Chí ít anh đã không phải gặp một gã nhố nhăng, Alex nghĩ, và tự ghét mình vì thậm chí đã nghĩ đến từ “nhố nhăng”. Larry Orde không nhố nhăng. Trẻ trung nhưng nhố nhăng thì không. Không có ai đã tốt nghiệp trường điểm của ngành báo chí Mỹ, có tên là “Câu lạc bộ Downhold” mà lại là một gã nhố nhăng. Không, nếu bạn đã làm việc cho Baillie ở New York, Lyle Wilson ở Washington và Fergy ở London - và đừng vơ đũa cả nắm - ngươi đã bao giờ đủ tư cách để nói từ “nhố nhăng” chưa? Chưa, thưa ngài.
Mình đang già đi, Alex Barr thầm nghĩ khi đứng đợi chiếc máy bay phản lực to tướng của Nam Phi hạ cánh ở sân bay Embakasi. Anh hy vọng, bằng vận đỏ hơn gần đây, là nó sẽ hạ cánh với những bánh xe còn mắc kẹt trong cái bụng to béo. Mình đang già nếu mình thậm chí đã nghĩ đến từ “nhố nhăng” - mình đang già đi nếu mình bực bội với sự giúp đỡ. Tất nhiên cái lục địa chết tiệt này quá lớn đối với một người. Mình cần một đôi chân trẻ trung, một cặp mắt tinh nhanh và một lòng nhiệt tình trẻ trung khỏe khoắn, những thứ đã hoàn toàn mòn mỏi bởi quá nhiều cuộc chiến, quá nhiều rượu và quá nhiều đàn bà chưa nói đến những chuyến bay quá giờ.
Ồ, chẳng khó gì để nhận ra anh ta, và anh ta kia rồi. Người trợ thủ đầy nhiệt huyết. Lạy Chúa, trông anh ta thật trẻ trung khi lóng ngóng vượt qua đường băng trắng xoá đầy cát, với ánh mặt trời Nairobi sáng chói lấp lóa chiếu trên mái tóc thành một vầng hào quang nhè nhẹ trong gió sớm. Alex huýt sáo. Anh ra hiệu từ chỗ đứng trên cao, rồi chỉ ngón cái xuống dưới. Order cười, đặt chiếc máy chữ xách tay xuống, và giơ hai bàn tay nắm chặt vào nhau lên trên đầu theo kiểu chào của võ sĩ. Alex quay lại, xuống cầu thang và đợi ở ngoài cửa hải quan. Orde sẽ không gặp rắc rối gì hết. Chiếc máy chữ sẽ đủ cũ kỹ để được xếp vào loại không phải nộp thuế, và nếu anh biết những nhà văn trẻ, thì Orde đã mang đúng trọng lượng hành lý cho phép. Anh ta sẽ phải sắp xếp quần áo. Cửa hàng Anh em nhà Ahamed và Hành lý châu Phi sẽ trang bị cho một người trẻ tuổi đang vội vã.
“Orde,” người thanh niên nói và chìa bàn tay lốm đốm tàn nhang trên đó những đám lông bạc trắng do ánh nắng vẫn dựng đứng lên trong gió. “Chắc ông là Barr. Sẽ chẳng có ai khác đón tôi.”
“Đúng là Barr,” Alex nói. “Chào mừng cậu tới làng của chúng tôi. Cậu đã tới đây lần nào chưa?” - “Chưa,” chàng trai nói và cười, phô hàm răng to trắng trên khuôn mặt có chiếc mũi hếch đầy tàn nhang. Dù có gió hay không, thì mái tóc hung cũng sẽ chẳng bao giờ cần đến lược. Đôi mắt xanh lơ thẳng thắn. “Tôi mới đến những nơi gần gần đại loại như Harlem, trừ phi ông tính cả Mississipi, thì tôi mới tới chỗ ông là một.”
