Lúc ấy, khoảng trước nửa đêm. Tướng Hồ Tường Thụy lặng lẽ đem quân tránh những nơi dân cư, tìm đường gấp rút kéo đến thủy trại Bồ Đề của Tế Giang. Thụy dẫn đầu đám quân, lệnh cho tất cả phải thật lặng lẽ, ngựa rọ mõm không cho hí, người ngậm tăm không thốt một lời. Tế tác thông thạo đường lối dẫn đường cho đạo quân đi như nước chảy mây tuôn. Quá nửa đêm một chút thì đạo quân đã vào đến nơi mở trận. Hồ Tường Thụy cho quân dừng lại, vẫn lặng lẽ ẩn phục, sẵn sàng để đánh trại.
Hồ Tường Thụy một mình cho ngựa đến trước thủy trại, nhìn ra thấy doanh trại san sát, mái là trong đêm đen ngòm. Lác đác trong trại từ ngoài vào trong có ánh lửa quân tuần canh đi lại. Hồ Tường Thụy cho ngựa đi lại quan sát một hồi. Thủy trại Tế Giang lập bên sông xa hẳn nơi dân ở, chắc là để được an toàn. Thụy quan sát xong liền quay trở lại dặn quân “khi nào thấy lửa cháy nhiều nơi mới gấp rút vào trận, vẫn phải hết sức im lặng, cấm không được hò reo. Chỉ khi nào các trại cháy lớn thì mới nhất tề hò reo phá trại”. Dặn rồi, Thụy lại một mình ra đi, đem theo nhiều tên tẩm hỏa liệu. Quân hồi hộp đợi chờ chủ tướng hành động.
Thụy cho ngựa lên phía Bắc thủy trại của Tế Giang, rồi quay ngựa trở lại. Thụy đem tài cung tên ra mở trận lần lượt phóng các tên mang theo hỏa liệu đốt cháy lên mái nhà trong doanh trại. Thụy hành động như thế mà không bị quân tuần canh cản trở. Ấy là vì thủy trại ở nơi an toàn cách xa lãnh giới chung quanh. Lại thêm tiết đầu xuân chắc là tướng sĩ quen thói an nhàn, cho nên cũng nhiều phần lơ là việc tuần canh.
Thụy cho ngựa chạy từ Bắc xuống Nam trước doanh thủy trại. Tên lửa phóng đi nhanh vô cùng, quân của Thụy ở mé Nam kể “Tên lửa ông Thụy phóng đi nhanh như đường thoi kéo sợi chỉ chạy trên khung dệt”. Chẳng mấy chốc hầu hết các khu nhà thủy trại phía ngoài đều đã bén lửa. Khi Thụy xuống gần cửa chính của thủy trại thì lửa đã cháy lớn nửa trại phía Bắc, quân thấy vậy cũng vội vào trận. Chớp mắt nửa trại phía Nam lửa cháy dữ dội. Cả đạo quân bất thần phóng tên đi, tên lửa chi chít trên trời như cả một vùng mấy sáng lòa, ập xuống thủy trại Tế Giang.
Cùng lúc ấy, Hồ Tường Thụy giơ cao cây cung thiết đằng cánh rộng cả sải tay, vẫy vẫy ra hiệu cho quân vào trận.
Hổ Tường Thụy khoác cung lên vai, vươn tay nhấc cây đao to bản treo ở chiến đai ra. Trong ánh lửa rực trời, trông Hồ Tường Thụy dẫn đầu đám quân phá cửa trại lướt vào đẹp mà hùng như cảnh vẽ trong tranh. Hồ Tường Thụy vóc người to lớn. Mặc chiến bào hùng bố màu chàm, kiểu áo như của người đi rừng. Chân mang giày trận bằng da trâu thuộc sống, cực bền tẩm dầu cây, khiến mềm chẳng thua gì lụa. Trông Thụy đẹp như thiên thần.
Thủy trại Tế Giang có tám cửa, năm cửa ở bên trong, ngoài sông chỉ có ba trại. Thụy ra hiệu cho quân vẫn tiếp tục phóng tên lửa. Lúc này quân Hoa Lư như ong vỡ tổ bất thần tràn vào trại khiến cho cả vùng hốt nhiên náo động. Quân Hoa Lư nhớ lệnh của chủ tướng vẫn không thốt một tiếng, đạo quân cứ xông xáo phá phách, phòng lửa tràn tới. Thủy binh Tế Giang chẳng kịp xuất trận ứng chiến, thì mé ngoài sông, tướng Nghi Bá Tường ẩn quân bên kia bờ sông đã xua quân vào trận. Tường thấy rõ ràng lửa phát cháy từ mé Bắc tràn xuống Nam thật mau lẹ. Rồi từ phía Nam lửa bỗng phựt cháy dữ dội thì biết là binh bộ chiến của Hoa Lư đã ra tay.
Thế là, chỉ trong khoảnh khắc ngắn ngủi, cả thủy trại Tế Giang chìm trong biển lửa sáng đến loa mắt. Nóng đến nỗi người ngựa đang lúc trời giá lạnh cũng phải vã mồ hôi!
Tướng Đỗ Hùng Liệt trấn giữ thủy trại Tế Giang. Suốt từ ngày đầu năm đến nay liên miên cùng chúng thuộc hạ không ngừng tiệc rượu mừng xuân. Hôm nào bọn tướng coi thủy trại cũng say mèm. Có người khuyên can thì lại bảo: “Tiết xuân đầm ấm thêm chút men nồng, trên sông nghe dòng nước chảy mới thấy hết được việc đời hùng tráng. Thủy trại của ta vâng lệnh Sứ quân tài trí hơn người. Lập trại theo trận Bái Quái, tám cửa nhìn được khắp thế gian, hãm được cả trời đất ở trong trận. Thế thì việc có chút men nồng trong máu có gì là hại đâu. Vả chăng, đời người tuy dài trăm năm mà hóa ra thật ngắn ngủi. Sao lại chẳng chiều lòng với một chút men say, sao lại phải sợ gì nữa!”. Rồi để tỏ ra mình là tay văn võ toàn tài, Đỗ Hùng Liệt thường khoe gốc gác mình ở đất văn vật chữ nghĩa huyện Quế Dương (Bắc Ninh). Dưới chân núi Lãm Sơn, tùng bách quanh năm xanh rì như những tàn lọng xanh cổ thụ che cho chùa Thần Quang, là nơi danh thắng. Nơi này không cho người Giao Châu ngóc đầu lên được (dấu tích đến nay vẫn còn). Cho nên mỗi lúc ngấm men rượu thì hay làm thơ, có lần vịnh cảnh chùa Đỗ Hùng Liệt viết:
Tục đa biến thái cân thương cẩu
Tòng bất tri niên tăng bạch đầu
(Tục đời mây chó thường thay đổi
Tòng bách lâu năm, tăng bạc đầu) [→11]
Đỗ Hùng Liệt là tướng giỏi, ỷ có thanh Quỷ Kiếm sống, đúc bằng bạc có chín huyệt lỗ thông vào một ống sáo nhỏ bên trong. Khi múa lên gió lùa vào trong các huyệt sáo theo thể thức của mỗi bài kiếm. Phát ra những âm thanh có lúc nghe rên rỉ, có lúc như gào thét chẳng khác nào như tiếng ma khốc quỷ gào. Làm cho đối phương tán hồn lạc phách mà bị giết. Liệt giỏi, nhưng hai mắt thì lại kị ánh sáng mạnh. Cho nên Liệt thường dùng một mảnh sa màu đen che cặp mắt lúc ánh sáng mạnh quá. Lúc xung trận Liệt kị hỏa trận lắm.
Nay, quá nửa đêm còn đang say sưa với men nồng quá chén. Trên dưới còn đang ầm ầm đủ chuyện thế gian, thì quân hốt hoảng chạy vào báo:
- Cháy! Trại bị cháy!
Đỗ Hùng Liệt nghe trình đã chẳng lo việc của người làm tướng giữ trại, lại còn cười ha hả mà rằng:
- Men rượu nồng đầu xuân, chưa đủ ấm hay sao mà lại đốt lửa nữa! Ra bảo tắt lửa, thêm rượu là hơn!
Rồi Liệt hô chúng thuộc hạ tiếp tục nghiêng vò. Cả bọn chưa kịp chuốc thêm cho nhau. Quân đã lại hấp tấp vào trình lớn:
- Quân Hoa Lư cướp trại! Lửa cháy lớn quá rồi!
Bây giờ thì Đỗ Hùng Liệt hết cười, hồn vía lên mây. Liệt hét lớn:
- Giặc Hoa Lư cướp trại! Nó đi đường nào mà tới được đây?
Rồi Liệt hất tung bàn tiệc lấy lối chạy ra, thanh Quy Kiếm lăm lăm trong tay. Liệt quên mất cả miếng vải sa che mắt. Theo chân chủ tướng, đám thuộc hạ ùa ra. Vừa ra khỏi sảnh, Đỗ Hùng Liệt dội trở lại vì ánh lửa rực trời. Khắp thủy trại trước sau đều ngút lửa, mé sông cũng như mé ngoài tiền trại đều có tiếng quân reo ầm ầm.
Đỗ Hùng Liệt hai mắt muốn nổ tung vì ánh sáng mạnh quá, khiến Liệt phải nhắm mắt nghiền lại. Tay gươm hoa lên hét:
- Cứu lửa! Cự chiến!
Tiếng hét của Liệt chẳng ai nghe, tất cả đang kinh hoàng hỗn loạn. Liệt uất quá hét lên một tiếng lớn, múa thanh Quỷ Kiếm vùn vụt hô lớn:
- Theo ta!
Lửa cháy càng lúc càng dữ dội, cuốn gió ào ào. Quỷ Kiếm trong tay Đỗ Hùng Liệt múa lên hút gió phát ra những tiếng réo rờn rợn át cả tiếng lửa rít. Liệt múa gươm tiến ra phía cửa trại, miệng hô:
- Hứa Thạch Bình xem mặt sau!
Lập tức có tiếng gầm như gấu hét lúc giận dữ. Phó tướng của Đỗ Hùng Liệt là Hứa Thạch Bình hoa tít cặp chùy đồng thét:
- Theo ta! Thạch Bình dẫn một đám binh tướng rẽ đường chạy ra thủy trại mé sông.
Đỗ Hùng Liệt múa gươm vẹt lửa xông ra. Hai mắt Liệt đau đớn lắm, khiến Liệt phải nheo nheo chắn sáng. Nước mắt bỗng tuôn ra ào ạt. Không biết Liệt khóc vì uất hận hay vì khói lửa làm cặp mắt vốn kị ánh sáng, lại thêm tai hại vì men rượu mạnh, khiến cho bây giờ tự nhiên trào nước mắt!
Vừa ra khỏi khu doanh soái tướng, bên ngoài này lửa không cháy lớn. Nhờ thế mà Đỗ Hùng Liệt đỡ khổ. Liệt gặp ngay một tướng đang xông xáo, thanh đoản đao to bản tung hoành đánh chém dữ dội. Tướng ấy chính là Hồ Tường Thụy!
Tai Thụy nghe thấy trong tiếng gió rít cuốn lửa, tiếng ầm ầm của vó ngựa chân quân, tiếng la hét của đôi bên, còn có tiếng rên rỉ như ma hờn quỷ khóc. Tức thì Thụy quay ngựa hướng tới nơi có tiếng kêu kinh khiếp ấy. Cặp mắt Hồ Tường Thụy cực tinh, ông nhìn ra ngay viên tướng Tế Giang đang múa thanh kiếm bạc phát ra những tiếng kêu kinh hồn. Hồ Tường Thụy nhớ lời Quân sư bảo, biết ngay đây là tướng Đỗ Hùng Liệt trấn giữ thủy trại Tế Giang. Hồ Tường Thụy quát to lên:
- Bớ tướng Tế Giang, vâng lệnh Động chúa Hoa Lư ta hủy thủy trại của ông rồi. Mau mau dầu hàng, đừng để Động chúa ta phải tức giận!
Đỗ Hùng Liệt rùng mình, tay gươm không ngừng múa lên. Liệt rảo bước hô thuộc hạ cùng Liệt mau mau áp tới chỗ Hồ Tường Thụy. Liệt gắng lấy hết can đảm hét:
- Giặc Hoa Lư. Tế Giang ta không xâm phạm gì tới Hoa Lư, sao tên chăn trâu cắt cỏ lại dám đem quân bất thần đánh trộm xâm phạm giang sơn Tế Giang như thế? Tên nào là Động chúa đâu, ra đây cho ta hỏi tội!
Hồ Tường Thụy chẳng giận thì chớ, lại còn cười lớn mà rằng:
- Bớ anh tướng mù kia, rõ ra mi chẳng trông thấy trời cao đất rộng là gì? Động chúa Hoa Lư ta đem anh hùng hào kiệt đi lấy thiên hạ, cứu Giao Châu, chống Bắc phương. Sao lại bảo là không được xâm phạm Tế Giang, là cướp đất của Lữ Đường được! Ông nên đầu hàng đi, đừng để khi Động chúa ta tới thì ngài không tha thứ đâu!
Đỗ Hùng Liệt từng nghe danh lớn của Hoa Lư Động chúa, lại tự cho là tài giỏi không sợ một ai. Nghi là tướng Hoa Lư đem danh Động chúa ra để dọa mình, liền ứng tiếng quát:
- Hoa Lư Động chúa sao dám đến nơi này, thằng chăn trâu cắt cỏ lúc này ắt còn núp trong hang động chứ chẳng sai!
