Ngôi nhà cao, thanh mảnh mang phong cách Georgia nằm lạnh lẽo trên một quảng trường yên tĩnh. Alex nghe thấy tiếng cồng khi anh bấm chuông. Cánh cửa mở ra nhanh chóng.
“Anh không cần lo gì nữa,” anh nói. “Chào em, Jill Richard.” Họ bắt tay nhau một cách trịnh trọng.
“Chào anh, Alex Barr. Anh không cần lo về điều gì?”
“Về em,” anh nói. “Em vẫn thế. Trẻ mãi không già.”
“Em sẽ cất áo khoác cho anh và đưa anh đến chỗ uống rượu,” cô nói. “Sau đó anh có thể bày tỏ sự đánh giá của mình.”
Ngọn lửa ánh xanh reo tí tách trong chiếc lò sưởi kiểu cổ, mặt lò bày đầy những tấm thiệp mời. Căn phòng ốp ván trắng và sơn màu xanh táo. Một bên tường sáng lấp lánh toàn sách. Màu nâu của những đồ đạc sang trọng phản chiếu ánh nến hắt ra từ phòng bên. “Anh ngồi xuống đây,” cô nói và đập nhẹ lên chiếc đivăng màu trắng khá lộn xộn.
“Khẩu vị của anh về rượu gin có thay đổi không đấy?” Cô hỏi. “Em nhớ mang máng là trước đây nó màu hồng thì phải.”
“Khẩu vị của anh không thay đổi gì hết,” Alex nói. “Thế nên anh mới là rút cục anh không cần phải lo gì hết. Em rất đặc biết đấy, em biết không.”
Cô ngồi đối diện với anh trước lò sưởi, trên nửa kia của chiếc đivăng trắng. Cô mặc chiếc quần nhung đen bó sát và chiếc áo choàng màu trắng ngà bóng của hãng Gucci. Cặp mắt vẫn xanh, mái tóc vẫn đỏ, và khóe miệng vẫn cong lên. Đôi săng đan tết bằng dây vàng lấp lánh.
Cô nâng cốc, hàm răng vẫn trắng muốt.
“Chào mừng anh đến thăm tệ xá của em, như người Mỹ thường nói.”
“Thời gian thật là dài, như người Anh vẫn nói. Em biết không, trông em thật đáng yêu.”
Cô cười, khoé miệng kiểu hề cong lên.
“Đây một nếp nhăn, kia một nếp nhăn. Có lẽ phải chi một khoản khá lớn cho thợ làm đầu. Trông anh cũng rất tuyệt vời, Alex.”
“Anh còn sống. Chúng ta đã mất đi một vài người bạn. Việc chỉ đi đây đi đó cũng có sự bù đắp của nó.”
Mặt Jill Richard thoáng buồn.
“Em đã biết chuyện về Ben. Thật đáng tiếc, rất đáng tiếc, một cuộc đời trọn vẹn, vui vẻ và ... tốt như vậy.”
“Không phải bây giờ. Đây là một lễ kỷ niệm,” Alex thở dài. “Anh không thể nói chuyện gì đã xảy ra trong sáu năm qua. Em kể trước đi. Làm sao mà anh lại tìm được em trong tình trạng chăn đơn gối chiếc như thế này?”
Cô nhún vai.
“Anh biết đấy. Đây một quí ông, kia một quí ông, có lẽ thậm chí là một anh chàng nịnh đầm. Nhưng không đủ sức nịnh để nhổ được em ra khỏi chỗ này.” Cô khoát tay. “Ở đây yên tĩnh. Ở đây đơn giản. Ở đây có sách và có lửa. Và có đủ tiền để em không phải lao vào những cuộc đấu khẩu tiền nong của đời vợ chồng. Cuối cùng em đã thu xếp được đẳng cấp của chồng em theo một kiểu cách nhẹ nhàng. Em chẳng cần làm gì - em không mong muốn ai tới mức đẩy em vào nguy cơ tâm hồn và trí óc. Du lịch, xem ảnh và cọ rửa nhà cửa vào ngày Chủ nhật khi trời mưa như vẫn luôn mưa. Vả lại lúc nào chả có tivi. Còn bây giờ, đến lượt anh.”