“Nghe có vẻ như một lời nói dối,” Alex nói. “Trước hết, tôi đã đọc bài báo nổi tiếng của cậu về vụ xử gián điệp ở Matxcơva. Tôi vẫn thường đọc những bài viết hằng ngày của cậu khi cậu còn làm cho hãng UPI. Beirut là một bài viết đặc biệt hay.”
Khuôn mặt chàng thanh niên hớn hở hẳn lên.
“Ông có đọc Beirut à? Tôi đã có vô khối chuyện thú vị ở đó. Đã có hồi tôi là thuỷ đánh bộ trong cuộc chiến tranh cũ Triều Tiên.”
Lạy Chúa Jêsu, Alex nghĩ, cảm thấy tóc anh trở nên bạc trắng. Cuộc chiến tranh cũ là Triều Tiên.
“Tôi hầu như cũng đã từng là lính thủy đánh bộ,” Alex nói. “Tôi đã được điều cho Larso ở Guam. Tôi nghĩ mình chưa rời hẳn khỏi đó. Đầu tiên tôi biết họ muốn tặng tôi cho Lực lượng không quân - và rồi tôi nghĩ tôi đã không làm họ hài lòng. Họ tặng tôi cho Hải đoàn Thái Bình Dương Anh, tưởng tượng rằng tôi không thể gây hại quá nhiều ở Australia. Đó là trong một cuộc chiến tranh cũ hơn,” anh cười, cố tỏ vẻ của một cậu con trai muốn khẳng định địa vị người lớn. “Đi thôi,” anh nói và không thể kiềm chế không nói bằng tiếng Swahili. Anh vỗ tay ra hiệu cho người khuân hành lý và bảo, “Sikia! Lete sandul motocar vango, na, upese sana. Cậu có mấy túi?” Anh quay sang hỏi Larry Orde.
“Hai. Một lớn và một thường.”
“Sunduku mbile,” Alex nói với người phu khuân vác. “Ile mkubvoa na i kidogo.” Anh chỉ. “Hapana hapa! Hapana pandi hi! Pandi hia.”
“Tiếng Swahili của ông không giống của tôi,” Orde nói. “Chắc tôi đã học nhầm sách.”
“Của tôi là thứ mà người ta gọi là tiếng Swahili ki settler. Ngôn ngữ buôn bán, của cậu là gì?” Anh nhìn chàng thanh niên với sự thích thú mới mẻ.
“Tôi đoán là,” Orde nói nhũn nhặn, “ông đang bảo họ đặt một cái lớn và một cái nhỏ lên xe của ông, và rằng chúng không ở bên này của gian hải quan, mà là ở mé bên kia, và họ phải khẩn trương lên?”
“Đúng thế,” Alex nói và cảm thấy hơi bẽ mặt.
“Ồ, vậy không hoàn toàn phí công vô ích,” Orde nói. “Tôi đã phải học mót mất một tháng khi ký giao kèo làm việc này. Nhưng những gì họ dạy tôi có vẻ giống tiếng Ả rập thuần tuý hơn. Đầy rẫy những tiếp đầu ngữ và tiếp vĩ ngữ có thể thay đổi. Đại loại một con dao là kirsu, hai con dao là wisu và mbile phải là wawilre. Đúng không ạ?”
“Chúa phù hộ cho chúng ta,” Alex nói. “Chúng ta sẽ dừng lại uống một ly trong khi họ còn loay hoay với đống hành lý. Cậu còn nói được thứ tiếng nào nữa?”
Chàng trai phá lên cười, và chùi mấy giọt nước mắt vừa chảy ra.
“Tôi là một con thỏ đế,“ anh nói. “Tôi nói nhiều thứ tiếng tồi hơn bất kỳ người nào. Tiếng duy nhất nổi trội ở tôi là tiếng xứ Basque và có lẽ cả tiếng Albani. Ông không thể phân biệt được tiếng Nga với tiếng Ý của tôi đâu, nhưng tôi hoàn toàn thông thạo ngôn ngữ dấu hiệu. Tiếng Pháp không tồi lắm, còn tiếng Tây Ban Nha thì có thể cho qua, mà tôi có thể sử dụng ở vùng đất Ả rập lai tạp này, đại loại như Hamdullilahl hoặc có thể imshil. Phần sau sẽ là ”cô gái xinh đẹp”.
