Trong số những bang tôi giành chiến thắng vào năm 1996 thì lần này Bush đã chiếm được Nevada, Arizona, Missouri, Arkansas, Tennessee, Kentucky, Ohio, Tây Virginia và New Hampshire. Ngày càng có nhiều cử tri ủng hộ đảng Cộng hòa ở Tennessee. Vào các năm 1992, 1996 và 2000, tỉ lệ cử tri ủng hộ đảng Dân chủ ở đây luôn được duy trì ở mức 47 và 48%. Tuy nhiên NRA cũng làm hại Al tại đây và một số bang khác, trong đó có cả Arkansas. Ví dụ như hạt Yell, nơi dòng họ Clinton từng định cư từ một thế kỷ truớc, là một hạt bảo thủ về văn hóa và có tính chất dân túy mà một ứng viên Dân chủ cần phải thắng để có thể thắng được ở bang này trong một cuộc chạy đua sít sao. Nhưng Gore đã thua Bush với tỉ lệ 47-50. Đó là do NRA. Lẽ ra tôi đã có thể xoay chuyển tình thế nếu như tôi có hai hay ba ngày đi vận động ở những vùng xa xôi. Thế nhưng chỉ đến sát ngày bầu cử tôi mới nhận ra sự nghiêm trọng của vấn đề nhưng tất cả đã muộn.
Những người vận động hành lang của NRA cố gắng đánh bại Al ở Michigan và Pennsylvania. Nếu như không có nỗ lực lớn từ phía các nghiệp đoàn địa phương thì có lẽ họ đã đạt được mục tiêu mặc dù trong nghiệp đoàn cũng có rất nhiều thành viên của NRA. Những nghiệp đoàn này đánh trả bằng khẩu hiệu "Gore không tước súng của các anh nhưng Bush sẽ đập tan nghiệp đoàn của các anh". Nhưng thật không may là các khu vực nông thôn của Arkansas, Tennessee, Kentucky, Tây Virginnia, Missouri và Ohio, không có đủ thành viên nghiệp đoàn để có thể chống chọi với NRA.
Ở Kentucky, quan điểm của chúng tôi chống lại các công ty thuốc lá lớn quảng cáo nhắm vào thanh thiếu niên cũng làm Al Gore bị mất phiếu ở các vùng trồng thuốc lá. Ở Tây Virginia, Gore lại bị ảnh hưởng bởi sự thất bại của nhà máy thép Weir ton, một công ty do nhân viên làm chủ sở hữu; các công nhân và gia đình của họ tin rằng thất bại này là do tôi đã không thể ngăn cản được làn sóng thép giá rẻ từ Nga và châu Á đổ vào Mỹ trong suốt cuộc khủng hoảng tài chính châu Á. Nhiều bằng chứng cho thấy công ty này phá sản vì những lý do khác nhưng những người công nhân không nghĩ vậy nên Al Gore đã phải gánh chịu hậu quả.
New Hampshire rơi vào tay Bush với số phiếu chênh lệch là khoảng trên 7.000 vì Nader lấy mất 22.198 phiếu. Tệ hơn nữa, Nader có hơn 90.000 phiếu tại Florida, nơi mà kết quả giữa Bush và Gore đang vướng vào rắc rối và có lẽ phải mất đến hơn một tháng để giải quyết.
Khi cuộc tranh cãi về kết quả ở Floria nổ ra thì chúng tôi đã giành thêm được bốn ghế nữa tại thượng viện và một tại hạ viện. Ba hạ nghị sĩ đảng Cộng hòa bị đánh bại, trong đó có Jay Dickey mất ghế vào tay Mike Ross ở Arkansas. Các thành viên đảng Dân chủ đã giành được bốn ghế ở California, giành chiến thắng chung cuộc và chỉ thua một lần. Trong lần kiểm phiếu tại Florida, Al Gore ở thê yếu vì người phụ trách chính của cuộc bầu cử tại đây là Ngoại trưởng Katherine Harris, một đảng viên đảng Cộng hòa bảo thủ và có quan hệ rất mật thiết với Thống đốc Jeb Bush. Hơn nữa, quốc hội tiểu bang được quyền chứng thực cử tri lại do phe Cộng hòa bảo thủ chiếm ưu thế. Ngược lại, mặc dù Tòa án tối cao tiểu bang - cơ quan sẽ đưa ra phán quyết cuốì cùng về việc kiểm lại phiếu - lại có nhiều thẩm phán do các thống đốc Dân chủ đề cử hơn và được coi là ít mang tính đảng phái hơn.
Hai ngày sau, trong khi vẫn chưa biết ai sẽ là người kế nhiệm, tôi tiếp Arafat tại Phòng Bầu dục. Xung đột đã lắng xuống và tôi nghĩ Arafat có lẽ rất mong mỏi hòa bình. Tôi cho ông hay tôi chỉ còn 10 tuần nữa để đạt được thỏa thuận. Tôi nắm tay Arafat, nhìn vào mắt ông và nói tôi vẫn còn cơ hội ’đạt được thỏa thuận với Bắc Triều Tiên về việc chấm dứt chương trình sản xuất tên lửa tầm xa của nước này, có điều để làm được tôi sẽ phải đích thân tới đó. Chuyến đi này sẽ mất một tuần hoặc hơn vì tôi còn phải đến Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc.
Tôi biết, nếu muốn có hòa bình ở Trung Đông, tôi phải là người thực hiện. Tôi nói với Arafat rằng tôi đã cố gắng hết sức mình để đem lại cho người Palestine, một quốc gia ở Bờ Tây và dải Gaza, đồng thời bảo vệ an ninh cho Israel. Sau tất cả những nỗ lực của tôi, nếu Arafat không thể đem lại hòa bình cho khu vực này thì ông ấy nợ tôi một lời giải thích, bởi tôi còn phải đến Bắc Triều Tiên để giải quyết một hiểm họa an ninh nghiêm trọng khác. Nhưng Arafat đề nghị tôi ở lại để thực hiện cho xong tiến trình đàm phán hòa bình, bởi vì nếu chúng tôi không thể giải quyết dứt điểm vấn đề này trước khi tôi mãn nhiệm thì phải mất thêm ít nhất là năm năm nữa mới có được cơ hội như lần này.
Tối hôm đó chúng tôi tổ chức một bữa tiệc nhân dịp kỷ niệm 200 năm thành lập Nhà Trắng - ngôi nhà của tất cả các đời tổng thống kể từ Tổng thống John Adams. Tham dự hôm đó có phu nhân Lady Bird Johnson, cựu Tổng thống và phu nhân Ford, cựu Tổng thống và phu nhân Carter và cựu Tổng thống và phu nhân Bush. Đó quả là một thời khắc thời khắc tuyệt vời trong lịch sử Mỹ, mặc dù cựu Thống đốc và phu nhân Bush cũng có chút căng thẳng vì cuộc bầu cử của Thống đốc Bush vẫn đang ở giai đoạn gay go nhất. Tôi rất mừng vì họ đã đến dự.
Vài ngày sau, Chelsea cùng tôi đến Brunei tham dự Hội nghị thượng đỉnh thường niên của APEC. Quốc vương Hassanal Bolkiah của Brunei tổ chức hội nghị tại một khách sạn và một trung tâm hội nghị mới rất đẹp. Chúng tôi đạt được một vài bước tiến cải cách nhằm tránh một cuộc khủng hoảng tài chính châu Á tiếp theo. Thủ tướng Singapore Goh Chok Tong và tôi nhất trí bắt tay vào đàm phán hiệp định thương mại song phương. Tôi cũng cùng chơi golf với Thủ tướng Goh tại một sân golf ban đêm được thiết kế cho những người chơi sợ cái nắng gay gắt của ban ngày. Chính tôi là người đã đề nghị APEC cấp nguyên thủ hồi năm 1993, và tôi rất mừng trước sự phát triển của tổ chức này cũng như những thành tựu mà tổ chức đạt được từ đó đến nay. Trong lần cuối cùng tham dự hội nghị APEC, tôi thấy những nỗ lực của chúng tôi đã đơm hoa kết trái. Điều đó không chỉ thể hiện ở những thỏa thuận cụ thể mà chính là việc chúng tôi đã xây dựng được một thể chế giúp gắn kết Mỹ với cả châu Á trong thế kỷ tới.
Rời Brunei, Chelsea và tôi đến Việt Nam trong một chuyến thăm lịch sử đến Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn cũ), và một địa điểm nơi người dân Việt Nam đang cùng với người Mỹ tìm kiếm hài cốt của các binh sĩ mất tích trong chiến tranh. Hillary cũng bay đến đây sau khi tham dự lễ tang của Leah Rabin.
Tôi đã có cuộc gặp gỡ các lãnh đạo đảng Cộng sản, lãnh đạo nhà nước Việt Nam và Chủ tịch ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Một nhân vật cấp cao cố sử dụng việc tôi chống đối cuộc chiến Việ Nam để chỉ trích những việc làm của Mỹ như hành vi đế quốc. Tôi không thoải mái về điều ấy, nhất là khi phát biểu đó lại ngay trước mặt đại sứ Pete Peterson, người đã từng là tù binh chiến tranh. Tôi nói rất rõ với nhà lãnh đạo này là tuy tôi không đồng ý với chính sách của Mỹ về Việt Nam, nhưng những người theo đuổi chính sách ấy không phải đế quốc hay thực dân, mà cũng là những người tốt vốn nghĩ rằng họ đang chiến đấu chống lại chủ nghĩa cộng sản. Tôi chỉ vào Pete và nói ông này không hề mất đến sáu năm rưỡi ở một nhà tù mà chúng tôi gọi là Khách sạn Hilton Hanoi bởi vì ông ta muốn nô dịch Việt Nam. Chúng ta đã mở sang một trang sử mới với những quan hệ được bình thường hóa, hiệp ước thương mại, và sự hợp tác hai chiều trong các vấn đề MIA; bây giờ không phải là lúc khơi lại những vết thương cũ. Một nhân vật khác thì ít giáo điều hơn.
Còn ngài thủ tướng với tôi đã có quan hệ tốt ở các hội nghị APEC, một năm trước ông ta có nói với tôi rằng ông ta trân trọng thái độ phản chiến của tôi. Khi tôi nói rằng những người Mỹ bất đồng với tôi và đã ủng hộ cuộc chiến thì cũng là những người tốt vốn mong muốn tự do cho người Việt, ông ta đáp: "Tôi hiểu". Ông ta quan tâm đến tương lai và hy vọng Mỹ sẽ hỗ trợ Việt Nam trong việc chăm sóc cho các nạn nhân chất độc da cam và phát triển kinh tế Việt Nam. Chủ tịch Uy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ăn nói giống như mọi thị trưởng năng nổ ở Mỹ mà tôi từng biết. Ông ta nói rất tự hào về nỗ lực cân đối ngân sách thành phố, giảm biên chế guồng máy công chức, và nỗ lực thu hút thêm đầu tư nước ngoài. Ngoài các quan chức, tôi đã gặp gỡ bắt tay với một đám đông thân thiện đã tụ tập để chào hỏi chúng tôi ngay sau một bữa ăn thường tại một nhà hàng. Họ muốn xây dựng một tương lai chung.
Chuyến đi tới địa điểm tìm kiếm hài cốt quả là một kỷ niệm không thể nào quên đối với tất cả chúng tôi. Tôi nhớ lại những người bạn học của tôi thời trung học đã bỏ mạng tại Việt Nam, nhớ đến người đàn ông mà tôi đã giúp đỡ khi còn ở Moscow vào năm 1970, người đã gắng công tìm kiếm thông tin về đứa con trai mất tích của mình. Căn cứ vào những thông tin của người dân địa phương, chúng tôi tin rằng đại úy Hải quân Lawrence Evert đã tử nạn tại đây hơn 30 năm trước. Những người con của ông giờ đã lớn và cùng đến đây với tôi. Những người lính của chúng tôi lội xuống bùn cùng những người dân Việt Nam. Họ cắt bùn ra thành những khối lớn và đưa vào một cái lán gần đó để kiểm tra. Họ đã tìm thấy các phần của chiếc máy bay cùng một bộ quân phục và đã gần có đủ bằng chứng để tiến hành nhận dạng. Công việc này được tiến hành dưới sự giám sát của một nhà khảo cổ Mỹ, người cũng là cựu chiến binh Việt Nam. Ông nói việc khai quật này là đáng tưởng thưởng nhất trên đời. Sự tỉ mỉ và cẩn thận của họ cũng như những nỗ lực giúp đỡ từ phía Việt Nam đã khiến tôi vô cùng ngạc nhiên. Và cuối cùng những người con của Evert cũng đã tìm thấy cha mình.
Trên đường trở về Mỹ từ Việt Nam, tôi nghe tin Chuck Ruff, luật sư Nhà Trắng trong thời kỳ tôi bị kiện bãi nhiệm, đột ngột qua đời. Khi máy bay hạ cánh, tôi vội vã đến chia buồn với vợ anh là Sue. Chuck là một người giỏi giang đã từng dẫn dắt nhóm biện hộ cho tôi một cách khéo léo và dũng cảm trước thượng viện.
