Thợ Săn Bóng Tối

Lượt đọc: 3730 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2

Vào cuối tháng Hai ở Lagos, nhiệt kế chỉ bốn mươi độ, với độ ẩm mức 80%.

Đó là thành phố đông dân thứ hai ở châu Phi, sau Cairo, với hơn hai mươi mốt triệu dân và cứ mỗi ngày lại tăng thêm hai ngàn người. Một hiện tượng có thể hiểu được: từ khi ở đó Marcus đã thấy quy mô thành phố lụp xụp ngoài cửa sổ nhà mình cứ ngày một tăng dần.

Anh đã chọn một ngôi nhà ở ngoại ô, phía trên một xưởng sửa chữa xe camion đã cũ. Nó không lớn lắm và cho dù anh đã quen sống với sự ồn ào náo nhiệt của những thành phố lớn, cái nóng mùa đông vẫn không cho anh ngon giấc. Đồ đạc của anh chất đống trong một cái tủ tường. Anh có một cái tủ lạnh được sản xuất vào những năm 70 và một góc bếp nhỏ để nấu ăn. Cái quạt thông gió trên trần phát ra tiếng ro ro đều đặn, y như tiếng bay của một con ong bắp cày.

Dù cuộc sống bất tiện nhưng anh thấy tự do.

Anh đã ở Nigeria được khoảng tám tháng nhưng hai năm vừa qua anh di chuyển khắp nơi. Paraguay, Bolivia, Pakistan và sau đó là Campuchia. Trên hành trình tìm kiếm những điều bất thường, anh đã phá tan một đường dây thầy tu ấu dâm, ở Gujranwala anh đã chặn đứng một công dân Thụy Điển thường chọn những nước nghèo nhất để gây án mạng và thỏa mãn nhu cầu giết người mà không lo bị bắt, và ở Phnom Penh anh đã phát hiện ra một bệnh viện mà ở đó những dân nghèo bán nội tạng của mình cho người châu Âu để lấy vài trăm đô la. Giờ anh đang lần theo một băng nhóm chuyên buôn người: gần một trăm phụ nữ, đàn ông và trẻ nhỏ bị mất tích trong vòng ít năm trở lại đây.

Anh đã bắt đầu tiếp xúc với mọi người, giao tiếp với họ. Đó là mơ ước từ bấy lâu của anh. Anh không quên sự cô quạnh đã chịu đựng ở Roma. Nhưng cả bây giờ, bản tính đơn độc của anh vẫn thi thoảng bất ngờ trỗi dậy. Vậy là, khi những mối quan hệ ổn định manh nha, anh lại đóng gói đồ đạc và khởi hành.

Anh sợ sự ràng buộc. Vì mối quan hệ tình cảm duy nhất anh có thể tạo ra sau khi lấy lại được trí nhớ đã kết thúc thật cay đắng. Anh vẫn còn nghĩ tới Sandra, nhưng ngày càng ít hơn. Thi thoảng anh lại tự hỏi cô đang ở đâu và liệu cô có được hạnh phúc. Nhưng anh chưa bao giờ dám hình dung ra có ai đó bên cạnh cô, hoặc liệu cô cũng nghĩ như thế về mình. Sẽ chỉ là đau khổ một cách vô ích.

Trong khi đó, anh lại rất hay trò chuyện với Clemente. Trong đầu anh thường xuất hiện một cuộc đối thoại sôi nổi và tích cực. Anh nói cho cậu ấy tất cả những điều mình biết và muốn nói như khi cậu ấy còn sống. Anh chỉ thấy quặn lòng khi nghĩ về buổi học cuối cùng trong khóa huấn luyện của mình, buổi học mà họ đã không bao giờ cùng nhau thực hiện được.

Hai năm trước anh đã từ chối làm linh mục. Nhưng sau đó một thời gian anh nhận ra việc đó không dễ dàng gì. Người ta có thể từ bỏ bất cứ thứ gì ngoại trừ một phần của bản thân. Erriaga có lý: dù anh có làm gì, đi đâu chăng nữa, nó vẫn là bản chất của anh. Ngay cả khi vẫn luôn bị những hoài nghi hành hạ, anh cũng không thể làm gì khác. Thế là, thi thoảng, khi thấy một nhà thờ bị bỏ hoang, anh lại bước vào và làm Thánh lễ. Đôi lúc, xảy ra những chuyện anh không lý giải nổi. Trong lúc làm lễ, có ai đó bất ngờ bước vào và ngồi xuống lắng nghe. Anh không chắc Chúa có tồn tại thật hay không, nhưng nhu cầu tìm đến Người là thứ mà ai cũng có.

Người đàn ông da màu cao lớn đó đã theo anh được gần một tuần lễ nay.

Marcus để ý thấy ông ta một lần nữa trong lúc anh lang thang ở khu chợ Balogun náo nhiệt và sặc sỡ. Ông ta thường đứng cách anh khoảng chục mét. Nơi đó chẳng khác nào một mê cung bày bán đủ thứ và rất dễ bị lẫn vào đám đông. Từ cái cách bám theo anh, có thể suy luận rằng ông ta khá rành công việc đó, nhưng ai mà biết được. Có thể tổ chức tội phạm mà anh đang điều tra đã phát hiện ra anh và phái người đi theo dõi.

Marcus dừng lại ở quầy hàng bán nước. Anh nới lỏng cổ áo sơ mi lanh trắng và hỏi mua một cốc nước. Trong khi uống, anh đưa khăn tay lên cổ lau mồ hôi và tranh thủ nhìn ngó xung quanh. Cả người đàn ông đó cũng dừng lại và giờ ông ta đang giả vờ ngắm nhìn đống vải vóc màu mè trên một sạp hàng. Ông ta mặc một loại áo dài sáng màu và khoác một cái túi vải.

Anh quyết định mình phải làm gì đó.