“Rồi bọn họ sẽ đến vào lúc cần thiết”, Alex nói. “Châu Phi đang chuyển động rất tốt trong mấy năm. Thế còn tiếng Trung Hoa đỏ của cậu ra sao?”
“Món đó thì tôi vẫn chưa biết”, chàng thanh niên nói. “Nhưng sẽ có lúc. Ông có ý kiến gì về nơi tôi sẽ ở trong khi chúng ta xét xem tôi sẽ phải làm gì để khỏi vướng mắt ông trong khi tôi vẫn kiếm được lương của tôi?”
Họ đang đi về phía chiếc xe thuê. Alex dúi cho đám khuân vác mỗi người hai shilling. Họ cúi chào và nói: Asante sana, Bwana và đi khỏi.
“Cậu sẽ không nghe thấy từ Bwana ấy nhiều đâu,” Alex nói trong khi ngồi vào ghế lái. “Nó là một phong cách, giống như kanzu và chân trần, về chuyện chỗ ở của cậu, tôi có một khu phòng. Nó có hai giường. Tôi nghĩ cậu có thể ngủ chung với tôi - thực ra đấy là một căn hộ - cho đến khi chúng ta quyết định được là ai sẽ làm việc gì.”
“Tốt quá,” Larry Orde nói. “Lạy Chúa, ngựa vằn kìa! Và những con gì giống như trâu, có bờm - linh dương?”
“Đúng đấy. Cho đến rất gần đây, đặc biệt là ở sân bay cũ, họ đã phải bắn chúng trên đường băng, theo đúng nghĩa đen. Những thợ săn da trắng được gọi ra một giờ trước khi máy bay hạ cánh. Tôi đang quay lại nơi xa ấy”. Anh nói, với cảm giác tự mãn đáng xấu hổ.
“Kanzu là gì?” Chàng thanh niên hỏi. Alex liếc vào gương chiếu hậu. Dù sao, anh nghĩ, cậu ta cũng nhớ dai.
“Kanzu là một loại áo ngủ cổ điển trong trang phục của miền duyên hải Ả rập, tuyến đường Mombasa - Malindi, và nó đã trở thành đồng phục chính thức cho những người phục vụ. Kanzu trắng, khăn quàng màu đỏ, và đi chân đất. Hiện nay các tập đoàn thương mại đang hô hào cho quần và giày tennis, và cậu không thể bắt nhiều người bạn châu Phi kêu lên cậu bé nữa. Thời thế đổi thay, và tất cả đều vậy. Mọi thứ đã thay đổi kể từ khi tên Mboya xuất hiện trên bìa tạp chí Time. Một vụ giao dịch lớn.”
Tiếng bánh xe lăn lạo xạo êm ả trên mặt đường trải nhựa thẳng tắp.
“Hoa đẹp quá,” Larry Orde nói. “Tất cả trông rất mới.”
“Đúng đấy. Họ đã trồng chúng dành riêng cho Nữ hoàng. Giống hoa giấy đó đặc biệt đẹp. Chẳng bao lâu nữa đây sẽ không còn là đường cao tốc Nữ hoàng. Mà nhiều khả năng sẽ là đại lộ Mboya.”
“Thế cái ông Mboya ấy trông thế nào?”
“Khôn ngoan. Quá ư là khôn ngoan, như người Anh thường nói. Rắc rối với Mboya là ở chỗ hắn ta tỏ ra kẻ cả với châu Phi hoang dã. Theo lời hắn, hắn “không thích những Nigger[52] cởi trần cầm giáo.“ Họ đã bắt đầu đi. ”Cậu sẽ không tin được đâu, nhưng thậm chí hắn ta đã dùng cả một câu thành ngữ cũ về việc đập trứng để làm món trứng tráng. Đây sẽ là đĩa trứng tráng cực kỳ vĩ đại, một ngày nào đó, khi việc cắt nút bắt đầu.”