“Anh trơn tru như rắn. Anh đã đi. Anh đang đi. Anh làm việc. Anh viết. Bây giờ anh đang nhận một việc đầy thách thức, một việc nhỏ mọn có tên là châu Phi.”
“Em đã đọc những bài báo về Mau Mau của anh, và hai cuốn sách mới đây nhất.“ Jill nói dè dặt. ”Mau Mau thuộc hạng nhất. Còn những cuốn sách thì hay tuyệt.”
Alex cười.
“Anh biết kiểu giọng điệu này. Một người phụ nữ khác mà anh biết - một diễn viên - một lần đã tự mô tả là thích đáng. Anh là một nhà văn thích đáng từ khi anh gặp em lần cuối. Anh sẽ không nhận danh hiệu đó nữa.”
“Ồ, nào, anh đã gắn vào nhau rất tuyệt,” cô nói. “Nhưng em có cảm giác là anh chưa hài lòng. Anh sắc nhọn hơn cái ngày chúng ta gặp nhau. Em hy vọng anh giữ lại điều gì đó cho đến khi nó chín muồi, tốt đẹp và sẵn sàng. Em không có ý dạy khôn anh.”
“Em hoàn toàn có lý”. Giọng Alex khô khan như chiếc lá già. “Chỉ có điều hình như anh không biết cái gì là chín muồi, tốt đẹp và sẵn sàng. Trong khi ấy anh vẫn phải làm việc. Một con bạch tuộc lớn trong ngành văn có tên là Cosmic muốn anh trong mười hai tháng tới phải lọt vào hạng A Darkest về báo chí và sau đó là sách. Đây là chặng đầu tiên trong cuộc hành trình. Điểm dừng tiếp theo sẽ là những hội nghị ở Brussel, sau đó là Cônggô để quan sát. Sau đó là những chuyến trinh sát từ Cane tới Cairo.”
“Anh khiến mọi chuyện nghe như một trò đùa chứ không phải là một chuyến phiêu lưu,” Jill Richard nói. “Em sẽ phát điên vì phấn khích.”
Alex cười, mặt anh sáng lên.
“Anh có thể xấu hổ vì sự hồ hởi của mình khi gặp lại em. Nhưng anh sẽ không thế. Anh đang điên lên vì phấn khích. Châu Phi có cái gì đó biến anh thành phượng hoàng hồi sinh trên đống tro tàn. Anh nghĩ cứ sáu năm anh lại được sinh ra một lần.”
“Thế nơi đó thế nào? Em đã đọc nhiều. Như Alan Moorehead chẳng hạn, toàn bộ tổng quan của ông ấy về Baker, Speke và những nơi khác. Châu Phi gần như là một căn bệnh dễ lây.”