Anh chờ đợi tiếng gọi của vị thầy tu Hồi giáo báo giờ cầu nguyện cho các tín đồ. Một phần khu chợ ngưng lại, vì nửa số dân của Lagos theo đạo Hồi. Marcus tranh thủ cơ hội đó để rảo bước trong mê cung của những con đường. Người đàn ông phía sau anh cũng bắt chước theo. Ông ta to gấp đôi anh, vì thế Marcus không nghĩ mình có thể chiến thắng trong một cuộc đối đầu, hơn nữa anh không rõ ông ta có mang vũ khí không, nhưng anh e rằng là có. Anh phải xử trí bằng mưu mẹo. Anh bước vào một con hẻm không bóng người và nấp sau một tấm rèm. Anh chờ cho gã đàn ông kia đi ngang qua và nhảy lên lưng làm ông ta ngã sấp mặt xuống đất. Rồi anh nhảy bổ lên người gã, siết cổ gã bằng cả hai cánh tay.

“Tại sao ông theo dõi tôi?”

“Khoan đã, để tôi nói.” Gã khổng lồ cố phản ứng, nhưng chỉ kháng cự lại cú siết cổ để khỏi ngạt hơi.

“Là bọn chúng đã phái ông tới?”

“Tôi không hiểu.” Người đàn ông phản đối bằng một thứ tiếng Pháp hoàn hảo.

Marcus siết mạnh hơn. “Làm thế nào ông tìm được tôi?”

“Anh là linh mục, đúng không?”

Nghe gã nói vậy, anh nới tay một chút. “Họ bảo với tôi là có ai đó đang điều tra về những người mất tích…” Rồi ông ta lôi từ trong cổ áo dài một sợi dây da có treo một cây thánh giá bằng gỗ. “Anh có thể tin tôi, tôi là một nhà truyền giáo.”

Marcus không chắc đó có phải sự thật nhưng anh vẫn thả ông ta ra. Người đàn ông khó nhọc quay lại và ngồi xuống. Rồi ông ta đưa một tay lên cổ họng và ho, trong khi đang cố lấy lại hơi.

“Ông tên là gì?”

“Cha Emile.”

Marcus chìa tay ra và giúp ông ta đứng dậy. “Tại sao ông lại đi theo tôi? Tại sao ông không xuất hiện đường hoàng trước mặt tôi?”

“Vì tôi muốn chắc chắn những điều người ta nói về anh là thật.”

Marcus ngạc nhiên. “Thế người ta nói gì?”

“Rằng anh là một linh mục, nên anh là người phù hợp.”

Phù hợp với cái gì? Anh không hiểu.

“Sao ông biết điều đó?”.

“Họ đã thấy anh làm lễ ở một nhà thờ bỏ hoang… Vậy là đúng? Anh là một linh mục?”

“Phải.” Rồi anh để gã thầy tu khổng lồ đó kể tiếp.

“Ngôi làng của tôi tên là Kivuli. Ở chỗ tôi nhiều thập kỷ qua người ta chiến đấu trong một trận chiến mà tất cả đều vờ như không biết. Rồi cứ theo chu kỳ, chúng tôi lại gặp vấn đề về nước và nhiều người đã mắc bệnh tả. Vì lý do xung đột, bác sĩ không tới Kivuli và những nhà cứu trợ nhân đạo thường bị các phe phái trong cuộc chiến hành quyết vì cho rằng họ là gián điệp của kẻ thù. Do vậy tôi đến Lagos để tìm thuốc men giúp chúng tôi ngăn chặn bệnh dịch… Trong lúc ở đây, tôi nghe nói về anh và tôi tới để tìm anh.”

Marcus không bao giờ có thể hình dung được người ta có thể tìm thấy anh dễ dàng như thế. Có lẽ dạo gần đây anh đã hơi quá lơ là cảnh giác. “Tôi không biết ai kể cho ông những thứ này, nhưng chuyện tôi có thể giúp ông là không đúng. Tôi lấy làm tiếc.” Anh quay lưng và toan bỏ đi.

“Tôi đã hứa.” Người đàn ông cất lời với giọng van nài, nhưng Marcus phớt lờ.

Cha Emile không bỏ cuộc. “Tôi đã hứa với một người bạn là thầy tu trước khi dịch tả mang ông ấy đi xa. Ông ấy đã dạy tôi trở thành người như ngày hôm nay, ông ấy là thầy tôi.”

Nghe tới câu cuối cùng, Marcus bỗng nhớ tới Clemente và anh sững người lại.

“Cha Abel đã dẫn dắt sứ mệnh truyền giáo ở Kivuli trong bốn mươi lăm năm,” người đàn ông nói tiếp vì biết mình đã tạo được ấn tượng với Marcus.

Marcus quay lại. “Nguyên văn những lời cuối cùng trước khi ông ấy trút hơi thở là: Các bạn đừng quên khu vườn của những người chết.”

Marcus ghi nhớ câu nói. Nhưng anh không thích từ mang số nhiều những người chết đó.

“Vào khoảng hai mươi năm trước, trong làng đã xảy ra một số vụ án mạng. Ba phụ nữ trẻ. Lúc đó tôi vẫn chưa tới Kivuli, chỉ biết rằng người ta đã tìm thấy thi thể của họ trong rừng. Chuyện xảy ra làm cha Abel day dứt không nguôi. Suốt phần đời còn lại của mình ông chỉ mong muốn mỗi việc hung thủ sẽ bị trả giá.”

Marcus hoài nghi. “Hai mươi năm là quãng thời gian quá dài để có thể hoàn tất việc điều tra: những dấu vết giờ đã mất. Và hung thủ có khi đã chết, nhất là sau đó không còn án mạng nào xảy ra nữa.”

Nhưng người đàn ông không cam chịu. “Cha Abel đã viết một lá thư cho Vatican để kể lại vụ việc. Nhưng ông chưa bao giờ nhận được hồi âm.”

Marcus ngạc nhiên trước câu nói đó. “Tại sao lại phải là Vatican?”

“Vì theo cha Abel hung thủ là một linh mục.”

Thông tin làm anh bàng hoàng. “Ông biết cả tên hắn ta chứ?”

“Cornelius Van Buren, người Hà Lan.”

“Nhưng cha Abel có chắc không?”

“Không, nhưng ông ấy rất nghi hắn. Cũng bởi vì sau đó cha Van Buren đột nhiên mất tích và án mạng cũng dừng lại.”