Lần này thì Hồ Tường Thụy không còn cười cợt nữa, ông thét:
- Mi tới số rồi cho nên mới hỗn láo như vậy. Động chúa ta cầm quân thu thiên hạ, sao mi dám hỗn xược! Ta trừng trị mi đây!
Hồ Tường Thụy giục ngựa xốc tới, thanh đoản đao to bản múa lên chẳng kể gì đến những tiếng ghê rợn từ thanh Quỷ Kiếm phát ra. Thụy bổ một đao xuống đầu Đỗ Hùng Liệt.
Đỗ Hùng Liệt quay lưng lại phía sông, trước mặt lửa cháy không lớn, nhờ thế mà cặp mắt đỡ bị chói. Liệt nhận rõ tướng Hoa Lư. Đỗ Hùng Liệt và Hồ Tường Thụy tranh hùng với nhau chưa được mấy hiệp, đã nghe tiếng quát như sấm át cả tiếng quân đôi bên reo, tiếng lửa rít:
- Động chúa Hoa Lư Đinh Bộ Lĩnh đã tới đây. Các tướng Tế Giang hãy đầu hàng!
Tướng Tế Giang kinh ngạc, hóa ra Động chúa Hoa Lư có mặt ở đây thật sao? Thoạt đầu, Đỗ Hùng Liệt cho là tướng Hoa Lư đem danh Động chúa ra để thị uy. Đến khi nghe tiếng quát thì tự nhiên tay gươm bủn rủn. Quả thật danh lớn của Động chứa cả thiên hạ đều kính nể. Chẳng riêng gì Đỗ Hùng Liệt giật mình khiếp sợ, mà chính Hồ Tường Thụy cũng phải kinh ngạc. Thụy vẫn biết Động chúa hiện có mặt ở Tế Giang nhưng không phải là ở đây. Vậy sao Động chúa lại bất thần hiện ra như thế này? Động chúa vào trận, ắt là còn nhiều tướng, nhiều quân đã tới!
Hồ Tường Thụy kêu to lên:
- Động chúa dừng tay, để thuộc hạ thu phục tên tăm tối mù lòa này!
Đỗ Hùng Liệt hai mắt chói ánh sáng, nước mắt ràn rụa nhưng cũng cố nhìn cho rõ Động chúa. Liệt chỉ thấy một người cao lớn cưỡi con ngựa đen cũng cao lớn. Người ấy mang cây đại phủ lưỡi lớn như chiếc quạt, toan xốc tới thì dừng ngay ngựa vì tiếng hô của tướng Hoa Lư.
Phía ngoài sông, tiếng quân reo còn dữ dội hơn cả ở mé bên này. Nghe rõ ràng có tiếng hô: “Vạn tuế Động chúa! Vạn tuế Động chúa!”. Như vậy, thì Động chúa hiện đang ở đây hay là đang ở ngoài sông. Sao ở đâu cũng thấy có Động chúa vào trận là thế nào?
Đỗ Hùng Liệt kêu to lên:
- Rõ ràng là hoang đường! Tên chăn trâu cắt cỏ Hoa Lư làm gì dám đến nơi này! Bay lừa ta sao nổi!
Rồi Liệt múa tít thanh gươm ma quái, gươm rít lên rùng rợn. Liệt lăn xả vào Hồ Tường Thụy mà đâm chém. Hồ Tường Thụy cử đao cự chiến, rồi hô quân tận lực đánh phá. Cả doanh thủy quân Tế Giang bây giờ chẳng còn nơi nào là không có lửa. Tình thế binh Tế Giang không còn hi vọng thoát hiểm.
Động chúa nhập trận trợ chiến cho Hồ Tường Thụy, ngài thấy tất cả thủy doanh Tế Giang ngút lửa thì chỉ xuất hiện để các tướng Tế Giang thấy rồi toan lui ngay. Khi nghe tướng Tế Giang cứ lớn tiếng kêu réo ngài ra mà mắng thì giận lắm, liền quát lớn:
- Hồ Tường Thụy lui ra, để đích tay ta trừng trị lên này!
Thụy chưa kịp lui ngựa, thì ngựa Động chúa đã tràn tới. Đại phủ kích ra một đường vòng cung rộng đánh dội Đỗ Hùng Liệt trở lại. Liệt chưa hết kinh hoàng, thì cây búa trong tay Động chúa Hoa Lư đã lại hoa lên. Tức thì Đỗ Hùng Liệt quay ngựa bỏ chạy trở lại.
Khốn khổ, phải chi Đỗ Hùng Liệt chạy ra mé Đông là phía không có lửa, thì vì kinh hoàng chẳng còn kịp suy nghĩ lại đâm đầu chạy sang phía Tây. Cả một vùng lửa rực trời ùa vào mắt khiến Liệt thấy như có cả một biển ánh sáng đâm vào hai mắt, nhức buốt vô cùng. Liệt vội nhắm hai mí mắt, cố nhắm chặt không cho ánh sáng chói chang lọt vào. Liệt như người nhắm mắt mà đi trong đêm, chẳng thấy đường lối đâu nữa!
Việc xảy ra nhanh ước chỉ trong một lần nháy mắt, làm cho Động chúa cũng phải khựng lại. Nhưng Hồ Tường Thụy thì tay tự nhiên vươn ra nhấc cây cung. Thụy hành động như thể chỉ vì quen tay nhanh vô cùng, và dây cung bật mạnh nghe “phừng” một tiếng thì cách xa mới chỉ hơn chục bước chân, Đỗ Hùng Liệt ưỡn ngửa người lộn nhào xuống khỏi lưng ngựa. Mũi tên ra khỏi dây đi nhanh hơn tia chớp chuẩn đích giết Đỗ Hùng Liệt chết ngay. Các thuộc tướng của Liệt tận mắt chứng kiến sự việc, cả bọn kinh hãi rụng rời tay chân. Chẳng ai có cử động gì, chiến trường hốt nhiên khựng lại.
Hồ Tường Thụy phát đường tên xong, tướng Tế Giang ngã ngựa. Ông thét to lên:
- Đầu hàng! Đầu hàng!
Tiếng thét của Hồ Tường Thụy vang vang. Chúng quân Hoa Lư ùa theo chủ cũng hô lớn kêu gọi binh tướng Tế Giang đầu hàng. Thế là trong chốc lát cả thủy doanh Tế Giang, binh tướng buông khí giới đầu hàng quân Hoa Lư.
Động chúa bảo Hồ Tường Thụy:
- Ông ở lại, ta đi xem nơi khác!
Rồi Động chúa cùng với đám quân nhỏ bé của ngài bỏ đi ngay. Hồ Tường Thụy xem xét tướng Đỗ Hùng Liệt thấy mũi tên cắm vào lưng ngập đến tận đuôi mới ngừng lại. Hồ Tường Thụy thu cây gươm ma quái, sai quân thu dọn các nơi. Chôn cất cho Đỗ Hùng Liệt cùng các tử sĩ khác của đôi bên thật tử tế.
Hồ Tường Thụy đi gặp tướng thủy chiến Nghị Bá Tường lúc ấy cũng đã lên thủy doanh. Thụy bảo:
- Như vậy, nhờ ông lấy ba cửa trận mặt sông nên tôi mới dễ dàng xong được phía trước. Nay trận đã xong, ông ở lại hay là trở về Chu Diên?
Nghi Bá Tường bảo:
- Tôi được lệnh đem thủy quân lên đây, nay xong việc trở lại Chu Diên hay lại đây cũng được. Tuy nhiên, tôi nghĩ chiến trận Tế Giang không phải chỉ có một nơi này. Vậy tôi nên tạm ở lại đây, phòng khi có nơi nào cần tới. Ông nên thu xếp theo Động chúa thì hơn.
Hỗ Tường Thụy bảo:
- Thế cũng phải, vậy tôi sang mé Đông trợ chiến cho nơi khác, ông ở lại. Lúc này tôi nghe phía ngoài sông hò reo “vạn tuế Động chúa!” là thế nào? Lúc ấy Động chúa đang ở bên này, ngài vào trận ở đây mà!
Nghi Bá Tường đáp:
- Quân sư có dặn: Lúc vào trận, cứ cho quân hô như thế để áp đảo tinh thần binh tướng Tế Giang. Hóa ra lúc ấy ngài có mặt ở chỗ ông à?
Rối Hồ Tường Thụy thu xếp, điểm lại binh sĩ, ngay trong sáng hôm ấy kéo đi ngay. Theo tế tác dẫn đường gấp đuổi theo Động chúa đang mang quân tiến đến Phục Tượng.
Ngay khi lửa cháy trên thủy trại Tế Giang. Tế tác đã đập trong phủ đường Tế Giang, xin vào báo tin khẩn cấp cho Sứ quân biết.
Sứ quân Lữ Đường giật mình vì tiếng trống xin nhập phủ giữa lúc đêm khuya. Ngài vội truyền tướng hầu cận gấp ra xem có việc gì. Tướng ấy ra chỉ một thoáng hấp tấp chạy vào hổn hển trình:
- Bẩm trình Chúa công, Hoa Lư bất thần xua quân xâm phạm lãnh thổ ta!
Sứ quân nghe trình, tưởng như vừa có tiếng sét đánh ngang tai, ngài lập cập:
- Làm sao? Làm sao quân Hoa Lư xâm phạm Tế Giang ta? Ở đâu?
Tướng hầu cận ngẩn người, run lập cập. Tế tác mới chỉ báo như thế chưa nói rõ là tình hình thế nào!
Tức thì Sứ quân sai gióng trống, cho lệnh đi gọi hết thảy các tướng văn võ đến ngay nghị sảnh. Lệnh truyền ra, tế tác bay ngựa đi khắp nơi triệu gọi các tướng làm chộn rộn cả một vùng. Chẳng mấy chốc chẳng nơi nào ở Tế Giang lại không hay biết tai họa lớn đã xảy ra!
Ngay trong đêm hôm ấy, Sứ quân Lữ Đường mở hội tại đại nghị sảnh đường. Dự hội chẳng còn thiếu tướng nào trừ những vị trấn đóng ở xa.
Khai hội, giọng Sứ quân Lữ Đường thật nghiêm nghị bảo:
- Ta vẫn biết sẽ có một ngày bọn Hoa Lư thế nào cũng càn rỡ đi vào giang sơn ta. Không ngờ tin vừa mới báo là Hoa Lư đã vào lãnh thổ ta rồi! lúc này, chưa được biết rõ tình hình ra sao, vậy ta hội các ngươi lại để xem xét việc này ngay là vì thế!
Tức thì, Quân sư An Dương Thanh Sứ pháp sư lên tiếng, giọng the thé ma quái:
- Giặc Bộ Lĩnh ngông cuồng, nó hết hỗn láo đuổi vua, lại gian giảo lừa đảo người ta để cướp đất. Bày đặt ra những mưu mẹo làm rối cả thiên hạ. Nay lại cả gai xâm phạm giang sơn ta, ấy là lúc nó tự tìm lấy cái chết rồi! Xin Chúa công cho chúng tôi xuất chinh trước là để đuổi nó ra khỏi giang sơn ta. Sau sẽ thừa đà xua nó về tận hang ổ Hoa Lư không cho loài thú rừng, ấy được lang thang tác quái nơi này nữa!
Cả hội nghị hốt nhiên náo động, ông nào cũng hăm hở hùa theo pháp sư tranh nhau xin Sứ quân cho lệnh xuất quân. Sứ quân Lữ Đường từ lúc nói xong thì ngồi im nghe đám thuộc hạ luận bàn việc lớn. Tất cả chỉ một mực xin xuất quân nhưng chẳng thấy nói phải xuất quân thế nào. Ngài liền lên tiếng:
- Này các ông, Tá Công ta thuở trước ngang dọc đất trời, bảo là đi đã trọn thế gian thì cũng không đúng. Nhưng bảo là cõi này ta đi lại gần hết cũng không ngoa. Ở đâu ta cũng thấy thiên hạ đứng lên, mỗi người một phương trương cờ tự chủ. Danh xưng là Sứ quân, xem Cổ Loa như không còn nữa. Ta giữ Tế Giang, phía Bắc không dòm ngó Cổ Loa, chung quanh chẳng gây xích mích với các nơi khác. Thế mà cũng chỉ vì gian kế của Hoa Lư khiến ta có lần chẳng hòa với thiên hạ, thiệt mất đại tướng Trình Kế Ngọc, hổ tướng Dương Lệ Thống. Hận cũ chưa trả thì nay chúng nó lại càn rỡ, thằng chăn trâu tưởng rằng nó cưỡi đám trâu giơ ngọn lau làm cờ đem bầy mục tử ốm đói đi là phá phách được thiên hạ. Phen này không trừng trị nó thẳng tay thì còn gì là Tá Công ta trong trời đất nữa! Lúc này ta chưa biết rõ tình hình, vậy các ông nghĩ xem cự với Bộ Lĩnh ta nên xuất quân như thế nào?
Xuất quân như thế nào lúc này, nhất định chẳng ai biết vì trên từ Sứ quân xuống đến các tướng chưa một ai hiểu tình thế. Vì vậy Quân sư pháp sư An Dương Thanh Sứ lại nói:
- Bẩm Chúa công, trước hết ta phải nên xét xem các nơi ta bố phòng trấn quân như thế nào, sau đấy mới xét đến đường đi của Hoa Lư. Có thế mới là biết việc chiến trận!
