Trần Đức Mậu nhìn cuốn sổ trong tay, thở dài một tiếng, dường như đang hồi tưởng lại chuyện quá khứ. Hồi lâu sau, ông mới nói: "Bài hát này, thực chất vừa là bài ca trường, vừa là bài ca của Hội Cầu Thị. Bởi vì người viết lời cho bài hát này, đại sư Mã Nhất Phù, bản thân chính là thành viên của Hội Cầu Thị."
Trương Siêu hỏi: "Chẳng lẽ trong bài ca trường còn ẩn chứa ám hiệu gì sao?"
Trần Đức Mậu gật đầu: "Thời điểm đó, phong trào Tân Văn Hóa đã qua vài chục năm, các trường đại học khác đều dùng văn xuôi để viết bài ca trường. Tại sao riêng Z đại chúng ta lại dùng văn ngôn? Hơn nữa, bài văn ngôn này sử dụng rất nhiều điển cố, ngay cả sinh viên chuyên ngành văn học lâu năm cũng không biết rõ nguồn gốc. Chỉ khi dùng văn ngôn, họ mới có thể khéo léo ẩn giấu tinh thần của Hội Cầu Thị vào trong bài hát để khích lệ các thành viên."
Trương Siêu khó hiểu lắc đầu.
Trần Đức Mậu chỉ vào cuốn sổ, giải thích từng câu: "Câu đầu tiên, 'Đại bất tự đa, hải nạp giang hà'. Theo cách hiểu thông thường, câu này chỉ việc học sinh cần có tấm lòng rộng mở, bao dung vạn vật. Nhưng theo cách giải thích của Hội Cầu Thị, thứ gì mới đủ lớn để 'hải nạp giang hà'? Đó chính là Đạo, thứ quán triệt vũ trụ vạn vật, cũng chính là 'Đạo' trong Đạo Đức Kinh."
Trương Siêu và Trần Dung nhìn nhau, cùng gật đầu, cách giải thích này quả thực có vài phần đạo lý.
Trần Đức Mậu tiếp tục: "Câu thứ hai, 'Duy học vô tế, tế vu thiên địa'. Bề ngoài, câu này khích lệ sinh viên rằng học tập là vô biên. Nhưng nếu suy nghĩ kỹ, đã 'vô tế' - không có biên giới, thì tại sao lại thêm 'tế vu thiên địa' - có biên giới ở trời đất? Điều này vừa lặp ý, vừa mâu thuẫn. Trời đất cũng có biên giới mà! Thực tế theo Hội Cầu Thị, học tập là có giới hạn. Thông qua học tập, con người không thể ngộ ra 'Đạo' cao thâm nhất, mà chỉ có thể nắm bắt được 'Khí', tức là công cụ. Tại sao nói học tập chỉ là công cụ mà không thể đạt được 'Đại Đạo' đích thực? Hai câu sau chính là lời giải thích."
"'Hình thượng vị đạo hề, hình hạ vị khí'. Câu này làm rõ quan điểm trên, học tập chỉ có thể nắm bắt quy luật sự vật, có thể lợi dụng sự vật, đó gọi là 'Khí'. Còn 'Đạo' đích thực, chỉ dựa vào học tập là vô dụng, phải dựa vào sự giác ngộ."
Trương Siêu và Trần Dung đều hít sâu một hơi, hóa ra bài ca trường còn có tầng ý nghĩa này.
Trần Đức Mậu nói tiếp: "'Lễ chủ biệt dị hề, nhạc chủ hòa đồng; tri kỳ bất nhị hề, nhĩ thính tư thông'. Theo cách hiểu thông thường, lễ chế dùng để phân biệt đẳng cấp, âm nhạc giúp mọi người hòa mục; lễ và nhạc là một thể, hiểu được điều này mới thông suốt đạo lý. Cách giải thích này thoạt nhìn không có vấn đề, người đọc sách đều hiểu lễ nhạc. Nhưng hãy nhớ, bài hát này được viết vào khoảng những năm 40, thời điểm đó phong trào Tân Văn Hóa đã qua lâu, sinh viên đại học rất phản cảm với lễ giáo phong kiến. Mà cốt lõi của lễ giáo phong kiến chính là chế độ lễ nhạc do Chu Thiên Tử đề xướng. Tại sao bài ca trường lại tôn sùng và bắt sinh viên phải hiểu chế độ lễ nhạc? Bởi vì câu này ám chỉ tinh thần của Hội Cầu Thị. Lễ là để phân biệt đẳng cấp, nhạc là để hòa hợp, quy căn kết để, lễ chủ dị, nhạc chủ đồng. Nó tương ứng với âm dương của vũ trụ, dùng để ví von 'Đại Đạo' về âm dương ngũ hành."