Mất tích, Marcus tự nhủ. Có thứ gì đó trong câu chuyện cũ này khiến anh bận tâm. Có thể bởi vì thủ phạm là một linh mục. Hoặc cũng có thể vì Vatican, dù được thông tin về vụ việc nhưng lại hoàn toàn ngó lơ. “Làng của ông nằm ở đâu?”

“Sẽ là một chuyến đi dài,” người đàn ông nói. “Kivuli ở Congo.”

Họ phải mất gần ba tuần để tới đó.

Hai phần ba thời gian họ phải chờ đợi ở một thị trấn nhỏ cách thành phố Goma ba trăm cây số. Quả thật, gần một tháng nay, quanh khu vực Kivuli đang diễn ra một trận chiến khốc liệt.

Một bên là quân của CNDP – Đại hội dân tộc bảo vệ nhân dân – theo như lời cha Emile giải thích. “Đó là nhóm phiến quân ủng hộ Rwandan Tutsi. Nghe tên thì có vẻ là những con người cách mạng nhưng trên thực tế chúng chỉ là những kẻ hãm hiếp khát máu.” Còn bên kia là quân đội chính quy của Cộng hòa Dân chủ Congo hiện đang dần lấy lại lãnh thổ từ tay những kẻ nổi loạn.

Họ đã trải qua mười tám ngày sống bên cạnh chiếc radio, đợi cho tình hình lắng xuống để có thể tiếp cận điểm cuối trong hành trình. Marcus đã thuyết phục được một tay lái trực thăng nhận tiền và đưa họ tới đó. Vào nửa đêm của ngày thứ mười chín, cuối cùng tin tức về một cuộc ngừng bắn mong manh đã tới.

Thời gian ngừng bắn chỉ kéo dài vài giờ và họ tranh thủ ngay lập tức.

Trực thăng bay thấp và không bật đèn vào ban đêm để tránh bị pháo binh của một trong hai bên bắn hạ. Đang có một cơn bão mạnh tràn vào khu vực. Một mặt nó có lợi vì mưa sẽ làm át đi tiếng cánh quạt. Mặt khác nó gây nguy hiểm vì mỗi khi chớp trên trời lóe lên, người ở dưới mặt đất có thể nhìn ra họ.

Trong lúc bay về phía mục tiêu, Marcus nhìn xuống dưới và tự hỏi điều gì đang chờ đợi anh ở khu rừng và liệu có phải là một canh bạc khi tới đó vì một việc đã xảy ra quá lâu như vậy không. Nhưng giờ anh không còn đường lui, anh đã hứa với cha Emile và có vẻ với người đàn ông đó việc anh trông thấy điều mà ông ta muốn cho anh xem thực sự vô cùng quan trọng.

Anh siết chặt trong tay tấm mề đay có hình Tổng lãnh thiên sứ Michele và cầu mong sự mạo hiểm không phải là vô ích.

Họ hạ cánh ở một khoảng đất trống, lầy lội, giữa thảm thực vật.

Tay phi công nói câu gì đó bằng tiếng Pháp ngọng nghịu và khá to để át tiếng ầm ầm của động cơ. Họ không hiểu anh ta nói gì nhưng lại khái là phải khẩn trương vì anh ta không thể đợi lâu được.

Họ rời đó và chạy về phía bức tường được tạo thành từ những cây bụi. Họ bước vào mớ hỗn độn và từ đó trở đi cha Emile bước đi trước Marcus vài bước trong khi anh cứ băn khoăn làm sao vị thầy tu đó biết được đâu là hướng đi đúng. Trời tối, mưa trút mạnh và thẳng trên đầu họ, đập vào thảm thực vật dày đặc như một nhạc cụ thuộc bộ gõ ầm ĩ và chói tai. Tới lúc đó, cha Emile vén cành cây cuối cùng và họ bất ngờ thấy mình ở giữa một ngôi làng toàn những túp lều bằng đất sét và thiếc.

Trước mặt họ là một cảnh tượng nhốn nháo.

Người dân chạy từ chỗ này sang chỗ kia dưới cơn mưa không ngừng nghỉ, một dòng túi nhựa màu xanh da trời chứa tài sản nghèo khó của những gia đình cứ đi đi lại lại. Những người đàn ông đang gom đống gia súc ít ỏi để cố đưa chúng vào nơi trú ẩn. Trẻ con khóc lóc bám chặt dưới chân mẹ và những đứa trẻ sơ sinh được vác trên lưng, cuốn trong những mảnh vải nhiều màu. Marcus ngay lập tức nhận thấy chẳng ai biết chính xác mình phải đi đâu.

Cha Emile đoán ra suy nghĩ của anh và bước chậm lại để giải thích. “Cho tới tận hôm qua ở đây vẫn còn những kẻ nổi loạn, nhưng sáng nay quân đội đã vào làng và thế chỗ của chúng. Nhưng họ không tới như những giải phóng quân. Họ đốt nhà cửa và lương thực dự trữ để những kẻ đối đầu không tìm thấy khi quay trở lại. Và họ giết tất cả, viện cớ hợp tác với kẻ thù. Hành động đó nhằm cảnh cáo những ngôi làng bên cạnh.”

Khi nhìn ra xung quanh, Marcus ngước đầu lên như thể anh nghe thấy một âm thanh nào đó. Quả thực, trong cơn mưa xối xả và những giọng nói hốt hoảng, có một tiếng hát. Nó phát ra từ một tòa nhà lớn bằng gỗ. Từ bên trong hé ra một thứ ánh sáng màu vàng nhạt.

Một nhà thờ.

“Không phải tất cả sẽ rời khỏi đây đêm nay,” cha Emile giải thích. “Người già và bệnh tật sẽ ở lại.”

Những ai không thể bỏ chạy sẽ ở lại, Marcus tự nhủ. Phó mặc số phận cho bất cứ nỗi kinh hoàng nào.

Cha Emile nắm lấy cánh tay anh và lắc. “Anh nghe phi công nói gì chứ? Chỉ một lát nữa hắn sẽ đi, chúng ta phải khẩn trương lên.”

Họ lại ở ngoài ngôi làng nhưng ở phía đối diện với nơi họ đã hạ cánh. Trong lúc họ đi, cha Emile đã tuyển mộ được hai người đàn ông để giúp mình. Họ mang theo xẻng và đèn lồng thô sơ.