“Tôi đã soi từng chữ trong bài viết của ông.” Larry Orde nghiêm túc nói. “Ông thực sự rất am tường về đẳng cấp này, phải không?”
“Thói nịnh hót sẽ đưa cậu đến bất cứ đâu,” Alex ngoái đầu lại và cười to. “Thậm chí nó có thể dẫn chúng ta đến một cuộc tranh luận nghiêm túc. Tôi rất muốn biết liệu tôi sẽ được khích lệ, bị thay thế, hay là được giúp đỡ. Nhưng cứ đợi đã. Tôi muốn cậu gặp vài người bạn của tôi. Một người là quản lý khách sạn, còn người kia là thợ gác rừng. Và một hai cộng tác viên địa phương có thể giúp ích.”
“Cái gì cũng được, người nào cũng được,” Larry Orde nói. “Tôi đang bị ngợp trên một vùng đất lạ và tôi cảm thấy mình như một gã ngốc ra đi để giúp đỡ - để hỗ trợ - biết dùng từ gì cho đúng nhỉ? Để xâm nhập vào lãnh địa của ông. Hãy cho tôi đi theo. Tôi chỉ là một con gà con chưa thể rời khỏi mẹ. Hoặc đại loại như thế.”
“Tôi sẽ không ấp ủ cậu đâu,” Alex vừa nói vừa quẹo sang phải, rời khỏi đường Chính Phủ để rẽ vào sân trong của Norfolk. “Chúng ta ở đây. Ông số Bảy già thân mến. Nếu những bức tường có thể nói được - nào chàng trai!”
“Cái vụ tắm rửa mà ông đã nhắc đến nghe thật tuyệt,“ Larry Orde nói. Có lẽ một số người thường bay mà không cảm thấy mình nhếch nhác bẩn thỉu. Nhưng tôi thì không. Thậm chí cả móng tay tôi cũng bốc mùi kinh khủng. Ông sẽ tha tội cho tôi nếu tôi gột rửa tội lỗi chứ?”
“Cậu dùng từ hay lắm,” Alex nói. “Cậu sẽ tìm thấy tôi ở ngoài hiên, chỗ mấy người tị nạn người Bỉ. Trong những ngày này chúng tôi có khá nhiều khách hàng ngoài Cônggô. Chúc vẫy vùng vui vẻ.”
Họ ngồi ngoài hàng hiên sau khi ăn trưa, thoải mái trong những chiếc ghế đan bằng cành liễu, chân tựa vào hàng lan can thấp bao quanh hiên.
“Bức thư giải thích việc gì ấy nhỉ” Larry Orde hỏi. “Toàn là trách móc. Tôi vẫn còn thấy đau nhói trong lòng.”
Alex gõ gõ ngón tay trỏ lên bức thư. Anh nhún vai.
“Phải. Rõ ràng là thế rồi. Họ bảo tôi điều mà tôi đã biết.” Anh mỉm cười như mếu. “Tôi đã quá già cho cuộc thử lửa này. Họ không nói rõ ra như thế. Nhưng ý của họ là như thế, rất rõ ràng. Và cậu biết không, Larry? Ông ấy nói đúng. Đây là việc của một người trẻ, và vùng đất này quá lớn đối với một lão già.”
Orde thận trọng hạ chân khỏi lan can, cúi người ra trước, dang tay ôm lấy đầu gối. Đôi mắt xanh, trên khuôn mặt có chiếc mũi tẹt và hếch lốm đốm tàn nhang, thật ngay thẳng.
“Kể cho tôi nghe nào,” anh ta nói.
“Cậu uống thêm cà phê nhé?”