Những ngày cuối của tháng 11 được dành cho Trung Đông và việc kiểm phiếu lại ở bang Florida, quá trình này bị ngưng giữa chừng khi vẫn còn hàng ngàn phiếu chưa được đếm hết ở ba hạt lớn - một kết quả bất công đối với Gore vì rõ ràng là xét trên số phiếu bị loại ra trong quá trình bỏ phiếu rắc rối và các máy bấrn lỗ trục trặc thì hàng ngàn người Florida đã bầu cho Gore chứ không phải cho Bush. Gore đã phải khiếu nại ra tòa. Cùng lúc này, tại Trung Đông, Barak và Arafat cũng tiến hành tọa đàm một lần nữa. Bấy giờ tôi vẫn không biết liệu chúng tôi có giành được chiến thắng ở Florida hay đạt được hòa bình ở Trung Đông hay không.
Vào ngày 5 tháng 12, Hillary tới điện Capitol để làm lễ ra mắt với tư cách là một thượng nghị sĩ. Đêm hôm trước, tôi nói đùa với Hillary rằng cô ấy sắp sửa nhập học tại "trường học thượng nghị sĩ" và dặn cô ấy hãy ngủ thật ngon và mặc một bộ quần áo thật đẹp. Hillary cảm thấy háo hức và tôi thật sự vui mừng cho cô ấy.
Ba hôm sau, tôi đến Nebraska để diễn thuyết tại trường Đại học Nebraska Ở Kearney. Đây là bang duy nhất tôi chưa từng đến thăm với tư cách là tổng thống. Đó quả là giống như một bài diễn văn chia tay trong đó tôi cổ vũ các bạn thanh niên hãy tiếp tục duy trì vai trò đi đầu của Mỹ trên thế giới. Trong khi đó, Tòa án tối cao Florida yêu cầu tính thêm các phiếu bầu ở quận Palm Beach và Dade đồng thời kiểm thêm 45.000 phiếu vì theo luật của Florida quy định phiếu bầu chỉ được tính nếu ý định của cử tri là rõ ràng. Nhờ thế Bush chỉ còn hơn Gore 154 phiếu.
Thống đốc Bush ngay lập tức kháng cáo lên Tòa án tối cao Mỹ yêu cầu ngừng ngay việc kiểm phiếu. Một số luật sư nói với tôi rằng Tòa án tối cao sẽ không chấp nhận kháng cáo này vì cơ chế bầu cử là của riêng từng bang, tòa sẽ chỉ can thiệp nếu như có sự phân biệt đối xử giữa các nhóm công dân hay phân biệt chủng tộc. Đồng thời, khó mà lấy được lệnh đình chỉ của tòa án chống lại một hành động hợp pháp, ví dụ như một cuộc tái kiểm phiếu hoặc phá bỏ một ngôi nhà khi người chủ đã đồng ý. Để có được lệnh đình chỉ, một bên phải cho thấy thiệt hại không thể sửa chữa được nếu không đình chỉ hành động kia. Với kết quả biểu quyết là 5/4, thẩm phán Scalia đưa ra một phán quyết gây bất ngờ là yêu cầu đình chỉ tái kiểm phiếu. Vậy thì đâu là "thiệt hại không thể sửa chữa?". Scalia nói việc kiểm phiếu có thể "làm phương hại đến tuyên bố của Bush về tính hợp pháp của cuộc bầu cử của ông ta". Quả là vậy, vì nếu Gore nhận được nhiều phiếu hơn Bush ở Florida thì Tòa án tối cao sẽ khó mà trao quyền tổng thống cho Bush được.
Tối hôm đó chúng tôi tổ chức tiệc mừng giáng sinh tại Nhà Trắng, tôi hỏi tất cả các luật sư có mặt tại bữa tiệc đã bao giờ nghe đến một phán quyết như vậy chưa. Nhưng chưa ai từng nghe. Tòa án tối cao cũng sắp đưa ra một kết luận xem bản thân việc tái kiểm phiếu hợp hiến hay không. Bây giờ thì chúng tôi biết là họ sẽ lại biểu quyết với tỉ lệ 5-4 bất lợi cho chúng tôi. Tôi cũng nói với Hillary rằng không bao giờ được cho phép Scalia viết thêm một phán quyết nào nữa; ông ta đã quá thật thà trong phán quyết lần này rồi.
Ngày 11 tháng 12, Hillary, Chelsea và tôi về quê gốc của tôi ở Ireland, nơi tôi đã góp phần trong việc đem lại hòa bình. Chúng tôi dừng chân ở Dublin để gặp Bertie Ahern và sau đó đến thành phố Dundalk ở gần biên giới để tham gia một buổi tuần hành lớn. Thành phố này trước kia từng là căn cứ của quân đội Cộng hòa Ireland IRA, nhưng bây giờ lại là một lực lượng hòa bình. Các đường phố đều được trang hoàng bằng những ngọn đèn giáng sinh, còn đám đông dân chúng thì reo hò và cùng hát bài "Danny Boy" để chào mừng tôi. Một nhà thơ của Ireland là Seamus Heaney đã từng nói về nhà thơ Yeats rằng "quan tâm của ông ấy là dọn ra một không gian trong tâm trí và trên thế giới để dành cho những điều kỳ diệu". Tôi rất cảm ơn người dân Ireland vì đã lấp đầy khoảng không ấy bằng phép màu hòa bình.
Sau đó chúng tôi đến Belfast - nơi tôi gặp các nhà lãnh đạo Bắc Ireland, trong đó có cả David Trimble, Seamus Mallon, John Hume và Gerry Adams. Sau đó chúng tôi cùng với Thủ tướng Anh Tony Blair, phu nhân Cherie Blair, và Bertie Ahern, George Mitchell tới tham dự một buổi họp lớn của cả người Thiên Chúa giáo và đạo Tin Lành tại quảng trường Odyssey. Đối với họ việc cùng nhau tập trung tại Belfast vẫn còn có vẻ hơi bất thường, vẫn có những bất đồng sâu sắc liên quan đến lực lượng cảnh sát mới, lộ trình cũng như phương pháp giải giáp vũ khí. Tôi đề nghị mọi người tiếp tục cùng nhau giải quyết những khúc mắc và luôn ghi nhớ rằng những kẻ thù của hòa bình không cần đến sự trợ giúp của họ "bởi những gì chúng cần chỉ là sự thờ ơ của tất cả các vị". Tôi nhắc cho mọi người nghe rằng Thỏa ước ngày thứ Sáu tốt lành đã cổ vũ tinh thần của những người kiến tạo hòa bình trên khắp thế giới, và dẫn ra bản thỏa thuận mới được công bố giúp chấm dứt xung đột đẫm máu giữa Eritrea và Mỹ đã giúp thương thảo. Cuối bài diễn văn, tôi chia sẻ với họ rằng tôi thật sự hạnh phúc khi được cùng họ đem lại hòa bình cho Ireland, "nhưng điều quan trọng không phải là tôi cảm nhận thê nào mà là con cái họ sẽ sống ra sao".
Sau buổi họp, gia đình tôi bay đến Anh ở cùng với gia đình Blair tại Chequers và nghe Al Gore phát biểu chấp nhận thất bại. Đêm hôm trước, Tòa án tối cao đã đưa ra phán quyết với kết quả biểu quyết là 7-2, việc tái kiểm phiếu ở Florida là vi hiến vì không có quy chuẩn chung để xác định ý định của cư tri nhằm tái kiểm phiếu, và do đó, dẫn đến việc những người kiểm phiếu khác nhau hiểu khác nhau về cùng một phiếu bầu. Vì thế, Tòa án tối cao phán quyết rằng nếu cho tái kiểm tất cả các phiếu còn gây tranh cãi, dù ý định của cử tri có rõ ràng thế nào đi chăng nữa, thì việc đó cũng không đảm bảo tính công bằng đối với những người mà phiếu của họ chưa được đếm Tôi bất đồng mạnh mẽ với quyết định này nhưng đã được xoa diu phần nào khi biết tin các thẩm phán Souter và Breyer muốn đưa vu này về lại Tòa án tối cao Florida nhằm đưa ra một tiêu chuẩn chung và tiến hành tái kiểm phiếu gấp. Cử tri đoàn cũng sắp họp lại. Nhưng năm thẩm phán kia không đồng tình, vẫn với tỉ lệ 5/4, những thẩm phán mà ba ngày trước yêu cầu chấm dứt tái kiểm phiếu đã cho rằng họ buộc phải tuyên bố ông Bush giành chiến thắng trong cuộc bầu cử vì theo luật của bang Florida thì dù thế nào đi chăng nữa tái kiểm phiếu cũng phải được hoàn thành vào trước nửa đêm hôm đó.
Đó quả là một quyết định động trời. Một đa số bảo thủ hẹp từng điên cuồng ủng hộ quyền của các tiểu bang bây giờ lại tước của Florida một chức năng tiểu bang rõ ràng: quyền được tái kiểm phiếu. Năm vị thẩm phán không chấp nhận kiểm phiếu đã lấy cớ bảo vệ quyền bình đẳng để tước đoạt đi cái quyền của hàng ngàn người vốn đã được ghi nhận trong hiến pháp, đó là quyền được ghi nhận lá phiếu của mình trong khi ý định của họ là rất rõ ràng. Họ cho rằng ông Bush đáng được tặng cho cuộc bầu cử này vì việc tái kiểm phiếu không thể hoàn thành trong hai giờ còn lại, khi mà họ đã bỏ phí ba ngày liền và thậm chí còn trì hoãn việc đưa ra quyết định đến tận 10 giờ tối để đảm bảo việc kiểm phiếu không thể kịp thời hạn. Giá trị của phán quyết này cũng được tuyên bố rất rõ ràng, đó là nó không được áp dụng trong các vụ tranh chấp của những đợt bầu cử sau vì lập luận của họ chỉ áp dụng cho trường hợp hiện tại trong khi vấn đề bảo vệ quyền bình đẳng lại rất phức tạp. Nếu như kết quả đang ở thế ngược lại, tức là Gore dẫn trước Bush thì tôi dám chắc rằng chính Tòa án tối cao này sẽ biểu quyết với tỉ lệ 9-0 để yêu cầu tái kiểm phiếu. Và nếu như vậy thì tôi vẫn sẽ ủng hộ phán quyết của họ.
Vụ Bush V. Gore đi vào lịch sử là một trong những phán quyết tồi tệ nhất của Tòa án tối cao, cùng với vụ Dred Scott, trong đó có một nô lệ bỏ trốn vẫn là tài sản phải được trả về cho người chủ; vụ Plessỵ .V Ferguson, trong đó tòa án đã bảo vệ quan điểm phân biệt chủng tộc; những vụ kiện trong những năm 1920, 1930 khi luật bảo vệ cho những người lao động như quy định lương tối thiểu và tuần làm việc tối đa đều bị vô hiệu hóa, và coi là vi phạm quyền sở hữu của người thuê lao động; vụ Korematsu, Tòa án tối cao đã thông qua phán quyết cho phép giam giữ hàng loạt những người Mỹ gốc Nhật vào các trại sau vụ Trân Châu cảng. Chúng ta đã trải qua thời kỳ đó và không còn chấp nhận những phán quyết mang tính tiêu cực như vậy. Chính vì thế mà tôi biết rằng nước Mỹ cũng sẽ có thể thoát ra khỏi cái ngày đen tối này khi mà năm vị thẩm phán Cộng hòa tước đoạt quyền được bầu cử của hàng ngàn người dân, chỉ vì họ có thể làm như vậy.
Al Gore có bài diễn văn chấp nhận thất bại tuyệt vời bởi nó vừa chân thực, lại vừa hòa nhã và thấm đẫm tinh thần yêu nước. Khi tôi gọi điện chúc mừng thì Gore có kể một người bạn của anh ấy vốn là một diễn viên hài đã nói đùa rằng Gore đã vẹn cả đôi đường: vừa thắng được phiếu phổ thông mà lại không phải gánh vác trọng trách làm tổng thống.
Sáng hôm sau, sau khi trao đổi ngắn với Tony Blair, tôi bước ra ngoài khen ngợi Al Gore và cam kết sẽ hợp tác với tổng thống tân cử là Bush. Rồi Tony và Cherie Blair cùng với Hillary, Cheosea và tôi tới trường Đại học Warwick - nơi tôi đọc một bài diễn văn chia tay, lần này là về cách tiếp cận toàn cầu hóa mà bộ phận Con đường thứ ba của chúng tôi đã ấp ủ: thương mại đi kèm một thỏa thuận toàn cầu về tạo điều kiện kinh tế, giáo dục, y tế, và quản lý dân chủ. Tôi cũng nhân cơ hội này công khai cảm ơn Tony Blair vì tình bạn và quan hệ đối tác mà ông ấy dành cho tôi. Tôi rất quý trọng và sẽ nhớ những khoảng thời gian chúng tôi đã làm việc cùng nhau.