“Anh không biết phải giải thích thế nào. Có lẽ vì nó quá tương phản. Trời nóng thì thật nóng, nhưng ngay đêm ấy người ta sẽ bị lạnh. Trong cuộc sống luôn có cái chết - mỗi thời khắc đều nhắc nhở rằng cuộc đời chỉ là phù du - nhưng không hiểu sao người ta lại không bao giờ cảm thấy được sống nhiều như thế. Linh cẩu là thần chết, và anh thấy tiếng tru của nó còn êm ái hơn tiếng chiêm chiếp của những con chim cổ đỏ. Những ngôi sao treo thật thấp, còn mặt trăng thì đu đưa ngay cạnh, ánh lửa lấp lánh hơn, không khí mát mẻ hơn. Sư tử dịu dàng như chó cún, còn voi thì hình như luôn ra đi một cách buồn rầu, trừ khi nó rống lên và lao thẳng vào người. Anh nghĩ là không có gì thỏa mãn hơn được giới thiệu một đất nước cho người mà mình yêu, nhưng khoe khoang nó với người lạ thật sự là một nguy cơ lớn khiến một người, nhất là một nhà văn, cố diễn tả nó ra giấy. Một số người chỉ nhìn thấy rắn và than thở vì không có nước đá, phàn nàn về bụi bậm và sưng tấy vì bị sâu bọ đốt. Một số người khác nhìn nơi đó hoàn toàn chỉ là vẻ đẹp, và không thể chờ được đến khi Chúa trời có đủ lòng tốt và đủ tiền để đưa họ đến những vùng sa mạc hoang vu, những vùng đầm lầy hôi thối, những bầy muỗi và những con người hoang dã. Tất cả chúng tôi đều phải chịu những lời phàn nàn hay gặp nhất đối với hầu hết các nhà văn. Họ thay đổi phong cảnh để chắc rằng nó sẽ phù hợp khi in ra. Họ định khuôn cứng nhắc cho các nhân vật trước khi cho nhân vật cơ hội để tự xác định mình. Một số lái buôn văn chưa bao giờ đi săn voi, còn hầu hết chưa bao giờ thực sự tham gia vào một cuộc chiến tranh.”
“Có phải em đã phát hiện ra một cảm giác hằn học trong đó?” Jill hỏi.
“Tuyệt nhiên không,” Alex nói và châm điếu thuốc của cô. “Chỉ có hai loại chiến tranh, một cho những lái xe cứu thương tình nguyện trên chiến trường và những phóng viên chiến tranh nổi tiếng, những người lao vào để chém giết sau một vài trận đánh thật sự, và không ngủ trong bùn. Loại chiến tranh kia là không có một giọt whisky và có thể có hoặc không có cái gì cho vào bụng, vào cơ thể và tâm hồn. Kiểu chiến tranh này kéo dài khủng khiếp, và gần như một trăm phần trăm là không dễ chịu chút nào.”
“Thế cuộc chiến tranh của anh là gì?”
“Của anh ấy à? Một thường dân được ăn uống tốt, mặc quân phục trong đơn vị của Anh. Anh nghe thấy những phát súng toé lửa giận dữ, nhưng lại hoảng sợ chạy trốn và không được huân chương. Anh đến sớm và rút nhanh, không nhớ được là mình đã giết bất kỳ ai. Thậm chí anh không hề bị thương.”
“Nhưng chuyện về những con voi là thế nào?”
Alex cười.
“Chừng nào em đã đi săn voi thì em không đi săn người, cũng như em không biết đến sự khiêm tốn, nỗi lo sợ, lòng tôn kính và sự dài ngắn của cuộc đời, sự sâu thẳm vô tận của cái chết. Anh nghĩ không thể giải thích được điều này cho bất kỳ ai ngoài một thợ săn voi khác.”
“Và anh là một thợ săn voi?”
Alex cúi đầu.
“Xin lỗi em. Anh là thợ săn voi. Không phải là kẻ bắn voi lấy ngà, mà là người tìm kiếm sau hàm răng lớn. Sự khác nhau cũng nhiều như trong những trận đấu bò hoặc chiến tranh.”
“Em không hiểu về tính thần bí của voi, mặc dù em nghĩ Ben đã chỉ dẫn cho em khá tốt về bò. Ben đã... như thế nào?”
“Để sau bữa tối đã, nếu em không phiền,” Alex nói. “Anh kể về Ben tốt hơn khi có một ly brandy. Anh vẫn chưa quen với ý nghĩ là ông ấy đã mất.”
Jill chỉ vào chiếc ly đã cạn của anh.
“Một ly nữa trước khi ăn nhé?”
“Cảm ơn, anh đủ rồi. Với em có lẽ anh không cần nhiều chất kích thích. Anh đang đi bằng sức của anh.”
“Em vẫn muốn nghe thêm gì đó về cuốn sách có lẽ đã chín trong anh.”