“Không, cảm ơn. Tôi uống đủ rồi. Kể cho tôi nghe xem nào.”
“Hai mươi năm nữa rồi cậu cũng sẽ đứng trước viễn cảnh buồn này,” Alex nói.“Có điều lạ là nó lại chua chát đến không ngờ. Tôi mà cậu đang ngồi cùng bây giờ là điềm báo trước ảm đạm của cậu.”
“Có lẽ tôi hiểu, có lẽ tôi không,” Larry Orde nói. “Giải thích rõ hơn cho tôi đi. Alex. Ông biết Schell đấy. Ông ấy chẳng nói gì với tôi ngoài việc bảo tôi xuống lừa, lên ngựa và hối thúc tôi tới đây làm việc với ông. Ông ấy nói ông đã sắp xếp.” Orde nhăn nhó. “Ông cũng biết đấy, đồng tiền luôn có tiếng nói. Tôi là một nhân viên, chứ không phải là một chuyên gia. Tôi sẽ đi bất cứ đâu mà người ta bảo trừ phi chỗ đó hoàn toàn không thể chịu đựng được.”
“Một cách rất ngắn gọn,” Alex nói chậm rãi. “Thì cậu sẽ tiến hành công việc. Cậu sẽ ngồi lên yên tuấn mã. Còn tôi thì ngồi đây - hoặc rất có thể là ngôi ở Leopoldville - trên con lừa của tôi. Cậu là đôi chân; tôi là cái mông. Cậu báo cáo. Còn tôi viết cái mà cậu báo cáo. Chúng ta ở hai phía trong một tòa nhà. Tôi có phụ đề. Cậu làm công việc. Tôi sẽ cảm thấy mình giống như bọn chăn dắt, còn cậu thì sẽ cảm thấy phẫn nộ. Cậu là đôi chân của tôi còn tôi là ngón tay của cậu. Và người ta sẽ đọc ở dòng phụ đề: Được viết bởi Alexander Barr, và đấy sẽ là tác phẩm của cậu, mốc meo thành một bài văn chán ngắt bởi một lão già, ở đây, khi lão ta ngồi tận hưởng làn gió nhẹ này, trên hàng hiên mát mẻ này trong khi cậu bốc mùi trong những khu rừng nhiệt đới. Cậu có thích thế không?”
“Không, tôi không thích thế, nhưng là vì một lý do mà ông có thể không ngờ tới.” Larry Orde mỉm cười vẻ ỡm ờ. “Tôi không thích điều ấy theo cách tính của ông.”
“Đó là sự độ lượng của cậu thôi,” Alex nói và nhìn thấy vẻ giận dữ thoáng quá đôi mắt của Larry Orde. Anh giơ bàn tay lên. “Thôi. Dừng lại đây thôi. Tôi không có ý hạ mình hay làm cao đâu. Tôi chỉ muốn nói đến một cảm giác có thật,giống như cậu đã dùng từ gột rửa. Cậu thật tử tế khi nhìn ra tính cách ấy của tôi, Orde ạ. Không dễ dàng gì mà gặm cỏ được khi mà bộ răng đã lung lay, nhất là khi cậu đã mất sáu tháng trời nay để cố thuyết phục bản thân rằng mình mới có ba mươi tuổi với cả đống lửa nhiệt tình dưới mông.”
“Ồ, tôi đâu có định hạ mình,” Larry Orde nói. “Tôi chỉ muốn nói rằng tôi không phiền phải làm chân nếu ông vui vẻ tin vào những gì tôi săn được cho ông dưới dạng báo cáo thô. Tôi không quan tâm đến tiêu đề trên đó; cái tôi muốn là được học hỏi. Và nếu những câu chuyện tôi tìm được đủ thú vị để ông đưa tôi vào nhóm tác giả, thì tôi sẽ rất vui mừng được nằm vào nửa vô danh của nhóm. Được không ạ?”
