dồn vào bàn tay, chỉ nghe “rắc” một tiếng thì cánh tay phải của tướng hộ thành Đan Phượng là Vương Bách Nhật đã gãy gập hẳn lại!

Cả sảnh doanh kinh hoàng, việc xảy ra nhanh quá không ai có thể ngờ được, tướng Vương Bách Nhật bị gãy tay đau tưởng nát tim nát phổi, mặt xanh mét. Ông nghiến chặt răng vươn tay trái toan rút thanh đao, thì Ninh đã nhanh hơn giật ngay lấy thanh dao rồi vận sức hai tay bẻ gãy đao, miệng bảo:

- Chỗ đại tướng với Quân sư nói chuyện, không có đao kiếm làm hỗn loạn!

Rồi Ninh ném hai phần thanh đao đi. Nhấc ghế thản nhiên đem đến đặt đối diện với ghế lão tướng Mộc Đường. Hà Bảo Ninh với Mạc Sa Cảnh làm như không có việc gì xảy ra, nghiêm chỉnh đứng hầu sau ghế Quân sư.

Lúc ấy, Quân sư Hoa Lư mới lên tiếng:

- Thưa lão soái, việc lớn trong thiên hạ xin bỏ qua những chuyện vặt để được nghe lão soái xét đến việc hôm nay!

Câu nói của Lê Thảo làm cho Mộc Đường lúng túng không biết phải mở đầu ra sao, nhưng Mạc Cương Hồng ngồi bên khiến ông chợt tỉnh, ông bảo:

- Thưa ngài, ngài đến nơi này lại thêm cả lão đại soái ở Đồng Lư cùng đi, tất việc đã rõ. Vậy tôi xin được nghe lão đại soái dạy bảo trước đã!

Mạc Cương Hồng từ khi bước chân vào sảnh, bao nhiêu việc xảy ra ông đều thấy hết. Bây giờ nghe Mộc Đường nói, ông vẫn lạnh lùng đáp:

- Phải, tôi đã bỏ ải tới đây, lời nguyền của tôi đã giải. Đường đến trấn thành mắt nhìn mọi việc, tôi đã thấy hai trận của tôi ở Đồng Lư chẳng qua chỉ là chuyện làm cho vui trong lúc mê muội, chứ không phải là làm việc lớn. Thành Đan Phượng giữ gì ở một nơi như thế này? Lão tướng nên cùng với tôi đi tìm lại men rượu dân tộc thì hơn!

Mộc Đường không biết mọi việc ở Đồng Lư, nhưng nghe Mạc Cương Hồng nói thì hiểu rằng hai trận của Mạc Cương Hồng đối với Hoa Lư chỉ là hai chuyện làm cho vui. Ông so với Mạc Cương Hồng thì thua xa, thành Đan Phượng so với hai trấn ải Đồng Lư cũng chẳng là gì cả, và ông ta khuyên nên đem Đan Phượng về với Hoa Lư. Mộc Đường thấy trong lòng vừa buồn bã vừa hoang mang, tinh thần một danh tướng làm cho ông bật nói:

- Tôi sẵn sàng vì việc lớn thiên hạ mà giữ thành hay dâng thành, trong trời đất mỗi vị trí một khác, có nơi hang hốc lại vững vàng hơn cả thành quách, có chốn thảo lư lại hạnh phúc hơn ở lầu đài đền các...

Quân sư Lê Thảo chặn ngang:

- Vậy lão tướng thấy việc lớn thiên hạ như thế nào?

Mộc Đường là lão tướng giỏi binh thư đồ trận, trấn giữ Đan Phượng làm cho giang sơn của Sứ quân Ngô Nhật Khánh vững vàng cả ba phía Bắc - Đông – Tây, chẳng nơi nào xâm phạm Hồi Hồ được. Còn việc lớn thiên hạ thì lão tướng lại chẳng hiểu, chỉ nhìn thấy Cổ Loa đang suy vi, chẳng biết ngày mai ra sao. Lão tướng chỉ là loại tướng giỏi việc binh trận chứ không giỏi việc lớn trong thiên hạ được. Cho nên khi nghe Lê Thảo hỏi thì thẳng thắn đáp:

- Tôi mang lệnh trấn giữ thành Đan Phượng, không để cho binh ngoài xâm nhập. Lệnh ấy của chủ tôi chưa hề trái lệnh, tự biết đấy chẳng phải là việc lớn trong thiên hạ. Nhưng tự biết mình chẳng phải là hàng lo được việc lớn, đành chỉ làm hết bổn phận chủ giao mà thôi!