Họ tới gần một thung lũng nhỏ có lẽ trước kia là bờ của một con sông. Ở phần cao nhất có những ngôi mộ.

Một nghĩa địa nhỏ với ba cây thập tự.

Cha Emile nói điều gì đó bằng tiếng địa phương tương tự như tiếng Swahili và những người đàn ông bắt đầu đào xới. Rồi ông ta đưa cho Marcus một chiếc xẻng và họ cùng giúp những người kia một tay.

“Kivuli trong ngôn ngữ của chúng tôi có nghĩa là cái bóng,” vị thầy tu khẳng định. “Ngôi làng mang tên của một dòng sông thi thoảng chảy qua thung lũng nhỏ này. Vào mùa xuân, con sông xuất hiện dưới ánh hoàng hôn để rồi biến mất vào sáng hôm sau, đúng như một cái bóng.”

Marcus phán đoán rằng hiện tượng này ít nhiều có liên quan đến chất đất ở nơi đây.

“Hai mươi năm trước, cha Abel muốn những ngôi mộ này được chôn cách xa nghĩa địa làng, ở khu vực mà vào mùa hè không có cây cối, ngay cả khi ông ấy gọi nơi đó là khu vườn của những người chết.”

Đất đá vôi là nơi lý tưởng nhất để bảo quản các thi thể ngăn chúng bị thời gian phân hủy. Một nhà xác tự nhiên.

“Khi ba cô gái bị giết, không có cách nào để tiến hành điều tra. Nhưng cha Abel biết là một ngày nào đó sẽ có người tới để đặt câu hỏi. Dù đó là ai, nhất định họ sẽ muốn trông thấy những cái xác.”

Và thời điểm đó quả nhiên đã tới.

Một trong các thi thể bị phân hủy trước những cái kia. Marcus bỏ xẻng và tới gần cái huyệt. Nước mưa từ trên cao rơi xuống đã lấp đầy huyệt mộ nhưng phần thi thể được cuốn trong một tấm nilon. Marcus quỳ chân trong bùn và xé lớp nilon bằng tay. Cha Emile đưa đèn cho anh.

Chiếu vào nó, Marcus thấy thi thể đúng là được bảo quản khá tốt trong cái hố đá vôi đó. Nó như thể trải qua một quá trình ướp xác tự nhiên. Vì thế, dù đã hai mươi năm trôi qua, xương vẫn còn nguyên vẹn và được bọc trong những mảnh vải trông như một loại giấy da sẫm màu.

“Họ mười sáu, mười tám và hai mươi hai tuổi,” cha Emile nói về những nạn nhân. “Cô ấy là người đầu tiên và cũng là người nhỏ tuổi nhất.”

Nhưng Marcus không hiểu cô ấy bị chết thế nào. Vậy là anh tiến lại gần, tìm kiếm dấu hiệu của một vết thương hay một vết xước trên xương. Anh thấy có thứ gì đó khá ấn tượng nhưng nước mưa đã làm tắt ngọn lửa.

Không thể nào, anh tự nhủ. Anh lấy ngay một chiếc đèn lồng khác. Và rồi anh đã thấy, anh lùi phát lại khỏi cái hố và ngã về phía sau.

Anh cứ nằm như vậy với tay và lưng ngập trong bùn lầy cùng nét mặt kinh hãi.

Cha Emile khẳng định lại suy đoán của anh. “Đầu đã bị chặt đứt, tay và chân cũng vậy. Chỉ còn lại nguyên vẹn mỗi thân người. Những mảnh thân thể vương vãi cách đó ít mét và cô gái đã bị lột quần áo, chúng cũng chỉ còn là những mảnh vụn.”

Marcus thở khó nhọc, trong khi mưa tát vào anh, ngăn anh suy nghĩ. Anh đã nhìn thấy một cái xác giống thế.

“Hic est diabolus.”

Bà sơ trẻ của dòng tu kín bị chặt thành từng khúc trong khu rừng vườn Vatican.

Quỷ dữ đang ở đây, anh nghĩ. Người đàn ông với cái túi xám trong bức ảnh được chụp lại từ băng ghi hình của camera an ninh, kẻ anh tìm kiếm không ngừng nghỉ, đã tới Kivuli mười bảy năm trước vụ án cách đây ba năm ở Vatican.

“Cornelius Van Buren,” anh nói với cha Emile khi nhớ lại tên của gã truyền giáo người Hà Lan có thể là hung thủ gây ra những án mạng đó. “Trong làng có ai biết ông ta không?”

“Đã nhiều năm trôi qua và tuổi thọ trung bình ở đây rất thấp.” Nhưng rồi vị thầy tu nghĩ kỹ lại: “Nhưng có một bà cụ. Một trong số những cô gái bị giết là cháu bà ấy.”

“Tôi phải nói chuyện với bà ấy.”

Cha Emile nhìn anh phân vân. “Trực thăng,” ông nhắc anh.

“Tôi bất chấp mạo hiểm: hãy đưa tôi tới chỗ bà ấy.”

Họ tới trước nhà thờ và cha Emile bước vào đầu tiên. Ở bên trong, nằm dọc theo các bức tường là những người mắc bệnh tả. Người thân đã bỏ họ lại để trốn chạy, giờ những người già cả chăm sóc họ. Một cây thánh giá lớn bằng gỗ đang canh gác cho họ trên một gian thờ đầy ắp nến.

Những người già hát cho những người trẻ tuổi nghe. Đó là một bài hát chất chứa ngọt ngào và u sầu, có vẻ mọi người đều chấp nhận số phận của chính mình.

Cha Emile đi tìm người phụ nữ và thấy bà ở tận cuối gian giữa giáo đường. Bà ấy đang chăm sóc một thanh niên, đặt những mảnh giẻ ướt lên trán để hạ sốt. Vị thầy tu ra hiệu gọi Marcus. Cả hai ngồi xổm gần bà cụ. Cha Emile nói gì đó với bà bằng thổ ngữ của họ. Rồi bà cụ liếc về phía khu rừng, săm soi nó với đôi mắt lớn màu nâu và sáng quắc.

“Bà ấy sẽ nói chuyện với anh,” cha Emile thông báo. “Anh muốn hỏi bà ấy điều gì?”

