Đời tôi

Lượt đọc: 94259 | 114 Đánh giá: 8,6/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 54 (tt)

Chiều chủ nhật, ngày 6 tháng 2, Hillary, Chelsea, Dorothy và tôi lái xe tới Chappaqua thăm trường Đại học Quốc gia New York gần Purchase để Hillary tuyên bô chính thức về việc tranh cử vào thượng viện của cô ấy. Thượng nghị sĩ Moynihan giới thiệu cô ấy. Ông nói với Hillary rằng ông từng biết Eleanor Roosevelt và rằng bà ấy "sẽ yêu quý bà". Đó là một lời khen rất chân thành và hài hước bởi lẽ Hillary đã nhận được khá nhiều lời trêu đùa là cô ấy từng có cuộc đối thoại tưởng tượng với bà Roosevelt.

        Hillary đọc một bài diễn văn tuyệt vời, cô ấy đã viết bài đó rất cẩn thận và luyện tập rất chăm chỉ; nó thể hiện những gì cô ấy biết về mối quan tâm của những vùng khác nhau trong bang và cô ấy hiểu rất rõ về sự lựa chọn mà cử tri phải đối mặt. Cô ấy cũng giải thích lý do tại sao lại tham gia tranh cử; chỉ ra rằng cô ấy hiểu tại sao những người New York lại thận trọng khi bầu cho một ứng cử viên, thậm chí kể cả những ứng cử viên mà họ thích, không sống trong cùng bang với họ một vài tháng trước đây; và nói những việc cô ấy sẽ làm nếu trở thành thượng nghị sĩ. Chúng tôi cũng đã bàn liệu tôi có nên phát biểu hay không. New York là một trong những bang tôi thích nhất; hiện nay có đến 70% người dân ở đó ủng hộ công việc của tôi và 60% ủng hộ riêng cá nhân tôi. Nhưng chúng tôi quyết định tôi không nên phát biểu. Đó là ngày của Hillary và cử tri muốn nghe cô ấy nói.

        Cho đến cuối tháng, trong khi tin tức về chính trị chiếm lĩnh khắp các mặt báo, tôi phải giải quyết hàng loạt các vấn đề chính trị trong nước và quốc tế. Trong nước, tôi ủng hộ một dự luật của cả hai đảng để cung cấp Medicaid cho những phụ nữ có thu nhập thấp được chữa trị bệnh ung thư vú và cổ; thỏa thuận với Thượng nghị sĩ Lott để đưa năm ứng cử viên ngành tư pháp ra cho thượng viện bỏ phiếu chấp thuận, đổi lại việc cho ứng viên mà ông muốn - vốn là một người chống đối kịch liệt các cải cách tài chính - được bổ nhiệm vào ủy ban Bầu cử Liên bang; tranh luận với phe Cộng hòa về Bộ luật quyền của bệnh nhân - phe Cộng hòa nói, họ sẽ thông qua dự luật này với điều kiện không ai có thể kiện cáo để thúc ép việc này, còn tôi lập luận rằng điều đó sẽ làm cho dự luật trở thành dự luật của "những lời đề nghị"; chỉ định phòng họp báo tại Nhà Trắng cho James Brady, người bí thư báo chí quả cảm của Tổng thống Reagan; tuyên bố mức tăng kỷ lục quỹ giáo dục và y tế dành cho người Mỹ da đỏ; ủng hộ sự thay đổi trong luật tem phiếu thực phẩm để cho phép những người nhận phúc lợi xã hội có đi làm được sở hữu một chiếc xe đã qua sử dụng mà không phải mất viện trợ thực phẩm; nhận một giải thưởng của Liên đoàn Công dân liên hiệp Mỹ Latinh (League of United Latin America- LULAC) vì những chính sách kinh tế và xã hội của tôi và vì tôi từng bổ nhiệm những người gốc nói tiếng Tây Ban Nha vào những vị trí chủ chốt, và chủ trì Hiệp hội Thống đốc Quốc gia lần cuối cùng.

        Về ngoại giao, chúng tôi đã giải quyết rất nhiều vấn đề đau đầu. Ngày thứ bảy của tháng, Yasser Arafat đình chỉ đàm phán hòa bình với Israel. Ông ấy tin rằng Israel đang gác vấn đề người Palestine sang một bên để nhằm thiết lập hòa bình với Syria. Cũng có một phần như vậy thật, và tại thời điểm đó công chúng Israel sẵn sàng dàn xếp hòa bình với người Palestine với tất cả những khó khăn đã có từ trước đến nay hơn là nhường lại cao nguyên Golan và đẩy cuộc đàm phán với người Palestine vào tình thế nguy hiểm. Chúng tôi đã dành trọn cả tháng cố gắng làm cho mọi việc quay trở lại quỹ đạo cũ.

        Ngày thứ 11, nước Anh tạm ngưng quyền tự trị của Bắc Ireland, bất chấp việc IRA cam kết vào phút chót sẽ giải giáp vũ khí với tướng John de Chastelain, một người Canada đã nhìn thấy trước diễn tiến của tiến trình. Tôi lại kéo được George Mitchell vào cuộc một lần nữa, và chúng tôi đã làm hết sức mình để giúp Bertie Ahern và Tony Blair tránh được ngày này. vấn đề cơ bản theo Gerry Adams là việc IRA muốn giải giáp vũ khí vì người của họ ủng hộ việc đó, chứ không phải vì David Trimble và những người của đảng Hợp nhất yêu cầu việc đó như một cái giá phải trả để họ tiếp tục tham gia lãnh đạo chính quyền. Tất nhiên, không có giải giáp vũ khí thì những người theo đạo Tin Lành sẽ mất niềm tin vào tiến trình, và cuối cùng Trimble sẽ bị thay thế bởi người khác, một kết cục mà cả Adams và Sinn Fein đều không mong muốn. Trimble có thể nghiêm khắc và bi quan nhưng đằng sau vẻ bề ngoài cứng rắn của một người lai Scotland - Ireland là một người lý tưởng quả cảm đang sẵn sàng chấp nhận rủi ro để đổi lấy hòa bình. Dù sao đi nữa, liên tiếp các vấn đề xảy ra đã cản trở việc hình thành chính phủ hơn một năm nay; và giờ đây chúng tôi lại quay về tình trạng không có chính phủ nào cả. Thật là bực mình, nhưng tôi nghĩ thế bế tắc này sẽ được giải quyết bởi vì chẳng ai muốn quay trở lại những ngày tồi tệ trước đây.

Ngày 5 tháng 3, tôi kỷ niệm cuộc diễu binh đòi quyền bầu cử lần thứ 35 tại Selma, Alabama bằng cách đi dọc cầu Edmund Pettus như những người biểu tình đòi dân quyền đã từng đi trên đó vào "Ngày chủ nhật đẫm máu", khi họ đã không tiếc mạng sống của mình để đấu tranh giành quyền bầu cử cho tất cả nhân dân Mỹ. Nhiều người tham gia vào phong trào đòi dân quyền đó, những người đã từng diễu hành với sự ủng hộ của Martin Luther King Jr., đã một lần nữa diễu hành tay trong tay ngày hôm đó, trong đó có cả Coretta Scott King, Jesse Jackson, John Lewis, Andrew Young, Joe Lowery, Julian Bond, Ethel Kennedy, và Harris Wofford.

        Năm 1965, cuộc diễu hành Selma đã khơi gợi tiềm thức của cả dân tộc. Năm tháng sau, Tổng thống Johnson ký Điều luật về Quyền bầu cử để luật này chính thức có hiệu lực. Trước khi điều luật này ra đời, chỉ có 300 người da đen được bầu vào vị trí quan chức ở nhiều cấp, và chỉ có ba thượng nghị sĩ người Mỹ gốc Phi. Năm 2000, đã có gần 9.000 quan chức là người da đen và 39 thành viên trong ủy ban họp kín của quốc hội là người da đen.

        Tôi thấy Martin Luther King Jr. đã đúng khi ông nói rằng khi người Mỹ da đen "giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành tự do, những người đã từng bắt họ phải phục tùng cũng sẽ được tự do lần đầu tiên". Sau Selma, những người miền nam da đen và da trắng đã đi qua cây cầu tới Miền Nam Mới, bỏ lại lòng thù hận và sự cô lập đằng sau để tiến tới nhiều cơ hội mới, sự thịnh vượng và ảnh hưởng chính trị: không có sự kiện ở Selma, Jimmy Carter và Bill Clinton sẽ chẳng bao giờ trở thành Tổng thống của một Hoa Kỳ thống nhất.

        Giờ đây, khi chúng tôi đi qua cây cầu để tiến bước vào thế kỷ 21 với tỷ lệ thất nghiệp và đói nghèo thấp nhất và tỷ lệ người có nhà và có công ăn việc làm trong số những người Mỹ gốc Phi cao nhất từ trước đến nay, tôi đề nghị khán giả ghi nhớ những gì mà chúng tôi chưa đạt được. Khi nào vẫn còn phân biệt chủng tộc trong thu nhập, giáo dục, y tế, nguy cơ bị tấn công bằng vũ lực và nhận thức về sự công bằng trong hệ thống pháp luật hình sự, khi nào vẫn còn tồn tại sự phân biệt và các tội ác thù hằn, "khi đó chúng ta vẫn còn những cây cầu khác để vượt qua".

        Tôi rất mê ngày hôm đó ở Selma. Một lần nữa, tôi đi ngược trở lại hàng chục năm để quay trở về với những khát khao và niềm tin tuổi thơ về một nước Mỹ không bị phân chia về chủng tộc. Một lần nữa, tôi lại quay trở về với nơi tình cảm thầm kín nhất trong đời sồng chính trị của mình khi nói lời tạm biệt với những người đã làm thật nhiều điều để nuôi dưỡng nó: "Khi nào những người Mỹ sẵn sàng nắm tay nhau chúng ta sẽ có thể lướt qua mọi sóng gió, chúng ta có thể vượt qua mọi cây cầu. Từ sâu thẳm đáy lòng tôi, tôi tin tưởng chúng ta sẽ có thể vượt qua tất cả".

        Tôi dành trọn nửa tháng còn lại để vận động cho những biện pháp để bảo đảm an toàn sử dụng súng: lấp lỗ hổng trong việc trưng bày súng, thiết kế khoá cò súng đối với trẻ em, và yêu cầu những người sử dụng súng phải có bản sao giấy tờ cá nhân để chứng minh rằng họ đã qua kiểm tra về lý lịch theo điều luật Brady và đã qua một lớp huấn luyện về an toàn sử dụng súng. Nước Mỹ rung chuyển bởi hàng loạt những vụ giết người bằng súng, một trong số đó là do một đứa trẻ bắn súng tìm thấy trong căn hộ của mình. Tỷ lệ giết người bằng súng không cố ý do trẻ em dưới 15 tuổi gây ra tại Mỹ cao gấp chín lần so với 25 nền kinh tế lớn nhất gộp lại.