An Dương Thanh Sứ pháp sư huênh hoang xem thiên hạ có khi còn rẻ hơn cả chủ nghĩ. Cho nên nói xong thì vênh vênh gương mặt choắt với cặp mắt ti hí, ngoác miệng rộng nói giọng the thé, rồi lại hếch chiếc mũi dài lên hít hít. Chẳng để ai kịp nói, pháp sư lại tiếp:
- Giặc Hoa Lư mang thân vào giang sơn ta, ấy là nó giúp ta khỏi phải vất vả đi xa tìm nó!
Vỗ vỗ vào chiếc túi treo ở thắt lưng, pháp sư bảo:
- Ta sai chín con biển bức (dơi) thần này ra tay, thì chỉ ngồi yên trên ghế cỏ nơi đây cũng đủ lấy mạng thằng chăn trâu cắt cỏ ấy rồi! Sứ quân đừng e ngại gì cả. Vả lại, mới đây Tế Giang ta được Bắc triều biết là nơi khởi đại nghiệp. Có Chúa công là chân mệnh đế vương, cho nên đã có một sứ xuống giúp đỡ. Như thế hỏi Bộ Lĩnh ra khỏi hang động Hoa Lư của nó liệu có còn xác để chạy về hang ổ được nữa hay không?!
Đến đây thì trên từ Sứ quân xuống đến các tướng văn võ đều hỉ hả. Quả thật Quân sư An Dương Thanh Sứ nói chẳng sai. Một số người có mơ hồ biết việc Tống triều cho người xuống Tế Giang, còn nhiều người khác nhờ An Dương Thanh Sứ vì huênh hoang tiết lộ việc cơ mật nên bây giờ mới biết. Mà mới chỉ biết đôi chút việc lớn đến như vậy thì ông nào cũng lại muốn được biết thật cặn kẽ. Vì thế tướng quân lương Hồ Minh Duy liền nói:
- Bẩm Chúa công, thưa Quân sư. Việc Bắc triều giúp đỡ ta dựng đại nghiệp như thế nào? Xin nói rõ để chúng thuộc hạ được mừng rỡ!
An Dương Thanh Sứ dường như sợ Sứ quân Lữ Đường nói trước mất việc lớn lao quan trọng đến như vậy. Liền chẳng nể nang hay đợi lệnh gì của Sứ quân, cứ bô bô kể hết việc mật ra, rồi rói:
- Các ông thấy chưa, như thế thì phỏng Đinh Bộ Lĩnh làm gì được Chúa công ta! Ngày trước, y lập gian kế khuấy động cả thiên hạ, rồi lại bày đặt ra việc tiêu với địch ở Siêu Loại, những tưởng là làm như thế thì thiên hạ sợ hãi khoanh tay ngồi im cho y lộng hành được mãi chắc. Bây giờ y vào giang sơn ta thì nhất định là y phải tàn vong! Tế Giang ta có thủy trại không thua gì thủy trại của nước Ngô thời xưa trên sông Trường Giang. Lại có ông Đỗ Hùng Liệt cai quản với thanh bảo kiếm sai khiến dược cả quỷ thần, đến đại đô đốc Châu Do nước Ngô còn phải thua tài. Rồi đến hùng doanh Phục Tượng tướng tài nhiều vô kể. Đại tướng Lương Tích Lịch trấn giữ ở đấy tài đã vượt Lữ Bố, Tử Long, lại có gươm báu A Hồ Lục Cương không có địch thủ nào ở đời đỡ được đến miếng thứ ba. Làm sao Đinh Bộ Lĩnh với cái búa mẻ của y lại có thể vào được giang sơn ta an toàn mà chạy về được! Xa hơn chút nữa, là hiểm địa đầm Cự Linh có thần tiên Phạm Hoàng Linh. Chê hết các binh khí chỉ dùng cung thiết đằng, có thể bắn rụng được cả trăng sao. Cuối cùng đến Hỏa Châu Bát Tràng mặt đất tự phun lửa, nhưng có tướng Cao Xuân Nhuận với cây thiết tiên có thể bạt được núi cao trấn giữ. Giặc ngoài nào vào mà còn được mạng để thoát ra! Giang sơn ta một tòa lồng lộng, đấy là đất linh thiêng của người chân mệnh khởi đại nghiệp. Cho nên mới có toàn những thần tiên Quy về phò tá. Hoa Lư đến thì nhất định sẽ thảm bại chạy về mà thôi!
Quân sư An Dương Thanh Sứ hào hứng nói một hơi dài, càng nói càng như thể lửa cháy đã to lại được thêm gió lớn. Cho nên pháp sư chỉ mới vừa ngừng lại chực nói nữa, thì đã có người nói lớn lên:
- Phải, phải! Giang Sơn ta như thế, hùng tướng của ta như thế, tất cả theo về phò tá cho minh chủ là Chúa công ta dựng đại nghiệp, sao lại chẳng thành. Chúa công ta đã thế, đứng đầu trăm tướng văn võ còn có đại pháp sư tài thông trời cao. Cho nên cả cõi này sắp được bàn tay nhiệm màu của Chúa công ta đậy lên che chở cho là đúng rồi! Đã thế, Bắc phương Tống triều tuy ở xa vạn dặm mà cũng thấy được đấng con trời mai sau, nên cho người xuống giúp rập là phải lắm rồi! Ngay đây, chúng ta nên tung hô Chúa công để cho chính khí trong trời đất được hiển hiện. Sau sẽ bàn đến việc lớn mới là phải!
Thế là cả đại sảnh ầm ầm hô vang: “Vạn tuế Chúa công! Vạn tuế Chúa công!”. Làm như thể đang trong lúc thanh bình quần thần trăm họ vui mừng tung hô vị Chúa tể anh minh, mà quên mất tất cả chiến trận các nơi!
Đợi cho việc tung hô khen nịnh hết. Sứ quân Lữ Đường nói:
- Phải, lẽ ra ta không nói cho các ông biết việc Tống triều vội, vì ta nghĩ đấy là việc tự nhiên phải có của riêng ta chẳng nên nói ra. Nay các ông đã biết thì để ta cho mời sứ giả của Tống triều tới cùng dự hội bàn việc chung mới được.
Chúng thuộc hạ lại hoan hô, cho là hành động của Lữ Tá Công thật quang minh chính đại. Rất tốt đẹp cho việc bang giao nước Nam với Bắc triều mai sau?
Sứ quân cho người đi mời sứ giả của Bắc triều. Người đi mời hồi lâu vẫn chẳng thấy trở lại. Cả hội sảnh nóng lòng chờ đợi vị sứ giả thay cho Tống đế đến phò trợ cho Sứ quân. Cuối cùng người đi mời sứ đã quay trở lại, người ấy hớt hơ hớt hải trình:
- Bẩm trình Chúa công, sứ giả của Tống triều đi đâu mất rồi, biệt dinh dành cho ngài ấy bỏ trống. Hỏi quân canh thì quân canh nói: Sứ giả đi vắng không nói bao giờ thì trở về!
Cả hội sảnh mất cả hào hứng, ai cũng xuýt xoa tiếc rẻ là kém may mắn không được thấy mặt sứ giả triều Tống. Sứ quân Lữ Đường vô cùng thắc mắc, bởi ngài biết chắc việc sứ Tống triều xuống Nam là vô cùng bí mật. Chính sứ cũng nhiều lần căn dặn Sứ quân là phải hết sức kín đáo đừng để cho ai biết việc này. Rồi sứ như người trong tù tự giam thân trong biệt dinh đến như ra khỏi phòng riêng cũng chẳng có. Mỗi lần nghỉ việc thì Sứ quân đều một mình đích thân tới phòng ấy mà bàn bạc. Sao bây giờ sứ lại bỏ đi đâu như thế?!
Sứ quân hoang mang không biết tìm sứ ở đâu bây giờ, cả nghị sảnh lao xao bàn tán. Người nào cũng có vẻ thất vọng, nhưng thất vọng nhiều hơn cả là Hồ Minh Duy. Cơ hội cho một ngày mai tha hồ vơ vét thế là mất!
Sứ quân Lữ Đường lúc ấy nói:
- Việc sứ giả đi vắng, rồi sẽ tính sau. Lúc này, việc ta ta hãy xem xét trước đã. Đại trượng phu đứng trong trời đất phải tự lo lấy việc của mình trước đã. Rồi sau mới có cơ hội để cho thiên hạ theo về!
Sứ quân thuở thiếu thời đi lại chốn giang hồ. Tai nghe nhiều lời nói hay ho thì nhớ vào đầu. Ngài hay đem những lời nói đầy khí phách rỗng không ấy của giới giang hồ để nói. Làm cho người ở chung quanh lại tưởng rằng ngài là bậc hào kiệt ở đời. Cho nên khi nghe Sứ quân nói như vậy thì Quân sư An Dương Thanh Sứ lại nói:
- Bẩm Chúa công hùng tráng, đúng thế, việc của mình thì mình phải lo liệu trước đã. Chứ không nên cứ đợi chờ trông mong vào thiên hạ được. Vậy, nay giặc Hoa Lư đã vào bờ cõi, nó nhòm ngó thủy trại của ta trước, thế là dại dột! Thủy trại của ta lập theo thế trận Bát quái thu gom cả trời đất vũ trụ vào trong, biến hóa không cùng. Lại có tướng Đỗ Hùng Liệt trấn giữ thì chẳng có gì phải lo lắng cả. Ngay đến như Đỗ Cảnh Thạc ở Đỗ Động vốn là tướng của triều đình. Có thủy trại lớn lao trên sông lớn thế mà bao nhiêu năm nay, y có dám dòm ngó thủy trại của ta đâu. Vậy mà nay Hoa Lư dám vào đấy có khác gì con cá con tự chui đầu vào trong rọ. Chỉ vài lúc nữa thế nào ta cũng có tin mừng.
Cả nghị sảnh nghe Quân sư pháp sư giảng luận, chẳng ai lại chẳng tin như thế. Hoa Lư làm gì có thủy quân, thế mà đi gây sự với một thủy trại lớn lao như thế. Có khác nào tự tìm đến chỗ chết không?!
Sứ quân Lữ Đường hài lòng, ngài bảo:
- Phải, Hoa Lư đánh vào đâu trước ta chưa biết kết quả được. Nhưng đánh vào thủy trại Bồ Đề của ta thì ta tin chắc là trận đồ bát quái chỉ trong một trận là dìm chết hết bọn Hoa Lư. Ta yên lòng chờ tin lành! Còn bây giờ, ta xét đến đại trại Phục Tượng là trại canh giữ cho cả phủ đường ta ở phía Nam. Giặc không dám tới đó là điều chẳng có gì khó hiểu cả!
Bên ngoài trời đã bắt đầu rạng sáng, trống tuần canh đập thưa thớt. Trong nghị sảnh mọi người bắt đầu thấy dễ chịu với buổi sớm mai không khí mát lạnh.
Sứ quân bảo:
- Thủy trại Bồ Đề giặc dám nhòm ngó, ấy là vì có đường sông dễ đi lại. Còn đường bộ, giặc muốn tới đây không thể không qua Phục Tượng. Mà qua Phục Tượng thì ta quyết chắc không thể được!
Nghị sảnh vui mà đầy hào khí. Sứ quân vừa ngửng đầu toan nói tiếp, thì trống báo xin nhập sảnh trình việc đập như có đại hỏa hoạn. Sứ quân nhíu mày, rồi truyền quân hầu cho tế tác vào trình.
Tế tác vào nghị sảnh, áo quần tả tơi thấm cả máu. Rõ ràng là y bị thương ở nhiều nơi. Cả nghị sảnh sửng sốt. Sứ quân kinh mang trợn tròn hai mắt mà nhìn. Rồi ngài quát:
- Tin gì, trình mau!
Tế tác lập cập quỳ xuống, hổn hển đứt quãng:
- Bẩm trình Chúa công, trình Chúa công...
Lữ Đường chịu không nổi nữa quát to:
- Sao?
- Bẩm trình Chúa công, thủy trại Bồ Đề đã bị Hoa Lư thiêu rụi, tan mất rồi. Đại tướng quân Đỗ Hùng Liệt đã tử trận!
Thật là giữa nắng buổi trưa lại có tiếng sét lớn giáng ngay xuống giữa đầu cũng không bằng. Cả nghị sảnh sửng sốt đến nín câm cả! Tế tác vẫn quỳ trước sân.
Lát sau, Quân sư An Dương Thanh Sứ the thé hỏi:
- Thế bây giờ tình hình thế nào?
Tế tác đã hổn hển, trình:
- Bẩm trình Quân sư, chính Hoa Lư Động chúa Đinh Bộ Lĩnh cầm quân. Lẽ ra y chém chết tướng quân trại trưởng, nhưng sau lại để cho thuộc hạ bắn chết ông ấy!
Đinh Bộ Lĩnh đích thân cầm quân đánh thủy trại Bồ Đề! Lại thêm một tiếng sét lớn nữa khiến cho cả nghị sảnh ù tai choáng váng. Thế thì nhất định Bộ Lĩnh không chỉ lấy thủy trại rồi thôi.
Sứ quân giọng không được bình tĩnh, hơi run run hỏi:
- Trận Bồ Đề đã xong chưa?
- Bẩm trình Chúa công, đã xong từ quá nửa đêm!
- Còn lúc này?
- Bẩm trình Chúa công, sau khi thủy trại của ta thất thủ. Đinh Bộ Lĩnh mang binh tướng nhắm hướng Phục Tượng tiến phát!