“Bà ấy có còn nhớ gì về Van Buren không.”

Cha Emile dịch câu hỏi. Người phụ nữ nghĩ một lát rồi trả lời một cách quyết đoán. Marcus chờ đợi và hy vọng những lời của bà cụ sẽ hé lộ cho anh thông tin quan trọng.

“Bà ấy nói rằng linh mục đó không giống với những người khác, hắn ta có vẻ tốt bụng hơn nhưng thực ra không phải như vậy. Có thứ gì đó trong cái cách hắn ta nhìn mọi người mà bà ấy không thích.”

Người phụ nữ nói tiếp.

“Bà ấy bảo rằng trong những năm vừa qua bà ấy đã cố xóa bỏ mãi mãi khuôn mặt của hắn khỏi ký ức và bà ấy đã làm được. Bà ấy xin lỗi anh nhưng bà ấy không muốn nhớ lại nữa. Bà ấy chắc chắn chính hắn ta là kẻ giết cháu gái mình, nhưng giờ bà ấy đã thanh thản và sớm thôi họ sẽ được gặp lại nhau ở thế giới bên kia.”

Nhưng từng đó với Marcus là không đủ. “Ông bảo bà ấy kể điều gì đó về ngày Van Buren mất tích đi.”

Cha Emile làm theo. “Bà ấy nói rằng một đêm nọ những linh hồn của khu rừng đã tới để bắt hắn và tống hắn xuống địa ngục.”.

Những linh hồn của khu rừng… Marcus đã hy vọng một câu trả lời khác.

Cha Emile hiểu sự thất vọng của anh. “Anh phải hiểu rằng ở đây mê tín và tôn giáo cùng tồn tại. Họ là những người theo đạo Thiên Chúa nhưng vẫn nuôi dưỡng những tín ngưỡng gắn liền với phong tục thờ cúng thời xa xưa. Vẫn luôn là như thế.”

Marcus gật đầu cảm ơn người phụ nữ và toan đứng dậy thì thấy bà lão chỉ vào thứ gì đó. Thoạt đầu anh không hiểu. Nhưng rồi anh nhận ra bà ấy chỉ vào chiếc mề đay anh mang trên cổ.

Tổng lãnh thiên sứ Michele, người bảo hộ của những linh mục ân giải.

Vậy là Marcus tháo nó khỏi cổ, cầm lấy tay bà cụ và đặt chiếc vòng vào bàn tay thô ráp. Rồi đóng tay lại như một cái hộp nhỏ. “Hy vọng thiên thần này sẽ bảo vệ cho bà đêm nay.”

Người phụ nữ đón nhận món quà với một nụ cười thanh thản. Họ còn nhìn nhau trong giây lát để nói lời tạm biệt, rồi Marcus đứng dậy.

Họ đi ngược trở lại chỗ trực thăng. Tay phi công đã bật động cơ và những cánh quạt đang quay trong không khí. Marcus đi tới cửa máy bay nhưng rồi anh ngoái lại: cha Emile không ở bên anh, ông ấy đã dừng lại đằng xa. Vậy là anh quay lại phía sau, mặc cho tay phi công thắc mắc.

“Lên đi, ông còn chờ gì nữa?” Hắn hỏi.

Nhưng nhà truyền giáo lắc đầu mà không nói gì. Marcus hiểu rằng ông không hề có ý định đi tìm chỗ trú ẩn trong khu rừng như những dân làng khác. Trái lại, ông sẽ quay về nhà thờ và chờ đợi cái chết cùng với những con chiên của mình, những người không có khả năng chạy trốn.

“Giáo hội đã làm được nhiều điều to lớn với sứ mệnh truyền giáo Kivuli và những nơi tương tự như thế, đừng để một con quái vật hủy hoại điều tốt đẹp này.” Cha Emile khẳng định.

Marcus gật đầu và ôm gã khổng lồ. Một lát sau, anh bước lên phi cơ và trong phút chốc nó đã bay vào màn mưa xám xịt. Ở phía dưới anh, nhà truyền đạo vẫy tay chào từ biệt. Marcus đáp lại nhưng không hề thấy nhẹ lòng. Anh muốn có được lòng can đảm như của người đàn ông đó. Một ngày nào đó, anh tự nhủ. Có lẽ vậy.

Đêm đó đầy ắp những biến cố. Anh đã biết tên kẻ giết người mà từ trước đến nay vẫn là một con quỷ vô danh. Đã hai mươi năm trôi qua nhưng có lẽ vẫn còn thời gian để khám phá ra sự thật.

Nhưng để làm được việc đó, Marcus cần quay trở lại Roma.

Cornelius Van Buren đã giết người thêm nhiều lần khác.

Anh đã tìm thấy dấu vết của hắn ở nhiều nơi khác nhau trên hành tinh. Ở Indonesia, ở Peru và một lần nữa ở châu Phi. Con quỷ đã lợi dụng danh xưng truyền giáo của mình để đi lại khắp nơi trên thế giới mà không gặp rắc rối. Dù ở đâu, hắn cũng để lại dấu vết di chuyển của mình. Cuối cùng, Marcus đã đếm được bốn mươi sáu nạn nhân nữ.

Nhưng tất cả họ đều bị sát hại trước những nạn nhân ở Kivuli.

Ngôi làng của Congo là điểm dừng chân cuối cùng của hắn. Để rồi biến mất trong hư không. “Một đêm nọ những linh hồn của khu rừng đã đến bắt hắn và tống hắn xuống địa ngục.” Cha Emile đã dịch lại lời nói của bà cụ trong làng.

Dĩ nhiên Marcus không thể hoàn toàn loại trừ khả năng cùng lúc ấy Van Buren có thể lại ra tay ở đâu đó. Chỉ đơn giản là anh không đủ khả năng tìm ra dấu vết của những vụ án đó. Xét cho cùng, chúng thường xảy ra tại những nơi xa xôi và lạc hậu.

Dù thế nào, mười bảy năm sau án mạng ở Kivuli, Van Buren đã tái xuất với một cái xác bị cắt thành nhiều mảnh ở vườn của Vatican. Rồi hắn lại biến mất.

