14 Ngày Đẫm Máu

Lượt đọc: 2378 | 2 Đánh giá: 9/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NGÀY THỨ MƯỜI BỐN

Chủ nhật, ngày 10 tháng 6 năm 2018

❖ ❖ ❖

Roy Wallis rời toà Tolman lúc 7 giờ sáng để đi mua một cặp nệm hơi, gối, túi ngủ và một số vật dụng cần thiết mà anh và Guru cần trong những ngày tới. Anh hài lòng với quyết định kéo chàng trai trẻ Ấn Độ vào cuộc của mình. Guru không chỉ trút bỏ gánh nặng vô hình luôn đè nén trên vai anh, mà còn được giải tỏa khi anh cuối cùng cũng được thực sự chia sẻ mục đích chính của cuộc thi nghiệm ngủ, và cả giả thuyết mà anh đã dồn toàn lực nghiên cứu trong suốt bao năm qua.

Trên đường đi bộ đến xe của mình, Wallis tràn đầy sức sống. Mọi thứ ngày hôm nay thật tươi mới và rực rỡ: bầu trời bình minh đỏ sậm như san hô; những tia nắng ấm áp nhảy nhót khắp nơi khi mặt trời tỉnh giấc; mùi hương của cây cỏ, và bên dưới rải rác những khóm đinh hương và hạt nhục đậu khấu, chúng chắc chắn là loại thuốc diệt cỏ hữu cơ mà trường học trồng để ngăn cỏ dại mọc lấn lối đi.

Mình đã đến rất, rất gần rồi, anh phấn khởi. Một ngày nữa thôi, hoặc hai ngày nữa, giả thuyết của mình sẽ được chứng minh.

Và nếu nó đúng… chà, những suy luận từ đó hẳn sẽ không tầm thường. Qua một đêm, Roy Wallis sẽ trở thành cái tên nhà nhà biết tới, được nhắc đến ngang hàng với Newton, Einstein, Tesla, Galileo, Aristole.

Ngay lúc này nghe có chút viển vông, nhưng anh sẽ làm được.

Anh sẽ tỏa sáng, sẽ lên tới đỉnh cao vì anh được sinh ra để trở thành như vậy.

Thanh âm của Tiến sĩ Wallis vẫn vang vọng trong tâm trí Guru:

Tất cả chúng ta đều hỗn loạn theo một cách có trật tự.

Guru rùng mình.

Anh có tin giả thuyết dị thường này không? Có thực sự hoàn toàn tin tưởng không?

Nếu ai đó khác không phải Tiến sĩ Wallis nói với anh điều này, anh sẽ không ngần ngại trả lời rằng “Không”. Nhưng tiến sĩ là một trong những chuyên gia hàng đầu về khoa học giấc ngủ. Ông ấy biết mình đang nói gì.

Hơn nữa, Guru đã tận mắt chứng kiến những biến đổi của Chad và Sharon. Họ đều trở nên điên loạn ngay trước mắt anh.

Tất cả chúng ta đều hỗn loạn theo một cách có trật tự.

Guru không phải là người theo thuyết tâm linh. Khi băn khoăn về sự kỳ ảo, vô tận của vũ trụ, sự huyền diệu của tạo hóa và những bí ẩn của tâm thức, anh không tìm tới những lý giải từ sức mạnh siêu nhiên. Anh chỉ tin vào thế giới vật chất, có thể hiểu được thông qua lý luận logic của khoa học.

Vậy nên, ngay cả khi tin vào giả thuyết khác thường này của Tiến sĩ Wallis – và anh cho rằng mình thực sự tin – thì anh cũng không nhất thiết phải đồng tình với tiến sĩ về miêu tả của sự hỗn loạn như một thể dạng của “ác quỷ“. Tuy nhiên, dù nó là gì đi chăng nữa thì những sự hỗn loạn này rõ ràng không phải là một điều tốt.

Nó tối tăm, vặn vẹo và đầy nguy hiểm.

Chỉ cần nhìn vào những gì nó đã làm với hai người Úc kia.

Cảm giác tội lỗi và hổ thẹn xâm chiếm Guru khi nghĩ đến việc Chad và Sharon đánh mất lý trí của mình. Khi cuộc thí nghiệm này kết thúc, họ sẽ được đưa đến bệnh viện tâm thần, nơi họ sẽ dành những năm tháng còn lại của đời mình trong những chiếc áo trói tay [*] . Hình ảnh này còn khủng khiếp hơn khi Guru đối chiếu nó với hình ảnh hai vị khách du lịch người Úc luôn tươi cười, khỏe mạnh và thân thiện mà anh gặp hai tuần trước đó. Đặc biệt là Sharon, cô rất cởi mở với anh, tràn ngập trí tò mò, luôn luôn mỉm cười và đặt cho anh những câu hỏi.

Còn bây giờ hãy nhìn cô ấy đi… Những vết rạch, sự điên dại như mang đầy thù hận.

Tuy nhiên, không thể cứu vãn được nữa. Tâm trí của cô đã bị hủy hoại mất rồi. Và không có nút tua lại thời gian.

Nếu Wallis và Guru bỏ cuộc ở đây, thì sự hy sinh của Chad và Sharon sẽ trở thành vô nghĩa.

Vì vậy, tiến sĩ nói đúng. Chỉ có một cách duy nhất mà họ có thể làm.

Họ phải ở lại và kết thúc những gì chính họ đã bắt đầu.

[*] Loại áo dành cho người tâm thần, ống tay dài vượt quá đầu ngón tay có thể buộc lại để hạn chế bệnh nhân gây hại cho bản thân hoặc người khác.

Sau khi cho toàn bộ những đồ mua được từ siêu thị Target ở phía Tây Oakland vào chiếc cốp nhỏ nhắn của xe Audi, Wallis trượt vào sau tay lái, cắm chìa khóa vào ổ điện… nhưng không khởi động xe. Ham muốn tình dục trong anh bỗng nhiên trào lên, thiêu đốt tâm trí khiến anh không thể nghĩ đến điều gì khác. Đã hơn một tuần kể từ khi anh làm tình với Brook, và sau đó là toàn cảnh Sharon trần trụi trước mắt anh, những ham muốn giãy giụa thoát ra và anh biết nó sẽ nhanh chóng ảnh hưởng đến chất lượng công việc và khả năng tập trung của mình.

Wallis không thích thuật ngữ “người nghiện tình dục”. Nó nghe thật dơ bẩn và không phù hợp với một người có địa vị xã hội như anh. Ngay cả tên khoa học “rối loạn ham muốn tình dục quá độ” cũng không khá hơn là mấy. Song, Wallis không thể phủ nhận rằng mình bị ám ảnh bởi tình dục. Anh không có ham muốn nặng như một số người, nhưng anh nghĩ về nó – và tham gia vào nó – nhiều hơn người bình thường.

Cơn nghiện bắt đầu khi anh là một chàng thanh niên 22 tuổi, ít lâu sau khi cha mẹ anh bị sát hại ở Bahamas. Anh khám phá ra rằng tình dục giúp anh xoa dịu nỗi đau mất mát người thân của mình. Lúc đầu, anh chỉ trả tiền cho những cuộc vui của mình một hoặc hai lần một tuần, nhưng không lâu sau đó anh đã chi những khoản tiền lớn vào mỗi đêm ở mấy câu lạc bộ thoát y. Bước tiếp theo trong những ảo tưởng truy tìm khoái lạc là những đêm ở câu lạc bộ mại dâm địa phương. Rồi khi Brandy bước vào cuộc đời anh những năm sau đó, anh vẫn dành hầu hết các đêm của mình không phải với cô thì cũng là với những người đàn bà khác. Những khoái cảm của mọi thứ trước khi làm tình – sự ve vãn, những cuộc nói chuyện, uống rượu, nhảy nhót và cả những suy nghĩ như chúng ta sẽ làm hay không làm? — đều kích thích anh và trở thành một phần quan trọng trong những cuộc vui. Làm tình tập thể, những bữa tiệc bạo dâm, múa cột, thoát y, anh đã tham dự hết – và vẫn luôn luôn tìm kiếm nhiều cách chơi đùa kích động hơn trong nhục dục. Brandy tất nhiên không biết về cuộc sống hai mặt này của anh. Anh cho rằng thật không công bằng khi buộc cô mắc kẹt trong một mối quan hệ không có tương lai. Cũng bởi, không quan trọng rằng anh thích con người cô bao nhiêu, anh vẫn sẽ luôn tách biệt những giá trị cảm xúc của mình với các mối quan hệ ngoài luồng. Cô mang lại cho anh cảm giác được thuộc về một ai đó, được nuôi dưỡng về mặt tinh thần, điều mà anh vô cùng khao khát; cô khiến anh cảm thấy được cần tới, được mong chờ, điều mà anh luôn mong mỏi, nhưng bất chấp tất cả những điều này… nó chỉ rặt một sự thân mật giả tạo. Anh có một lỗ hỗng trong tim, và nó cần phải được lấp kín, nhưng chỉ một người phụ nữ thì không đủ để làm điều đó.

Bi kịch này không may lặp lại với Brook. Anh thực sự thích những khoảnh khắc ở bên cô, anh thích cách cô quan tâm mình, sự yên bình mà cô mang đến, nhưng một phần trong anh vẫn luôn sẵn sàng để bước tiếp khi phải gạt cô ra khỏi cuộc đời mình.

Loại bỏ những suy nghĩ này sang một bên, Wallis lái xe tới khu nhà thổ mở 24/7 ở Khu Tài chính của Oakland. Nơi này không phải là loại nhà thổ nghèo nàn, tàn tạ như mấy căn phòng mát-xa tình dục mà bạn có thể tìm thấy ở khắp mọi nơi. Trái lại, nơi đây là một cơ sở yêu cầu thư mời đặc biệt, chỉ dành cho những vị khách VIP nằm trong danh sách.

Nằm giữa ngân hàng và tiệm làm móng, nhà thổ này được thiết kế tương tự như một khách sạn cổ của châu Âu, và vì mục đích thuế, trên thực tế nó còn rộng gấp đôi như một khách sạn thời thượng lưu trú ngắn ngày. Wallis bước qua cửa chính vào sảnh chờ có ánh đèn mờ ảo, tràn ngập cây cỏ, một nhân viên lễ tân mỉm cười chào đón anh.

“Chào buổi sáng,” cô nói. “Quý khách đang muốn đặt phòng cho một đêm phải không ạ?”

“Không, không phải,” anh đáp.

“Ngài đã từng tới đây chưa?”

“Rồi.”

“Vậy tôi có thể biết tên của ngài được không?”

Anh trả lời, sau đó thấy nhân viên lễ tân nhập tên mình vào hệ thống máy tính, rồi nói: “Rất vui được gặp lại ngài, ngài Wallis. Xin mời đi theo tôi.”

Cô dẫn anh đến một phòng chờ riêng biệt, được thiết kế như một quán bar thanh lịch dành cho đàn ông dưới thời nữ hoàng Victoria. Ở đây có nhiều cây hơn, trên tường treo đầy những bức chân dung trừu tượng hình phụ nữ khỏa thân với tông màu trầm. Vài phút sau, người chủ của nhà thổ, người mà Wallis nhận ra, xuất hiện cùng với ba người phụ nữ khác trong những bộ trang phục thiếu vải nhưng vẫn tao nhã.

“Xin chào, Roy,” bà ta lên tiếng, bắt tay với anh. Không giống như gái mại dâm, bà ta mặc một bộ quần ảo bình thường và đi đôi giày thể thao dễ thương. “Anh thế nào rồi, anh bạn?”

“Tôi vẫn ổn, Janet.”

“Ai trong số những cô gái đáng yêu này anh muốn chọn để bầu bạn với mình vào sáng nay? Nếu anh muốn dành thêm chút thời gian riêng tư để trò chuyện với họ…”

“Không phải hôm nay,” anh xen ngang.

“Được rồi. Các cô gái?”

Họ vâng lời rời đi một cách ngoan ngoãn.

“Vậy sẽ là ai, Roy?” Janet hỏi.

Trước đây Wallis đã từng mua vui với một cô người châu Phi, còn cô người châu Á thì có vẻ hơi mập mạp so với sở thích của mình, nên anh chọn phụ nữ Bắc Âu.

“Rất tốt,” Janet đáp. “Cô ấy chỉ mới tới được hơn một tháng, nhưng ai cũng thích cô ấy. Cô ấy đã trở thành thành viên chính thức của gia đình chúng tôi. Tiền mặt hay thẻ.”

Wallis dùng thẻ tín dụng để thanh toán cho dịch vụ trong ba mươi phút. Người chủ đặt phần tiền trả cho cô gái trẻ vào một sổ kẹp như loại mà các nhà hàng hay dùng để kẹp hóa đơn, đưa nó cho Wallis, sau đó nhấc điện thoại lên. “Vivian, cưng? Ba mươi phút với quý ngài Roy.” Bà ta cúp máy và quay sang với anh: “Chúc ngài có một khoảng thời gian vui vẻ, và làm ơn hãy quay lại đúng giờ.”

Bà ta rời khỏi phòng chờ, và cô gái người Bắc Âu xuất hiện rất nhanh sau đó.

“Xin chào!” Cô tươi cười nói. “Tôi tin rằng ngài có gì đó cho tôi.”

Wallis đưa cho cô nàng sổ kẹp, và cô dẫn anh đi sâu hơn vào trong căn nhà, kiến trúc bên trong nhanh chóng chuyển đổi uyển chuyển từ phong cách thời Victoria sang Hy Lạp cổ. Phòng của cô có bốn cây cột ở bốn góc, một bể tắm nước nóng và một bức tượng nữ thần tình yêu Venus.

“Phòng tắm ở ngay đây,” cô nói, chỉ tay về cánh cửa dẫn tới phòng tắm lát đá cẩm thạch. “Em sẽ quay trở lại ngay.”

Wallis tắm nước nóng và trở lại phòng ngủ với độc một chiếc khăn tắm màu trắng quấn quanh eo.

Vivian cầm một chiếc hộp trên tay và đang sắp xếp gọn gàng các loại bao cao su, đồ chơi tình dục và dầu bôi trơn trên một chiếc bàn nhỏ.

“Anh đã tới đây bao giờ chưa?” Cô hỏi, mỉm cười với Roy.

“Rồi,” anh đáp, bắt đầu cuộc trò chuyện. “Janet nói em mới tới.”

Cô gật đầu. “Đây là tháng đầu tiên của em… trong ngành.”

Wallis đoán tuổi cô trong khoảng đầu ba mươi, có nghĩa là khá trễ trong ngành phục vụ thể xác này.

“Em từng làm trong ngành y học thể thao,” cô chia sẻ.

“Điều gì khiến em thay đổi ngành nghề của mình?”

“Tiền.”

Anh gật gù.

“Còn anh làm nghề gì, Roy?”

“Anh nghiên cứu tâm lý học.”

“Là vậy sao? Anh có biết Lisa không?”

“Anh không nghĩ vậy.”

“Cô ấy đã làm việc ở đây khoảng một năm nay. Cô ấy từng là một nhà tâm lý trị liệu được cấp phép. Có lần cô ấy nói với em rằng cô ấy cảm thấy ở đây mình còn giúp được nhiều hơn khi còn là một bác sĩ tâm lý.

“Anh có thể hiểu được,” anh đáp, liếc nhìn chiếc đồng hồ đeo tay của mình. “Để tiết kiệm thời gian, anh nghĩ chúng ta nên bỏ qua những câu hỏi rườm rà, bởi vì anh có công việc quan trọng phải đi.”

Wallis quay trở lại phòng quan sát dưới tầng hầm lúc 9 giờ 15 sáng.

“Họ có tốt hơn không?” Anh hỏi Guru, đi thẳng tới khoảng trống nhỏ trên cửa sổ quan sát và nhìn toàn cảnh căn phòng thí nghiệm. Chad vẫn ngồi đúng góc tường mà anh ta đã ngồi trước đó, chỉ là bây giờ anh ta đang ngồi đối mặt với nó, lưng quay về phía cửa sổ. Sharon đang nằm nghiêng trên giường, trong tư thế cuộn tròn như bào thai.

Guru gật đầu. “Họ hầu như không di chuyển gì từ lúc thầy đi.”

“Tốt,” Wallis nói, thầm biết ơn vì đã không bỏ lỡ điều gì. “Bây giờ em hãy ra ngoài với thầy một chút.” Trên hành lang đặt hai túi đồ lớn, anh nói với chàng trai người Ấn Độ: “Hãy lấy một túi cho mình, sau đó chọn một căn phòng để dọn đồ vào.”

Guru cầm lấy một cái túi và hỏi: “Thầy muốn dùng phòng nào, tiến sĩ?”

“Không quan trọng với thầy.” Anh nhướng mày về phía căn phòng liền kề với phòng thí nghiệm. “Căn này là được rồi.”

“Vậy em sẽ chọn phòng hướng này.” Guru đi dọc hành lang, thò đầu vào bên trong quét qua một lượt từng căn phòng rồi dừng lại ở căn phòng thứ tư. “Em thích căn này.”

Một cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng Wallis. Guru chọn đúng căn phòng mà anh từng đặt thi thể Penny.

“Vậy hãy xếp đồ ra,” anh nói với một nụ cười gượng gạo. “Tấm nệm hơi có bơm đi kèm, nhưng cứ gọi thầy nếu em cần giúp đỡ.”

Wallis cũng sắp xếp đồ đạc và bơm nệm hơi của mình, đặt túi ngủ lên trên – và nhìn chằm chằm vào chiếc giường một cách khao khát. Anh đã không ngủ cả đêm, và hai người Úc kia bây giờ cũng không làm gì nhiều. Liệu anh có nên chợp mắt một lúc…

Brook không có nhiều dự định cho ngày nghỉ. Cô bắt đầu ngày mới bằng một bữa sáng tự làm, sau đó đi bộ bốn mươi lăm phút dọc theo bờ vịnh. Vào cuối chuyến đi, cô thường ghé vào thư viện gần đó để mượn vài cuốn sách mà người thủ thư giới thiệu. Về tới nhà sẽ làm một bữa trưa đơn giản, sau đó làm việc nhà (giặt giũ, dọn dẹp, hút bể phốt nếu đầy), rồi… chuẩn bị bữa tối, chỉ với chừng ấy công việc cũng ngốn nguyên ngày của cô.

Hôm nay Brook đã dành cả buổi sáng để đi bộ quanh bến du thuyền, ăn uống và tưới cây, còn bây giờ thì cô đang ở trong bếp, làm món trứng nhồi… và nghĩ về Roy.

Trên thực tế, cô không thể ngừng nghĩ về người đàn ông này và thí nghiệm giấc ngủ của anh kể từ khi cô quay trở lại từ trường đại học vào đêm hôm trước. Việc hai đối tượng trẻ tuổi tham gia thí nghiệm đã trét phân lên mặt kính không chỉ kinh tởm mà còn rất đáng lo ngại. Họ rõ ràng đang ở trong trạng thái không tỉnh táo.

Roy rõ ràng đã rất sửng sốt trước những gì họ làm, nhưng anh mau chóng gạt nó sang một bên như thể điều đó không đáng quan tâm.

Tại sao nhỉ?