Đến đây thì không còn là tiếng sét nổ nữa, mà là nước đang sôi đem dội xuống đầu Sứ quân cùng hết thảy chúng tướng văn võ.
Sứ quân hỏi vội:
- Có tin gì ở Phục Tượng chưa?
- Bẩm trình Chúa công. Phục Tượng thì chưa có tin, chắc cũng chỉ trong tinh mơ sáng nay là có. Nhưng ở phía Bắc thì quân Hoa Lư không biết quân hành từ lúc nào mà tin cho hay: Hoa Lư lên đến ngã ba Xích Đằng, vượt qua được Lai Xá trước cả khi lửa bắt đầu cháy ở thủy trại của ta. Lúc này chắc giặc đã tới Phú Thị rồi!
Sứ quân loay hoay trên ghế bọc gấm xanh Tô Châu. Ngài cảm thấy chóng mặt dị thường, muốn ngã xuống. Quân sư An Dương Thanh Sứ thấy chiếc ghế lót nệm cỏ của mình đang ngồi như thể có ai vừa châm lửa vào. Quân sư chỉ chực đứng dậy chẳng biết để làm gì? Các tướng im thin thít rồi bỗng ồn ào bàn tán với nhau. Như thế là thế nào? Sao Hoa Lư lại có thể tiến binh nhanh hơn cả gió vậy được?
Sứ quân hỏi:
- Giặc Hoa Lư vào Lai Xá các ngươi có biết do ai chỉ huy không?
- Bẩm trình Chúa công, việc lạ lắm. Đinh Bộ Lĩnh cầm quân đánh thủy trại, chẳng ai lại không trông thấy, ấy vậy mà tế tác phía Bắc của ta cho hay: Đích thân Đinh Bộ Lĩnh cầm quân giục trống đưa quân phá Lai Xá, tràn về Phú Thị. Chúng thuộc hạ không hiểu ra sao cả!
Thế là thế nào? Đinh Bộ Lĩnh có phép phân thân chăng? Tế sứ còn quỳ trước sảnh, thì lại có trống đập vang vang báo hiệu có tế tác xin vào trình tin khẩn. Bây giờ thì ai cũng thấy khiếp sợ. Vẫn biết rằng sẽ chẳng có tin gì vui, thế nào cũng là những tin khủng khiếp. Thế mà ai cũng vẫn nóng lòng muốn biết ngay.
Tế tác hấp tấp chạy vào chẳng kịp quỳ lại đã nói ngay:
- Bẩm trình Chúa công, quân Hoa Lư ở mặt Bắc không biết vì đâu lại có cả binh Cổ Loa do tướng triều đình cai quản, hợp sức theo dòng Nghĩa Trụ tràn xuống Xuân Lâm. Chiến trận ở đấy thế nào cũng sẽ lớn lắm!
Khủng khiếp, thật là khủng khiếp. Đánh Xuân Lâm có khác gì đánh thẳng vào phía Bắc phủ đường Tế Giang. Lần này thì Sứ quân không còn run giọng nữa mà là lạc giọng lắp bắp:
- Nghĩa Trụ, Xuân Lâm! Còn Phục Tượng?
Sứ quân không phải đợi lâu, lại có tế tác chẳng kịp đập trống đã vội vã chạy vào thưa:
- Bẩm trình Chúa công. Đinh Bộ Lĩnh cầm quân đang đánh phá kịch liệt doanh trấn Phục Tượng, tình thế có phần nguy ngập lắm. Tướng quân Lương Tích Lịch cho người về phủ đường cầu viện!
Có tiếng ghế xô thật mạnh, rồi lại có tiếng người ngã xuống nghe “huỵch” một tiếng lớn. Cả nghị sảnh náo động, người đứng người ngồi hỗn độn. Quân sư phải thét to lên the thé:
- Các ông bình tĩnh! Có việc gì thế?
Thì ra, quân lương tướng Hồ Minh Duy nghe tin trình thì hồn bất phụ thể, lật đạt đứng bật dậy, toan chạy vội về nhà để lo thu xếp gia tư tài sản đi lánh nạn. Ông ta vốn phục phịch bây giờ hấp tấp quá xô ghế đứng dậy lính quýnh, lại vướng vào ghế mà ngã xuống! Nghị sảnh đường phủ Tế Giang chưa bao giờ lại có quang cảnh bi đát đến như thế!
Quân sư An Dương Thanh Sứ sau khi biết việc Hồ Minh Duy vấp ngã, thì thưa với Sứ quân:
- Bẩm Chúa công, lúc này ta không còn thì giờ để nghị bàn xem Đinh Bộ Lĩnh thế nào nữa, mà phải gấp mang binh tướng đi cự địch. Bản đạo lại xin đem binh tướng đi giết Đinh Bộ Lĩnh ngay!
Sứ quân lập tức bằng lòng. Ngài sai An Dương Thanh Sứ mang gần hết binh còn ở lại phủ đường đi cùng các tướng: Trần Đức Kiệt, Lý Phúc Tảo, Phạm Đại Hải và Lê Doãn Hồ. Ngay trong đêm kéo vội đi cứu Phục Tượng. Pháp sư kéo quân đi rồi, Sứ quân ngồi thì nhìn đám thuộc hạ còn lại trong lòng buồn rầu chen lẫn lo lắng. Suốt cuộc đời ngài lúc chưa khởi nghiệp đi lại trên chốn sông nước, chưa từng bao giờ lại chịu lép vế khuất phục một ai. Rồi thu phục được thuộc hạ, chọn đất cát cứ ở Tế Giang suốt mấy mươi năm. Chưa bao giờ lại có hồi phải lo lắng như lúc này! Sứ quân cứ ngồi thừ ở đại sảnh như vậy cho đến khi quân vào trình:
- Bẩm trình Chúa công, có phu nhân tới!
Sứ quân đang thẫn thờ vội đứng lên ra đón phu nhân. Sứ quân Lữ Đường đi lại thương hồ bến nào cũng là nhà. Cho nên lúc chưa xưng Sứ quân thì rất nhiều vợ. Khi xưng hùng rồi thì lấy con gái một vị cựu quan của triều đình họ Thẩm. Con gái họ Thẩm năm đó đi lễ chùa ngày rằm tháng Bảy, nhan sắc lộng lẫy mà quyến rũ vô cùng thì ép lấy làm vợ. Lại bảo với ông Thẩm: “Khi nào Lữ Đường nên đại nghiệp, sẽ phong cho làm Tể Tướng”. Họ Thẩm trong lòng bất mãn có muốn chối cũng không được, lúc nào cũng ấm ức mong mỏi có cơi hội trả được mối hận. Còn cô gái tên là Minh Minh bị ép duyên làm vợ Sứ quân Lữ Đường quyền uy một vùng. Nhưng lúc nào cô cũng âm thầm đau khổ. Chung chăn chung giường với Sứ quân nhưng chẳng bao giờ cô lại chịu nhận Sứ quân Lữ Đường là người chồng chân chính của mình. Cô vẫn chỉ coi Sứ quân Lữ Đường là phường giặc cướp, không có yêu thương mà chỉ có hận thù. Hai cha con cựu quan họ Thẩm giữ thái độ thản nhiên, không tỏ chút gì là có bất mãn Sứ quân. Hai cha con thường đem việc thời thế ra bàn với nhau. Vì thế phu nhân Minh Minh biết rõ mọi việc ở Giao Châu, cả đến việc Tống triều bí mật cho người xuống nước Nam, vào Tế Giang mê hoặc Sứ quân Lữ Đường thì cha con họ Thẩm cũng hay biết. Hai người âm thầm lo lắng về tai họa mất nước mai sau, nhưng chẳng biết làm thế nào để cản được Sứ quân Lữ Đường. Đành là hãy cứ âm thầm theo dõi xem sao.
Nay, trong đêm Lữ Đường được tin dữ, hội chúng tướng bàn bạc, thì Thẩm Minh Minh nghe biết. Đợi đến gần sáng cũng không thấy Sứ quân Lữ Đường trở lại, liền gọi thị tì sửa soạn đưa bà tới hội sảnh.
Sứ quân Lữ Đường từ ngày được Thẩm Minh Minh làm vợ, thì gần như bỏ hẳn thói trăng hoa của tay giang hồ. Sứ quân yêu quý mà nghe lời khuyên can của nàng Minh Minh lắm, vì thế Lữ Đường bớt được nhiều điều hung ác. Đám thuộc hạ cũng bớt được những hành vi bạo thiên nghịch địa. Chỉ trừ có pháp sư An Dương Thanh Sứ thì ý là có phép màu được mọi người kính trọng nể nang, nhất là phu nhân là người rất tin theo đạo Phật, ma thuật của pháp sư thì có phải là đường đi của Phật pháp đâu mà pháp sư vẫn cứ vin vào đấy để hoành hành. Vì vậy pháp sư vẫn chứng nào tật nấy, làm hại biết bao nhiêu con gái nhà lành. Nhiều lúc pháp sư nhân lúc không có mặt Sứ quân lại còn ngông cuồng buông lời trăng hoa cả với phu nhân. Phu nhân giận lắm nhưng không dám nói cho chồng biết. Cố gìn giữ xa lánh pháp sư phòng tai họa.
Nay, phu nhân Minh Minh đến nghị sảnh, một điều chưa bao giờ phu nhân lại làm như thế, thì nhất định là phải có việc lạ. Vì vậy khi nghe báo Sứ quân vội ra đón. Đám thuộc hạ nịnh bợ cũng vội tranh nhau chạy ra.
Phu nhân vào nghị sảnh, bà chẳng nhìn một ai nhưng cặp mắt êm vô cùng của bà đã nhận thấy: Không có pháp sư ở đây!
Phu nhân nói:
- Bẩm Chúa công, nửa đêm hội nghị ắt là Tế Giang có việc lớn? Việc lớn trong lúc này, tất không ra ngoài việc Hoa Lư tiến binh. Thưa có phải thế không?
Sứ quân Lữ Đường tuy rất yêu quý Minh Minh, nhưng chẳng bao giờ nói với nàng về những việc tranh hùng ở đời. Phu nhân cũng chẳng hỏi, cho nên Sứ quân cho rằng nàng cũng chỉ là một cô gái tuy nhan sắc tuyệt vời nhưng không biết gì việc trong thiên hạ. Nay nghe phu nhân hỏi, Sứ quân có phần ngạc nhiên, nhưng ngài thản nhiên bảo:
- Việc thiên hạ, ầm ĩ hay yên lặng, phu nhân để tâm làm gì. Hoa Lư quả thật có ra tay giặc cướp nhưng làm gì được ta! Phu nhân dừng bận tâm!
Minh Minh phu nhân nghe Sứ quân nói, nhìn quang cảnh nghị sảnh chẳng đông đủ các tướng, thì bà bảo:
- Chúa công nói như vậy chắc là để thiếp yên lòng, chứ làm sao Hoa Lư lại chỉ ra tay cướp bóc được! Còn nếu Chúa công nghĩ đúng như thế, thì quả thật Chúa công không nhìn được việc lớn thiên hạ. Các tướng văn võ của Chúa công cũng lại chẳng có ai khuyên can Chúa công rồi!
Lần đầu tiên trong đời cát cứ một phương xưng là Sứ quân. Lữ Đường được nghe người vợ yêu quý của mình nói ra những lời lẽ như vậy. Sứ quân kinh ngạc chen lẫn tò mò, liền hỏi:
- Phu nhân của ta sao hôm nay tự dưng lại nói như vậy? Ý phu nhân nghĩ Hoa Lư là thế nào?
Phu nhân cất giọng thật thanh tao mà nghiêm nghị, đáp:
- Bẩm Chúa công, ngài giữ một phần Giao Châu, xưng là Sứ quân, chống lại mệnh triều đình, mưu đồ đại nghiệp. Tất không thể không nhìn ra chung quanh, không thể không biết trong thiên hạ còn có những Sứ quân khác nữa. Ai cũng muốn dựng thành đại nghiệp. Đến Hoa Lư, ngày trước Đinh Bộ Lĩnh được Sứ quân Trần Lãm ở Bố Hải Khẩu trao cho cả sự nghiệp, binh quyền. Thế mà Bộ Lĩnh bỏ về Hoa Lư, âm thầm chiêu tài đón tướng, dần dần bành trướng thế lực. Sau lại được người tài ở tận Bồ Điền theo về giúp rập. Nào là đuổi được bình triều, hàng phục Đằng Châu, chiêu hàng được Sứ quân Phạm Phòng Át, thu giữ Bình Kiều. Mới đây chỉ trong một thời gian ngắn là dứt xong Tây Phù Liệt, làm cho Sứ quân Nguyễn Siêu tan nát cơ đồ, bại tẩu không biết lúc này đi về đâu! Như thế, thì sao lại có thể bảo là Hoa Lư chỉ ra tay cướp bóc loanh quanh được! Thiếp nói là Chúa công phải nhìn thấy việc lớn trong thiên hạ là thế!
Trên từ Sứ quân xuống đến đám tướng văn võ còn lại. Hết thảy đều ngẩn người nghe phu nhân Minh Minh nói, những lời nói nghị luận chưa từng bao giờ được nghe ở người nào nơi Tế Giang này thốt ra.
Sứ quân dịu dàng bảo:
- Hay lắm! Ta không ngờ phu nhân yêu kiều của ta lại là người quảng kiến, hiểu thời cuộc đến như vậy! Theo phu nhân nghĩ, thì việc lúc này là thế nào?
