2666

Lượt đọc: 792 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN NĂM
phần về archimboldi

Mẹ y bị chột. Tóc bà vàng khé và bà bị chột. Con mắt lành của bà có màu xanh như da trời và trầm tĩnh, khiến bà nom có vẻ chậm đụt nhưng bù lại bà lành tính, lành thật là lành. Bố y bị què. Anh chàng mất một chân hồi chiến tranh và nằm một tháng tại quân y viện gần Düren, cứ đinh ninh sẽ không qua khỏi và dõi nhìn các bệnh binh còn đi lại được (anh thì không!) ăn cắp thuốc lá của các bệnh binh không đi lại được. Tuy nhiên, khi người ta toan ăn cắp thuốc lá của anh thì anh túm cổ thằng ăn cắp, một gã lắm tàn nhang gò má to vai rộng hông to, và bảo hắn: dừng lại! thuốc lá của lính thì chớ có mà đùa! Vậy là tên lắm tàn nhang liền bỏ đi rồi đêm xuống và anh có cảm tưởng ai đó đang nhìn mình.

Nằm giường bên cạnh là một xác ướp. Xác ướp có cặp mắt đen như hai cái giếng sâu.

“Muốn hút không?” anh hỏi.

Xác ướp không trả lời.

“Hút thuốc tốt mà,” anh nói, đoạn châm một điếu thuốc và tìm cái miệng của xác ướp giữa các lớp băng.

Xác ướp rùng mình. Có lẽ hắn không hút thuốc, anh nghĩ, bèn rút điếu thuốc ra. Trăng soi sáng đầu lọc thuốc, đã bị một thứ rêu mốc trắng làm ố. Sau đó anh vừa đút điếu thuốc vào lại giữa cặp môi xác ướp vừa nói: hút đi, hút đi, quên mọi thứ đi. Mắt xác ướp vẫn dán vào anh, anh nghĩ chắc hắn là một chiến hữu cùng tiểu đoàn với mình và hắn nhận ra mình. Nhưng sao hắn chả nói gì? Chắc không nói được, anh nghĩ. Bỗng nhiên, khói bắt đầu tuôn ra từ giữa đám băng gạc. Sôi kìa, anh nghĩ, sôi, sôi.

Khói tuôn ra từ hai tai xác ướp, từ họng, từ trán, từ mắt, hai con mắt vẫn không thôi nhìn anh què, cho đến khi anh này rút điếu thuốc ra khỏi môi xác ướp mà thổi, thổi một hồi phía trên cái đầu quấn băng của xác ướp cho đến khi khói hoàn toàn biến mất. Sau đó anh dụi tắt điếu thuốc trên sàn nhà rồi ngủ mất.

Khi anh thức dậy thì xác ướp không còn đó nữa. Xác ướp đâu rồi? anh hỏi. Chết hồi sáng rồi, ai đó ở giường khác nói. Thế rồi anh châm một điếu thuốc và ra chỗ ngồi chờ bữa sáng. Khi được cho ra viện, anh thập thà thập thõm đi về thành phố Düren. Đến đó anh bắt một chuyến xe lửa đưa anh tới một thành phố khác.

Tại thành phố này anh đợi hai mươi tư tiếng ở nhà ga, ăn xúp nhà binh. Ngươi phát xúp là một trung sĩ cụt một giò giống như anh. Họ chuyện trò một chặp, trong khi viên trung sĩ múc xúp vào đĩa thiếc cho đám lính còn anh thì ăn, ngồi trên một băng ghế gỗ giống như của dân thợ mộc kê gần đó. Theo viên trung sĩ, mọi thứ sắp thay đổi. Chiến tranh sắp kết thúc và một thời đại mới sắp bắt đầu. Anh đáp lại, giữa khi đang ăn, rằng sẽ chả có gì thay đổi hết trọi. Kể cả bọn họ, hai kẻ đều bị mất một chân, cũng chẳng thay đổi gì đâu.

Cứ hễ anh nói gì là tay trung sĩ lại cười. Nếu tay trung sĩ nói trắng, anh nói đen. Nếu tay trung sĩ nói ngày, anh nói đêm. Và tay trung sĩ cả cười khi nghe câu đáp của anh rồi hỏi xúp có bị thiếu muối không, có nhạt quá không.

Rồi anh đâm chán đợi một đoàn tàu dường như chẳng bao giờ tới, thế là anh lại bắt đầu cuốc bộ. Anh lang thang ba tuần khắp vùng quê, ăn bánh mì ôi, trộm trái cây và gà vịt trong các nông trại. Giữa khi anh lang thang như thế, nước Đức đầu hàng. Khi nghe người ta bảo vậy, anh nói: tốt. Một chiều nọ anh về tới làng mình và gõ cửa nhà mình. Mẹ anh ra mở cửa và khi thấy anh thân tàn ma dại như vậy bà không nhận ra anh. Sau đó mọi người ôm anh và cho anh ăn. Anh hỏi người ta là cái cô bị chột đã lấy chồng chưa. Mọi người bảo chưa. Đêm ấy anh đi gặp cô, không thay đồ cũng không tắm rửa, mặc cho mẹ anh nài nỉ rằng ít nhất hãy cạo râu đi. Khi cô gái chột thấy anh đứng trước cửa nhà cô, cô nhận ra anh ngay lập tức. Anh què cũng thấy cô đang từ cửa sổ nhòm ra, liền giơ một tay lên chào cô rất chỉnh, thậm chí hơi cúng nhắc, tuy cái chào đó cũng có thể diễn dịch là một cử chỉ nhằm để nói đời là thế. Từ khoảnh khắc đó trở đi anh nói với bất cứ ai chịu nghe rằng ở làng anh thiên hạ đều mù tất và cô chột là một bà hoàng.

♣ ♣ ♣

Năm 1920 Hans Reiter chào đời. Nó không giống trẻ con mà giống nhành rong biển. Canetti và chắc cả Borges nữa, hai người hết sức khác nhau, nói rằng cũng như biển là biểu tượng hay tấm gương của người Anh, rừng là ẩn dụ nơi người Đức cư ngụ. Hans Reiter vượt ngoài quy luật này ngay từ khi chào đời. Nó không thích đất và rừng lại càng không thích. Nó cũng không thích biển hay cái mà những kẻ phàm nhân gọi là biển song trên thực tế chỉ là bề mặt của biển, những con sóng bị gió gợn lên mà dần dà trở thành ẩn dụ cho thất bại và điên loạn. Cái mà nó thích là đáy biển, đất mà không phải đất, đầy những đồng bằng chẳng phải đồng bằng những thung lũng chẳng phải thung lũng và những vách đá chẳng phải vách đá.

♣ ♣ ♣

Khi bà mẹ một mắt của Hans Reiter tắm cho nó trong chậu tắm, thằng nhóc luôn luôn trượt ra khỏi hai bàn tay đẫy xà bông của mẹ mà chìm xuống đáy, mắt mở to, và nếu đôi tay bà không nâng nó lên lại mặt nước thì nó sẽ cứ ở đó, ngắm lớp gỗ đen và ngắm nước đen nơi những phần tử cáu ghét nhỏ xíu từ chính nó đang trôi nổi, những mẩu da nhỏ xíu chu du như những chiếc tàu ngầm về nơi nào đó, một ngả mở có kích thước bằng con mắt, một vịnh con tối tăm yên tĩnh, chỉ có điều sự yên tĩnh không hiện hữu, thứ duy nhất hiện hữu là cái vận động vốn là mặt nạ của nhiều thứ, bao gồm sự yên tĩnh.

♣ ♣ ♣

Một lần nọ ông bố què, vốn thỉnh thoảng quan sát bà mẹ một mắt của nó tắm cho nó, liền bảo bà đừng nhấc nó lên, để coi nó làm gì. Từ dưới đáy chậu tắm, cặp mắt xám của Hans Reiter ngắm con mắt xanh thiên thanh của mẹ rồi thì nó lật nghiêng người mà ngắm, rất lặng im, những mẩu con con của thân thể mình đang đi xa dần theo mọi hướng, như những con tàu phóng hú họa vào vũ trụ. Khi hết hơi thì nó thôi không ngắm những phần tử nhỏ xíu biến mất dần đó nữa mà bắt đầu dấn theo chúng. Nó đỏ dừ lên và nhận ra mình đang vượt qua một miền rất giống với địa ngục. Nhưng nó không mở miệng cũng không mảy may cố gắng nổi lên, mặc dù đầu nó chỉ cách mặt nước và cách biển dưỡng khí có mười xentimét. Cuối cùng hai cánh tay mẹ nó nhấc nó lên và nó bắt đầu khóc. Bố nó, quấn mình trong áo khoác nhà binh, nhìn xuống đất và nhổ vào chính giữa lò sưởi.

♣ ♣ ♣

Lên ba tuổi Hans Reiter cao hơn hết thảy mọi đứa ba tuổi khác trong thị trấn. Chú cũng cao hơn bất cứ đứa nhóc bốn tuổi nào, và không phải đứa năm tuổi nào cũng cao hơn chú. Ban đầu chú đi không vững và bác sĩ trong thị trấn nói đó là do chiều cao của chú và khuyên nên cho chú uống thêm sữa để xương khỏe. Nhưng bác sĩ đã nhầm. Hans Reiter đi không vững là do chú đi trên mặt đất giống như người mới biết lặn lần đầu đi trên đáy biển. Trên thực tế, chú sống và ăn và ngủ và chơi trên đáy biển. Về chuyện sữa thì chẳng có khó khăn gì, mẹ chú nuôi ba con bò cái và nuôi gà cho nên chú nhóc được cho ăn tử tế.

Thỉnh thoảng nhìn chú đi giữa đồng, ông què lại tự hỏi liệu trong dòng họ ông từng có ai khác cao như thế hay không. Nghe nói anh trai của ông sơ hay ông cố từng phụng sự trong quân đội của Frederick Đại đế ở một trung đoàn gồm toàn những người cao trên mét tám hay mét tám lăm. Trung đoàn hay tiểu đoàn đặc tuyển này đã chịu nhiều tổn thất, bởi vì nhắm bắn những người lính này quá dễ.

Trong khi quan sát thằng con lóng ngóng đi men rìa vườn nhà hàng xóm, ông què nghĩ: có dạo trung đoàn Phổ nhận thấy mình đang đối mặt với một trung đoàn tương tự của Nga, những tay nông dân cao mét tám hay mét tám lăm mặc áo khoác xanh lục của Vệ binh Sa Hoàng, hai bên đụng độ và máu đổ đầu rơi thật khủng khiếp, kể cả khi quân đội hai bên đã rút lui, hai trung đoàn toàn người khổng lồ này vẫn xoắn vào nhau đánh giáp lá cà và chỉ chịu ngưng khi các tướng thống lĩnh hai bên ra nghiêm lệnh phải rút quân về vị trí mới.

Trước khi đi chinh chiến, bố của Hans Reiter cao một mét sáu tám. Khi trở về, có lẽ vì thiếu một chân, ông chỉ còn cao một mét sáu lăm. Một trung đoàn toàn những gã khổng lồ là chuyện điên khùng, ông nghĩ. Bà mẹ một mắt của Hans cao một mét sáu và cho rằng đàn ông cao quá thì không hay.

♣ ♣ ♣

Lên sáu tuổi Hans Reiter cao hơn tất cả đám trẻ con sáu tuổi khác, cao hơn tất cả đám trẻ con bảy tuổi, cao hơn tất cả đám trẻ con tám tuổi, cao hơn tất cả đám trẻ con chín tuổi và cao hơn phân nửa đám trẻ con mười tuổi. Ngoài ra, hồi sáu tuổi, lần đầu tiên nó ăn cắp sách. Cuốn sách có tên là Động thực vật vùng ven biển châu Âu. Nó giấu cuốn sách dưới giường mặc dù ở trường chẳng ai phát hiện thấy thiếu cuốn sách. Cũng khoảng thời gian này, nó bắt đầu lặn. Vào năm 1926. Nó đã bơi từ năm lên bốn, nó hụp đầu xuống nước và mở mắt và rồi mẹ nó mắng nó vì suốt cả ngày mắt nó cứ đỏ quạch khiến bà sợ người ta nhìn thấy sẽ tưởng nó suốt ngày khóc. Nhưng lặn thì mãi đến sáu tuổi nó mới học. Nó hụp đầu xuống nước, chìm xuống chừng một mét và mở mắt ra nhìn. Nó làm thế đó. Nhưng bơi thì không. Lên sáu tuổi, nó quyết rằng một mét là ít quá, thế là nó lao luôn xuống đáy biển.

Cuốn sách Động thực vật vùng ven biển châu Âu được Hans Reiter mang ở trong đầu, như người ta nói, và trong khi lặn nó từ từ lật dở từng trang. Bằng cách này nó phát hiện ra Laminaria digitata, một loài rong biển khổng lồ có thân cứng chắc và lá rộng mang hình cái quạt tẽ ra nhiều nhánh theo cuốn sách viết - trông như những ngón tay. Laminaria digitata là loài thực vật sống ở những vùng biển lạnh như biển Baltic, Bắc Hải và Bắc Băng Dương. Người ta hay gặp chúng, quần tụ thành nhóm lớn, lúc triều thấp và dưới những bờ biển lởm chởm đá. Khi Hans Reiter lần đầu tiên thấy một rừng rong biển, nó xúc động đến nỗi bật khóc dưới nước. Hẳn khó mà tin được rằng một người đang mở mắt lặn dưới nước lại có thể khóc, nhưng ta chớ quên Hans lúc đó mới sáu tuổi và theo nghĩa nào đó là một đứa trẻ khác thường.

Laminaria digitata có màu nâu nhạt và tương tự Laminaria hyperborean, vốn có thân thô hơn, cũng giống Saccorhiza polyschides, có thân trổ ra nhiều mấu tròn. Tuy nhiên, hai loại sau này sống ở vùng biển sâu, cho nên tuy rằng thỉnh thoảng, vào những chiều hè, Hans Reiter đã bơi ra xa khỏi bờ biển hay bãi đá nơi nó để quần áo lại rồi lặn xuống, song nó chẳng bao giờ thấy được chúng, chỉ tưởng tượng rằng nơi đáy sâu ấy, chúng ở đó, một khu rừng an nhiên tĩnh lặng.

♣ ♣ ♣

Vào khoảng thời gian này nó bắt đầu vẽ tất tật các loại rong biển vào một cuốn vở. Nó vẽ Chorda filum, một loài rong biển gồm những dải mảnh tuy nhiên có thể mọc dài tới tám mét. Nó không có cành và trông mỏng mảnh nhưng thật ra rất khỏe. Nó bò dọc theo ngấn triều thấp. Hans cũng vẽ Leathesia difformis, một loài rong biển gồm những búp tròn màu nâu ô liu mọc trên đá và trên những rong biển khác. Hình dáng nó trông rất lạ. Hans chưa bao giờ thấy nó, song đã nhiều lần nằm mơ thấy. Nó vẽ Ascophyllum nodosum, một loài tảo màu nâu xám phân nhánh không đều mọc những bọc phồng hình bầu dục dọc theo các cành. Ascophyllum nodosum chia thành hai phân loài đực và cái, sinh ra kiểu như một loại quả từa tựa quả nho. Ở cây đực, quả này màu vàng. Ở cây cái, quả màu xanh xanh. Hans vẽ Laminaria saccharina, loài rong biển gồm một lá dài độc nhất hình dáng như cái thắt lưng. Khi cây này khô, có thể thấy trên bề mặt nó những tinh thể của một chất có vị ngọt gọi là manitol. Nó mọc trên những bờ biển đá bám vào những vật thể rắn, tuy nhiên thường bị đánh dạt ra biển. Hans vẽ Padina pavonia, một loài rong biển ít gặp, nhỏ, hình cái quạt. Nó là một loài nước ấm có thể gặp từ các bãi biển phía Nam Đảo Anh cho đến Địa Trung Hải. Chẳng có loài nào tương cận nó. Hans vẽ Sargassum vulgare, loài rong biển sống ở những bãi biển lắm đá vùng Địa Trung Hải, giữa các lá có những cơ quan sinh sản nhỏ xíu mọc trên đầu cuống. Người ta gặp nó ở cả vùng nước nông lẫn ở rất sâu dưới biển. Hans vẽ Porphyra umbilicalis, loài rong biển đặc biệt đẹp, dài ngót hai mươi xentimét và có màu tía đo đỏ. Nó mọc ở Địa Trung Hải, ở Đại Tây Dương, eo biển Manche và Bắc Hải. Có nhiều giống Porphyra và tất cả đều ăn được. Đặc biệt dân xứ Wales rất thích ăn loài rong này.