"Câu tiếp theo, 'Quốc hữu thành quân, tại Chiết chi tân'. 'Thành quân' chính là đại học. Câu này ghép lại nghĩa là: Ở vùng duyên hải Chiết Giang có một trường đại học quốc gia. Nhưng nếu suy nghĩ kỹ, câu này rất bất hợp lý. Z đại ở Hàng Châu, dù Hàng Châu có cầu vượt biển vịnh Hàng Châu, nhưng vịnh Hàng Châu đã không còn nằm trong phạm vi Hàng Châu cũ. Dù xét trên bản đồ hay nhận thức thời đó, Hàng Châu đều nằm ở phía Bắc Chiết Giang, không phải phía Tân (phía mới). Tại sao không nói 'tại Chiết chi bắc' mà lại nói 'tại Chiết chi tân'? Bởi vì ở đây có một ẩn ý. Khi chiến tranh chống Nhật bùng nổ, trường đại học Chiết Giang đã di dời về phía Tây, phần lớn thành viên Hội Cầu Thị đi theo, nhưng vẫn còn một bộ phận ở lại Chiết Giang, âm thầm bảo vệ nhân văn địa phương và tích cực tổ chức kháng chiến. Thời đó, bên bờ Tây Hồ có một quán trà nổi tiếng tên là Trà Lâu Chiết Tân, là địa điểm tụ họp bí mật của các thành viên Hội Cầu Thị ở lại. Bài hát được viết để kỷ niệm tinh thần của những người ở lại đó, nên mới cố ý thêm vào 'tại Chiết chi tân'. Đáng tiếc, sau giải phóng, trong quá trình cải tạo Tây Hồ, quán trà đó đã bị phá bỏ. Nếu không, ngày nay nhìn vào, chắc chắn có thể hồi tưởng lại phong thái tinh thần của những vị tiên liệt đó."
Trương Siêu và Trần Dung nghe xong lời giải thích chưa từng có này, hóa ra còn có một "Trà Lâu Chiết Tân", thảo nào không gọi là ở phía Bắc Chiết Giang mà gọi là ở phía Tân, nguyên lai là có đoạn chuyện xưa như vậy.
Trần Đức Mậu tiếp tục giới thiệu: "Câu tiếp theo, 'Tích ngôn cầu thị, thật khải nhĩ cầu chân'. Câu này thường được hiểu là phần dễ hiểu nhất trong bài ca của trường, vì phương châm của chúng ta vốn là 'cầu thị', ý nghĩa câu này tự nhiên là bản chất của cầu thị chính là cầu chân. Nhưng ngẫm kỹ lại, thực ra hai vế này bị lặp ý. 'Cầu thị' là gì? Trong 'Thuyết văn' giải thích, 'thị' nghĩa là 'chân đế', đồng nghĩa với 'chân'. Ngay cả sinh viên khối kỹ thuật cũng hiểu 'cầu thị' nghĩa là theo đuổi chân lý, căn bản không cần giải thích thêm. Mã Nhất Phù là một đại sư quốc học, trong bài ca dùng rất nhiều điển cố sâu xa, những điển cố khó hiểu ông không giải thích, cớ sao lại phải giải thích một câu đơn giản như vậy? Đó là đánh giá thấp trình độ quốc học của Mã lão sư rồi!"
"Tại sao câu sau lại phải lặp lại giải thích 'thật khải nhĩ cầu chân'? Bài ca khác với văn chương, càng súc tích càng tốt, hai vế trước sau cùng một ý nghĩa chẳng phải quá rườm rà sao? Ý nghĩa ẩn giấu nằm ở chữ 'chân' của vế sau. Vì đây là văn ngôn, ý nghĩa của 'chân' đương nhiên không phải cách giải thích trong văn xuôi. Trong 'Thuyết văn' giải thích 'chân' là 'tiên nhân biến hình để lên trời', đây là cách nói về thần tiên. Thế nên đạo sĩ cổ đại mới gọi là chân nhân, còn có Toàn Chân giáo, đều cùng một ý nghĩa. Nghĩa là, đạt đến cảnh giới 'chân' thực chất là đạt đến cảnh giới 'đại đạo' của vũ trụ. Cho nên, ý nghĩa cả câu này là: Các thành viên của Cầu Thị Hội, thứ các người cần theo đuổi chính là đại đạo vũ trụ!"