“Ta bắt tay nào,” Alex nói và lắc mạnh bàn tay. “Tôi nghĩ vì sự mở đầu này chúng ta sẽ đi xa đấy. Có lẽ là xa như đến quầy rượu vậy.”
Orde lại nhếch mép cười.
“Trong có chốc lát thì thế cũng đủ xa rồi. Giờ ông sẽ không để các thầy mo đầu độc tôi nữa chứ, có hàng triệu điều tôi không biết mà ông có thể chỉ bảo cho tôi.”
“Tôi là người ruột để ngoài da,” Alex nói. “Hãy tẩy não cho tôi. Đó là khoản học phí của cậu từ bây giờ.”
Larry Orde lại cười.
“Có lẽ họ đã nhầm khi gửi đến cho ông một người giúp việc. Câu chuyện vừa rồi cho thấy có vẻ như ông chỉ vừa mới vào đề.”
“Tôi đã sống bừa bãi một thời gian dài,” Alex nói. “Có lẽ dài bằng cả tuổi cậu đấy. Thật kinh khủng, phải không?”
“Khi tôi rơi vào hoàn cảnh này hai mươi năm sau,” giọng Larry khẽ khàng. “Tôi hy vọng mình cũng sẽ xử sự tốt như thế. Đó có thể là một lời chê trách, ông biết chứ.”
“Tôi biết,” Alex nói vô cảm. “Giờ thì hãy thong thả đi theo con đường của định mệnh; tay trong tay, xuống quầy bar, và mang theo quyển vở của cậu. Nếu cậu có câu hỏi, tôi sẽ không ngạc nhiên nếu tôi không có câu trả lời. Chúng ta bắt đầu bằng lời huấn thị của Grandpa: Đừng bao giờ dính dáng vào những cô ả tóc đỏ mặc đồ lót màu đen.”
“Thật sự tôi không muốn mình giống như Foxy Grandpa,” Alex nói. “Nhưng đôi khi tôi lại giống thế, như cậu đã nhận xét. Một trong những điều cậu không muốn làm là để mình bị giết một cách ngu xuẩn. Mà đây thì lại là một đất nước ngu xuẩn, với một cuộc chiến tranh ngu xuẩn, do những con người ngu xuẩn tiến hành. Từ ngày này sang ngày khác không ai biết được ai sẽ là người đầu tiên nằm xuống.”
“Khó mà có thể bị thương trong một cuộc tranh cãi ầm ĩ thế này? Ý tôi là tôi đã trông thấy sắt thép và nghe thấy tiếng động ồn đâu đó.” Chàng thanh niên Larry Orde cho qua cuộc chiến của người Cônggô bằng một cái phẩy tay. “Chẳng qua chỉ là một lũ kẻ cướp được thả lỏng và có lẽ đã say mèm.”
“Cậu đã nhận ra đúng vấn đề,” Alex nói. “Đấy là rắc rối của cuộc chiến này. Họ không có mặt trận theo đúng nghĩa của nó, không có quân đội chính qui - và quỉ tha ma bắt, chỉ vài tháng trước đây thôi viên tướng của đội quân này còn là một y tá - và tất cả là những bóng đen giống như nhau. Nhưng nguy hiểm cũng là ở đó, vì luôn luôn có một gã dân tộc cực đoan nào đó với khẩu súng hỏa mai dài nghĩ cậu là gián điệp của Bỉ.”
Larry Orde cười, những nốt tàn nhang của anh chạy rộng ra, khiến Alex chợt nghĩ tới Ben Lea.
“Tôi sẽ cẩn thận về mặt này,” Larry Orde nói. “Tôi có một băng tay Mỹ và một hòm đánh giày bằng sắt. Tôi định ăn trộm một chiếc mũ sắt màu xanh nữa, nó sẽ làm cho khuôn mặt tôi có vẻ đặc biệt ngớ ngẩn, và phần nào hòa hợp với cảnh vật.” Anh đổi giọng. “Đó là lí do người da trắng gọi tôi đánh giày.”