♣ ♣ ♣

“Dân xứ Wales toàn đồ lợn,” ông què nói để đáp lại một câu hỏi của thằng con. Rặt lợn. Người Anh cũng là lợn nốt, nhưng còn đỡ hơn bọn Wales. Mặc dù thật ra cả hai đều lợn như nhau thôi, nhưng tụi nó gắng tỏ ra ít lợn hơn một chút và bởi tụi nó biết cách giả vờ nên rốt cuộc tụi nó cũng có vẻ ít lợn hơn thật. Tụi Scotland lợn hơn tụi Anh và chỉ đỡ hơn tụi Wales một tí xíu. Tụi Pháp cũng lợn như tụi Scotland. Tụi Ý là đồ lợn nhép. Lũ lợn nhép sẵn lòng xơi tái bà mẹ lợn của chúng nó. Tụi Áo cũng y như vậy: lợn và lợn và lợn. Đừng bao giờ tin một đứa Hung. Đừng bao giờ tin một đứa bô hê miêng. Tụi nó liếm bàn tay mày trong khi đang ngốn ngón tay út của mày. Đừng bao giờ tin một đứa Do Thái: nó xực ngón tay cái mày rồi lại còn phủ đầy nước dãi lên tay mày. Tụi xứ Bavaria cũng lợn. Mỗi khi nói chuyện với một thằng Bavaria, con ạ, phải nhớ siết thắt lưng cho chặt. Với tụi xứ Rheinland thì tốt nhất đừng có nói chuyện: gà chưa kịp gáy thì tụi nó đã chặt một giò của mày rồi. Tụi Ba Lan nhìn như một lũ gà, nhưng cứ thử nhổ vài cái lông của nó đi coi, tụi nó sẽ trổ lông lợn ngay. Tụi Nga cũng vậy. Tụi nó nhìn như bầy chó đói nhưng thật ra tụi nó là lợn đói, sẵn sàng xơi bất cứ cái gì, không nghĩ ngợi hai lần, chẳng mảy may ân hận. Tụi Serbia cũng như tụi Nga, chỉ là thu nhỏ lại thôi. Tụi nó là lợn hóa trang thành chó Chihuahua. Chihuahua là giống chó tí hon, to cỡ con vẹt, sống ở miền Bắc Mexico và hay thấy trong phim Mỹ. Tụi Mỹ là lợn, đương nhiên rồi. Và người Canada là lũ lợn khổng lồ tàn nhẫn, mặc dù thứ lợn tệ hại nhất ở Canada là tụi Canada gốc Pháp, cũng như thứ lợn tệ hại nhất ở Mỹ là tụi Mỹ gốc Ireland. Tụi Thổ cũng chả hơn gì. Tụi nó là lũ lợn làm tình qua đường hậu môn, giống như tụi Saxon và tụi Westphalia. Về người Hy Lạp thì bố chỉ có thể nói tụi nó y chang tụi Thổ: một lũ lợn hói, làm tình qua đường hậu môn. Thứ dân duy nhất không phải lợn là người Phổ. Nhưng nước Phổ đâu còn nữa. Nước Phổ đâu? Mày có thấy không? Bố không thấy. Đôi khi bố có cảm tưởng họ chết sạch trong chiến tranh rồi. Đôi khi, ngược lại, bố có cảm tưởng trong khi bố nằm bệnh viện, cái bệnh viện bẩn tưởi của loài lợn ấy, thì người Phổ di cư hàng loạt, đến chốn xa nào đó. Đôi khi bố đi ra chỗ bờ đá nhìn ra biển Baltic và cố đoán xem những con tàu của người Phổ đã đi đâu. Đến Thụy Điển? Đến Na Uy? Đến Phần Lan? Không thể nào: đó toàn là đất của loài lợn. Vậy thì đi đâu? Đến Iceland, đến Greenland? Bố cố đoán nhưng không được. Người Phổ giờ đâu hết rồi? Bố trèo lên vách đá tìm kiếm họ nơi chân trời xám.

“Một màu xám phát tởm giống như mủ. Mà không phải mỗi năm một lần. Một tháng một lần! Hai tuần một lần! Nhưng bố chả bao giờ thấy chúng, bố chả bao giờ đoán được chúng dong buồm đến điểm nào nơi chân trời. Bố chỉ thấy có mỗi con, thấy cái đầu con giữa những con sóng, cứ hiện ra rồi biến mất, lúc đó bố ngồi trên một tảng đá, ngồi im một hồi lâu, quan sát con, cứ như bố đã hóa thành một tảng đá khác, và tuy thỉnh thoảng mắt bố để lạc mất con hoặc đầu con trồi lên rất xa khỏi chỗ con hụp xuống, nhưng bố không lo cho con, vì bố biết con sẽ lại trồi lên, biết rằng nước chẳng bao giờ làm gì con cả. Có đôi khi bố ngủ thiếp đi, vẫn ngồi trên tảng đá, và khi thức dậy bố thấy lạnh đến nỗi thậm chí còn chả nhìn ra biển xem liệu con có phải vẫn còn đó hay không. Vậy lúc đó bố làm gì? Chà, bố đứng dậy trở về thị trấn, hai hàm răng đánh nhau cầm cập. Và khi quẹo vào những con phố đầu tiên bố liền cất tiếng hát để cho hàng xóm láng giềng nghĩ chắc bố vừa đi nhậu ở quán Krebs về.”

♣ ♣ ♣

Nhóc Hans Reiter cũng thích đi bộ, như một tay thợ lặn, nhưng nó không ưa hát, bởi các tay lặn nhất định là không bao giờ hát. Đôi khi nó ra khỏi thị trấn đi về phía Đông, dọc theo một con đường đất bao quanh là rừng, và đến làng Ong Đỏ chuyên bán than bùn. Nếu đi tiếp về phía Đông, sẽ đến làng Bà Xanh, nằm giữa một cái hồ cứ đến hè là cạn. Cả hai đều chả khác gì những làng ma, cư dân toàn người chết. Quá làng Bà Xanh là thị trấn Dân Béo. Ở đó mùi rất thúi, mùi máu và mùi thịt rữa, một mùi dày và nặng rất khác với mùi của làng nó là mùi quần áo bẩn, mồ hôi bết vào da, mùi đất thấm nước tiểu, một mùi mảnh, một mùi giống như loài rong Chorda filum.

Ở thị trấn Dân Béo, khỏi cần phải nói, có nhiều động vật và có mấy hàng thịt. Đôi khi, trên đường về, đi như một tay thợ lặn, Hans thấy cư dân thị trấn Dân Béo lang thang các phố của làng Bà Xanh hay làng Ông Đỏ và nó chợt nghĩ rằng có lẽ dân hai làng ấy, nay là ma, đều đã chết vì tay người của thị trấn Dân Béo, vốn chắc chắn là rất đáng sợ và nhẫn tâm trong nghệ thuật giết người, dẫu rằng họ chưa bao giờ kiếm chuyện với nó, vì nhiều lẽ song một lẽ trong đó là vì nó là thợ lặn, tức là nó không thuộc thế giới của họ, nó chỉ đi qua đó như một nhà thám hiểm hay một vị khách.

Những lúc khác thì bước chân Hans đưa nó về phía Tây và nó đi dọc theo phố chính của làng Trứng, làng này mỗi năm một dịch xa hơn khỏi vùng núi đá, như thể những căn nhà có thể tự mình di chuyển được và muốn tìm một chỗ an toàn hơn gần thung lũng gần rừng. Không xa làng Trứng là làng Lợn, làng này nó đồ rằng bố nó chưa đến bao giờ, có nhiều chuồng lợn và có những đàn lợn hạnh phúc nhất ở vùng này của Phổ, những con lợn dường như đón chào khách qua đường bất kể địa vị xã hội hay tuổi tác hay tình trạng hôn nhân của y bằng những tiếng ụt ịt đầy thân ái, gần như đầy tính nhạc hoặc đúng hơn là nhiều tính nhạc hơn hết thảy, trong khi dân làng đứng im phăng phắc, mũ trong tay, hoặc lấy mũ che mặt, không rõ vì khiêm nhường hay vì xấu hổ.

Đi xa hơn là thị trấn Gái Lắm Mồm, những ả gái hay đi dự hội dự khiêu vũ ở những thị trấn còn lớn hơn mà nhóc Hans Reiter nghe tên xong là quên ngay tức khắc, những ả gái vừa hút thuốc ngoài đường vừa chuyện trò về những anh thủy thủ tại một cảng to và phục vụ trên tàu tên này tàu tên nọ, những cái tên mà nhóc nghe xong là quên ngay tức khắc, những ả gái hay đến rạp xem những phim gay cấn ly kỳ nhất, diễn viên là những anh kép đẹp trai nhất hành tinh và những nữ minh tinh mà nếu ta muốn đúng mốt thì ta phải bắt chước, những kép và những minh tinh mà nhóc Hans Reiter nghe tên xong liền quên tức khắc. Khi nó về đến nhà, như một tay thợ lặn đêm, và mẹ hỏi nó đi đâu suốt cả ngày, nhóc Hans Reiter liền nói với bà điều đầu tiên nảy đến trong đầu, bất cứ gì trừ sự thật.

Thế là bà chột nhìn nó bằng con mắt màu thiên thanh và thằng bé hứng chịu cái nhìn ấy bằng hai con mắt thiên thanh và từ góc nhà, bên lò sưởi, ông què quan sát cả hai bằng hai con mắt thiên thanh và trong khoảng ba bốn giây hòn đảo Phổ dường như từ dưới vực sâu trỗi dậy.

♣ ♣ ♣

Lên tám tuổi Hans Reiter hết thích trường học. Đến lúc đó nó đã hai lần suýt chết đuối. Lần đầu tiên là vào mùa hè và nó được một khách du lịch trẻ là dân Berlin đang nghỉ hè ở thị trấn Gái Lắm Mồm ra tay cứu sống. Tay du khách trẻ thấy một thằng nhóc mà cái đầu thoắt hiện thoắt biến gần vài tảng đá, và sau khi xác định đó quả thật là một thằng nhóc, bởi tay du khách này cận thị nên ban đầu cứ nghĩ đó là một búi rong biển, anh liền cởi chiếc áo khoác trong đó có mấy thứ giấy tờ quan trọng rồi tụt xuống chỗ bãi đá kia cho đến khi không còn tiến xa hơn được nữa và nhào xuống nước. Chỉ cần bốn sải tay là anh đến được chỗ thằng nhóc và, sau khi nhìn một lượt bãi biển để tìm chỗ lên bờ tốt nhất, anh liền bơi một mạch đến một nơi cách chỗ anh xuống nước chừng hai mươi lăm mét.

Tay du khách tên Vogel và là người lạc quan đến khó tin. Tuy nhiên anh không hẳn lạc quan mà là điên và dạo đó anh nghỉ mát ở thị trấn Gái Lắm Mồm là do nghe theo lệnh bác sĩ, ông này lo cho sức khỏe của anh nên sẵn sàng vin vào cái cớ cỏn con nhất để tống anh ra khỏi Berlin. Nếu ít nhiều quen thân với Vogel, chả mấy chốc người ta sẽ không còn chịu nổi sự có mặt anh. Anh tin rằng nhân chi sơ tính bản thiện, anh nói rằng một người có trái tim thanh khiết có thể cuốc bộ du hành từ Moskva đến Madrid mà không bị ai quấy nhiễu, côn đồ cũng không cảnh sát cũng không, hải quan lại càng không, bởi vì lữ khách hẳn sẽ thực hiện mọi biện pháp an toàn cần thiết, trong đó có thỉnh thoảng rời khỏi đường chính mà băng ngang đồng. Anh cực dại gái và cực vụng về, kết quả là anh không có bạn gái. Thỉnh thoảng anh nói, không cần biết có ai nghe hay không, về đặc tính chữa bệnh của việc thủ dâm (anh lấy Kant ra làm dẫn chứng), một việc người ta ắt hẳn đã làm từ thuở xa xưa cho đến tận thời tiên tiến nhất, khiến cho các cô ở thị trấn Gái Lắm Mồm tình cờ nghe anh nói phải cười rộ lên và gây chán vô cùng tởm vô cùng cho những người thân của anh ở Berlin, vốn đã quá quen với cái thuyết này và nghĩ rằng Vogel, trong khi giải thích nó một cách bướng bỉnh và nhiệt thành nhường ấy, kỳ thực là đang thủ dâm trước mặt họ hoặc dùng họ làm công cụ để thủ dâm.

Nhưng anh vô cùng coi trọng lòng can đảm và khi thấy một thằng nhỏ, tuy ban đầu anh tưởng lầm là rong biển, đang chết đuối, anh không chần chừ một giây nào lao ngay xuống biển, mà ở đoạn bãi đá đó thì biển có lặng gì cho cam, để cứu thằng nhỏ. Một chuyện khác cần lưu ý là sự nhầm tưởng của Vogel (nhầm một thằng nhóc da nâu tóc vàng với một búi rong biển) đã khiến anh trằn trọc cả đêm, sau khi mọi chuyện đã qua. Trên giường, trong bóng tối, Vogel hồi tưởng những gì xảy ra hôm đó giống như anh vẫn luôn làm, tức là một cách rất mực hài lòng, cho đến khi đột nhiên anh thấy lại thằng bé đang chết đuối còn anh đang đứng nhìn phân vân không chắc đó là một người hay một túm rong. Giấc ngủ lập tức từ bỏ anh. Sao lại có thể lầm một thằng bé với rong biển được chớ? anh tự hỏi. Rồi nữa: một đứa bé làm sao có thể từa tựa như rong biển được chớ? Rồi nữa: có cái gì chung giữa một thằng bé và rong biển đây?

Trước khi đặt ra câu hỏi thứ tư, Vogel chợt nghĩ có khi bác sĩ của anh ở Berlin nói đúng, anh đang phát điên, hoặc có thể không điên theo cách hiểu thông thường, nhưng anh đang tiến trên con đường dẫn đến sự điên, nếu có thể nói vậy, vì một thằng nhóc thì không có gì chung với rong biển hết, anh nghĩ, và kẻ nào đứng trên tảng đá nhìn xuống mà lại lầm một thằng nhóc với một búi rong biển thì kẻ đó có bù loong ốc vít siết không được chặt, không hẳn điên, vì điên thì bù loong ốc vít đã tuột luôn ra rồi, mà là một kẻ có bù loong ốc vít lỏng lẻo và bởi vậy phải rất cẩn thận với bất cứ cái gì liên quan đến sức khỏe tâm thần của mình.

Thế rồi, do biết cả đêm đó mình sẽ không ngủ được, anh bèn nghĩ về thằng bé mình đã cứu. Nó ốm nhách, anh nhớ vậy, rất cao so với tuổi của nó, và nó nói năng lọng cà lọng cọng nghe chả hiểu gì. Khi anh hỏi nó chuyện gì xảy ra vậy, thằng nhóc nói:

“Hông.”

“Hả?” Vogel nói. “Em vừa nói gì?”

“Hông,” thằng nhóc lặp lại. Và Vogel hiểu hông nghĩa là gì: không có chuyện gì hết.

Và toàn bộ vốn từ còn lại của thằng nhóc cũng như vậy, cái vốn từ mà Vogel thấy rất thú vị và ngoạn mục, thế nên anh bắt đầu hỏi thằng nhóc những câu vu vơ chả đâu vào đâu, chỉ vì cái khoái cảm được nghe thằng bé nói, nó trả lời tất tật mọi thứ một cách tự nhiên hết mực, chẳng hạn như Vogel hỏi rừng này tên gì, thằng nhóc liền nói rừng Stav, tức là rừng Gustav, rồi thì: cái rừng đằng kia tên gì, và thằng nhóc đáp rừng Reta, ý là nói rừng Greta, rồi thì: cái rừng đen đen bên tay phải rừng Greta tên là gì, thằng nhóc liền bảo rừng Hông tê, ý nói là rừng không tên, cho đến khi cả hai leo lên tới mỏm đá chỗ Vogel ban nãy để lại cái áo khoác mà trong túi có những giấy tờ quan trọng của anh và rồi thằng nhóc, theo chỉ thị của Vogel, anh không cho phép nó xuống nước thêm lần nữa, bèn đi lấy quần áo của nó ở một chỗ thấp hơn, kiểu như hang của hải âu, sau đó cả hai chia tay, nhưng trước đó không quên tự giới thiệu:

“Anh tên là Heinz Vogel,” Vogel nói với thằng nhóc giống như nói với một gã khờ, “còn em tên gì?”