Có phải anh đã hạ thấp sự nguy hại đến từ hành vi của hai người họ để không khiến cô lo lắng, hay là anh đang mong đợi như vậy từ họ? Phát điên có phải là một hệ lụy từ việc thức trắng trong một khoảng thời gian dài? Và nếu vậy, thí nghiệm ngủ này của Roy có thực sự được cấp phép không? Bởi vì thật khó để tin rằng bất kỳ hội đồng xét duyệt nào lại phê chuẩn cho một thí nghiệm mà những đối tượng tham gia thử nghiệm phát điên.

Tất nhiên, đây chắc chắn không phải là thí nghiệm đầu tiên liên qua đến các đối tượng thử nghiệm là con người vượt qua ranh giới cho phép về mặt đạo đức. Brook, một người ham mê đọc sách, có thể rành mạch kể ra một vài ví dụ tương tự. Bác sĩ sáng chế ra vắc-xin chữa bệnh đậu mùa đã dùng trẻ em để phát triển nghiên cứu của mình. Dự án MKULtra, một nghiên cứu do CIA tài trợ, đã tiêm cho công dân Mỹ và Canada thuốc gây ảo giác LSD và những loại thuốc kích thích trí não khác trong nỗ lực phát triển các chất hóa học có thể sử dụng trong các hoạt động bí mật. Những bác sĩ ở Đại học California đã sử dụng các kỹ thuật vô nhân đạo để nghiên cứu huyết áp và dòng chảy của máu ở trẻ sơ sinh khi mới một ngày tuổi. Quân đội hoàng gia Nhật Bản đã tiến hành thí nghiệm bí mật về sinh hóa học cho chiến tranh, trong đó những nhà khoa học loại bỏ nội tạng và cắt cụt tứ chi của các tù binh Trung Quốc và Nga để nghiên cứu mức độ mất máu. Một đội quân Nam Phi và một nhà tâm lý học đã tin rằng phương pháp sốc điện có thể chữa khỏi bệnh đồng tính. Một bác sĩ phẫu thuật chính ở Nhà tù bang San Quentin đã tiến hành một cuộc cấy ghép tinh hoàn cho các tù nhân đang sống bằng cách sử dụng bộ phận sinh dục của những tù nhân đã bị hành quyết, và có một vài trường hợp còn là của dê và heo rừng. Quân đội Hoa Kỳ đã từng thả hàng triệu con muỗi gây bệnh vào Georgia và Florida để quan sát xem loài côn trùng này có thể lây lan bệnh sốt vàng da và sốt xuất huyết hay không. Và tất nhiên, mọi thứ được phơi bày trong các phiên tòa ở Nuremberg liên quan đến các thí nghiệm của Đức Quốc xã trên người Do Thái, tù binh, người Romani và các nhóm người bị đàn áp khác.

Brook lắc đầu rũ bỏ những suy nghĩ của mình khi cắt đôi những quả trứng. Thật nực cười khi so sánh cuộc thí nghiệm của Roy với Quân đội hoàng gia Nhật Bản hay Đức Quốc xã. Anh sẽ không nhúng tay vào những tội ác vô nhân đạo như vậy; anh chỉ đơn thuần là giữ hai đối tượng tham gia thí nghiệm không ngủ trong một khoảng thời gian với khí ga bí ẩn đó của mình.

Hơn nữa, cô là ai cơ chứ, một nữ bồi bàn, sao có thể nghi vấn trưởng khoa Tâm lý học của Đại học Berkeley? Roy nắm rõ những luật và quy định về công việc của mình hơn ai hết. Anh sẽ không phá vỡ chúng. Cô đơn giản là phải tin vào anh.

Brook tập trung sự chú ý của mình trở lại việc nấu nướng. Cô lấy lòng đỏ từ những quả trứng đã được luộc chín ra bát và trộn chúng với xốt Mayonnaise, mù tạt, giấm táo, muối và tiêu. Cô đánh hỗn hợp này cho đến khi thành dạng kem sệt sau đó múc từng thìa, đổ vào lòng trắng đã được cắt đôi lúc nãy. Sau cùng, cô cất những phần trứng đã hoàn thành này vào tủ lạnh, pha cho mình một tách trà, rồi bước ra hiên ở phía trước căn nhà nổi, ngồi xuống, nhìn ngắm những đám mây đen đang hằm hè mang mưa và lắng nghe những tiếng lộp độp khi mưa bắt đầu rơi xuống mái, nhưng tâm trí cô ở một nơi khác xa xôi.

Cô lại nghĩ về Roy.

Anh nói với cô rằng mình đã đuổi việc cô trợ lý đó. Có thật như vậy không? Có phải cô ấy bị anh đuổi đi hay thực tế là đã bỏ việc? Có thể do cô ấy phản đối con đường mà thí nghiệm đang hướng tới?

Ai quan tâm chứ, Brook? Chuyện gì xảy ra với mày vậy?

Cô không biết. Cô chỉ đơn thuần là cảm thấy có thứ gì đó cứ… sai sai.

Dù gì thì Roy cũng đang làm gấp đôi số giờ làm việc. Có nghĩa là anh sẽ dành mười sáu tiếng mỗi ngày dưới căn hầm đó.

Có lẽ sẽ rất buồn chán.

Và vô cùng cô đơn.

Brook nhấp một ngụm trà. Một đám mây lớn trôi qua, khỏa lấp ánh mặt trời, giấu đi những tia sáng le lói.

Mình nên chuẩn bị bữa tối cho anh ấy, cô thầm nghĩ. Sau đó mang tới vào chiều nay.

Anh chắc hẳn sẽ rất cảm kích vì món ăn và sự bầu bạn của cô.

Và cô sẽ có thể nhìn kỹ hơn thí nghiệm này của anh ấy.

Roy Wallis choàng tỉnh. Không gian xung quanh tối tăm và yên tĩnh. Nhịp tim anh đập liên hồi trong nỗi sợ hãi còn vương lại sau cơn mơ mà chính anh cũng không nhớ nổi. Đang định bước chân xuống giường để đi tới phòng quan sát thì anh bỗng cảm thấy ngứa ngứa ở sau đầu. Anh cau mày, đưa tay về phía sau để gãi – và phát hiện ra một cục nhỏ lồi lên ở ngay phần trũng giữa xương chẩm và cột sống cổ. Anh dùng các ngón tay sờ nắn. Phần lồi lên khá cứng và đặc. Anh lo lắng tiếp tục tác động lực lên phần dị thường này, cho đến khi cảm giác có máu chảy ra từ đầu ngón tay. Anh biết mình không nên làm như vậy, nhưng anh không thể dừng lại.

Khi phần da chỗ đó lật lên, anh nhận ra thứ lồi lên từ dưới da ấy được làm bằng sắt.

Một khóa kéo, Wallis suy đoán.

Anh nắm chặt khóa bằng ngón trỏ và ngón cái rồi kéo ngược lên trên. Nó di chuyển từ từ dọc theo đường răng song song, tạo ra một rãnh hình chữ Y.

Khóa kéo kết thúc ở đỉnh đầu, nhưng anh vẫn không thể ngăn mình lại, anh luồn những ngón tay đẫm máu của mình xuống bên dưới lớp da lủng lẳng và lột chúng sang hai bên, ra khỏi phần xương sọ. Lớp da dễ dàng lột ra như vỏ của một quả trứng đã được luộc chín.

Kinh ngạc, giật mình và sợ hãi, anh nhìn chằm chằm vào mớ tóc và mảng da đang ôm lấy tay mình…

“Tiến sĩ?”

Wallis choàng tỉnh. Trong một khoảng khắc khủng khiếp, anh nghĩ mình đang ở trong phòng giam. Sau đó anh thấy Guru đang cúi xuống nhìn mình, phía sau là ánh sáng hắt vào từ hành lang.

Anh nhanh chóng ngồi dậy. “Có chuyện gì sao?”

“Không… không hẳn là vậy. Nhưng có thể là đang có vấn đề ạ.”

“Em đang nói cái gì vậy, Guru?”

Trước khi Guru kịp trả lời, Wallis đã đứng dậy và bước nhanh về phía phòng quan sát. Anh nhìn xuyên qua phần kính nhỏ hẹp trên cửa quan sát.

Chad vẫn ngồi trong góc như lúc trước, quay lưng lại với Wallis. Sharon không ở trên giường của mình.

“Sharon đâu rồi?” Anh hỏi, mắt hướng về cánh cửa đóng chặt ở cuối phòng.

“Cô ấy đi vào nhà tắm gần hai tiếng trước,” Guru đáp. “Và vẫn chưa quay trở lại.”

“Hai tiếng trước.” Anh liếc nhìn đồng hồ đeo tay của mình. Bây giờ là 10 giờ 30 phút tối. “Thầy đã ngủ cả một ngày!”

“Em không muốn đánh thức thầy.”

Wallis hít sâu. Sau đó anh nhìn thấy túi đựng đồ ăn màu nâu có nhãn hiệu Chipotle đang nằm trên bàn làm việc. “Em đã bỏ việc quan sát họ để ra ngoài mua đồ ăn?”

“Em không bao giờ làm thế, thưa thầy. Em đặt giao hàng. Có burrito bít tết trong đó cho thầy.”

Đói rã, Wallis ngay lập tức cầm chiếc burrito lên, xé bỏ lớp giấy bọc thực phẩm bên ngoài và cắn một miếng to.

Guru cười. “Ngon không ạ?”

“Rất ngon,” anh đáp với cái miệng phồng to. “Em nói là Sharon đã ở trong nhà tắm hai tiếng phải không?”

“Vâng, áng chừng là thế ạ.”

“Em có thử nói chuyện với cô ta chưa?”

“Cô ấy không trả lời.”

Wallis nuốt xuống, liếm phần nước xốt dính trên ngón tay, và ấn vào nút Trò Chuyện trên bảng điều khiển.

“Sharon? Cô khỏe chứ?”

Không một tiếng trả lời.

“Sharon?”

Yên lặng.

Wallis quay sang Guru, với sự lo lắng hiện rõ trên khuôn mặt. “Sao không gọi thầy dậy sớm hơn?”

“Em không nghĩ điều này có gì đáng lo ngại, thưa tiến sĩ. Nếu cô ấy lại tự cắt thân mình, em đã có thể… nghe thấy.”

Wallis gật đầu nhưng không đề cập đến khả năng: Sharon có thể tự treo cổ mình ở trong đó.

Anh đột nhiên không cảm thấy đói nữa, liền đặt chiếc bánh xuống bàn, lau miệng và râu bằng khăn giấy rồi nói: “Thầy sẽ vào trong đó xem cô ấy thế nào.”

Căn phòng thí nghiệm vẫn nồng nặc mùi hôi khó chịu của phân và cơ thể, nay còn lẫn thêm mùi tanh của máu.

Khi bước ngang qua phòng, Wallis nhận thấy Chad xoay lưng theo hướng đi của anh như đang tránh mặt.

Anh dừng lại. “Chad?”

Người đàn ông Úc phát ra âm thanh phập phồng, đứt quãng.

Đè nén tiếng cười?

Wallis tiếp tục: “Anh có thể quay mặt về phía tôi không, anh bạn?”

Anh ta không phản ứng lại.

“Chad, anh bạn?”

Khi vẫn bị anh chàng người Úc từ chối đáp lời, Wallis quyết định sẽ giải quyết anh ta sau, rồi tiếp tục đi về phía nhà tắm, tay anh đặt trên nắm cửa.

“Sharon?” Anh lên tiếng. “Là tôi, Wallis đây.”

Những tiếng cười khúc khích vang lên nhưng nghe không giống của Sharon, nó nghe như tiếng cười ma mãnh của trẻ con.

“Cô đang làm gì trong đó vậy?”

Thêm nhiều tiếng cười như vậy vọng ra.

“Tôi vào nhé?”

“Không!” Sharon bất thình lình gào lên.

Wallis vẫn đẩy cửa vào. Nó di chuyển được vài phân trước khi đóng sầm trở lại. Sharon đã dùng lưng hoặc chân để giữ nó.

“Sao cô không muốn tôi vào?” Anh hỏi.

“Tôi không muốn ra khỏi đây!” Thanh âm của cô khàn đặc, vừa hoảng sợ vừa phấn khích, như tiếng thở hổn hển khi bị bóp cổ trong quá trình bạo dâm.

“Cô không muốn ra khỏi phòng tắm, hay phòng thí nghiệm này?”

“Phòng thí nghiệm!”

“Vậy cô không cần lo lắng về điều đó, Sharon. Tôi không có ý định ép cô ra khỏi phòng thí nghiệm đâu. Sao tôi lại làm chứ?”

“Tôi đã không ngoan.”

“Cô đã làm gì?”

Cười khúc khích.

“Sharon?”

Cô ấy lầm bầm, như thể đang nói chuyện với ai đó.

“Tôi không quan tâm cô đã làm gì, Sharon,” anh nói. “Nhưng tôi vẫn sẽ vào bất kể cô muốn hay không. Tôi khuyên cô nên tránh xa khỏi cửa đi.”

Anh không nghe thấy tiếng di chuyển bên trong.

Anh dồn lực vào vai đẩy cửa.

Nó thậm chí không hề nhúc nhích.

“Sharon?”

Tiếng cười lúc này, the thé và cuồng dại.

“Thôi được,” Wallis nói. “Cô không cho tôi lựa chọn. Tôi sẽ phải tắt khí ga đi.”

“Không!” Sharon gào lên.

“Vậy hãy để tôi vào.”

Âm thanh nức nở – hay đó là một tiếng cười khác?

Đi kèm với tiếng di chuyển chậm chạp và khó nhọc.

Anh kiên nhẫn đợi cho đến khi không còn nghe thấy gì nữa, sau đó thử mở cửa.

Cánh cửa đẩy vào bên trong một cách dễ dàng.

Wallis đã nghĩ tới một cảnh tượng rùng rợn phía sau, nhưng thực tế còn khủng khiếp hơn những gì anh dự đoán.

Máu tràn ngập sàn nhà tắm, dồn lại ở nắp cống thoát nước một lớp dày tới cả phân, bị chặn lại bởi… cục thịt. Sharon ngồi dựa vào bồn cầu, khuỷu tay co quắp vào bệ ngồi, giữ cho cô không trượt xuống. Hình ảnh cô trộn lẫn giữa một người phụ nữ đã uống quá nhiều Tequila và một người sống sót – thoi thóp – sau một cuộc tấn công dữ dội từ dã thú.

“Ôi Chúa ơi, Sharon,” Wallis hít sâu, cố gắng không để thức ăn trào ra khỏi dạ dày.

Những miếng vải băng quanh đầu và bụng cô giờ đang nằm trên mặt đất, ướt đẫm máu. Vết rạch trên bụng lớn hơn nhiều so với lúc trước, để lộ những khoảng xương sườn trắng lấp ló dưới da thịt. Bộ phận tiêu hóa thì rơi ra (hoặc bị móc ra) trên đùi, như đống mỳ Ý lộn xộn. Đặc biệt là phần ruột non của cô, Wallis nhận ra trong nỗi kinh hoàng, nó vẫn đang tiêu hóa thức ăn ngay trước mắt anh, cơ ruột đang co thắt còn dịch dạ dày được tiết ra đang trôi nổi dưới thành ruột mỏng. Ngay cả trong khoảnh khắc kinh hãi này, anh vẫn tự hỏi làm sao điều này có thể xảy ra khi cô đã không ăn gì trong nhiều ngày – cho đến khi anh nhận ra thứ đang được tiêu hóa trong ruột chính là thịt của cô.

“Chào, tiến sĩ,” Sharon lên tiếng, hai con mắt sáng rực chòng chọc đâm thẳng vào anh, khóe miệng nhếch lên nụ cười kinh dị.

“Cô đang làm gì với chính mình vậy?”

“Tôi để nó ra.”

“Để cái gì ra?”

Sharon lại bắt đầu điệu cười khúc khích đó của mình – nhưng bây giờ nó trở nên day dứt hơn trước, bởi không còn sự ngọt ngào trong giọng cười tươi trẻ kia nữa, mà chỉ còn lại sự thô ráp, tắc nghẹt phát ra từ đáy cổ họng. Đôi mắt có vẫn không rời khỏi anh, nó sáng rõ và cảnh giác một cách bất thường. Sau đó cô họ, vài tia nước đỏ phun ra ngoài không khí trước mặt. Tiếng ho tiếp tục, liên hồi, theo sau đó là những vệt máu đặc chảy dài, trào ra từ môi dưới, chảy xuống cắm và cổ.

Nhưng sức khỏe của cô không còn là điều mà Wallis quan tâm. Sự khát khao của một nhà khoa học, hoàn toàn tách rời khỏi cảm xúc, không ngừng tìm kiếm câu trả lời đã chiến thắng. “Nó là cái gì, Sharon?” Anh gặng hỏi. “Cái gì ở bên trong cô?”

Sharon lại cười. “Tôi nghĩ anh biết, tiến sĩ.”

Anh cũng nghĩ là mình biết, và anh tự thầm rủa bản thân vì đã không mang theo máy đo điện não. Anh cần phải nhìn thấy thứ đang diễn ra trong đầu cô. Anh cần chứng cứ cho cái thứ bên trong đầu cô.

“Guru!” Anh hét lớn qua vai. “Mang máy điện não đồ vào đây! Ngay lập tức!”

“Muốn tôi cho anh xem không, tiến sĩ?” Sharon hỏi.

“Cái gì?” Wallis gắt gỏng, quay lại nhìn cô.

“Muốn tôi cho anh thấy thứ bên trong tôi không?”

“Không! Đừng! Đợi chút… chờ đã, chết tiệt!”

Wallis nghe thấy tiếng cửa phòng thí nghiệm mở và sau đó tiếng lạch cách của bánh xe chở thiết bị đo điện não đồ.

“Nhìn này, tiến sĩ, nhìn đi.”

“Guru! Nhanh lên!”

Sharon đưa tay vào trong khoảng trống ở ổ bụng, nơi mà bộ phận tiêu hóa của cô đã từng ở trong đó. Cô là hét — mặc dù âm thanh nghe như một sự khoái cảm trong cơn đau – đưa tay sâu lên trên, ngay chỗ khung lồng ngực.

“Sharon, không!” Wallis hét lên, loạng choạng đổ người về phía trước để ngăn cản. Chân anh trượt trên vũng máu, anh ngã xuống sàn nhà, đầu đập thẳng xuống nền gạch. Bóng tối che phủ tầm mắt, mặc dù anh cố gắng chiến đấu để duy trì tỉnh táo.

Tuy vậy, anh vẫn không thể làm gì hơn ngoài việc nhìn theo những chuyển động chậm của Sharon trong tuyệt vọng, khi cả cánh tay của cô luồn vào sâu hơn bên trong cơ thể của chính mình, phát ra những tiếng nhớp nháp như hai chiếc lưỡi quyện vào nhau.

Rồi bỗng dưng cơ thể cô cứng lại, co giật. Cô giật mạnh tay mình ra khỏi ổ bụng một cách đắc thắng.

Wallis cố gắng chống đỡ mình lên bằng một khuỷu tay, mặc dù anh biết mình có thể sẽ sớm ngất đi.

Điều cuối cùng mà anh nhìn thấy trước khi bất tỉnh là trái tim của Sharon đang trên tay cô.

Điện thoại của Wallis rung lên trên bàn làm việc. Guru phớt lờ nó. Anh đang cứng đờ trong kinh hãi, khi nghe thấy những gì đang diễn ra ở phía cuối phòng thí nghiệm ngủ. Anh chỉ có thể nhìn thấy phần lưng của tiến sĩ khi ông đứng bên trong cửa phòng tắm nhưng anh có thể nghe thấy mọi thứ rất rõ ràng.