Tại sao lại xuất hiện chóng vánh như thế? Và hắn đã đi đâu trong ba năm sau án mạng của bà sơ? Marcus tính ra đến giờ gã đàn ông đó khoảng sáu mươi lăm tuổi: có thể nào hắn đã chết trong khoảng thời gian đó?

Một dữ kiện ngay lập tức làm anh chú ý. Van Buren lựa chọn nạn nhân rất tỉ mỉ.

Họ đều trẻ trung, ngây thơ và rất đẹp.

Liệu có khi nào hắn đã chán sở thích đó của mình hay không?

Hồngy Erriaga đã đoán trước việc sẽ xảy ra.

“Cậu sẽ trở lại,” ông ta đã cười và khẳng định như thế.

Quả nhiên, vào lúc 17 giờ 30 phút của một chiều thứ Ba, linh mục ân giải nán lại ở Nhà nguyện Sistine cùng với nhóm du khách cuối cùng. Trong khi mọi người đang ngắm nhìn những bức tranh tường, anh chăm chú quan sát những động thái của nhân viên an ninh.

Khi bảo vệ mời khách đi ra vì bảo tàng Vatican đang chuẩn bị đóng cửa, Marcus ra khỏi hàng và đột nhập vào một hành lang kế bên. Từ đó anh bước xuống cầu thang thoát hiểm dẫn tới vườn của Pigna. Những ngày trước đó anh đã tiến hành nhiều cuộc viếng thăm khác, nhưng thực tế chỉ là khảo sát địa hình để nghiên cứu hoạt động của những máy quay an ninh giám sát không gian phía trong thành Vatican.

Anh đã tìm thấy những lỗ hổng trong hệ thống giám sát. Nhờ vào chúng, anh có thể tới chỗ khu vườn mà không bị phát hiện.

Mặt trời mùa xuân đang từ từ lặn xuống, chẳng mấy chốc bóng tối sẽ bao trùm. Vì vậy anh náu mình giữa những hàng rào hoàng dương và chờ đợi. Anh nhớ lại lần đầu tiên ở đó cùng Clemente: khu vực đã bị cách ly để tạo điều kiện cho hai người bọn họ dễ dàng băng qua công viên.

Ai là người dàn xếp công việc tưởng chừng như không thể đó? Dĩ nhiên là Erriaga rồi. Thế tại sao sau đó chẳng ai trong số những người bề trên có động thái giúp đỡ Marcus kết thúc cuộc điều tra về cái chết của bà sơ?

Rõ ràng có sự mâu thuẫn.

Hồng y Erriaga có thể chôn vùi vụ việc trong im lặng, đằng này ông ta lại muốn linh mục ân giải chứng kiến và trên hết là biết đến nó.

Khi màn đêm buông xuống, Marcus ra khỏi chỗ ẩn nấp và tiến về phía duy nhất của khu vườn chỗ cây cối có thể tự do phát triển.

Đó là khu rừng rộng hai hecta nơi những người làm vườn chỉ tới đó để thu lượm cành khô.

Khi tới nơi, anh bật chiếc đèn pin luôn mang theo mình, cố nhớ lại chỗ tìm thấy xác của bà sơ. Anh nhận ra địa điểm nhiều năm trước bị vây kín bằng những dải băng màu vàng của cảnh binh. Cái ác là một không gian, anh tự nhủ, vì anh biết rõ mình phải làm gì.

Tìm kiếm những điều bất thường.

Để làm được việc đó, cần phải gợi lại trí nhớ về chuyện đã xảy ra ngày hôm ấy khi cả Clemente cũng có mặt.

Một thân người.

Trần truồng. Vào thời điểm đó anh đã nghĩ ngay đến Tượng bán thân Belvedere, bức tượng Hercules khổng lồ và què cụt, được bảo quản trong những bảo tàng của Vatican. Nhưng bà sơ đó đã phải gánh chịu một hành động súc sinh. Ai đó đã chặt đứt đầu, tay và chân. Chúng ở quanh đó ít mét, vương vãi cùng bộ quần áo sẫm màu, tả tơi.

Không, không phải ai đó.

“Cornelius Van Buren.” Giờ thì cuối cùng anh cũng có thể gọi tên hung thủ ở nơi đây.

Kẻ sát nhân rất tàn độc. Nhưng có một logic ẩn phía sau, một kế hoạch. Con quỷ biết cách di chuyển phía bên trong tường thành. Hắn đã nghiên cứu các địa điểm, quy trình kiểm soát và đã tránh né những biện pháp an ninh, đúng như anh vừa làm lúc trước.

“Dù đó là ai, hắn cũng từ bên ngoài vào.” Clemente đã nói.

“Làm sao cậu biết được?”

“Chúng tôi biết mặt hắn. Thi thể đã ở đây được ít nhất tám, chín tiếng. Vào sáng sớm hôm nay, camera an ninh đã ghi được hình của một kẻ tình nghi lởn vởn trong khu vườn. Hắn ta mặc đồ phục vụ, nhưng người ta phát hiện có một bộ đã bị đánh cắp.”

“Tại sao lại là hắn?”

“Anh tự nhìn xem.”

Clemente đưa anh bản in của một hình ảnh trong máy quay an ninh. Có một người đàn ông mặc bộ đồ thợ làm vườn, một phần khuôn mặt bị che khuất bởi chiếc mũ lưỡi trai. Người Kavkaz, tuổi khó đoán nhưng chắc chắn ngoài năm mươi. Hắn mang theo mình một cái túi khoác vai màu xám, phía dưới đáy thoáng thấy một vệt tối màu.

“Cảnh binh chắc chắn rằng trong đó có một cái rìu nhỏ hoặc một vật tương tự như thế. Hắn hẳn vừa mới dùng nó, vết mà anh nhìn thấy có thể là máu.”

“Tại sao lại là một cái rìu?”

“Vì đó là vũ khí duy nhất có thể tìm thấy ở đây. Người ta đã loại trừ trường hợp hắn có thể mang thứ gì đó từ bên ngoài vào, thoát được hàng rào an ninh, lính canh và máy dò kim loại.”

“Nhưng hắn đã mang nó theo để xóa dấu vết, trong trường hợp cảnh binh có thể cầu viện cảnh sát Ý.”