Trước khi rời nước Anh, nhận lời mời dự tiệc trà của nữ hoàng Elizabeth, chúng tôi tới điện Buckingham. Chúng tôi có buổi gặp rất thoải mái và cùng bàn luận về cuộc bầu cử cũng như các sự kiện khác trên thế giới. Sau đó Nữ hoàng thân chinh xuống dưới sân cung điện và cùng đi ra đến tận xe để tiễn chúng tôi. Trong suốt tám năm qua, Nữ hoàng cũng đã là người rất tử tế và tốt bụng đối với tôi.
Ngày 15 tháng 12, tôi đạt được thỏa thuận ngân sách tổng hợp với quốc hội. Đây có lẽ là thắng lợi lớn cuối cùng trong nhiệm kỳ kéo dài tám năm của tôi. Ngân sách dành cho giáo dục đặc biệt tốt. Cuối cùng, tôi đã giành được hơn một tỉ đôla cho sửa chữa trường học - đây là khoản tiền lớn nhất mà chương trình hỗ trợ học đường Heal Start từng được cấp. Nhờ đó họ sẽ có đủ nguồn tài chính để cho phép 1,3 triệu sinh viên tham gia chương trình học ngoại khóa, mở rộng quỹ lương giáo viên thêm 25% để có thể thuê 100.000 giáo viên và tăng cường tài chính cho các chương trình hỗ trợ Pell Grants và Gear Up cũng như nỗ lực nhằm cải thiện các trường học kém chất lượng. Dự luật này cũng bao gồm cả sáng kiến Các thị trường Mới, tăng ngân sách cho nghiên cứu sinh y học, bảo hiểm y tế cho những người nhận trợ cấp xã hội và người tàn tật chuvển sang đi làm, và sáng kiến Xóa nợ Thiên niên kỷ.
John Podesta, Steve Ricchetti, cố vấn luật pháp của tôi là Larry Stein, cùng với tất cả các cộng sự của tôi đã hoàn thành nhiệm vụ thật xuất sắc. Năm cuối cùng của tôi, khi tôi bị coi là không còn sắc bén, đã thông qua con số đáng ngạc nhiên những đề nghị mà tôi đã đưa ra trong Thông điệp Liên bang. Bên cạnh những dự luật nêu trên, quốc hội còn phê chuẩn dự luật thương mại với Trung Quốc, sáng kiến Di sản Đất, cũng như tăng cường hỗ trợ về chăm sóc trẻ em cho các gia đình lao động.
Tuy nhiên tôi vẫn thấy vô cùng thất vọng về kết quả của cuộc bầu cử và lo lắng về tình hình khu vực Trung Đông, nhưng sau chuyến thăm Ireland và nước Anh và thành công về dự luật ngân sách cuối cùng tôi cũng có tinh thần vui hưởng giáng sinh.
Ngày 18, Jacques Chirac và Romano Prodi tới Nhà Trắng để tham dự buổi họp cuối cùng của tôi với các nhà lãnh đạo Liên minh châu Âu. Tới lúc này chúng tôi đã là bạn lâu năm nên tôi rất vui mừng khi được đón tiếp họ lần cuối cùng. Jacques cảm ơn tôi vì đã ủng hộ sự phát triển của EU và môi quan hệ xuyên Đại Tây Dương. Tôi đáp lại rằng tất cả chúng tôi đã cùng nhau giải quyết rất tốt cả ba vấn đề: phát triển và mở rộng EU, mở rộng NATO, mối quan hệ với Nga và các vân đề của khu vực Balkan.
Khi tôi gặp gỡ Chirac và Prodi, nhóm giải quyết các vấn đề Trung Đông bắt đầu họp tại Căn cứ Không quân Bolling ở Washington, Hillary tiếp đón bà Laura Bush tại Nhà Trắng, và gia đình tôi tìm mua nhà tại Washington. Dân chúng New York đã quyết định rằng cô ấy rút cuộc sẽ không bỏ New York mà đi. Cuối cùng, chúng tôi tìm được một ngôi nhà xinh xắn nằm ở rìa công viên Rock Creek, trong khu vực trụ sở các đại sứ quán gần đại lộ Massachusetts.
Ngày hôm sau, Tổng thống tân cử Bush đến Nhà Trắng để dự cuộc gặp mà tôi từng dự cách đây tám năm với cha ông. Chúng tôi nói chuyện về chiến dịch tranh cử, về hoạt động của Nhà Trắng, và về an ninh quốc gia. Ổng ta đang tập hợp một lực lượng có kinh nghiệm đã từng tham gia quản lý chính phủ của đảng Cộng hòa, những người nghĩ rằng vấn đề an ninh lớn nhất lúc này là phòng thủ bằng tên lửa đạn đạo và vấn đề Iraq. Dựa trên kinh nghiệm tám năm qua của mình, tôi nói với ông ấy rằng vấn đề an ninh quan trọng nhất, xếp theo thứ tự là: Osama Bin Laden và Al Qaeda; căng thẳng ở Trung Đông; tranh chấp giữa hai cường quốc hạt nhân là Ấn Độ và Pakistan cũng như mối liên hệ giữa Taliban và Al Qaeda với Pakistan; Bắc Triều Tiên; rồi mới đến Iraq. Tôi nói rằng điều thất vọng lớn nhất của tôi là không bắt được Bin Laden, và rằng chúng tôi vẫn có thể đạt được một thỏa thuận ở Trung Đông, và rằng chúng tôi đã gần đạt được một đồng thuận với với Bắc Triều Tiên nhằm chấm dứt chương trình tên lửa của nước này, nhưng ông ấy có thể sẽ phải đến đó để kết thúc đàm phán.
Bush nghe tôi nói mà không bình luận gì nhiều, sau đó chuyển cuộc nói chuyện sang chủ đề tôi đã làm công việc của mình như thế nào. Lời khuyên duy nhất của tôi là ông ta nên tập hợp một đội ngũ tốt và làm những gì mà ông ta nghĩ là có lợi cho đất nước. Sau đó chúng tôi tiếp tục nói chuyện xoay quanh các vấn đề chính trị nhiều hơn.
Bush đã tỏ ra mình là một chính trị gia tinh thông vào năm 2000, xây dựng được một liên minh với những tuyên bố trung dung nhưng có những đề xuất cụ thể khá bảo thủ. Lần đầu tiên thấy ông đọc bài diễn văn "bảo thủ đồng cảm" ở Iowa, tôi đã biết rằng ông ta có cơ hội chiến.thắng. Sau các cuộc bầu cử sơ bộ ông ấy đều xếp ở vị trí thấp thiên về cánh hữu, và tụt lại trong các cuộc trưng cầu, nhưng ông ấy đã trở lại vị trí trung tâm bằng những tuyên bố trung dung hơn, thúc giục quốc hội của đảng Cộng hòa không cân đối ngân sách bằng cách đè nặng lên vai những người nghèo, và thậm chí còn ủng hộ quan điểm của tôi trong một số vấn đề đối ngoại. Khi ông ấy là thống đốc, sự bảo thủ của ông ấy đã được gia giảm vì phải làm việc một quốc hội tiểu bang do đảng Dân chủ nắm và vì sự ủng hộ ông ấy có được phó thống đốc Dân chủ Bob Bullock, người có trong tay rất nhiều quyền lực dưới chính quyền bang Texas. Giờ thì ông ây sẽ cầm quyền với một quốc hội do phe Cộng hòa bảo thủ nắm ưu thế. Ông ấy sẽ phải lưa chọn con đường đi của mình. Sau cuộc gặp, tôi biết ông ấy họàn toàn có khả năng làm điều đó, nhưng tôi không thể biết được đó sẽ là con đường ông ấy đã theo khi làm thống đốc hay con đường ông ấy đã dùng để đánh bại John McCain trong cuộc bầu cử sơ bộ ở Nam Carolina.
Ngày 23 tháng 12 là một ngày định mệnh đối với tiến trình hòa bình Trung Đông. Sau khi hai bên đàm phán trong suốt mấy ngày tại Căn cứ Không quân Boilling, tôi và phía bên tôi hiểu rằng nếu chúng tôi không thu hẹp nội dung đàm phán, nghĩa là buộc hai bên phải đưa ra những nhượng bộ lớn, thì sẽ không bao giờ có nổi thỏa thuận. Arafat thì sợ bị các nhà lãnh đạo Ảrập chỉ trích, Barak thì để mất quyền lực vào tay Sharon ở trong nước. Vì thế tôi đưa đoàn Israel và Palestine vào Phòng Nội các, đọc cho họ nghe "khuôn khổ đàm phán" mà tôi đưa ra. Tôi vạch ra những khuôn khổ này sau hàng loạt các cuộc trò chuyện riêng với các bên kể từ hồi ở Trại David. Nếu họ đồng ý với những khuôn khổ đó trong vòng bốn ngày, chúng tôi sẽ tiếp tục. Nếu không, hòa đàm coi như chấm dứt.
Tôi cố gắng đọc thật chậm để hai bên có thể ghi chép cẩn thận, về mặt lãnh thổ, tôi đề xuất trao cho Palestine 94% đến 96% diện tích Bờ Tây, phía Israel giữ lại 1% đến 3% diện tích đất, nhưng phần đất Israel giữ lại sẽ bao gồm 80% các khu định cư Do Thái, về an ninh, tôi nói rằng lực lượng quân đội Israel phải rút khỏi khu vực trong vòng ba năm, trong khi đó sẽ dần thay thế bằng lực lượng quốc tế, nhưng vẫn có một lực lượng nhỏ của Israel ở lại Thung lũng Jordan trong vòng ba năm nữa dưới sự điều động của lực lượng quốc tế. Israel vẫn có thể duy trì các trạm cảnh báo sớm của họ ở Bờ Tây với một bộ phận liên lạc của Palestine. Trong trường hợp "có mối đe dọa cận kề và rõ ràng đối với an ninh của Israel", sẽ có điều khoản cho phép triển khai quân khẩn cấp ở Bờ Tây.
Nhà nước Palestine mới sẽ là một nhà nước "phi quân sự hoá", nhưng sẽ có một lực lượng an ninh mạnh; có chủ quyền đối với không phận nhưng có những điều khoản đặc biệt để đáp ứng nhu cầu tập luyện và hoạt động của Israel; và một lực lượng quốc tế đóng vai trò bảo đảm an ninh biên giới và ngăn chặn.
Về vấn đề Jerusalem, tôi đề nghị các khu vực dân cư Ảrập sẽ thuộc về Palestine, và các khu vực dân cư Do Thái sẽ thuộc về Israel. Đồng thời, Palestine sẽ có chủ quyền đối với Núi Đền, còn Israel sẽ có chủ quyền đối với Bức tường phía Tây và cả "vùng đất thánh" - một phần của Bức tường phía Tây. Ngoài ra, Israel không được phép đào bới quanh hoặc dưới Núi Đền, ít nhất là khi không có sự đồng thuận giữa hai bên.
Về vấn đề tị nạn, tôi nói rằng nước Palestine mới sẽ là nơi trú chân cho những người tị nạn đã bị ly tán trong cuộc chiến năm 1948 và thời gian sau đó, cũng không loại trừ khả năng Israel sẽ chấp nhận dân tị nạn dựa theo luật pháp và quyết định có chủ quyền của nước này, ưu tiên cho dân tị nạn ở Libăng. Tôi cũng đề nghị một nỗ lực quốc tế bồi thường cho người tị nạn, và giúp họ tìm nhà ở tại nước Palestine mới trong những vùng đất trao đổi sắp được chuyển cho Palestine, tại nơi họ đang tị nạn, tại các nước muốn nhận họ, hoặc ở Israel. Cả hai cần phải hiểu rằng giải pháp như thế này sẽ phù hợp với Nghị quyết 194 của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc.
Cuối cùng, bản thỏa thuận cần vạch rõ việc kết thúc xung đột và chấm dứt bạo lực. Tôi cũng đề nghị nên có một nghị quyết mới của Hội đồng Bảo an chỉ ra rằng: bản thỏa thuận này, cùng với đợt phóng thích cuối cùng những người tù Palestine, sẽ thỏa đáng với những yêu cầu trong các nghị quyết 242 và 338 của Liên hiệp quốc.