Cô đã làm gì với chính mình vậy?

Tôi để nó ra.

Để cái gì ra?

Toàn thân anh lạnh toát khi nghe những lời Sharon nói, bởi anh biết thứ mà cô muốn để thoát ra là gì, ngay cả khi anh vẫn chưa hoàn toàn chấp nhận khả năng tồn tại của sự thật này.

Điều này không thể xảy ra, anh thầm nghĩ. Ác quỷ không tồn tại…

“Guru!” Giọng của Tiến sĩ Wallis dội qua từ hệ thống liên lạc nội bộ. “Mang máy đo điện não lại đây! Ngay lập tức!”

Guru chạy tới góc tường, dùng một tay đẩy chiếc xe kim loại trong khi tay kia mở cửa căn phòng thí nghiệm ngủ. Anh xoay lưng lùi lại tiến vào trong, sau đó kéo xe vào.

“Guru!” Wallis hét lên. “Nhanh lên!”

Guru xoay chiếc xe một vòng để nó ở ngay trước mặt mình, sau đó đẩy về phía nhà tắm nhanh nhất có thể.

Khi anh vừa đến, Tiến sĩ Wallis đã ngã ra trên sàn nhà đầy máu và ngất đi.

“Tiến sĩ!” Guru hoảng hốt, bỏ chiếc xe lại và chạy đến. Vậy mà khi anh nhìn thấy Sharon ngồi sụp bên cạnh bồn cầu, khoang bụng mở rộng còn bàn tay thì đang cầm trái tim của mình, anh như đụng phải một bức tường vô hình. Anh nhìn cô lên cơn co giật lần cuối, trái tim trượt ra khỏi bàn tay đầy máu và rơi xuống sàn nhà ẩm ướt, âm thanh nặng trịch.

Run rẩy hít một ngụm khí lạnh và khô khốc, Guru rời mắt khỏi thi thể khủng khiếp và quỳ xuống bên cạnh Wallis. Ngón tay anh run bần bật chạm vào động mạch cổ của ông và như trút được một phần sợ hãi khi thấy nó vẫn đập nhanh và mạnh mẽ.

Suy nghĩ đầu tiên gợi lên trong đầu anh: Gọi cứu thương.

Suy nghĩ thứ hai: Gọi cảnh sát.

Anh lao về phòng quan sát, giật lấy chiếc điện thoại nằm trong túi xách và tính gọi 911 – nhưng rồi khựng lại.

Đây không phải trường hợp khẩn cấp.

Sharon đã chết. Không một nhân viên y tế nào có thể mang cô trở lại. Tiến sĩ Wallis bị chấn thương ở đầu nhưng vẫn thở được. Ông sẽ nhanh chóng tỉnh lại – và sẽ rất giận dữ nếu anh hoảng loạn và kêu gọi sự giúp đỡ.

Anh cần phải bình tĩnh lại và suy nghĩ.

Cất điện thoại trở lại túi, Guru đi về phía căn phòng của tiến sĩ và mang tấm nệm hơi của ông vào căn phòng quan sát. Sau đó anh trở lại phòng thí nghiệm ngủ. Chad đang ngồi quay lưng lại trên sàn cạnh ti vi. Làm thế nào mà anh ta có thể không có động thái gì sau tất cả những chuyện vừa diễn ra nhỉ? Guru không thể suy luận nổi nữa, nhưng nó không phải là vấn đề ngay bây giờ.

Anh trở lại nhà tắm, cố không nhìn vào thi thể của Sharon, cẩn thận không giẫm phải những cục máu đã đông trên sàn, anh nắm lấy cổ tay tiến sĩ và kéo ông trở lại phòng quan sát, một vệt máu đỏ dài đánh dấu quãng đường của họ.

Thở nặng nhọc – Wallis nặng hơn những gì anh tưởng – anh móc hai tay mình xuống bên dưới và nâng cơ thể ông lên tấm nệm hơi.

Guru loạng choạng nắm lấy lưng ghế và ngã mình lên nó. Sau vài phút, cuối cùng mọi thứ cũng trở nên yên lặng.

Sharon đã tự giết chính mình và anh đã phá hủy hiện trường vụ tự sát.

Đây có phải là một tội ác?

Anh vẫn chưa gọi 911.

Đó có phải là thêm một tội không?

Guru nghe thấy tiếng bước chân đang lại gần từ phía hành lang. Cảnh sát! Anh bật dậy, sẵn sàng đi trốn nhưng không có nơi nào cả. Bị chặn! Anh lao nhanh ra cửa, đóng chặt nó lại, chuẩn bị cho sự tấn công đến từ đội SWAT tinh nhuệ…

“Xin chào?” Giọng một người phụ nữ vang lên kèm theo tiếng gõ cửa.

Một lát sau, cánh cửa mở ra, một người phụ nữ da hơi xanh xao với mái tóc cùng đôi mắt đen ló đầu vào.

Guru nuốt nước bọt. “Ai – ai vậy?” Anh dò hỏi.

“Tôi là Brook. Bạn của Roy. Anh chắc là…” Mắt cô mở to khi nhìn thấy Wallis, toàn thân đẫm máu, đang nằm sõng soài trên tấm nệm hơi. “Roy!”

Roy Wallis tỉnh lại trên một chiếc nệm hơi trong phòng quan sát. Anh ngồi dậy, rên rỉ khi cảm thấy như có hàng ngàn mũi kim đang châm vào đầu.

“Tiến sĩ!” Guru kêu lên, xuất hiện ngay bên cạnh anh. “Ông ấy tỉnh rồi! Thưa cô, ông ấy tỉnh rồi!”

Thưa cô?

Wallis nghe thấy tiếng bước chân đang tiến lại gần từ nửa còn lại của căn phòng, và không lâu sau, Brook đang cúi xuống nhìn anh từ bên cạnh tấm nệm, khuôn mặt cô tràn đầy căng thẳng, đôi mắt thì sưng đỏ, ướt át như thể vừa khóc.

“Roy,” cô lên tiếng, dịu dàng nắm lấy bàn tay anh. “Đừng cử động nhiều quá. Anh có một vết cắt sâu trên đầu.”

Anh rút tay mình ra khỏi tay cô và chạm vào bên trái đầu mình, nhận thấy một lớp vải băng dày đang quấn quanh thái dương. Anh nhăn nhó khi cảm thấy những chiếc kim đang đâm vào sâu hơn.

“Chuyện gì…” Anh đang định hỏi có chuyện gì đã xảy ra, thì hình ảnh đẫm máu của Sharon và những vết rạch kinh khủng tràn về sống động. “Chuyện gì mang em tới đây vậy, Brook?” Thay vào đó, anh hỏi.

“Em đã cố gọi cho anh,” cô đáp, “trên đường tới đây, nhưng anh không nghe máy. Em, ừm, em nghĩ anh có thể bị đói, nên em chỉ muốn mang cho anh ít đồ ăn!” Một tiếng nức nở phát ra, cô quay mặt sang một bên để giấu đi giọt nước mắt.

“Ổn rồi,” anh an ủi. “Hít thở sâu.”

“Không hề!” Cô cắt ngang. “Trợ lý của anh đã nói với em, cô ấy chết rồi! Cô gái mà anh thuê! Máu của cô ấy vẫn còn dính trên người anh! Cô ấy ở trong căn phòng kia, cô ấy chết rồi!”

Wallis trừng mắt nhìn Guru, tự hỏi tại sao cậu ta không thể ngậm mồm mình lại được. Tuy vậy, anh nghĩ rằng cậu thanh niên người Ấn Độ này cũng không biết phải giải thích làm sao khi trông anh bây giờ cứ như đã tiệc tùng thâu đêm với kẻ giết người khét tiếng Jeffrey Dahmer.

Anh cần câu thêm chút thời gian để nghĩ ra một lý do hợp lý cho cái chết của Sharon (nói với Brook rằng cô gái ấy tự móc lấy tim mình ra khỏi ngực đơn giản là vì không còn lựa chọn nào khác), nên nói: “Tên cậu ấy là Guru, và…”

“Tại sao cô ấy lại chết, Roy? Cô ấy đã chết như thế nào? Có chuyện quái quỷ gì đang diễn ra ở đây vậy?”

“Cô ấy tự vẫn,” anh đáp.

“Nhưng máu?”

“Cô ấy tự rạch cổ tay mình.” Đây là lời giải thích tốt nhất mà anh có thể nghĩ ra. “Anh trượt chân lên vũng máu khi cố ngăn cản cô ấy.”

“Tại sao cô ấy…

Wallis cắt ngang. “Anh muốn thay đồ. Anh sẽ giải thích mọi chuyện sau.”

Brook dụi mắt. “Em sẽ đi lấy vài bộ quần áo sạch từ nhà anh…”

“Không cần đâu,” anh đáp. Anh không muốn để cô rời khỏi tầm mắt của mình trong khoảng thời gian này, cô có thể làm chuyện ngu ngốc như gọi cảnh sát. “Chắc quần áo của Chad vừa với anh thôi.”

Mặc cho những lời kháng nghị đến từ Guru và Brook, Wallis vẫn nặng nề đứng lên. Cơn choáng váng ập đến gần như khiến anh ngã ngửa ra sau, nhưng nó cũng nhanh chóng biến mất. Anh bước vào căn phòng thí nghiệm, cảm giác vững chãi hơn sau từng bước chân. Anh ngay lập tức nhìn thấy Chad vẫn đang ngồi đối mặt với góc tường như lúc trước. Anh ta kéo mũ áo của chiếc hoodie trùm kín đầu, còn đôi vai thì rũ xuống, như thể một kẻ ăn mày trên góc phố, không dám đối mặt với thế giới.

Anh ta không phải là một mối đe dọa. Ít nhất là bây giờ.

Wallis lấy trong tủ quần áo ra một chiếc quần lót, quần dài và áo len. Anh lột bỏ bộ quần áo dính máu của mình và liếc nhìn về phía nhà tắm. Anh thực sự muốn tắm nhưng không muốn gây thêm phiền phức khi phải di chuyển thi thể của Sharon ra ngoài trong khi Brook vẫn còn đang ở phòng bên cạnh. Mặc vào bộ quần áo sạch và quay trở lại tiền phòng, anh thấy lòng mình nhẹ đi đôi chút.

Guru đang đi đi lại lại đầy lo lắng. Brook đứng ở cửa, tay bắt chéo trước ngực, nhìn chằm chằm xuống sàn.

“Em không nên tới đây,” anh nói với cô.

Cô ngước lên. “Có chuyện gì đã xảy ra với cô gái đó, Roy? Tại sao cô ấy lại tự giết mình?”

“Cô ấy gặp ảo giác, cô ấy…”

“Là do khí ga phải không? Trợ lý của anh đã nói với em..

“Tên của cậu ta là Guru.”

“Guru nói với em rằng khí ga đó khiến họ phát điên. Tại sao vậy, Roy? Tại sao anh không dừng cuộc thí nghiệm này lại nếu anh biết chuyện gì đang xảy ra với họ, nếu anh biết.”

“Anh đã không biết,” Wallis quát lên. Anh nhắm chặt mắt lại một lúc vì cơn đau nhói lên trong đầu. “Anh không biết rằng cô ấy sẽ tự vẫn,” anh bao biện một cách hợp lý, mặc dù tuyên bố đó là một lời nói dối trắng trợn. “Cô ấy bị ảo giác, đúng, nhưng nó đã được dự tính trước vì sự mất ngủ kéo dài. Nó đã được chứng minh cụ thể.”

“Và rồi việc này?” Brook nói, chỉ tay về phía cửa sổ quan sát dính đầy phân. “Nó có được dự tính trước không? Nó thật… bệnh hoạn. Còn người thanh niên trong kia, anh ta có bị ảo giác không? Anh ta có tự vẫn như cô gái kia không? Anh ta cứ luôn ngồi quay mặt vào tường. Chuyện đó không bình thường chút nào, Roy!”

“Tất nhiên, hành động đó không bình thường. Anh ta đã 14 ngày không ngủ, Brook. 14 ngày. Chúng ta đang ở giai đoạn không biết trước được gì. Cho nên, từ bây giờ, anh sẽ quan sát anh ta thật kỹ, từng giây từng phút để chắc chắn anh ta… không làm những việc nguy hiểm.”

“Anh vẫn tiếp tục cuộc thí nghiệm ư?” Cô bàng hoàng.

“Nó sắp kết thúc rồi. Chỉ vài ngày nữa thôi…”

Cô lắc đầu nguầy nguậy. “Em không thể tin nổi những gì mình đang nghe thấy!”

“Nghe thấy gì cơ, Brook?” Wallis điềm tĩnh hỏi, mặc dù anh đang rất phẫn nộ vì phản ứng thái quá của cô.

“Cô gái kia đã chết, Roy! Thí nghiệm của anh đã giết chết cô ấy! Chúng ta phải báo cảnh sát.”

Wallis nghiến chặt răng hàm. “Chúng ta sẽ gọi cảnh sát, Brook,” anh nói. “Sau khi cuộc thí nghiệm này kết thúc. Một ngày nữa…”

“Có cái gì ở thí nghiệm này mà lại quan trọng đến vậy hả Roy?” Cô khăng khăng. “Có chuyện gì quan trọng đến nỗi che khuất lý trí và giá trị con người anh?”

Wallis cân nhắc đến việc giải thích mọi thứ cho cô như anh đã làm với Guru. Nhưng anh không thèm bận tâm đến nữa. Mà Brook cũng không đủ học thức như Guru. Cô sẽ không đánh giá cao giá trị cao cả của những phát kiến đó. Cô sẽ không tài nào hiểu được sự quyết tâm của anh, rằng không một thành tựu quý giá nào là không có sự hy sinh. Mạng sống của một, hai hoặc vài chục cá nhân chẳng là gì so với mục đích vĩ đại, so với việc hàng ngàn, hàng triệu sinh mạng trên thế giới đang chết đi mỗi giờ vì già cỗi, bệnh tật, tai nạn và vài lý do ngu xuẩn khác. Vậy nên ai thèm quan tâm tới một hay hai người chết thêm chứ? Mà một hoặc hai người này không hề chết trong vô ích, họ chết vì tri thức – tri thức sẽ thay đổi thế giới mãi mãi? Họ nên cảm thấy vinh dự khi được phục vụ loài người như vậy, và nếu ai đó không hiểu điều này, mà theo Wallis, thì những người đó không có giá trị tồn tại.

Anh gượng cười. “Một ngày nữa thôi, Brook,” anh nói. “Đó là tất cả những gì anh cần. Một ngày…”

Cô vung tay đánh vào không khí. “Anh điên rồi, Roy! Thí nghiệm này khiến anh điên rồi! Họ không phải những con chuột thí nghiệm! Họ là con người đấy!”

“Em có hai sự lựa chọn, Brook,” Wallis nói bằng giọng đều đều, tương phản với sự dữ dội của cô. “Em có thể ở lại đây và bình tĩnh lại khi anh đi kiểm tra Chad để chắc chắn rằng anh ta ổn; hoặc em có thể rời đi, báo cảnh sát và làm xáo trộn mọi thứ lên.”

Brook nhìn chằm chằm vào anh trong một lúc lâu, ánh mắt cô đăm đăm như đang cháy một ngọn lửa ngầm, rồi cô bừng tỉnh khi ra quyết định. Cô mở cửa, chuẩn bị rời đi.

“Aaa, chết tiệt, Brook,” Wallis gằn giọng, lầm bầm trong cổ họng, chân thành hy vọng rằng cô sẽ không phản bội mình. Khi cô bước ra ngoài hành lang, anh túm chặt lấy vai cô và kéo cô trở lại căn tiền phòng.

Cô giật mình quay đi. “Vậy để em đi…”

Wallis đấm mạnh vào hàm cô.

“Tiến sĩ!” Guru gào khóc.

Wallis nhìn cậu ta. “Thầy không thể để cô ấy đi báo cảnh sát,” anh đáp. “Em biết tại sao mà.”

Guru dùng hai tay ôm lấy cái đầu trọc của mình như hình ảnh nhân vật trong bức tranh Tiếng Thét. “Điều này quá sức với em. Quá lắm rồi.”

Wallis bước qua cơ thể của Brook và tiến tới túm chặt hai cánh tay của Guru, lắc mạnh. “Em biết thì nghiệm này quan trọng như thế nào mà, Guru! Em hiểu những gì đang diễn ra ở đây! Đừng trở nên yếu đuối như vậy, anh bạn!”

“Em biết, nhưng…” Cậu giật cánh tay mình ra và lùi lại. “Chúng ta sẽ phải đi tù.”

“Không, chúng ta sẽ không,” Wallis nói, động viên người trợ lý đang suy nghĩ về kết quả nhiều hơn về giá trị đạo đức, bởi vì kết quả, ít nhất, sẽ là lý do chính đáng. “Hãy nhìn xem,” anh nói thêm. “Thầy chỉ cần đo điện não cho Chad. Sau khi lấy được những thông tin, thầy cần..” Anh nhún vai. “Chỉ cần vậy. Chúng ta sẽ không cần tới anh ta nữa. Anh ta cũng không trụ thêm được lâu hơn đâu. Anh ta sẽ tự tử giống như Sharon thôi. Cho nên, sao chúng ta lại có tội được chứ? Chúng ta có ép họ đâu. Họ tự làm điều đó với bản thân mà.”

“Nhưng chúng ta để điều đó diễn ra, tiến sĩ.

“À! Sẽ không ai biết chuyện đó. Chỉ hôm qua thôi, em có tin rằng họ sẽ tự vẫn không?”

Guru nhăn mặt. “Họ gặp ảo tưởng và…”

“Đúng, đúng, nhưng em có nghĩ tới việc họ sẽ tự vẫn không?”

“Không,” anh chàng đơn giản đáp lại.

“Không” Wallis lặp lại. “Sự tụt dốc của họ, sự điên loạn cuối cùng diễn ra quá nhanh. Chính xác là chỉ sau một đêm. Nên chúng ta đơn giản chỉ là… nói giảm nói tránh sự thật.”

“Nói giảm nói tránh sự thật?”

“Sau khi có được thứ mình cần từ đầu của Chad, thầy và em sẽ cùng đi ăn tối để ăn mừng kết thúc thí nghiệm. Chúng ta sẽ tắt khí ga và để Chad và Sharon nghỉ ngơi trong phòng. Và khi ta quay lại vào sáng hôm sau… Họ đã làm những việc này với chính bản thân mình. Họ làm điều đó khi chúng ta không có mặt ở đây. Đây là tác dụng phụ của khí ga. Thầy không biết điều đó. Thầy sẽ ghi chú lại như một phát hiện khoa học. Kết luận là, thí nghiệm vẫn diễn ra bình thường dưới sự quan sát của chúng ta. Nhưng những chuyện sau đó thì chúng ta không thể lường trước được, và chúng ta cũng không có mặt để ngăn cản nó.”

“Thầy muốn chúng ta nói dối,” Guru khẳng định lại.

“Shiva, Krishma và Chúa Christ, Guru! Đừng giống như họ, anh bạn. Nói dối? Nếu em muốn gọi nó như thế. Nhưng với thầy, nó là một sự trình bày gần đúng về những gì đã xảy ra, nói giảm nói tránh một chút. Điều đó có gì sai chứ? Em muốn chìm vào đạo đức ư? Thế còn chủ nghĩa hậu quả trong triết học thì sao? Đánh giá sự việc đúng hay sai dựa trên những kết quả mà nó tạo ra. Hãy nghe tôi nói, nghĩ tới kết quả mà thí nghiệm mang lại, chúng ta chắc chắn là đang làm đúng.”