Thằng bé bảo anh tên nó là Hans Reiter, phát âm tên mình tròn vành rõ chữ, rồi hai người bắt tay nhau và ai đi đường nấy. Chuyện này Vogel nhớ lại trong khi trăn qua trở lại trên giường, ngại không muốn bật đèn và không ngủ được. Thằng nhóc có gì giống rong biển? anh tự hỏi. Có phải do nó ốm nhách, do tóc nó cháy nắng, do mặt nó dài và điềm tĩnh? Và anh tự hỏi: mình có nên về lại Berlin không, mình có nên nghiêm túc nghe lời bác sĩ hơn không, mình có nên tiến hành tự tìm hiểu mình không? Cuối cùng anh phát mệt với tất cả các câu hỏi đó, liền tự xóc lọ rồi ngủ mất.

♣ ♣ ♣

Lần thứ hai nhóc Hans Reiter suýt chết đuối là vào mùa đông, khi nó cùng vài tay dân chài đi thả lưới ở vùng biển phía trước làng Bà Xanh. Trời đang sâm sẩm tối và đám dân chài bắt đầu kháo nhau về những ánh sáng di động dưới đáy biển. Có người bảo đó là những dân chài đã chết đang tìm đường về làng mình, về nghĩa địa của mình trên đất khô. Người thì nói đó là địa y phát sáng, những địa y chỉ phát sáng mỗi tháng một lần, như thể trong một đêm chúng phóng xuất ra toàn bộ ánh sáng mà chúng phải mất ba mươi ngày tích tụ. Người lại nói đó là một loài hải quỳ chỉ có ở vùng bờ biển này thôi và ánh sáng này do hải quỳ cái phát ra để thu hút hải quỳ đực, mặc dù nói chung, tức là trên khắp thế giới, hải quỳ đều là lưỡng tính, không đực cũng chẳng cái mà cả đực lẫn cái trong cùng một cơ thể, cứ như là tâm trí bị ngủ quên mất và khi nó thức dậy thì một phần hải quỳ đã chịch với phần kia, làm như bên trong mỗi chúng ta đều có đồng thời một đàn bà và một đàn ông, hay một tay bóng và một đàn ông trong trường hợp hải quỳ vô sinh. Người thì lại nói đó là cá điện, một giống rất lạ, với loài này phải cảnh giác ghê lắm, bởi nếu nó lọt vào lưới của ta thì nó trông chả khác gì các loài cá khác nhưng người ta ăn nó vào là đổ bệnh, bị những cơn sốc điện kinh khủng trong bao tử đôi khi gây chết người.

Và trong khi đám dân chài đang nói thì nỗi hiếu kỳ khôn cưỡng hay chứng điên của Hans Reiter, mà đôi khi khiến nó làm những việc không nên làm, thúc nó rời thuyền chẳng nói với ai và rồi lặn xuống đáy biển để tìm những ánh sáng hay ánh sáng của con cá kỳ dị ấy hay những con cá kỳ dị ấy, và thoạt đầu đám dân chài không hoảng lên cũng không kêu không la bởi tất cả họ đều chẳng lạ gì những thói tật chẳng giống ai của nhóc Reiter, tuy nhiên sau vài giây chẳng thấy cái đầu của nhóc Reiter đâu cả thì họ đâm lo, bởi tuy họ là dân Phổ thiếu học thức nhưng họ cũng đồng thời là dân biển nên biết chẳng ai có thể nhịn thở quá hai phút (hay khoảng đó), một thằng bé lại càng không cho dẫu nó cao đến đâu, vì phổi nó chưa đủ khỏe để chịu nổi áp lực ấy.

Và cuối cùng hai người trong số họ lao xuống biển tối mò, một vùng biển giống như bầy sói, và họ lặn quanh thuyền cố tìm xác nhóc Reiter nhưng hoài công, vậy nên họ buộc phải trồi lên để thở và, trước khi lại lặn xuống, họ hỏi những người trên thuyền là thằng oắt đã nổi lên chưa. Rồi sau đó, dưới sức nặng của câu trả lời phủ định, họ lại biến mất giữa những con sóng tối mò giống như bầy thú rừng và một trong những người nãy giờ không lặn cũng nhập bọn cùng họ, và chính người này ở độ sâu chừng năm mét đã thấy thân thể nhóc Reiter đang vật vờ trôi như một cây rong biển bị bật rễ, từ dưới lên trên, trắng nhức nhối giữa vùng nước biển sâu, và chính anh ta xốc nách thằng nhóc kéo nó lên, và cũng chính anh ta là người khiến nhóc Reiter nôn ra hết chỗ nước nó đã nuốt vào.

♣ ♣ ♣

Khi Hans Reiter lên mười, bà mẹ chột và ông bố què của nó có đứa con thứ hai. Nó là con gái, được đặt tên là Lotte. Con bé rất xinh và có lẽ là người đầu tiên trên mặt đất này khiến cho Hans Reiter quan tâm (hoặc động lòng). Bố mẹ nó thường để cho nó trông nom con bé. Chẳng bao lâu nó đã học được cách thay tã, cho bé bú bình, bế con bé đi tới đi lui cho đến khi bé ngủ. Với Hans, đứa em gái là điều tốt đẹp nhất từng xảy ra với nó và nó đã nhiều lần toan vẽ con bé trong cuốn sổ nó đã dùng để vẽ rong biển, tuy nhiên tranh vẽ ra chẳng bao giờ làm nó hài lòng: khi thì con bé trông như một túi rác bị vất nơi bãi biển lắm sỏi, khi thì lại giống Petrobius maritimus, một loài côn trùng biển sống ở các khe đá và tảng đá và ăn đồ phế thải để sống, hoặc giống Lipura maritima, một loài côn trùng khác, rất nhỏ, màu đen xám thẫm hay màu xám, sống ở những vũng nước giữa các tảng đá.

Thời gian qua đi, bằng cách căng trí tưởng tượng của mình ra hoặc căng thị hiếu của mình ra hoặc căng bản tính nghệ sĩ của mình ra, Hans học được cách vẽ em gái như một nàng tiên cá nhỏ, giống cá hơn giống bé gái, mập nhiều hơn ốm, nhưng luôn luôn mỉm cười, luôn luôn mang một thiên hướng đáng cho ta ganh tị là mỉm cười và thấy phương diện tích cực của mọi vật và mọi sự, một hình ảnh phản ánh trung thành tính cách của em gái nó.

♣ ♣ ♣

Mười ba tuổi, Hans Reiter thôi học. Đấy là năm 1933, năm Hitler lên cầm quyền. Hồi mười hai tuổi Hans đã bắt đầu theo học một trường ở thị trấn Gái Lắm Mồm. Song trường này, vì nhiều lý do, cái nào cũng hoàn toàn chính đáng cả, Hans không ưa, cho nên hễ đi học là nó lại rề rà đà đận trên đường, thấy đường tới trường không phẳng cũng không phải phẳng có nhiều đồi cũng không phải phẳng có nhiều chỗ ngoặt, mà dựng đứng, một cú rơi kéo dài về phía đáy biển mà ở đó mọi thứ, cây cỏ, đầm lầy, động vật, hàng rào thảy đều biến thành những loài côn trùng biển hoặc loài giáp xác, thành những dạng sinh tồn lửng lơ xa xăm, thành sao biển và nhện biển, những loài nhóc Reiter biết là cơ thể nhỏ đến mức không chứa xuể cái bao tử của chính nó cho nên bao tử nó kéo dài ra thành chân, những cái chân to tướng và kỳ bí, hay nói cách khác là hàm chứa (hay ít nhất nhóc cho rằng chúng hàm chứa) một huyền vi, vì nhện biển có tám chân, mỗi bên bốn chân, thêm một cặp chân nữa, nhỏ hơn nhiều, trên thực tế là nhỏ hơn vô cùng tận và vô dụng, ở đầu mút gần đầu nó nhất, và hai cái chân hay hai cái chi nhỏ xíu xiu này nhóc Reiter thấy chẳng phải chân đúng nghĩa mà là tay, như thể là loài nhện biển, trong quá trình tiến hóa dài, cuối cùng đã phát triển được hai cánh tay rồi sau đó là hai bàn tay, tuy nhiên nó còn chưa biết rằng mình có chúng. Phải bao lâu nữa thì nhện biển mới biết rằng nó có tay?

“Chắc phải nghì năm hay hai nghì hay mừ nghì năm nữa. Lâu lâu nữa,” nhóc Reiter nói to một mình.

Vậy là nhóc Reiter cứ thế mà đi đến trường ở thị trấn Gái Lắm Mồm, và dĩ nhiên nó luôn luôn đến trễ. Và đầu óc cũng cứ để đâu đâu.

♣ ♣ ♣

Năm 1933, hiệu trưởng cho mời bố mẹ Hans Reiter. Chỉ có bà chột đến. Hiệu trưởng đưa bà vào phòng làm việc của ông rồi giải thích, một cách ngắn gọn, rằng thằng bé không đủ khả năng học tập. Đoạn ông dang rộng hai tay, như để làm cho câu mình vừa nói bớt phần nặng nề, và gợi ý bà cho thằng nhỏ đi học nghề nào đấy.

Đó là năm Hitler giành chính quyền. Cũng năm đó, trước khi Hitler giành chính quyền, một ủy ban tuyên truyền đi qua thị trấn của Hans Reiter. Đầu tiên ủy ban đến thị trấn Gái Lắm Mồm, tổ chức một buổi mít tinh khá thành công ở rạp chiếu phim, rồi hôm sau chuyển sang làng Lợn và làng Trứng và đến chiều thì tới thị trấn của Hans Reiter, uống bia trong tửu quán cùng cánh nhà nông và dân chài sở tại, mang đến đồng thời giải thích các tin lành về Chủ nghĩa Quốc xã, nói rằng đấy là một phong trào sẽ làm cho nước Đức trỗi dậy từ đống tro tàn và nước Phổ cũng trỗi dậy từ đống tro tàn, bằng giọng cởi mở thân tình, cho đến khi một người, rõ là một gã già mồm, nói đến ông què, người duy nhất còn sống từ mặt trận trở về, một anh hùng, một tay dạn dày chinh chiến, một người Phổ trăm phần trăm, tuy thỉnh thoảng hơi lười tí, một dân quê kể những câu chuyện thời chiến khiến cho ta sởn da gà, những chuyện mà bản thân ông đã kinh qua, dân làng đặc biệt nhấn mạnh điều này, bản thân ông đã kinh qua, đấy đều là chuyện thật, không chỉ thật mà người kể còn đã kinh qua chúng chừng đó thì một người trong ủy ban, một người rất chi ra vẻ ông lớn (điều này cần nhấn mạnh, bởi những người đi cùng ông này không hề ra vẻ ông lớn, họ là những người bình thường như ai, thích uống bia thích ăn cá ăn xúc xích rồi đánh rắm rồi cười và hát, những người này, điều này cần nói rõ và nhắc đi nhắc lại để cho công bằng với họ, họ không làm bộ ông to, ngược lại, họ trông cũng chỉ phó thường dân như ai, cũng như những người bán hàng rong đi từ làng này sang làng khác, từ chúng dân sinh ra và sống cạnh chúng dân, và khi họ chết thì ký ức về họ sẽ tiêu tán trong ký ức của chúng dân), bảo rằng có lẽ, chỉ là có lẽ thôi, được gặp người lính Reiter này thì cũng hay, và sau đó hỏi do đâu mà người lính Reiter không có mặt tại đó, trong tửu quán, chuyện trò cùng các đồng chí Quốc xã vốn chỉ mong điều tốt lành cho nước Đức, vậy là một thôn dân, người có một con ngựa chột được ông ta chăm nom chu đáo hơn cả người lính già Reiter chăm nom bà vợ chột của ông, liền bảo rằng Reiter không đến quán là do ông không có tiền để uống dù chỉ một cốc bia, thế rồi các thành viên ủy ban liền nói không sao hết, họ sẽ trả tiền bia cho người lính Reiter, sau đó cái tay ra bộ ta đây ông lớn liền ngoắc một thôn dân bảo ông này đến nhà người lính Reiter đưa ông ấy đến tửu quán, vậy là thôn dân kia liền làm ngay lập tức, nhưng mười lăm phút sau, khi quay lại, ông này thông báo cho tất cả những người có mặt rằng người lính Reiter không muốn đến vì ông ấy không có áo quần tươm tất để trình diện trước những con người danh giá là thành viên của ủy ban, thêm nữa ông đang ở nhà một mình với con gái, vì bà vợ chột của ông đi làm chưa về mà con gái ông thì lẽ tự nhiên là không thể ở nhà một mình, một lý lẽ khiến cho các thành viên ủy ban (vốn là lợn) nghe mà xúc động rơi nước mắt, bởi họ không chỉ là lợn mà còn là những người đa cảm, và số phận người cựu binh tàn phế vì chiến tranh này đã chạm đến sâu thẳm con tim họ, tuy nhiên cái tay ra điều ta đây ông lớn thì không, ông này đứng dậy và sau khi nói, như để chứng minh tầm văn hóa của mình, rằng nếu Mohammed không thể đến với núi, núi sẽ đến với Mohammed, liền ra hiệu bảo thôn dân kia dẫn ông đến tận nhà ông què và không cho bất cứ thành viên nào khác trong ủy ban được đi theo họ, thế là thành viên đảng Quốc xã này bước trên những con phố thị trấn lầy bùn làm lấm bẩn đôi bốt ông, đi theo thôn dân kia gần như đến tận bìa rừng, ở đó là nhà của gia đình Reiter, và khi đến nơi ông ta nhìn căn nhà trong một thoáng bằng con mắt đầy hiểu biết rồi mới bước vào, như để đo lường tính cách của gia chủ xét qua sự hài hòa hay sức mạnh nơi những đường nét của căn nhà, hoặc như thể ông ta thích thú vô chừng thứ kiến trúc thôn quê ở vùng này của nước Phổ, rồi sau đó họ đi vào nhà và quả thật có một đứa con gái lên ba đang ngủ trên chõng gỗ và quả thật ông què mặc đồ rách te tua, bởi vì áo khoác nhà binh cùng với cái quần duy nhất đường được một chút của ông ngày hôm đó đang nằm trong chậu giặt hoặc đang phơi ở ngoài sân, song chẳng phải vì vậy mà chủ nhân không tiếp đón họ đầy niềm nở, đương nhiên là lúc ban đầu ông què thấy tự hào, thấy vinh hạnh, được một thành viên ủy ban cất công thân hành đến tận nhà mình để chào mình, nhưng rồi sau đó chuyện đâm ra không ổn hoặc chừng như không ổn, bởi vì những câu hỏi của cái tay luôn ra vẻ ta đây ông lớn càng lúc càng khiến ông què đâm không thích và những nhận xét của tay này, không phải nhận xét mà đúng hơn phải gọi là lời tiên tri, cũng bắt đầu khiến ông không thích, thế là với mỗi câu hỏi ông què đều trả lời bằng một câu mà nói chung là kỳ quặc hay quá quắt, và trước mỗi nhận xét của người kia ông què lại bồi vào một câu hỏi mà bằng cách nào đó lật nhào lời nhận xét kia hoặc làm nó có vẻ đáng ngờ hoặc khiến nó đâm nghe ấu trĩ, hoàn toàn chẳng hợp tình hợp lý chút nào, khiến cho cái tay ra điều ông lớn kia nổi cáu, để rồi trong một nỗ lực vô ích cố tìm một tiếng nói chung, ông này liền bảo ông què rằng hồi chiến tranh ông ta đã bắn hạ một tá máy bay của Pháp, tám máy bay của Anh và ông ta biết quá rõ những khó khăn gian khổ người lính phải trải nơi tiền tuyến, nghe đoạn này ông què đáp rằng những gian khổ lớn nhất mà ông đã trải không phải ở ngoài tiền tuyến mà ở cái quân y viện đáng nguyền rủa gần Düren, nơi các chiến hữu của ông ăn cắp không chỉ thuốc lá mà bất cứ thứ gì ăn cắp được, cho đến cả linh hồn họ cũng ăn cắp để bán, bởi rất có thể là trong các quân y viện Đức có một số lượng lớn môn đồ của Satan, một điều xét cho cùng cũng dễ hiểu, ông què nói, bởi vì nằm lâu ở quân y viện thì người ta đâm ra dần dần ngả theo hướng thành đồ đệ Satan, và tuyên bố này khiến cho ông phi công chiến đấu tự nhận kia nổi cáu vì ông ta cũng từng nằm quân y viện ba tuần, ở Düren? ông què hỏi, không, ở Bỉ, cái ông ra điều ta đây ông lớn nói, và ở đó sự chăm nom săn sóc của người ta đối với ông không chỉ đáp ứng được mà rất nhiều khi còn vượt xa mọi kỳ vọng không chỉ về đức hy sinh mà cả về sự từ ái và thấu hiểu, những ông bác sĩ vừa giỏi tuyệt vời vừa rõ dáng nam nhi, những cô y tá vừa thành thạo vừa xinh đẹp, một bầu không khí đầy tình đoàn kết, đức kiên trì và chí can trường, cho đến cả một nhóm bà xơ người Bỉ cũng cho thấy một ý thức cao độ về nghĩa vụ, nói gọn, ai nấy đều góp phần làm sao cho thời gian nằm viện của thương binh càng dễ chịu càng hay, xét hoàn cảnh lúc bấy giờ, hẳn rồi, vì một bệnh viện thì không phải là hí viện hay nhà thổ, rồi sau đó họ chuyển sang những đề tài khác, như là sự hình thành nước Đại Đức, việc xây dựng một Hinterland, việc thanh lọc các thiết chế nhà nước mà theo sau đó là việc thanh lọc toàn dân tộc, tạo việc làm mới, đấu tranh để hiện đại hóa, và trong khi tay cựu phi công đang nói thì bố của Hans Reiter càng lúc càng trở nên bồn chồn, tuồng như ông sợ bé Lotte sẽ bật khóc bất cứ lúc nào, hoặc như thể ông đột nhiên nhận ra rằng mình không phải người đối thoại xứng tầm với cái kẻ ra điều ông lớn này, và có lẽ tốt nhất là ông hãy quỳ xuống dưới chân kẻ mơ mộng này, vị thống lĩnh quân đội ở trên trời này, mà tự thú cái điều vốn đã hiển nhiên, về sự ngu dốt của mình sự nghèo túng của mình và về chí can trường mà ông đã mất, thế nhưng ông chẳng làm gì như vậy mà chỉ lắc đầu trước mỗi câu người kia nói, tuồng như ông không thấy bị thuyết phục (sự thực là ông đang khiếp đảm), làm như ông khó mà hiểu thấu được tầm vóc những giấc mơ của người kia (sự thực là ông tuyệt chẳng hiểu gì), cho đến khi cả hai, tay cựu phi công ra điều ông lớn và ông, chợt thấy cậu nhỏ Hans Reiter bước vào nhà, chẳng nói chẳng rằng bế đứa em gái lên khỏi chõng mang ra ngoài sân.