Phu nhân như thể đã biết tất cả rồi, bà đáp ngay:
- Thưa Chúa công, thiếp nghĩ: Hoa Lư vào thiên hạ, có tính toán kỹ càng. Cứ xem từng bước đường đi của Hoa Lư thì thấy được chủ mưu của tay hùng tài thao lược. Hoa Lư muốn thu thiên hạ. Thế mà trước kia thắng thế binh triều lại không thừa cơ hội về lấy Cổ Loa, nép mình để xem thiên hạ các nơi náo loạn. Sau mới từng bước vững vàng bước ra. Trước hết, Chúa công thấy có việc tiêu địch ở sông Kinh Phố thành Siêu Loại. Rõ ràng là báo cho cả thiên hạ ta hãy biết chung sức bảo tồn lấy quốc thổ giang sơn. Nhờ đấy Giao Châu ta yên bình được ít năm. Sau đến ngày nay triều đình của vua Ngô suy tàn thì có việc Bắc sứ vào Giao Châu, rành rành là họ mưu định việc thu phục Giao Châu rồi. Tiếng sáo ngày xưa một đằng tỉnh ngộ dân tộc Giao Chỉ, một đằng cột tay Tống triều không cho hành động. Đến nay thì Tống triều đã cởi được dây trói. Họ không đánh Cổ Loa mà lại muốn triệt hạ Hoa Lư trước, sau mới lấy Giao Châu. Có phải là Bắc triều đã ước lượng được đâu là hùng tài đối thủ. Có phải vì thế mà Hoa Lư phải bước hẳn ra ngoài thiên hạ không?
Nghị luận của Minh Minh phu nhân thật dài. Giọng bà thật êm có sức mạnh sai khiến vô cùng làm cho Sứ quân Lữ Đường ngơ ngẩn hoang mang. Chưa bao giờ Sứ quân lại được nghe những lời nghị bàn lớn lao rành mạch đến như thế! Phu nhân ngừng nói, Sứ quân thẫn thờ hỏi:
- Vậy, phu nhân nghĩ thế nào?
Phu nhân như đã có định kiến, bà đáp:
- Bẩm Chúa công, thiếp chưa được biết, nhưng tin rằng Hoa Lư đã vào bờ cõi Tế Giang ta...
Sứ quân nói ngay:
- Đúng thế! Hoa Lư đã vào bờ cõi ta, phu nhân nghĩ thế nào?
Đến lượt phu nhân hỏi lại Sứ quân. Bà làm như thể nơi đây chỉ có Sứ quân với bà, không có người nào khác nữa, bà nói:
- Bẩm, Chúa công ước định con đường đi của Hoa Lư trên giang sơn ta như thế nào?
Câu hỏi này, Sứ quân không thể trả lời được. Ngài không tin là Hoa Lư lại dám xâm phạm giang sơn của ngài. Và khi Hoa Lư đã vào Tế Giang, ngài đã hấp tấp nghị bàn với chúng thuộc hạ và cho binh tướng đi cự địch rồi. Nay nghe phu nhân hỏi, ngài đáp:
- Giặc Hoa Lư xâm phạm thủy trại của ta, lại muốn đánh Phục Tượng. Ta đã cho binh tướng đi cự địch rồi!
Phu nhân nhìn Sứ quân, rồi nhìn các tướng một lượt, bà nói:
- Bẩm Chúa công, binh ngoài vào sâu giang sơn ta, Chúa công mới cho binh tướng đi cự địch. Làm sao xoay chuyển được nữa! Hoa Lư không có thủy quân, thế mà lại đánh thủy trại của ta trước. Rõ ràng là Hoa Lư biết phép thủy chiến, lại trù liệu triệt hạ binh trợ chiến lâu dài của ta, sau mới tiến đánh đường bộ. Thiếp không phải là tướng cầm quân, nhưng nghĩ rằng thế nào Hoa Lư cũng hiểu những nơi nào của Tế Giang ta là nơi phải đánh. Thiếp tin là: Chẳng mấy chốc nữa, thế nào ta cũng có tin thủy trại thất thế. Đại doanh Phục Tượng không còn, sau đấy chẳng phải chỉ có thế là hết!
Sứ quân kinh hãi. Ngài không giận phu nhân nói ra những lời lẽ làm cho các thuộc tướng của ngài thế nào cũng phải sợ hãi, ngài hỏi:
- Vậy, phu nhân nghĩ Hoa Lư còn xâm phạm những đâu?
- Bẩm, không phải Hoa Lư sẽ chỉ xâm phạm mà còn tiến lấy các nơi khác nữa! trước hết, khi Hoa Lư lấy Tây Phù Liệt có binh Cổ Loa kéo xuống hợp chiến. Nay biết đâu lại chẳng có binh Cổ Loa quân hành tiếp giúp Hoa Lư đánh phía Bắc giang sơn ta thì sao?
Thật thế, chưa lúc nào Sứ quân và các tướng của ngài lại nghĩ đến phía Bắc có thể bị Hoa Lư hay nơi nào khác tiến đánh. Nay nghe phu nhân nói tự nhiên là Sứ quân thấy nghẹn thở. Ngài chưa kịp nói gì thì đã lại nghe có trống báo tin tế tác xin vào trình tin gấp. Sứ quân mặt nhợt nhạt run giọng truyền tế tác vào ngay.
Tế tác vào trình:
- Bẩm trình Chúa công, chúng con đã được đầy đủ tin về thủy trại Bát quái đã xong hoàn toàn, tướng quân Đỗ Hùng Liệt tử trận. Các tướng khác của ông Liệt đã đầu hàng Hoa Lư Động chúa!
Sứ quân thở hắt ra, phu nhân Minh Minh ôn tồn hỏi:
- Các nơi khác thì sao?
- Bẩm trình phu nhân, riêng chúng con ở thủy trại cho nên không được biết các nơi khác!
Tế tác thủy trại không biết việc các nơi khác, không ai ở đây biết, nhưng tất cả chẳng phải nóng lòng chờ đợi lâu, đã có trong hiệu xin cấp trình vào doanh!
Tế tác vào doanh, quỳ gục xuống hổn hển trình:
- Bẩm lạy trình Chúa công, chúng con tế tác miền Bắc được lệnh trình về: Hoa Lư đưa quân đi đường ngã ba Xích Đằng, phá tiền doanh Lê Xá, đốt cháy Phú Thị, theo dòng Nghĩa Trụ đã tràn xuống đến Xuân Lâm rồi! Khi con được lệnh mang tin về trình, thì Đinh Bộ Lĩnh đang thúc binh tướng bỏ thuyền lên bộ tiến đến Xuân Lâm!
Sứ quân thốt lên:
- Đinh Bộ Lĩnh! Sao lạ thế? Y đang cầm quân đánh thủy trại của ta, sao lại còn cầm quân ở Xuân Lâm là thế nào?
Tế tác một mực trình là được lệnh đưa tin khẩn cấp về phủ đường như thế. Còn ai cầm quân ở các nơi thì không được biết. Nghị sảnh hoang mang, rõ ràng hai nơi chiến trận khác nhau sao lại đều có Đinh Bộ Lĩnh xuất trận, chắc là có điều sai lạc! Sứ quân ngồi thừ, trong lòng bối rối không biết phải tính ra sao, phu nhân lên tiếng:
- Bẩm Chúa công, như thế là Hoa Lư cùng một lúc cất quân vào Tế Giang nhiều mặt. Cho nên hai mặt Bắc Nam xa nhau mà cùng khởi chiến trong đêm. Thiếp nghĩ thế nào cũng còn nơi khác nữa đang xảy đánh nhau!
Lời nói của phu nhân càng làm cho Sứ quân hoang mang, ngài ngồi thừ trong lúc các tướng lao xao bàn tán. Nghị sảnh đường bối rối chẳng khác gì như đàn kiến đang đi gặp phải dòng nước chẳng biết phải chạy đi đâu, cứ loanh quanh lúng túng mãi một chỗ! Phu nhân Minh Minh lại bảo:
- Bẩm Chúa công, Chúa Công nên đem hết binh tướng sẵn sàng để ra trận là hơn!
Đến lúc này Sứ quân mới chợt lên tiếng:
- Sao lại thế này? Làm sao Đinh Bộ Lĩnh lại có thể đi lại trên giang sơn của ta như thế được? Ta còn có Bắc triều hỗ trợ, thế nào Bộ Lĩnh cũng không thoát khỏi bị trừng trị!
Phu nhân nghe Sứ quân nói, vẻ mặt bà tỏ vẻ không bằng lòng. Bà chực lên tiếng thì tế tác như làn gió mạnh ùa vào kêu lớn lên:
- Bẩm trình Chúa công, nguy to rồi! Đinh Bộ Lĩnh mang binh kịch phá đại doanh Phục Tượng. Tướng quân Lương Tích Lịch chống cự không nổi cho người về cầu cứu!
Lại Đinh Bộ Lĩnh! Lần này là Phục Tượng! Sao lại có thể như thế được! Sứ quân nghe trình bỗng thấy rã rời thân thể, ngài ngồi ì ra chẳng nói cũng chẳng tỏ thái độ gì khác cả. Phu nhân Minh Minh thay Sứ quân phát lệnh:
- Tất cả các tướng, mau đem quân để Chúa công vào trận!
Mệnh lệnh của phu nhân càng làm cho các tướng thêm kinh hãi, lòng người bây giờ tan rã. Nếu như phu nhân bảo mọi người ai nấy hãy mau mau tìm đường tự cứu trốn chạy, thì chắc lúc này trong nghị sảnh chẳng còn ai ở lại!
Phu nhân Minh Minh thật sáng suốt, bà từng rất hiểu công việc cùng những hành động của chồng bà và đám thuộc hạ suốt từ mấy chục năm nay. Bà biết rõ tâm hồn của đám thuộc hạ chỉ thuần hùa vào, nịnh chủ để mong cầu lợi riêng. Có cầm quân ra trận cũng chẳng qua là hành động của đứa thất phu hung hăng nhiều hơn là của một người làm tướng cầm quân. Bây giờ tình cảnh như gió cuốn xoay tròn, chỉ mới từ nửa đêm đến gần giữa sáng hôm nay Tế Giang lâm nguy xem ra chỉ một sớm một chiều thôi là sẽ tan rã. Lúc này có đem binh, đem tướng ra cầm cự với ngoại địch thì cứ cái tinh thần như thế này của đám binh tướng thảo khấu. Giỏi lắm cũng chỉ nửa ngày là xong trận, chết cả mà thôi!
Thế là phu nhân ghé tai Sứ quân nói một hơi dài, giữa lúc đám tướng thuộc hạ của Sứ quân vẫn còn tranh cãi với nhau về tình hình này thì nên làm thế nào, phu nhân chẳng nghe mà cũng hiểu!
Sứ quân lên tiếng, bây giờ ngài mới lên tiếng, ngài bảo:
- Này các tướng, tình thế này có nhiều điều không lợi, vậy tốt hơn cả là ta nên lui về Cự Linh lập thế đón đợi Bộ Lĩnh thì mới được. Các ông về sửa soạn rồi ta lên đường ngay!
Đám thuộc hạ của Sứ quân được lời Sứ quân như cởi tấm lòng, mừng quá. Thế là thoát khỏi phải xông pha vào nơi xem ra chỉ có chết chóc thất bại. Nay lui về cứ doanh đầm Cự Linh chính là cơ hội thoát thân! Đám thuộc hạ vui mừng, Sứ quân chẳng để ý nhưng phu nhân Minh Minh thì nhìn thấy tất cả. Bà thấy buồn trong lòng lắm.
Vậy là Sứ quân có thuộc hạ là các tướng văn võ lôi thôi lốc thốc kéo nhau vội vàng lui về cứ doanh đầm Cự Linh. Người nào cũng lo chuyển vận cho được nhiều tài sản, đến nông nổi này mà có nhiều người vẫn còn bóng gió khoe mình giàu có của cải hơn người khác. Quân lương tướng Hồ Minh Duy vừa đốc thúc quân lo vận chuyển lương thực, chiến cụ đủ thứ, lại vừa giục giã gia nhân lo chạy gia sản riêng chất đầy chín xe bốn ngựa. Vợ theo chồng cùng đi lánh nạn, thế mà bạc vàng vẫn đầy mình. Rõ ra cái cảnh khoe của không phải lúc. Nực cười hơn nữa, người tình của Hồ Minh Duy là Hài Xảo Thông ỷ Duy thương yêu mà chẳng được Duy chính thức nói ra cho mọi người cùng biết. Nay theo chân mọi người cùng đi đầm Cự Linh thì Hài Xảo Thông nghĩ ra một cách để chọc tức vợ Hồ Minh Duy. Xảo Thông cho tay chân rình mò biết tài sản của vợ chồng Duy chất đầy trên chín xe bốn ngựa, thì cũng cho gia nhân sắm chín xe bốn ngựa rồi cho chất lên đấy thật nhiều bao to, buộc kín không biết trong các bao chứa những gì, nhưng xe nào cũng cho treo lá cờ xanh viết mấy chữ: “Gia sản Hồ phu nhân là Hài sương phụ”. Chẳng biết như thế thì chồng bà ta là ai, nhưng rõ ràng muốn nói là Hồ Minh Duy!