Tôi nói các khuôn khổ này là không thể mặc cả, và tôi chỉ có thể làm được đến thế. Tôi mong các bên tự mình đàm phán về thỏa thuận tình trạng cuối cùng. Sau khi tôi trình bày xong và bước ra, Dennis Ross và nhóm của tôi ở lại để làm rõ bất cứ điều gì có thể gây hiểu nhầm, nhưng họ sẽ từ chối nghe bất cứ lời phàn nàn nào của các bên. Tôi biết kế hoạch này khó khăn cho cả hai bên, nhưng đã đến lúc phải quyết định - hoặc là phải chịu hoặc là im miệng. Người Palestine sẽ từ bỏ quyền tuyệt đối quay trở lại; họ luôn biết mình phải làm điều đó nhưng lại không muốn thừa nhận. Israel sẽ từ bỏ Tây Jerusalem và một phần Thành cổ, nhưng những khu vực tôn giáo và văn hóa của họ sẽ được bảo toàn. Rõ ràng là để có hòa bình, họ buộc phải làm vậy. Người Israel cũng sẽ bỏ đi thêm một số phần Bờ Tây, và có thể là phần đất lớn hơn phần đất mà Barak mới đề nghị đổi, nhưng họ vẫn giữ lại 80% khu định cư Do Thái. Và họ cũng sẽ được một tuyên bố chính thức kết thúc xung đột. Đây là một thương thảo khó khăn, nhưng nếu cả hai bên đều muốn hòa bình, thì tôi nghĩ như vậy là công bằng với họ
Arafat ngay lập tức bắt đầu nói lập lờ, yêu cầu "giải thích rõ hơn". Nhưng các khuôn khổ của thỏa thuận đã rõ ràng; hoặc ông ấy phải đàm phán trong khuôn khổ đó hoặc không. Như thường lệ, ông cố tình kéo dài thời gian. Tôi gọi cho Mubarak và đọc cho ông ta những điểm chính. Ông nói những khuôn khổ thỏa thuận mang tính lịch sử và có thể thể khuyến khích Arafat chấp nhận.
Ngày 27, nội các của chính phủ Barak tuyên bố chấp thuận những khuôn khổ trong bản thỏa thuận và đặt ra một số hạn chế, nhưng tất cả các hạn chế đó đều nằm trong khuôn khổ thỏa thuận, và vì có thể đem ra đàm phán tiếp. Thật là một thời khắc lịch sử: một chính phủ Israel dám tuyên bố rằng để đạt được hòa bình, cần phải chấp nhận 1 một nhà nước Palestine chiếm giữ 97% diện tích Bờ Tây, tính cả phần đất trao đổi, và tất cả dải Gaza, nơi Israel cũng có người định cư. Quả bóng giờ nằm trong chân Arafat.
Hằng ngày tôi gọi điện cho những nhà lãnh đạo Ảrập khác để thúc giục họ gây sức ép buộc Arafat đồng ý. Họ đều ấn tượng với sự chấp thuận của Israel và nói với tôi là họ tin Arafat sẽ hợp tác. Tôi không biết họ nói với Arafat những gì, mặc dù đại sứ Ảrập Xê-út Hoàng tử Bandar, sau đó bảo tôi là ông ấy và Thái tử Abdullah đều hoàn toàn tin tưởng Arafat sẽ đồng ý với những khuôn khổ của bản thỏa thuận.
Ngày 29, Dennis Ross gặp gỡ Abu Ala, người mà tất cả chúng tôi đều kính trọng, để đảm bảo rằng Arafat hiểu những hậu quả của ' việc từ chối hợp tác. Tôi rồi sẽ ra đi. Ross cũng vậy. Barak sẽ thua Sharon trong cuộc bầu cử sắp tới. Bush sẽ không muốn nhảy vào sau khi tôi đã đầu tư nhiều đến thế mà vẫn thất bại.
Tôi vẫn không tin Arafat sẽ mắc một sai lầm lớn đến vậy. Ngày hôm trước, tôi đã tuyên bố không đi Bắc Triều Tiên để kết thúc thỏa thuận ngăn cấm nước này tiếp tục sản xuất tên lửa trên diện rộng, nói rằng tôi tin chính quyền mới sẽ kết thúc đàm phán, dựa trên những kết quả tốt đẹp mà chúng tôi đã đạt được. Tôi không muốn phải từ bỏ việc buộc Bắc Triều Tiên kết thúc chương trình sản xuât tên lửa. Chúng tôi ngăn chặn được chương trình sản xuất plutonium và thử tên lửa của họ, và đã từ chối đàm phán với họ về những vấn đề khác nếu không có sự tham gia của Hàn Quốc, và tạo bước đệm cho "Chính sách Ánh dương" của Kim Dea Jung. Sự dũng cảm vươn tới Bắc Triều Tiên của Kim đã mang đến nhiều hy vọng cho hòa giải hơn bất cứ lúc nào kể từ khi kết thúc cuộc chiến tranh Triều Tiên, và ông ấy vừa được nhận giải Nobel Hòa bình vì điều đó. Madeleine Albright đã đến Hàn Quốc và tin là nếu tôi đi, chúng tôi có thể ký thỏa thuận về tên lửa. Mặc dù rất muốn thực hiện bước đi kế tiếp, nhưng tôi không dám liều đi nửa vòng trái đất trong khi chúng tôi đã tiến rất gần tới hòa bình ở Trung Đông, đặc biệt là sau khi Arafat quả quyết rằng ông ấy mong chờ bản thỏa thuận và nài nỉ tôi ở lại.
Ngoài vấn đề Trung Đông và ngân sách, có rất nhiều sự kiện đã xảy ra trong 30 ngày cuối cùng. Tôi đánh dấu lễ kỷ niệm lần thứ bảy sự ra đời của luật Brady với tuyên bố cho đến lúc này luật ấy đã ngăn chặn được 611.000 tội phạm, kẻ đào tẩu, và những kẻ chuyên đi theo dõi người khác không được mua súng ngắn; tham dự Ngày Thế giới phòng chống AIDS tại Đại học Howard cùng với đại diện của 24 nước châu Phi, tuyên bố rằng chúng tôi đã giảm tỷ lệ tử vong vì AIDS xuống hơn 70% tại Mỹ và sẽ phải làm nhiều hơn nữa tại châu Phi và các nước khác, nơi đại dịch đang hoành hành; công bố bản thiết kế thư viện tổng thống của tôi, một cây cầu dài, hẹp làm từ thép và kính có tên "Cây cầu đến thế kỷ 21" nhô ra bên bờ sông Arkansas; tuyên bố nỗ lực tăng cường tiêm vắc xin cho trẻ em nội thành, tỷ lệ trẻ được tiêm vắc xin trong các đối tượng này vẫn còn thấp hơn mức trung bình quốc gia; ký bản phủ quyết cuối cùng về dự luật cải tổ quy định phá sản vốn khắt khe với những con nợ có thu nhập thấp hơn là với những người giàu có nợ nần; đưa ra luật lệ chặt chẽ bảo đảm tính chất riêng tư của hồ sơ bệnh án; hoan nghênh quyết định ngừng bắn của Ấn Độ ở Kashmir và kế hoạch rút quân của Pakistan khu vực Đường ranh giới Kiểm soát; và công bố luật mới nhằm giảm bớt lượng khí thải xăng dầu độc hại từ các loại xe tải và xe buýt. Cùng với những tiêu chuẩn đã ban hành được một năm về khí thải cho các loại ô tô và xe thể thao tiện ích (SUV), luật mới đảm bảo rằng đến cuối thập kỷ này, những phương tiện giao thông mới sẽ sạch hơn những phương tiện đang lưu thông hiện tại đến 95%, giúp ngăn chặn hàng nghìn trường hợp chết yểu và mắc bệnh về đường hô hấp.
Ba ngày trước lễ giáng sinh, tôi ký ân xá và giảm án cho 62 tù nhân. Tôi đã không ân xá nhiều trong nhiệm kỳ đầu và bây giờ tôi rất mong được hoàn thành công việc còn dang dở ấy. Tổng thống Carter đã ân xá cho 566 tù nhân trong bốn năm. Tổng thống Ford đã ân xá 409 trường hợp trong hai năm rưỡi. Tổng số người được ân xá trong tám năm đương chức của Tổng thống Reagan là 406. Tổng thống Bush mới chỉ ân xá cho 77 người, trong đó có cả lệnh ân xá gây tranh cãi dành cho những phần tử trong vụ Iran - Contra, và vụ phóng thích Orlando Bosch - một phần tử chống lại Cuba mà FBI tin là thủ phạm của nhiều vụ giết người.
Triết lý của tôi về ân xá và giảm án nảy sinh khi tôi còn là Bộ trưởng Tư pháp và Thống đốc bang Arkansas, là khá bảo thủ, rằng khi đến lúc giảm án và trả tự do cho những trường hợp phạm tội không liên quan đến bạo lực một khi người ta đã chịu án và dành ra một khoảng thời gian thích hợp sau đó cư xử như một công dân chấp hành luật pháp, thì không có lý do nào không trao lại cho họ quyền bầu cử. Có một văn phòng phụ trách việc ân xá thuộc Bộ Tư pháp, nơi nhận đơn xin ân xá và đưa ra đề nghị. Tôi nhận được những đề nghị đó trong tám năm và nhận ra hai điều: những người làm việc ở Bộ Tư pháp xem xét đơn xin ân xá rất lâu, và thường là đề nghị từ chối ân xá trong hầu hết các trường hợp.
Tôi hiểu tại sao lại như vậy. Ở Washington tất cả mọi thứ đều liên quan đến chính trị và hầu như lệnh ân xá nào cũng có thể gây tranh cãi. Nếu là một công chức, cách duy nhất hiệu quả để tránh xa khỏi mọi rắc rối là nói không. Văn phòng xét ân xá của Bộ Tư pháp biết họ không hề hấn gì nếu trì hoãn đơn xin xét ân xá hoặc đề nghị tổng thống từ chối ân xá; một chức năng của tổng thống được Hiến pháp quy định đang dần dần được chuyển vào tay Bộ Tư pháp.
Trong vài tháng cuối cùng, chúng tôi đã liên tục thúc ép Bộ Tư pháp gửi thêm nhiều tài liệu hơn, và họ cũng làm khá hơn chút ít. Trong số 59 người được tôi ân xá và ba người được giảm án, hầu hết đều là những người đã phạm tội, đã cải tạo tốt, và trở thành những công dân tốt. Tôi cũng ký lệnh ân xá đối với những vụ được gọi là "vụ bạn gái". Đây là vụ những phụ nữ bị bắt vì chồng hoặc bạn trai của họ phạm tội, chủ yếu liên quan đến ma túy. Những phụ nữ này bị dọa bỏ tù trong thời gian dài, kể cả nếu chính họ không dính líu đến vụ việc, nếu họ không cung cấp lời khai chống lại bạn trai hoặc chồng của họ. Những người từ chối khai báo hoặc biết không đủ thông tin cần thiết đều phải vào tù trong một thời gian dài. Trong một vài vụ, những người đàn ông bị tình nghi về sau đã hợp tác với công tố viên và chịu tội nhẹ hơn những người phụ nữ. Chúng tôi xem xét những vụ này trong suốt nhiều tháng. Mùa hè trước tôi đã ân xá cho bốn người trong số họ.
Tôi cũng ân xá cho Dan Rostenkowski, cựu chủ tịch ủy ban Tài chính cũ và Thuế khóa Hạ viện. Rostenkowski đã làm được rất nhiều việc cho đất nước và ông ấy đã trả giá nhiều hơn so với những lỗi lầm của ông ấy. Và tôi cũng ân xá cho Archie Schaffer, một nhân viên cấp cao của Tyson Foods bị bắt trong vụ điều tra công ty Espy và đang chịu án tù bắt buộc vì vi phạm một luật cũ nào đó mà Schaffer không biết, vì ông ta từng chuẩn bị kế hoạch đi lại, theo lệnh của Epsy, để Epsy có thể đến nơi nghỉ của Tyson.
Sau đợt ân xá nhân lễ giáng sinh, chúng tôi ngập chìm trong các đơn đề nghị ân xá, rất nhiều trong số đó là từ những người đang bực tức vì tiến trình thường lệ bị trì hoãn. Trong năm tuần tiếp theo, chúng tôi xử lý hàng trăm đơn đề nghị, bác bỏ thêm hàng trăm đề nghị, và ân xá cho 140 trường hợp, đưa số người được tôi ký lệnh ân xá trong tám năm đương nhiệm lên 456 trong tổng số hơn 7.000 đơn đề nghị. Luật sư của tôi tại Nhà Trắng, Beth Nolan, Bruce Lindsey và Meredith Cabe - người luật sư phụ trách ân xá của tôi, đã xử lý số đơn thư nhiều đến mức có thể, thu thập thông tin và giải quyết từ Bộ Tư pháp. Một số quyết đinh rất dễ dàng như vụ Susan McDougal và Henry Cisneros, người đã bị công tô viên độc lập ngược đãi; thêm nhiều vụ bạn gái hơn; và một số lượng lớn đề nghị theo thường lệ mà lẽ ra phải được ân xá từ mấy năm trước. Một trong số đó là ân xá sai lầm, vì thiếu thông tin khi Bộ Tư pháp không biết đương sự đang bị điều tra ở tiểu bang khác. Hầu hết lệnh ân xá đều dành cho những người cùng quẫn và không còn cách nào khác là phạm luật.