        Bất chấp nhu cầu bức thiết và sự ủng hộ của công chúng đang ngày càng tăng đối với việc kiểm soát sử dụng súng, Hiệp hội Súng trường Quốc gia (NRA) cho tới nay vẫn giữ mọi chuyện ở quốc hội, mặc dù những nhà sản xuất súng đã đảm bảo họ sẽ bổ sung khoá cò súng đối với trẻ con. Về lỗ hổng trong việc trưng bày vũ khí, NRA nói khi phản đối dự luật Brady họ không phản đối việc kiểm tra lý lịch nhưng họ không muốn bất kỳ ai phải chịu những phiền hà rắc rối vì an toàn của những người khác do phải chờ đến ba ngày làm thủ tục. Tuy nhiên, 70% các vụ kiểm tra giấy tờ đã diễn ra chỉ trong vòng một giờ đồng hồ, 90% diễn ra trong vòng một ngày. Một số khác thì lâu hơn. Nếu chúng ta không quy định khoảng thời gian đợi này, những người có tiền sử tội phạm có thể mua súng vào thời điểm đóng cửa hàng vào chiều thứ sáu. NRA cũng phản đối quyết liệt việc cấp giấy phép sử dụng súng, họ cho đây là bước đầu tiên để dẫn đến cướp quyền sở hữu vũ khí. Đây là một lập luận không đúng; chúng tôi đã yêu cầu phải có giấy phép lái xe từ rất lâu và chẳng có ai đề nghị cấm sở hữu ô tô cả.

Tuy vậy, tôi biết NRA có thể dọa được nhiều người. Tôi đã lớn lên trong nền văn hóa săn bắn, ảnh hưởng của nền văn hóa này rất lớn và tôi từng chứng kiến những tác động có sức tàn phá của NRA trong các cuộc bầu cử quốc hội năm 1994. Nhưng tôi vẫn luôn thấy hầu hết những người đi săn và vận động viên bắn súng đều là những công dân tốt và họ sẽ lắng nghe những lời lập luận thuyết phục được diễn giải một cách rõ ràng. Tôi biết tôi sẽ phải cố gắng bởi lẽ tôi tin tưởng vào những việc mà tôi đang làm và bởi vì Al Gore đối diện trực tiếp trước ống ngắm của NRA với việc ủng hộ ý tưởng về giấy phép sử dụng súng trước cả tôi.

        Ngày 20, Wayne LaPeirre, quyền phó chủ tịch của NRA nói, tôi cần một "cấp độ bạo lực nhất định" và "rất sẵn lòng chấp nhận một cấp độ nhất định về hành động giết người" để ủng hộ mục tiêu chính trị của tôi, "và cả của người phó của ông ta nữa". Quan điểm của LaPierre là chúng tôi cần phải xử lý các tội ác liên quan đến súng chặt hơn nữa, và trừng phạt những người thành niên thiếu thận trọng khi để cho trẻ em tiếp cận súng đạn. Ngày hôm sau, tại Cleveland, tôi trả lời ông rằng tôi nhất trí với đề xuất của ông về việc trừng phạt nhưng tôi nghĩ quan điểm của ông về việc không cần đến một biện pháp phòng ngừa nào là không thể chấp nhận được. NRA thậm chí còn phản đối việc cấm dùng đạn, vốn là những thứ từng giết chết cảnh sát. Chính NRA mới là những người sẵn sàng chấp nhận một mức độ bạo lực và giết chóc nhất định để tăng số thành viên của hội tăng và lý tưởng thuần khiết của họ. Tôi nói tôi muốn nhìn thấy LaPierre nhìn thẳng vào mắt và nói những luận điệu đó với bố mẹ của những đứa trẻ đã bị bắn tại Columbine hoặc tại Springfield, Oregon, hoặc Jonesboro, Arkansas xem sao.

        Tôi không nghĩ là tôi có thể đánh bại NRA tại hạ viện nhưng tôi đã cố gắng rất nhiều. Tôi hỏi mọi người cảm nghĩ của họ như thế nào nếu chiến lược "không phòng ngừa, chỉ trừng phạt" của NRA được áp dụng trong mọi lĩnh vực của cuộc sống: bỏ những quy định phải thắt dây an toàn, túi khí và giới hạn tốc độ và thay vào đó là tăng thêm năm năm tù cho những người lái xe bất cẩn dẫn đến giết người; và bỏ hết các thiết bị dò tìm kim loại trong sân bay, thêm 10 năm tù cho bất kỳ người nào nổ bom trên máy bay.

        Trong chuyến thăm lần trước của tôi tới Cleveland, tôi đã tới thăm một trường tiểu học nơi những người tình nguyện của quân đội Mỹ đang dạy cho trẻ em đọc bài. Một cậu bé sáu tuổi đã ngước lên nhìn và hỏi tôi: "Ông có phải là tổng thống thật không?". Khi tôi nói đúng tôi là tổng thống, cậu bé đã trả lời: "Nhưng ông chưa chết!". Cậu bé chỉ biết về George Washington và Abraham Lincoln. Tôi chuẩn bị hết thời gian rồi, nhưng với một cuộc chiến ở mức độ cao như thế này trong tay, tôi biết cậu bé đã đúng. Tôi chưa hề chết".

        Ngày 17 tháng 3, tôi tuyên bố một thỏa thuận mang tính đột phá giữa Smith & Wesson, một trong những nhà sản xuât súng lớn nhất, và những nhà lãnh đạo liên bang, bang và địa phương. Công ty đã chấp nhận bổ sung thêm thiết bị khóa cò vào súng mà họ sản xuất, họ sẽ phát triển một loại "súng thông minh" có thể bắn chỉ khi người thành niên là chủ sử dụng bắn, để cắt giảm hẳn lượng người buôn súng, những người bán một lượng súng sử dụng cho các mục tiêu tội ác, công ty cũng chấp nhận sẽ thiết kế loại súng mới với ổ đạn không lớn. Đây là một quyết định rất dũng cảm của công ty này. Tôi biết Smith & Wession có thể sẽ bị tấn công một cách miệt thị từ phía NRA và những đối thủ cạnh tranh của họ.

        Quá trình chỉ định ứng cử viên cho vị trí tổng thống đã kết thúc vào tuần thứ hai của tháng 3, khi John McCain và Bill Bradley rút khỏi danh sách sau khi Al Gore và W. Bush giành thắng lợi lớn trong 16 cuộc bầu chọn ứng cử viên ngày Siêu thứ Ba và các cuộc họp kín của ban lãnh đạo đảng ở các tiểu bang. Bill Bradley đã thực hiện một chiến dịch tranh cử rất gắt gao và bằng việc thúc ép Al sớm, ông ấy lại làm cho Al trở thành ứng cử viên xuất sắc hơn, bởi lẽ Al đã bỏ kiểu tiếp cận nặng dựa vào những lời tuyên bố ủng hộ của các nhân vật lớn để chuyển sang kiểu vận động dân dã hơn. Thay đổi này khiến anh ấy trông giống một ứng viên thách thức vừa thảnh thơi nhưng lại vừa hăng hái. Bush đã sốc lại chiến dịch tranh cử của ông sau thất bại tại New Hampshire bằng chiến thắng tại Nam Carolina, được hỗ trợ bởi một chiến dịch vận động qua điện thoại với những hộ gia đình da trắng bảo thủ, nhắc nhở họ rằng Thượng nghị sĩ McCain có một "đứa con da đen". McCain đã nhận nuôi một em bé người Bangladesh, một trong những lý do khiến tôi ngưỡng mộ ông.

Trước khi kết thúc cuộc bầu chọn ứng cử viên, một nhóm những cựu chiến binh đặc biệt ủng hộ Bush đã buộc tội McCain về tội phản quốc trong năm năm rưỡi ông bị bắt làm tù nhân chiến tranh (POW) tại Bắc Việt Nam. Tại New York, người của Bush tấn công McCain vì ông phản đối nghiên cứu ung thư vú. Trên thực tế, ông đã bỏ phiếu chống lại dự luật phòng thủ trong đó có một số lượng tiền dành cho bệnh ung thư vú để phản đối tất cả các chi phí dùng tiền của chính phủ đi kèm trong dự luật; ngài thượng nghị sĩ có một người chị bị bệnh ung thư vú và đã luôn luôn bỏ phiếu ủng hộ việc gây quỹ dành riêng cho mục đích này, trong đó trên 90% là các quỹ dành riêng cho nghiên cứu ung thư. Thượng nghị sĩ McCain đã không đánh trả lại chiến dịch của Bush hoặc những người cực đoan của cánh tả về việc bôi nhọ hình ảnh này.

        Những tiến triển trên quốc tế trong tháng 3 rất khả quan. Barak và Arafat đã chấp thuận khởi động lại vòng đàm phán. Vào ngày lễ Thánh Patrick cuối cùng của nhiệm kỳ tổng thống của tôi, Seamus Heaney đọc một bài thơ của ông, còn chúng tôi cùng nhau hát bài "Danny Boy", và rõ ràng là mặc dù chính quyền vẫn chưa ổn định tại Bắc Ireland, không ai có ý định để cho tiến trình hòa bình phải thất bại. Tôi nói với Vua Fahd của Ảrập Xêút về khả năng OPEC sẽ tăng sản lượng. Một năm trước đây, giá dầu giảm đột ngột xuống 12 đôla/thùng, quá thấp để đáp ứng nhu cầu của những nước sản xuất dầu. Bây giờ giá dầu lại nhảy vọt lên mức 31 đôla và 34 đôla, mức giá này quá cao và có thể dẫn đến hiệu ứng ngược lại với những nước tiêu thụ. Tôi muốn giá dầu duy trì ổn định ở mức 20-22 đôla/thùng và hy vọng OPEC có thể tăng sản lượng đủ để đáp ứng mức giá đó; nếu không Mỹ rất có thể sẽ gặp phải những vấn đề kinh tế nghiêm trọng.

        Ngày 18, tôi bắt đầu chuyến đi thăm kéo dài một tuần tới Ấn Độ, Pakistan và Bangladesh. Tôi đến Ấn Độ để đặt nền móng cho điều mà tôi hy vọng sẽ trở thành một mối quan hệ lâu dài mang tính tích cực. Chúng tôi đã lãng phí quá nhiều thời gian kể từ sau Chiến tranh Lạnh, khi Ấn Độ liên minh với Liên bang Xô Viết chủ yếu để tìm đối trọng với Trung Quốc. Bangladesh là nước nghèo nhất tại Nam Á nhưng lại là một quốc gia rộng lớn với những chương trình đổi mới về kinh tế và một thái độ thân thiện đối với Mỹ. Không giống Pakistan và Ấn Độ,

        Bangladesh là một nước không sở hữu vũ khí hạt nhân, tham gia ký Hiệp ước cấm thử vũ khí hạt nhân toàn diện - một hành động có ý nghĩa hơn mọi lời nói đối với Mỹ. Chặng dừng chân của tôi tai Pakistan gây tranh cãi nhiều nhất bởi cuộc đảo chính vừa mới xảy ra ở đó, nhưng tôi vẫn quyết định sẽ phải đến Pakistan vì một số lý do: để thúc đẩy sớm trao lại quyền lực cho giới dân sự; giảm căng thẳng về vấn đề Kashmir; thuyết phục tướng Musharraf không công nhận giá trị hợp pháp của thủ tướng đã bị phế truất là Nawaz Sharif người đã bị đưa ra tòa vì những việc đã làm trong cuộc đời của ông ta; và để hối thúc Musharraf hợp tác với chúng tôi trong việc tìm kiếm Bin Laden và Al Qaeda.