Sứ quân đem binh tướng tạm lánh sang Đầm Cự Linh, việc quân gấp rút nhưng tình cảnh xem ra là chạy trốn. Thành ra bá tánh cũng lại vội vàng bồng bế nhay chạy theo, thôi thì lôi thôi lúc thúc đủ thứ, tiếng kêu la hò hét lẫn tiếng than khóc chẳng còn ra thể thống gì của một đạo quân vào trận nữa! Minh Minh phu nhân nhìn quang cảnh ấy, trong lòng chẳng chút luyến tiếc gì cái tiếng “phu nhân của Sứ quân”. Nhưng nhìn cảnh bá tánh chẳng biết thời thế tình hình thấy Sứ quân ra đi thì cũng vội kéo đi theo, bao nhiêu là khổ sở, tan nát cả sản nghiệp. Bà liền bảo Sứ quân truyền lính nói cho dân chúng hết, bá tánh nghe báo thì lại cho rằng Sứ quân không muốn cho dân chúng đi theo để khỏi bị chậm trễ. Giữa lúc bi đát như vậy, thì trong dân chúng lại đồn ầm ầm tin đồn: Binh tướng Hoa Lư đã đuổi sát sau lưng!
Sứ quân Lữ Đường nghe thấy thế thì kinh hồn hoảng vía, sai tướng mau mau quay trở lại xem tình bình thật đúng là thế nào. Tướng ấy đi rồi về trình: Lúc này quân đôi bên đang tranh hùng ở Phục Tượng, không có binh tướng Hoa Lư nào đuổi theo cả. Sứ quân nghe trình rồi lại sai tế tác gấp đi xem trận ấy thế nào. Tế tác vâng lệnh ra đi chưa bao lâu, trong đám đông bá tánh lại có tiếng hô ầm ầm: “Hoa Lư đã tới, bắt lấy Lữ Đường! Hoa Lư đã tới bắt lấy Lữ Đường!”. Sứ quân chẳng còn kịp suy nghĩ, không hiểu sự thật ra sao liền cắm đầu giục ngựa chạy. Chẳng còn chút gì bóng dáng oai vệ của lúc thịnh thời!
Trong đám đông hỗn loạn ấy, duy nhất chỉ có Minh Minh phu nhân là bình tĩnh. Bà muốn được biết tình hình chiến trận ở Phục Tượng. Phu nhân sai tế tác ra đi, lại dặn: Phải thay nhau trình tin từng chập một, không được để sót một việc nào.
Không hiểu phu nhân Minh Minh muốn biết rõ sự thể chiến trận Phục Tượng để làm gì, nhưng tế tác vâng lệnh thì ra sức lấy tin, liên miên trình về.
Lúc ấy, tướng quân Đinh Điền vâng lệnh đem quân đánh Phục Tượng. Đây là cứ doanh quan trọng của Tế Giang. Phục Tượng nguyên nằm trong địa hạt của Gia Lâm, có thể giằng co với thủy trại Bồ Đề gìn giữ phía Đông Nam phủ đường Tế Giang. Tướng thao lược thì sẽ dùng được hai nơi này để trong thì giữ yên phủ đường, ngoài có sức đánh lui các cuộc tấn công của ngoại địch. Cứ doanh Phục Tượng mới đầu Sứ quân Lữ Đường trao cho tướng Trình Kế Ngọc, sau Ngọc tử trận thì Lương Tích Lịch nhận trách nhiệm cai quản. Tuy là Lịch thống quản binh tướng giữ Phục Tượng, nhưng thật ra tất cả các tướng ở phủ đường cũng đều có thể do Lịch nếu thấy cần thì vẫn có thể huy động để vào trận được.
Cứ doanh Phục Tượng, tuy gọi là thế nhưng không nằm hẳn ở núi Phục Tượng mà lập chếch ra phía ngoài. Tướng Trình Kế Ngọc ngày trước bảo là như thế thì cứ doanh mới dễ xoay sở lúc tiến có đất tung hoành, khi lui về thì có nơi dựa lưng vào rặng núi để lập thể chống cự. Đến khi Lương Tích Lịch cai quản, thì sửa sang lại, thay đổi vị trí đi. Lịch chuyển cứ doanh tới sát chân núi, luận rằng: như thế thì chỉ phải chống giữ có mặt đằng trước, bao nhiêu sức lực có thể tận dụng được hết ngay cùng một lúc.
Lương Tích Lịch là tướng giỏi, gốc người ở Lục Ngạn (Bắc Ninh). Vóc dáng to lớn hùng vĩ, tuổi trẻ không thích theo mẹ làm nghề nông, nhưng thích theo cha làm nghề đi rừng. Sau cha của Lịch đi săn voi bị voi quật chết thì Lịch một mình nối nghiệp cha. Mẹ lo lắng khuyên Lịch bỏ nghề đi rừng để theo nghề công cho được an nhàn thì Lịch bảo: “Phàm làm trai ở đời, không làm tướng tung hoành trong thiên hạ, thì cũng nên làm một tay thợ săn ngự trị chốn rừng sâu, đuổi bắt chúa sơn lâm mới phải. Chứ sao lại chịu ru rú xó nhà sống kiếp ươn hèn được”. Rồi Lịch lang thang trong rừng, chẳng nơi nào lại không có bước chân của Lịch dẫm nát. Lịch gan dạ khác thường, nghe ở đâu có việc lạ là tìm đến ngay chẳng quản nguy hiểm. Lịch lại bảo: càng nguy hiểm không có ai dám nhìn đến, thì mình dám nhúng tay vào mới thật là giỏi. Ngày nọ, nghe truyện thiên hạ nói là trong núi Diên Chủy có ma quỷ thần thánh thế nào đấy, cho nên thú rừng không dám lai vãng. Lương Tích Lịch nghe nói như thế liền bảo: con người ta là thượng đẳng, ma quỷ hay muôn loài khác cũng phải thần phục, có gì mà con người phải sợ. Rồi Lịch một mình khăn gói vào núi Diên Chủy. Lịch đi như thế được gần trăm ngày thì trở ra. Đã không bị sứt mẻ chút nào mà xem ra thần sắc còn tươi hùng hơn trước, sức mạnh vượt chung. Lịch lúc đi tay không bây giờ về lại có thêm thanh kiếm lạ, hỏi thì Lịch cười mà kể rằng:
“...Ngày nọ len rừng mà đi, đi mãi xảy khi ngửng đầu nhìn ra mới thấy có rặng núi lớn trước mặt. Ngắm nghía thấy đỉnh núi nhọn mà xiên xéo, từ xa thấy như hình dáng mỏ con diều hâu, liền lần bước đến thăm ngọn núi lạ ấy. Rừng yên tĩnh chẳng thấy có bóng thú vật, đến cả chim chóc cũng không nghe có tiếng. Lịch lấy làm lạ, càng đến gần chân núi yên tĩnh càng hơn nữa. Vẳng nghe có tiếng diều hâu kêu những tiếng dài. Lương Tích Lịch dấn bước leo núi, núi có chỗ dốc tuột có nơi lài lài. Lịch theo chỗ lài leo chỗ dốc đi lên, cảnh sắc có phần tiêu điều, rờn rợn. Lên đến khoảng hai phần ba chiều cao của núi thì Lương Tích Lịch thấy nơi đây có nhiều chim diều hâu khác lạ với diều hâu ở các nơi. Diều hâu nơi đây to lớn, mỏ khoằm mạnh mẽ dị thường. Chim dữ thấy có bóng người thì rít lên gọi nhau đến đánh.
Lương Tích Lịch ra đi tay không, bây giờ bị đám diều đông đến cả trăm con bao vây đón đánh thì mới thấy nguy. Liền vừa chống đỡ vừa bỏ chạy mong tìm được nơi trú ẩn. May cho Lương Tích Lịch, chạy thế nào quanh co lại bắt gặp một cái hang. Hang núi chẳng rộng lắm, trong hang bốc mùi hôi hám khó chịu. Lịch chui vào hang ẩn thân, lần mò thăm thú hang núi mới phát giác ra nơi đây chim diều hâu làm tổ nhiều quá. Thế là Lịch vừa đói lại vừa thù bị đám chim đuổi đánh, liền ra sức ăn thật nhiều trứng diều hâu. Xong lại bắt những con chim mới nở ăn sống nuốt tươi đến no căng bụng mới thôi. Từ lúc mới vào hang cho đến lúc này, Lịch chẳng thấy có con chim bố hay chim mẹ nào bay về tổ cả thì lấy làm kì. Nhưng no bụng rồi, thì Lịch cũng chẳng quan tâm đến chung quanh nữa bèn tìm góc xa nhất ngả lưng nằm ngủ.
Khi tỉnh giấc, trời đã về đêm, khí lạnh trong hang đá lạnh lắm. Lương Tích Lịch nghe trong bóng đêm có nhiều tiếng động, nghe mãi mới phát giác ra được là chim mẹ đang ủ chim con và chim con kêu lên những tiếng nhỏ nhỏ. Lịch chẳng nhìn thấy gì trong hang tối. Không biết các chim mẹ có thấy Lịch không thì bỗng thấy ở giữa hang lóe lên làn ánh sáng lạ, xanh như lửa lân tinh. Lại rung rinh như thể sóng nước nhè nhẹ. Lịch nhỏm dậy, thật khẽ khàng bò đến chỗ có ánh sáng lạ. Tới nơi thấy ánh sáng ấy phát ra từ một vật gì dài, giơ tay sờ thì Lịch phát giác ra đây là một thanh kiếm. Lịch cho là kiếm thần liền giơ tay nhổ lên, nhưng không làm sao nhổ thanh kiếm lên được. Mỗi khi trăng bị mây che khuất, ánh sáng ấy không còn thì thanh gươm cũng không phát ra hào quang nữa. Lịch cứ quan sát như vậy thật lâu rồi đành nằm cạnh thanh gươm chưa thấy rõ hình dáng để chờ sáng. Nằm như thế, Lương Tích Lịch nhìn ra cửa hang, bên ngoài sao trời chi chít. Vừng trắng chưa tròn hẳn chiếu thẳng vào hang, phủ lên thanh gươm khiến gươm phát ra ánh sáng, Lịch không biết lúc ấy là khoảng giờ nào.
Khi Lương Tích Lịch tỉnh giấc trong hang lạnh, bao nhiêu diều hâu lớn bỏ đi cả rồi. Từ trong hang nhìn ra trời rực đỏ, Lịch nhớ ngay thanh gươm bèn nhỏm dậy ra sức lay gươm. Đêm hôm rồi, Lịch vận sức bao nhiêu mà không lay động được thanh gươm, thì bây giờ nhổ thanh gươm lên lại dễ dàng bấy nhiêu. Lịch lấy làm lạ. Ra ngoài hang, Lịch quan sát thanh gươm thì thấy đây là một thanh đoản kiếm, lưỡi mỏng một bên, lưỡi cực bén không biết bị cắm ở đây đã bao nhiêu lâu mà nước thép lạ vẫn đen xanh cực bóng. Lạ một điều là trong hang bao nhiêu chim, lòng hang bẩn thỉu phân chim hôi hám, thế mà thanh gươm chẳng dính một vết bẩn nào, vẫn sạch như lau. Trên lưỡi gươm một mặt khắc những hàng chữ nhỏ: “Kiếm Hiệu Công Bộ Thượng Thư, Tiết Độ Sứ kiêm Hành Doanh Chiêu Thảo Sứ – Cao Biền”. Mặt bên kia khắc bốn chữ Triện “A Hồ Lục Cương kiếm”. Thì ra đây là thanh gươm gần tròn một trăm năm trước, năm thứ bảy hiệu Hàm Thông nhà Đường (Bính Tuất – 866). Cao Biền sau khi hoàn toàn đả bại được các thủ lãnh giặc Nam Chiếu là Dương Thấp Tư, Đoàn Tủ Thiên, Phạm Nê Ta, Nạc Mi và Chu Cổ Đạo. Vâng lệnh vua Đường ở lại cai trị Tĩnh Hải quận (tức là Giao Châu). Thì trong suốt mười năm chinh chiến dẹp loạn Cao Biền đi lại nhiều nơi, đến chỗ núi này đứng từ trong hang nhìn ra khoảng trời rộng chợt giật mình. Biền đã nhận ra thế đất “Thăng Long Vạn Thế, Đông Hải Thần Vương”. Biết là ở đất này mai sau sẽ có hùng tài dựng đại nghiệp vạn đời, hùng cứ ở vùng biển đông. Biền liền sai đúc một thanh gươm bằng gang luyện đến gang chuyển sang màu xanh lục, lại khắc các hàng chữ. Dùng gươm ấy trấn giữ Nhật Nguyệt không cho chiếu vào trong hang. Triệt hạ đế mạch của người Giao Châu. Hồi ấy Lương Tích Lịch không biết cho nên chỉ thấy ánh trăng lọt vào hang, chứ không được thấy ánh dương quang vào hang thì gươm sẽ hiển phát thế nào. Cũng là một điều đáng tiếc, nhưng vô tình Lương Tích Lịch đã triệt hạ được một nơi yểm trấn của Cao Biền. Gươm rèn đúc bằng gang đến xanh biếc ở lò A Hồ bên bờ Ngũ Hồ. Cho nên mới có tên là A Hồ Lục Cương kiếm.
Được gươm báu, Lương Tích Lịch tìm thầy học nghệ, học đến mức cao siêu trong nghề đánh gươm, nức tiếng thời ấy. Sau theo về với Sứ quân Lữ Đường, nhiều lần cầm quân tiễu trừ các đảng giặc, gươm chém vào người không bao giờ bị dây một giọt máu, vẫn sạch như lau. Lịch thường bảo: “Ngoài gươm A Hồ Lục Cương ra, còn thì toàn là gươm gỉ, loại bỏ đi”. Từ đấy danh tiếng Lương Tích Lịch càng lớn.