“Ai vậy?” tay cựu phi công hỏi.

“Thằng con lớn của tôi,” ông què nói.

“Nhìn như con cá ngựa vậy kìa,” tay cựu phi công nói, đoạn cười ha hả.

♣ ♣ ♣

Thế là vào năm 1933 Hans Reiter thôi học bởi các giáo viên kết tội cậu lơ là chuyện học hành và thường xuyên vắng mặt, chuyện ấy thì tuyệt đối đúng, và bố mẹ cùng họ hàng cậu tìm cho cậu việc làm trên một thuyền đánh cá, nhưng rồi bị chủ thuyền cho thôi việc sau ba tháng bởi cậu nhỏ Reiter thích nhìn xuống đáy biển hơn là giúp mọi người kéo lưới, rồi cậu bắt đầu làm tá điền trong nông trại, cho đến khi bị người ta cho nghỉ vì tội chây lười, sau đó cậu đi nhặt than bùn và làm tập sự trong một cửa hàng dụng cụ ở thị trấn Dân Béo và giúp việc cho một nông dân đi bán rau tự trồng đến tận Stettin, nhưng rồi cậu cũng bị đuổi nốt vì cậu giúp thì ít mà là gánh nặng thì nhiều, cho đến khi rốt cuộc người ta cho cậu vào làm việc ở nhà nghỉ nông thôn của một nam tước người Phổ, một ngôi nhà nằm chính giữa rừng, gần một hồ nước đen, cũng là nơi bà chột làm việc, chuyên chùi bụi trên bàn trên ghế trên các bức tranh trên những tấm rèm lớn tướng trên những tấm thảm Gobelin và trong những phòng khác nhau, mỗi phòng có một cái tên riêng bí ẩn khiến người ta nghĩ tới những nghi thức của một giáo phái ẩn mật và không khỏi tích đầy bụi, những căn phòng lẽ ra cần phải thông gió để gột cho hết cái mùi ẩm thấp và mùi bỏ bê cứ lâu lâu lại bò vào, rồi lại còn phải lau bụi trên những cuốn sách trong cái thư viện mênh mông của ngài nam tước, những cuốn sách mà ngài họa hoằn lắm mới cầm tới đọc, những cuốn sách xưa lắc xưa lơ từ thời bố của ngài nam tước và đến cả vị này thì cũng thừa hưởng từ ông của ngài nam tước, vốn hình như là người duy nhất trong cả gia tộc bề thế này từng đọc sách và đã gieo tình yêu sách vở vào các hậu duệ của mình, một tình yêu không chuyển hóa thành việc đọc mà thành việc bảo tồn thư viện ấy, cái thư viện mà đến nay vẫn y nguyên như lúc ngài kia để lại, không lớn hơn lên cũng chẳng nhỏ đi.

Và Hans Reiter, vốn cả đời chưa bao giờ thấy nhiều sách đến vậy ở cùng một chỗ, lau bụi cho từng cuốn một và rất mực nâng niu, nhưng cũng chẳng đọc, một phần vì cuốn sách về sự sống dưới biển đã đủ làm cậu thỏa lòng còn một phần là do cậu sợ sự xuất hiện bất ngờ của ngài nam tước, vốn chẳng mấy khi đến ngôi nhà ở nông thôn bởi còn bận công việc ở Berlin và Paris, tuy rằng lâu lâu vẫn có sự xuất hiện của cháu ngài nam tước, con trai cô em gái mất sớm của ngài nam tước cùng một họa sĩ nay đã định cư ở miền Nam nước Pháp vẫn bị ngài nam tước ghét cay ghét đắng, một tay trạc tuổi đôi mươi thường lưu lại ngôi nhà thôn quê khoảng một tuần, chỉ một mình, chẳng bao giờ làm rộn đến ai, thường giam mình trong thư viện hàng tiếng đồng hồ, đọc sách hoặc uống cô nhắc cho đến khi ngủ gục trên ghế.

Có những khi người đến là con gái ngài nam tước nhưng mỗi lần cô lưu lại ngắn hơn, không quá hai ngày cuối tuần, tuy nhiên với đám kẻ hầu người hạ thì cái cuối tuần ấy bằng như một tháng vì con gái nam tước chẳng bao giờ đến một mình mà mang theo cả một lũ bạn, đôi khi hơn chục mạng, thảy đều vô tư, thảy đều ăn như hạm, thảy đều bừa bãi, biến cả ngôi nhà thành một nơi hỗn độn om sòm, hôm nào cũng tiệc tùng chè chén thâu đêm.

Đôi lần con gái ngài nam tước đến cùng lúc cháu ngài nam tước đang lưu lại đó, vậy là cháu ngài nam tước, bất kể cô chị họ khẩn nài đến đâu, liền bỏ đi gần như ngay tức khắc, có khi thậm chí không buồn đợi cỗ xe ngựa kéo thường những lúc như vậy vẫn chở anh ta đến ga xe lửa tại thị trấn Gái Lắm Mồm.

Mỗi lần cô chị họ đến là cháu ngài nam tước, vốn dĩ đã rụt rè ít nói, liền rơi vào một trạng thái cứng đờ và hậu đà hậu đậu đến nỗi đám gia nhân, mỗi khi kháo nhau về những chuyện xảy ra trong ngày, không thể không nhất trí với nhau về phán quyết này: anh ta yêu cô chị hoặc thèm cô chị hoặc chết mê chết mệt vì cô chị hoặc khổ sở héo hon vì cô chị, những ý kiến này cậu trẻ Hans Reiter nghe được trong khi ngồi bắt tréo chân ăn bánh mì bơ, chẳng nói gì cũng chẳng đế thêm gì, mặc dù thật ra cậu chàng biết anh cháu ngài nam tước, vốn tên là Hugo Halder, rõ hơn bất cứ ai trong đám gia nhân, những người dường như mù lòa trước thực tại và chỉ thấy những gì muốn thấy, tức là một chàng trai mồ côi đang si tình đang đau khổ và một cô gái mồ côi (dù ai cũng thừa biết cô con gái ngài nam tước có bố có mẹ) đầy táo tợn đang chờ đợi một sự đền đáp mơ hồ, khó hiểu.

Một sự đền đáp bốc mùi khói than bùn, mùi xúp bắp cải, mùi gió bị vướng víu quẩn chân trong bụi bờ rậm rạp của rừng. Một sự đền đáp bốc mùi gương, Reiter nghĩ, suýt nghẹn bánh mì.

♣ ♣ ♣

Mà tại sao cậu trẻ Reiter biết về Hugo Halder, một chàng trai ngoài hai mươi tuổi, rõ hơn đám kẻ hầu người hạ khác? Chà, vì một lý do rất đơn giản. Hoặc vì hai lý do rất đơn giản, xoắn xuýt hoặc kết hợp với nhau, đã cho ta một chân dung đầy đủ hơn song cũng phức tạp hơn về anh cháu của ngài nam tước.

Thứ nhất: cậu đã quan sát anh ta trong thư viện lúc cậu dùng chổi lông gà phủi bụi sách, đã quan sát anh ta từ trên đỉnh cái cầu thang di động trong khi anh ta đang ngủ, thở sâu hoặc ngáy, nói một mình, tuy nhiên không nói những câu hoàn chỉnh như em Lotte dịu dàng mà là nói từng tiếng đơn âm, những mảnh từ, những mẩu câu chửi, mang ý tự vệ, tuồng như anh ta đang mơ thấy mình bị giết. Cậu cũng đã xem nhan đề những cuốn sách mà cháu ngài nam tước đọc. Phần lớn là sách sử, nghĩa là cháu ngài nam tước thích lịch sử hoặc quan tâm đến lịch sử, thứ mà thoạt nhìn Hans Reiter đã thấy tởm rồi. Cả đêm anh ta toàn uống cô nhắc hút thuốc và đọc sách sử. Tởm. Khiến cậu tự hỏi: im lặng đến vậy là để thế này sao? Và cậu cũng nghe những lời cháu ngài nam tước thốt ra mỗi khi anh ta bị đánh thức bởi tiếng động bất kỳ nào đó, tiếng chuột sột soạt hay tiếng một cuốn sách bìa da lật phật khi được trả về chỗ cũ giữa hai sách khác, những lời chẳng ra đầu cua tai nheo gì, như thể cả thế giới này đã đổi trục, những lời hỗn loạn chứ không phải lời của kẻ đang yêu, những lời của kẻ thống khổ, những lời bật ra từ một cái bẫy.

Lý do thứ hai còn nặng cân hơn. Vào một trong mấy lần Hugo Halder quyết định tức tốc rời khỏi ngôi nhà thôn quê khi bà chị họ đột ngột xuất hiện, Hans Reiter đã đi cùng anh ta, xách vali cho anh ta. Từ chỗ ngôi nhà thôn quê có hai đường đi tới ga tàu ở thị trấn Gái Lắm Mồm. Một đường, dài hơn, đi ngang qua làng Lợn và làng Trứng, thỉnh thoảng chạy men theo núi đá và bãi biển. Đường kia, ngắn hơn nhiều, cắt ngang một khu rừng mênh mông toàn sồi và dương rồi dẫn ra vùng ven thị trấn Gái Lắm Mồm, cạnh một nhà máy củ quả ngâm bị bỏ hoang, rất gần nhà ga.

Cảnh tượng như sau: Hugo Halder đi trước Hans Reiter, một tay cầm mũ, chăm chú quan sát tán rừng, một vùng tối tăm rậm rịch các chuyển động lẩn lút của những loài thú và chim mà anh ta không thể nhận ra. Đi phía sau cách anh ta mười mét, Hans Reiter xách vali của ông cháu ngài nam tước, nặng quá cho nên chốc chốc cậu phải đổi tay. Chợt cả hai nghe tiếng ụt ịt của một con heo rừng hoặc cả hai tin là con heo rừng. Có thể chỉ là một con chó. Có thể ấy chẳng qua là tiếng động cơ xa xa của một chiếc xe hơi sắp bị hư. Hai khả năng cuối tuy khó có thể xảy ra song không phải là không thể. Dù thế nào đi nữa, cả hai đều cùng rảo bước, chẳng nói năng gì, rồi bỗng dưng Hans Reiter vấp ngã và cái vali cũng rơi theo và bật tung ra thế là mọi thứ bên trong rơi vãi khắp nơi trên con đường tối xuyên qua khu rừng tối. Và bên cạnh quần áo của Hugo Halder, anh chàng chẳng hay biết về chuyện vali rơi nên đang mỗi lúc một đi xa hơn, chàng Hans Reiter trẻ tuổi mệt bã người nhìn thấy nào chân nến, dao nĩa bạc, nào tráp con bằng gỗ sơn mài, những món đồ quý giá bị lãng quên trong bao nhiêu căn phòng của ngôi nhà thôn quê, chắc chắn rồi sẽ bị ông cháu ngài nam tước đem cầm hoặc bán ở Berlin.

♣ ♣ ♣

Dĩ nhiên Hugo Halder biết đã bị Hans Reiter phát hiện, thành ra anh ta trở nên gần gũi hơn với cậu người hầu. Dấu hiệu đầu tiên xuất hiện ngay cái buổi chiều Hans Reiter xách vali của anh ta đến nhà ga. Khi chia tay, Halder thả vào lòng bàn tay cậu dăm đồng lẻ (đó là lần đầu tiên anh ta cho cậu tiền và cũng lần đầu tiên Hans Reiter nhận được tiền ngoài khoản lương còm cõi của mình). Khi đến thăm ngôi nhà nghỉ lần sau, anh ta cho cậu một áo khoác len. Anh ta bảo đó là áo của anh ta nhưng giờ không còn vừa nữa vì dạo này anh ta béo lên một chút, tuy nhiên chỉ cần nhìn qua là thấy không phải vậy. Nói gọn, Hans Reiter không còn vô hình nữa và sự hiện diện của cậu đáng được chú ý đôi chút.

Thỉnh thoảng, trong khi Halder ở trong thư viện đọc hoặc giả bộ đọc mấy cuốn sách sử, anh ta cho gọi Reiter, người mà anh ta càng ngày càng trò chuyện lâu hơn. Đầu tiên anh ta hỏi Reiter về những gia nhân còn lại. Anh ta muốn biết họ nghĩ gì về anh ta, họ có thấy sự có mặt của anh ta gây bất tiện không, họ có thấy phiền vì anh ta không, có ai mang lòng oán hận anh ta không. Sau đó thì họ chuyển sang độc thoại. Halder kể về đời mình, về bà mẹ đã mất, về ông cậu là ngài nam tước, về cô chị họ duy nhất, cái cô nàng táo tợn và không ai với tới nổi đó, về những cám dỗ của Berlin, cái thành phố anh ta yêu song đồng thời cũng gây cho anh ta nỗi thống khổ khôn xiết nhiều khi khốc liệt không chịu nổi, về tình trạng tâm thần của anh, vốn luôn đe dọa đứt tung.

Thế rồi anh ta muốn đến lượt Hans Reiter kể về cuộc sống của cậu, cậu đã làm gì? cậu muốn làm gì? mơ ước của cậu là gì? cậu nghĩ tương lai sẽ mang gì đến cho cậu?

Về chuyện tương lai, đương nhiên Halder có những ý tưởng riêng. Anh ta tin rằng ai đó nên nhanh nhanh phát minh ra và bán một thứ dạ dày nhân tạo. Ý tưởng này điên rồ đến nỗi anh ta chính là người đầu tiên cười rộ lên (đấy là lần đầu tiên Hans Reiter nghe anh ta cười và tiếng cười của Halder khiến cậu khó chịu sâu sắc), về bố mình, ông họa sĩ nay sống ở Pháp, anh ta chẳng nói gì, thay vào đó anh ta thích nghe kể về bố mẹ những người khác. Anh ta rất thú câu trả lời của cậu trẻ Reiter về chuyện đó. Hans bảo cậu chả biết gì về bố mình sất.

“Đúng đó,” Halder nói, “người ta chả bao giờ biết gì về bố mình cả.”

Anh ta bảo rằng một người bố cũng giống như một hành lang chìm trong bóng tối sâu thăm thẳm, trong đó ta sờ soạng như người mù tìm lối ra. Tuy nhiên, anh ta khăng khăng bảo cậu ít nhất cũng hãy cho anh ta biết ông bố cậu hình dong ra sao, nhưng cậu trẻ Hans Reiter đáp là thật tình cậu không biết. Đến đây Halder muốn biết cậu có sống chung với bố cậu không. Tôi vẫn luôn sống với ông ấy, Hans Reiter đáp.

“Vậy ông ấy trông ra làm sao? Chú mày không thể tả ông ấy à?”