        Mật vụ phản đối kịch liệt chuyến đi của tôi tới Pakistan hoặc Bangladesh bởi lẽ CIA đã mật báo rằng Al Qaeda muốn tấn công tôi tại một trong những điểm dừng thăm, có thể là trên mặt đất hoặc trorig khi máy bay cất cánh hoặc hạ cánh. Tôi cảm thấy tôi phải đi do những hậu quả bất lợi đối với lợi ích của Mỹ nếu tôi chỉ đi thăm Ấn Độ và bởi vì tôi không muốn đầu hàng trước một lời đe dọa khủng bô. Vì vậy, chúng tôi đã đề phòng rất cẩn thận và vẫn tiến hành chuẩn bị cho chuyến đi. Tôi tin rằng đây là yêu cầu duy nhất của Mật vụ mà tôi phải từ chối.

        Mẹ của Hillary, Dorothy, và Chelsea đi cùng tôi tới Ấn Độ. Chúng tôi bay tới đó, rồi để hai bà cháu ở lại trong sự kiểm soát của ngài đại sứ nước tôi và cũng là một người bạn của tôi, Dick Celeste, cựu thống đốc bang Ohio và phu nhân Jacqueline. Rồi tôi cùng một nhóm nhỏ hơn dùng hai máy bay nhỏ bay tới Bangladesh, nơi tôi gặp Thủ tướng Sheikh Hasina. Sau đó tôi buộc phải nhượng bộ một lần nữa vì vấn đề an ninh. Tôi tính thăm làng Joypura với ông bạn Muhammad Yunus của tôi để xem xét một sô dự án cho vay vi mô của ngân hàng Grameen. Mật vụ xác định phía chúng tôi sẽ không thể tự vệ được khi đi trên những con đường hẹp hoặc bay bằng máy bay trực thăng để tới thăm ngôi làng, vì vậy chúng tôi đưa một số dân làng, bao gồm một số học sinh, tới sứ quán Mỹ tại Dacca, nơi đã xếp đặt sẵn thành một phòng học và có một số trưng bày trong sân trong khuôn viên.

  Trong khi tôi ở Bangladesh, 35 người Sikh đã bị giết tại Kashmir bởi những kẻ lạ mặt chủ ý để thu hút dư luận gắn với cuộc đi thăm của tôi. Khi tôi quay trở lại Dehli, trong cuộc họp với Thủ tướng Vajpayee tôi bày tỏ sự giận dữ và lòng thương tiếc sâu sắc trước việc những kẻ khủng bố sử dụng chuyến viếng thăm của tôi như một lý do để giết người. Mối quan hệ của tôi với Vajpayee khá tốt đẹp và tôi hy vọng ông ấy sẽ có cơ hội để tái cam kết với Pakistan trước khi ông kết thúc nhiệm kỳ lãnh đạo. Chúng tôi không thống nhất được về hiệp ước cấm thử vũ khí, nhưng tôi củng đã biết điều đó, bởi lẽ Strobe Talbott đã làm việc với Bộ trưởng Ngoại giao Jaswant Singh và những người khác trong nhiều tháng về vấn đề không phổ biến vũ khí hạt nhân. Tuy nhiên, Vajpayee đã cùng cam kết với tôi sẽ thông báo trước những cuộc thử trong tương lai và chúng tôi nhất trí về một số những nguyên tắc tích cực trong mối quan hệ song phương của chúng tôi, mối quan hệ vốn đã trở nên lạnh nhạt qua năm tháng.

        Tôi cũng đã có một chuyến thăm rất tốt lành với người lãnh đạo của đảng Quốc đại đối lập, bà Sonia Gandhi. Chồng của bà và mẹ chồng, cháu trai và con gái Nehru đều là nạn nhân của các vụ ám sát chính trị. Sonia, vốn là một người Ý theo giấy khai sinh, vẫn can đảm tham chính.

        Ngày thứ tư của chuyến thăm, tôi có cơ hội phát biểu trước quốc hội Ấn Độ. Tòa nhà quốc hội là một kiến trúc vòng tròn với khoảng vài trăm ghế cho các đại biểu quốc hội được xếp rất chặt thành hàng sau một hàng bàn hẹp. Tôi phát biểu về sự tôn trọng của tôi đối với nền dân chủ, sự đa dạng và những bước phát triển rất ấn tượng của Ấn Độ trong việc xây dựng một nền kinh tế hiện đại, tôi thẳng thắn thảo luận về quan điểm khác nhau của hai nước về vấn đề hạt nhân và thúc giục Ấn Độ tiến tới một giải pháp hòa bình về vấn đề Kashmir. Tôi khá ngạc nhiên khi được tiếp đón rất trọng thể. Họ hoan nghênh bằng cách vỗ vào mặt bàn, điều này thể hiện rằng những người Ấn Độ cũng mong muốn kết thúc mối quan hệ lạnh nhạt giữa hai nước chẳng kém gì tôi.

        Chelsea, Dorothy và tôi đến thăm Đài tưởng niệm Gandhi. Tại đây, chúng tôi được tặng sách tự truyện và một số tác phẩm khác của ông. Sau đó chúng tôi tới thăm Agra, nơi đền Taj Mahal - có lẽ là kiến trúc đẹp nhất trên thê giới - đang bị đe dọa bởi ô nhiễm môi trường trầm trọng. Ấn Độ đang rất nỗ lực để thành lập một khu vực không ô nhiễm xung quanh đền, và Bộ trưởng Ngoại giao Singh và Madelei Albright đã ký một thỏa thuận hợp tác Ấn-Mỹ về năng lượng và môi trường, với khoản viện trợ 45 triệu đôla của Mỹ nằm trong khuôn quỹ USAID và 200 triệu đôla từ Ngân hàng Xuất- Nhập khẩu để phát triển năng lượng sạch tại Ấn Độ. Đền Taj Mahal thật đẹp và tôi không muốn phải rời xa nơi đây.

        Ngày 23, tôi đến thăm Naila, một ngôi làng nhỏ gần Jaipur, sau khi các phụ nữ của làng trong những bộ xa-ri rực rỡ sắc màu đón tiếp tôi bằng cách vòng quanh tôi và rắc lên tôi hàng ngàn nhữ cánh hoa nhỏ, tôi gặp các quan chức được bầu đang làm việc cùng với nhau không phân biệt đẳng cấp và giới tính vốn đã là yếu tố phân chia xã hội Ấn Độ trong quá khứ, và thảo luận với các phụ nữ trong hợp tác xã sản xuất bơ sữa về tầm quan trọng của việc cho vay vốn tín dụng nhỏ.

        Ngày hôm sau, tôi tới một thành phố công nghệ cao phát triển mạnh. Hyderabad, với tư cách là khách mời của thủ tướng tiểu bang ông Chandrabadu Naidu, một nhà lãnh đạo chính trị hiện đại và có tài ăn nói. Chúng tôi đi thăm Trung tâm Công nghệ cao (HITECH), nơi tôi vô cùng ngạc nhiên khi được chứng kiến vô vàn các công ty đang phát triển nhanh như đám cháy hoang dại. Chúng tôi đến thăm một bệnh viện cùng với người quản lý của USAID, Brady Anderson, tại đây tôi tuyên bố viện trợ một khoản 5 triệu đôla để giúp bệnh viện điều trị cho các bệnh nhân AIDS và lao phổi. Tại thời điểm đó, hiểm họa AIDS mới bắt đầu được nhìn nhận tại Ấn Độ, nhưng vẫn có nhiều người từ chối nhìn nhận nó. Tôi hy vọng khoản tiền viện trợ khiêm tốn này có thể giúp tăng nhận thức và sự tự nguyện của quần chúng Ấn Độ trong việc hành động để ngăn chặn AIDS lan rộng thành đại dịch như ở châu Phi. Điểm dừng chân cuối cùng của tôi là Mumbai (Bombay), nơi tôi gặp gỡ với các doanh nhân, sau đó đã có cuộc nói chuyện rất thú vị với những nhà lãnh đạo trẻ tuổi tại một nhà hàng địa phương. Tôi rời Ấn Độ trong cảm giác hai đất nước chúng tôi đã bắt đầu một mối quan hệ thân thiết hơn nhưng tôi hy vọng tôi có thêm một tuần nữa để thưởng thức vẻ đẹp và huyền bí của đất nước này.

Ngày 25, tôi bay tới Islamabad, chặng mà Mật vụ cho là nguy hiểm nhất trong chuyến đi. Tôi đem theo càng ít tuỳ tùng càng tốt, bỏ lại phần lớn đoàn lại, để bay trên một máy bay lớn tới chặng dừng tiếp nhiên liệu tại Oman. Sandy Berger đùa rằng vì ông ấy lớn tuổi hơn tôi, và vì chúng tôi đã cùng nhau trải qua rất nhiều sự kiện trong hơn 30 năm qua, nên ông cũng sẽ đi cùng tôi tới Pakistan. Một lần nữa chúng tôi đi trên hai chiếc máy bay nhỏ, một cái mang nhãn hiệu Không lực Hoa Kỳ và chiếc tôi dùng được sơn toàn màu trắng. Người Pakistan đã dọn một khu rộng một dặm xung quanh đường băng để đảm bảo chúng tôi sẽ không bị tấn công bởi bất kỳ một tên lửa vác vai nào. Tuy nhiên, chúng tôi hạ cánh mà không gặp rắc rối nào.

        Đoàn xe hộ tống của chúng tôi chạy trên đường cao tốc vắng người tới phủ tổng thống để gặp tướng Musharraf và nội các. Tôi thực hiện một bài diễn văn qua truyền hình tới những người dân Pakistan. Trong bài diễn văn, tôi ghi nhận mối quan hệ bạn bè lâu dài tồn tại qua Chiến tranh Lạnh và đề nghị người dân Pakistan hãy quay lưng lại với khủng bố và vũ khí hạt nhân, hướng tới đối thoại với Ấn Độ về vân đề Kashmir, bảo vệ hiệp ước cấm thử vũ khí hạt nhân và đầu tư cho giáo dục, y tế và phát triển hơn là quân sự. Tôi nói, tôi tới với tư cách là một người bạn của Pakistan và của thế giới Hồi giáo, là người từng đứng lên đấu tranh chống lại sự tàn sát người Hồi giáo tại Bosnia và Kosovo, rằng tôi từng phát biểu trước Hội đồng Quốc gia Palestine tại Gaza, diễu hành với những người đi đưa tang Vua Hussein và Vua Hassan, và kỷ niệm ngày kết thúc tháng Ramadan tại Nhà Trắng với những người Mỹ theo đạo Hồi. Quan điểm của tôi là thế giới của chúng ta không bị chia rẽ bởi tôn giáo mà chia rẽ giữa một bên là những ai chọn cách sống ôm nỗi đau của quá khứ và bên kia là những người chọn cách hướng tới những hứa hẹn của tương lai.

        Trong cuộc họp với Musharraf, tôi hiểu tại sao ông lại nổi lên từ nền chính trị đầy phức tạp và thường có văn hóa ứng xử rất bạo lực của Pakistan. Ông ta rõ ràng là rất thông minh, mạnh mẽ và tinh tế. Nếu ông chọn con đường hòa bình và tiến bộ, tôi nghĩ ông có một cơ hội tốt để thành công, nhưng tôi nói với ông ấy rằng tôi nghĩ chủ nghĩa khủng bố rồi sẽ phá hủy Pakistan từ bên trong nếu ông không có hành động chống lại nó.