Sứ quân Lữ Đường rất yêu thương Lương Tích Lịch, cho cầm quân điều khiển các thuộc tướng, giữ cứ doanh Phục Tượng là cửa ải cực kỳ hệ trọng, giặc ngoài không thể nào vượt qua được. Nếu binh ngoài qua cửa ải Phục Tượng thì chẳng khác nào đã vào đến phủ đường rồi. Lúc ấy Tế Giang không còn thế để chống đỡ nữa.
Nay, tướng Hoa Lư là Đinh Điền vâng lệnh cầm quân để chỉ đánh một tướng Tế Giang là Lương Tích Lịch. Phá một gươm là A Hồ Lục Cương, tất gặp phải nhiều khó khăn.
Đinh Điền mang quân ra đi cùng với các tướng Trương Đức Xuân, Hà Bảo Ninh, và Đào Long Vân. Cả ba tướng này vốn là tướng cũ của Sứ quân Ngô Xương Xí ở Bình Kiều, tự nghĩ là thừa sức mạnh. Bốn ông hợp sức thì không còn phải lo sợ e dè tướng nào của Tế Giang cả. Đinh Điền chưa hiểu hết các tướng Tế Giang như thế nào, cũng lại chưa thấy cứ doanh Phục Tượng ra sao. Liền cho tế tác đi các mặt dò la tình hình, xem xét địa thế cùng trận địa của Tế Giang.
Đinh Điền nói với ba tướng:
- Nay, bọn ta đem quân lên Tế Giang, đường quân đi không xa, nhờ xuất phát từ Bình Kiều, đi nương theo núi rừng. Cho nên vượt giới địa vào giang sơn của Lữ Đường chẳng mấy khó khăn. Binh ta đi chẳng phải chỉ một hai người âm thầm len rừng vượt núi, thế mà Tế Giang không thấy động đậy. Như thế đủ hiểu một là tướng Tế Giang không biết chiến trận. Sứ quân Lữ Đường không hiểu phép bảo vệ giang sơn. Hai là Tế Giang có dàn binh lập kế để đón binh ngoài. Các ông nghĩ thế nào?
Tướng Đào Long Vân nói:
- Khi vâng lệnh ra đi, Động chúa chỉ dặn bọn ta lấy cứ doanh Phục Tượng, không thấy nói nơi ấy như thế nào. Nhưng dặn là ông Đinh Điền sẽ được một phen đọ tài với tướng Lương Tích Lịch có thanh A Hồ Lục Cương kiếm. Chẳng lẽ ở đấy chỉ có một tướng, một gươm. Còn địa thế thì sao, quân bao nhiêu, tướng bao nhiêu, trận thế xếp đặt thế nào? Tất cả những điều ấy người làm tướng cầm quân vào trận chúng ta phải biết cho rõ. Lúc này thời gian không còn nhiều, tôi nghĩ ta phải hết sức mau lẹ giải quyết cho xong những việc ấy, mới kịp tiếp trận khi bên thủy trại của Tế Giang đã có lửa cháy.
Các tướng đều khen phải, để lại doanh tướng Hà Bảo Ninh giữ trách nhiệm trông coi quân sĩ, rồi liền chia nhau đích thân đi do thám các nơi. Ông nào cũng đem theo tế tác để tìm đường chọn lối mà đi.
Cứ doanh Phục Tượng của Tế Giang lập không ở trên sườn núi, cũng không sát ngay chân núi. Mà hơi rời ra xa đủ để dễ dàng tiếp giáp liên lạc với vùng phía Tây Nam phủ đường. Nhưng như đã nói kể từ lúc Lương Tích Lịch thay thế Trình Kế Ngọc trấn giữ doanh này thì chuyển doanh trại vào sát chân núi. Bảo là để có lợi trong phép phòng thủ, lợi thế khi tấn công. Từ thành Phục Tượng về đến phủ đường không còn thành nào khác nữa. Chỉ có những làng mạc dân cư đông đúc.
Tướng lãnh trách nhiệm cai quản cứ doanh này là Lương Tích Lịch là người thế nào ta đã biết. Dưới trướng còn có nhiều tướng khác nữa. Khi được tin cho hay Tây Phù Liệt bị Hoa Lư tiến đánh. Lịch hội chúng thuộc tướng lại mà rằng:
- Hoa Lư đánh Tây Phù Liệt, ấy là chúng muốn rộng bước ra ngoài thiên hạ. Hoa Lư e ngại phía sau lưng lúc tiến lên Bắc, tạt sang Đông cho nên mới phá Phù Liệt trước. Sau Phù Liệt, Hoa Lư sẽ lại đề phòng đằng sau lưng cho nên không vội đánh Đỗ Động, thế nào nó cũng dòm ngó Tế Giang ta. Tế Giang ta chơ vơ một mình, phía Bắc thông với Cổ Loa, phía Đông nhờ có rặng Lạn Kha rồi Bát Vạn, giữ ta cách biệt hẳn với Siêu Loại, Tiên Du. Các mặt này ta không có gì phải lo lắng cả, chỉ có một phía Tây thì đã có sông lớn phân chia ranh giới rõ ràng với Đỗ Động. Vả lại ta còn có thủy trại lớn vào hàng nhất nhì ở Giao Châu trấn giữ. Như thế cứ doanh Phục Tượng của ta ở đây thật kín đáo, không xa dân cho nên việc quân lương không khó khăn. Bên ngoài có thủy trại che chắn, phía sau có phủ đường hỗ trợ. Cứ doanh của ta là nơi “Giặc đến phải tan, ra ngoài thiên hạ có sức vạn toàn”. Bây giờ nhìn việc bên kia sông, lo liệu ngày mai, ta đã trình về Chúa công để ngài rõ, sửa soạn để tiếp trợ phía sau của ta. Phía trước, ông Đỗ Hùng Liệt thống lĩnh tâm của thủy trại đã liên lạc với ta, cho dù Hoa Lư có muốn vượt sông thì cũng phải làm sao qua được thủy trại trước. Mà muốn vượt qua được thủy trại của ta, Hoa Lư ít ra cũng phải có trăm thuyền chiến, binh một vạn, tướng một chục. Khả năng ấy Hoa Lư muốn có cũng phải năm năm nữa mới lập được. Vậy ta không có gì phải lo lắng cả.
Nghe tướng Lương Tích Lịch luận giải tình thế như vậy. Ai cũng thấy là phải, nhưng tướng Hầu Nhân Đạo bảo:
- Chủ tướng cứ doanh Phục Tượng luận việc thật sắc sảo, nhưng cũng nên có chỗ để ý là: Nghe nói đích thân Động chúa Hoa Lư là Đinh Bộ Lĩnh cầm quân đánh Tế Giang ta!
Lương Tích Lịch hỏi lại ngay:
- Hoa Lư Động chúa Đinh Bộ Lĩnh cầm quân thì có khác gì với một tướng khác chứ? Ta nghĩ, nếu có khác thì phải là khác ở chỗ “Thằng chăn trâu cắt cỏ hung hăng” chứ khác cái gì?
Hầu Nhân Đạo vẫn ôn tồn:
- Không phải, vào trận thì có thể ai cũng hung hăng được, nhưng tướng quân nên để ý: Ở đâu có Đinh Bộ Lĩnh, là thế nào cũng có đông thuộc hạ của y. Chẳng thế mà Hoa Lư đuổi được Nam Tấn Vương, lấy Đằng Châu chẳng tốn một giọt mồ hôi. Thu Bình Kiều dễ dàng đến nỗi chung quanh chẳng ai là không biết thế mà không ai dám tranh giành với Hoa Lư. Rồi chinh phục Tây Phù Liệt chỉ trong vài ba ngày, làm cho Sứ quân Nguyễn Siêu phiêu bạt về đâu chẳng ai biết. Như thế thì soái tướng cũng nên cẩn thận.
Những lời nói của Hầu Nhân Đạo, quả thật có làm cho các tướng cảm thấy e ngại trong lòng. Nhưng tướng Lương Tích Lịch còn cố cãi để trấn an:
- Ông nói cũng chẳng sai, nhưng Tế Giang sông ngoài núi trong, binh hùng tướng mạnh. Ở đâu lúc nào cũng canh phòng cẩn thận, lại thêm mới đây ta có nghe Sứ quân ngài có bảo: Tế Giang ta được Tống đế chọn, cho người xuống bí mật giúp đỡ để lấy Giao Châu. Như thế thì những điều ông nói tuy nên để tâm thật, nhưng cũng đừng lấy thế làm điều e ngại quá đáng!
Hầu Nhân Đạo không nói gì, chỉ gật đầu ra vẻ tán thành. Nhân Đạo vốn dòng dõi họ Lý, đến đời cha thì sa sút phải cho con làm con nuôi nhà họ Hầu. Cho nên Lý Nhân Đạo mới đổi tên thành Hầu Nhân Đạo. Nhân Đạo thân làm tướng mà vóc người nho nhã, mảnh khảnh, mặt trắng môi son. Trong số các tướng thời thời ấy thì Nhân Đạo thuộc vào hàng các tướng biết đọc và đọc được nhiều sách. Nhân Đạo thường nói: Làm tướng cầm quân, phải đích thân vào trận lấy sức mạnh của cánh tay để khuất phục chúng địch là điều bình thường. Nếu đem được trí óc ra làm cho cả thiên hạ phải quy phục thế mới là hàng đại danh tướng. Chỉ vì câu nói này mà các tướng khác không ưa Nhân Đạo. Sứ quân có muốn yêu tài trao quyền đại tướng vào tay Đạo cũng không được. Và thế là Đạo chỉ là một thuộc tướng của Lương Tích Lịch.
Lương Tích Lịch đáp lời Hầu Nhân Đạo xong. Đến lượt tướng Công Tôn Thừa lên tiếng:
- Thưa đại tướng, tôi có nghe Đinh Bộ Lĩnh cầm quân đi đánh Siêu Loại ở tít mãi phía Đông. Thế thì bảo rằng Bộ Lĩnh cầm quân đánh Tế Giang ta chẳng qua chỉ là cái trò “khua chiêng đánh trống lớn tiếng dọa bóng gió” mà thôi. Vả chăng, quân viễn chinh vào giang sơn lạ, thế nào cũng có nhiều điều thiệt thòi. Ta chỉ cần cẩn thận là không có gì phải lo lắng cả.
Công Tôn Thừa là tay giang hồ đại dạo, ngang dọc đất trời sát hại nhiều người. Vốn là kẻ không biết cha mẹ là ai. Lớn lên theo chúng sống bằng nghề lạc thảo lúc loạn li, tự lấy tên là Công Tôn Thừa ngụ ý là “Thừa kế của Công Tôn Sách thời xưa”. Thừa giỏi nghề múa cặp thiết giản với pháp đánh gọi là “Âm Dương Sát Thủ Giản”. Lúc tung hoành thì một tay cương một tay nhu, hai tay hỗ trợ cho nhau rất lợi hại. Vì thế cặp giản ấy đã giết được nhiều mạng, máu bám vào đến đen kịt, lâu lâu va chạm mạnh lại lở ra từng mảng. Công Tôn Thừa là người như thế, theo về với Sứ quân Lữ Đường giỏi nghề giết người hung ác nên được Sứ quân yêu, nhiều người sợ. Thừa có tính hay dựa hơi đón gió để làm vui lòng người trên. Nay trong hội đưa ý kiến chẳng có gì hay ho, chẳng được ai hoan nghênh thì ngồi tiu nghỉu. Nhưng Lương Tích Lịch nói ngay:
- Phải, ông Thừa có nhắc ta mới nhớ, quả thật tế tác của ta nói rằng Đinh Bộ Lĩnh cầm quân đi đánh Siêu Loại. Thế thì làm gì có việc y lại xuất hiện ở Tế Giang này được. Giả sử y có mặt ở đây, ta thế nào cũng được một phen thử tài xem tên chăn trâu cắt cỏ ngày xưa bẻ rời sừng trâu có định lại được với gươm gang xanh A Hồ của ta không nào?
Đến lượt tướng Chương Li Thảo lên tiếng:
- Đành rằng ta trấn quân ở đây là để chống cản giặc ngoài xâm phạm giang sơn ta, sức ta mạnh, địa thế lợi hại. Ta được lợi là đã sửa soạn từ trước. Vậy giặc ngoài đến ta nên xuất trận ngay, thì cho dù có Đinh Bộ Lĩnh hay y không có ở trong quân của Hoa Lư cũng không phải là điều ta nên bận tâm nhiều. Đánh giặc cốt ở chỗ giành được những thế lợi, đẩy lại cho địch những cái hại cái nguy. Còn hư danh của một vị tướng không phải là điều làm cho thắng trận hay bại trận được.
Chương Li Thảo xuất thân là thầy lang, nghề thuốc không xuất sắc nhưng lại khoe là thần y ở đời. Chỉ vì cái tính huênh hoang khoe khoang nghề nghiệp ấy cho nên nhiều người không ưa. Ngày nọ, nhân lúc Chương Li Thảo rượu đã mềm môi chẳng biết trời đất trăng sao là gì nữa. Đám du thủ nhân cơ hội đem xác kẻ chết vì bệnh gì chẳng ai hay ở bên đường đến cho Chương Li Thảo bắt mạch kê đơn. Chúng nói là kẻ chết ấy là người nhà làm việc mệt mỏi thì đến xin thầy cho thuốc cho mau mạnh. Chương Li Thảo đang trong lúc say mèm có còn biết gì đâu, trông thấy xác chết nằm thẳng cẳng thì lại vẫn giơ tay xem mạch rồi lè nhè mà rằng:
- Không sao, không sao? Tên này chỉ bị nắng gắt sương sa cho nên tinh khí suy giảm. Ta xem mạch thấy mạch trầm lắm như thế là mệt nặng. Ta chỉ cho một liều thuốc là khỏe ngay thôi!