“Thế còn cô ấy?” Guru nhìn Brook.

Wallis cũng quay sang cô. Brook đang nằm dài trên sàn nhà, nơi cô ngã xuống. Thật sự mà nói, anh cũng không biết mình nên làm gì với cô. Anh không thể loại bỏ cô như cách mình đã làm với Penny. Anh là bạn trai của cô. Anh đã gặp bạn của cô. Hầu hết nhân viên ở Emporium đều biết hai người đang hẹn hò. Anh sẽ là nghi can đầu tiên và có thể là duy nhất nếu như cô mất tích. Và hai người thân quen với anh mất tích cùng một lúc trong vài ngày? Không, loại bỏ Brook không phải là một điều hay. “Thầy sẽ nói chuyện với cô ấy,” anh nói với Guru. “Khi cô ấy nghe tất cả những gì thầy nói, cô ấy sẽ làm theo thôi. Cô ấy có thể sẽ không vui vì cái chết của Chad và Sharon, nhưng cô ấy yêu thầy. Cô ấy… cô ấy sẽ giữ yên lặng vì thầy,” anh nói thêm, hy vọng những điều mình nói sẽ trở thành sự thật.

Sau đó, nhận ra sự giả tạo trong lời nói của mình, khi Brook đang nằm sõng soài trên mặt đất với bên hàm phải sưng vù, Wallis quỳ xuống bên cạnh cơ thể của cô và cẩn thận – yêu thương – nâng cô lên tấm nệm hơi, giống như cô đang nằm ngủ yên bình trên đó.

Wallis quay lại phía Guru với vẻ chờ đợi, “Hãy kết thúc chuyện này thôi.”

Họ bước vào căn phòng thí nghiệm.

“Chad, anh cảm thấy thế nào rồi?” Wallis hỏi.

Anh chàng người Úc không phản ứng với câu hỏi của anh.

“Anh đã rất yên lặng, anh bạn.”

Không có câu trả lời.

Wallis dừng lại khi đứng ngay sau lưng Chad, người anh ta nồng nặc mùi cơ thể và thứ mùi thứ gì đó mà anh liên tưởng đến mùi gỗ mục rữa. Anh ra hiệu cho Guru, người đang đẩy chiếc xe kim loại có máy đo điện não đồ, đến tham gia cùng mình. “Như thế này nhé, Chad,” anh nói. “Chúng tôi sẽ làm một số bài kiểm tra với anh bằng máy này, và sau đó chúng tôi sẽ để anh yên. Anh chỉ cần ngồi yên như bây giờ là được, không cần phải quay lại. Nhưng anh phải kéo mũ áo xuống.” Wallis lấy gel điện cực từ trên xe đẩy. “Anh có thể không nhớ cái máy này hoạt động thể nào,” anh tiếp tục, “nhưng nó không đau chút nào đâu. Gel này hơi lạnh, nhưng chỉ có vậy. Sẵn sàng chưa?”

Wallis kéo mũ áo của Chad xuống.

Chàng thanh niên người Úc vặn vẹo trong tiếng rít như rắn độc.

Wallis nhanh chóng đưa tay lên bịt miệng mình, và nghe thấy tiếng Guru nôn mửa phía sau lưng.

Mặt của Chad đã biến mất.

Anh ta đã bóc từng mảng da trên khuôn mặt của mình, để lộ phần thịt hỗn độn với mỡ, cơ và những mô liên kết bên dưới. Vài nơi dọc quai hàm, anh ta đã tự khoét sâu đến nỗi xương hàm trắng ẩm ướt lộ hẳn ra ngoài.

Nơi đã từng là đôi mắt xanh lam rực rỡ, giờ đây chỉ còn là hai hõm đen ngòm đầy máu. Còn vị trí của chiếc mũi thì trở thành một cái lỗ toàn chất nhầy nhụa. Đôi môi thì biến mất, chỉ thấy được phần lợi chảy máu liên tục và ngoác rộng ra như thế đang nở điệu cười gớm ghiếc.

Không có bộ phận bị thiếu nào nằm trên sàn, điều đó có nghĩa là chúng đã bị tiêu hóa.

“Lạy Chúa,” Wallis hít vào một ngụm khí lạnh, và anh thực sự cảm thấy kinh sợ con quái vật trước mắt mình. Anh tự hỏi liệu có phải Chad đã lột mặt của mình để thoát khỏi ảo giác bị nấm mà anh ta tin rằng nó đang mọc tràn lan trên đầu mình, hay giống như Sharon, anh ta đang cố để cho thứ gì đó bên trong thoát ra ngoài hay không.

Guru nói nhanh điều gì đó bằng tiếng Hindi, chắc là một lời cầu nguyện.

Wallis phớt lờ cậu ta. “Không sao, Chad. Không sao đâu. Chúng tôi sẽ không làm đau anh.” Nói đoạn anh ném lọ gel trở lại xe đẩy, vì nó không còn được cần dùng đến nữa, Chad không còn mảnh da nào trên đầu. Anh cầm đai đeo đầu lên. “Hãy nhớ rằng, anh bạn, điều này không đau đâu.”

Wallis cúi người về phía trước, chầm chậm đội nó lên đầu Chad như thể đang đội vương miện lên đầu của một vị quân vương.

Với tốc độ đáng kinh ngạc, anh chàng người Úc nắm chặt cổ tay Wallis, và ngay sau đó, anh thấy mình bị hất lên không trung. Cơ thể anh đập mạnh xuống sàn với tiếng xương cốt va chạm đầy đau đớn, lăn vài vòng trước khi dừng lại.

Anh ngồi dậy ngay khi cảm thấy mình ổn định trở lại.

Guru lùi xa khỏi Chad như cách bạn sẽ làm khi thấy một chú chó chăn cừu giống Đức đang sùi bọt mép trước mặt mình, thanh âm tắc nghẹn ở cổ. “Làm sao… bằng cách nào… làm thế nào mà anh ta làm được như vậy?” Cậu lắp bắp.

“Lùi về cửa đi,” Wallis nói với Guru.

Sau đó anh đứng dậy, tiến về phía Guru, tự nhủ sẽ không bao giờ quay lưng về phía anh chàng người Úc này.

“Không thể nào!” Guru thốt lên. “Phải cần tới sức của năm người đàn ông mới có thể ném thầy lên như vậy, giống như anh ta đã làm!”

“Hoàn toàn có thể, anh bạn ạ,” Wallis đáp, mắt anh ánh lên sự phấn khích tột độ, khi cả hai quay trở lại phòng giám sát. “Nó đã xảy ra.

“Nhưng bằng cách nào?”

“Lý giải khoa học? Adrenaline.”

“Adrenaline? Vậy là…”

“Adrenaline, enzym, protein, endorphin và cảm xúc. Khi toàn bộ phản ứng căng thẳng của cơ thể được kích hoạt, hầu hết mọi người đều có khả năng nâng gấp sáu, bảy lần trọng lượng cơ thể của chính họ. Một phụ nữ trẻ có thể nâng chiếc xe ô tô ra khỏi người cha mình khi nó đè lên ông ta. Một người đàn ông đã xé toang cánh cửa xe ô tô trong một vụ tai nạn để cứu vợ mình. Những trường hợp có sức mạnh như siêu anh hùng đó đã từng được nhắc tới.”

“Nhưng chúng ta không đe dọa Chad. Anh ta…”

“Anh ta không nhận ra điều đó. Anh ta không còn mắt để nhìn nữa.”

“Chúng ta nên làm gì bây giờ. Anh ta rõ ràng không để chúng ta kết nối mình với máy đo điện não đồ, chứ đừng nói đến chuyện ngồi yên trong quá trình kiểm tra.”

“Không, không phải khi anh ta đang ở trong trạng thái như bây giờ,” Wallis đồng ý. “Nhưng thầy có ý này.”

Roy Wallis giải thích kế hoạch của mình cho Guru Rampal, người đã miễn cưỡng đồng ý giúp anh thực hiện nó. Sau đó, anh chuyển Brook vào giường của Sharon trong phòng thí nghiệm ngủ, để anh chàng Ấn Độ có thể để mắt tới cô phòng trường hợp cô tỉnh dậy trong khi anh ra ngoài. “Nếu cô ấy tỉnh,” anh chỉ dẫn, “đừng để cô ấy ra khỏi căn phòng đó, mặc kệ cô ấy có nói gì.”

“Làm ơn, nhanh lên đi tiến sĩ,” Guru nói.

Wallis gật đầu và rời Tolman. Cơn bão kéo dài cả tuần vẫn gào rít ở bên ngoài, không hề suy giảm. Tiếng mưa rơi lộp độp, đập lên các khung cửa sổ, lốc gió quất những cành cây gần đó khiến chúng đung đưa, nghiêng ngả, lá đập vào nhau cuồng loạn. Tiếng sấm rền bất thình lình, tiếp theo đó là tia chớp chói mắt xé ngang bầu trời.

Các đồng nghiệp của Wallis ở khoa Tiếng Anh sẽ gọi đây là một điều thảm hại, còn anh sẽ gọi đó là một sự khó chịu cùng cực.

Anh cúi đầu vội vã đi dọc đường Bayard Rustin tới xe của mình, sau đó lái đi với tốc độ chóng mặt đến Phòng thí nghiệm Quốc gia Lawrence của trường Berkeley, nằm trên một ngọn đồi cao bên ngoài khuôn viên trường.

Anh lái xe qua cổng chính và đi theo con đường ngoằn ngoèo giữa những tòa nhà. Vào những ngày rảnh rỗi, anh vẫn hay ra đây để ngắm nhìn vịnh San Francisco, nhưng ngay lúc này, anh không thể nhìn thấy bất cứ thứ gì ngoài hai con đường hầm đặt cạnh nhau mà ánh sáng từ đèn pha của chiếc Audi chiếu rọi vào bóng tối.

Anh đỗ xe trái phép ngay trước cửa toà nhà 33 và xuyên qua cơn mưa đi về phía cửa ra vào. Anh quẹt thẻ tử và bước vào sảnh đợi, sự hiện diện của anh kích hoạt hệ thống chiếu sáng từ máy tính điều khiển.

Được hỗ trợ bởi Bộ Năng lượng Hoa Kỳ và được quản lý bởi trường Đại học California, Phòng thí nghiệm Berkeley đã tiến hành nhiều cuộc thí nghiệm chưa được phân loại trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau. Họ nghiên cứu tất cả mọi thứ, từ quy mô cực nhỏ của các hạt hạ nguyên tử cho đến sự vô tận của vũ trụ. Tòa nhà 33, hay còn gọi là Phòng thí nghiệm Đa dụng, được thiết kế để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà khoa học ở khắp các lĩnh vực.

Wallis leo cầu thang lên tầng ba, đi qua tất cả những phòng thí nghiệm từ độ ẩm cao cho tới thấp, trước khi đến được phòng thí nghiệm của mình. Anh mở cửa bằng thẻ từ và bước vào không gian nhỏ bên trong. Mặc dù đã loại bỏ hết đám chuột từ lâu, nhưng anh vẫn chưa đem trả hộp nuôi chuột, tủ an toàn sinh học đứng mà anh dùng để xử lý chúng, cả những vật dụng thí nghiệm đắt tiền khác vẫn ngổn ngang khắp nơi – chỉ có thứ quan trọng nhất, những liều thuốc mà anh đặc biệt giữ lại, được cất cẩn thận trong ngăn tủ có khóa.

Anh đi tới tủ, mở khóa và nhét đầy vào túi áo khoác mình những ống tiêm và lọ Vecuronium, một loại chất ức chế thần kinh cơ mà anh đã dùng trên lũ chuột trong các cuộc thí nghiệm và phẫu thuật. Nó cũng là một thành phần trong loại thuốc độc được dùng để hành quyết những tử tù ở Tennessee, Virginia và các tiểu bang khác chưa bãi bỏ án tử hình.

Wallis khóa ngăn tủ lại và chuẩn bị rời đi thì nghe thấy giọng ai đó vang lên. “Xin chào?”

Wallis sững người.

Không gian xung quanh lại chìm vào yên lặng. Việc hy vọng người đó sẽ rời đi dường như chỉ là hão huyền, nên anh bước ra khỏi phòng thí nghiệm, đóng cửa lại, và nói: “Xin chào?”

Anh nghe thấy tiếng để giày cao su ma sát trên sàn nhà sáng bóng, và sau đó một người phụ nữ trung niên mặc bộ đồ thể thao không khác gì anh xuất hiện ở góc hành lang. Sở hữu một mái tóc xám tro, khuôn mặt với nếp nhăn chảy xệ và dáng người đậm, bạn sẽ dễ nhầm lẫn bà ta với một người gác cổng trường học già cỗi, sắp nghỉ hưu. Tuy nhiên, giống như bao người trong giới học thuật, nơi ưu tiên trí tuệ hơn vẻ bề ngoài, đôi mắt bà ta vẫn rất sắc bén, tinh nhạy và hiếu kì.

“Roy!” Bà nói, vẫy vẫy đôi bàn tay mập mạp của mình. “Tôi đã tự hỏi ai lại ở đây vào giờ này!”

“Tôi cũng đang thắc mắc điều tương tự, June,” Wallis đáp, cố rặn ra một nụ cười. June Scarborough là đồng nghiệp của anh, một nhà tâm lý học, người đã hoàn thành luận án tiến sĩ về mức độ phức tạp trong hành vi của sóc. Bà và những nghiên cứu sinh của mình đã dành hai năm làm việc với các loại hạt, đồng hồ đếm giờ và máy quay phim để theo dõi mấy con sóc cáo quanh khuôn viên trường. Wallis đã gặp bà mấy lần vào học kỳ trước, khi bà đang chạy theo mấy con sóc gần khu phía tây của Berkeley.

“Hôm qua tôi để quên máy tính ở đây,” bà giải thích, vỗ vỗ trán mình. “Thật ngu ngốc! Bởi vì ngày mai tôi sẽ tới Colorade với chồng và con của mình để thăm anh chồng. Đó là cơ hội tuyệt vời để tôi nghiên cứu về loài sóc tai tua, một loài chỉ sống ở phía nam dãy Rocky.”

“Không thể tách rời công việc và thú vui hả?”

“Công việc là thú vui của tôi, Roy! Tôi yêu những sinh vật nhỏ xinh có lông hơn tất thảy thứ gì, ngoại trừ mấy đứa con tôi… Và thậm chí tình yêu của tôi dành cho con cái và mấy con thú đó cũng gần như nhau. Anh có bao giờ tự hỏi tại sao mấy con sóc lại hay đảo hạt bằng chi trước không?”

“Chưa từng. “”

“Bởi nó đang phân vân một vài yếu tố như mức độ tươi ngon hay giá trị dinh dưỡng của hạt, cũng như số lượng thức ăn sẵn có vào thời điểm có hay không có kẻ cạnh tranh – tất cả những điều này sẽ dùng để đưa ra quyết định quan trọng về việc có ăn ngay không hay chôn hạt xuống đất rồi ăn sau. Nó thật thú vị, phải không? Loài sóc giải quyết vấn đề ngay trước mắt ta, và nhiều người còn không thông minh được như thế.”

“Tôi đoán hành vi của chúng không… như bã hạt đậu… nhỉ?”

“Ôi trời, Roy!” June vỗ bụng cười trước câu nói đùa của anh. “Thôi! Đủ với những chú sóc rồi. Điều gì khiến anh tới đây vào nửa đêm vậy?”

“Cùng lý do với bà.” Anh nhún vai. “Tôi phải tới lấy vài tờ ghi chú cho công việc.”

“Vậy chúng được viết bằng loại mực không màu trên tờ giấy vô hình hả?”

Wallis hiểu ý tứ đằng sau câu nói đó: tay anh trống không. “Thật không may,” anh đáp, “chúng không có ở đây. Chắc ở văn phòng của tôi rồi. Dường như tôi cũng đang bị ảnh hưởng một chút bởi tuổi tác của mình.”

“Được rồi, tôi để anh đi lấy nó vậy. Tôi về nhà đi ngủ đây.”

“Chúc vui vẻ ở Colorado.”

Một tiếng sấm đinh tai nhức óc nổ vang trên bầu trời, gần như trực tiếp dội xuống đỉnh đầu.

“Ôi trời, cơn bão này thật đáng sợ, nhỉ? Cẩn thận nhé, đừng chết khi đi ra ngoài, Roy!”

“Cô đi được rồi đấy,” anh đáp và đi tới cầu thang.

Brook khó nhọc ngồi dậy, tự hỏi mình đang ở đâu và tại sao lại đau đến vậy. Cô chun mũi khi hít phải mùi hôi thối khó chịu khiến cô liên tưởng đến bể phốt ở nhà, chỉ có điều nơi này không phải là căn nhà nổi của cô. Cô đang ở dưới tầng hầm của..

Roy đã đánh mình.

Brook chạm vào xương hàm và thấy nó sưng vù lên, mất cảm giác. Một cơn đau khác nhói lên ở nướu khi cô dùng lưỡi thăm dò. Cô phát hiện một chiếc răng của mình đã bị đánh đến lung lay.

“Thắng khốn,” cô lầm bầm. “Anh dám đánh tôi.”

Cố gắng gượng đứng dậy. Sau một lúc choáng váng, có nhìn quanh căn phòng. Nó giống như một căn nhà thu nhỏ được trưng bày trong cửa hàng Ikea, với đầy đủ phòng ngủ, phòng ăn, phòng khách, phòng bếp và phòng tập thể dục.

Ở cuối căn phòng, cánh cửa phòng tắm hé mở, cô có thể nhìn thấy một phần cái chân rám nắng đang duỗi ra trong vũng máu.

Cô gái ấy.

Đã chết.

Nuốt xuống một cách khó nhọc, Brook nhìn về phía trước. Bên cạnh cửa sổ lớn dính đầy phân và giấy là cánh cửa dẫn ra tiền phòng.

Cô bước tới, cầm tay nắm và vặn.

Cánh cửa hầu như không di chuyển.

Cô đẩy thêm lần nữa, nó mở ra vài phân nhưng rồi lại đóng chặt lại.

Ai đó đang đứng chắn trước cửa.

“Để tôi ra, Roy!” Brook hét lên, dùng tay còn lại đập cửa.

“Tôi xin lỗi! Tôi không thể!” Có tiếng trả lời vang lên.

Đó không phải là Roy, là Guru, trợ lý của anh ta.

Cô dùng vai đẩy cửa, nhưng người đàn ông vẫn duy trì sức ép để ngăn nó mở ra.

“Guru?” Cô nói. “Là cậu phải không?”

“Đúng” cậu ta đáp.

“Tại sao cậu lại chặn cửa?”

“Tiến sĩ Wallis nói với tôi rằng không được để cô ra ngoài.”

“Roy có ở đây không?”

“Bây giờ thì không.”

Một tia hy vọng lóe lên trong cô. “Cậu phải thả tôi ra, Guru! Làm ơn? Trước khi anh ta quay trở lại.”

“Tôi không thể. Tiến sĩ Roy đã nói…”

“Đây là bắt cóc!”

“Tôi xin lỗi, thưa cô, nhưng…”

“Cô gái đã chết đang ở trong này với tôi, Guru!”