        Musharraf nói ông không tin Sharif sẽ được công nhận một cách hợp pháp nhưng ông không cam kết về các vấn đề khác. Tôi biết ông vẫn đang cố gắng củng cố vị trí của mình và đang ở trong tình thế khó khăn. Sharif sau đó được tự do, sống lưu vong tại Jedda, Ảrập Xêút Khi Musharraf bắt đầu hợp tác một cách nghiêm túc với Mỹ trong cuộc chiến chống khủng bố sau ngày 9 tháng 11 năm 2001, đó vẫn là một con đường nhiều nguy hiểm đối với ông ta. Trong năm 2003, ông thoát được hai cuộc ám sát cách nhau có vài ngày.

        Trên đường trở về, sau khi dừng ở Oman để gặp Vua Qaboos, đón nốt các thành viên còn lại trong đoàn lên chiếc Air Force One, tôi bay tới Geneva để gặp Tổng thống Assad. Chúng tôi đã cố gắng thuyết phục Barak đưa ra một đề nghị đặc biệt về Syria để tôi trình bày. Tôi biết đây có thể chưa phải là đề nghị cuối cùng và những người Syria cũng biết điều đó nhưng tôi nghĩ nếu Israel cuối cùng cũng đáp lại bằng một sự linh hoạt như cách những người Syria đã thể hiện ở Shepherdstown, chúng tôi có thể sẽ vẫn đạt được thỏa thuận. Thế nhưng điều này đã không xảy ra.

        Khi tôi gặp Assad, ông ấy tỏ ra rất thân thiện khi tôi tặng ông một cái cà vạt màu xanh da trời với hình một con SƯ tử được vẽ bằng những đường màu đỏ, thể hiện nghĩa tiếng Anh của tên ông ấy. Đó là một cuộc họp ít người: cùng đoàn với Assad có Bộ trưởng Ngoại giao Shara và Butheina Shaban; phía tôi có Madeleine Albright và Dennis Ross và Rob Malley của Hội đồng Thư ký Quốc gia với tư cách là người ghi chép biên bản. Sau một số lời hỏi thăm qua lại dễ chịu, tôi yêu cầu Dennis đưa ra các bản đồ mà tôi đã nghiên cứu rất kỹ lưỡng trong khi chuẩn bị cho cuộc nói chuyện này. So với quan điểm ông đưa ra tại Shepherdstown, Barak giờ đầy lại sẵn sàng chấp nhận lấy ít đất hơn ở khu vực xung quanh hồ, mặc dù ông vẫn muốn rất nhiều, 400 mét (1.312 feet); chịu đặt ít nhân viên ở trạm nghe ngóng hơn; thời gian rút quân sẽ diễn ra nhanh hơn. Assad thậm chí còn không muốn để tôi kết thúc phần trình bày của mình. Ông trở nên bị kích động và mâu thuẫn với quan điểm của Syria tại Shepherdstown khi nói ông sẽ không bao giờ từ bỏ quyền sở hữu với bất kỳ phần đất nào, rằng ông muốn được ngồi trên bờ hồ và thả chân xuống làn nước đó. Chúng tôi cố gắng trong suốt hai giờ đồng hồ để ra sức lôi kéo Syria nhưng không đạt được hiệu quả gì. Israel đã cự tuyệt tại Shepherdstown và sự rò rỉ thông tin về các tài liệu làm việc trong giới báo chí Israel đã bủa vây lấy Assad và phá hủy niềm tin mong manh của ông ấy. Và tình trạng sức khỏe của ông xấu đi nhiều hơn tôi nghĩ. Barak đưa ra một đề nghị rất đáng kính trọng. Nếu đề nghị này được đưa ra tại Shepherdstown, có lẽ đã có một thỏa thuận được ký kết. Giờ đây, ưu tiên số một của Assad là sự kế vị của con trai ông, và rõ ràng ông đã quyết định một vòng đàm phán mới, bất kể kết quả sẽ diễn ra như thế nào, sẽ có thể gây nguy hại cho việc chuyển giao quyền lực này. Trong vòng chưa đầy bốn năm, tôi được chứng kiến ba lần tia hy vọng thiết lập lại hòa bình giữa Israel và Syria bị bỏ lỡ: lần thứ nhất là khi khủng bô tấn công Israel và việc Peres bị đánh bại năm 1996, lần thứ hai là khi Israel cự tuyệt thương lượng với Syria tại Shepherdstown và lần thứ ba là mối lo ngại của Assad về cái chết của ông. Sau khi chúng tôi chia tay tại Geneva, tôi không bao giờ gặp lại Assad nữa.

Cùng ngày hôm đó, Vladimir Putin được bầu làm Tổng thống nước Nga trong vòng đầu tiên với 52.2% phiếu thuận. Tôi gọi điện chúc mừng ông và khi đặt máy xuống tôi nghĩ ông ấy đủ cứng rắn để lãnh đạo nước Nga và hy vọng ông sẽ đủ khôn ngoan để tìm ra lối thoát xứng đáng cho vấn đề Chechnya và sẽ trung thành với các nguyên tắc dân chủ trong vấn đề đó. Ông đã sớm có một sự khởi đầu mạnh mẽ khi Duma thông qua cả START II và Hiệp ước cấm thử vũ khí hạt nhân toàn diện. Giờ đây Viện Duma Nga thậm chí còn tiến bộ về vấn đề kiểm soát vũ khí hạt nhân hơn là Nghị viện Mỹ.

        Tháng 4, tôi tiếp tục đi thăm các nơi trong đất nước để thúc đẩy các vấn đề về giáo dục, an toàn sử dụng súng và tiếp cận công nghệ mà tôi đã đưa ra trong bài Thông điệp Liên bang; lập một đài tưởng niệm quốc gia nữa, Grand Sequoia, tại California; phủ quyết dự luật về việc đổ chất thải hạt nhân cấp độ thấp của Mỹ tại Nevada bởi lẽ tôi thấy vẫn còn nhiều thắc mắc chính đáng chưa được trả lời đầy đủ; ký dự luật chấm dứt việc giới hạn mức trần thu nhập của những người đã nghỉ hưu đang lĩnh bảo hiểm xã hội; đến thăm tộc da đỏ Navajo tại Shiprock phía bắc New Mexico để nhấn mạnh những nỗ lực của chúng tôi nhằm sử dụng Internet để đem các cơ hội giáo dục, y tế và kinh tế tới những vùng xa xôi, hẻo lánh; và dành sự tưởng nhớ đơn sơ nhưng mạnh mẽ tới những nạn nhân của vụ đánh bom tại thành phố Oklahoma, nơi có 168 chiếc ghế trống xếp thành các hàng trên một ngọn đồi nhỏ có hai lối vào rộng hai bên sườn và nhìn hướng ra một cái hồi phản chiếu rộng.

        Tháng 4 cũng là tháng có "vở diễn" cuối cùng trong "chuyện dài" về cậu bé Elián Gonzalez. Một vài tháng trước đây mẹ của cậu ta đã chạy trốn khỏi Cuba với cậu để tới Mỹ trên một chiếc thuyền ọp ẹp. Chiếc thuyền bị lật và bà bị chết đuối sau khi đặt Elián vào một cái ống để cứu cậu bé. Cậu bé được đưa tới Miami và được một người nhận nuôi tạm thời, ông ta rất sẵn lòng nhận nuôi cậu. Bố của cậu bé ở Cuba muốn đưa con trở về đó. Cộng đồng người Mỹ gốc Cuba đã biến vụ của cậu bé Elián trở thành một cuộc vận động lớn, họ nói người mẹ đã chết trong nỗ lực muốn cậu bé được tự do và sẽ là sai trái nếu gửi cậu bé trở lại vòng độc tài của Castro.

        Luật quy định về vấn đề này có vẻ đã rõ. Sở Di trú và Nhập tịch (INS) có trách nhiệm xác định bố của cậu bé có đủ tư cách làm bố hay không; nếu đủ thì Elián sẽ được gửi lại về cho bố. Một nhóm nhân viên INS sang Cuba và phát hiện, mặc dù bố mẹ Elián bỏ nhau, họ vẫn duy trì quan hệ tốt và chia sẻ trách nhiệm nuôi con. Trên thực tế, Elián đã có nửa thời gian sống với bố, người sống gần với ngôi trường cậu học hơn. INS kết luận, Juan Miguel Gonzalez đủ tư cách làm bố của cậu bé.

        Những người ủng hộ họ hàng bên Mỹ của cậu bé đưa vụ này ra tòa và tỏ ra không tin tưởng kết quả điều tra được tiến hành ở Cuba. Họ nghĩ kết quả này không đáng tin vì có người của Castro can dự vào. Một số người tìm cách áp dụng chuẩn mực luật liên bang bình thường với việc nhận nuôi đứa trẻ: điều gì là tốt nhất cho đứa trẻ? Quôc hội tham gia vào vụ này, với hàng loạt các dự luật được đưa ra để giữ Elián ở lại Mỹ. Trong khi đó, cộng đồng người Mỹ gốc Cuba điên cuồng lên với các cuộc biểu tình thường trực bên ngoài nhà người thân của cậu bé Elián và những cuộc phỏng vấn truyền hình thường xuyên diễn ra, phỏng vấn một phụ nữ trẻ cực kỳ dễ xúc động trong đám đông này.

        Janet Reno, người từng làm việc với tư cách là luật sư công tố tại Miami và là một nhân vật được ưa chuộng trong cộng đồng người Mỹ gốc Cuba, đã làm họ nổi khùng lên với lời tuyên bô cần phải áp dụng luật liên bang và Elián cần phải được trả về cho bố của cậu nuôi. Điều này không dễ dàng đối với Janet. Cô ấy nói với tôi rằng một trong những thư ký cũ của cô đã không thèm nói chuyện với cô nữa; chồng của người thư ký đó bị Castro phạt án tù 15 năm nay, và cô ta đã chờ đợi mòn mỏi suốt quãng thời gian đó để đợi ngày anh được thả và gia đình đoàn tụ. Nhiều người Mỹ gốc Cuba và những người nhập cư khác tin rằng đứa trẻ sẽ sống tốt hơn nếu được ở lại Mỹ.

Tôi ủng hộ Reno, tôi tin việc bố của Elián rất yêu quý cậu và là một người cha tốt đáng được tính đến hơn là tình trạng nghèo đói hay tình hình chính trị bế quan toả cảng và hà khắc của Cuba. Hơn nữa, Mỹ đã luôn cố gắng để đưa trẻ em bị các bậc cha mẹ, sau khi thất bại trong các vụ kiện giành quyền nuôi con, mang đi khỏi Mỹ trở về. Nếu chúng tôi giữ Elián lại, thì những lập luận đưa trẻ em trở về với bố mẹ người Mỹ sẽ không còn có giá trị.

        Cuối cùng, vụ xử lại trở thành một vấn đề trong chiến dịch tranh cử. Al Gore bày tỏ sự không đồng tình với chúng tôi một cách công khai, anh ấy nói rằng anh thây việc điều tra của INS là có vấn đề và thậm chí kể cả khi bố của Elián đủ tư cách để nhận con, cậu bé vẫn nên được ở lại Mỹ. Đây là một quan điểm có thể biện hộ được một cách xứng đáng, và cũng dễ hiểu, trong hoàn cảnh Florida có tầm quan trọng đối với cuộc bầu cử. Tôi đã làm việc trong suốt tám năm để củng cố vị trí của chúng tôi ở trong bang và trong cộng đồng những người Mỹ gốc Cuba; ít nhất tại cộng đồng đó, vụ của, Elián đã xóa sạch mọi nỗ lực của chúng tôi. Hillary coi vụ này là chuyện giữa phe ủng hộ cho đứa bé và người bố: cô ấy ủng hộ quyết định của chúng tôi về việc cho đứa trẻ đoàn tụ với cha.