Rồi Chương Li Thảo cho thuốc bảo chúng cậy mồm xác chết cho uống. Chúng cũng làm, đổ thuốc vào mồm xác chết rồi thì chúng kêu ầm lên là thuốc của thần y đã không cứu được người chỉ mệt mỏi qua loa thành ra chết cứng rồi. Chương Li Thảo kinh hãi tỉnh cả rượu, thấy quả nhiên người ấy đã chết mồm còn dính đầy thuốc thì sợ quá, vội vàng khăn gói bỏ trốn biệt. Sau theo về với Sứ quân Lữ Đường giấu kín việc trước chẳng ai hay. Nhiều lúc chữa được bệnh cũng khỏi nhiều người, vì thế Sứ quân cho ở trong quân, phong làm tướng. Việc chữa thuốc thì Chương Li Thảo còn biết được ít nhiều, chứ việc quân bị thì Chương chẳng biết gì. Nhưng cậy là đọc được sách, biết được việc xưa thường đem ra kể cho nên trong quân cũng chẳng có ai kèn cựa ghét bỏ.
Lương Tích Lịch có Chương Li Thảo trong quân thì được nhờ nhiều lắm. Chẳng là vì Lịch có bệnh kín không thể nói ra cho ai hay biết được, bệnh ấy khiến cho Lịch liệt hẳn chẳng thể nào làm việc phòng the với vợ được. Cứ phải luôn luôn cầu đến thuốc của Chương Li Thảo mới xong. Lịch nhiều lần khổ sở van cầu Chương Li Thảo ra tài chữa cho dứt hẳn bệnh nhưng Thảo nại đủ cớ về y học mà chỉ cho Lịch thuốc từng lần một mà thôi. Có ý để Lịch phải quỵ lụy đến mình, và quả thật Lương Tích Lịch rất nể nang quý trọng Chương Li Thảo, nhưng trong thâm tâm Lịch thì lại oán ghét Thảo lắm. Cho là Thảo cố ý làm khó dễ mình.
Trong hội, nghe Chương Li Thảo góp bàn. Lương Tích Lịch chẳng cho là phải hay không phải, nhưng nói:
- Việc quân ta là soái tướng, nghe biết hết mọi việc, hiểu rành rẽ mỗi nhân vật của đối phương. Nay việc quân chưa đến lúc náo nhiệt, ta bàn với nhau để thấy chỗ thiệt hơn. Các ông nói đều đúng, đều phải cả. Việc quân của bên này hay bên kia, bên nào cũng có thể có cái lợi cái hại. Đến khi vào việc thì ta sẽ rõ!
Đúng ngay lúc ấy quân trình vào: “Có đại pháp sư An Dương Thanh Sứ” tới. Lương Tích Lịch vội đứng lên đích thân ra đón, nhưng Đào Thẩm Chi thì cáo từ ra về.
Cùng hội hôm ấy ngoài nữ tướng Đào Thẩm Chi là vợ của Lương Tích Lịch. Dưới trướng của tướng Lương Tích Lịch còn một số tướng nữa, nhưng chẳng phải là đại danh tướng. Cho nên các ông vào hội chỉ ngồi im không nói gì.
Đào Thẩm Chi nữ tướng, nguyên dòng dõi Sĩ Huy là con của Sĩ Nhiếp thời xưa. Khi Sĩ Nhiếp qua đời thì Sĩ Huy tự động lên thay quyền Thái thú Giao Chỉ. Bắc triều lúc ấy là nhà Đông Ngô bèn xếp đặt lại mọi việc ở Giao Chỉ, sai Trần Thì làm Thái thú thay cho con cháu Sĩ Nhiếp. Sĩ Huy chống lại thì bị bọn Lữ Đại, Trần Thì hợp binh đánh dẹp. Sĩ Huy cùng với năm người em đành phải thuận theo lời chiêu dụ của bọn Trần Thì, Lữ Đại liền bắt rồi chém hết bọn Sĩ Huy đưa đầu về nộp triều đình Đông Ngô. Trong cơn biến động kinh hoàng này, người vợ của Sĩ Huy thoát được. Cải họ đổi danh, lưu truyền dòng dõi Sĩ Huy đến lúc ấy thì sinh ra Thẩm Chi họ Đào. Đào Thẩm Chi là con gái út của người vợ thứ ba của quan Thái Úy Đào Thẩm Bội. Vì chán ngán việc Dương Tam Kha phụ lời ủy kí của Ngô Vương, sinh ra biến loạn trong triều. Quan Thái Úy họ Đào liền lui về ở ẩn sườn phía Tây rặng núi Lạn Kha. Ở đấy ngài sinh được Đào Thẩm Chi.
Đào Thẩm Chị vóc mềm như liễu, nhan sắc kiều mị, tính tình rất dịu dàng. Ngay từ nhỏ sinh ra ở miền núi thì tính tình thích bay nhảy, ưa những việc mạo hiểm. Vâng lời cha đọc sách, học đàn, nhưng lại mê say nghiệp kiếm cung cho nên được nhiều thầy chỉ dạy. Thẩm Chi tuy vóc người nhỏ nhắn yêu kiều như thế, nhưng bản lĩnh lại ít người địch được. Nàng có phép múa giải kim ti, tức là sợi dây bằng vàng bện lại lớn chỉ bằng ngón tay cực bền, dài ba thước sáu tấc. Thường nàng dùng dây kim ti ấy làm dây lưng, đến khi hữu sự thì biến sợi kim ti thành khí giới thật lợi hại. Có khi kim ti là cây côn, khi đập thì chẳng khác gì chùy vàng, lúc quét ra lại không thua một mũi kiếm. Lương Tích Lịch được Thẩm Chi làm vợ lúc ấy nàng mới mười chín tuổi. Lịch yêu chiều quý vợ hơn cả mạng mình, hiềm một nỗi bị bệnh ngặt. Nên cứ phải bí mật quỵ lụy tay tướng thầy lang Chương Li Thảo.
Khi có quân trình vào: “Đại pháp sư An Dương Thanh Sứ” tới là Đào Thẩm Chi đã đứng lên cáo từ ra về. Lương Tích Lịch ra đón pháp sư thấy thế cũng không ngăn cản vợ. Nguyên do việc Đào Thẩm Chi nghe trình có pháp sư đến thì đứng lên cáo từ ra về, là vì nàng rất ghét pháp sư chuyên gây những việc dâm bồn. Đã thế pháp sư nhiều lần còn ra lời khen Thẩm Chi là có tướng thần tiên nên phải sánh duyên với thần tiên mới phải. Lương Tích Lịch vóc người hùng vĩ ấy là tướng thiên lôi nhà trời cho nên không hợp, rồi những lúc vắng mặt Lương Tích Lịch pháp sư còn buông lời ong bướm bóng gió rủ rê Thẩm Chi. Thẩm Chi thường bảo: “Pháp sư vóc vạc quắt queo nhỏ bé ấy là tướng con chồn hôi ở núi Thất Diệu. Hai mắt nhỏ mà tròn xoe là mắt chó hay cắn càn. Mũi dài mà khoằm là mỏ loài diều hâu ác độc chuyên ăn những xác chết thối. Miệng rộng giọng the thé là tướng loài quạ khoang đánh hơi rất tinh nơi nào có xác chết. Tương tự cầm thú hạ đẳng như thế làm sao lại xưng là đại pháp sư được”. Thẩm Chi ghét mà khinh bỉ pháp sư, nghe những việc dâm ô pháp sư gây ra thì kinh tởm lắm. Vì thế nàng không muốn thấy mặt pháp sư.
Pháp sư An Dương Thanh Sứ cùng một loạt mấy tướng nữa vâng lệnh Sứ quân Lữ Đường đến cứ doanh Phục Tượng hỗ trợ cho tướng Lương Tích Lịch. Vì Lữ Đường nghe nói là có Đinh Bộ Lĩnh cầm quân vào Tế Giang.
Vào hội, Pháp sư An Dương Thanh Sứ huênh hoang. Cặp mắt nhỏ tròn xoe như mắt chó đảo lia lịa như thể tìm người nào, rồi cất giọng the thé bảo:
- Sứ quân chỉ hay sợ bóng sợ gió. Không biết tin ở dâu nói là tên chăn trâu cắt cỏ Đinh Bộ Lĩnh đích thân cầm quân xâm phạm Tế Giang ta làm ngài lo lắng. Sai ta đến đây trợ chiến cho tướng quân. Tướng quân được tin như thế nào?
Lương Tích Lịch có phong thanh nghe việc pháp sư hay ngỏ lời ong bướm với vợ mình thì vốn không ưa y. Lại thêm cái thói trăng hoa dâm đãng của y thì Lương Tích Lịch không chịu nổi. Chỉ vì có phần nào tự ti ganh ghét ngầm với pháp sư về khả năng phòng the ấy của y. Bây giờ nghe pháp sư the thé nói giọng đầy kiêu căng, thì đáp:
- Phải, Đinh Bộ Lĩnh cầm quân vào Tế Giang ta, tôi có nghe tế tác nói rõ. Y lại còn đánh tiếng là vào Tế Giang y không làm tội một ai cả, chỉ tìm cho được ngài để nghiền nát chín cái xác biển bức khô. Bắt ngài phải đi lại với một trăm bảy mươi hai con dê cái, để giải oan cho một trăm bảy mươi hai cô gái bị ngài hại. Y nói như thế, ngài có kế cao gì để triệt hạ được y chưa?
Pháp sư giận quá, thừa biết là chẳng có lời nào của Đinh Bộ Lĩnh lại như thế cả, mà chỉ là lời của chính Lương Tích Lịch nói ra để chê trách mình. Liền tròn hai mắt vốn đã tròn sẵn, ngoác miệng đã rộng lại rộng thêm. Giọng càng the the mà rằng:
- Thằng chăn trâu cắt cỏ hỗn láo, phen này thì ta ra phép màu sai chín con biển bức Sài Sơn đi không lấy tính mạng của ngươi làm chi. Chỉ tước bỏ đi cái vật phòng the của ngươi, xem ngươi có còn chiều mãi người đẹp được không nào?
Hai người ngầm đả kích nhau chẳng đáng là mặt một người tướng cầm quân. Rõ ra chỉ là bọn bộ hạ vốn hạng thảo khấu.
Lương Tích Lịch giận lắm, nhưng ngoài mặt vẫn tươi cười, bảo:
- Phải đấy, pháp sư đạo cao phép giỏi, phen này ra tay nhất định Bộ Lĩnh chẳng phải chỉ bị nguy có một thứ. Mà thế nào y cũng không còn mạng để về Hoa Lư nữa!
Lương Tích Lịch nịnh pháp sư để làm hòa, sợ rằng lỡ pháp sư quá lời tiết lộ bí mật của mình ra thì nguy. Pháp sư nghe Lịch nói như thế thì cũng hả giận đôi chút, bảo:
- Chúa công e ngại, sợ Đinh Bộ Lĩnh vào được Tế Giang ta, làm sao y tiến quân được? Cứ doanh Phục Tượng này binh ngoài sẽ không qua được. Hãy chỉ nói thủy trại Tế Giang thôi Bộ Lĩnh nhất định không qua nổi rồi. Chúa công sai ta ra đây là điều quá đáng!
Quân sư An Dương Thanh Sứ vừa dứt lời, đã nghe ngoài doanh có tiếng trống hiệu đập gấp. Báo hiệu tin khẩn xin được trình vào.
Nghe tiếng trống, pháp sư An Dương Thanh Sứ bảo:
- Đấy, trống hiệu xin vào trình của Bộ Lĩnh bại trận trên sông. Tám cửa Bát quái trận của ông Đỗ Hùng Liệt đang giam tên chăn trâu vào trong đó rồi đấy!
Lương Tích Lịch nhíu mày, trống đánh báo tin nguy cấp thì mới như vậy, chẳng phải như lời nói của pháp sư. Vì vậy lời nói của pháp sư chẳng có ai hưởng ứng, nhưng ai cũng lộ vẻ lo lắng. Lương Tích Lịch gật đầu, tướng Hầu Nhân Đạo hiểu lệnh đứng lên bước ra.
Hầu Nhân Đạo đi ra chỉ một thoáng là đã trở vào, mặt Đạo tái mét lắp bắp:
- Nguy rồi, Hoa Lư có Đinh Bộ Lĩnh cầm quân dã thiêu rụi thủy trại của ta, tướng Đỗ Hùng Liệt mạng vong rồi! Bây giờ binh tướng Hoa Lư đã vào sát Phục Tượng tình thế nguy cấp lắm!
Các tướng nghe tin ngẩn người, Lương Tích Lịch kinh hãi đến ngơ ngác. Pháp sư An Dương Thanh Sứ bỗng đứng bật dậy, thét lên the thé:
- Ta ra lấy mạng Bộ Lĩnh đây, ai muốn theo ta?
Chưa biết đại pháp sư đi lấy mạng Hoa Lư Động chúa Đinh Bộ Lĩnh như thế nào, xin xem hồi sau sẽ rõ.
—ooOoo—