Một thắc mắc bỗng loé lên trong đầu cô, tự hỏi đối tượng tham gia thí nghiệm còn lại đang ở đâu. Cổ liếc nhìn khắp căn phòng và thấy anh ta đang ngồi ở một góc, sau mấy cục tạ, đối mặt vào góc tường.

Anh ta đang làm gì vậy?

Còn bao lâu nữa anh ta sẽ vồ lấy mình?

Brook đập cửa lần nữa.

“Hãy để tôi ra khỏi đây, Guru! Làm ơn!”

“Tôi xin lỗi nhưng tiến sĩ…”

“Kệ mẹ anh ta!” Cô hét lên. “Anh ta điên rồi! Cậu không thấy sao? Cuộc thí nghiệm này đã cướp đi lý trí của anh ta rồi!”

Guru không trả lời, cô hét lên trong tuyệt vọng. Sau đó cô đi đi lại lại, nỗi sợ hãi ớn lạnh và cơn thịnh nộ hừng hực đang đấu tranh để được trào ra trong cô. Roy đã đánh cô – đánh cô – và bây giờ, anh ta nhốt cô lại như một con thú. Làm sao đây có thể cùng là một người đàn ông mà cô yêu sâu sắc? Sao cô có thể để anh ta lừa mình đến như vậy?

Wallis không đỗ xe ở vị trí dọc theo lối đỗ của trường đại học, bởi anh thích việc di bộ một quãng ngắn đến tòa nhà Tolman, nhưng bây giờ anh đang ướt nhẹp và lạnh, anh không muốn bản thân mình lạnh hay ướt át thêm nữa. Vì vậy, anh lái xe thẳng đến trước cửa tòa nhà, đậu vào một trong ba 6 trống đỗ xe dành cho người khuyết tật.

Khi đang chuẩn bị bước vào tòa nhà thì anh nhìn thấy một chùm sáng từ đèn pin xuyên qua cơn bão chiếu thẳng vào mặt mình.

“Mẹ kiếp,” anh rủa thầm, nhận ra đó là ai.

“Xin chào, Tiến sĩ Wallis!” Roger Henn tươi cười, một tay cầm dù đen, tay kia cầm đèn pin. Anh ta mặc một chiếc áo mưa rộng rãi bên ngoài cảnh phục. Dòng chữ CẢNH SÁT màu trắng chạy trước ngực. Mái tóc ngắn bù xù, bộ ria mép ướt nhẹp rủ xuống, còn đôi má vẫn hồng hào như ngày thường. “Thời tiết này thật đáng ngại phải không?”

“Ở đây không mưa, Roger.”

“À, phải rồi.” Anh ta hạ ô, gấp lại và hướng đầu ô xuống sàn để lắc hết nước đọng. Đôi mắt anh ta nheo lại, nhìn Wallis một lượt từ trên xuống dưới. “Trông anh này, tiến sĩ,” anh ta cười nói. “Tôi chưa bao giờ thấy anh ăn mặc… bình thường. Anh lúc nào cũng đóng thùng – một cách đẹp đẽ và chỉn chu. Anh làm gì mà phải chạy khắp nơi dưới thời tiết này vậy?”

“Tôi phải đi lấy vài ghi chép từ phòng làm việc của mình.”

Không giống như June Scarborough, Roger Henn không để ý hoặc hỏi xem mấy tờ ghi chú đó đâu. Thay vào đó, anh ta gật gù hào phóng: “Tôi hiểu rồi, hiểu rồi. Vậy cuộc thí nghiệm của anh thế nào rồi? Tôi đã không gặp anh trong vài ngày.”

“Thì vẫn đi ra đi vào chỗ này thôi,” Wallis nói. “Còn cuộc thí nghiệm thì vẫn ổn, cảm ơn anh vì đã hỏi thăm.” Rồi, chợt nhận ra mình có thể biến Roger Henn thành nhân chứng vô tình trong câu chuyện mà anh và Guru đã thỏa thuận để đánh lừa cảnh sát, anh tiếp tục: “Thật ra, Rodge, cuộc thí nghiệm sắp kết thúc rồi, thật đấy. Chúng tôi sẽ có một bước đột phá vào đêm nay. Sau đó, trợ lý của tôi và tôi sẽ đi ra ngoài ăn mừng.”

Henn cười toe toét. “Anh và cô gái Trung Quốc nhỏ bé dễ thương ấy hả?”

“Cô ấy người Hàn Quốc,” Wallis sửa lại. “Và không. Tôi và anh chàng Ấn Độ đầu trọc ấy.”

“À, thế hả, vậy cũng không vui lắm nhỉ, tiến sĩ. Cô ấy quyến rũ đó chứ, phải không? Tôi cũng không thấy cô ấy dạo gần đây. Cô ấy luôn chào tôi bằng cách phát âm buồn cười của mình.”

“Cô ấy…. à…. đã bỏ cuộc thí nghiệm vài ngày trước rồi.”

Henn nhăn mặt. “Vậy ư? Làm thế nào mà…”

Một tiếng sấm vang trời dội lên như tiếng nổ lớn, khiến hai người đàn ông phải ngoái đầu ra ngoài, nhìn lên bầu trời đầy lo lắng. Một tia sét kéo theo sau đó, chia thành những nhánh nhỏ, xé toạc cả không gian.

“Chúa ơi!” Roger Henn thốt lên. “Vậy mà tôi còn phải làm cái ca chết tiệt này. Vậy là cô gái Trung Quốc đó đi rồi hả?”

“Thật không may, đúng là thế,” Wallis tiếp tục. “Mẹ cô ấy bị bệnh − ở Seoul. Penny phải trở lại Hàn Quốc để chăm sóc và ở bên bà ấy.”

“Kiểu sắp chết ấy hả? Thật không may. Tệ quá. Anh ngủ với cô ta chưa?”

Wallis chớp mắt. “Hả, gì cơ?”

“Anh ngủ với cô ta trước khi cô ả rời đi chưa?”

“Không, tôi không làm thế. Cô ấy là sinh viên của tôi.”

“Tôi chỉ hỏi thôi, bởi vì người ta đồn anh không có bất kỳ vấn đề gì với tất cả phụ nữ.”

“Ai nói vậy chứ?” Wallis hỏi, thầm nghĩ tên cảnh sát này kiếm thông tin như vậy từ đâu ra. “Mà thôi, Rodge, tôi phải trở lại làm việc đây. Có vài công việc nhỏ phải hoàn tất trước khi Guru và tôi đi ăn mừng.”

“Chắc chắn rồi, không thành vấn đề. Ước gì tôi không bị mắc kẹt ở đây, nếu không thì tôi cũng sẽ tham dự cùng hai người. Anh và tôi, chúng ta có thể hợp tác, anh biết điều tôi đang nói là gì, đúng không? Tôi đang gặp một phụ nữ đã ly dị, có vẻ như cô ấy không quá kén chọn bởi vì đã có con và có nếp nhăn.”

“Rồi anh sẽ có được cô ấy thôi, Rodge. Đừng chấp nhận lời từ chối là được.”

“Không chấp nhận lời từ chối, tôi biết rồi. À này, tiến sĩ, chính xác thì thí nghiệm của anh là để làm gì thế. Anh chưa bao giờ nói với tôi.”

“Cứ tiếp tục như vậy đi. Nhưng tôi chắc chắn rằng anh sẽ nghe về nó, sớm thôi.”

Brook nhìn thấy vài chiếc ghế bằng sắt nơi nhà bếp. Cô nâng một cái lên và mang tới phía trước căn phòng, đập mạnh về phía cửa kính quan sát khiến những mảnh vỡ bay tung tóe khắp nơi.

Người trợ lý, Guru, xuất hiện ở phía bên kia cửa sổ. “Cô đang làm gì vậy?” Guru gào lên. “Cô không thể làm thế! Dừng lại!”

Brook quay trở lại chiếc giường gần nhất, lột tấm khăn trải giường (như chưa từng được dùng đến), và quần nó quanh bàn tay phải. Cô quay trở lại cửa sổ và dùng bàn tay đã được bọc kỹ càng của mình để dọn dẹp đống mảnh vỡ thủy tinh hình tam giác lởm chởm nhô lên khỏi khung kính.

“Dừng lại!” Guru hét lên, hai tay vẫy vẫy trên đầu ra dấu mong cô ngừng lại.

“Tránh xa!” Cô cũng hét lên đáp lại, ném cái khăn ra ngang thành cửa sổ.

“Dừng lại!” Guru chạy tới, nắm lấy một bên khăn trải giường và cố gắng kéo nó ra.

“Không được!” Cô đáp, nắm chặt đầu khăn bên mình. “Buông nó ra!”

“Cô không thể làm như vậy!”

Họ kéo qua kéo lại trong vài giây cho đến khi cô thả tay ra. Mất cân bằng lực, Guru ngã bệt xuống đất.

Chạy thôi! Cô nghĩ. Bây giờ là cơ hội!

Đặt tay lên bệ cửa sổ – phớt lờ những vết cắt sắc nhọn khi những mảnh thuỷ tinh găm vào tay – Brook nhanh chóng trèo qua cửa và lao về phía trước.

Khi vào đến bên trong tòa nhà Tolman, Wallis cố gắng vuốt hết nước đọng trên râu và quần áo của mình, rồi mới đi xuống tầng hầm. Khi nghe thấy tiếng hét của Guru, anh chạy nhanh nhất có thể về phía phát ra âm thanh. Anh mở tung cánh cửa phòng thí nghiệm – và chạm phải Brook khi cô chuẩn bị lao ra ngoài.

Brook bị anh đánh bật ngược trở lại, loạng choạng lùi về phía sau vài bước.

“Có chuyện quái quỷ gì đang diễn ra ở đây vậy?” Anh lớn tiếng hỏi.

“Thầy đây rồi!” Guru cảm thán. Cậu ta đang ngã sống soài trên mặt đất cách đó vài bước, vẻ mặt nhăn nhỏ được thả lỏng rõ rệt khi nhìn thấy anh. “Cô ấy muốn chạy trốn!”

Brook chỉ tay vào mặt Wallis. “Tránh ra, Roy, cô nói, thanh âm khàn đặc, giận dữ gắn từng chữ. Vết bầm trên quai hàm bên phải của cô giờ sưng tấy lên, thâm đỏ. Biểu cảm trên khuôn mặt tràn ngập phẫn nộ như một con thú dữ: vừa lo sợ, vừa đe dọa.

“Anh không thể làm như vậy bây giờ được, Brook.”

“Để tôi đi!” Cô hét lên, nước miếng bắn ra.

“Anh sẽ làm như vậy, Brook, tất nhiên, anh sẽ để em đi,” anh cam đoan. “Nhưng phải tới khi cuộc thi nghiệm kết thúc.”

Cơ thể cô căng cứng, sẵn sàng trút hết sức lực để lao ra ngoài. Brook thở gấp. “Anh không cần phải làm thế.”

“Làm gì?”

Cô không trả lời, và sự yên lặng đó khiến anh khó chịu. Nếu cô biết được rằng anh đã từng có ý định giết mình thì cô sẽ không bao giờ dám tỏ thái độ như vậy với anh, không bao giờ.

“Làm gì cơ, Brook?” Anh hỏi lại với một nụ cười.

“Giam tôi ở đây,” cô đáp, dường như đang đoán suy nghĩ của anh và thay đổi cuộc nói chuyện. “Anh không cần giữ tôi ở đây. Tôi sẽ không… nói với ai hết, bất cứ điều gì.”

“Em đã nhắc đến việc báo cảnh sát.”

“Như là một sự lựa chọn. Nhưng nếu… anh không muốn như vậy, thì chúng ta hãy nói chuyện đi.”

“Đây không phải lúc để nói chuyện, Brook.” Anh thấp giọng. “Anh không biết liệu em có để ý tới anh bạn của chúng ta – Chad — trong căn phòng kia không, nhưng tình trạng của anh ta bây giờ cũng không tốt đẹp lắm. Anh không biết anh ta còn bao nhiêu thời gian, nên anh cần phải kiểm tra thứ trong đầu anh ta trước khi nó biến mất.”

“Roy! Làm ơn!”

“Sau đó chúng ta sẽ nói chuyện. Anh cần phải giúp Chad ngay bây giờ. Còn em, hãy quay trở về phòng thí nghiệm đi.”

“Không.”

Wallis bước về phía cô. “Đừng lặp lại những gì đã xảy ra trước đó,” anh nói đầy ẩn ý.

Ánh mắt cô đổ dồn về đôi bàn tay đang co lại thành nắm đấm của anh – cô e ngại lùi bước. Chùng vai xuống, cô quay trở về phòng thí nghiệm.

“Chặn cửa lại,” Wallis ra lệnh cho Guru, rồi đi theo cô vào phòng, đóng cửa lại.

Brook đứng ở trong bếp.

“Đi về phía cuối phòng đi,” anh yêu cầu.

“Tôi sẽ không đi đâu hết…”

“Đi về phía cuối phòng, Brook. Ngay lập tức!”

Cô miễn cưỡng đi về phía cuối căn phòng. Anh dõi theo cho đến khi cô dừng lại ở bức tường phía xa. Sau đó anh băng qua phòng đến nơi Chad đang ngồi, anh ta đã ngồi đối diện với góc tường đó suốt hai mươi bốn giờ đồng hồ.

Nhịp tim đập nhanh dần, anh có thể thấy tay mình ướt đẫm mồ hôi. Điều anh sắp làm tới đây chắc chắn phải thành công. Rõ ràng là anh có lợi thế. Chad bị mù. Tuy nhiên, ngay sau khi mũi kim đâm vào thịt Chad, lợi thế này sẽ biến mất. Điều đó có nghĩa là Wallis sẽ phải tiêm thật nhanh vào người anh ta, rồi đứng tránh sang một bên cho đến khi thuốc liệt cơ phát huy tác dụng.

Nếu làm hỏng việc này, mày sẽ bị con quái vật khỏe như gấu này đập vỡ đầu.

Mày không được làm hỏng việc.

Wallis dừng lại phía sau Chad. Anh lấy ra một ống tiêm mang theo từ phòng thí nghiệm ở túi áo khoác bên trái và một lọ Vecuronium từ túi áo khoác bên phải. Có một mảnh giấy được dán từ nắp kéo dài đến thân lọ: Cảnh báo: Chất gây tê liệt.

Cầm ống tiêm trên tay như một cây bút chì, mũi tiêm hướng lên trên, anh tháo nắp bọc mũi tiêm ra và kéo pít-tông, sau đó đẩy phần pít-tông trở lại để dồn hết khí ra bên ngoài. Anh cắm đầu ống tiêm xuyên qua phần cao su của nắp lọ thuốc và lật ngược nó lại, tiếp tục kéo pít-tông về phía sau, xa nhất có thể để chất lỏng tràn vào, thầm nghĩ: Một mũi đầy nhé, Chad, anh bạn, một mũi đặc biệt đầy .

Trong những trường hợp bình thường – giả sử một bác sĩ đang chuẩn bị cho bệnh nhân phẫu thuật – anh ta sẽ tiêm thuốc vào tĩnh mạch người bệnh. Wallis tất nhiên không có sự lựa chọn xa xỉ ấy. Thay vào đó, anh sẽ tiêm trực tiếp vào cột sống của Chad. Nó sẽ phá hủy những tế bào thần kinh dọc sống lưng và gây ra bại liệt vĩnh viễn – tất nhiên, đây chính xác là những gì Wallis muốn. ;

Wallis cúi người xuống, xem xét vị trí tủy sống của Chad bên dưới lớp áo, nhẩm đếm đến ba trong đầu, sau đó đâm kim và đẩy mạnh pít-tông để chất lỏng được truyền vào cơ thể.

Chad đứng bật dậy, gào thét trong cơn giận dữ.

Wallis lùi về sau, chuẩn bị tinh thần cho bất cứ tình huống nào xảy ra. Chad vung tay loạn xạ lên không trung, tấn công những kẻ vô hình, chiếc mũ áo hoodie trượt ra khỏi đầu. Anh ta xoay vòng vòng hòng rút cây kim đang được cắm vào lưng mình, như thể một con chó đang cố gắng bắt lấy đuôi của nó.

Rất nhanh sau đó, anh ta di chuyển chậm hẳn lại, rồi loạng choạng khụy gối, ngã đổ sang một bên. Anh ta đã ngừng động đậy hoàn toàn.

Đó cũng là lúc Brook hét ầm lên.

“Anh đã làm gì anh ta vậy? Nhìn mặt anh ta kìa! Anh đã làm gì với mặt anh ta vậy hả?”

“Anh không làm gì cả!” Wallis đáp. “Anh ta tự làm vậy với chính mình!”

“Anh ta không có mặt!”

“Brook! Nghe này! Anh không làm điều đó…”

“Nó không quan trọng. Chính những thứ thuốc của anh đã khiến anh ta trở nên như vậy.”

Cô mất hết sức lực, ngồi phịch xuống đất, hai chân co lại, gục đầu xuống và nức nở.

Wallis cố gắng hết sức phớt lờ cô. Anh đẩy chiếc xe kim loại có máy đo điện não đồ đến nơi Chad ngã xuống. Anh lật anh ta nằm ngửa và luồn dây điện cực lên phần thịt nhão nhoét đã từng là trán. Tay anh bấm mở bộ phận khuếch đại để phóng to những tín hiệu điện cực được phát ra từ hàng triệu nơ-ron thần kinh của Chad, sau đó kéo ghế ngồi xuống, nghiên cứu những đường sóng xuất hiện trên màn hình.

Giọng nói Guru phát ra từ hệ thống liên lạc nội bộ, hỏi han mọi chuyện thế nào. Wallis không biết mình đã nhìn chằm chằm vào màn hình bao lâu, nhưng anh không còn thấy dữ liệu trên đó nữa. Anh đang miên man suy nghĩ về tất cả những điều tuyệt vời sắp xảy tới trong cuộc sống của mình.

“Tiến sĩ, thầy có nghe thấy em nói không?”

Wallis giật mình trở lại thực tại, háo hức như thể một bé trai vào buổi sáng Giáng Sinh. “Guru, anh bạn tuyệt vời của tôi, vào đây!” Anh nói với một nụ cười tươi.

Anh thấy Brook đã ngẩng đầu lên vì tò mò, trước sự ồn ã đột ngột.

“Mọi chuyện xong cả rồi, Brook,” anh nói với cô, nụ cười như thể kéo dài đến tận mang tai. “Chúng ta thành công rồi.”

“Anh đang nói gì vậy, Roy?”

Guru mở cửa bước vào.

“Lại đây nào, anh bạn.”

Guru nhìn Brook đầy e ngại.

“Cô ấy không cần phải tránh đi,” Wallis nói. “Cô ấy sẽ muốn nghe những điều mà thầy sắp thông báo đây. Thầy chắc chắn đấy. Cô ấy sẽ rất muốn nghe những điều này.” Anh mở rộng cánh tay. “Lại đây nào anh bạn, ôm thầy nào.”

Guru nhíu mày. “Thầy?”

“Chúa ơi!” Wallis bước về phía anh chàng người Ấn Độ và nhấc bổng cậu lên khỏi mặt đất trong chiếc ôm thật chặt, xoay một vòng trong tiếng cười sảng khoái. Khi đặt Guru xuống, anh xoa chiếc đầu bóng lừ của cậu đầy cảm thán. “Em đã ở lại cùng thầy, anh bạn. Em. Đã ở lại. Cùng. Thầy.” Anh vỗ vai Guru, có lẽ vì quá phấn kích nên Guru suýt chút nữa ngã nhào.