“Tôi không tả được vì tôi không biết,” Hans Reiter đáp.

Trong vài giây cả hai im lặng, một người săm soi móng tay mình còn người kia nhìn lên trần thư viện cao ngất. Có vẻ khó mà tin được câu trả lời này, nhưng Halder tin.

♣ ♣ ♣

Nếu căng hết cỡ nội hàm của cái từ này, có thể nói rằng Halder là người bạn đầu tiên của Hans Reiter. Mỗi lần về ngôi nhà thôn quê, anh ta lại dành thêm nhiều thời gian hơn với Hans, dù là giam mình trong thư viện hay cùng nhau vừa đi dạo vừa đàm đạo trong trang viên quanh nhà.

Ngoài ra, Halder còn là người đầu tiên bảo được Hans Reiter đọc một thứ khác ngoài cuốn Động thực vật vùng ven biển châu Âu. Cũng không dễ. Đầu tiên anh ta hỏi cậu biết đọc không. Hans Reiter đáp có. Halder liền hỏi cậu có cuốn sách nào hay không. Anh ta nhấn mạnh từ hay. Hans Reiter đáp có. Cậu có một cuốn sách hay. Halder liền hỏi sách gì. Hans Reiter đáp là một cuốn Động thực vật vùng ven biển châu Âu. Halder liền nói đó nhất định là một cuốn sách tham khảo mà anh ta thì đang nói đến một cuốn sách văn chương hay kia. Hans đáp cậu không biết một cuốn sách tham khả (tham khảo) hay và một cuốn sách văn chư (văn chương) hay thì khác nhau ra sao. Halder đáp là khác nhau ở vẻ đẹp, ở vẻ đẹp của câu chuyện được kể và ở vẻ đẹp của ngôn từ được dùng để kể. Sau đó anh ta bèn đưa ra ví dụ. Anh ta nói về Goethe và Schiller, anh nói về Hölderlin và về Kleist, anh ta nói say sưa về Novalis. Anh ta nói đã đọc tất cả các tác gia đó và mỗi lần đọc lại họ anh ta đều khóc.

“Khóc,” anh ta nói, “khóc, chú mày hiểu không, Hans?”

Nghe thế Hans Reiter liền bảo cậu thấy Halder toàn đọc sách sử, có bao giờ thấy anh ta đọc sách của các tác giả đó đâu. Câu trả lời của Halder khiến cậu ngạc nhiên. Halder nói:

“Đó là vì tao không giỏi sử nên tao cần cập nhật.”

“Để làm gì?” Hans Reiter hỏi.

“Để lấp đầy những lỗ hổng.”

“Lỗ hổng thì không thể lấp đầy được,” Hans Reiter nói.

“Được chớ,” Halder nói, “chỉ cần nỗ lực chút thôi là thứ gì trên đời cũng có thể được lấp đầy. Hồi tao bằng tuổi mày,” Halder nói, rõ là đang phóng đại, “tao đọc Goethe cho tới khi đầy ứ hết đọc không nổi nữa, mặc dù Goethe là vô tận, dĩ nhiên, ờ nhưng rốt lại thì tao đọc Goethe, đọc Eichendorff, đọc Hoffmann, và tao lơ là môn sử, mà học sử thì cũng cần, để có thể mài sắc cả hai cạnh lưỡi dao như người ta nói.”

Thế rồi trong khi trời chuyển tối và trong khi họ lắng nghe tiếng lửa reo trong lò, cả hai cố thử quyết xem Hans Reiter nên đọc sách nào đầu tiên nhưng không đi đến nhất trí được. Cuối cùng, khi đêm đã xuống, Halder bảo cậu muốn lấy cuốn nào cứ lấy, tuần sau trả. Cậu người hầu trẻ tuổi đồng ý rằng giải pháp này là tốt nhất.

♣ ♣ ♣

Chẳng bao lâu sau đó những vụ ăn cắp vặt của anh cháu ngài nam tước nơi ngôi nhà thôn quê tăng lên, bởi anh ta đánh bạc bị nợ nần và bởi anh ta có những nghĩa vụ không thể tránh với một vài phụ nữ mà anh ta không thể bỏ mặc. Halder quá vụng về hậu đậu trong việc che giấu những lần nẫng nhẹ của mình thành ra cậu Hans Reiter phải quyết định giúp anh ta. Để người ta không phát hiện ra những thứ bị xoáy mất kia đang bị thiếu, cậu đề nghị Halder sai đám gia nhân còn lại đổi vị trí các vật trong nhà khi thế này lúc thế kia, dẹp quang các phòng lấy cớ để cho thông thoáng, đem mấy cái rương cũ dưới hầm lên rồi lại cất về chỗ cũ. Nói gọn: xếp đi xếp lại mọi thứ.

Cậu còn đề xuất, và trong việc này cậu tích cực tham gia, rằng Halder hãy chú ý đến những thứ của hiếm, chỉ lấy những món đồ cổ thật sự cổ và do vậy chẳng ai còn nhớ, mấy cái mũ miện nhìn qua chẳng thấy quý giá gì từng thuộc về bà cố hay bà sơ của anh ta, mấy cây ba toong bằng gỗ quý đầu bịt bạc, mấy thanh kiếm mà tổ tiên anh ta từng dùng trong những cuộc chiến Napoléon hay chiến tranh với người Đan Mạch hay với người Áo.

Về phần mình, Halder luôn luôn hào phóng với Hans. Mỗi lần đến anh ta đều cho Hans cái mà anh ta gọi là phần chiến lợi phẩm của cậu, thật ra chỉ là một khoản bồi dưỡng kha khá, nhưng với Hans là cả một gia tài. Gia tài ấy dĩ nhiên cậu không cho bố mẹ thấy, bởi vì hai người chắc chắn sẽ buộc tội cậu ăn cắp. Cậu cũng chẳng mua gì cho bản thân. Cậu tìm thấy một cái hộp thiếc, liền bỏ vào đó mấy tờ tiền giấy và đống bạc lẻ kia, viết lên một mảnh giấy “tiền này là của Lotte Reiter” rồi đem chôn cái hộp trong rừng.

♣ ♣ ♣

Hoặc do tình cờ hoặc bởi ma xui quỷ khiến, cuốn sách Hans Reiter chọn đọc là Parzival của Wolfram von Eschenbach. Khi thấy cậu cầm quyển sách Halder liền mỉm cười bảo cậu đọc sẽ không hiểu gì đâu, nhưng anh ta cũng nói rằng anh ta chẳng ngạc nhiên thấy Hans chọn cuốn đó chứ không phải cuốn khác, bởi vì sự thật là cuốn sách ấy, mặc dù Hans sẽ chả bao giờ hiểu nó nhưng nó là cuốn thích hợp nhất cho cậu, anh ta bảo, cũng như Wolfram von Eschenbach là tác gia anh cảm thấy giống nhất với mình hoặc với tinh thần mình hoặc với cái mà mình muốn trở thành và, tiếc thay, sẽ chẳng bao giờ thành được, cho dù anh ta chỉ còn thiếu có một tí này thôi, Halder nói và giơ ngón cái cùng ngón trỏ lên, cách nhau chừng một đốt ngón tay.

Wolfram, như Hans phát hiện, nói về chính mình: tôi chạy trốn ngôn từ. Wolfram, như Hans phát hiện, đoạn tuyệt với cái hình mẫu cũ mèm về chàng hiệp sĩ cung đình và bị chối từ (hoặc tự chối từ) việc học nghề, việc học trường dòng. Wolfram, như Hans phát hiện, không giống như những người hát rong, những nghệ sĩ lang thang thời Trung cổ, khước từ phụng sự một công nương. Wolfram, như Hans phát hiện, tuyên bố ông không được học về nghệ thuật, nhưng không phải để bị coi là kẻ thiếu giáo dục, mà đó như một cách để nói rằng ông không phải mang cái gánh nặng từ chương La tinh và ông là một hiệp sĩ thế tục và độc lập. Thế tục và độc lập.

Đương nhiên, có những nhà thơ Đức thời Trung cổ khác quan trọng hơn Wolfram von Eschenbach. Friedrich von Hausen là một, hoặc Walther von der Vogelweide. Song niềm cao ngạo của Wolfram (tôi chạy trốn ngôn từ, tôi không được học về nghệ thuật), một niềm cao ngạo không coi thiên hạ ra gì, một niềm cao ngạo lên tiếng bảo tất cả các người chết hết đi, riêng ta sẽ sống, đã ban cho ông một vầng hào quang của sự bí ẩn khiến ta choáng váng, của sự thờ ơ kinh rợn, nó thu hút chàng trai Hans giống như cục nam châm khổng lồ hút một cái đinh mỏng mảnh.

Wolfram không có đất đai. Vì vậy Wolfram sống trong trạng thái hầu người khác. Wolfram có vài người bảo trợ, những nhà quý tộc cho phép người được mình bảo trợ - hay ít nhất vài người trong số ấy - không đến nỗi vô hình. Wolfram nói: gia phong của ta là tấm khiên. Và khi Halder kể cho Hans nghe tất cả những điều đó về Wolfram, như để đặt cậu vào hiện trường tội ác, Hans đọc Parzival từ đầu chí cuối, đôi khi đọc to lên, khi đang ở ngoài đồng hoặc trên đường đi làm về nhà, và không chỉ hiểu cuốn sách mà còn thích nó. Và cái cậu thích nhất, cái khiến cậu khóc và cười lăn cười lộn trên cỏ, là cái chuyện rằng đôi khi Parzival cưỡi ngựa (gia phong của ta là tấm khiên) mà mặc quần áo người điên bên dưới bộ giáp.

♣ ♣ ♣

Những năm bầu bạn với Hugo Halder là những năm có ích cho Hans. Những vụ ăn cắp vẫn tiếp diễn, khi thì liên tiếp đến chóng mặt, lúc lại thưa đi, một phần là bởi trong ngôi nhà thôn quê chẳng còn lại bao nhiêu thứ có thể xoáy được mà không làm cho cô chị họ hay đám gia nhân để ý. Chỉ có một lần duy nhất ngài nam tước xuất hiện. Ngài đi trên một chiếc xe đen, rèm kéo kín, và ngủ lại một đêm.

Hans tưởng sẽ được gặp ngài, tưởng ngài nam tước sẽ nói chuyện với cậu, nhưng chả có gì như vậy xảy ra hết. Ngài nam tước chỉ ở lại một đêm trong ngôi nhà thôn quê, lui tới những chái nhà bị bỏ bê nhất, thường xuyên di động (và thường xuyên mỉm cười), không sai phái gì đám gia nhân, tuồng như ông đang nằm mơ và không thể giao tiếp bằng lời nói với ai. Buổi tối ông ăn bánh mì đen với pho mát rồi thân hành xuống dưới hầm chọn một chai rượu vang đem lên khui uống cùng với bữa ăn thanh đạm. Sáng hôm sau trời vừa hửng là ông đã đi mất.

Cô con gái ngài nam tước thì ngược lại, cậu gặp nhiều lần. Luôn luôn là cùng với đám bạn cô. Trong khoảng thời gian Hans làm việc ở ngôi nhà, có ba lần cô đến trong khi Halder đang ở đó, và cả ba lần, Halder, khó chịu sâu sắc trước sự hiện diện của bà chị họ, liền tức tốc gói ghém đồ đạc bỏ đi. Lần cuối, trong khi băng qua khu rừng mà theo nghĩa nào đó đã định đoạt mối thông đồng giữa họ, Hans hỏi Halder cái gì khiến anh ta đâm bứt rứt đến vậy. Câu trả lời của Halder cụt lủn và cáu kỉnh. Anh ta bảo Hans sẽ không hiểu được đâu rồi tiếp tục bước dưới tán rừng rậm rạp.

Năm 1936, ngài nam tước đóng cửa ngôi nhà thôn quê và giải tán đám gia nhân, chỉ giữ lại người gác rừng. Mất một dạo Hans chẳng có việc gì làm, thế rồi cậu chuyển sang làm đông thêm hàng ngũ những công nhân làm xa lộ cho Đế chế. Hằng tháng cậu gửi cho gia đình gần như toàn bộ tiền lương, bởi cậu chẳng có nhu cầu gì, tuy nhiên vào các ngày nghỉ cậu vẫn cùng đám bạn cùng làm đi xuống các quán rượu ở mấy thị trấn gần nhất để uống bia cho đến lúc nằm dài ra đất. Trong đám công nhân trẻ thì cậu chắc chắn là người uống cừ nhất và đôi lần tham gia những cuộc thi ngẫu hứng đua xem ai uống được nhiều nhất trong thời gian ngắn nhất. Nhưng cậu không thích rượu, hoặc không thích rượu bằng đồ ăn, thế nên vào hôm đội của cậu làm ở gần Berlin cậu bèn xin nghỉ rồi chuồn.

Cậu tìm ra địa chỉ của Halder trong thành phố lớn kia chẳng khó khăn gì, và cậu xuất hiện nơi cửa nhà anh ta nhờ giúp đỡ. Halder tìm được cho cậu chân thư ký ở một cửa hàng văn phòng phẩm. Hans ngụ tại một phòng trong một tòa nhà dành cho công nhân, được phân cho một giường ở đó. Cậu ở chung với một người chừng bốn mươi tuổi làm bảo vệ đêm tại một nhà máy. Tên ông ta là Füchler và ông ta mắc một chứng bệnh, có lẽ liên quan đến thần kinh như ông ta thú nhận, có đêm biểu hiện ra ngoài dưới dạng phong thấp lại có đêm thành bệnh tim hoặc thành những cơn hen suyễn bất ngờ.

Hans và Füchler không hay gặp nhau, vì ông kia làm đêm còn cậu làm ngày, nhưng mỗi khi gặp là cả hai hợp nhau kinh khủng. Theo như Füchler tự nhận, hồi lâu lắm rồi ông ta từng có vợ và một đứa con trai. Khi thằng con lên năm thì bị bệnh và chẳng bao lâu sau thì chết. Füchler không chịu nổi cái chết của thằng con nên sau ba tháng để tang, giam mình trong tầng hầm, ông bèn gói ghém ba lô bỏ đi mà chẳng nói với ai một lời.

Suốt một dạo ông lang thang khắp các nẻo đường nước Đức, sống nhờ lòng hảo tâm hoặc nhờ bất cứ cái gì số phận mang đến. Vài năm sau ông đến Berlin, được một người bạn nhận ra ngoài phố rồi mời về làm việc. Người bạn này, nay đã chết, làm đốc công ở nhà máy nơi Füchler hiện giờ làm bảo vệ. Nhà máy này không lớn lắm và hồi xưa sản xuất súng săn nhưng gần đây đã chuyển sang chuyên sản xuất súng trường.

Một đêm nọ, đi làm về, Hans Reiter thấy ông bảo vệ Füchler đang nằm trên giường. Bà chủ nhà trọ đã mang cho ông một đĩa xúp. Anh thợ học việc ở cửa hàng văn phòng phẩm biết ngay rằng người bạn chung phòng đang hấp hối.

♣ ♣ ♣

Người khỏe thường tránh tiếp xúc với người bệnh. Quy luật này áp dụng với hầu như tất cả mọi người. Hans Reiter là ngoại lệ. Cậu không sợ cả người khỏe lẫn người bệnh. Cậu không bao giờ chán nản. Cậu luôn sẵn lòng giúp đỡ và rất coi trọng cái ý niệm - vốn mơ hồ thế, dễ nhào nặn thế, đã bị lệch lạc thế - về tình bạn. Lời của người bệnh, kể cả lời của những người chỉ có khả năng lắp ba lắp bắp, luôn luôn hệ trọng hơn lời của người khỏe. Thêm nữa, người khỏe nào thì rồi cũng sẽ có ngày ngã bệnh. Ý niệm về thời gian, a ha, ý niệm về thời gian ở những người bệnh, ấy thật là kho báu giấu trong hang nơi sa mạc. Hon nữa, người bệnh đã cắn là cắn thật, trong khi người khỏe chỉ giả bộ cắn trong khi thực ra họ chỉ đớp khí thôi. Cả thế nữa, cả thế nữa, cả thế nữa.