"Câu tiếp theo, 'Tập khảm kỳ giáo, thủy kiến kinh luân'. Tập khảm là một điển cố, ví như dòng nước chảy. Ý nghĩa bề mặt là phải như dòng nước, không ngừng nghỉ học tập thì mới nắm vững được tri thức thực sự trong sách vở. Nhưng theo cách hiểu của Cầu Thị Hội, 'tập khảm' được tách ra giải thích. 'Tập' là học tập. 'Khảm' là quẻ nước trong bát quái. Tại sao phải học bát quái? Điều này đương nhiên là nói với các thành viên Cầu Thị Hội."
"Câu tiếp theo đơn giản hơn: 'Vô viết kỷ thị, vô viết toại chân'. Vì Cầu Thị Hội là một tổ chức bí mật, ý nghĩa câu này là: Đừng nói mình là người của Cầu Thị Hội, đừng nói cho người khác biết mình đang theo đuổi 'chân'. Tức là yêu cầu thành viên phải giữ bí mật với bên ngoài."
"Câu tiếp theo: 'Mĩ cách phỉ nhân, mĩ cố phỉ tân; hà dĩ tân chi, khai vật tiền dân'. Ý nghĩa câu này đương nhiên chỉ việc sinh viên phải đổi mới, phải cải cách, sinh viên Đại học Z phải trở thành người tiên phong trong công cuộc đổi mới của quốc gia. Nhưng theo cách giải thích của Cầu Thị Hội, câu này còn có ẩn ý khác. Hai vế sau chỉ ba cái tên: Hà Dĩ Tân, Lục Khai Vật, Trần Tiền Dân. Ba người này đều là cốt cán của Cầu Thị Hội, đã đóng góp kiệt xuất cho kháng chiến và bảo vệ quê hương. Hà Dĩ Tân chính là nhà giáo dục nổi tiếng Hà Tiếp Hầu, ông từng làm hiệu trưởng Đại học Bắc Kinh, thời đó trú tại Dư Hàng, Hà Dĩ Tân là bút danh ông dùng để đăng bài trên báo. Lục Khai Vật và Trần Tiền Dân là hai vị giáo hữu, lần lượt là thân sĩ của Ninh Ba và Đài Châu, hai vị đã cung cấp rất nhiều hỗ trợ về tài chính và nhân lực cho các nghiên cứu và hành động của Cầu Thị Hội. Hai vị này không có đóng góp về học thuật nên hậu thế không biết tên."
"Câu tiếp theo: 'Tả nhĩ mao sĩ, thượng kỳ hữu văn'. Đây là lời nhắn nhủ thành viên Cầu Thị Hội: Các thanh niên tài tuấn trong hội, hãy ghi nhớ những người này. Vì thời đó Đại học Z dời về phía Tây, các thành viên trẻ không hiểu tình hình khu vực Chiết Giang, thậm chí không biết những bậc tiền bối này. Vì vậy, câu này ám chỉ họ dù ở đất khách cũng phải biết ơn đồng chí."
"'Niệm tai điển học, tư duệ quan thông, hữu văn hữu chất, hữu nông hữu công'. Câu này nhắc nhở người trẻ trong Cầu Thị Hội rằng, tuy theo đuổi đại đạo vũ trụ nhưng nền tảng của đại đạo là học tập các loại tri thức, bất kể văn khoa hay kỹ thuật, bất kể công nghiệp hay nông nghiệp đều có chỗ để học, tuyệt đối không được 'nhãn cao thủ đê' (mắt cao tay thấp)."
"Câu tiếp theo: 'Kiêm tổng điều quán, tri chí tri chung; thành chương nãi đạt, nhược kim chi tại dung'. Theo cách giải thích của bài ca, thành công không dễ dàng, giống như vàng thật phải qua luyện chế lâu dài mới thành hình. Còn theo cách hiểu của Cầu Thị Hội, thành công không dễ dàng, giống như quá trình luyện kim đan của các nhà giả kim cổ đại vậy."
"Câu cuối cùng: 'Thượng hanh vu dã, vô lận vu tông, thụ ngã bang quốc, thiên hạ lai đồng'. Câu này bảo người của Cầu Thị Hội không được có tư tưởng cục bộ, mọi con đường đều dẫn đến thành Rome, vạn loại tri thức đều phải học. Mà mục đích nắm vững những thứ đó là vì sự phát triển của nhà trường, vì quốc gia, vì dân tộc."
Nghe xong lời kể của Trần Đức Mậu, Trương Siêu và Trần Dung như vừa trải qua một tiết học lịch sử sống động nhất. Hóa ra đằng sau bài ca của trường lại ẩn chứa nhiều câu chuyện đến thế, thật sự là nằm ngoài sức tưởng tượng! Cảm giác như được khai sáng, thông suốt hoàn toàn. Nhìn lại những dòng chú thích trong ngoặc đơn trong sổ tay, mọi thứ đã trở nên sáng tỏ.