“Có chuyện gì vậy, Roy?” Brook hỏi.

“Khoa học thần kinh 101,” Wallis nói, chuyển ngay sang trạng thái giảng dạy trên cương vị một tiến sĩ. “Những tế bào não – hay còn gọi là nơ-ron thần kinh – giao tiếp với nhau bằng sóng điện cực và chúng luôn hoạt động, ngay cả khi ta ngủ, và cũng vì những sự giao tiếp này mà chúng ta có những suy nghĩ, cảm xúc và hành động. Về cơ bản, trạng thái có ý thức là một trạng thái thay đổi liên tiếp của sóng điện cực. Não của Brook, của thầy, của Guru, có khoảng một trăm tỉ các nơ-ron thần kinh. Điện não đồ” — anh chỉ về phía màn hình trên chiếc xe đẩy – “có thể ghi lại những hoạt động của các nơ-ron. Hãy tưởng tượng ném một viên đá xuống giữa một cái ao tĩnh lặng, việc này tạo ra những gợn sóng lan trên mặt nước. Và giờ hãy so sánh viên đá đó như một nơ-ron thần kinh và cái ao là bề mặt não, gợn sóng là sóng não, Em theo kịp không, Brook?”

Cô gật đầu.

“Tốt, bây giờ hãy nghe đây, cả hai người, bởi vì điều tiếp theo rất quan trọng. Thay vì ném một viên đá xuống ao, hãy tưởng tượng ta ném cả một nắm. Ta sẽ nhận được rất nhiều những gợn sóng liên tiếp trùng lặp. Điều này tương tự như khi ta có nhiều nơ-ron đồng thời phát ra những đợt sóng điện cực: ta cũng sẽ nhận được rất nhiều những đoạn sóng não trùng lặp. Điện não đồ phát hiện ra những con sóng này và chia chúng thành các dải tần khác nhau được đo bằng Hertz. Các sóng delta chậm có tần số nhỏ hơn 4Hz. Sóng Theta nằm trong khoảng từ 4 đến 8Hz. Sóng Alpha là từ 8 tới 12. Còn dao động Beta phát ra nhiều nhất khi chúng ta tỉnh, là ở giữa khoảng 14 và 30Hz; và sóng Gamma là nhanh nhất, ở giữa 30 và 80Hz. Các sóng não, hay còn gọi là độ dài của dao động, cùng nhau tạo nên phổ ý thức liên tục của con người, luôn phản ứng và thay đổi dựa vào cảm xúc. Khi một dao động chậm lại, chúng ta sẽ cảm thấy mệt mỏi và uể oải. Khi một dao động tăng lên, chúng ta sẽ cảm thấy tỉnh táo và nhanh nhẹn. Vậy cho nên, tất cả những đoạn sóng xuất hiện trên màn hình khi đo điện não cho Chad này là gì? Là trạng thái có ý thức của Chad. Và như một nhà tiên tri dự đoán bằng việc đọc lá trà, để nhìn vào thế giới tự nhiên ẩn sâu bên trong, tôi có thể đọc những dao động này để nhìn thấy thứ bên trong đầu Chad.”

“Và…” Guru phấn khích hỏi.

“Sau khi loại bỏ những tác nhân gây ảnh hưởng từ bên ngoài và thông tin không liên quan từ bên trong, tôi phát hiện ra toàn bộ quang phổ… sóng não ẩn, thầy cho rằng có thể gọi như vậy, mặc dù tất cả chúng đều sở hữu biên độ và tần số khác với bình thường.”

Guru và Brook ngơ ngác nhìn anh, chẳng khác nào những con nai trước ánh đèn pha.

“Sóng não ẩn!” Anh lặp lại, cố gắng hết sức để giữ bình tĩnh trước sự kích động của bản thân.

“Nó có nghĩa là, các tình yêu của tôi ơi,” Wallis tiếp tục, nụ cười tươi hơn bao giờ hết, “rằng cái thứ nằm trong não của Chad, là một trong hai trạng thái có ý thức tồn tại riêng biệt.”

“Không thể nào!” Guru thốt lên ngay lập tức.

“Vậy mà có thể đấy, anh bạn. Bằng chứng ở ngay đây, ngay trên màn hình này.”

“Hai trạng thái có ý thức?” Brook thắc mắc. “Ý anh là giống như đa nhân cách?”

“Không phải vậy,” Wallis giải thích. “Tôi không nói về chứng rối loạn nhân cách bình thường. Trên thực tế, có hai dạng thức tỉnh riêng biệt bên trong anh ta. Hai người trong một. Hay nói cách khác, thầy ngờ rằng đó là nguồn gốc tồn tại của loài người, một người và một ác quỷ.”

Brook đứng bật dậy. “Anh đang nói gì vậy, Roy? Điều này thật lố bịch!”

“Đừng vội phán xét, em yêu, khi mà còn rất nhiều thứ em chưa biết.”

Anh lặp lại với cô tất cả những gì mình đã nói với Guru mấy ngày trước. Lũ chuột với bộ gene bị biến đổi, dẫn đến sự ra đời của khí ga gây kích thích. Tầm quan trọng của những giấc ngủ siêu ngắn, hoặc sự thiếu ngủ, và việc mất ngủ hoàn toàn có thể biến lũ chuột thành những con thú ăn thịt đồng loại man rợ. Cuối cùng là giả thuyết của anh, rằng tất cả những sinh vật trên thế giới này đều được sinh ra với sự điên loạn có sẵn bên trong, chỉ là nó được kìm hãm bởi bản năng và giấc ngủ.

Brook đã cắt ngang lời anh cả nghìn lần, nhưng sau khi nghe anh giải thích mọi sự thì sự hoài nghi của cô được thay thế bằng vẻ nghiền ngẫm thấu hiểu. Còn tốt hơn thế, cô không còn tỏ ra sợ sệt như lúc trước. Trên thực tế, anh còn nghĩ rằng liệu mình lại có thể có được cô như lúc trước không.

“Để em thẳng thắn với anh nhé, Roy,” cô nói. “Lúc nãy anh có nhắc đến ác quỷ. Đây là từ anh dùng. Một con người và một ác quỷ bên trong chàng trai này. Có phải ý anh đang muốn nói rằng… sự điên loạn… bên trong chúng ta là quỷ?”

“Một con quỷ. Ác quỷ. Cả địa ngục bên trong nó. Gọi nó bằng bất cứ cái tên gì em cảm thấy phù hợp. Tất cả đều là phép ẩn dụ cho sự cuồng loạn bên trong chúng ta, đây là điều anh lý giải cho những hành động điên rồ mà chúng ta làm.”

Brook nhìn Chad, rồi lại nhanh chóng hướng ánh mắt đi nơi khác, làn da cô trở nên càng tái nhợt. “Vậy là sự điên rồ trong anh ta đã khiến anh ta làm vậy với chính mình…”

Mắt Wallis mở to.

Chad đang ngồi dậy.

Sau khi bị tiêm một liều lớn Vecuronium – vào cột sống – điều này đáng lẽ là không thể.

Wallis lấy thêm một lọ thuốc từ túi áo, hút đầy một ống tiêm rồi đi vào giữa căn phòng. Anh hết sức nhẹ nhàng khi lại gần Chad, vì biết rằng anh chàng người Úc này vẫn có thể nghe được. Anh lặng lẽ cúi người xuống trước mặt Chad, vẫy tay trước khuôn mặt đã bị phá hủy hoàn toàn của anh ta. Người đàn ông không có phản ứng gì.

Wallis không để lỡ cơ hội.

Anh đâm thẳng mũi tiêm vào tim anh ta.

“Không” Brook khóc nấc lên – nhưng đã quá muộn.

Wallis đã đẩy hết chất lỏng chết chóc kia vào tim Chad. Anh ta rít lên – thanh âm khô khốc, khò khè vang lên từ cuống họng – nhưng chỉ có thế. Sau đó anh ta ngã ngửa người ra sau và nằm im bất động.

“Anh nói mọi chuyện đã kết thúc rồi mà, Roy!” Brook gào khóc. “Anh nói…”

“Mọi chuyện lẽ ra phải kết thúc, Brook. Anh đã tiêm cho anh ta một liều nặng gấp mười lần bình thường vào cột sống. Đáng lẽ ra..” Anh không muốn kết thúc câu nói vì sợ cô cảm thấy ác cảm, nhưng vẫn nghĩ thầm: Đáng lẽ ra nó nên làm tê liệt toàn bộ cơ trong cơ thể anh ta, kể cả phần cơ để hô hấp, và rồi do thiếu trợ lực của bộ phận hô hấp, anh ta sẽ chết vì thiếu ô-xy.

“Đáng lẽ ra gì cơ, Roy?”

“Không có gì.”

“Đáng lẽ ra nó đã giết chết anh ta?”

“Nhìn anh ta đi, Brook!” Anh quát lên. “Em nghĩ rằng anh ta vẫn sẽ sống sót sau tất cả những việc đã xảy ra sao? Em nghĩ anh ta muốn sống sót sao?”

Cô quay lưng lại với anh, kìm nén tiếng khóc.

Wallis đứng dậy và đi về phía cửa.

“Thầy đi đâu vậy, tiến sĩ?” Guru hỏi.

“Đi tắt khi ga.”

Sau khi tắt khi ga, Roy Wallis quay trở lại phòng thí nghiệm và nói: “Bây giờ thì nó kết thúc thật rồi, Brook.”

Cô lau những giọt nước mắt đang rơi và hít vào một hơi thật sâu. “Được rồi.”

“Được rồi?” Anh lặp lại lời cô với vẻ ngờ vực.

“Đúng thế,” cô đáp.

“Nghĩa là sao?”

“Nghĩa là… em ổn với… mọi thứ.”

Wallis nhìn cô thăm dò. Anh không đoán được liệu cô đang nói thật hay cô chỉ đang nói điều mà anh muốn nghe. Mà anh chắc là vế sau đúng hơn.

“Vậy em nghĩ chúng ta nên làm gì bây giờ?” Anh hỏi Brook.

“Em nghĩ… Anh muốn làm gì?”

“Guru và anh đã có kế hoạch đi ăn mừng. Đúng không, anh bạn?”

Guru thận trọng gật đầu.

“Ăn mừng,” Brook lặp lại.

“Anh biết em đang nghĩ gì, Brook. Sao chúng ta có thể ăn mừng khi có hai người đã chết trong tay chúng ta, phải không?”

“Cuộc thí nghiệm của anh đã thành công vang dội, Roy. Không nghi ngờ gì, nó chắc chắn sẽ thay đổi cả thế giới, hoặc thay đổi cách chúng ta nhìn nhận thế giới. Đúng, anh nói đúng. Có hai người đã chết ở đây.” Giọng cô nghẹn lại ở mấy chữ hai người chết, nhưng cô vẫn tiếp tục. “Chúng ta không thể chối bỏ sự thật. Cảnh sát cũng sẽ không làm lơ, mặc cho những thành tựu của cuộc thí nghiệm. Nhưng anh và trợ lý của anh có kế hoạch đi ăn mừng?”

“Anh hiểu điều em đang nói, Brook. Rõ ràng và rành mạch. Vì vậy, hãy để anh giải thích. Cách đây chưa đầy hai mươi bốn giờ, Chad và Sharon vẫn sống sờ sờ. Họ tuy gặp ảo giác, nhưng vẫn ổn về mặt thể xác. Sharon tự kết liễu chính mình chỉ trong sáng nay. Lúc đó anh đang ngủ. Guru đã đánh thức anh dậy. Và việc gọi cảnh sát cũng không thể cứu sống được Chad. Anh ta đã tự hủy hoại mình. Anh không biết những điều này bởi vì anh ta trùm mũ áo lên. Anh ta đã tự làm vậy từ bao giờ.”

“Anh biết điều mình đang tìm kiếm, phải không, Roy?” Brook hỏi. “Anh biết về cái gọi là ý thức ẩn kia từ trước đúng không?”

“Đúng.”

“Nó có xảy ra với lũ chuột của anh không?”

“Có.”

“Và điều đó là chưa đủ đối với anh? Anh bắt buộc phải thử cái khí ga đó lên con người sao?”

“Chúng ta đi lệch chủ đề rồi, Brook,” anh đáp ngắn gọn. “Điều anh muốn làm rõ ở đây là, nếu anh kết thúc cuộc thí nghiệm ngay sau cái chết của Sharon và gọi cảnh sát, thì chúng ta sẽ không tranh luận về mảng xám hợp pháp ở đây. Sharon đã ký cam kết. Cô ấy biết rằng có thể sẽ có rủi ro khi tham gia cuộc thí nghiệm này. Thật không may, cô ấy không tránh nổi những rủi ro đó.”

“Nhưng cô ấy không được biết về cấp độ của những rủi ro đó, phải không? Cô ấy không biết chuyện gì đã xảy ra với lũ chuột, đúng không?”

“Hãy nghe anh nói hết đã, Brook. Nếu anh dừng cuộc thí nghiệm này lại, nếu anh báo cảnh sát, anh sẽ không thể nào đo được sóng não của Chad, và cuộc thí nghiệm sẽ trở nên vô nghĩa. Chad và Sharon sẽ chết một cách vô ích. Vậy nên, nếu anh thực sự có tội, thì chỉ là đã không thông báo cái chết của Sharon ngay tức khắc. Anh thậm chí còn không biết nó được quy thành tội nữa là. Nhưng tại sao lại phải lội qua bùn trong khi ta có thể đường hoàng đi trên con đường không hề có nó?” Anh giơ một tay lên, kiên định với lập trường của mình. “Hãy tưởng tượng tình huống như thế này. Chad và Sharon vẫn còn sống. Họ chỉ… hơi bất thường, do thiếu ngủ… nhưng họ vẫn sống và chưa hủy hoại bản thân. Anh đo điện não cho Chad, cuộc thí nghiệm kết thúc, anh tắt khí ga, và chúng ta ra ngoài ăn mừng, em, anh và Guru. Khi anh quay trở lại vào buổi sáng, anh thấy hai người họ đã ở trong tình trạng này rồi. Họ phản ứng một cách tồi tệ khi không còn khí ga và anh lại không có mặt lúc đó. Họ phát điên và thực hiện những hành vi tự hại bản thân khủng khiếp này khi anh không nhìn thấy. Anh không thể bị đổ lỗi bởi điều họ làm. Không ai phải chịu trách nhiệm về chuyện đó cả. Vậy thôi.”

Brook im lặng.

Guru cúi nhìn đôi giày của mình.

“Tất cả những gì chúng ta đã làm, Brook,” Wallis tiếp tục, “là trì hoãn việc gọi cảnh sát. Hãy nghĩ tới thành quả của cuộc thí nghiệm, em không nghĩ rằng việc trì hoãn gọi cảnh sát vài tiếng sẽ là trọng tội đấy chứ? Ý anh là, anh vừa chứng minh được ý thức thứ hai tồn tại trong mỗi cá thể loài người..

“Anh có nghe thấy gì không?” Brook xen ngang.

Wallis nhìn về phía Chad.

“Em thề,” cô tiếp tục. “Em nghe thấy anh ta nói gì đó.”

“Em cũng nghe thấy, tiến sĩ,” Guru lên tiếng góp thêm phần khẳng định.

“Không thể nào!” Wallis băng qua phòng và dừng lại trước Chad. Anh ta trông chẳng khác gì đã chết. Thực ra, Wallis vẫn chưa kiểm tra động mạch cổ của anh ta sau khi tiêm thuốc tê liệt vào tim, nhưng không đời nào lại có ai đó vẫn có thể sống sót được sau mũi tiêm này.

Nhưng cũng không có ai sống sót được sau khi bị tiêm thuốc tê liệt vào cột sống.

Một cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng, Wallis kiểm tra mạch đập ở cổ tay Chad. Anh không cảm thấy…

“A!”

Wallis giật nảy mình.

“Thấy chưa!” Brook nói.

“Làm sao có thể?” Wallis hít một ngụm khí.

“Anh ta nói gì vậy, tiến sĩ?” Guru hỏi.

“Thầy… thầy không biết. ‘A, hình như là vậy.”

“A?” Brook nói. “Chúa ơi, anh ta đang bị đau!”

Tim đập mạnh, Wallis rón rén đến gần cơ thể Chad. “Chad?” Anh gọi. “Anh bạn?”

“Aaaaa…” Anh ta rên lên thành tiếng mà không cử động lỗ hổng toàn răng và xương, nơi đã từng là miệng của anh ta.

“Không thể nào,” Wallis thốt lên. “Hoàn toàn không thể nào.”

“Aaaaaaa…”

“Giúp anh ta đi, Roy!” Brook khóc lóc.

Wallis nhận ra Chad vẫn đang đeo dây điện cực trên đầu. Anh đập bàn phím để đánh thức cái máy. Sóng não của Chad xuất hiện lên màn hình, chỉ là bây giờ…

“Chúa ơi,” anh thở nặng nề.

Guru xuất hiện bên cạnh anh. “Chuyện gì vậy, tiến sĩ?”

“Không thể nào…”

“Chuyện gì?”

“Ý thức thứ hai không phải là ý thức ẩn nữa, mà đó là ý thức duy nhất của anh ta.”

Bỗng nhiên Chad bắt đầu lên cơn co giật, như thể đang gặp phải một cơn động kinh lớn.

“Giúp anh ta đi!” Brook nức lên van xin.

“Đừng chạm vào anh ta!” Wallis yêu cầu.

Tức thì, Chad hét lên một tiếng lớn, chói tai. Đầu anh ta giật liên hồi. Xương cổ lộ rõ như sợi dây thừng với mấy nút thắt. Tay anh ta hết nằm chặt lại thả lỏng, còn cơ thể thì co giật từng cơn. Hai hàng máu dày, đặc quánh trào ra khỏi hốc mắt và mũi.

Sau đó, cơn co giật dừng lại. Chad nằm bất động trên sàn nhà.

“Thầy nhìn này!” Guru nói, chỉ vào màn hình.

Những dao động nguệch ngoạc của sóng não Beta ẩn trong não Chad biểu thị sự hoạt động của vỏ não và trạng thái tập trung cao độ đã biến chuyển từ từ thành sóng Theta ẩn có tần số thấp và chậm hơn.

Rồi giây phút tiếp theo, tất cả đều trở thành một đường thẳng.

“Anh ta chết rồi!” Guru nói.

“Lúc trước anh ta ngủ thiếp đi,” Wallis thốt lên ngạc nhiên. “Thật kì diệu!”

“Lần này anh ta chắc chắn đã chết hẳn chưa?”

Wallis đá nhẹ vào cơ thể Chad. “Có lẽ vậy.”

“Ý thầy là sao, tiến sĩ, khi nói ý thức ẩn của anh ta là ý thức duy nhất?”

“Chính xác là vậy, Guru. Con người Chad đã chết, và tất cả những gì còn lại là con quỷ bên trong anh ta.”

“Có phải vì thế mà thuốc không có tác dụng với anh ta không?”

“Thầy đoán thế. Và thầy còn dám cá rằng anh ta – hoặc nó – không phải đang nói đau. Mà là ‘tả. Nó biết rằng tôi đã tắt khí ga đi, và nó biết nó phải duy trì trạng thái tỉnh táo hoặc nếu không…”

Cả hai nhìn vào thi thể của Chad một lần nữa.