“Ở lối ra đơn giản hơn rất nhiều, không bị kiểm soát. Hơn nữa, để đi ra mà không bị ai chú ý chỉ cần hòa mình vào dòng người hành hương hoặc du khách.”

Nghĩ lại đoạn hội thoại đó, Marcus chợt nhận ra sai lầm.

Sau Kivuli, Van Buren đã ngừng giết người trong mười bảy năm và biến mất. Có lẽ không phải hắn đã dừng tay, anh nghĩ. Chỉ là hắn đã thông minh hơn và biết cách che đậy tốt hơn dấu vết những vụ phạm tội của mình.

Nhưng tại sao hắn lại mạo hiểm đến thế khi ra tay ở ngay chính Vatican?

Marcus nghĩ rằng mình đã bị lừa gạt bởi cách mà Van Buren thoát khỏi sự kiểm soát. Anh phải thừa nhận là mình đã bị cuốn vào chi tiết đó. Nhưng giờ, ở khu rừng hoang vắng này, anh xem xét lại quan điểm của mình. Một kẻ săn mồi như Van Buren sẽ không thể chấp nhận nguy cơ mình có thể bị tóm.

Vì giết người là đam mê của hắn.

Vậy thì chuyện gì đã diễn ra?

Cả anh và Clemente đều mặc định rằng tên sát nhân đi vào và đi ra từ Vatican.

Thế nếu hắn vẫn luôn ở đó thì sao?

Xét cho cùng, điều đó có thể giải thích tại sao hắn lại biết tường tận về hệ thống an ninh. Nhưng Marcus loại trừ giả thuyết đó vì, trong suốt quá trình điều tra không đem lại kết quả gì, anh đã kiểm tra đời tư của tất cả những người thuộc hay không thuộc giới tăng lữ làm việc trong tiểu quốc này và có điểm chung với gã đàn ông trong tấm ảnh – người Kavkaz, ngoại ngũ tuần.

Một bóng ma, anh tự nhủ. Một con ma có khả năng xuất hiện và biến mất tùy ý.

Anh lia chiếc đèn pin nhỏ chiếu sáng rặng cây. Con quỷ đã chọn một địa điểm hoàn hảo để ra tay. Xa tầm mắt. Và hắn cũng chọn một nạn nhân hoàn hảo.

“Danh tính của bà ta vẫn còn bí ẩn.” Clemente nói về bà sơ trẻ của dòng tu kín. “Đó là một trong số những luật lệ của dòng tu mà bà ta tham gia.”

Khi ra ngoài, những bà sơ thường che mặt bằng một tấm mạng. Marcus đã thấy nó trên khuôn mặt của những bà sơ cùng dòng khi họ tới để thu lượm những phần thi thể của người phụ nữ xấu số.

“Hic est diabolus.”

Một người trong số họ khi tiến lại gần đã nói với anh như vậy, đúng lúc Clemente kéo anh đi.

Quỷ dữ đang ở đây.

Tại sao tên sát nhân lại chọn đúng một người trong số họ? Marcus tự hỏi.

“Thi thoảng, những bà sơ thường dạo bộ trong rừng,” Clemente nói. “Ở đây chẳng có ai lai vãng, và họ có thể cầu nguyện trong yên bình.”

Lời khẳng định đó đã khiến anh nghĩ rằng tên giết người chọn bà ấy một cách ngẫu nhiên. Một người phụ nữ đã quyết định không sống phần đời còn lại cùng nhân loại mà tới ở nơi duy nhất hẻo lánh của Vatican – trong khu rừng đó. Một người thích hợp tại một địa điểm thích hợp. Nhưng những nạn nhân khác của hắn đều trẻ trung, ngây thơ và rất xinh đẹp.

Marcus nhớ lại lúc anh cúi xuống đất để quan sát bà ta kỹ hơn. Da thịt trắng tinh, bộ ngực lép và vùng kín bị phơi bày một cách lõa lồ. Tóc vàng ngắn cũn cỡn trên cái đầu bị cắt lìa. Đôi mắt xanh biếc, ngước lên trời như đang cầu nguyện.

Vậy là cả bà ấy cũng trẻ trung, ngây thơ và rất đẹp. Nhưng nếu dùng mạng che mặt thì làm sao kẻ sát nhân biết được?

“Hắn biết bà ấy.”

Anh buột miệng nói và thậm chí còn không nhận ra. Đột nhiên những mảnh ghép bỗng bắt đầu ăn khớp. Chúng ghép lại trước mắt anh một bức tranh cổ của Caravaggio, như bức tranh được bảo quản tại nhà thờ Thánh Luigi dei Francesi – bức tranh chứng kiến buổi học đầu tiên trong khóa huấn luyện của anh.

Và trong bức họa có tất cả. Cornelius Van Buren, bà sơ trong tu viện kín đã thì thầm với anh “Hic est diabolus,” Battista Erriaga, Tổng lãnh thiên sứ Michele, bà lão ở làng Kivuli, thậm chí có cả Clemente.

“Hãy đi tìm điều bất thường, Marcus.” Thầy huấn luyện của anh đã nói vậy. Và Marcus đã tìm thấy.

Lần này, điều bất thường chính là anh.

“Có một tu viện kín không lớn lắm ở phía bên kia khu rừng,” Clemente đã nói. Và Marcus đang bước đi đúng về hướng đó.

Một lát sau, cây cối thưa dần và trước mắt anh hiện ra một tòa nhà thấp, mộc mạc, màu xám. Sau lớp kính cửa sổ anh nhận ra một thứ ánh sáng vàng nhạt như của nến. Và những cái bóng chuyển động chậm rãi nhưng theo thứ tự.

Linh mục ân giải tiến gần tới lối vào và gõ cửa. Lát sau, ai đó tháo chốt và mở ra. Một bà sơ đeo mạng che mặt màu đen. Bà ta nhìn anh rồi lập tức lùi lại để mời anh bước vào, cứ như thể họ đang đợi anh.