♣ ♣ ♣

Trước khi chết, Füchler bảo Hans nếu muốn thì cậu có thể nhận công việc của ông. Ông hỏi cậu kiếm được bao nhiêu ở cửa hàng văn phòng phẩm. Hans cho ông biết. Ít lắm. Füchler viết thư tiến cử Hans với người đốc công mới, bảo lãnh cho tư cách của cậu trai, bảo rằng ông biết cậu từ khi cậu mới chào đời. Hans nghĩ về chuyện đó suốt ngày, trong khi dỡ những hộp bút chì những hộp tẩy những hộp vở từ trên xe xuống và trong khi quét vỉa hè phía trước cửa hàng văn phòng phẩm. Khi về nhà cậu nói với Füchler rằng cậu thấy ý đó hay, cậu sẽ đổi chỗ làm. Ngay đêm đó cậu đến trình diện chỗ nhà máy súng trường nằm ở ven thành phố và sau một cuộc trò chuyện ngắn với đốc công, người ta đồng ý cho cậu thử việc mười lăm ngày. Chẳng bao lâu sau, Füchler chết. Do chẳng có ai để nhận các đồ tùy thân của ông nên Hans giữ cả. Một cái áo khoác, hai đôi giày, một khăn choàng len, bốn sơ mi, mấy áo lót, bảy đôi tất. Dao cạo của Füchler thì cậu đem tặng ông chủ nhà trọ. Dưới gầm giường, trong một hộp các tông, cậu phát hiện ra mấy cuốn tiểu thuyết cao bồi. Số này cậu giữ cho mình.

♣ ♣ ♣

Kể từ đó, thời gian rảnh của Hans Reiter tăng gấp bội. Đêm đêm cậu đi qua đi lại trên khoảng sân lát đá của nhà máy, dọc các hành lang lạnh lẽo của những căn phòng dài lắp cửa sổ kính thật to để cho ánh mặt trời lọt vào càng nhiều càng tốt, và sáng sáng, sau khi ăn điểm tâm chỗ xe lưu động trong xóm công nhân nơi cậu sống, cậu ngủ từ bốn đến sáu tiếng đồng hồ rồi sau đó có cả buổi chiều rảnh rỗi đặng bắt tàu điện đến Berlin, tới nhà Hugo Halder và cùng anh này đi tản bộ hoặc đến các quán cà phê và các nhà hàng nơi anh cháu ngài nam tước luôn luôn gặp được người quen nào đó rồi đề nghị với họ những vụ làm ăn mà chẳng ai chấp nhận.

Dạo đó Hugo Halder sống tại một con hẻm gần Himmelstrasse, trong một căn hộ nhỏ chật ních đồ gỗ cũ cùng những bức tranh phủ bụi treo trên tường và bạn thân nhất của anh ta, ngoài Hans, là một người Nhật làm trợ lý cho tùy viên nông nghiệp của đoàn ngoại giao Nhật. Tay người Nhật tên là Noburo Nisamata nhưng cả Halder lẫn Hans đều gọi gã là Nisa. Gã hai mươi tám tuổi và tính tình dễ mến, sẵn sàng hưởng ứng những chuyện đùa ngây thơ nhất và lắng nghe những ý tưởng ngông cuồng nhất. Họ thường gặp nhau ở quán cà phê La Virgen de Piedra, cách Alexanderplatz mấy bước chân, Halder và Hans hay đến đó trước ăn gì đó, có thể là xúc xích với bắp cải dầm, cho đến khi, một hai giờ sau, tay người Nhật đến, ăn mặc không chê vào đâu được, rồi họ chỉ uống một ly whiskey không pha không đá sau đó vội vã rời quán rượu mà đắm mình vào đêm Berlin.

Đến đó thì Halder nhận làm thủ lĩnh. Họ bắt taxi đến Eclipse, một quán cabaret có những diễn viên tồi nhất Berlin, một nhóm những mụ già bất tài đã thành công phô phang không tô vẽ sự thất bại của mình, và ở đó, bất chấp những tiếng cười tiếng huýt sáo, nếu ta đủ quen biết với một tay bồi để được bố trí cho một bàn trong chỗ khuất, ta vẫn có thể trò chuyện chẳng mấy khó khăn. Ngoài ra, quán Eclipse còn rẻ nữa, mặc dù trong những đêm du hí Berlin ấy Halder chẳng bận tâm đến chuyện tiền bạc, vì nhiều lý do nhưng một trong số đó là tay người Nhật luôn luôn giành trả tiền. Sau đó, khi đã túy lúy rồi, họ đi bộ đến quán Nghệ sĩ, mặc dù không có nhiều hoạt động nhưng là nơi ta có thể gặp một số họa sĩ của Đế chế và, điều này khiến Nisa lấy làm thích thú lắm, ta có thể chung bàn với một trong các ngôi sao này, nhiều người Halder đã quen biết từ lâu và đôi người thậm chí anh ta còn xưng hô bằng mày tao chí tớ nữa.

Thường vào khoảng ba giờ sáng họ rời quán cà phê Nghệ sĩ đến Danube, một quán cabaret thời thượng có các vũ nữ rất cao rất đẹp và ở đó không chỉ một lần họ phải khó khăn lắm mới thuyết phục được tay gác cửa hoặc ông quản lý cho phép Hans vào bởi cậu này nghèo rớt mồng tơi nên mặc quần áo không phù hợp. Tuy nhiên, vào những ngày thường thì đến mười giờ tối là Hans chia tay các bạn rồi chạy đến trạm xe điện và quay về vừa kịp ca trực đêm. Vào những ngày này, nếu thời tiết tốt, họ ngồi hàng giờ ngoài sân hiên một nhà hàng xa hoa nào đấy, bàn về những phát minh mà Halder mới nghĩ ra. Anh này thề rằng, một ngày nào đó, khi có thời gian, anh ta sẽ xin cấp bằng sáng chế và sẽ phát tài, khiến anh chàng người Nhật nghe xong bèn phá lên cười một cách khoái trá đến là kỳ quặc. Tiếng cười của Nisa có gì đó như động kinh: anh chàng cười không phải chỉ bằng môi bằng mắt và bằng họng mà bằng cả hai tay, bằng cổ, bằng hai bàn chân gõ khẽ xuống sàn.

Một lần, sau khi giải thích cho hai người kia về công dụng của một cỗ máy làm ra mây nhân tạo, Halder bỗng hỏi Nisa rằng liệu sứ mệnh của anh chàng tại Đức có đúng như anh chàng nói không hay thật ra anh chàng là mật vụ. Câu hỏi quá bất ngờ khiến Nisa sửng sốt và ban đầu anh chàng không hiểu hết. Sau đó, khi Halder đã nghiêm trang giải thích về sứ mệnh của một mật vụ, Nisa lại bùng lên một cơn cười mà Hans chưa từng thấy trong đời, đến độ anh chàng ngã khỏi bàn nằm bất tỉnh trên sàn khiến Hans và Halder phải đưa anh chàng vào toilet, vã nước lên mặt cố làm cho anh chàng tỉnh lại.

Nisa thì chẳng nói gì nhiều, hoặc là do ý tứ hoặc là do anh chàng không muốn khiến họ khó chịu bởi cách phát âm tiếng Đức nặng trịch của mình. Tuy nhiên thỉnh thoảng anh chàng cũng nói những điều thú vị. Chẳng hạn, anh chàng bảo Thiền là một ngọn núi tự cắn đuôi mình. Anh chàng bảo anh chàng vốn học tiếng Anh và được phân nhiệm ở Berlin là do một trong lắm nhầm lẫn của bộ. Anh chàng bảo đám samurai chẳng khác gì cá trong thác tuy nhiên samurai cừ khôi nhất trong lịch sử là một phụ nữ. Anh chàng bảo bố anh chàng quen một thầy dòng Thiên Chúa giáo từng sống mười lăm năm trên đảo Endo không một lần rời khỏi đó, rằng đảo Endo cách Okinawa mấy dặm, toàn đá núi lửa và không có nước.

Khi nói những điều như vậy anh ta thường kèm theo một nụ cười. Halder, tới lượt mình, trêu chọc Nisa bằng cách khẳng định Nisa theo Thần đạo, rằng anh chàng chỉ khoái điếm Đức, rằng ngoài tiếng Đức và tiếng Anh ra anh chàng còn nói và viết được tiếng Phần Lan, tiếng Thụy Điển, tiếng Na Uy, tiếng Đan Mạch, tiếng Hà Lan, tiếng Nga. Khi Halder nói những điều này, Nisa cười chậm rãi, hi hi hi, và nhe răng cho Hans thấy, mắt long lanh.

♣ ♣ ♣

Tuy nhiên, đôi lần, ngồi ở sân quán cà phê hoặc quanh một bàn tối trong quán cabaret, bộ ba rơi vào một sự im lặng dằng dai không thể lý giải. Họ như thể đột ngột đóng băng, quên bẵng thời gian mà hoàn toàn hướng vào trong, như thể họ đang ở bên rìa cái vực thẳm đời sống thường nhật, vực thẳm người đời, vực thẳm chuyện trò và đã quyết định tiến đến một chốn kiểu như vùng đất ven hồ, một vùng lãng mạn trễ tràng, nơi mà các ranh giới được đếm giờ từ hoàng hôn đến hoàng hôn, mười, mười lăm, hai mươi phút kéo dài vĩnh cửu, giống như những phút của kẻ bị tuyên án tử, giống như những phút của những người đàn bà mới sinh con và bị tuyên án tử, hiểu rằng thêm nhiều thời gian chẳng phải là thêm nhiều vĩnh cửu thế nhưng bằng toàn bộ tâm hồn mình họ vẫn mong mỏi có thêm thời gian và những tiếng rền rĩ của họ là những con chim thỉnh thoảng bay qua quang cảnh ven hồ nhân đôi ấy, xiết bao điềm tĩnh, như những cái bướu sum suê hay những nhịp tim. Thế rồi, lẽ đương nhiên, ba người sẽ vụng về trồi ra khỏi sự lặng im và tiếp tục nói về những phát minh, về đàn bà, về triết học Phần Lan, về việc làm đường trên khắp Đế chế.

♣ ♣ ♣

Chẳng hiếm khi những cuốc dạ hành của họ kết thúc ở căn hộ của Grete von Joachimsthaler, một người bạn cũ vẫn được Halder duy trì một mối quan hệ đầy những hiểu lầm và lừa dối.

Cánh nhạc công thường ghé thăm nhà Grete, trong đó có một chỉ huy dàn nhạc từng tuyên bố âm nhạc là chiều không gian thứ tư và Halder rất ngưỡng mộ ông này. Ông nhạc trưởng ba mươi lăm tuổi và được hâm mộ (cánh đàn bà phát cuồng lên vì ông ta) như thể ông ta mới hai mươi lăm tuổi và được tôn kính như thể ông ta đã tám chục. Như đã thành lệ, mỗi khi đến căn hộ của Grete đặng khép lại một tối vui, ông ta đều ngồi xuống bên dương cầm, dù không chạm dù chỉ là đầu ngón tay út vào cây đàn, và lập tức được cả một bầu đoàn bạn hữu và người hâm mộ ngây ngất vây quanh, cho đến khi ông ta quyết định đứng dậy và bước tới giống như một người nuôi ong, chỉ có điều người nuôi ong này không được bảo vệ bằng bộ đồ kín mít từ đầu tới chân hay mũ bảo hộ và vô phúc cho con ong nào cố đốt ông ta, dù chỉ trong ý nghĩ.

Ông ta nói rằng chiều không gian thứ tư bao hàm cả ba chiều và do vậy nó đặt ba chiều ấy về với giá trị thực, nghĩa là nó triệt tiêu sự độc tài của ba chiều và bởi vậy triệt tiêu cái thế giới ba chiều mà chúng ta vẫn biết và đang sống. Ông ta nói chiều thứ tư là sự phong phú tràn trề của các giác quan và của Tinh thần (viết hoa), nó là con Mắt (viết hoa), nói cách khác là con Mắt mở to triệt tiêu các con mắt, vốn chỉ là những lỗ bùn thảm hại nếu so với Mắt, mải mê chiêm ngắm cái phương trình sinh-học-làm-chết, trong khi Mắt cưỡi trên dòng sông triết học, trên dòng sông hiện hữu, trên dòng sông (chảy xiết) số phận.

Ông ta nói chiều thứ tư chỉ được biểu đạt qua âm nhạc. Bach, Mozart, Beethoven.

Khó mà lại gần ngài nhạc trưởng. Tức là, lại gần về mặt vật lý thì không khó, nhưng khó mà có chuyện ông ta, bị dải đèn chiếu trước sân khấu làm cho lóa mắt và bị bục nhạc trưởng chia cách với mọi người, lại nhìn thấy ta được. Tuy nhiên, một đêm kia, cái bộ ba ngoạn mục gồm Halder, tay người Nhật và Hans đã thu hút được sự chú ý của ông ta và ông ta liền hỏi bà chủ nhà họ là ai. Bà bảo ông ta rằng Halder là bạn, con trai một họa sĩ từng có thời đầy hứa hẹn, cháu của nam tước Von Zumpe, rằng tay người Nhật làm việc ở sứ quán Nhật còn cái gã trẻ tuổi cao nhồng, bệ rạc, quần áo lôi thôi kia chắc chắn là một nghệ sĩ, có lẽ họa sĩ, được Halder bảo trợ.

Ngài nhạc trưởng muốn làm quen với họ, thế là nữ chủ nhân, rất mực tinh tế, liền lấy ngón trỏ ra hiệu cho bộ ba đang ngạc nhiên kia và dẫn họ vào một chỗ riêng trong căn hộ. Mãi một hồi, âu cũng dễ hiểu họ chẳng biết nói gì. Ngài nhạc trưởng nói với họ, thêm lần nữa, về âm nhạc và về chiều thứ tư, bởi đấy là đề tài ưa thích của ông, chẳng rõ khi nào thì cái này chấm dứt và cái nọ bắt đầu, tuy nhiên, xét theo một số lời bí hiểm của ngài nhạc trưởng, điểm hợp nhất giữa hai cái đó là chính bản thân ngài, bên trong ngài những bí ẩn và những lời đáp nhập vào nhau một cách tự nhiên. Halder và Nisa tán đồng tất cả, Hans thì không. Theo ngài nhạc trưởng, sự sống - sự sống đúng nghĩa - ở chiều thứ tư là phong phú ngoài sức tưởng tượng, vân vân, nhưng điều thực sự quan trọng là cái khoảng cách mà ở đó một người dấn sâu vào cõi hài hòa này có thể quan sát những sự vụ của người đời, một cách an nhiên, nói gọn một tiếng là vậy, không vướng víu những gánh nặng giả tạo đè lên tinh thần vốn đã được dâng hiến cho công việc và sáng tạo, dâng hiến cho chân lý siêu việt duy nhất của sự sống, cái chân lý tạo thêm sự sống và thêm nhiều nhiều sự sống, một dòng sự sống hân hoan và sáng láng không bao giờ cạn.

Ngài nhạc trưởng nói hoài về chiều thứ tư và về một số bản giao hưởng ông từng chỉ huy hoặc dự định sắp tới sẽ chỉ huy, chẳng rời mắt khỏi người nghe lấy một lần. Mắt ông ta như mắt một con chim ưng đang bay và hân hoan tự hân thưởng mình trong sự bay này, nhưng đồng thời cũng duy trì một cái nhìn cảnh giác cao độ, có khả năng phát hiện chuyển động nhỏ nhất ở dưới kia, trên mặt đất hỗn mang.

Có thể ngài nhạc trưởng đang ngà ngà say. Có thể ngài nhạc trưởng đang mệt và đang nghĩ tới những chuyện khác. Có thể lời của ngài nhạc trưởng hoàn toàn không biểu đạt trạng thái tâm trí ông, tài năng của ông ta, thái độ run sợ thành kính của ông trước hiện tượng nghệ sĩ.

♣ ♣ ♣

Tuy nhiên, đêm đó, Hans đã hỏi hoặc băn khoăn thành tiếng (đó là lần đầu tiên cậu nói) rằng những người cư ngụ hoặc thường xuyên lui tới chiều thứ năm, họ nghĩ gì. Ban đầu nhạc trưởng không hiểu rõ ý cậu, mặc dù tiếng Đức của Hans đã khá lên nhiều từ khi cậu rời nhà đi làm công nhân cầu đường và nhất là từ khi cậu sống ở Berlin. Sau đó thì ông ta hiểu ra và không nhìn Halder và Nisa nữa mà tập trung cái nhìn chim ưng hay cái nhìn đại bàng hay cái nhìn kền kền vào cặp mắt xanh lơ điềm tĩnh của cậu người Phổ trẻ, trong khi cậu này đặt thêm câu hỏi khác: những người có thể tự do ra vào chiều thứ sáu nghĩ gì về những người ngụ ở chiều thứ năm hay chiều thứ tư? Những người sống ở chiều thứ mười, tức những người lĩnh hội được mười chiều, họ nghĩ gì về âm nhạc chẳng hạn? Với họ thì Beethoven là gì? Với họ thì Mozart là gì? Với họ thì Bach là gì? Có lẽ với họ âm nhạc chỉ là tiếng động, cậu Reiter trẻ tuổi tự trả lời, tiếng động như là trang giấy bị vò, tiếng động như là sách bị đốt.