        Đầu tháng, Juan Miguel Gonzalez tới Mỹ theo yêu cầu của tòa án liên bang với hy vọng được nhận nuôi con trai mình. Một vài tuần sau, sau khi Janet Reno cố gắng trong nhiều ngày để gia đình tại Miami tự nguyện giao lại đứa trẻ, một nhóm bốn công dân hàng đầu - hiệu trưởng trường Đại học Miami, một luật sư có uy tín, và hai người Mỹ gốc Cuba được kính trọng - yêu cầu gia đình ở Miami trao lại quyền nuôi đứa trẻ cho người cha tại một nơi hẻo lánh, nơi mà họ có thể ở cùng với nhau trong vài ngày để vượt qua thời gian quá độ này. Vào tối ngày thứ Sáu tốt lành (Good Friday), khi tôi nói chuyện với Reno thì họ vẫn đang thương lượng, nhưng cô ấy đã mất hết kiên nhẫn. Hai giờ sáng chủ nhật, John Podesta gọi điện đến thông báo họ vẫn đang tiếp tục thương lượng. Năm giờ kém 15, Podesta gọi một lần nữa nói rằng gia đình ở Miami đã từ chối, thậm chí không công nhận quyền nuôi con của người cha. Ba mươi phút sau, lúc 5hl5, tôi nhận được một cú điện thoại nữa từ John nói rằng cuộc thương lượng đã kết thúc. Reno đã uỷ quyền cho nhân viên liên bang đột nhập vào nhà của người bác. Cuộc đột nhập diễn ra trong vòng ba phút, không ai bị thương, còn Elián được trở về với bố. Một đứa bé đã trở thành một con tốt đen trong trận đấu không bao giờ kết thúc chống lại Castro.

        Những bức ảnh cho thấy Elián rõ ràng rất vui sướng khi được trở lại với bố được đăng tải và hầu hết mọi người đều chuyển sang ủng hộ sự đoàn tụ này. Tôi rất tin tưởng rằng chúng tôi đang đi theo con đường duy nhất đang mở ra trước mắt chúng tôi, nhưng tôi vẫn lo ngại về những hệ quả mà nó có thể gây ra tại Florida cho Al Gore trong tháng 11. Juan Miguel và Elián Gonzalez vẫn ở lại Mỹ một vài tuần nữa cho đến khi phiên tòa tối cao cuối cùng tán thành phán quyết cho người bố nuôi con của phiên tòa sơ thẩm. Ông Gonzalez có thể ở lại Mỹ nhưng ông muốn đưa con trai trở về Cuba.

        Tháng 5, tôi đi thăm các trường học tại Kentucky, Iowa, Minnesota và Ohio để thúc đẩy chương trình giáo dục của chúng tôi; đón tiếp cuộc viếng thăm cấp nhà nước của Thabo Mbeki, người được bầu làm tổng thống Nam Phi; và thúc đẩy dự luật thương mại Trung Quốc, điều kiện cần thiết để Trung Quốc gia nhập WTO. Các tổng thống Ford và Carter, cùng với James Baker và Henry Kissinger đã tới Nhà Trắng để thúc đẩy việc này. Việc này hoá ra lại trở thành một trận chiến lập pháp khá phức tạp - đặc biệt là đối với những thành viên quốc hội thuộc đảng Dân chủ phụ thuộc vào sự hỗ trợ của các nghiệp đoàn lao động - và tôi mời một nhóm khoảng hơn chục thành viên quốc hội tới khu sinh hoạt trong Nhà Trắng trong vài tuần nhằm giải thích tầm quan trọng của việc Trung Quốc tham gia hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu.

        Ngày 17 tháng 5, tôi đọc bài diễn văn cuối cùng tại Học viện Tuần duyên Hoa Kỳ tại New London, Connecticut. Trong tám năm, tôi phát biểu trước mỗi khóa học viên mới của học viện hai lần. Lần nào tôi cũng rất tự hào về chất lượng của các thanh niên nam nữ trẻ tuổi muốn phục vụ cho đất nước trong màu áo đồng phục. Tôi cũng rất tự hào về những thanh niên tham gia các khoá đào tạo của học viện đến từ khắp nơi trên thế giới. Lớp học lần này có cả những cử nhân đến từ những nước địch thủ của chúng tôi trong Chiến tranh Lạnh là Nga và Bulgaria.

Tôi nói với những học viên mới về cuộc đấu tranh định mệnh trong đó họ có thể bị ràng buộc giữa các lực tác động của hội nhập, sự hòa quyện lẫn nhau, và của những tan rã và hỗn loạn - một cuộc đấu tranh mà toàn cầu hóa và công nghệ thông tin tăng cường cả khả năng sáng tạo lẫn khả năng phá hủy của con người. Tôi thảo luận về các cuộc tấn công mà Osama Bin Laden và Al Qaeda từng hoạch định cho thiên niên kỷ này - những kế hoạch mà những nỗ lực và hợp tác trong nước cũng như quốc tế của chúng tôi đã ngăn chặn kịp. Để tiếp tục duy trì, tôi nói rằng tôi đang dành 300 triệu đôla ngân quỹ cho việc chống khủng bố; đứng đầu trong tổng số 9 tỷ đôla mà tôi đã đệ trình lên quốc hội, lượng ngân sách dành cho việc chống khủng bố đã tăng hơn 40% trong vòng ba năm vừa qua.

        Sau khi bàn bạc về những thách thức an ninh, tôi cố gắng hết sức để kêu gọi ủng hộ một chính sách đối ngoại tích cực, hợp tác với những nước khác trong một thế giới mà không một quốc gia nào còn được vị trí địa lý hoặc sức mạnh quân sự truyền thông bảo vệ nữa.

        Cuối tháng 5, trước khi tôi bắt đầu chuyến đi thăm Bồ Đào Nha, Đức, Nga và Ukraina, tôi tới đảo Assateague, Maryland để tuyên bố sáng kiến bảo vệ dải san hô và các tài nguyên biển khác. Chúng tôi đã nhân gấp bốn lần quỹ quốc gia dành cho bảo tồn biển. Tôi ký một chỉ thị thành lập mạng lưới bảo vệ quốc gia đối với bờ biển, dải đá ngầm, rừng dưới nước và những khu sinh thái quan trọng khác, và tôi nói chúng tôi sẽ bảo vệ thường trực dải san hô ở phía tây bắc quần đảo Hawaii, vốn chiếm hơn 60% tổng diện tích san hô của Mỹ, kéo dài hơn 1.200 dặm. Đây là chính sách bảo tồn lớn nhất tôi từng thực hiện kể từ khi bảo vệ 43 triệu hécta rừng quốc gia không có đường mòn, và cũng là một bước đi cần thiết vì ô nhiễm đại dương đang đe dọa các dải đá ngầm trên khắp thế giới, bao gồm cả dải đá ngầm Great Barrier của úc.

        Tôi đến Bồ Đào Nha để dự cuộc họp thường niên giữa Mỹ và Liên minh châu Âu. Thủ tướng Bồ Đào Nha Antonio Guterres đang giữ vai trò là chủ tịch Hội đồng châu Âu. Ông là một lãnh đạo trẻ tuổi rất thông minh, là thành viên của nhóm Con đường thứ ba của chúng tôi giống như chủ tịch EU trước đây, Romano Prodi. Chúng tôi có cùng quan điểm về hầu hết mọi vấn đề, và tôi rất hài lòng về cuộc họp cũng như chuyến đến thăm Bồ Đào Nha lần đầu tiên của tôi. Đất nước này thật xinh đẹp và nồng ấm với những con người thân thiện và lịch sử thật thú vị.

        Ngày 2 tháng 6, tôi đi cùng Gerhard Schroeder tới thành phố cổ Aachen để nhận giải thưởng Charlemagne. Trong một buổi lễ ngoài trời nhiều nắng tại một khu công cộng gần toà thị chính thời Trung cổ và nhà thờ cổ còn lưu giữ những tàn tích của Charlemegne, tôi cảm ơn Thủ tướng Schroeder và nhân dân Đức đã dành cho tôi giải thưởng vinh dự mà Václav Havel và Vua Juan Carlos từng được nhận/và cũng là giải thưởng rất hiếm khi được trao cho ngưỡi Mỹ. Tôi đã làm mọi việc có thể để hỗ trợ châu Âu trở nên hợp nhất, dân chủ và an ninh, để mở rộng và tăng cường liên minh Đại Tây Dương, vươn tới Nga và chấm dứt thanh lọc sắc tộc ở khu vực Balkan. Điều đó đã được công nhận.

        Ngày hôm sau Gerhard Schroeder chủ trì một hội thảo tiếp theo của Con đường thứ ba tại Berlin. Lần này Gerhard, Jean Chrétien và tôi nhất trí với ba nhà lãnh đạo Mỹ Latinh - Henrique Carsodo của Brazil, Tổng thống Ricardo Lagos của Chile và Tổng thống Fernando de la Rúa của Argentina - khi vạch ra những phương cách hợp tác mà các nhà lãnh đạo của các nước phát triển và đang phát triển cần thiết lập. Tony Blair không tham dự bởi ông và Cherie, lúc đó đã ba con, vừa mới sinh thêm con trai thứ tư tên là Leo.

        Tôi bay tới Moscow để gặp Putin lần đầu tiên kể từ khi ông nhậm chức. Chúng tôi nhất trí sẽ phá hủy 34 tấn vũ khí plutonium nữa, nhưng không thể ký được một hiệp định nào về việc sửa đổi Hiệp ước ABM để khiến Mỹ triển khai hệ thốrig phòng thủ tên lửa quốc gia. Tôi không quan tâm lắm về điều đó; Putin có thể muốn đợi để xem kết quả cuộc bầu cử tại Mỹ diễn ra thế nào. Những người của đảng Cộng hòa đã luôn theo đuổi vấn đề phòng thủ tên lửa kể từ thời Reagan và nhiều người trong số họ sẽ không chần chừ để hủy bỏ Hiệp ước ABM nhằm triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa. Al Gore về cơ bản nhất trí với tôi. Putin không muốn phải làm việc về vấn đề này hai lần.

Tại thời điểm bấy giờ, chúng tôi chưa có hệ thống phòng thủ tên lửa đủ đáng tin cậy để triển khai. Như Hugh Shelton nói, việc bắn rơi một tên lửa đang bay giống như "bắn một viên đạn vào một viên đạn khác". Nếu chúng ta phát triển hệ thống có thể hoạt động được, tôi nghĩ chúng ta nên đề xuất công nghệ đó cho các quốc gia khác và với việc làm đó chúng ta có thể thuyết phục người Nga sửa đổi Hiệp ước ABM. Tôi không chắc chắn liệu kể cả khi chúng tôi làm được điều đó, liệu việc dựng lên một hệ thống phòng thủ tên lửa như vậy có phải là cách tốt nhất đáng để tiêu tốn một khoản tiền khổng lồ như vậy không. Chúng tôi có nhiều khả năng sẽ bị khủng bố tấn công bằng những vũ khí hạt nhân, hóa học hoặc sinh học nhỏ hơn.