Marcus bước chân vào bên trong và trước mặt anh là những bà sơ đang đứng thành hàng. Anh nhận ra ngay mình đã không lầm. Là nến. Những bà sơ đã chọn cách lánh xa nhân loại, từ bỏ mọi thứ công nghệ hay công cụ tiện ích. Và địa điểm tĩnh lặng, lỗi thời đó nằm chính giữa lãnh thổ khiêm tốn của Vatican, trong trung tâm một đô thị rộng lớn và hỗn độn như Roma.

“Khó có thể hiểu được sự lựa chọn của những nữ tu sĩ này, rất nhiều người nghĩ rằng họ có thể đi làm phước cho mọi người thay vì giam mình giữa những bức tường của tu viện.” Clemente khẳng định. “Nhưng bà tôi thường nói rằng: Cháu không biết những bà sơ này đã bao lần cứu vớt thế giới bằng những lời cầu nguyện của họ đi.”

Giờ anh đã hiểu. Điều đó có thật.

Không ai bảo Marcus phải đi đâu. Nhưng ngay khi anh vừa chuyển động, những bà sơ lần lượt lùi lại để chỉ hướng cho anh. Vậy là anh tới một chân cầu thang. Đầu tiên anh ngó lên trên rồi bắt đầu bước lên. Đầu anh đầy ắp những suy nghĩ, nhưng giờ mọi thứ đã trở nên có nghĩa.

Tràng cười của Erriaga… “Cậu sẽ không bao giờ có được cuộc sống như những người khác. Cậu không thể trở thành người mà mình không phải. Đó là bản chất của cậu.” Hồng y Erriaga biết điều đó: Marcus sẽ tiếp tục nhìn thấy những điều bất thường, dấu hiệu của cái ác. Đó là tài năng và cũng là tai họa của anh. Và anh sẽ không thể quên thi thể què cụt của bà sơ. Van Buren đã rải quá nhiều xác chết quanh thế giới khiến Marcus không thể không tìm ra hắn. Hơn nữa, đó cũng là bản chất của anh, anh không biết làm gì khác. “Cậu sẽ trở lại.” Và quả nhiên, anh đã trở lại.

“Thế buổi học cuối cùng của tôi bao giờ sẽ tới?” Anh đã từng hỏi Clemente.

Và cậu ấy đã mỉm cười: “Vào thời điểm thích hợp”.

Đó chính là bài học cuối cùng trong khóa huấn luyện của anh. Chẳng thế mà ba năm trước Erriaga đã muốn anh tới khu rừng đó để thấy cái xác bị chặt thành từng khúc. Không có gì phải khám phá mà hồng y chưa biết.

“Một đêm nọ những linh hồn trong khu rừng đã tới để bắt hắn và tống hắn xuống địa ngục.” Cha Emile đã dịch lại lời nói của bà lão. Rồi người phụ nữ trỏ chiếc mề đay mà Marcus đeo trên cổ và anh đã tặng bà.

Tổng lãnh thiên sứ Michele, người bảo hộ cho những linh mục ân giải.

Nhưng người phụ nữ đó không làm vậy vì muốn có nó. Trên thực tế bà ấy chỉ đơn giản muốn nói với anh rằng mình đã từng nhìn thấy những chiếc mề đay giống như thế vào cái đêm mà Van Buren đã biến mất khỏi Kivuli.

Những thợ săn bóng tối – những linh hồn của khu rừng – đã tìm ra dấu vết của kẻ truyền giáo đó. Họ đã phát hiện ra hắn và mang hắn đi.

Lên tới đỉnh cầu thang, Marcus nhận ra ở phía cuối hành lang phía bên trái có duy nhất một căn phòng, từ đó phát ra một quầng sáng yếu ớt. Anh vội lại gần cho đến khi tới sát những song sắt bóng loáng và nặng trịch.

Cửa một phòng giam.

Đó là đáp án cho câu hỏi tại sao trong mười bảy năm sau vụ án ở Kivuli, Cornelius Van Buren không còn giết hại ai nữa.

Lão ta đang ngồi trên một chiếc ghế gỗ tối màu. Lưng còng trong một chiếc áo len màu đen đã sờn. Trong phòng có một chiếc giường xếp đặt sát tường và một giá đầy sách. Van Buren, quả nhiên, đang đọc sách.

Hắn luôn ở đây, Marcus tự nhủ. Con quỷ chưa bao giờ ra khỏi Vatican.

“His est diabolus.” Bà sơ đã nói với anh như vậy lúc rời khu rừng. Lẽ ra anh chỉ cần ngẫm nghĩ kỹ những lời bà ấy nói. Bà ấy đã muốn thông báo cho anh. Có lẽ bà ấy quá kinh hãi vì chuyện xảy ra với một người trong số họ. Vì thế mà bà ấy đã phá bỏ lời nguyền im lặng.

Quỷ dữ đang ở đây.

Một ngày nọ, Cornelius đã tình cờ nhìn thấy khuôn mặt của một trong những bà sơ trông chừng hắn. Bà ấy ngây thơ, trẻ trung và rất xinh đẹp. Thế là hắn đã tìm cách đào tẩu và tấn công bà ấy trong rừng khi đang ở một mình. Nhưng hắn không trốn được lâu. Ngay sau đó, đã có người tống hắn trở lại buồng giam đó. Marcus nhận ra trong góc phòng cái túi khoác vai màu xám, dưới đáy vẫn còn vết máu đã khô.

Lão già rời mắt khỏi quyển sách và quay về phía anh. Bộ râu bờm xờm, lốm đốm trên khuôn mặt hốc hác. Lão ta chăm chú nhìn anh bằng cặp mắt hiền lành. Nhưng Marcus không để mình bị đánh lừa.

“Họ nói với tôi là anh sẽ tới.”

Lời nói làm linh mục ân giải sững sờ. Nhưng đó chỉ là lời khẳng định cho những gì anh đã biết. “Ông muốn gì ở tôi?”

Lão linh mục già mỉm cười. Lão ta có hàm răng thưa, ngả vàng. “Đừng sợ, đây chỉ là một bài học mới trong khóa huấn luyện của anh.”

“Ông là bài học của tôi ư?” Anh hỏi đầy khinh bỉ.

“Không.” Lão già đáp. “Tôi là thầy huấn luyện.”

Hết

Phạm Bích Ngọc (dịch)
Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 11 năm 2025

« Lùi
Tiến »