Trông Jill Richard thật đáng yêu trong chiếc quần đen và chiếc áo trắng của cô bởi ánh lửa trong căn phòng màu xanh với ánh nến lấp lánh như ánh lửa trại xa xa từ phòng bên cạnh. Cô cúi người về phía trước, khuỷu tay tì lên đầu gối, như cách Alex ngồi trên chiếc Land Rover khi có người khác lái. Cô rất chăm chú, và Alex cảm thấy cô thực sự quan tâm đến những gì anh nói - không cảm động vì anh nói ra những điều ấy, nhưng quan tâm tới những gì anh nói ra. Đã lâu rồi mới có một sự quan tâm như thế, từ sau sự quan tâm cũ kỹ của Amelia, sự thích thú mới mẻ của Barbara Bayne, sự tò mò trẻ con của Penny Lawrence.
“Người ta vẫn nói con người là kiệt tác của Chúa, nhưng anh không còn tin điều ấy từ khi nhìn thấy con voi đầu tiên. Có lẽ những con cá voi... anh chưa bao giờ gặp cá voi, nhưng anh biết Hemingway định nói điều gì khi ông viết về Melville và Moby Dick. Đối với anh voi là Moby Dick, nhưng không phải vì voi nhai được chân hay bất kỳ cái gì giống như thế. Nhưng khi em nhìn thấy sự vô ích của các nhà chính trị, sự vô ích của chiến tranh, sự ngu ngốc hoàn toàn của tính độc ác của con người đối với chính bản thân họ, thì có thể coi những con voi là tượng đài về sự sáng suốt của Chúa.”
“Và vì thế anh đã bắn nó để lấy ngà?”
“Anh bắn nó vì linh hồn của nó, còn ngà chỉ là một tượng đài, như cây thánh giá được tôn sùng vì tên Đức Chúa. Và anh bắn nó khi nó đã sẵn sàng lên thiên đường, và anh không muốn nó bị làm nhục bởi con người” - Alex gần như thốt ra từng từ - “Những người không xứng đáng với nó. Những người sẽ xẻ thịt nó cho lũ tatu, lấy ngà nó để đẽo những bức tượng thánh thần ngu ngốc, những quả bóng bia và những chiếc vòng đeo ở cổ tay những cô ả Ấn Độ. Anh bắn nó để giữ gìn nó, nó và ký ức về nó.”
“Việc ấy có vẻ chiếm mất khá nhiều vai trò của Chúa trời.” Lông mày của Jill Richard cau lại.
“Tất cả mọi người đều chiếm nhiều vai trò của Chúa, theo cách này hay cách khác. Một số người làm việc đó ngu ngốc hơn những người khác. Anh không bắn tất cả những con voi mà anh nhìn thấy. Khi anh bắn một con voi già là anh bắn vào ký ức của con người và vào niềm hy vọng đặc biệt của anh về Thiên đường, cái sẽ bị kéo xuống ngay buổi đầu tiên bởi những con người - hay con vật - như anh. Anh có thể kể cho em nghe về con sư tử bị thương bị đàn linh cẩu vây quanh; anh có thể kể cho em nghe về con voi đực đặc biệt của anh. Romain Gary đã đề cập đến nó trong cuốn Nguồn gốc Thiên đường đã được dựng thành một bộ phim rất tệ hại. Ben Lea đã kể về nó theo nhiều cách.”
Jill đứng lên.
“Em rất muốn anh kể cho em về con voi đực đặc biệt. Nhưng bây giờ em phải cựa quậy một chút và xem xem cái bàn chải cọ rửa ở đâu, nếu chúng ta còn muốn ăn. Anh hãy sửa sang một chút đi. Phòng vệ sinh nam ở đằng kia, và em sẽ bật một ít nhạc buồn.”
“Anh có thể giúp em không?”
“Không. Có tờ The Times, tờ Evening Standard và Time. Anh cứ tự nhiên như ở nhà, trong lúc ấy em ở phòng rửa bát.”