Đến đây ngài nhạc trưởng giơ tay nói hay đúng hơn là thì thào bằng giọng như với một người thân tín:

“Đừng nói đến sách bị đốt, anh bạn trẻ.”

Hans liền đáp:

“Mọi thứ đều là sách bị đốt, ngài nhạc trưởng kính mến ạ. Âm nhạc, chiều thứ mười, chiều thứ tư, những cái nôi, ngành sản xuất súng đạn, tiểu thuyết miền Tây: tất thảy đều là sách bị đốt.”

“Cậu nói cái gì vậy?” nhạc trưởng hỏi.

“Tôi chỉ đưa ra ý kiến của mình,” Hans nói.

“Một ý kiến như bất kỳ ý kiến nào,” Halder nói, cố hết sức chấm dứt cuộc trò chuyện bằng giọng điệu bông lơn, sao cho ông nhạc trưởng không ghét mình mà cũng không ghét bạn mình, “một tuyên bố tiêu biểu của thanh niên.”

“Không, không, không,” nhạc trưởng nói, “cậu bảo tiểu thuyết miền Tây là có ý gì?”

“Tiểu thuyết cao bồi,” Hans nói.

Tuyên bố này có vẻ như đã trút một gánh nặng khỏi ngài nhạc trưởng, ngài này, sau khi trao đổi thêm mấy lời thân ái với họ, liền quày quả bỏ đi. Về sau, ông ta nói với nữ chủ nhân rằng Halder và tay người Nhật có vẻ là người đàng hoàng, nhưng gã thiếu niên bạn của Halder, không nghi ngờ gì hết, là một quả bom hẹn giờ: một tinh thần mạnh mẽ, bất kham, phi lý, phi logic, có khả năng nổ bùng vào khoảnh khắc ít ngờ tới nhất. Sự thật không phải vậy.

♣ ♣ ♣

Thường thì, sau khi cánh nhạc công đã về, các buổi đêm ở căn hộ của Grete von Joachimsthaler kết thúc ở trên giường hoặc trong bồn tắm, loại bồn tắm ít có ở Berlin, dài hai mét rộng mét rưỡi, tráng men đen và có bốn chân sư tử, trước là Halder rồi sau đó đến Nisa cứ mát xa mãi cho Grete, từ thái dương cho đến ngón chân, cả hai vẫn nguyên quần nguyên áo, có khi còn mặc nguyên áo khoác ngoài (theo yêu cầu cụ thể của Grete), trong khi bà vùng vẫy như tiên cá, lúc ngửa, lúc sấp, lúc lặn dưới nước! cơ thể lõa lồ chỉ được che bởi bọt xà phòng.

Trong suốt những tao đoạn tình ái đó, Hans đợi dưới bếp, làm một món ăn vặt và rót một ly bia, sau đó thì tản bộ, một tay cầm ly bia tay kia cầm món ăn vặt, dọc những hành lang rộng của căn hộ hoặc đến đứng bên mấy cửa sổ rộng nơi phòng khách, quan sát bình minh như một ngọn sóng quét qua thành phố, nhấn chìm tất cả.

Thỉnh thoảng Hans thấy gây gây sốt và cậu nghĩ chắc ham muốn đã khiến da cậu bừng bừng, song không phải. Thỉnh thoảng Hans để mở cửa sổ cho mùi khói thuốc trong phòng khách bay đi, rồi tắt đèn ngồi trong ghế bành, quấn mình trong áo khoác. Sau đó cậu thấy lạnh, thấy buồn ngủ và cậu nhắm mắt lại. Một giờ sau, khi trời đã sáng bạch, cậu cảm thấy Halder và Nisa đang lay cậu, bảo rằng đã đến lúc họ phải đi rồi.

Grete von Joachimsthaler không bao giờ xuất hiện vào giờ đó. Chỉ có Halder và Nisa. Và Halder luôn mang theo một cái túi cố giấu dưới áo khoác. Khi ra đến ngoài phố, vẫn còn mắt nhắm mắt mở, cậu thấy ống quần hai anh bạn ướt mèm, cả tay áo cũng thế, các ống quần và tay áo bốc ra một làn khói mờ khi tiếp xúc với khí lạnh, làn khói chỉ hơi loãng hơn những đám mây được thở ra từ miệng Nisa và Halder, hai người đã khước từ bắt taxi trong buổi sáng tinh mơ ấy mà cuốc bộ đến quán cà phê gần nhất chén một bữa điểm tâm hoành tráng.

♣ ♣ ♣

Năm 1939, Hans Reiter bị gọi nhập ngũ. Sau vài tháng huấn luyện, cậu được phiên chế về trung đoàn bộ binh 310, đóng quân cách biên giới Ba Lan ba mươi cây số. Trung đoàn 310, cũng như trung đoàn 311 và 312, thuộc sư đoàn bộ binh 79, bấy giờ thuộc quyền tướng Kruger và thuộc quân đoàn lục quân 10, dưới quyền chỉ huy của tướng Von Bohle, một trong những nhà sưu tập tem hàng đầu của Đế chế. Trung đoàn 310 do đại tá Von Behrenberg chỉ huy, gồm ba tiểu đoàn. Hans Reiter thuộc tiểu đoàn 3, ban đầu được phân công làm phụ tá lính súng máy rồi sau đó được sung vào một đại đội xung kích.

Chỉ huy đại đội xung kích là Paul Gercke, một tay duy mỹ tin rằng chiều cao của Reiter có thể rất đắc dụng trong việc khơi dậy lòng kính trọng và thậm chí nỗi sợ hãi trong một cuộc tấn công diễn tập hoặc diễu binh, nhưng nào ai biết rằng trong trường hợp giao chiến thật chứ không phải giao chiến giả thì, rốt cuộc, cũng cái chiều cao ấy lại khiến cậu ta tới số, bởi vì trong thực chiến thì người lính xung kích giỏi nhất phải thấp và mảnh khảnh như cành cây, di chuyển nhanh như sóc. Cố nhiên, trước khi trở thành lính bộ binh ở trung đoàn 310, sư đoàn 79, Hans Reiter, khi bị đặt trước tình thế lưỡng nan phải lựa chọn, đã cố làm sao cho người ta chọn mình phục vụ trong tàu ngầm. Tham vọng này - vốn nhận được sự khích lệ của Halder, kẻ đã nhờ cậy hoặc tuyên bố mình đã nhờ cậy tất tật bạn bè trong quân đội và chính phủ, nhưng Hans ngờ rằng hầu hết trong số đó là bạn tưởng tượng chứ không có thật - chỉ gây cười cho các sĩ quan phụ trách danh sách tuyển quân cho hải quân Đức, nhất là ở những người biết rõ kích thước thật của các tàu ngầm và điều kiện sinh hoạt trong đó, nơi mà một gã cao mét chín nhất định sẽ trở thành cục nợ cho các chiến hữu.

Dù thế nào đi nữa, bất chấp các mối quan hệ của Halder - dẫu là thật hay tưởng tượng - Hans vẫn bị hải quân Đức cự tuyệt một cách tột cùng nhục nhã (thậm chí người ta còn đùa cợt mà đề nghị cho Hans vào một đơn vị xe tăng), thế nên cậu đành hài lòng với chức phận được giao từ đầu là lính bộ binh trơn.

Một tuần trước khi Hans lên đường đến trại huấn luyện, Halder và Nisa dẫn cậu đi ăn một bữa chia tay sau đó vào nhà thổ, nài nỉ Hans dứt khoát đánh mất đời trai tân, nhằm tôn vinh tình bạn giữa ba người. Cô điếm được giao cho cậu (do Halder chọn và có lẽ là bạn gái Halder và cũng có thể là một đối tác đã nản lòng thoái chí ở một trong nhiều dự án kinh doanh của Halder) là một gái quê vùng Bavaria, rất ngọt ngào và lặng lẽ, tuy nhiên mỗi khi nói chuyện, mà cô thì chẳng mấy khi nói bởi có tính kiệm lời, cô lại tỏ ra là một phụ nữ sành sỏi trên mọi phương diện, kể cả về tình dục, thậm chí còn cho thấy những dấu hiệu của một lòng thèm khát khiến Hans ghê sợ sâu xa. Cố nhiên, đêm đó Hans không làm tình, mặc dù cậu nói với hai bạn là có, nhưng hôm sau cậu đã quay lại gặp cô điếm kia, tên là Anita. Trong lần gặp thứ hai Hans mất tân và cậu đến thêm hai lần nữa, đủ để khiến Anita quyết định giãi bày với cậu về cuộc đời cô và triết lý sống của cô.

Đến lúc lên đường, Hans ra đi một mình. Cậu thấy lạ rằng chả ai tiễn cậu ở ga xe lửa. Anita thì cậu đã chào tạm biệt từ đêm trước, về Halder và Nisa thì cậu chẳng nghe thấy tin gì kể từ hôm đầu đi nhà thổ, cứ như hai người bạn kia mặc nhiên cho rằng cậu sẽ đi ngay sáng hôm sau, nhưng đâu phải vậy. Một tuần nay Halder sống ở Berlin như thể mình đã đi rồi, cậu nghĩ. Người duy nhất cậu từ biệt vào hôm ra đi là bà chủ nhà, bà bảo cậu rằng phụng sự Tổ quốc là một vinh dự. Trong cái ba lô lính mới lĩnh, cậu chỉ mang ít quần áo và cuốn sách Động thực vật vùng ven biển châu Âu.

♣ ♣ ♣

Chiến tranh bắt đầu vào tháng Chín. Sư đoàn của Reiter hành quân đến biên giới và băng qua biên giới nối sau các sư đoàn Panzer và các sư đoàn bộ binh cơ giới mở đường. Bằng các cuộc hành quân thần tốc, họ tiến vào lãnh thổ Ba Lan, chẳng phải đánh đấm gì và chẳng cần phải quá cẩn trọng giữ gìn: ba trung đoàn như một, hành tiến trong bầu không khí cứ như đi hội, như thể đám người này đang trên đường hành hương chứ không phải hành quân tiến đến một cuộc chiến tranh mà ở đó một số người trong bọn họ cầm chắc sẽ chết.

Họ đi qua vài thị trấn, chẳng cướp bóc gì, rất chi là trật tự, tuy rằng tuyệt không hề khụng khiệng kiêu binh, cười với trẻ nhỏ và thiếu nữ, thi thoảng họ gặp những tay lính cưỡi mô tô lướt băng băng dọc đường, có khi về hướng Đông có khi về hướng Tây, mang lệnh cho sư đoàn hoặc cho ban tham mưu quân đoàn. Họ bỏ pháo binh lại đằng sau. Thỉnh thoảng khi lên tới đỉnh một ngọn đồi, họ nhìn về phía Đông, nơi được cho là mặt trận, song chẳng thấy gì, chỉ một quang cảnh đang thiêm thiếp ngủ trong huy hoàng cuối mùa hè. Ngược lại, về phía Tây, họ có thể nhìn thấy đám mây bụi cuộn lên do pháo binh của trung đoàn và của sư đoàn đang cố sức theo kịp họ.

Sang ngày hành quân thứ ba, trung đoàn của Hans rẽ sang một con đường đất khác. Ngay trước khi trời tối, họ đến một con sông. Bên kia sông một khu rừng thông và bạch dương vươn lên, còn đằng sau rừng ấy nghe nói là một ngôi làng đã có một nhóm người Ba Lan dựng công sự ở đó. Họ lắp súng máy và súng cối rồi bắn pháo sáng, nhưng không có hồi đáp. Sau nửa đêm hai đại đội xung kích băng qua sông. Trong rừng Hans và đồng đội nghe tiếng một con cú rúc. Khi ra đến phía bên kia rừng, họ thấy ngôi làng, như một lùm đen được gắn hoặc cẩn vào bóng tối. Hai đại đội chia thành nhiều nhóm rồi tiếp tục tiến tới. Còn cách ngôi nhà đầu tiên năm mươi mét thì đội trưởng hạ lệnh, thế là tất cả cùng chạy về phía làng và một hai người tuồng như ngạc nhiên khi nhận ra làng vắng tanh. Ngày hôm sau trung đoàn tiếp tục hành quân về phía Đông, theo ba đường khác nhau, song song với tuyến đường chính mà bộ phận chính của sư đoàn đang di chuyển.

Tiểu đoàn của Reiter chạm trán một phân đội Ba Lan đang chiếm đóng một cây cầu. Quân Đức yêu cầu đối phương đầu hàng. Phía Ba Lan cự tuyệt và nổ súng. Sau trận chiến kéo dài chưa tới mười phút, một đồng đội của Reiter quay lại với cái mũi gãy đổ máu giàn giụa. Theo anh ta kể, sau khi băng qua cầu anh ta cùng mười đồng đội tiến đến ven rừng. Đúng lúc đó, một tên Ba Lan từ trên cây tụt xuống và bắt đầu đấm anh ta. Hiển nhiên đồng đội của Reiter không biết làm gì bởi trong trường hợp xấu nhất hoặc trong trường hợp tốt nhất, tức là trong trường hợp khó xảy ra nhất, anh ta đã mường tượng mình sẽ bị tấn công nếu không phải bằng súng thì cũng bằng dao hoặc lưỡi lê, nhưng chả bao giờ anh ta mường tượng mình bị đấm. Vào khoảnh khắc bị gã Ba Lan thoi vào mặt, tất nhiên anh ta nổi giận, nhưng mạnh hơn cơn giận là nỗi ngạc nhiên, là cú sốc vì chuyện đó, khiến anh ta không có khả năng đáp trả, dù bằng nắm đấm như kẻ tấn công anh ta hay bằng súng. Anh ta chỉ đứng đó lãnh một cú thụi vào bụng, không gây đau đón gì, rồi vào mũi, khiến anh ta có phần choáng váng, rồi trong khi ngã xuống đất anh ta thấy gã Ba Lan, cái bóng mờ mờ của gã Ba Lan, gã này thay vì cướp súng của anh ta như những người thông minh hơn vẫn làm thì lại toan chạy vào rừng, rồi anh ta thấy bóng một trong các đồng đội anh ta bắn gã Ba Lan, rồi sau đó thêm nhiều phát súng nữa và bóng gã Ba Lan ngã xuống mình đầy đạn. Khi Hans cùng tiểu đoàn băng qua cầu thì không có xác địch nào nằm bên vệ đường và thương vong duy nhất của tiểu đoàn là hai người bị thương nhẹ.

♣ ♣ ♣

Chính trong những ngày này, trong khi họ cuốc bộ dưới mặt trời hay dưới mây xám, những đám mây xám khổng lồ vô tận mang điềm báo về một mùa thu đáng nhớ, và tiểu đoàn của Hans đi qua hết làng này đến làng kia, Hans đã mường tượng rằng bên dưới bộ quân phục Werhmacht của mình cậu đang mặc bộ đồ hay bộ pyjama của một người điên.

♣ ♣ ♣

Một chiều nọ tiểu đoàn cậu gặp một nhóm sĩ quan ban tham mưu. Ban tham mưu nào? Cậu không biết, nhưng họ là sĩ quan ban tham mưu. Trong lúc tiểu đoàn cậu đang hành quân trên đường, các sĩ quan này đã tập hợp trên một ngọn đồi rất gần con lộ và đang nhìn trời, lúc bấy giờ đang có một phi đội máy bay bay ngang trời về phía Đông, có lẽ là máy bay Stukas, cũng có thể máy bay chiến đấu; vài sĩ quan chỉ lên máy bay bằng ngón trỏ hoặc bằng cả bàn tay, như muốn chào Heil Hitler với các máy bay, trong khi cách đó vài bước một sĩ quan khác đứng một mình, nom rất mực trầm tư, quan sát một tùy tùng cẩn thận bày thức uống lên một cái bàn xếp, những thức uống đã được anh ta lấy ra từ một cái hộp to màu đen, giống như thứ hộp đặc biệt của một hãng dược nào đó, kiểu hộp dùng để đựng những thứ thuốc nguy hiểm hoặc những thứ thuốc chưa được kiểm nghiệm tới nơi tới chốn, hoặc tệ hơn nữa là kiểu hộp của một trung tâm nghiên cứu khoa học nào đó nơi các nhà khoa học Đức đeo găng tay đặt vào thứ gì đấy có khả năng hủy diệt cả thế giới và hủy diệt luôn nước Đức.