Trần Đức Mậu giảng giải xong, bản thân cũng càng thêm kích động: "Năm đó khi chưa biết cách giải thích này, nằm mơ tôi cũng không ngờ bài ca của trường lại ẩn giấu một bí mật lớn đến thế, thật không ngờ, thật không ngờ. Các em xem, chỉ vỏn vẹn hơn trăm chữ, mở đầu đã làm sáng tỏ thế nào là 'đạo', thế nào là 'khí', lại giảng giải quy luật dung hội quán thông của vũ trụ âm dương ngũ hành. Tiếp đó lại thuyết minh bản chất mà Hội Cầu Thị theo đuổi, còn căn dặn các hội viên trẻ không được quên đi cội nguồn, rồi bàn về quá trình theo đuổi chân lý đầy gian nan, thành viên nên học tập ra sao. Cuối cùng chốt lại vấn đề, nêu rõ tôn chỉ của Hội Cầu Thị là vì nhà trường, vì quốc gia, vì dân tộc! Trước sau liên kết, đầu cuối hô ứng, một mạch thành công. Vừa là bài ca của trường, vừa là bài ca của hội, quả thực là tuyệt tác thiên cổ, công lực thâm hậu của tiền bối Mã Nhất Phù! Tuyệt tác, đúng là tuyệt tác!"
Trần Đức Mậu như thể đang trở lại giảng đường, nhất thời quên hết mọi thứ xung quanh.
Trương Siêu tuy không biết gì về quốc học, nhưng nghe ông giải thích cũng vô cùng kinh ngạc. Cậu suy nghĩ một chút rồi hỏi: "Vậy ra sứ mệnh của Hội Cầu Thị là vì sự phát triển của nhà trường, quốc gia và dân tộc, âm thầm bảo vệ nhà trường thông qua đủ loại phương pháp. Thầy ơi, quy mô Hội Cầu Thị lúc đó lớn đến mức nào?"
Trần Đức Mậu lắc đầu: "Giảng viên hướng dẫn của tôi cũng không rõ con số cụ thể, vì danh tính của mọi người đều được bảo mật. Theo ông ấy ước tính, chắc không đến một trăm người, nhưng đa số họ đều là những người rất thành đạt."
Trần Dung nói: "Vậy Hội Cầu Thị hiện tại liệu có còn lưu truyền lại không? Nếu không, cuốn sổ chúng em nhặt được sẽ không giải thích được. Đây rõ ràng là một cuốn sổ mới."
Trần Đức Mậu suy tư một lát rồi bảo: "Điều này hoàn toàn có khả năng, nếu không tôi nghĩ người thời nay chắc chẳng còn mấy ai biết chuyện quá khứ. Đúng rồi, cuốn sổ này các em nhặt được ở đâu?"
Trần Dung không định nói rõ ràng, liền đáp: "Chúng em vô tình nhặt được trên đường, thật không ngờ đằng sau lại có câu chuyện như vậy."
Trần Đức Mậu nói: "Hội Cầu Thị nếu còn tồn tại thì đó là chuyện tốt. Hội vẫn luôn âm thầm hỗ trợ sự phát triển của nhà trường, giải quyết khó khăn giúp trường. Tôi nghĩ quá trình xây dựng Tử Kim Cảng, việc bố trí theo phong thủy chắc chắn là do cao nhân trong Hội Cầu Thị chỉ điểm. Nếu không, với thiết kế kiến trúc của người thời nay, thông thường sẽ không hiểu biết về lĩnh vực này. Vậy sau khi hiểu rõ tình hình, các em định làm gì tiếp theo?"
Trần Dung không muốn cho ông biết họ vẫn định tiếp tục điều tra vì sợ ông lo lắng, liền nói: "Đã hiểu rõ nhiều chuyện như vậy, những thắc mắc trước đây của chúng em cũng đã có đáp án. Em nghĩ, những việc này sức chúng em không giải quyết nổi. Chúng em chỉ có thể tự lo cho mình, không đi gây chuyện với những thứ khác nữa. Dù chuyện ở học viện là do con người gây ra, hay thực sự có thứ gì đó không sạch sẽ, chúng em cũng lực bất tòng tâm." Cô tỏ vẻ hơi chán nản.
Trần Đức Mậu lại tỏ ý tán thành, gật đầu nói: "Thế là tốt. Khi sự việc chưa rõ ràng, các em là sinh viên thì càng phải biết tự chăm sóc bản thân."
Sau đó, họ trò chuyện thêm vài câu, ăn cơm tại nhà ông rồi cả hai ra về.