Lê Thảo ngầm kính phục đức độ trung trực, tinh thần thẳng thắn của lão tướng, nên bảo:

- Phải, làm tôi trung với chúa như vậy là đúng, nhưng thờ chúa thì lại là việc kẻ trượng phu đứng trong trời đất dù văn hay võ cũng phải biết nhìn người mình thờ là người thế nào. Phải hiểu chí của người ấy mới được! Như lão tướng, ngài trung với Ngô Nhật Khánh thì ngài nhìn ông ta là người thế nào?

Lão tướng đáp:

- Chí tôi chẳng bằng được Ngô Nhật Khánh, cho nên thờ ông ấy là phải. Ông ấy là dòng dõi Ngô tiên vương, giữ một cõi tất cũng có mưu đại sự về sau. Người như thế thì tôi thờ là điều phải!

Quân sư ngồi nghiêm trang, giọng minh bạch:

- Không phải, lão tướng chí lớn hơn Ngô Nhật Khánh, cũng như lão soái Mạc Cương Hồng. Hai vị trấn giữ vững vàng được hai nơi cửa ngõ trọng yếu, để cho Khánh ngồi ở trong mơ màng với dòng dõi tiên vương, học hỏi những lề thói các triều đại Bắc phương. Như thế dù có nên nghiệp thì cũng chỉ là nghiệp của kẻ vong thân, chẳng biết mình, không hiểu dân tộc mình. Nếu có thành thì cũng không thể hơn được một kẻ tôi tớ, bỏ gốc sẵn sàng đem cả giang sơn đất nước dân tộc mình để được làm tay chân của người ngoài. Muốn đưa cả dân tộc mình lột xác để thành người của những triều đại ngoại bang mà thôi! Có khi Nhật Khánh vì mê man thờ phụng các triều đại Bắc phương, còn muốn dụ hoặc lôi kéo cả các dân tộc quanh nước mình cùng theo làm tôi tớ người ngoài cũng không biết chừng! Nếu Ngô Nhật Khánh chẳng có cái chí ấy, thì cung cách sống của ông ta ra sao, các vị đã thấy cả! Ngô Nhật Khánh bịa đặt vơ vào tự nhận là dòng dõi Ngô tiên vương húy Quyền, thật là khả bỉ. Ngô tiên vương xuất thân ở Hồi Hồ thật, nhưng không phải vì thế mà người họ Ngô nào ở Hồi Hồ cũng là anh em họ hàng dòng dõi của tiên vương! Ngô Nhật Khánh mạo nhận danh nghĩa vương gia, đấy là một tội chỉ có những phường tiểu nhân mới làm như thế! Vả chăng, nếu bảo là dòng dõi Ngô vương, thì Sứ quân nào bằng Sứ quân Ngô Xương Xí ở Bình Kiều ngày trước. Như vậy thì cái chí của bậc anh hùng hào kiệt, biết nhìn vận nước, hiểu tình thế trong ngoài, định được con đường phải dẫn dân tộc mình đi. Để ngoài thì vững được bờ cõi, trong an dược trăm họ, dẫn đến chỗ nước non vững bền, cương cường phong phú mới là trọng. Chứ không phải là ngồi học cách trưởng giả ngu muội, tiếp tay với bên ngoài làm suy nhược giống nòi. Mở lối cho người ngoài vào thôn tính giang sơn của dân tộc ta! IIỏi có người như thế có đáng để cho lão tướng thờ làm minh chủ không?

Quân sư cao giọng luận giải bài bác Sứ quân Ngô Nhật Khánh, khiến cho lão tướng Mộc Đường có lúc cũng thấy khó chịu. Nhìn ra vẫn thấy Mạc Cương Hồng vẻ mặt lạnh lùng chẳng lộ ý gì, lão tướng đáp:

- Sứ quân tôi như thế, giả sử là đúng như thế, thì phận của tôi theo hầu ngài từ ngần ấy năm, cũng vẫn phải giữ lòng trung với chủ. Xin ngài chỉ cho tôi đường để phản chủ thế nào, để cho thiên hạ đừng chê bai rủa xả!