“Điều mà cậu chưa tính tới,” Alex nói, “là những người đưa tin địa phương không tha thiết gì với những bản tin mới nhất. Họ hoặc đang đánh nhau ở Kasai hoặc không. Hoặc là cái gã Lumumba lông lá đó chấp nhận đề nghị của bọn Đỏ, hoặc là không. Tshombe vừa mới bị bắt, hoặc đang hành quân ở Leopoldville, hoặc đang phòng thủ Katanga cho cuộc chiến cuối cùng. Dù cậu có tin hay không thì hôm nọ bọn chúng cũng đã bắn tiến sĩ Bunche.”
“Ralph phần nào hơi quá sáng ở khu vực này,” Larry Orde lại nhếch mép cười. “Tôi định làm một người đen hơn. Đầu tiên tôi sẽ phải làm gì, ông chủ?”
“Cậu có thể đến Leopoldville và tự thâm nhập vào thực tế,” Alex nói. “Nhưng thực tế sẽ thay đổi trước khi cậu thâm nhập được vào đó.”
“Chừng như cuộc sống nằm ở Kasai, và một đường để đi tới là qua Luluabourg. Có một chuyến bay tới đó vào lúc xế chiều hôm nay.”
“Khi tôi rời khỏi đó thì tình hình ở đó rất nguy hiểm,” Alex nói và vẫy người phục vụ. “Có nhiều phụ nữ Lulua trần truồng diễu qua các phố”.
“Thật đúng là một chỗ dành cho tôi,” Larry Orde nói. “Bắt đầu bằng những cô ả trần truồng và hy vọng gặp may.”
Alex vỗ vỗ lên vai anh.
“Có một khác biệt nhỏ ở những cô ả trần truồng đó,” anh nói. “Khi họ cởi trần diễu qua các phố họ thường bôi tro lên người, và họ vừa mới tuyên bố chiến tranh. Hôm sau họ đã ăn thịt người tài xế của tôi.”
“Đó đúng là thành phố tuyệt vời để bắt tay vào việc, trong khi còn chưa biết gì hết,” Larry Orde nói và đứng lên. “Leopoldville chỉ làm cho tôi lẫn lộn mà thôi. Tôi nghĩ tôi sẽ đeo cái thùng đồng nát vào và quay trở lại sân bay.”
“Không ăn tối sao? Có một vài người vừa từ đó trở về, họ có thể giúp…”
“Không ăn tối. Tôi không muốn bỏ lõ dịp được gặp những quí bà trần truồng diễu qua các đường phố đó. Tôi sẽ giữ liên lạc với ông, Alex. Gửi về đây cho ông à?”
“Hãy đề tên Burrows, người quản lý. Ông ấy cất giữ tất cả các bài viết của tôi và giữ liên lạc với tôi nếu tôi không ở trong thành phố. Giữ mình đấy, Larry. Đấy là nơi viết lên những bài báo lớn, và cũng là mồ chôn nhiều người da trắng đấy.”
“Tôi sẽ giữ mình. Tôi sẽ giữ mình, và ông sẽ sớm biết thôi. Tôi có đôi chân dài và bộ óc nhỏ. Tôi sẽ gửi tin về cho ông ngay khi tôi có. Và...”
“Sao kia?”
“Tôi hy vọng tôi không làm ông thất vọng. Nếu tôi làm việc này không phải vì ông thiếu một đôi chân.”
Người phục vụ xuất hiện với tờ phiếu tính tiền.
“Của tôi,” Larry Orde nói, quăng tiền lên bàn, và bước đi. Alex Barr nhìn theo cái dáng cao cao của chàng thanh niên. “Mình nghĩ mình đã quen nhìn thấy cảnh này - đã có lúc,” anh lẩm bẩm, và rời khỏi Grill đi kiếm bữa tối.
[52] Từ khinh miệt chỉ người da đen.