        Hơn nữa, việc dựng lên hệ thống phòng thủ tên lửa có thể đặt cả thế giới trước mối đe dọa lớn hơn. Trong tương lai gần, hệ thống này khi hoạt động cũng sẽ chỉ chống lại được một số ít các tên lửa. Nếu Mỹ và Nga đều có những hệ thống như vậy, Trung Quốc cũng có thể sẽ sản xuất nhiều tên lửa hơn để duy trì khả năng ngăn chặn của nó. Rồi Ấn Độ cũng sẽ theo đuổi chính sách tương tự, và cả Pakistan nữa. Châu Âu cho rằng đây là một ý tưởng tồi tệ. Nhưng chúng ta sẽ không phải đối mặt với tất cả những vấn đề đó cho đến khi chúng ta thực sự có một hệ thống đi vào hoạt động, và cho đến nay thì vẫn chưa có hệ thống nào.

        Trước khi rời Moscow, Putin mở một tiệc tối nhỏ tại điện Kremlin với dàn nhạc jazz bao gồm các nhạc công Nga từ thiếu niên tới các vị ngoài 80 tuổi. Tiết mục cuối cùng bắt đầu trên một sân khấu tối với hàng loạt các âm thanh ma quái từ cây saxophone tôi yêu thích, Igor Butman. John Podesta, một người nghiền nhạc jazz giống tôi, cũng nhất trí với tôi là chúng tôi chưa bao giờ được nghe một buổi diễn nhạc sống nào hay đến vậy.

        Tôi tới Ukraina để tuyên bố sự ủng hộ về tài chính của tôi đối với quyết định của Tổng thống Leonid Kuchma đóng cửa lò phản ứng cuối cùng tại Chemobyl vào ngày 15 tháng 12. Phải mất khá nhiều thời gian quyết định này mới được đưa ra và tôi rất vui khi biết rằng ít nhất vấn đề cũng sẽ được giải quyết trước khi tôi ra đi. Chặng dừng chân cuối cùng của tôi là buổi diễn thuyết ngoài trời trước rất nhiều người Ukraina những người mà tôi đang thuyết phục hãy tiếp tục đi theo con đường tự do và cải cách kinh tế. Kiev rất đẹp dưới ánh nắng cuối xuân, và tôi hy vọng những người dân ở đây cũng giữ được tinh thần rất cao mà tôi từng chứng kiến trong đám đông những người đã nghe bài diễn văn của tôi. Họ vẫn còn nhiều rào chắn phải vượt qua.

        Ngày 8 tháng 6, tôi tới Tokyo để bày tỏ lòng thành kính của tôi trong buổi lễ tưởng niệm người bạn của tôi, Thủ tướng Keizo Obuchi người đã qua đời một vài ngày trước sau một cơn đột quỵ. Buổi lễ tưởng niệm được tổ chức tại khu trong nhà của sân bóng đá với khoảng vài ngàn ghế có một lối đi ở giữa và khoảng vài trăm người ngồi trên ban công tầng trên. Sân khấu được xây dựng với một đoạn dốc thoai thoải lớn ở phía trước và phần bên cạnh nhỏ hơn. Phía sau sân khấu là một bức tường được che phủ bởi hoa cao khoảng 25 hoặc 30 feet (khoảng 10m). Những bông hoa được sắp xếp rất đẹp biểu hiện cho mặt trời Nhật Bản đang mọc hướng lên bầu trời xanh nhạt. Trên cùng là một khoảng trống mà lúc bắt đầu buổi lễ kỷ niệm một sỹ quan quân đội đã trang nghiêm đặt hộp tro của Obuchi lên đó. Sau khi đồng nghiệp, bạn bè bày tỏ lòng thương tiếc đôi với ông, một số phụ nữ Nhật Bản trẻ xuất hiện trên tay cầm những khay hoa trắng. Đầu tiên là vợ và con của Obuchi, thành viên của hoàng tộc và rồi những nhà lãnh đạo của chính phủ, những người đến viếng thăm đều lần lượt đi lên đoạn dốc, cúi đầu kính cẩn trước hộp tro của ông và đặt những bông hoa lên một dải gỗ cao ngang lưng chạy dọc chiều dài của bức tường hoa.

        Sau khi tôi cúi đầu trước người bạn của tôi và đặt hoa, tôi quay trở lại sứ quán Mỹ để gặp đại sứ của chúng tôi, cựu Chủ tịch hạ viện Tom Foley. Tôi bật tivi để xem diễn tiến tiếp theo của buổi lễ. Hàng nghìn người dân của Obuchi đang tạo nên một đám mây của những bông hoa viếng trên nền mặt trời đang lên. Đây là một trong những buổi lễ tưởng niệm cảm động nhất tôi từng chứng kiến. Tôi dừng lại nơi tiếp đón khách để bày tỏ lòng tôn kính tới Bà Obuchi và các con của ông Keizo, một trong số đó cũng tham gia vào chính trường. Bà Obuchi cảm ơn tôi đã tới dự và tặng tôi một hộp thư bằng men rất đẹp vốn là của chồng bà. Obuchi là một người bạn của tôi và của nước Mỹ. Liên minh giữa chúng tôi có ý nghĩa rất quan trọng và ông đã luôn coi trọng nó ngay từ khi ông còn trẻ. Tôi ước ông ấy có nhiều thời gian hơn để tiếp tục phục vụ đất nước.

  Vài ngày sau, trong khi tôi đang tham gia lễ phát bằng tại trường Carleton, Minnesota, một sĩ quan đã gửi tôi một tin nhắn rằng Tổng thống Hafez al Assad đã qua đời tại Damascus, chỉ 10 tuần sau cuộc gặp cuối cùng giữa chúng tôi tại Geneva. Mặc dù chúng tôi có những bất đồng, ông vẫn luôn thẳng thắn với tôi và tôi tin khi ông nói ông đã có một sự lựa chọn chiến lược để tiến tới hòa bình. Những rào cản do hoàn cảnh, hiểu nhầm và các yếu tố về tâm lý đã khiến điều đó không xảy ra được, nhưng ít nhất chúng tôi giờ đây cũng biết rằng Israel và Syria sẽ đến đích đó một khi cả hai bên đều sẵn sàng.

        Vào thời khắc mùa xuân chuyển sang mùa hạ, tôi tổ chức một buổi tiệc tối quốc gia lớn nhất từ trước đến nay, với hơn 400 thực khách tập hợp dưới một tấm bạt tại Bãi cỏ phía Nam để thể hiện lòng kính trọng đối với Vua Mohammed VI của Marốc, một trong những người mà tổ tiên của họ là người đầu tiên công nhận Hợp chủng quốc Hoa Kỳ ngay sau khi 13 bang đầu tiên của chúng tôi được hợp nhất.

        Ngày hôm sau tôi sửa lại một điều luật cũ, trao tặng Huân chương Cao quý của quốc hội cho 22 người Mỹ gốc Nhật tình nguyện tham gia phục vụ cho phía châu Âu trong Thế chiến hai sau khi gia đình của họ bị giam trong trại cách ly. Một trong số họ là bạn và đồng minh của tôi - Nghị sĩ Daniel Inouye của Hawaii, người đã mất một cánh tay và suýt mất mạng trong chiến tranh. Một tuần sau, tôi chỉ định một ứng cử viên người Mỹ gốc Phi đầu tiên vào nội các: cựu Dân biểu Norm Mineta của California đồng ý làm việc trong những tháng còn lại của nhiệm kỳ của tôi với vai trò bộ trưởng thương mại, thay thế cho Bill Daley, người đã rời chức vụ làm chủ tịch chiến dịch tranh cử của Al Gore.

        Trong tuần cuối tháng, tôi tổ chức một buổi gặp mặt tại Phòng phía Đông của Nhà Trắng, nơi mà gần 200 năm trước đây Thomas Jefferson đã đưa ra bản đồ khai phá vùng Tây Mỹ mà sỹ quan Meriwether Lewis vẽ sau chuyến đi thám hiểm dũng cảm của ông từ sông Mississippi tới Thái Bình Dương năm 1803. Rất đông các nhà khoa học và ngoại giao lần này tập hợp lại chào mừng một bản đồ thời đại thế kỷ 21: hơn 1.000 nhà nghiên cứu tại Mỹ, Anh, Đức, Pháp, Nhật Bản và Trung Quốc đã giải mã gien người, xác định gần hết ba tỷ chuỗi mã gien. Sau nhiều năm tranh cãi, Francis Collins, chủ trì dự án gien người quốc tế được tài trợ bởi quỹ chính phủ và Tổng thống Celera, và Craig Venter đã nhất trí cùng nhau công bố dữ liệu về gien người vào cuối năm. Craig là một người bạn cũ và tôi đã luôn cố gắng để đưa họ lại gần với nhau. Tony Blair tham gia cùng chúng tôi qua điện đàm vệ tinh, nên tôi có cơ hội đùa ông rằng tuổi thọ dự kiến của đứa con mới sinh của ông đã tăng lên khoảng 25 năm.

        Đến hết tháng, tôi tuyên bố thặng dư ngân sách của chúng tôi sẽ vượt quá mức 200 tỷ đôla, với mức thặng dư dự kiến cho 10 năm là trên 4.000 tỷ. Một lần nữa, tôi đề nghị nên để dành một khoản cho an sinh xã hội, khoảng 2,3 nghìn tỷ đôla, và nên dành khoảng 550 tỷ cho Medicare. Có vẻ cuối cùng chúng tôi cũng ạẽ giải quyết được tiền lương hưu cho thế hệ baby-boomer.

        Tôi cũng tham gia một số sự kiện chính trị để ủng hộ đảng Dân chủ tại Arizona và California, hỗ trợ Terry McAuliffe gây những phần quỹ cuối cùng mà chúng tôi cần cho đại hội đảng tại Los Angeles vào tháng 8. Chúng tôi hợp tác chặt chẽ với ông và chiến dịch của Gore thông qua giám đốc chính trị của tôi là Minyon Moore.

        Hầu hết các cuộc trưng cầu đều cho thấy Gore đang đứng sau Bush, và tại cuộc họp báo của tôi ngày 28 tháng 6, phóng viên thời sự của NBC hỏi tôi liệu Al có phải gánh chịu những "scandal" của chính quyền hay không. Tôi trả lời là không có bằng chứng nào cho thấy anh ấy đang phải chịu trừng phạt do những lỗi của tôi; rằng lỗi duy nhất anh ấy bị chỉ trích là đã tham gia vào chiến dịch gây quỹ, và anh thực ra là không có lỗi; và rằng những cái được gọi là "scandal" là không có thật: "Từ "scandal" được ném ra khắp nơi như tiếng kêu lanh lảnh của bình trà trong suốt bảy năm qua". Tôi cũng nói rằng tôi biết một số điều về Al Gore: anh ấy là phó tổng thống có những ảnh hưởng tích cực nhất đối với đất nước hơn bất kỳ một người tiền nhiệm nào trước đây, anh có quan điểm đúng đắn về các vấn đề và sẽ tiếp tục duy trì sự thịnh vượng; và anh hiểu tương lai với tất cả những khả năng và thách thức của nó. Tôi tin tưởng rằng nếu tất cả các cử tri hiểu điều này, Al sẽ giành chiến thắng.