Câu nói này cũng không làm cho vẻ mặt của Mạc Cương Hồng thay đổi, nhưng Lê Thảo lại nói:

- Ngài nói như thế thì thật là không phải! Đã biết, đã nhận Ngô Nhật Khánh là con người như vậy, mà vẫn khư khư giữ một lòng trung để làm cho máu đổ thịt rơi. Làm cho sức của đất nước dân tộc bị suy yếu, mở đường cho Bắc phương vào chiếm nước ta. Như thế thì việc bỏ kẻ tối tăm tàn hại để giúp mở ra ánh sáng, có thể nào nói được là phản chủ hay không? Chính vì thế, Mạc tiên sinh đây tuy cách biệt với đời, thế mà vẫn nhìn thấy việc lớn của dân tộc. Chẳng tiếc công lao trăm đời chưa dễ có là hai kì trận, đập và quăng rượu để trở lại với dân tộc. Hành vi tráng liệt ấy gọi là phản chủ được chăng? Lão tướng lầm lẫn rồi! Vả chăng, Hoa Lư chúng tôi biết được tình thế gấp lắm rồi. Nhà Tống đang sửa soạn để dốc binh lấy Giao Châu, cái họa ngoại thuộc đã gần kề. Cho nên phải dàn binh giữ nước, trước hết bên trong dẹp cho hết những phương giặc nước, để cho hào kiệt bốn phương cùng thấy đại nghĩa mà tìm về. Cho nên Hoa Lư cùng lắm mới phải mở trận quét dọn phía Đông, lúc này trở lại Tây để thanh toán cho xong những trở ngại. Lão tướng giữ một thành đứng giữa Hồi Hồ với Đỗ Động, trước mặt là sông nước với một thủy trại, liệu sức mạnh được đến đâu? Năm xưa lão tướng chiến với thủy quân của Cảnh Thạc, giả sử như Hoa Lư tôi không ra tay trói thuyền của Thạc, để cho hỏa kế của lão tướng thi thố được, liệu lão tướng thắng được Thạc không? Thắng một trận như thế, lão tướng cho là sức mình thắng được cả thiên hạ chăng? Còn lúc này, thành Đan Phượng ba mặt đều bị binh Hoa Lư phong tỏa. Chỉ một mệnh lệnh là đá vàng cùng tan nát cả. Sao lão tướng lại cố giữ trung một mình để dồn trăm nghìn binh tướng vào chỗ chết như thế. Hành động ấy có phải là hành động của người làm tướng hiểu biết, có nhân nghĩa không?

Mộc Đường giật mình, thì ra thắc mắc trong lòng ông cứ âm ỉ không hiểu ngày ấy, tại sao chiến với thủy quân của Đỗ Động, thủy quân của ông lại chiến thắng dễ dàng như vậy. Hóa ra Hoa Lư đã dàn xếp để ông thắng, không có những lạ lùng ngày ấy, thì chưa chắc thủy quân của Cảnh Thạc đã bị bại! Lão tướng kinh hãi ngồi im. Bây giờ Mạc Cương Hồng mới lên tiếng, giọng lạnh lùng:

- Tửu trận của ta không ai qua được, mệnh lệnh của ta ban ra là núi Đồng Lư có thể bị san bằng, nhưng ta đã nhìn thấy kì tài phá trận của ta đúng phép qua lại. Ta chịu nhận là trong thiên hạ vẫn có người còn tài hơn ta. Vả chăng một phần vì lời nguyện xưa, một phần được thấy thế của đất nước. Cho nên ta biết mà không chống lại, thì cũng không phải là phản chủ. Chủ lớn nhất của ta là giang sơn đất nước này. Sứ quân chẳng qua chỉ là kẻ ta chịu ơn cơm áo. Nợ cơm áo ấy ta đã trả bằng ngần ấy năm giữ cửa cho ông ta yên lành hành hạ con dân rồi. Ta bỏ đi sớm là nhẹ tội, ông không nên cho là ta phản chủ!

Mộc Đường chưa kịp nói gì, đã thấy có tướng vào ghé tai nói điều gì. Mộc Đường giật mình, ngẩn người. Quân sư mỉm cười nói ngay:

- Vạn Thắng Vương đã vào phủ đường Hồi Hồ. Sứ quân Ngô Nhật Khánh đã nhận biết lẽ phải theo về với Hoa Lư. Lão tướng có còn muốn giữ lòng trung cố phá một thành rồi chết theo thành cho trọn ước muốn không?