Lệnh ân xá gây tranh cãi nhất là dành cho Marc Rich và cộng sự cii ông ta, Pincus Green. Rich, một thương nhân giàu có, đã rời Mỹ đa Thụy Sĩ ngay trước khi bị buộc tội gian lận thuế và báo cáo sai về giao dịch của một số loại dầu nhất định nhằm để giảm tiền thuế đến mức tối thiểu. Hồi những năm 80 cũng đã có một vài vụ tương tự như thế, khi giá cả một số loại dầu có thể kiểm soát, và một số loại khác thì không, khiến một số người khai mức thu nhập của mình thấp hơn thực tế, hoặc bán dầu cho khách hàng với giá cao hơn giá bình thường. Hồi đó, một số người và công ty đã bị buộc tội, nhưng các cá nhân thường chỉ bị buộc tội vi phạm dân sự. Rất hiếm khi những người bị buộc tội gian lận thuế lại bị đem ra truy tố dựa trên các đạo luật chống các mánh khóe kiếm tiền gian lận, như Rich và Green. Và sau khi họ bị buộc tội, Bộ Tư pháp đã lệnh cho công tố viên dừng việc này lại. Sau khi bị buộc tội, Rich ở lại nước ngoài, chủ yếu ở Israel và Thụy Sĩ.
Chính phủ đã cho phép công ty của Rich tiếp tục hoạt động sau khi ông ta chịu trả 200 triệu đôla tiền phạt, gấp hơn bốn lần số tiền 41 triệu đôla tiền thuế mà chính phủ tuyên bố ông ta đã trốn. Giáo sư Marty Ginsburg, một chuyên gia trong lĩnh vực thuế - ông là chồng của thẩm phán Ruth Bader Ginsburg và là một giáo sư luật của đại học Luật Harvard, cùng với Bernard Wolfman đã kiểm tra các giao dịch và kết luận rằng các công ty của Rich đã đúng trong việc tính thuế của mình, có nghĩa là bản thân Rich không nợ tiền thuế. Rich đồng ý khước từ miễn trừ luật hạn định, và có thể bị chính phủ kiện dân sự như những người khác. Ehud Barak đã ba lần yêu cầu tôi ân xá cha Rich vì ông ta đã đóng góp nhiều cho nước Israel và giúp đỡ những người Palestine, và một số nhân vật ủng hộ Israel khác thuộc cả hal đảng đã thúc giục để ông ta nhanh được phóng thích. Cuối cùng, Bộ Tư pháp nói không phản đối và nghiêng về ý kiến ân xá cho Rich, nếu điều đó thúc đẩy lợi ích của Mỹ về đối ngoại.
Rất nhiều người cho là tôi đã sai khi ân xá cho một kẻ chạy trốn giàu có. Vợ cũ của ông ta là người ủng hộ tôi, và ông ta cũng tuyển một trong những luật sư Nhà Trắng của tôi vào đội ngũ tư vấn luận của ông ta, cùng với hai luật sư nổi tiếng khác của đảng Cộng hòa. Gần đây Rich còn được đại diện bởi Lewis "Scooter" Libby, chánh văn phòng của phó Tổng thống tấn cử Dick Cheney. Có thể là tôi đã sai lầm, ít nhất là sai lầm vì chú ý đến vụ này, nhưng tôi đã quyết định dựa trên tinh thần đúng đắn. Vào tháng 5 năm 2004, Rich vẫn chưa bị Bộ Tư pháp khởi kiện, một điều đáng ngạc nhiên, vì có nhiều bằng chứng khiến chính phủ có thể coi đây là vụ dân sự hơn là hình sự.
Mặc dù sau này tôi có thể bị chỉ trích vì một số lệnh ân xá đã ký, nhưng tôi lại thấy lo ngại hơn về một số vụ không ân xá. Ví dụ, tôi nghĩ vụ của Michael Milken rất thuyết phục vì những việc tốt mà ông ấy đã làm cho bệnh ung thư tuyến tiền liệt sau khi được ra tù, tuy nhiên Bộ Ngân khố và ủy ban Chứng khoán lại kiên quyết chống lại việc tôi ân xá cho ông ta và nói rằng: dây là một tín hiệu sai lầm vào cái thời điểm mà họ đang cố gắng áp đặt những tiêu chuẩn hà khắc lên ngành tài chính. Hai trường hợp khiến tôi cảm thấy hối hận nhất khi từ chối ân xá là của Webb Hubbell và Jim Guy Tucker. Vụ của Tucker thì vẫn đang chờ phúc thẩm, còn Hubbell thì thực sự đã phạm pháp vẫn chưa đạt hạn ở tù tối thiểu để được xem xét ân xá. Nhưng cả hai người đều đã bị văn phòng của Ken Starr chèn ép vì không chịu nói dối. Không ai trong số hai người này lẽ ra dã phải chịu tí xíu khổ ải nào mà họ thực sự phải chịu nếu tôi không phải là tổng thống và không rơi vào nanh vuốt của Starr. David Kendall và Hillary luôn thúc giục tôi phải ân xá cho họ. Còn những người khác thì kịch liệt phản đối. Cuối cùng, tôi để vụ đó cho những nhân viên của tôi xử lý một cách không khoan nhượng. Từ đó đến nay tôi luôn cảm thấy hối hận. Sau đó khi gặp Jim Guy, tôi xin lỗi ông và tôi sẽ làm một điều tương tự như thế với Webb Hubbell vào một ngày nào đó.
Lễ giáng sinh của chúng tôi cũng giống như của những người khác, nhưng trở nên quý giá hơn vì chúng tôi biết đây là giáng sinh cuối cùng tại Nhà Trắng. Tôi muốn tận hưởng những tiệc chiêu đãi cuối cùng này, cũng như cơ hội được gặp bao nhiêu người đã cùng sát cánh bên tôi tại Washington. Tôi xem xét kỹ càng mọi đồ trang trí mà Chelsea, Hillary và tôi treo lên cây thông, nhìn kỹ từng quả chuông, từng quyển sách, từng tấm biển đồng, từng chiếc bít tất, cũng như tranh giáng sinh và cả ông già Noel chúng tôi đặt ở Phòng Bầu dục Vàng. Tôi cũng tự mình đi lên khắp các phòng tầng hai và ba đê nhìn rõ hơn tất cả những bức tranh và những đồ nội thất cũ. Cuối cùng tôi cũng có thời gian để bảo nhân viên Nhà Trắng cho tôi xem tất cả những chiếc đồng hồ từ xưa đến nay của Nhà Trắng, tôi vừa dùng vừa nghiên cứu về chúng. Những bức chân dung người tiền nhiệm và phu nhân của họ nay mang một ý nghĩa mới vì cả Hillary và tôi đều nhận ra rằng, bức chân dung của chúng tôi cũng sẽ nằm trong số đó trong thời gian tới. Chúng tôi chọn Simmie Knox là người vẽ chân dung chúng tôi; chúng tôi thích những nét vẽ sinh động như thật của Knox và ông sẽ là họa sĩ vẽ chân dung người Mỹ gốc Phi đầu tiên có tác phẩm được treo trong Nhà Trắng.
Vào tuần lễ sau giáng sinh, tôi ký thêm một vài dự luật khác và bổ nhiệm Roger Gregory làm quan tòa người Mỹ gốc Phi đầu tiên trong Tòa phúc thẩm lưu động khu vực thứ 4. Gregory là người rất có năng lực, và Jesse Helms đã phản đối bổ nhiệm một quan tòa da đen cũng quá đủ lâu rồi. Đây là một quyết định bổ nhiệm vào thời gian nghỉ, một quyết định mà tổng thống toàn quyền quyết định trong một năm vào lúc quốc hội không nhóm họp. Tôi dám cá rằng vị tổng thống mới sẽ không mong có một Tòa phúc thẩm gồm toàn những người da trắng ở vùng Đồng Nam.
Tôi cũng tuyên bố rằng cùng với ngân sách mới được ban hành, chúng tôi sẽ có đủ tiền để trả món nợ 600 tỉ đôla trong bốn năm qua, và với cái đà này thì đất nước sẽ hết nợ vào năm 2010, lúc đó sẽ cắt giảm được 12 cent trong mỗi đôla tiền thuế để có thể dùng đầu tư. Nhờ tinh thần trách nhiệm tài chính của chúng tôi, lãi suất lúc này, sau bao nhiêu lần tăng lên, đã ở mức thấp hơn khi tôi mới nhậm chức đến 2%, giảm tiền góp thế chấp, mua xe hơi, vay vốn kinh doanh và tiền vay học đại học. So với việc cắt giảm thuế thì lãi suất thấp giúp cho người dân có thêm nhiều tiền hơn.
Vào ngày cuối cùng trong năm, tôi đã ký vào bản hiệp ước đưa Hoa Kỳ gia nhập Tòa án Hình sự Quốc tế. Thượng nghị sĩ Lott và hầu hết các thượng nghị sĩ của đảng Cộng hòa kịch liệt phản đối chuyện đó vì sợ binh sĩ Hoa Kỳ hoạt động ở hải ngoại có thể bị đem ra xét xử trước tòa vì những mục đích chính trị. Trước đó tôi cũng lo ngại chuyện này, nhưng bản hiệp ước giờ đây được dự thảo theo cách mà tôi đảm bảo ngăn chặn được điều đó xảy ra. Tôi là một trong những nhà lãnh đạo thế giới đầu tiên kêu gọi lập ra Tòa án tội phạm chiến tranh quốc tế, và tôi nghĩ Hoa Kỳ nên ủng hộ việc này.
Chúng tôi lại bỏ lỡ kỳ nghỉ Cuối tuần Phục hưng năm đó để gia đình tôi có thể đón năm mới lần cuối cùng tại Trại David. Tôi vẫn chưa nghe được tin gì từ Arafat. Vào ngày đầu tiên của năm mới, tôi mời ông đến thăm Nhà Trắng vào ngày hôm sau. Trước khi đến, ông tiếp đón Hoàng tử Bandar và đại sứ Ai Cập tại khách sạn của mình. Một trong những phụ tá trẻ của ông nói với chúng tôi rằng họ đã rất cố gắng để thuyết phục ông phải đồng ý. Khi đến gặp tôi, ông hỏi rất nhiều câu hỏi về kế hoạch của tôi. Ông muốn Israel có Bức tường Than khóc vì tầm quan trọng về mặt tôn giáo của nó, nhưng lại đòi giành khoảng 15m còn lại của Bức tường phía Tây cho Palestine. Tôi nói rằng ông sai rồi, Israel phải được kiểm soát toàn bộ bức tường để bảo vệ họ khỏi việc bất cứ ai đi vào trong đường hầm nằm dưới bức tường theo một lối nào đó, và phá hủy những gì còn lại của những ngôi đền nằm bên dưới Haram. Thành phố cổ bao gồm bốn khu vực dân cư: người Do Thái, người Hồi giáo, người Cơ đốc giáo và người Armenia. Chúng tôi cho rằng phía Palestine nên lấy hai khu vực: người Hồi giáo và Cơ đổc giáo, phía Israel lấy hai khu còn lại. Arafat cứ khăng khăng rằng Palestine lấy luôn cả một số dãy phố ở khu người Armenia vì ở đó có các nhà thờ đạo Cơ đốc. Tôi không thể tin nổi sao ông ta lại nói chuyện với tôi về vấn đề này.
Arafat cố tránh phải từ bỏ quyền trở về của người Palestine. Ông biết mình phải làm vậy, nhưng ông sợ bị chỉ trích. Tôi nhắc cho ông nhớ rằng Israel đã hứa sẽ nhận một số dân tị nạn từ Libăng, những người mà gia đình của họ đã sống ở nơi mà hiện tại thuộc về miền Bắc Israel đến hàng trăm năm, nhưng sẽ không có nhà lãnh đạo Israel nào có thể để cho nhiều người Palestine quay về Israel đến mức biến Israel thành quốc gia mà người Do Thái trở thành thiểu số chỉ trong vài chục năm trước sinh suất cao của người Palestine. Dù gì đi nữa thì trên Đất Thánh sẽ không thể có được hai quốc gia mà đa số dân là người Arập; Arafat đã thừa nhận điều này bằng cách ký vào bản thỏa thuận hòa bình 1993 với giải pháp rõ ràng là sẽ có hai quốc gia riêng biệt. Ngoài ra, bản thỏa thuận lần này còn phải cần được sự ủng hộ của người Israel qua một cuộc trưng cầu dân ý. Quyền của người Palestine được quay trở lại sẽ làm hỏng vụ đàm phán này. Tôi không nghĩ đến việc yêu câu người Israel bỏ cuộc trưng cầu. Mặt khác, tôi nghĩ người Israel sẽ ủng hộ một sự dàn xếp cuối cùng trong các khuôn khổ mà tôi đã đặt ra. Nếu có thỏa thuận, tôi thậm chí còn nghĩ rằng Barak sẽ có thể hồi phục và thắng trong cuộc bầu cử, mặc dù giờ đây Barak tụt lại xa sau Sharon trong các cuộc trưng cầu trước một khối cử tri đang e sợ intifada (kháng chiến của người Palestine - ND) và giận dữ bởi việc Arafat từ chối hòa bình.