        Trong tuần đầu tiên của tháng 7, tôi công bố nền kinh tế của chúng tôi hiện nay đã tạo được 22 triệu việc làm kể từ khi tôi nhậm chức, và tới Câu lạc bộ Cựu chiến binh cách Nhà Trắng vài dặm về phía bắc để bảo vệ căn lều cũ mà Abraham Lincoln và gia đình đã từng sống trong những mùa hè. Ở đây, sông Potomac sản sinh ra cả đống muỗi và không có máy điều hòa. Một số tổng thống khác cũng đã từng sử dụng căn nhà này. Đây là một trong những dự án Bảo vệ các Di tích của nước Mỹ của Hillary, và chúng tôi muốn biết căn nhà cũ đó sẽ được chăm sóc ra sao sau khi chúng tôi rời Nhà Trắng.

Ngày 11 tháng 7, tôi mở một cuộc họp cấp cao với Ehud Barak và Yasser Arafat tại Trại David với nỗ lực giải quyết các vấn đề khó khăn còn tồn tại trong tiến trình hòa bình, hoặc ít nhất phải thu hẹp khoảng cách bất đồng giữa hai bên để chúng tôi có thể kết thúc mọi chuyện trước khi tôi mãn nhiệm, một kết quả mà cả hai nhà lãnh đạo đều nói họ mong muốn đạt được.

        Họ tới dự họp với những thái độ rất khác nhau. Barak thúc đẩy mạnh mẽ để tiến hành cuộc họp này bởi lẽ cách tiếp cận từng phần của thỏa ước 1993 và hiệp ước sông Wye không có lợi cho ông. 180.000 người Israel đang sống trên Bờ Tây và dải Gaza là một lực lượng kinh khủng. Mỗi sự nhượng bộ của Israel không đem lại thành công trong việc chấm dứt khủng bố hoặc việc phe Palestine công nhận chính thức rằng xung đột đã kết thúc đều gây đau đớn khôn cùng. Barak vừa vượt qua một cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm ở Knesset chỉ với hai phiếu bầu. Ông rất muốn thỏa thuận được trước tháng 9, khi Arafat đe dọa sẽ đơn phương tuyên bố Palestine là quốc gia độc lập. Barak tin rằng nếu ông có thể trình một kế hoạch hòa bình toàn diện trước những người dân Israel, họ sẽ bầu cho nó với điều kiện là những lợi ích cơ bản của Israel phải đạt được: an ninh, bảo vệ những địa điểm tôn giao và văn hóa của họ ở Temple Mount, chấm dứt những đòi hỏi của Palestine về quyền không giới hạn được trở về Israel, và một tuyên bố rằng cuộc xung đột đã chấm dứt.

        Ngược lại, Arafat lại không muốn tới Trại David, ít nhất là chưa phải vào lúc đó. Ông cảm thấy bị những người Israel bỏ rơi khi họ chuyển sang đàm phán với Syria, và tức giận trước việc Barak không giữ những cam kết trước đây về việc chuyển giao nhiều hơn phần Bờ Tây, bao gồm các làng gần Jerusalem. Trong mắt Arafat, việc rút lui đơn phương của Barak khỏi Libăng và đề nghị của ông ta rút khỏi Golan đã làm ông suy yếu. Trong khi Arafat kiên nhẫn tiếp tục theo đuổi tiến trình hòa bình, Libăng và Syria lại đạt được các lợi ích bằng việc theo đuổi chính sách cứng rắn. Arafat cũng nói ông ấy cần hai tuần nữa để đưa ra đề nghị của mình. Ông muốn đạt càng chắc chắn về Bờ Tây và Gaza càng nhiều càng tốt; đạt được chủ quyền hoàn toàn với Temple Mount và Đông Jerusalem, trừ khu vực xung quanh khu của người Do Thái ở đó; và một giải pháp cho vấn đề người tị nạn mà ông không phải từ bỏ nguyên tắc quyền trở về.

        Như thường lệ, mỗi nhà lãnh đạo nhìn nhận quan điểm của mình sẽ rõ hơn quan điểm của người khác. Không có nhiều khả năng hội nghị sẽ thành công. Tôi triệu tập hội nghị vì tôi tin rằng tiến trình hòa bình sẽ càng có nguy cơ bị sụp đổ nếu tôi không làm điều đó.

        Ngày đầu tiên, tôi cố gắng thuyết phục Arafat bỏ qua những nỗi oán hận để tập trung vào công việc trước mắt và thuyết phục Barak chấp thuận về cách thức thảo luận từng vấn đề, đặc biệt là những vấn đề có khả năng gây ra tranh cãi nhất: lãnh thổ, khu định cư, người tị nạn, an ninh và Jerusalem. Như đã nói tại Shepherdstown, Barak muốn làm từ từ trong vài ngày. Điều đó không còn mấy quan trọng nữa - Arafat cũng còn chưa xác định được những điểm để đàm phán; những mục đàm phán đều là những lĩnh vực hoàn toàn mới đối với ông. Trong những vòng đàm phán trước ông chỉ tìm cách để đòi được những điều khoản tốt nhất từ phía Israel về những vấn đề như đất đai, sân bay, các trục đường và thả tù binh, sau đó cam kết sẽ nỗ lực hết sức để giữ gìn an ninh. Giờ đây nếu chúng tôi muốn đạt được những điều đó, Arafat về phần mình sẽ phải nhượng bộ một số điểm cốt lõi: ông không thể lấy lại 100% khu Bờ Tây hoặc quyền được trở lại không giới hạn của người Palestine vào một nước Israel nhỏ bé hơn. Ông cũng phải đáp ứng được một số mối quan tâm về an ninh của Israel đối với các kẻ thù tiềm tàng phía đông sông Jordan.

        Tôi dành một vài ngày đầu để cố gắng đưa Arafat và Barak vào não trạng phù hợp, trong khi Madeleine, Sandy, Dennis, Gemal Helal, John Podesta và những người còn lại của chúng tôi làm việc với những người đồng sự Israel và Palestine của họ. Tôi vô cùng ấn tượng với chất lượng của cả hai đoàn đàm phán. Họ đều rất yêu nước, thông minh và chăm chỉ, và họ có vẻ thực sự muốn đạt được một thỏa thuận. Hầu hết họ đều đã biết nhau và đồng sự của họ ở phe đối phương trong nhiều năm, và mối quan hệ giữa hai nhóm có vẻ tốt.

        Chúng tôi đã cố tạo ra một bầu không khí thoải mái, thân mật cho những người Israel và Palestine. Ngoài bộ phận chuyên trách về Trung Đông của chúng tôi, tôi còn đề nghị người phụ tá của Hillary, Huma Abedin, tham gia cùng. Là một người Mỹ theo Đạo hồi nói tiếng Ảrập và lớn lên ở Ảrập Xêút, Huma là một phụ nữ trẻ tuổi rất ấn tượng, thông hiểu về vùng Trung Đông và đặc biệt tỏ ra hiệu quả trong việc tạo cho đoàn đàm phán của Israel và Palestine có cảm giác dễ chịu. Capricia Marshall, bí thư các vấn đề xã hội của Nhà Trắng, đã sắp xếp những người phục vụ, đầu bếp và hầu phòng tại Nhà Trắng tới hỗ trợ nhóm phục vụ tại Trại David để đảm bảo các bữa ăn thật ngon. Và Chelsea ở với tôi suốt thời gian đó, trò chuyện với các vị khách của chúng tôi và giúp tôi giải quyết những giờ căng thẳng tưởng như không bao giờ dứt.

  Hầu hết các buổi tối, chúng tôi đều ăn cùng với nhau tại Laurel, một ngôi nhà gỗ lớn tại Trại David, có đầy đủ tiện nghi để ăn tối, một phòng làm việc riêng lớn, một phòng họp và phòng riêng của tôi. Bữa sáng và trưa được tổ chức bớt nghi thức hơn và người Israel và Pales-tine có thể nói chuyện với nhau trong những nhóm nhỏ. Đôi khi họ nói về chuyện công việc, nhưng thường thì họ kể những câu chuyện cười, tán gẫu hoặc chuyện liên quan đến lịch sử gia đình. Abu Ala và Abu Mazen là những cố vấn lớn tuổi nhất và làm việc lâu nhất cho Arafat. Phải nói là Abu Ala đã thu thập được rất nhiều truyện cười từ người Israel và người Mỹ để về kể cho gia đình. Bố của ông có nhiều con đến nỗi người đàn ông Palestine 63 tuổi này có em trai mới 8 tuổi, thậm chí còn nhỏ tuổi hơn cả cháu của Abu. Eli Rubinstein, Bộ trưởng Tư pháp của Israel, biết nhiều truyện cười hơn cả tôi và kể chuyện rất hay.

        Trong lúc quan hệ giữa các bên đang rất tốt đẹp thì quan hệ giữa Arafat và Barak lại không như vậy. Tôi sắp xếp họ ở trong những căn nhà gỗ gần nhà của tôi và đến thăm họ hàng ngày, nhưng họ không bao giờ đi thăm lẫn nhau. Arafat vẫn cảm thấy buồn phiền. Barak không muốn gặp Arafat một mình; ông sợ họ có thể sẽ rơi vào tình trạng cũ, khi mà Barak đề nghị nhượng bộ đủ điều còn Arafat không có một hành động đáp lại nào. Ehud ở cả ngày trong nhà của ông ấy phần lớn thời gian dành cho việc gọi điện về Israel để cố giữ vững chính phủ liên hiệp của ông.

        Cho đến thời điểm này, tôi đã hiểu Barak rõ hơn. Ông ta là một người rất thông minh và can đảm, và ông sẵn sàng làm việc lâu dài về vấn đề Jerusalem và lãnh thổ. Nhưng ông đã phải khổ sở khi phải lắng nghe ý kiến của những người dân, những người không nhìn nhận mọi việc giống cách nhìn của ông, và cách ông làm mọi việc là hoàn toàn đối lập với thói quen của những người Ảrập mà tôi từng làm việc cùng. Barak muốn những người khác đợi cho đến khi ông quyết định thời gian thích hợp, sau đó khi ông đưa ra đề nghị hợp lý nhất, ông muốn nó sẽ được mọi người chấp thuận là một cách xử lý tốt như bản chất của nó. Đối tác đàm phán của ông muốn cách tiếp cận xã giao để xây dựng lòng tin và đối thoại cùng với rất nhiều sự mặc cả.

        Xung đột văn hóa khiến cho công việc của chúng tôi càng trở nên khó khăn. Họ đưa ra hàng loạt những chiến lược để phá vỡ thế bế tắc và họ đã có một số tiến triển sau khi các đoàn đàm phán được chia nhỏ ra thành nhiều nhóm khác nhau để làm về từng vấn đề cụ thể, nhưng không bên nào được phép vượt ra ngoài các điểm cụ thể.