Mộc Đường kinh hãi, tại sao thuộc tướng của ông vừa mới báo tin chỉ riêng mình ông biết, mà Quân sư Hoa Lư đã nói ngay như thế? Mộc Đường không biết gì các việc trước đây. Bao nhiêu tế tác của ông đều không xuống Nam được, bao nhiêu tế tác ở phủ đường thì chẳng lên Bắc lọt. Bây giờ tin đã đến, lão tướng ngẩn người, rồi thẫn thờ bảo:

- Sứ quân chủ tôi đã chịu hàng phục Hoa Lư, tôi phải tuân lệnh chủ ngưng binh giao thành là lẽ thường. Nay, nghĩ lại những việc đã qua, nghe Quân sư nói các việc chẳng bao giờ tôi biết. Trước đây vẫn cứ tưởng là nhờ ở tài sức của mình mà có. Nay lại được thấy lão đại tướng thông tuệ cao minh hành xử vượt ra ngoài thường tình thấp hèn. Tự xét mình chẳng được một phần của lão đại tướng. Xin được trao thành, nhưng xin được hướng về nam lạy chủ một lạy rồi ra đi!

Quân sư giọng ngậm ngùi:

- Hà tất lão tướng phải làm thế! Lạy chủ một lạy thì cứ lạy, lão tướng nên yên lòng vì chính Sứ quân đã bỏ lão tướng trước. Lẽ ra Sứ quân phải lạy mà tạ tội với lão tướng mới phải! Đất nước ta còn cần nhiều người tài góp sức, sao lão tướng lại muốn bỏ mặc trăm họ như thế!

Mộc Đường ngay từ khi được tin báo có Quân sư Hoa Lư tới, lại thấy Mạc Cương Hồng đi cùng với Quân sư Hoa Lư thì đã le lói thấy tình thế, hiểu việc phải làm. Nhưng ông không thể không hành động mà chẳng để cho mọi việc sáng tỏ. Nay thì chẳng còn gì để ông phải thắc mắc nữa, vì vậy ông nói:

- Tôi xin được theo gót Mạc đại lão. Trước hết giao thành lại cho Hoa Lư. Sau xin được theo hầu đại lão để được biết thế nào là rượu ngon trong thiên hạ!

Thế là Mộc Đường triệu tập hết thảy các tướng. Nói rõ việc trao thành cho Hoa Lư, ông bảo:

- Bây giờ thì ta hiểu rõ được các việc xưa việc nay. Các ông là người sức còn nhiều, nên ở lại giúp cho Hoa Lư lập công với dân tộc đất nước. Ta cảm ơn các ông đã ở với ta ngần ấy năm trời. Các ông không có lỗi gì cả, hãy thẳng thắn nhận trách nhiệm mới. Có khi nào nhớ đến ta thì hãy làm sao cho thành Đan Phượng này được như ý mình, chứ không phải là mơ hồ như ta ngày trước!

Việc lão tướng Mộc Đường đem thành Đan Phượng về hàng Hoa Lư chớp mắt các nơi đều biết. Thế là các dàn xếp trận mạc của Hoa Lư để đánh Đan Phượng không cần đến nữa. Quân sư Lê Thảo thu xếp mọi việc, để cho hai lão tướng được tự do ra đi. Bảo Mạc Sa Cảnh gấp đưa tin về phủ đường, lại dặn trình Vương là Quân sư sẽ về sau.

Lê Thảo ngay hôm ấy lệnh cho tướng Nghi Bá Tường vượt Đan Phượng đưa thủy quân ngược dòng lên Hát Môn. Bày trận sẵn sàng trợ chiến cho quân mã bộ lấy Hồi Hồ. Quân sư một mặt lệnh cho tướng Lê Hoàn vẫn giữ ấn tiên phong, mang hai quân mã bộ chuẩn bị vào giang sơn của Sứ quân Kiều Thuận.

Việc thành Đan Phượng còn đang náo nhiệt. Quân sư muốn lưu lại cho đến khi dàn xếp xong các mặt rồi theo quân của tướng Lê Hoàn, thì đã có tin trình vào: Tướng quân Trịnh Tú ở phủ đường Hồi Hồ, xin trình tin gấp lên Quân sư.

Chưa biết lại có tin gì, xin xem hồi sau sẽ rõ.

—ooOoo—


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mot Sach đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2024

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của vũ ngọc đĩnh