Nhiều lúc Arafat có vẻ như bối rối và không nắm vững tình hình. Đã lâu tôi cảm thấy rằng ông có lẽ đã không còn ở thời kỳ minh mẫn nhất nữa, sau bao nhiêu năm phải ngủ đêm ở những nơi khác nhau để tránh bị ám sát, sau biết bao nhiêu thời gian ngồi trên máy bay, biết bao nhiêu giờ đàm phán đầy căng thẳng. Có thể ông không thể đơn giản chuyển mình từ một nhà cách mạng sang một chính khách. Ông đã quá quen với việc bay từ nơi nọ sang nơi kia, tặng những món quà làm bằng xà cừ được những người thợ thủ công Palestine tạo nên cho những nhà lãnh đạo khác và xuất hiện trên truyền hình cùng với họ. Tình hình sẽ khó khăn nếu việc chấm dứt bạo lực khiến báo chí không còn nhắc đến cái tên Palestine nữa, thay vào đó ông sẽ phải quan tâm đến việc tạo công ăn việc làm, xây trường học và cung cấp những dịch vụ cơ bản. Hầu hết những người trẻ tuổi trong nhóm của Arafat đều mong ông chấp nhận hợp tác. Tôi tin rằng Abu Ala và Abu Mazen cũng muốn Arafat chấp thuận nhưng lại không muốn bất hòa với Arafat.
Khi ông rời đi, tôi vẫn không biết ông sẽ làm gì. Cử chỉ của ông thì nói không, nhưng thỏa thuận lần này quá tốt đến mức tôi nghĩ chẳng có ai ngu gì mà lại để lỡ. Barak mong tôi đến Trung Đông, nhưng trước hết tôi mong Arafat nói lời đồng ý với người Israel về những vấn đề lớn được vạch ra trong các khuôn khổ mà tôi đặt ra. Vào tháng 12, các bên đã có cuộc gặp tại Căn cứ Không quân Bolling để nói chuyện nhưng đàm phán bất thành vì Arafat không chịu chấp thuận những điều kiện gây khó khăn cho ông.
Cuối cùng, Arafat đồng ý gặp Shimon Peres vào ngày 13 sau khi Peres gặp Saeb Erekat trước. Nhưng cũng chẳng có kết quả gì. Nhằm thủ thế, Israel cố gắng thảo một bức thư với nhiều thỏa thuận trong khuôn khổ của tôi đến mức có thể, vì cho rằng nếu Barak thua trong cuộc bầu cử thì chí ít hai bên cũng sẽ cam kết vào một tiến trình có thể dẫn đến thỏa thuận. Arafat thậm chí còn không làm điều đó vì không muốn ai thấy mình nhượng bộ điều gì. Các bên tiếp tục đàm phán ở Taba, Ai Cập. Họ đã tiến rất sát đến thành công nhưng vẫn không thành công. Arafat không bao giờ nói không, ông chỉ không thể bắt mình nói có. Thật đúng là cao ngạo quá có ngày ngã đau.
Ngay trước khi tôi rời Nhà Trắng, trong một cuộc nói chuyện cuối cùng, Arafat đã cảm ơn tôi vì những nỗ lực của tôi và nói tôi là một con người vĩ đại. "Ngài chủ tịch" - tôi đáp - "Tôi không phải là người vĩ đại. Tôi là một người thất bại, và chính ngài đã khiến tôi thất bại". Tôi cảnh báo rằng chính ông đã đơn thương độc mã khiến Sharon trúng cử, và ông sẽ phải gánh chịu hậu quả.
Vào tháng 1 năm 2001, Ariel Sharon trúng cử tổng thống trong một chiến thắng vang dội. Người Israel khẳng định nếu Arafat không chấp nhận đề nghị của tôi, ông ấy sẽ không được cái gì cả, và nếu họ không có một người bạn đồng hành để đạt được hòa bình, tốt hơn là họ nên được lãnh đạo bởi một nhà lãnh đạo xông xáo và không khoan nhượng, Sharon được Ehud Barak và nước Mỹ khuyến khích nên có hướng tiếp cận cứng rắn hơn đối với Arafat. Gần một năm sau khi tôi rời chức, Arafat có nói với tôi rằng ông sẵn sàng đàm phán dựa trên khuôn khổ tôi đưa ra. Rõ ràng là cuối cùng ông cũng nghĩ thời điểm - năm phút trước nửa đêm - đã tới, nhưng đồng hồ của ông đã hỏng từ lâu.
Quyết định của Arafat từ chối lời đề nghị của tôi sau khi Barak chấp thuận là một sai lầm bắt nguồn từ sự bất đối xứng lịch sử. Tuy nhiên, rất nhiều người Palestine và Israel vẫn muốn hướng tới hòa bình. Ngày hòa bình rồi sẽ đến, và khi đó bản hiệp ước cuối cùng cũng sẽ rất giống với những đề xuất được đưa ra ở Trại David và sáu tháng đàm phán liên tục sau đó.
Vào ngày 3 tháng 1, tôi ngồi trong trụ sở thượng viện với Chelsea à những người thân còn lại trong gia đình Hillary khi Al Gore làm lễ tuyên thệ nhậm chức cho Thượng nghị sĩ mới của New York. Tôi khích động đến mức suýt nữa thì nhảy qua khỏi rào chắn ghế ngồi. Trong 17 ngày tiếp theo cả hai chúng tôi đều sẽ là những người đương chức, trở thành cặp vợ chồng đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ mà chồng trong Nhà Trắng còn vợ trong thượng viện. Nhưng Hillary sẽ phải tự mình xoay xở lấy. Tất cả những gì tôi có thể làm là đề nghị Trent Lott đừng quá cứng rắn đối với cô ấy và tôi mong được làm nhân viên cho Hillary ở hạt Westchester.
Ngày hôm sau, chúng tôi đã tổ chức một sự kiện ở Nhà Trắng mà với riêng tôi là để dành cho mẹ tôi: Lễ công bố Đạo luật về Điều trị và Phòng chống Ung thư vú và cổ tử cung, cho phép phụ nữ không có bảo hiểm y tế mắc những bệnh này được trợ cấp chăm sóc và điều trị theo chương trình Medicaid.
Ngày 5, tôi chính thức công bố chúng tôi sẽ bảo vệ sáu triệu mẫu rừng nguyên sinh ở 31 bang, kể cả rừng quốc gia Tongass ở Alaska - khu vực rừng ôn đới lớn cuối cùng còn sót lại ở Mỹ. Lợi nhuận thu được từ gỗ đã khiến việc bảo vệ các khu rừng ở Mỹ khó khăn hơn, và tôi nghĩ chính quyền Bush sẽ cố đảo ngược quyết định ấy trên những tính toán về kinh tế, nhưng thực ra chỉ có 5% lượng gỗ toàn quốc có xuất sứ từ rừng quốc gia, và chỉ 5% trong lượng gỗ đó được lấy từ các khu vực không có đường sá. Không có lượng gỗ nhỏ nhặt ấy thì nước Mỹ vẫn chẳng bị ảnh hưởng gì lắm, mà lại vẫn có thể bảo vệ được nguồn tài nguyên quốc gia vô giá đó.
Sau buổi công bố, tôi lái xe tới Fort Myer để dự lễ chia tay truyền thống của lực lượng vũ trang tổ chức - một nghi lễ quân đội có trao tặng cờ Mỹ in phù hiệu tổng thống và các huân chương của từng binh chủng. Họ cũng tặng một huân chương cho Hillary. Bill Cohen nói rằng bằng việc bổ nhiệm anh, tôi đã trở thành vị tổng thống duy nhất chọn một quan chức của đảng đối lập vào vị trí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Không có gì vinh dự hơn trong việc làm tổng thống là việc trở thành Tổng tư lệnh tối cao của quân đội, của những người đàn ông và phụ nữ nhiều chủng tộc và tôn giáo có nguồn gốc từ khắp mọi nơi trên trái đất. Họ là hiện thân của dòng chữ biểu trưng của nước Mỹ: E pluribus unum (gốc Latinh, nghĩa là một thể thống nhất tạo nên từ nhiều nguồn khác nhau - ND). Tôi đã từng chứng kiến họ được người dân reo mừng chào đón ở Balkan, giúp những nạn nhân thiên tai ở Trung Mỹ, đấu tranh chống lại bọn buôn ma túy ở Colombia và vùng biển Caribe, dang rộng vòng tay chào đón những người Cộng sản ở Trung và Đông Âu, đóng quân trong những tiền đồn xa xôi ở Alaska, canh gác ở các sa mạc Trung Đông và tuần tra Thái Bình Dương.
Người Mỹ chỉ biết tới lực lượng quân đội khi họ ra trận. Sẽ không bao giờ có thể kể hết được các cuộc chiến tranh, những tổn thất mà họ đã ngăn chặn được, những giọt nước mắt mà họ đã giúp không phải chảy ra, tất cả là nhờ có những người đàn ông và phụ nữ Mỹ canh giữ cho hòa bình. Tôi có thể đã có một khởi đầu không mấy êm ả với quân đội nhưng tôi đã nỗ lực để trở thành một Tổng tư lệnh tốt, và tin rằng khi tôi rời chức vụ thì đội quân này hoạt động tốt hơn rất nhiều so với lúc tôi mới nhậm chức.
Vào thứ bảy ngày 6 tháng 1, sau chuyến đi chơi tới Sở thú Quốc gia để ngắm gấu trúc, Hillary và tôi đã tổ chức buổi tiệc chia tay ở Bãi cỏ phía Nam cùng với Al và Tipper để chia tay tất cả nhân viên làm việc tại Nhà Trắng trong suốt tám năm qua. Rất nhiều người đã tới từ những nơi rất xa xôi. Chúng tôi trò chuyện và ôn lại kỉ niệm trong vài giờ đồng hồ. Al được mọi người chào mừng nồng nhiệt khi tôi giới thiệu anh là một trong những ứng cử viên sáng giá của cuộc bầu cử sắp tới. Khi anh yêu cầu những ai đã lập gia đình hay sinh con trong thời gian làm việc ở Nhà Trắng giơ tay lên, thì tôi rất ngạc nhiên thấy rất nhiều cánh tay giơ lên. Cho dù phe Cộng hòa có nói gì đi nữa, chúng tôi vẫn là một chính đảng ủng hộ các giá trị gia đình.
Bí thư phụ trách xã hội ở Nhà Trắng là Capricia Marshall - người đã theo tôi từ năm 1991 và kết hợp cùng với Hillary từ những chiến dịch tranh cử đầu tiên - dành sự bất ngờ lớn cho tôi: chiếc phông đằng sau chúng tôi được kéo lên để lộ nhóm nhạc Fleetwood Mac hát bài "Đừng ngừng nghĩ tới ngày mai".
Vào chủ nhật, Hillary, Chelsea cùng tôi tới nhà thờ Giám lý Foundry, mục sư Phil Wogaman mời Hillary và tôi phát biểu chia tay trước hội thánh từng ủng hộ chúng tôi trong tám năm vừa qua. Chelsea đã có được những người bạn tốt ở đây và đã học được rất nhiều nhờ làm việc ở vùng thung lũng xa xôi của nông thôn Kentucky trong Dự án Phục vụ vùng Appalanchi. Các thành viên của nhà thờ xuât thân từ nhiều dân tộc và quốc gia, cả giàu lẫn nghèo, già lẫn trẻ, người một giới hay đồng tính. Nhà thờ Foundry đã trợ giúp dân nghèo ở Washington và những người tị nạn từ nhiều nơi trên thế giới mà tôi từng cố thiết lập hòa bình.
Trong khi tôi chưa biết nên nói gi thì Wogaman đã nói với hội thánh là tôi sẽ nói về cuộc sống mới của tôi. Thế nên tôi nói rằng niềm tin của tôi sẽ được thử thách khi phải quay về đi máy bay thương mại thông thường, và tôi sẽ cảm thấy hụt hẫng vì khi bước vào các đại sảnh sẽ không còn có ban nhạc nào tấu bài "Hail to the Chief" (bài hái dành cho tổng thống Hoa Kỳ - ND) nữa. Và tôi còn nói là tôi sẽ trd thành một công dân tốt, sẽ nâng cánh cho những hi vọng và khao khát cho những ai vốn xứng đáng được nhận nhiều hơn và sẽ tiếp tục đất tranh vì hòa bình và hòa giải. Cho dù tôi đã nỗ lực làm việc đó trong tám năm vừa qua nhưng công việc này vẫn cần phải làm rất nhiều.
Tối hôm đó, tại thành phố New York, tôi nói chuyện với Diễn đàr chính sách Israel ủng hộ hòa bình. Lúc đó, chúng tôi vẫn còn hi vọng có được hòa bình. Arafat nói, ông chấp nhận các khuôn khổ của tôi nhưng vẫn còn một số thắc mắc. Vấn đề là ở chỗ những thắc mắc của ông, khác với của những người Israel, lại nằm ngoài khuôn khổ, ít nhất là vấn đề người tị nạn và về vấn đề Bức tường phía Tây, nhưng tôi vẫn đối xử với lời chấp thuận của ông cứ như nó là thật, dựa trêm sự cam kết của ông đạt hòa bình trước khi tôi rời ghế tổng thống. Cộng đồng người Mỹ gốc Do Thái cũng rất tốt với tôi. Một số người, bạn của tôi như Haim Saban và Danny Abraham vốn quan tâm sâu sắc tới Israel, cho tôi rất nhiều lời khuyên bổ ích trong những năm vừa qua. Rất nhiều người khác đơn thuần chỉ ủng hộ công việc đấu tranh vì hòa bình của tôi. Và không cần quan tâm tới những gì xảy ra, tôi nghĩ tôi hàm ơn họ vì điều đó.