Alex ngồi lại với một cốc rượu mới, lắng nghe tiếng nhạc Debussy, và khẽ nhắm mắt lại. Giống như được quay lại với ngọn lửa trại - ngọn lửa trại mà anh hy vọng sớm được nhìn thấy, bất chấp những mưu đồ chính trị, sự kêu cứu của các quốc gia, múi giờ và những chuyến đi. Với Jill - có một người đàn bà để trò chuyện, và người ta không có cảm giác là cô lắng nghe chỉ vì lịch sự. Sau bữa tối chắc chắn là ngon miệng, anh sẽ xem xem liệu anh có thể kể cho cô nghe điều gì đó về ý định của các nước. Bằng cách này, anh sẽ né tránh được những câu hỏi về công việc của anh ở châu Phi và về cuốn sách mà có lẽ anh sẽ viết vào một ngày nào đó.
Anh có thể nghe thấy tiếng va đập mơ hồ của đồ dùng trong nhà bếp, nhưng với sự bồn chồn của mọi người đàn ông tận tụy, anh đứng lên khỏi ghế và đi vơ vẩn trong phòng. Anh đi đúng đến chỗ những cuốn sách của mình, và thấy thích đám những nhà văn mà anh được xếp cùng. Có một vài bộ mẫu, nhưng chúng đều được dùng đến nhẵn bóng, chứ không phải buồn thảm trong lớp bìa cứng phủ bụi. Những Dickens, Poe, Heminway, Proust, Steinbeck, Twain, Kipling - và dĩ nhiên, cả Alexander Barr nữa, không phải là chưa được động tới. Tất cả những cuốn sách của Barr đều có ở đó, ngoại trừ cuốn gần đây nhất. Cô ấy nói là đã đọc nó, nhưng? À, chắc ai đó đã lấy trộm nó, vì Jill Richard có vẻ là người không thích cho mượn. Hãy chú ý điều đó, Barr.
Anh bước lại chỗ chiếc lò sưởi thanh thoát đáng yêu, màu trắng ngà thanh nhã tương phản với nền tường xanh táo, với tấm thảm xanh lục sẫm. Nhiều thiếp làm sao. Với vẻ có lỗi, lắng nghe tiếng động trong bếp, anh nhặt lấy một cái, cực kỳ thận trọng để không làm lộn xộn chiếc khay kiểu quân đội khô khan, trên đó những thiếp mời đã bảo vệ cuộc sống xã hội của Jill Richard khỏi mọi điều nguy hại, giống như những lính ngự lâm trước cửa điện Buckingham. Anh lén nhìn: Đại tá và phu nhân kính mời. Đại tướng và phu nhân kính mời. John và Wendy sẽ rất vui nếu.... Huân tước và phu nhân kính mời. Mary và Peter sẽ rất vinh hạnh nếu... Ngài Bertram chân thành mong... Thiệp, thiệp, lại thiệp. Và liệu Jill yêu quí có thể. Và liệu Jill thân mến có thể. Và lại thiệp thiệp thiệp. Rồi đến cái này: Thật buồn phải đón năm mới mà không có em, vì thế xin hãy làm ơn. Mãi mãi yêu em. Miles.
“Miles à?” Alex gầm gừ trong đầu. “Vậy cái gã Miles này, với cái bi kịch của gã, cái năm mới của gã, cái tình yêu mãi mãi của gã, là ai vậy nhỉ?”
Anh nghe thấy tiếng bước chân, và vội vã quay trở lại ghế với tờ Time có bìa là chân dung một nhà chính trị nào đó của châu Phi (Mboya, anh vội vã liếc nhìn tiêu đề) khi Jill bước vào phòng.
“Bữa ăn tối, như anh thấy, đã được dọn,” cô nói. “Em hy vọng anh không quá buồn khi chờ đợi.”
“Anh thực sự không hề buồn.“ (Tôi sẽ nói là tôi không buồn. Cô và cái gã Miles chết dẫm và cái nỗi buồn chết dẫm đó nếu gã không thể đón năm mới mà không có cô.) “Anh sợ là mình đã chịu thua âm nhạc và đã ngủ gật. Em biết đấy; một chuyến bay dài. Rồi lại môt ngày bận rộn ở văn phòng.”