“Vậy con quỷ đã chiếm được anh ta,” Guru nói, cảm thấy sợ hãi bởi khả năng này. “Nó đã ám được vào anh ta.”

Wallis gật đầu. “Nó khiến ta ngẫm lại những trường hợp bị quỷ ám và những lễ trừ tà hàng thế kỷ qua không phải là chuyện bịa đặt. Có lẽ các nạn nhân trên thực tế đã chống chọi với tình trạng mất ngủ nghiêm trọng…”

“Ôi Chúa ơi, tiến sĩ,” Guru lắc đầu. “Đây không phải là điều tốt. Không tốt chút nào. Chúng ta đã mở chiếc hộp Pandora ra rồi! Khi những người khác biết đến khám phá này, khi họ bắt đầu không còn tin vào Chúa… Điều gì sẽ xảy ra nếu những con quỷ này số lồng và chiếm hữu? Không chỉ một vài cá nhân, mà là toàn bộ nhân loại?”

Wallis mỉm cười. “Đoạn tóm tắt của Sách Khải Huyền khá hay, đúng không?”

“Em không nói đùa, tiến sĩ! Chúng ta đã làm gì vậy?”

“Bình tĩnh nào, anh bạn! Em náo loạn lên vì gì chứ Chúng ta đâu có mở cánh cổng địa ngục. Chúng ta chỉ đơn thuần là định vị nơi mà chúng ta đang ở mà thôi. Em có hiểu không? Chúng ta không phải kẻ xấu! Chúng ta là anh hùng.”

Cánh cửa nối giữa phòng thí nghiệm giấc ngủ và phòng quan sát đóng sầm lại.

Brook đã chạy trốn.

Roy Wallis ngay lập tức đuổi theo, dừng lại khi hành lang hẹp mở ra trước chiếc thang máy không hoạt động và vài phòng tắm. Cầu thang chính được đặt khuất tầm nhìn phía bên trái thang máy, rất dễ bị lướt qua. Trái lại, cầu thang phụ nằm ngay góc phải. Bố cục này thật dễ làm người ta mất phương hướng, và trong những ngày đầu tiên của cuộc thí nghiệm, anh rất hay đi nhầm cầu thang – nhầm lẫn bởi vì nó dẫn tới nhà kho ở tầng trệt, thay vì tới cửa chính của tòa nhà.

Wallis không có cách nào biết được Brook đã đi hướng nào, nên anh chọn đại cầu thang chính. Nó dẫn anh tới sảnh có màu đỏ xen lẫn với sắc xanh như màu của trái đào và bơ. Toàn sảnh trống không. Liếc mắt nhìn về một trong bốn cửa ra vào bằng kính, không thấy có dấu hiệu có người thoát ra ngoài, có nghĩa là Brook cũng có thể mất phương hướng và đi nhầm vào cầu thang phụ.

Wallis đi cắt ngang về phía Tây, dọc theo hành lang tối tăm và thở phào khi thấy bóng dáng của Brook ở một trong những hành lang phân nhánh phía trước, đang chạy về phía mình.

Nhìn thấy anh từ xa, cô hét lên trong kinh ngạc, dừng lại và chạy ngược về phía sau, trốn khỏi tầm mắt khi đi qua một ô cửa dẫn trở lại cầu thang phụ.

Wallis theo sát gót chân cô, leo hai bậc cầu thang một lúc, đôi mắt bắt đầu làm quen với bóng tối. Mặc dù không thể nhìn thấy cô, nhưng anh có thể nghe thấy tiếng giày ma sát trên sàn xi măng phía đầu cầu thang, cho thấy cô đã đi qua tầng một. Khi đi tới tầng hai, anh dừng lại để nghe ngóng. Anh phát hiện tiếng bước chân của cô đang chạy ra xa khỏi hành lang của tầng lầu này. Biết rằng mình có thể lạc dấu cô giữa mê cung các dãy hành lang, anh đẩy nhanh tốc độ, chạy hết tốc lực, và rất nhanh sau đó đã thấy cô trong tầm mắt mình một lần nữa. Cô chỉ ở phía trước cách anh năm mươi thuớc, đang chạy về phía đông dọc theo hành lang dài, nó dẫn tới các phòng ban của khoa Tâm lý học và Giáo dục.

Cô rẽ trái và lại khuất tầm nhìn. Anh đến vị trí đó chỉ năm giây sau đó và theo cô vào thư viện. Dù những chiếc tủ gỗ, bàn ghế đều đã được dỡ bỏ, nhưng không hiểu vì lý gì mà nhà thầu đảm nhận việc phá dỡ lại để lại những chiếc tủ sách bằng thép.

Xuyên qua những giá sách trống – những cuốn sách đã được chuyển đi từ lâu tới Gardner Stacks và Thư viện Nghiên cứu Xã hội – Wallis thoáng thấy Brook đang leo cầu thang lên gác lửng.

Anh biết chắc rằng mình tóm được cô, bởi đó là cầu thang duy nhất để đi lên và đi xuống gác lửng đó.

Chậm lại để điều hoà nhịp thở, anh nói: “Dừng lại đi, Brook! Em đang làm cái quái gì vậy hả? Anh nghĩ rằng em đã hiểu chứ. Anh tưởng em sẽ hợp tác?

“Để em yên!” Cô hét lên từ phía trên. “Đi đi!”

Anh bước lên cầu thang. “Anh sẽ không từ bỏ đâu, Brook,” anh nói dối. “Chúng ta vẫn có thể xử lý được chuyện này. Chỉ cần trở lại tầng hầm với anh thôi.”

“Biến đi, Roy! Em đã gọi cảnh sát rồi! Họ đang trên đường đến đây!”

Một nỗi sợ hãi thoáng lướt qua, trước khi anh tự nhủ rằng cô đang nói dối. Brook không mang theo điện thoại khi anh chuyển cô từ nệm hơi lên giường của Sharon, lúc cô bị bất tỉnh. Điều này có nghĩa là nó hẳn phải nằm trong túi xách của cô được đặt trên bàn làm việc trong phòng quan sát. Và tất nhiên cô không thể nghĩ tới việc lấy điện thoại ra khỏi túi và mang theo khi chạy trốn khỏi phòng thí nghiệm, bởi vì tại sao không đơn giản là cầm theo cả chiếc túi, có phải sẽ dễ dàng và nhanh hơn không, cho nên anh hoàn toàn không có gì để lo lắng cả.

Khi lên đến bậc thang trên cùng, Wallis phát hiện ra Brook đang đứng ở những hàng giá sách cuối cùng, trên mỗi giá chia ra khoảng bảy hoặc tám tầng, lo lắng nhìn trái nhìn phải, biết rằng mình không còn chỗ để chạy trốn nữa.

Anh bước dần về phía cô.

“Tại sao anh lại làm vậy, Roy?”

“Làm gì, Brook? Em là người đã chạy trốn điên cuồng như một con gà mất đầu.”

“Làm ơn, hãy để em đi.”

“Hãy trở lại tầng hầm với anh.”

Cô chạy sang phải, anh liền chạy tới chỗ cô vừa đứng. Ngay lúc đó, cô kéo cả thanh sắt chia ngăn của giá sách vào khoảng trống giữa họ.

Anh đẩy nó trở về chỗ cũ, cô lại đẩy mấy thanh song song với nó ra.

Cuối cùng, giữa họ chỉ còn lại một thanh sắt chắn ngang.

Họ ở gần nhau đến nỗi anh có thể nhìn thấy mồ hôi chảy ròng ròng trên khuôn mặt chìm trong bóng tối của cô và cả nỗi sợ hãi tràn ngập trong đôi mắt.

“Điện thoại của em đâu, Brook?”

Cô không trả lời.

“Không phải em nói rằng đã gọi cảnh sát sao?”

Cô bước sang trái. Anh cũng bước sang trái.

Cô bước sang phải. Anh cũng bước sang phải.

“Không còn chỗ nào để chạy nữa đâu, Brook.”

“Em đã từng yêu anh, Roy.”

“Phải vậy không?”

“Tại sao anh lại làm vậy?”

“Tất cả những gì anh làm, Brook, là ngăn cản em phá hủy công trình cả đời của mình.”

“Em không làm gì cả!”

“Không phải những điều em đã làm. Mà là những điều em sắp làm. Em đang phản bội anh.”

“Em không hề, Roy. Em chỉ muốn về nhà.”

“Nếu anh để em rời đi, em sẽ trở về căn nhà nhỏ của em, trèo lên giường và quên đi việc em đã tới đây vào tối nay?”

“Đúng!”

“Nói láo!”

Anh giả bộ chạy sang trái để vòng qua giá sách. Cô chạy sang phải, nhưng rồi nhận ra rằng anh không đuổi phía sau mình, cô dừng lại.

Chậm rãi, đầy tự tin, Wallis bước trở lại để đứng đối diện với cô một lần nữa.

“Em muốn chạy bao lâu nữa, Brook?”

“Em sai rồi, Roy. Em không nên chất vấn anh. Anh không thể cứu được Chad. Em hiểu rồi. Em đứng về phía anh.”

“Tốt,” anh nói, “Giờ hãy trở lại tầng hầm với anh.”

“Tại sao?”

“Để anh có thể trông coi em.”

“Trong bao lâu?”

Wallis nghiên chặt răng hàm. Trò đổ chữ bắt đầu. Cả hai đều biết ý định thực sự của người kia. Họ chỉ đơn giản là đang lãng phí thời gian của nhau.

Wallis lao sang bên trái, quyết định cách duy nhất để kết thúc chuyện này là tóm được cô, ngay cả khi anh phải chạy vòng qua vài giá sách đang chắn đường.

Brook chạy sang phải, nhưng thay vì vòng một vòng qua giá sách để sang đầu bên kia, cô lại cắt chéo về phía mấy cái cột chỗ lan can bao quanh gác lửng.

“Brook!” Anh hét lên, tin rằng cô sẽ nhảy xuống.

Nhưng cô không làm thế. Cô hạ thấp người, dùng tay bám vào mép lan can, treo mình rồi từ từ thả tay để khoảng cách giữa chân cô và mặt đất được thu hẹp.

Tới khi cô thả tay ra khỏi đó thì anh lao đến, muốn túm lấy tay cô.

Cô đáp đất với một tiếng rên đầy đau đớn, rồi khi Wallis đang suy tính có nên làm giống cô hay quay lại cầu thang để đi xuống, thì cô đã bò dậy và chạy thoát lần nữa.

“Chết tiệt!” Anh chửi thề và chạy về phía cầu thang.

Guru Rampal biết rằng mình đã gây ra họa lớn.

Lẽ ra anh đã có thể làm khác đi sau khi Sharon tự vẫn và gọi cảnh sát. Bằng việc đồng ý làm theo kế hoạch của Wallis là giữ bí mật về cái chết của cô cho đến khi cuộc thí nghiệm kết thúc, anh đã tự dấn thân vào con đường mà ở mỗi bước chuyển không ngờ tới, nó lại càng khó để rời đi hơn, bất kể anh có muốn như thế nào.

Và cuối cùng, nhìn xem, nó đã đưa anh tới đâu.

Sharon chết rồi.

Chad cũng chết.

Brook…

Đúng thế, chuyện gì xảy ra với Brook, người phụ nữ xinh đẹp đó?

Nếu Wallis bắt được cô ấy, thầy ấy sẽ không ngồi yên nghe cô nói đâu. Thầy ấy đã đấm vào mặt cô. Thầy ấy cầm tù cô một cách bất hợp pháp.

Nếu Wallis bắt được cô… thầy sẽ không để yên, không… thầy sẽ không để cô đi.

Thầy ấy sẽ giết cô ấy.

Guru không thể tin vào suy đoán ấy của mình, nhưng sau tất cả mọi chuyện đã diễn ra trong vài giờ qua, anh biết rằng việc đó hoàn toàn có thể.

Mình không thể để thầy ấy làm vậy!

Không, không thể.

Guru bắt đầu tính toán các phương án trong đầu.

Khi Brook chạy đến được hành lang, cô biết mình có hai lựa chọn: chạy hoặc trốn.

Bản năng của cô nói rằng cô phải chạy, nhưng lý trí khẳng định Roy có thể bắt được cô. Anh ta nhanh hơn cô; anh ta biết kiến trúc tòa nhà này rõ hơn cô.

Hơn nữa, ngay cả khi cô tìm được đường ra ngoài, cô sẽ đi đâu? Xe của cô đậu cách nơi này một dãy nhà. Không ai xung quanh có thể trợ giúp cô.

Đầu cô xử lý những suy nghĩ này trong vòng chưa đầy một giây, và rồi nó đi đến kết luận nhanh chóng:

Trốn.

Cô chui vào căn phòng thứ hai bên trái hành lang.

Nó trống rỗng nhưng tối mù.

Cô đi về góc phòng, phía bên trái cánh cửa, nơi bóng tối dường như dày nhất.

Cô chờ đợi.

Khi Roy Wallis chạy ra khỏi thư viện, anh mong đợi sẽ nhìn thấy Brook đang chạy hết tốc lực dọc hành lang về phía cửa chính của tòa nhà.

Nhưng không có ai ở đây.

Anh dừng chân, lắng nghe. Không thấy có tiếng bước chân của cô.

Điều này không đúng.

Âm thanh trong tòa nhà rỗng này hẳn phải được truyền đi khắp nơi, giống như tiếng vọng trong một căn phòng khổng lồ không có đồ đạc. Đoán rằng cô không thể đi trước quá xa, vì anh vẫn có thể nghe thấy tiếng cô chạy, dù cô có đang ở phía nào.

Trừ phi, cô ta quyết định không chạy.

Wallis bắt đầu rón rén đi về phía hành lang trước mặt, che giấu tiếng bước chân của mình. Sáu lớp học nằm phân bố dọc ở hai bên lối đi. Anh bước vào căn phòng thứ nhất bên trái. Mưa đập mạnh vào mấy khung cửa sổ lớn đối diện với đại lộ Hearst. Mặc dù mắt đã quen với sự thiếu ánh sáng, nhưng chúng cũng không thể nhìn xuyên qua bóng tối đen kịt, che kín mấy góc phòng ở phía xa. Chỉ khi nào anh đi tới chính giữa căn phòng mới có thể nhận ra rằng không có ai ở đây. Anh quay trở lại hành lang và tiến vào căn phòng đầu tiên bên phải.

Vẫn trống.

Dạ dày anh co thắt với suy nghĩ rằng Brook có thể đã lén chuồn được ra ngoài, rằng cô đang trên đường tới chỗ cảnh sát để phá tung cuộc thí nghiệm trước khi anh kịp dọn dẹp và sắp đặt mọi việc theo câu chuyện của mình một cách hợp lý.

Con khốn! Anh rủa thầm, mắt vằn lên những tia đỏ. Mình đáng lẽ nên kết liễu cô ta khi có cơ hội!

Anh quay trở lại hành lang và đi vào phòng học thứ hai bên trái. Một tiếng sấm nổ đinh tai nhức óc rung chuyển trời đất, và Wallis bất giác quay lại, nhận thấy Brook đang lần mò, bò ra ngoài cánh cửa phía sau anh.

Anh nhanh nhẹn bám theo cô một cách lặng lẽ, rút ngắn khoảng cách giữa hai người xuống chưa đầy năm bước chân trước khi cô nghe thấy – hay cảm nhận – được anh.

Brook ngoái đầu về phía sau, đôi mắt mở to đầy kinh sợ và hét lên một tiếng the thé. Cô đứng dậy, chạy thật nhanh – nhưng quá trễ rồi.

Tay phải anh đã túm được vạt áo cô, giữ cô lại. Cô quay cuồng, vung tay tứ tung. Anh dùng cả hai tay che ngực cô. Sau đó cô hét lên, vặn vẹo, dùng hết khả năng đấm đá loạn xạ, khiến anh suýt chút nữa đã tuột tay, không thể giữ được cô.

“Dừng lại đi, Brook!”

“Để tôi đi!”

“Dừng lại!”

Anh đẩy mạnh cô sang một bên. Brook đập vào bức tường xi măng rồi bật ra, ngã khuỵu xuống bằng hai tay và đầu gối. Đứng từ trên cao nhìn xuống, hai tay anh nắm chặt lấy cổ áo cô và dựng thẳng cô dậy.

“Hai lựa chọn, Brook,” anh gầm gừ, khuôn mặt dí sát vào mặt cô. “Đi xuống tầng hầm với anh, một cách văn minh lịch sự, hoặc anh đánh ngất em rồi nắm tóc kéo xuống. Chọn đi!”

Guru đang ngồi ôm đầu trên giường của Chad trong phòng thí nghiệm khi Wallis lôi Brook vào.

“Cám ơn vì sự giúp đỡ, anh bạn,” Wallis mỉa mai.

Guru ngước lên. “Em đang đợi thầy quay trở lại, tiến sĩ. Em muốn nói với thầy rằng – em không thể làm nữa.” Ánh mắt cậu lướt nhanh qua Brook.

“Không thể làm gì?” Wallis hỏi.

Bất ngờ và đầy cường điệu, Guru lôi ra một con dao cắt bít tết giắt ở cạp quần sau lưng mình. Cậu ta run rẩy chĩa mũi dao về phía trước.

“Cái quái gì đây?” Wallis tức giận hỏi.

“Đừng làm hại cô ấy, tiến sĩ!”

“Bỏ con dao chiết tiệt đó xuống.”

“Thả cô ấy đi!”

Wallis cân nhắc tình huống, sau đó nói: “Em đang làm loạn mọi chuyện lên đấy, anh bạn. Nhưng tôi vẫn sẽ để cho em một con đường.”

Guru nhíu mày. “Ý thầy là gì?”

“Giết cô ta bằng con dao này.”

“Cái gì?”

“Cô ta sẽ báo cảnh sát về chúng ta…”

“Em sẽ không…”

“Im mồm, Brook!” Wallis hét lên, ánh mắt sắc lẹm cho đến khi cô không còn giao tiếp với anh bằng mắt. Sau đó anh quay sang nói với Guru, “Cô ta sẽ báo cảnh sát về chúng ta. Sẽ tố cáo chúng ta về cái chết của Chad và Sharon.”

“Nhưng chúng ta không làm gì cả…”

“Đúng, chính xác, anh bạn. Chúng ta không làm gì sau khi Sharon chết. Chúng ta chỉ tiếp tục cuộc thí nghiệm với Chad. Nhưng cảnh sát sẽ không thấy điều đó. Nếu em giết Brook, chúng ta sẽ không còn vấn đề gì nữa. Chúng ta sẽ quay lại vào ngày mai và thấy ba cái xác.”

“Ba?”

“Giống như thầy đã nói với em từ trước. Cuộc thí nghiệm kết thúc. Chúng ta tắt khí ga. Đi ra ngoài ăn mừng. Còn bây giờ – đây là một bước ngoặt mới. Brook đến để theo dõi hai người Úc giùm chúng ta trong khi họ ngủ. Họ bắt đầu hành động bất thường. Cô ta đi vào phòng thí nghiệm để kiểm tra, họ giết cô ấy, sau đó tự sát. Nghe còn hay hơn cả câu chuyện trước!”

Sau tuyên bố này, một sự yên lặng đáng sợ bao trùm toàn bộ căn phòng. Rồi Brook bắt đầu khóc nức lên. Guru lắc đầu nguầy nguậy.

“Không, tiến sĩ,” cậu nói, vung con dao. “Chúng ta không thể! Không thể!”