Ngày hôm sau, sau khi trao Huân chương Công dân cho 28 người Mỹ xứng đáng, trong đó có cả Muhammad Ali, tôi đến trụ sở đảng Dân chủ để cảm ơn các chủ tịch đảng là Thị trưởng Ed Rendell của Philadenphia và Joe Andrew, và để cám ơn Terry McAulife - một người đã làm rất nhiều việc cho Al Gore và tôi - và giờ đây đang tranh cử để làm tân chủ tịch đảng. Sau những việc anh làm, tôi không thể tin nổi anh muốn làm như vậy. Nhưng dù sao anh cũng vẫn muốn chức chủ tịch đảng, thì tôi ủng hộ anh. Tôi từng nói với những người công hiến cho đảng mà không màng tới vinh danh rằng tôi trân trọng họ biết bao.
Vào 9 tháng 1, tôi bắt đầu chuyến đi trở lại các nơi đặc biệt có ý nghĩa với tôi. Đầu tiên là tới Michigan và Illinios, nơi tôi đã có những thắng lợi đầu tiên trong chiến dịch tranh cử vào ngày Thánh Patrick năm 1992, coi như giúp tôi chắc chắn được vị trí ứng viên đề cử. Hai ngày sau, tôi đã tới Massachusetts, cũng là bang tôi đạt tỷ lệ phiếu cao nhất trong các bang vào năm 1996, và tiếp đến là New Hampshire, nơi khiến tôi trở thành "chú nhóc hồi sinh" vào năm 1992. Trong chuyến này, tôi cũng khánh thành bức tượng Franklin Roosevelt ngồi trên chiếc xe lăn tại Đài tưởng niệm Franklin Roosevelt, do cộng đồng người khuyết tật và phần lớn gia đình của Roosevelt đóng góp xây dựng. Và trong số hơn 10.000 bức ảnh của Roosevelt thì chỉ có bốn bức Roosevelt ngồi trên xe lăn. Người khuyết tật Mỹ đã tiến bộ rất nhiều kể từ bấy giờ.
Cuối cùng tôi cũng tạm biệt New Hampshire ở Dover, nơi mà chín năm trước tôi hứa gắn bó với họ "cho đến tận cùng". Rất nhiều người ủng hộ bầu cho tôi trước đây đang ngồi dưới kia và tôi đã gọi tên một vài người trong số họ, cảm ơn họ và đưa họ bản ghi nhận công lao của tất cả mọi người trong mùa đông năm ấy. Tôi nhắn nhủ với mọi người là đừng bao giờ quên rằng "ngay cả khi tôi không còn là tổng thống nữa, tôi vẫn sẽ luôn đứng về phía các bạn".
Từ ngày 11 đến 14 tháng 1, tôi tổ chức tiệc cho nội các, nhân viên nhà Trắng, và bạn bè tại Trại David. Vào buổi tối ngày 14, Don Helen tổ chức buổi hòa nhạc rất tuyệt ngay sau bữa tối tại nhà nguyện trong Tại David. Sáng hôm sau là sáng chủ nhật cuối cùng của gia đình tôi tại nhà nguyện tuyệt đẹp đó, nơí chúng tôi và các binh sĩ hải quân phục vụ trong Trại David, gia đình họ cùng dự các buổi cầu nguyện. Tôi còn nhớ hồi đó, họ còn để tôi lên hát trong dàn đồng ca, và luôn để tờ bài hát trong nhà Aspen, căn nhà của gia đình tôi vào mỗi thứ sáu hay thứ bảy để tôi có thể ôn trước.
Vào thứ hai, tôi phát biểu trong Lễ kỉ niệm ngày Martin Luther King tại trường Đại học quận Columbia. Thường thì tôi kỉ niệm ngày lễ này bằng cách tham gia vào các chương trình phục vụ cộng đồng, nhưng lần này, tôi muốn tận dụng cơ hội để được cảm ơn quận Columbia (D.C.) - sân nhà của tôi trong tám năm vừa qua (Thủ đô Washington nằm trong quận Columbia - ND). Người đại diện của D.C. tại quốc hội kiêm ủy viên hội đồng thành phố Elenor Holmes Norton, và Thị trưởng Tony Williams cũng là những người bạn tốt của tôi. Tôi cũng giúp họ tìm hiểu và áp dụng các đạo luật cần thiết của quốc hội và tránh áp dụng những luật có nội dung mâu thuẫn nhau. D.C cũng còn nhiều vấn đề cần giải quyết, nhưng tôi nghĩ là quận cũng đã phát triển và cải thiện được nhiều so với hồi tôi mới nhậm chức vào tám năm trước.
Tôi cũng gửi thông điệp cuối cùng của mình tới Nhà Trắng với tiêu đề là: "Phần việc dang dở khi xây dựng nước Mỹ". Thông điệp đó được tôi viết dựa trên phần lớn bản báo cáo cuối cùng của ủy ban Sắc tộc bao gồm rất nhiều đề xuất thuộc nhiều lĩnh vực: thực hiện từng bước xa hơn nữa để xoá bỏ phân biệt chủng tộc trong giáo dục, y tế việc làm, và hệ thống hình luật; biện pháp đặc biệt giúp những người mẹ đơn thân thu nhập thấp đảm bảo nuôi dạy con tốt; đầu tư mới cho các cộng đồng người da đỏ; cải thiện chính sách nhập cư, ân xá cho tội phạm; cải cách luật bầu cử, và tiếp tục phát triển tổ chức AmeriCorps và Văn phòng Nhà Trắng xây dựng nước Mỹ thống nhất. Chúng tôi đã tiến những bước dài trong tám năm qua, nhưng nước Mỹ ngày càng đa dạng hơn, và vẫn còn nhiều việc phải làm.
Vào ngày 17 tháng 1, tôi có bữa tiệc chia tay cuối cùng ở Phòng phía Đông. Tôi và Bruce Babbitt công bố thêm tám di tích quốc gia, hai trong số đó nằm trên con đường mà Lewis và Clark từng đi qua vào năm 1803 dưới sự hướng dẫn của người da đỏ Sacagawea và một nô lệ tên là York. Tính đến bây giờ thì chúng tôi đã duy trì, bảo vệ nhiều khu di tích của 48 bang, hơn bất cứ chính quyền nào tính từ sau thời Roosevelt.
Sau buổi lễ công bố đó, tôi rời Nhà Trắng trong chuyến đi cuối cùng với tư cách tổng thống, trở về Little Rock để phát biểu trước quốc hội tiểu bang Arkansas. Một vài người bạn thân cũ của tôi vẫn còn làm trong hạ viện hoặc thượng viện tiểu bang, những người đã khởi đầu sự nghiệp chính trị của mình bằng cách ủng hộ tôi, còn một vài người khác thì khởi đầu bằng cách chống đối lại tôi. Hơn 20 người ở Arkansas từng phục vụ tôi ở Washington đã đến dự, trong đó có ba người bạn thời trung học của tôi hiện đang sống ở Washington và một vài người Arkansas đã làm việc với tư cách là người liên lạc của tôi với quốc hội tiểu bang khi tôi còn làm thống đốc. Chelsea cùng đi với tôi lần này, và chúng tôi đi ngang qua hai ngôi trường cũ của Chelsea trên đường từ sân bay về, và tôi nghĩ cô con gái của mình đã trưởng thành biết bao so với hồi tôi và Hillary tham dự các chương trình chuẩn bị cho con cái đi học tại trường Booker Art Magnet.
Tôi cố gắng cảm ơn tất cả mọi người ở Arkansas đã giúp tôi có được ngày hôm nay, đầu tiên là hai người bạn không còn sống nữa: Thẩm phán Frank Holt và Thượng nghị sĩ Fulbright. Tôi thúc giục quốc hội tiểu bang tiếp tục khuyến khích chính quyền liên bang hỗ trợ bang về giáo dục, phát triển kinh tế, chăm sóc sức khỏe và nâng cao đời sống vật chất. Sau đó tôi nói với những người bạn cũ của tôi là tôi sẽ rời chức trong ba ngày tới mà thật cảm kích rằng "bằng cách nào đó, sự bí ẩn của nền Dân chủ vĩ đại này đã cho tôi cơ hội từ một cậu bé ở phố South Hervey, Hope, Arkansas tới Nhà Trắng... Có lẽ tôi là tổng thống duy nhất được bầu chọn nhờ những người bạn của tôi, nếu không có họ chắc chắn là tôi không thể thắng cử". Cuối cùng tôi chia tay bạn bè và trở về nhà để hoàn thành nốt công việc.
Đêm hôm sau, sau một ngày làm nốt những công việc cuối cùng, tôi có một bài diễn văn chia tay ngắn gọn với dân chúng Mỹ từ Phòng Bầu dục. Sau khi cảm ơn người dân Mỹ đã cho tôi cơ hội để phục vụ đất nước - nhân dân, và ngắn gọn tổng kết những sự kiện trong thời gian qua, tôi đưa ra ba nhận xét cho tương lai: chúng ta cần tiếp tục đường lối cư xử có trách nhiệm về tài chính, sự thịnh vượng và an ninh của chúng ta đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đi đầu trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình và tự do, chống lại khủng bố, tội phạm có tổ chức, buôn ma túy, sự lan tràn của vũ khí hủy diệt, môi trường suy thoái, bệnh tật, và đói nghèo trên thế giới, và cuối cùng là chúng ta vẫn phải tiếp tục "đan những cuộn chỉ nhiều màu thành một chiếc áo cộng đồng của một nước Mỹ thống nhất".
Tôi chúc tân Tổng thống Bush và gia đình ông may mắn, và nói tôi sẽ "rời chức vụ tổng thống mà vẫn là một người lý tưởng hơn, tràn đầy hy vọng hơn ngày tôi nhậm chức, và tin tưởng hơn bao giờ hết rằng những ngày tốt đẹp nhất của nước Mỹ vẫn còn ở phía trước".
Ngày 19, ngày cuối cùng tôi là tổng thống, tôi đưa ra tuyên bố về mìn sát thương, từ năm 1993 Mỹ đã phá hủy hơn 3,3 triệu quả mìn, chi hơn 500 triệu đôla để rà phá mìn ở 35 nước, và đã nỗ lực hết sức để tìm ra được vũ khí thay thế mìn mà cũng sẽ bảo vệ được cả binh sĩ Mỹ. Tôi đề nghị chính quyền mới tiếp tục chương trình rà
phá mìn trên thế giới thêm 10 năm nữa.
Khi tôi về nơi ở thì trời cũng đã khuya, và chúng tôi vẫn chưa thu xếp xong hành lý. Các hộp đựng đồ vẫn còn ngổn ngang, và tôi còn chưa biết sẽ gửi quần áo nào về đâu trong ba nơi New York, Washington hay Arkansas. Hillary và tôi cũng không muốn ngủ trong đêm nay chúng tôi chỉ muốn đi loanh quanh từ phòng này sang phòng khác. Cảm giác vinh dự khi được ở trong Nhà Trắng trong đêm cuối cùng này cũng giống như cảm giác của chúng tôi khi đến đây sau lễ nhậm chức. Dường như tôi vẫn không thể tin được nơi đây đã là nhà của chúng tôi trong tám năm qua và giờ đây thì việc này đã sắp chấm dứt.
Tôi trở lại Phòng ngủ Lincoln, đọc bản viết tay bài phát biểu Gettysburg của Lincoln lần cuối và nhìn chằm chằm bản in hình ông đang kí Bản tuyên ngôn giải phóng ngay tại chỗ gần chỗ tôi đang đứng. Tiếp đó, tôi đi tới Phòng của Nữ hoàng và nhớ đến lần Winston Churchill phải ở đó ba tuần trong những ngày khó khăn của Thế chiến hai. Tôi ngồi ngay sau Bàn Hiệp ước trong văn phòng, rồi nhìn quanh những giá sách trống và những bức tường trơn, nghĩ đến tất cả các cuộc họp và điện thoại về Bắc Ireland, Trung Đông, Nga, Hàn Quốc, và những xung đột trong nước mà tôi từng gọi trong căn phòng này. Và căn phòng này cũng chính là nơi tôi đọc Kinh thánh, sách, thư từ và cầu nguyên để có sức mạnh và được che chở trong suốt năm 1998.