        Ngày thứ sáu, Shlomo Ben-Ami và Gilead Sher, theo ước nguyện của Barak, đã làm việc rất tốt, vượt lên trên những quan điểm mà Israel từng tuyên bô trước đây với hy vọng sẽ khiến Saeb Erekat và Mohammed Dahlan có những động thái nhất định. Đây là những thành viên trẻ tuổi trong đoàn đàm phán của Arafat mà chúng tôi tin rằng đều rất muốn đạt được thỏa thuận. Khi những người Palestine không đưa ra một đề nghị nào đáp trả lại những động thái của ông về vân đề Jerusalem và lãnh thổ, tôi tới gặp Arafat cùng với Helal làm phiên dịch và Malley để ghi chép nội dung trao đổi. Đó là một cuộc họp rất phức tạp và kết thúc với việc tôi nói với Arafat rằng tôi sẽ kết thúc đàm phán và ông ấy đã từ chối đàm phán, trừ khi ông đưa cho tôi một thứ gì đó để đem lại cho Barak, người đã không còn nhiệt tình đàm phán nữa vì cả Ben-Ami và Sher đều đã làm hết tất cả những gì có thể mà không nhận lại được gì. Sau một lúc, Arafat đưa tôi một bức thư có lẽ là nói về việc ông ấy hài lòng với giải pháp về Jerusalem, tôi có thể đưa ra lời kêu gọi cuối cùng về việc Israel cần bao nhiêu đất để định cư và điều gì có thể dẫn đến một sự trao đổi đất công bằng. Tôi đưa bức thư cho Barak và dành rất nhiều thời gian nói chuyện với ông ấy, thường là nói chuyên riêng hoặc với thư ký do Hội đồng an ninh quốc gia chỉ định phục vụ phía Israel là Bruce Reidel. Cuối cùng Barak cũng chấp thuận bức thư của Arafat cũng có một ý nghĩa nhất định.

        Ngày thứ bảy, 17 tháng 7, chúng tôi suýt nữa mất Barak. Ông vừa ăn vừa làm việc và bị hóc một hạt lạc và ngừng thở trong vòng bốn mươi giây cho đến khi Gid Gernstein, thành viên trẻ nhất trong đoàn của ông, dùng kỹ thuật sơ cứu Heimlich. Barak là một người rất dẻo dai; ngay sau khi ông thở lại bình thường, ông quay lại ngay với công việc như thể chưa có gì xảy ra. Cũng chưa có gì để chúng tôi làm cả. Barak yêu cầu cả đoàn làm việc cùng với ông suốt cả ngày đến tận đêm khuya.

Trong những tiến trình như thế này, sẽ luôn có những giai đoạn thời gian chết, khi một số người làm việc còn những người khác thì không. Bạn cần phải làm một việc gì đó để phá vỡ sự căng thẳng. Tôi dành nhiều thời gian chết của tôi để chơi bài với Joe Lockhart, John Podesta và Doug Band. Doug đã làm việc tại Nhà Trắng được năm năm, đồng thời theo học đại học luật vào buổi tối, và tới mùa xuân thì ông trở thành phụ tá tổng thống cuối cùng của tôi. Ông rất quan tâm đến khu vực Trung Đông và giúp ích cho tôi rất nhiều. Chelsea cũng chơi bài. Nó đã đạt được điểm số Oh Hell! Cao nhất trong hai tuần chúng tôi ở Trại David.

        Cuối cùng đến đêm thì Barak đến tìm tôi với một số đề nghị. Những đề nghị này bó hẹp hơn những đề nghị mà Ben-Ami và Sher đã đưa ra với những người Palestine. Ehud muốn tôi đưa những đề nghị này cho Arafat dưới danh nghĩa là những đề nghị của Mỹ. Tôi hiểu nỗi tức giận của ông ta đối với Arafat, nhưng tôi không thể làm như vậy; điều đó sẽ trở thành thảm họa và tôi nói với ông ấy như thế. Chúng tôi nói chuyên tới 2h30. 3h15 ông ta quay lại và chúng tôi nói chuyện thêm một giờ đồng hồ nữa tại hiên nhà sau của tôi. về cơ bản, ông đã cho tôi một tín hiệu xuất phát để xem chúng tôi có thể tiến tới ký kết được thỏa thuận về Jerusalem và Bờ Tây hay không. Thỏa thuận đó phải được ông chấp nhận và thống nhất với những điều Ben-Ami và Sher đã bàn bạc với cộng sự của họ. Điều này cũng đáng để chúng tôi thức khuya bàn bạc.

        Sáng ngày thứ tám, tôi cảm thấy vừa lo lắng vừa hy vọng, lo lắng bởi lẽ tôi đã lên kế hoạch đi dự hội nghị cấp cao G-8 tại Okinawa - mà tôi phải đi dự vì nhiều lý do khác nhau - và hy vọng vì thấy ý thức thời điểm cũng như sự can đảm của Barak bắt đầu có hiệu quả. Tôi hoãn chuyến bay tới Okinawa lại một ngày và gặp Arafat. Tôi nói với ông ấy rằng tôi nghĩ ông có thể đạt được 91% khu Bờ Tây; thủ đô Đông Jerusalem; chủ quyền đối với khu của đạo Hồi và đạo Cơ đốc của thành phố cổ và khu vực xung quanh Đông Jerusalem; lên kế hoạch, khoanh vùng và thực thi luật pháp của chính quyền đối với những phần còn lại của khu phía đông của thành phố; và được quyền trông coi thay vì giành chủ quyền đối với khu Núi Đền (Temple Mount) mà thế giới Ảrập gọi là Haram al-Sharif. Arafat do dự trước việc không được hưởng chủ quyền đối với toàn bộ khu vực Đông Jerusalem bao gồm cả Núi Đền. Ông từ chối đề nghị đó. Tôi đề nghị ông suy nghĩ về vấn đề này. Trong khi ông còn do dự thì Barak rất giận dữ, tôi phải yêu cầu các nhà lãnh đạo Ảrập hỗ trợ. Hầu hết mọi người không nói gì nhiều vì sợ can thiệp vào công việc của Arafat.

        Ngày thứ chín, tôi thuyết phục Arafat một lần nữa. Nhưng ông lại từ chối. Israel đã tiến những bước dài hơn ông, còn ông thậm chí chẳng thèm coi những động thái của họ là cơ sở cho những đàm phán tiếp theo. Tôi một lần nữa tìm kiếm sự hỗ trợ của những nhà lãnh đạo Ảrập. Vua Abdullah và Tổng thống Ben Ali của Tunisia cố khích lệ Arafat. Họ nói với tôi là ông ấy sợ sẽ phải nhượng bộ. Cuộc đàm phán tưởng như đã thất bại và rơi vào khủng hoảng. Nhưng cả hai bên rõ ràng đều muốn đạt được thỏa thuận, vì vậy tôi đề nghị họ ở lại và làm việc trong lúc tôi tới Okinawa. Họ đồng ý, mặc dù sau khi tôi đi, những người Palestine vẫn từ chối không đàm phán trên cơ sở những ý tưởng tôi đưa ra, họ nói họ đã vứt bỏ những ý tưởng đó. Sau đó những người Israel lại do dự. Trong việc này tôi cũng một phần có lỗi. Rõ ràng tôi đã không giải thích rõ với Arafat xem cụm từ "lưu lại thêm một thời gian nữa" nghĩa là phải như thế nào.

        Tôi để lại cho Madeleine và những người của chúng tôi phải giải quyết một đống rắc rối. Madeleine đưa Arafat tới thăm trang trại của bà và đưa Barak tới khu chiến trường nổi tiếng thời Nội chiến ở gần Gettysburg. Điều này làm họ vui lên đôi chút nhưng không có gì thay đổi giữa hai người. Shlomo Ben-Ami và Amnon Shehak, vốn là một nhà chiến lược xuất sắc, đã có cuộc đàm thoại với Mohammad Dahlan và Mohamed Rashid, nhưng họ đều dựa vào đoàn của họ; thậm chí kể cả khi họ chấp nhận mọi thứ, họ vẫn không thể thuyết phục những nhà lãnh đạo của họ.

        Tôi về nước vào ngày thứ mười ba của vòng đàm phán, và chúng tôi lại làm việc suốt đêm một lần nữa, phần lớn bàn về vấn đề an ninh. Sau đó chúng tôi lại có một ngày đàm phán như vậy vào ngày thứ mười bốn tới tận 3 giờ sáng trước khi buông xuôi vì Arafat không thể chấp nhận quyền kiểm soát thực tế Núi Đền và toàn bộ phần Đông Jerusalem mà không có chữ "chủ quyền". Với nỗ lực cuối cùng, tôi quyết định đề nghị chủ quyền toàn diện đối với khu vực xung quanh Đông Jerusalem, chủ quyền giới hạn đối với khu vực bên trong và chủ quyền "trông coi" đối với Haram. Một lần nữa Arafat từ chối. Tôi kết thúc vòng đàm phán và cảm thấy rất tức giận và vô cùng buồn. Quan điểm của hai bên không mấy khác nhau về việc giải quyết các công việc tại Jerusalem; tất cả chỉ xoay quanh chuyện bên nào được tuyên bố chủ quyền mà thôi.

        Tôi tuyên bố hai bên không đạt được thỏa thuận lần này do những yếu tố lịch sử, tôn giáo, chính trị và tâm lý của cuộc xung đột. Để Barak dễ trả lời với nước ông và tường thuật lại những gì đã xảy ra, tôi nói trong khi Arafat thể hiện rằng ông muốn tiếp tục theo đuổi con đường hòa bình, Barak cho thấy "một sự can đảm, một cách nhìn và một sự thấu hiểu đặc biệt về tầm quan trọng lịch sử của thời khắc này".

        Tôi nói hai đoàn đàm phán đã thể hiện sự tôn trọng thực sự và sự hiểu biết hiếm có mà tôi từng chứng kiến trong vòng tám năm đàm phán hòa bình trên khắp thế giới, và lần đầu tiên họ đã đàm phán một cách cởi mở về những vấn đề tranh cãi nhạy cảm nhất. Chúng tôi giờ đây hiểu rõ hơn về những điểm mấu chôt của mỗi bên và tôi vẫn tin tưởng chúng tôi sẽ có cơ hội đạt được thỏa thuận trước khi hết năm.

        Arafat muốn tiếp tục đàm phán và hơn một lần đã công nhận ông sẽ không bao giờ còn có được thiện chí đàm phán hòa bình của cả chính phủ Israel và Mỹ hơn lần này nữa. Thật khó có thể hiểu được tại sao ông lại có ít động thái như vậy. Có lẽ đoàn của ông đã không thực sự bàn bạc về những nhượng bộ; có lẽ họ muốn xem họ có thể vắt được gì từ Israel trước khi họ chơi bài ngửa. Bất kể vì lý do gì, họ đã khiến Barak rơi vào tình thế chính trị rất bất ổn. Đâu phải ngẫu nhiên mà ông lại là quân nhân được trao nhiều huy chương nhất trong lịch sử Israel. Với sự cứng rắn đến cộc cằn của mình, ông đã chấp nhận nhiều rủi ro để phấn đấu cho một tương lai an ninh hơn cho Israel. Khi nhận xét trước báo chí, tôi khẳng định với nhân dân Israel rằng ông đã không nhượng bộ bất kỳ lợi ích an ninh nào của dân tộc và họ phải nên tự hào về ông.

        Arafat vốn nổi tiếng với việc đợi đến phút cuối cùng mới đưa ra quyết định, hoặc như cách chúng tôi vẫn nói: "Năm phút trước nửa đêm". Tôi chỉ còn làm tổng thống sáu tháng nữa. Tất nhiên là tôi hy vọng đồng hồ của Arafat sẽ chạy đúng giờ.


Nguồn:
Được bạn:Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 23 tháng 9 năm 2019

« Lùi
Tiến »