“Chúng ta không còn lựa chọn nào khác!”

“Đây là giết người!”

“Chúa ơi, Guru, em có muốn vào tù không?”

“Điều này không thể xảy ra. Làm thế nào mà thầy có thể đưa em tới con đường này?”

“Thầy sẽ giữ cô ta. Tất cả những gì em phải làm là dùng gối bịt mặt cô ta lại. Sau đó mọi chuyện sẽ kết thúc…”

Một thanh âm khàn đục như có gì mắc nơi cổ họng, bẩn thỉu, ghê rợn, vang lên từ phía bên kia của phòng thí nghiệm.

Chad đang ngồi dậy.

Và cười lớn.

Roy Wallis không thể tin nổi vào mắt mình, nhìn chằm chằm vào thứ ghê tởm không có khuôn mặt với vẻ hoài nghi.

Không thể nào, hoàn toàn không thể nào, Chad vẫn còn sống. Mình đã thấy anh ta chết! Mình đã chứng kiến sóng não của anh ta phẳng lì!

Nhưng anh ta ở đó, đang ngồi dậy.

Và cười lớn.

Vào chúng ta?

Chad đẩy người đứng dậy bằng hai chân, không phải theo kiểu vặn vẹo, nghiêng ngả, ì ạch của xác chết sống lại, mà theo cách nhẹ nhàng, nhanh nhẹn của một người đàn ông 22 tuổi trong tình trạng khỏe mạnh.

“Anh là ai?” Wallis hỏi khi bị sự thật trước mắt giáng một đòn. “Anh là ai?”

“Tôi. Nghĩ. Ông. Biết.”

Mặc dù khuôn miệng đã không còn đôi môi để thấy được sự chuyển động, nhưng từng từ từng chữ chắc chắn được thốt ra một cách rõ ràng từ cái hố đang ngoác ra vĩnh viễn kia.

Wallis loạng choạng lùi về phía sau một bước. Guru và Brook chết sững, chôn chân xuống đất vì sợ cứng người, trợn mắt há hốc mồm không thể tin những gì đang diễn ra trước mắt,

“Anh là ai?” Wallis hỏi lại lần nữa, xấu hổ bởi nỗi sợ hãi trần trụi trong chính giọng nói của mình.

“Ngươi,” thứ-từng-là-Chad đang đáp lại anh với chất giọng khàn khàn. “Con thú trong ngươi… thứ ngươi đang trốn khỏi… ở trên giường của ngươi.” Anh ta tiến về phía trước, không có mắt nhưng bước chân vững vàng. “Cái thứ mà ngươi cố gắng đè nén… mỗi đêm.” Thêm một bước. “Chúng ta là ngươi.”

Gằn lên một tiếng trầm thấp, Guru lao nhanh ra cửa.

Thứ-từng-là-Chad kia di chuyển cực nhanh. Nó lao qua phòng, đâm vào giường của Sharon. Nó khuỵu gối xuống nệm, nhưng nhanh chóng đứng dậy sau chưa đầy một giây.

Nó bắt được Guru khi cậu chỉ kịp chạm đến cánh cửa, tóm lấy cậu thanh niên người Ấn từ phía sau và ném mạnh trở lại căn phòng thí nghiệm, như thể cậu chẳng nặng hơn con búp bê giấy là mấy.

Guru chắc hẳn phải bay lên không trung mười lăm thước trước khi đập vào tủ lạnh. Con dao văng ra khỏi người, kêu lên lách cách rồi yên vị trên sàn.

Thứ-từng-là-Chad đó nghiêng đầu sang một bên.

Nó đang nghe , Wallis nghĩ thầm.

Guru dường như cũng nhận ra điều đó, cậu ngay lập tức ngậm cái miệng đang thở dốc của mình lại, để tránh phát ra tiếng động dù là nhỏ nhất.

Nó di chuyển về phía bếp.

Nó lướt qua Wallis chỉ một bước chân. Anh đang dùng hết ý chí để đứng bất động và giữ mình yên lặng.

Còn Brook thì đã hóa thành một bức tượng trắng bệch rồi.

Thứ kia tiếp tục đi về phía âm thanh cuối cùng mà nó nghe thấy.

Với đôi mắt mở to, Guru chầm chậm đưa hai tay lên, thận trọng như thể bị dí súng vào đầu rồi bịt chặt miệng.

Thứ-từng-là-Chad kia xoay đầu sang trái, rồi sang phải.

Khi phải đối mặt với cơn ác mộng đang tiến tới, bàng quang của Guru không chịu nổi. Chỗ đũng quần kaki màu be của cậu sẫm lại, rồi lan tới hai chân, nước tiểu chảy ra, phun đầy sàn nhà.

Thứ kia phát hiện âm thanh.

Nó nắm lấy đầu của Guru, nâng cậu lên đủ cao để tay chân lơ lửng trên không trung.

Guru hét ầm lên, Wallis nghĩ rằng đó là tiếng thét của sự đau đớn tột độ, vì thứ kia đã dùng ngón cái cắm vào hai hốc mắt của Guru như thể chúng là mấy cái lỗ trên quả bóng bowling.

Máu tuôn đầy hai má anh chàng người Ấn như hai dòng nước mắt bằng máu.

Lùi lại phía sau cảnh tượng kinh hoàng một cách nhẹ nhàng nhất có thể, Wallis chuồn ra khỏi căn phòng thí nghiệm mà không ai biết.

Brook lấy đủ can đảm để theo sau anh, họ cùng nhau chạy về phía căn phòng quan sát. Ngay khi Wallis mở được cánh cửa thông ra hành lang, anh nghe thấy thứ-từng-là-Chad đó rên rỉ, sau đó đang cật lực đuổi theo.

Nó đã nghe thấy tiếng cửa mở.

Nó đang tới.

“Chạy!” Brook hét lên từ phía sau, xô anh qua cánh cửa.

Wallis chạy hết tốc lực. Anh không do dự khi đến chỗ thang máy không hoạt động. Anh lao thẳng qua nó, rẽ phải để đi về phía cửa chính. Chỉ vài phút sau, anh đã ra được tầng trệt. Anh đẩy mở một trong những cánh cửa kính và chạy ngay ra ngoài. Trong cơn hoảng loạn và vội vã, anh vấp phải chính đôi chân của mình và chúi đầu về phía trước, đầu gối và lòng bàn tay trượt trên nền đất trơn trượt của lối đi, khiến cơ thể anh lăn hai vòng. Tuy nhiên, anh đứng bật dậy ngay sau đó, loạng choạng chạy về phía chiếc xe của mình, tạ ơn Chúa vì mình đã đỗ xe ở ngay trước cửa tòa nhà.

Anh rút chìa khóa xe ra khỏi túi, bật nút mở khóa, mở cửa xe phía người lái rồi trượt vào bên trong. Cùng lúc đó, cửa xe bên ghế hành khách mở ra, Brook nhảy vào ngồi cạnh anh.

Cả hai cánh cửa đều được đóng lại ngay trước khi cái thứ kia túm được họ trong màn đêm giông bão.

Wallis vươn tay tính với lấy nút khởi động, nhưng trước khi kịp ấn xuống, Brook giữ cổ tay anh lại.

Cô lắc đầu thầm thì: “Không.”

Wallis nhìn ra sau cô thì thấy thứ-từng-là-Chad kia.

Nó đang đi về phía họ, nhưng mất phương hướng. Nó mất dấu họ rồi.

Tiếng động , Wallis nhận ra.

Anh gật đầu để Brook biết rằng mình đã hiểu ý của у cô, mặc dù tay anh vẫn giữ nguyên ở vị trí nút khởi động, sẵn sàng ấn xuống bất kỳ lúc nào.

Thứ-từng-là-Chad kia lao thẳng vào chiếc Audi. Nó tức giận đấm thẳng xuống trần xe, rồi bắt đầu đi vòng quanh. Nó di chuyển tới phía bên Wallis và dừng lại ngay cạnh cửa sổ ghế lái. Nó đứng đó trong vài phút dài đáng sợ, tỏa ra mùi nguy hiểm, im lặng, không còn nghi ngờ gì nữa, nó đang lắng nghe chuyển động bằng thính giác phi thường của mình, thứ mà dường như chỉ phù hợp với sức mạnh siêu nhiên kia. Wallis không hiểu nổi học thuyết sinh lý đằng sau những khả năng đáng kinh ngạc này, và anh nhận ra rằng: thí nghiệm về giấc ngủ vẫn chưa đi tới được kết luận cuối cùng. Trên thực tế, nó chỉ vừa mới bắt đầu.

Có quá nhiều thứ để tìm hiểu về… linh hồn ác quỷ.

Có quá nhiều thứ để tìm hiểu về… chúng ta.

Linh Hồn Quỷ – cái tên mà bây giờ Wallis dùng để gọi thứ kia — đang đối mặt với đại lộ Hearst.

Wallis nhìn thấy một chùm ánh sáng xuyên qua bóng tối đang di chuyển về phía mình, cách chừng mười lăm mét.

Brook cũng nhìn thấy, hơi thở cô bắt đầu dồn dập.

Nghe thấy tiếng thở, cái thứ đó quay trở lại chiếc chiếc xe, cúi xuống để nhìn xuyên qua cửa sổ phía tay lái bằng hai hõm mắt đỏ lòm, rỗng tuếch.

Wallis không dịch chuyển. Không dám thở. Một giọt mồ hôi chảy qua lông mày, chảy vào mắt trái anh, cay xè.

Anh không dám chớp mắt.

“Roy?” Giọng nói xa xăm của Roger Henn cất lên từ xa. “Là anh đúng không?”

Linh Hồn Quỷ biến mất khỏi cửa sổ, xuất hiện ngay sau đó khi di chuyển cực nhanh bằng cả bốn chân về phía người cảnh sát.

“Không!” Brook hít vào một ngụm khí, cố ấn còi xe.

Wallis nắm chặt lấy tay cô và nói: “Em đang làm cái quái gì vậy?”

“Nó sẽ giết anh ấy!”

“Còn hơn là giết chúng ta!”

“Roy, không! Đủ rồi!”

Nhận thấy mình không thể giật tay ra khỏi sự kìm kẹp của Wallis, cô hét lên.

Linh Hồn Quỷ dừng lại, nhìn về phía chiếc xe.

“Này, ai ở đó vậy?” Roger Henn cất tiếng, chạy về phía nó.

Màn mưa dày đặc và bóng đêm tối như mực cản trở tầm nhìn khiến ông ta không thể thấy rõ con quái vật trước mắt, cho đến tận khi đứng trước mặt nó. Ông sựng lại, lắp bắp, “Này anh… bạn… Ôi trời!”

Brook bấm còi…

Linh Hồn Quỷ ngó lơ tiếng còi inh tai. Nó vồ lấy Roger Henn. Vị cảnh sát to lớn, nhanh nhẹn xoay vòng, tránh được sự tấn công trực diện, rút súng ra và giơ lên.

“Đứng yên!” Anh hét lớn, chĩa vũ khí vào thứ đó. Rồi, ngay lập tức, “Cảnh sát đây!”

Tiếng sấm nổ ầm ầm trên đầu. Tia sét xé toạc màn đêm, tạo ra một hiệu ứng ánh sáng bất ngờ trên bầu trời, xua tan bóng tối. Linh Hồn Quỷ lồm cồm tiến về phía viên cảnh sát. Henn nổ hai phát súng vào mục tiêu, khiến nó ngã xuống mặt đất.

Brook mở cửa xe. Wallis túm lấy cô và kéo cánh cửa đóng trở lại.

“Để em đi!” Cô hét lên.

“Im miệng!” Wallis rít lên.

“Roy?” Henn gọi, tiến lại đủ gần để nhận ra chiếc Audi.

“Roy?” Henn nhắc lại, giọng cao hơn bình thường. “Chuyện gì đang diễn ra vậy? Chuyện gì đã xảy ra với anh chàng này vậy?”

“Cứu!” Brook hét lên. “Cứu tôi!”

Wallis đấm thẳng vào miệng cô, khiến cô đập vào cửa xe, máu rỉ ra từ môi, nhưng vẫn duy trì được ý thức. Anh đấm thêm một cú nữa, lần này là vào mũi, nghe thấy cả tiếng sụn mũi cô kêu răng rắc. Cô ngất lịm.

“Ra khỏi xe ngay, Roy!” Viên cảnh sát Roger Henn hét lên. “Tôi có thể thấy anh! Thả cô gái kia ra!”

Nhưng tất cả những gì Roger Hann có thể nghĩ là: Mình đã bắn anh chàng kia, mình đã giết anh ta, chết tiệt, mình giết anh ta rồi! Và đồng thời nghĩ: Chuyện gì đã xảy ra với anh ta vậy? Anh ta không có mặt! Nhìn như là nó đã bị gặm vậy!

“Nghe tôi nói không, Roy? Ra khỏi chiếc xe đó ngay và đặt tay anh ở nơi mà tôi có thể – Chúa ơi!”

Henn chết sững, nhìn chằm chằm người đàn ông không có mặt với hai phát đạn vào ngực đang dần đứng dậy, chống lên bằng đầu gối, rồi đứng thẳng hai chân.

Henn lại giơ cao khẩu Glock 22 lên, nhưng hành động như thể Lazarus [*] của con quái vật kia khiến anh cứng đờ. Trước khi anh kịp bắn thêm một phát súng, thứ kia đã nhào tới, đè anh xuống đất, cào và cắn xé cơ thể anh với sức mạnh và sự tàn nhẫn không thể tin nổi.

Wallis tức thì ấn nút khởi động, lùi xe và lao ra khỏi điểm đỗ. Anh gạt cần xe lên mức một và nhấn chân ga. Suy nghĩ đầu tiên của anh là phải phóng nhanh xuống đại lộ Hearst. Tuy nhiên, trong cùng một khoảnh khắc, anh thay đổi ý định và xoay vô lăng sang trái về phía Linh Hồn Quỷ. Chiếc xe với thứ ánh sáng trắng chói mắt từ đèn pha LED húc thẳng về phía cơ thể bất động của Roger Henn, làm nội tạng bên trong của viên cảnh sát bắn lên không trung như ai đó đang ném gạo hay hoa giấy trong đám cưới.

Wallis nhận ra mình đang hét lên một cách vô thức khi chiếc Audi thực hiện hành động man rợ như vậy.

Nghe thấy tiếng động cơ xe đến gần, con quái vật nhảy vọt lên.

[*] Hiện tượng Lazarus hay hội chứng Lazarus là hiện tượng hệ tuần hoàn hoạt động trở lại một cách tự phát sau khi các nỗ lực hồi sức cấp cứu bất thành.

Wallis nhắm mắt lại khi khối động cơ Đức nặng hơn mười tấn đậm sầm vào Linh Hồn Quỷ.

Đạp chân phanh, anh mở mắt ra và nhìn thấy tấm kính chắn gió đã vỡ nứt, nhuốm đầy máu.

Anh liếc qua gương chiếu hậu và thấy sinh vật kì dị đó đang nằm trên lề đường trong ánh sáng đỏ rợn người từ máu và đèn hậu xe hơi.

Nó giật giật.

Wallis lùi xe, nhấn chân ga. Lốp xe ma sát xuống mặt đường, rít lên.

Chiếc Audi lao về phía trước, một lần, hai lần.

Chà! Chà!

Wallis đạp phanh.

Dưới ánh đèn pha, một lần nữa được chiếu sáng, nằm trên mặt đất trước chiếc xe, Linh Hồn Quỷ giờ đây trở thành một bãi máu nhầy nhụa da thịt.

Một bãi máu thịt nhầy nhụa nát bét bất động.

Brook cựa quậy, khẽ rên, nhưng bóng tối vẫn bao trùm không gian. Cô lờ mờ đoán rằng mình vẫn đang ngồi trên ghế lái phụ trong xe của Roy. Biết chắc chắn tính mạng mình đang gặp nguy hiểm, từ cả Roy và anh chàng người Úc đáng thương, hoặc bất cứ thứ gì mà anh ta trở thành. Nhưng cô không tài nào suy tính thêm hay thậm chỉ là dịch chuyển cơ thể được… Và rồi từ một nơi rất xa, cô nghe thấy ai đó gọi tên mình.

Cô cử động miệng, cố gắng phát âm, mặc dù cô cũng không chắc nó có thành tiếng hay không.

“Brook?”

Giọng nói lúc này gần hơn.

“Roy….” Cô cất tiếng.

“Brook?”

Cô buộc mình mở mắt. Một cơn đau thấu xương bên trong hộp sọ ập đến. Cô không nhìn được rõ lắm, nhưng có thể nghe được tiếng mưa rơi đều, mạnh mẽ đập vào trần xe.

Lạnh, ẩm ướt. Có đôi tay nào đó đang lắc mạnh vai cô.

Ai đó đang mở cửa bên cạnh.

Đó là Roy, ướt sũng, tóc ép vào da đầu, nước mưa xối lên mặt.

Anh ta đã đánh mình – một lần nữa.

Cô bất giác đưa tay lên sờ mặt. Không có cảm giác, giống như nó thuộc về một người khác. Nhưng theo sau đó là sự đau rát.

“Ở đâu…” Cô hỏi, cảm thấy cực kỳ khó khăn khi chuyển động đôi môi của mình. Cô nếm được vị máu.

“Chết rồi,” Roy nói, đưa tay về phía cô.

“Chết…?”

“Đi thôi.”

“Đi…?”

Cô không thể hoàn thành câu nói nên chỉ đơn giản là nắm lấy tay anh ta. Cô được đỡ ra khỏi xe cho đến khi đứng được trên đôi chân mềm nhũn của mình. Cô nghiêng mình dựa vào ngực anh ta khi cảm nhận được anh vòng tay ra phía sau ôm lấy cô. Mưa rơi xuống đầu cô và văng xuống mặt đất dưới chân.

Mình phải trốn đi.

Nhưng cô không biết phải làm thế nào. Cô không thể nghĩ thông suốt, thậm chí còn không thể đứng vững, chứ đừng nói đến việc chạy trốn khỏi anh ta. “Vị cảnh sát…?” Cô hỏi.

“Sẽ ổn thôi,” Roy trả lời một cách nhẹ nhàng, sau đó hôn lên trán cô.

Anh ta đưa tay lên, vòng qua lưng và ôm lấy đầu cô. Cô không thích điều đó, chuyện này không đúng lắm, đáy không phải là cách để ôm một người…

“Roy…?”

Cánh tay anh gồng lên và siết lại.

Điều tiếp theo mà Brook biết là cô đang nằm trên mặt đất, nhìn vào đôi giày của Roy. Cô cố gắng đứng dậy, nhưng không thể. Cánh tay phải bị kẹp bên dưới, nhưng nó không thể cử động. Có không cảm thấy đau, nhưng càng lúc có càng thấy khó thở, điều này khiến có hoảng loạn tột cùng.

Roy cúi xuống. Mặc dù không thể nhìn thấy khuôn mặt anh ta, nhưng có có thể nghe thấy anh nói.

“Ổn rối, Brook. Sẽ không còn lâu nữa đâu. Tất cả ổn rồi.”

Anh đã làm cái quái gì với tôi, thằng khốn. Anh đã làm gì với tôi: ANH ĐÃ LÀM GÌ?

Cô vẫn đang gào thét trong câm lặng những câu hỏi này trong đầu, cho đến khi chết vì ngạt thở hai phút sau đó.

« Lùi
Tiến »