Trước đó trong ngày, tôi đã ghi âm sẵn bài phát biểu cuối cùng qua radio dự kiến phát đi ngay trước khi tôi rời Nhà Trắng đến Lễ Nhậm chức của tân tổng thống. Trong bài phát biểu, tôi cám ơn tất cả nhân viên Nhà Trắng, nhân viên của khu sinh hoạt, Mật vụ, nội các và Al Gore vì tất cả những gì họ đã làm để giúp tôi hoàn thành sự nghiệp cống hiến, phục vụ đất nước. Và tôi giữ lời hứa là sẽ làm việc đến tận giờ cuối của ngày cuối cùng, giải ngân tiếp 100 triệu đôla để có thêm nhiều cảnh sát - những người đã giúp nước Mỹ có tỷ lệ tội phạm thấp nhất trong một phần tư thế kỉ qua.
Quá nửa đêm, tôi trở lại Phòng Bầu dục để dọn dẹp, sắp xếp đồ đạc và trả lời vài lá thư. Khi ngồi một mình tại bàn, tôi nghĩ về tất cả những gì xảy ra trong tám năm qua, và nhận ra rằng mọi thứ đã trôi qua quá nhanh. Ngay sau đó, tôi sẽ chứng kiến lễ chuyển giao quyền lực và sẽ rời chức. Hillary, Chelsea và tôi sẽ đáp chiếc Air Force One trong chuyến bay cuối cùng với phi hành đoàn xuất sắc từng đưa chúng tôi đến những nơi xa xôi nhất trên thế giới; với những nhân viên thân cận nhất của tôi, với nhóm Mật vụ bảo vệ mới của tôi, với một vài sĩ quan chuyên nghiệp như Glen Maes - một nhân viên phục vụ của hải quân chuyên nướng bánh sinh nhật cho tôi, và Glenn Powel - một sĩ quan không quân - người bảo vệ hành lý của tôi, và với một vài người thân cận "đã lôi tôi vào cuộc" như nhà Jordan, McAuliffe, McLarty, và Harry Thomason.
Một số thành viên của giới truyền thông cũng có lịch phỏng vấn tôi trong chuyến đi cuối cùng này. Một trong số họ là Mark Knoller của đài CBS, người đã luôn theo tôi trong tám năm vừa qua và cũng đã thực hiện một trong nhiều cuộc phỏng vấn tôi trong những tuần vừa qua. Mark hỏi liệu tôi có sợ rằng "quãng đời đẹp nhất đã qua rồi không?". Tôi trả lời là tôi trân trọng và hạnh phúc với mỗi quãng đường đời của mình và ở mỗi quãng đời, tôi đều "thu nhận, hứng thú, và luôn tìm ra được những việc có ích để làm".
Tôi trông đợi cuộc sống mới của mình, xây thư viện, làm các công việc phục vụ cộng đồng thông qua quỹ của tôi, ủng hộ Hillary, và có nhiều thời gian hơn để đọc sách, chơi golf, nghe nhạc và du lịch. Tôi biết cách tận hưởng cuộc sống và tôi tin rằng nếu tôi còn khỏe tôi sẽ còn làm nhiều việc hơn nữa. Nhưng Mark dường như đã chạm đúng vào tâm trạng của tôi, thực sự là tôi cảm thấy nhớ công việc cũ của mình, tôi thích làm tổng thống, kể cả trong những ngày nhiều thử thách và gian khó.
Tôi lại nghĩ về lời nhắn mà tôi sẽ viết gửi cho Tổng thống Bush, đặt trong Phòng Bầu dục, cũng giống như Bush (cha) đã làm cho tôi tám năm về trước. Tôi cũng muốn được hòa nhã và khích lệ tinh thần như George Bush đã đối với tôi. Chẳng bao lâu nữa, chẳng phải ai khác mà lại chính là George W. Bush sẽ làm tổng thống, và tôi chúc tốt lành cho ông. Trong chiến dịch tranh cử vừa qua, tôi chú ý nhiều tới những gì Bush và Cheney tuyên bố. Tôi biết thế giới quan của họ khác tôi và sẽ muốn làm ngược lại khá nhiều trong số những gì tôi đã làm, mà đặc biệt là chính sách kinh tế và môi trường. Tôi nghĩ họ sẽ thông qua chính sách cắt giảm thuế và chẳng bao lâu chúng ta sẽ quay lại thời kỳ thâm hụt ngân sách những năm 1980. Bất chấp các lời lẽ khuyến khích giáo dục và chương trình AmeriCorps rồi ông cũng sẽ phải chịu áp lực mà cắt giảm chi tiêu quốc nội, giáo dục, chăm sóc trẻ em, chương trình học ngoại khóa, cảnh sát đường phố, nghiên cứu tiên phong, và môi trường. Nhưng tất nhiên tất cả những điều đó không còn phụ thuộc vào tôi nữa.
Tôi nghĩ là những mối quan hệ đối tác quốc tế mà chúng tôi đã gây dựng trong tám năm qua sau Chiến tranh Lạnh sẽ phần nhiều bị hạn chế dưới thời Bush với kiểu chính trị đơn phương của đảng Cộng hòa - họ phản đối hiệp ước cấm thử vũ khí, hiệp ước về sự biến động của khí hậu, Hiệp ước ABM, và Tòa án Hình sự Quốc tế.
Tôi đã quan sát những người thuộc phe Cộng hòa trong tám năm qua và tôi tưởng tượng rằng Tổng thống Bush sẽ bắt đầu nhiệm kì của mình mà phải bỏ đi chủ trương "chủ nghĩa bảo thủ đồng cảm" trước áp lực của phe cánh hữu và các nhóm lợi ích hiện đang nắm quyền kiểm soát đảng của ông ấy. Họ tin tưởng sâu sắc vào đường lối của họ cũng như tôi tin vào đường lối của tôi, nhưng tôi nghĩ bằng chứng và lịch sử lại đứng về phía đảng của chúng tôi.
Tôi không thể kiểm soát chuyện gì sẽ xảy ra đối với chính sách và các chương trình hành động của mình, vì trong chính trị, rất ít thứ bất di bất dịch. Tôi cũng không thể tác động gì vào những đánh giá sớm về cái gọi là di sản tôi để lại. Lịch sử nước Mỹ trong giai đoạn từ cuối Chiến tranh Lạnh đến thiên niên kỷ mới sẽ được viết đi viết lại nhiều lần nữa. Điều quan trọng nhât với tôi về thời kỳ mình làm tổng thống là liệu tôi có phục vụ tốt cho nhân dân Mỹ hay không trong một kỷ nguyên mới rất khác biệt của sự phụ thuộc lẫn nhau trên toàn cầu.
Liệu tôi đã góp phần để xây nên một "khối đoàn kết hoàn thiện" bằng cách mở rộng cơ hội, nhấn mạnh ý nghĩa của tự do, và tăng cường gắn kết cộng đồng hay chưa? Chỉ biết rằng chắc chắn tôi đã cố đưa nước Mỹ trở thành lực lượng đi đầu trong thế kỉ 21 đấu tranh vì hòa bình, thịnh vượng, tự do và an ninh. Tôi đã cố đem lại một khuôn mặt nhân tính hơn cho toàn cầu hóa bằng cách thúc giục các nước khác cùng tham gia với Mỹ xây dựng một thế giới hòa hợp hơn với trách nhiệm chung, lợi ích và giá trị chung; và tôi đã cố lãnh đạo nước Mỹ qua thời kỳ chuyển tiếp vào thời đại mới với niềm hy vọng và lạc quan về khả năng của chúng tôi, cũng như sự tỉnh táo về những gì mà các lực lượng hủy diệt có thể gây ra cho chúng tôi. Cuối cùng, tôi cũng đã xây dựng thể chế chính trị cấp tiến dựa trên sự kết hợp những ý tưởng mới và giá trị cũ, và cũng ủng hộ các xu hướng như vậy trên thế giới. Dù chính quyền mới và một quốc hội có đa số là đảng cầm quyền có dỡ bỏ bao nhiêu sáng kiến cụ thể của tôi đi nữa, tôi vẫn tin khi chúng tôi đi đúng hướng của lịch sử, thì con đường mà tôi đã đưa nước Mỹ vào thiên niên kỉ mới cuối cùng sẽ chiến thắng.
Trong đêm cuối cùng của tôi tại Phòng Bầu dục, lúc ấy đã trống rỗng, tôi nhớ đến chiếc hộp bằng kính tôi đã cầm trên bàn café đặt giữa hai chiếc ghế sofa cách chỗ tôi ngồi vài mét. Chiếc hộp đó cất giữ hòn đá mà Neil Amstrong lấy về từ chuyến bay lên mặt trăng năm 1969. Tôi còn nhớ rõ: mỗi khi cuộc tranh luận trên Phòng Bầu dục quá căng thẳng, không thể giải quyết được, tôi đều cắt ngang và nói: "Các anh có nhìn thấy hòn đá này không? Nó đã 3,6 triệu năm tuổi. Chúng ta cũng chỉ là những người đi qua cuộc đời này thôi. Hãy bình tĩnh và trở lại thảo luận".
Hòn đá mặt trăng đó đã cho tôi một cách nhìn khác trong lịch sử và tầm nhìn "dài hơi" nếu nói theo kiểu cách ngôn. Công việc của chúng tôi là phải sống thật tốt và thật lâu và để giúp mọi người cũng có cuộc sống như vậy. Những gì xảy ra sau đó thì ngoài tầm kiểm soát của chúng ta. Dòng thời gian rồi sẽ cuốn trôi tất cả chúng ta. Chúng ta chỉ có được giây phút hiện tại. Liệu tôi có tận dụng hết mình giây phút ấy hay chưa là việc để người khác phán xét. Gần sáng, tôi trở về nơi ở để gói nốt đồ và có những phút giây riêng tư với Hillary và Chelsea.
Buổi sáng hôm sau, tôi trở lại Phòng Bầu dục để viết lời nhắn của tôi cho Tổng thống Bush. Hillary cũng xuống cùng tôi. Chúng tôi liếc nhìn ra cửa sổ để ngắm thật lâu những bãi cỏ tuyệt đẹp, nơi chúng tôi cùng có những thời khắc đáng nhớ và là nơi tôi đã ném không biết bao nhiêu trái banh tennis để chú chó Buddy chạy đi nhặt. Sau đó, Hillary để tôi lại một mình viết thư. Đặt lá thư đó trên bàn xong, tôi gọi các nhân viên của mình lại để chia tay, chúng tôi đã ôm nhau, cười, rơi lệ và chụp chung vài tấm ảnh. Sau đó tôi rời khỏi Phòng Bầu dục lần cuối cùng.
Khi tôi bước ra khỏi cửa với cánh tay dang rộng, tôi được chào đón bởi rất nhiều nhà báo đang ở đây để kịp ghi lại khoảnh khắc này. John Podesta cùng đi với tôi qua các dãy cây để xuống cùng đi với Hillary Chelsea, và nhà Al Gore ở sảnh - nơi chúng tôi sẽ chào đón những người kế vị. Toàn bộ nhân viên dinh thự đã tập trung lại để chào tạm biệt chúng tôi - đó là những nhân viên dọn nhà, nhà bếp, thợ trồng hoa, người làm vườn, người gác cổng, đội bảo vệ, nhân viên phục vụ. Rất nhiều trong số họ đã trở nên thân thiết như gia đình. Tôi nhìn những khuôn mặt đó và cố gắng khắc sâu vào trí nhớ, không biết khi nào tôi có thể gặp lại họ, và biết rằng có gặp lại thì mọi chuyện cũng sẽ khác đi. Họ sẽ sớm có một gia đình tổng thống mới, cũng cần họ như chúng tôi cần họ vậy.
Trong sảnh chờ, một nhóm nhỏ của ban nhạc Thủy quân lục chiến đang chơi nhạc. Tôi ngồi xuống sau cây đàn piano cùng với Thượng sĩ Charlie Corrado - người từng chơi nhạc cho các đời tổng thống trong 40 năm qua. Charlie đã luôn ở đó phục vụ chúng tồi, và âm nhạc của anh ấy luôn làm bừng sáng nhiều ngày đen tối. Hillary và tôi nhảy với nhau lần cuối, và khoảng 10giờ30 thì gia đình Bush và gia đình Cheney tới. Chúng tôi uống cà phê và nói chuyên với nhau một lúc, sau đó tám người chúng tôi lên các xe limousine, tôi ngồi cùng xe với Tổng thống Bush, xuôi xuống đại lộ Pennsylvania để tới trụ sở quốc hội.
Trong vòng một giờ đồng hồ, sự chuyển giao quyền lực một cách hòa bình từng giữ cho đất nước chúng tôi tự do trong hơn 200 năm đã lại một lần nữa diễn ra. Gia đình tôi chào tạm biệt gia đình tổng thống mới và đi xe tới Căn cứ Không quân Andrews để bay chuyến bay cuối cùng trong chiếc máy bay tổng thống mà bây giờ đã không còn là chiếc Air Force One của tôi nữa. Sau tám năm làm tổng thống và hơn một nửa đời người tham gia chính trường, tôi lại trở về làm một thường dân, nhưng là một thường dân rất biết ơn, vẫn tiếp tục cống hiến cho đất nước, và vẫn nghĩ tới ngày mai.