Gần viên tùy tùng và tay sĩ quan đang quan sát viên tùy tùng dọn thức uống lên bàn là một sĩ quan khác, mặc đồng phục Luftwaffe, quay lưng lại tất cả mọi người, đã chán nhìn những chiếc máy bay bay trên đầu, một tay cầm điếu xì gà dài còn tay kia cầm cuốn sách, một hành động đơn giản nhưng đối với viên sĩ quan Luftwaffe này thì xem ra đòi hỏi nỗ lực phi thường bởi vì trên ngọn đồi nơi mọi người đứng ấy đương có gió thổi, không ngừng lật các trang sách khiến viên sĩ quan Luftwaffe không thể đọc được nên phải lấy bàn tay cầm điếu xì gà dài giữ cho các trang sách khỏi lật (hoặc giữ cho yên hoặc giữ cho đừng động đậy), nhưng làm vậy chỉ tổ khiến tình hình càng tệ bởi điếu xì gà hoặc tàn xì gà cứ làm các trang sách bị cháy sém hoặc gió làm tàn thuốc vãi đầy ra trang sách, khiến viên sĩ quan bị phiền nhiễu vô cùng, đành phải cúi đầu xuống thổi, rất ư cẩn trọng, vì ông ta đang xoay mặt về hướng gió nên khi thổi như vậy sẽ có nguy cơ bị tàn thuốc bay vào mắt.

Cạnh viên sĩ quan Luftwaffe này, nhưng ngồi trên hai chiếc ghế gấp, là hai quân nhân già. Một người trông giống như tướng lục quân. Người kia ăn vận như kỵ binh đánh giáo hoặc khinh kỵ binh. Hai người nhìn nhau và cười rộ, đầu tiên là vị tướng rồi sau là kỵ binh đánh giáo, và cứ thế, kẻ tung người hứng, tuồng như họ chẳng hiểu gì hoặc tuồng như họ biết gì đó mà chẳng ai trong các sĩ quan ban tham mưu đang dừng chân trên ngọn đồi này biết cả. Ba chiếc xe hơi đậu dưới đồi. Gần các xe hơi, mấy tay tài xế đứng hút thuốc, và bên trong một xe có một phụ nữ, rất đẹp, phục trang thanh nhã, nom rất giống - hoặc có thể là Hans có cảm tưởng như vậy - con gái nam tước Von Zumpe, bác của Hugo Halder.

♣ ♣ ♣

Trận chiến thực sự đầu tiên mà Reiter tham gia diễn ra ở ngoại vi Kutno, nơi quân Ba Lan tuy ít và vũ trang tồi nhưng lại không hề tỏ ý muốn hàng. Cuộc đụng độ không kéo dài lâu, bởi vì rốt cuộc té ra quân Ba Lan muốn hàng nhưng vấn đề là họ chẳng biết phải hàng ra sao. Nhóm xung kích của Reiter tấn công một nông trại và một khu rừng nơi quân địch tập trung toàn bộ hỏa lực còn lại. Khi đứng nhìn nhóm xung kích lên đường, đội trưởng Gercke nghĩ rằng Reiter chắc chết. Với tay đội trưởng đó, nhìn Reiter cũng chẳng khác nào nhìn con hươu cao cổ lẫn trong một bầy toàn sói, chồn và linh cẩu. Reiter cao đến nỗi bất cứ lính nghĩa vụ Ba Lan nào, kể cả tay gà mờ nhất, cũng cầm chắc là sẽ nhắm cậu ta làm mục tiêu.

Trong cuộc tập kích nông trại, hai lính Đức chết và năm lính khác bị thương. Trong cuộc tập kích vào rừng, một lính Đức nữa chết và ba lính nữa bị thương. Reiter thì chẳng bị làm sao. Đêm đó, trung sĩ đội trưởng nói với chỉ huy rằng Reiter hoàn toàn chẳng phải một cái bia tập bắn di động mà chính ra lại khiến cho quân địch phải sợ. Bằng cách nào? chỉ huy hỏi, quát lác à? chửi à? tỏ ra tàn bạo à? chắc hắn làm tụi nó sợ vì khi lâm chiến hắn đã biến thành kẻ khác? thành một chiến binh Giéc-manh không biết sợ là gì không biết thương xót là gì? hay là hắn biến thành một thợ săn, gã thợ săn nguyên thủy mà mỗi chúng ta đều mang bên trong mình, khôn lanh, nhanh nhẹn, luôn luôn đi trước con mồi một bước?

Nghe vậy, viên trung sĩ, sau khi nghĩ một hồi, liền đáp rằng không, không hẳn vậy, Reiter khác thật đấy, anh ta nói, nhưng thực ra hắn vẫn là hắn như mọi khi thôi, là kẻ mà mọi người vẫn biết, chỉ có điều hắn đi vào trận chiến mà cứ như chẳng phải hắn đang đi vào trận chiến, tuồng như hắn không có mặt đó hay tuồng như chuyện này chả phải xảy ra với hắn, nói vậy không có nghĩa là hắn không làm theo lệnh hay bất tuân thượng lệnh, hoàn toàn không phải vậy, cũng chẳng phải hắn đang lên cơn sảng, vài người lính, sợ quá cứng cả người, rơi vào cơn sảng, nhưng đấy không phải sảng mà chỉ là sợ thôi, tóm lại là, viên trung sĩ này không biết đấy là gì, nhưng quả thật Reiter có cái gì đó và cái ấy thì ngay cả địch cũng nhận ra, tụi nó bắn hắn mấy lần nhưng chả làm gì được hắn, khiến tụi nó càng lúc càng hoảng tợn.

♣ ♣ ♣

Sư đoàn 79 tiếp tục chiến đấu ở vùng phụ cận Kutno, nhưng Reiter không tham gia cuộc đụng độ nào nữa. Trước cuối tháng Chín toàn bộ sư đoàn được điều chuyển, lần này bằng tàu hỏa, đến biên giới phía Tây, để hội quân với phần còn lại của quân đoàn bộ binh 10.

♣ ♣ ♣

Từ tháng Mười năm 1939 đến tháng Sáu năm 1940, họ không nhúc nhích. Phía trước là Phòng tuyến Maginot, tuy nhiên từ chỗ nằm nấp trong rừng và trong vườn trái cây thì họ không nhìn thấy nó được. Cuộc sống trở nên bình lặng: lính tráng nghe radio, ăn, uống bia, viết thư, ngủ. Vài người nói về cái ngày họ sẽ phải hành quân thẳng đến phòng tuyến bê tông của bọn Pháp. Những người nghe cười bứt rứt, kể chuyện tếu, tâm sự với nhau chuyện gia đình.

Một đêm kia có người bảo Đan Mạch và Na Uy đầu hàng rồi. Đêm đó Hans mơ thấy cha. Anh thấy ông già thọt, quấn mình trong cái áo khoác nhà binh cũ, đang nhìn đăm đăm ra biển Baltic mà băn khoăn tự hỏi hòn đảo Phổ trốn đi đâu rồi.

Đại úy Gercke thỉnh thoảng lại gần anh trò chuyện một hồi. Chỉ huy hỏi anh có sợ chết không. Sao lại hỏi tôi thế, đại úy, dĩ nhiên tôi sợ chứ. Viên đại úy nghe đoạn liền nhìn anh hồi lâu rồi nói khẽ, như với chính mình:

“Tiên sư thằng dóc tổ, tao không tin mày, mày không lỡm được tao đâu. Mày chả sợ cái gì hết á!”

Sau đó đại úy đi nói chuyện với những lính khác và thái độ của anh ta thay đổi tùy theo anh ta nói chuyện với lính nào. Vào khoảng thời gian ấy trung sĩ dưới quyền anh ta được trao huy chương Chữ thập sắt hạng nhì nhờ lòng dũng cảm khi chiến đấu ở Ba Lan. Mọi người uống bia chúc mừng. Đêm xuống, Hans ra khỏi khu doanh trại xây tạm bợ, nằm ngửa ngắm sao trên cỏ lạnh ngoài đồng. Cái lạnh xem ra chẳng phiền mấy tới anh. Anh thường nghĩ đến gia đình, đến bé Lotte bây giờ chắc đã lên mười, đi học. Đôi khi, anh lấy làm tiếc, song không cay đắng, vì đã bỏ học sớm như vậy, bởi anh mơ hồ cảm thấy giá như anh tiếp tục học thì đời anh chắc đã khá hơn.

Đồng thời, anh không ghét nghề lính và chẳng cảm thấy có nhu cầu, hoặc có lẽ là không có khả năng, nghĩ nghiêm túc về tương lai. Thỉnh thoảng, đang một mình hoặc ở cùng đồng đội, anh làm bộ mình là người lặn, một lần nữa đang thả bước đi bộ trên đáy biển. Không ai nhận ra, dĩ nhiên, mặc dù nếu quan sát thật kỹ những cử động của Reiter thì ai đó vẫn có thể nhận ra một khác biệt nhỏ trong cách anh đi, cách anh thở, cách anh nhìn ngó xung quanh. Một sự cẩn trọng nào đó, sự ước tính chi li từng bước, sự tiết chế nhịp thở, sự đờ đẫn ở đôi đồng tử, dường như hai con mắt đang lồi ra vì thiếu ô xy hoặc dường như, chỉ trong những lúc ấy, toàn bộ sự điềm tĩnh của anh đã bỏ anh mà đi và đột nhiên anh không thể ghìm nước mắt, thế nhưng nước mắt anh mãi không chịu trào ra.

♣ ♣ ♣

Vào khoảng thời gian này, trong khi họ đang đợi, một binh sĩ thuộc tiểu đoàn Reiter hóa điên. Anh ta nói anh ta nghe được các kênh radio từ phía Đức, và lạ một cái là cả từ Pháp nữa. Binh sĩ này tên Gustav và cũng hai mươi tuổi như Reiter, chưa từng được phiên chế vào đơn vị truyền tin của tiểu đoàn. Quân y sĩ, một tay người Munich bộ dạng mệt mỏi, khám cho anh ta rồi nói Gustav bị một chứng tâm thần phân liệt thính giác, khiến anh ta nghe thấy những giọng nói ở trong đầu, rồi kê đơn cho anh ta tắm nước lạnh và uống thuốc an thần. Tuy nhiên, ca của Gustav khác với hầu hết các ca tâm thần phân liệt thính giác ở một điểm chủ yếu: ở các ca khác thì những giọng mà bệnh nhân nghe được đều là hướng đến anh ta, chúng nói với anh ta hoặc mắng nhiếc anh ta, trong khi ở trường hợp Gustav các giọng anh ta nghe được chỉ là những giọng ra lệnh, giọng của lính tráng, của trinh sát, của các thiếu úy đang báo cáo hằng ngày, các đại tá đang nói chuyện điện thoại với các tướng, lính hậu cần yêu cầu cấp một trăm cân bột, phi công báo cáo tình hình thời tiết. Tuần điều trị đầu tiên tình trạng của Gustav xem chừng khá hơn. Anh ta đi lại hơi bị choáng và không chịu tắm nước lạnh, nhưng anh ta không la hét nữa cũng không còn nói là linh hồn mình đang bị đầu độc. Đến tuần thứ hai thì anh ta trốn khỏi quân y viện dã chiến và treo cổ lên cây.

♣ ♣ ♣

Với sư đoàn bộ binh 79 thì cuộc chiến ở mặt trận phía Tây chẳng có tính sử thi gì. Vào tháng Sáu, sau trận chiến sông Somme, họ vượt qua Phòng tuyến Maginot mà gần như chẳng gặp bất ngờ nào và tham gia cuộc bao vây dăm ngàn quân Pháp gần Nancy. Rồi sau đó sư đoàn đóng quân ở Normandie.

Trong chuyến xe lửa, Hans nghe được câu chuyện hơi kỳ lạ về một anh lính của sư đoàn 79 bị lạc trong những đường hầm của Phòng tuyến Maginot. Khu vực đường hầm mà người lính này bị lạc, theo như anh ta có thể xác minh, gọi là Khu Charles. Người lính này, đương nhiên, có thần kinh thép, hoặc theo người ta nói là vậy, nên anh ta cứ lần tìm lối lên mặt đất. Sau khi đi chừng năm trăm mét dưới lòng đất, anh ta đến được Khu Catherine. Khu Catherine, khỏi cần phải nói, chẳng có gì khác với Khu Charles ngoại trừ mấy cái biển hiệu. Sau khi đi một ngàn mét, anh ta tới Khu Jules. Giờ thì anh lính cuống lên và trí tưởng tượng của anh ta bắt đầu chạy rông. Anh ta tưởng tượng mình bị cầm tù vĩnh viễn trong những đường hầm dưới đất này, không một chiến hữu nào đến giúp. Anh ta muốn hét lên và tuy lúc đầu anh ta còn ráng ghìm mình lại vì sợ đánh động bọn Pháp chắc đang phục sẵn gần đây, nhưng cuối cùng anh ta buông xuôi và bắt đầu gào thét tưởng đến bể phổi. Nhưng chẳng ai đáp lại nên anh ta cứ đi tiếp, hy vọng đến một lúc nào đó sẽ tìm thấy lối ra. Anh ta ra khỏi Khu Jules và tiến vào Khu Claudine. Kế đó là Khu Émile, Khu Marie, Khu Jean-Pierre, Khu Berenice, Khu André, Khu Sylvie. Khi đến Khu Sylvie, anh lính phát hiện một điều (điều mà ắt đã có người phát hiện từ lâu). Anh ta để ý thấy các hành lang ở đây gần như hoàn hảo không tì vết và lớp lang trật tự đến kỳ lạ. Sau đó anh ta bắt đầu nghĩ đến tính hữu dụng của những hành lang này, tính hữu dụng cho quân sự, ý là vậy, và đi đến kết luận rằng chúng tuyệt đối không có chút hữu dụng nào và có lẽ ở đây chẳng bao giờ có lính tráng nào.

Đến lúc này thì anh lính tin mình đã hóa điên, hay, còn tệ hơn, mình đã chết và đây là địa ngục dành riêng cho mình. Mệt lử và tuyệt vọng, anh nằm xuống sàn ngủ. Anh mơ thấy Chúa Trời trong hình dạng con người. Anh lính đang ngủ dưới một cây táo, ở miền quê Alsace, và một tôn ông vùng quê đến gần gõ nhẹ cây gậy vào chân anh đánh thức anh dậy. Ta là Chúa Trời đây, ngài nói, và nếu mi bán linh hồn cho ta, mà linh hồn mi thật ra vốn là của ta rồi, thì ta sẽ đưa mi ra khỏi hầm. Để cho con ngủ đi, anh lính nói rồi cố gắng ngủ tiếp. Ta bảo mi rằng linh hồn mi là của ta rồi, anh nghe giọng Chúa Trời nói, nên làm ơn đừng có tỏ ra ngốc nghếch quá mức bình thường nữa mà nhận lời ta đi.

Đến đó thì anh lính thức dậy nhìn Chúa rồi hỏi anh phải ký vào đâu. Vào đây, Chúa vừa nói vừa rút từ trong không khí ra một tờ giấy. Anh lính cố đọc bản hợp đồng, nhưng nó viết bằng thứ tiếng khác, chẳng phải tiếng Đức chẳng phải tiếng Anh chẳng phải tiếng Pháp, chuyện đấy anh biết chắc. Con ký bằng gì? anh lính hỏi. Bằng máu mi, Chúa Trời đáp, như thể đó là chuyện hiển nhiên. Tức thì anh lính rút một con dao bỏ túi ra rạch một đường lên lòng bàn tay trái, đoạn nhúng ngón trỏ vào máu ký tên.

“Tốt, giờ mi ngủ tiếp được rồi,” Chúa Trời nói.

“Con muốn ra khỏi hầm ngay cơ,” anh lính vật nài.

“Mọi thứ sẽ đến như đã định,” Chúa Trời nói, đoạn quay lưng đi xa dần dọc một con đường đất nhỏ về hướng một thung lũng có một ngôi làng gồm mấy nếp nhà sơn màu xanh lục màu trắng màu nâu nhạt.

Anh lính nghĩ chắc khôn ra thì nên cầu nguyện. Anh bèn chắp tay ngước mắt lên trời cao. Chừng đó anh thấy tất cả táo trên cây táo đều đã khô cả. Giờ thì chúng giống như nho khô hay đúng hơn là mận khô. Đồng thời anh nghe thấy tiếng gì đó hao hao như là kim loại.

“Gì vậy?” anh la lên.

Từ dưới thung lũng dựng lên những làn khói đen dài lơ lửng trong không trung khi lên đến một độ cao nhất định. Một bàn tay túm vai anh ta mà lay. Đó là những người lính thuộc đại đội của anh ta đã chui xuống hầm vào Khu Benenice. Anh lính bắt đầu khóc nức nở vì vui sướng, không nhiều song đủ để nguôi ngoai.

Đêm đó, trong khi ăn, anh kể cho người bạn thân nhất nghe về giấc mơ khi đang còn ở dưới hầm. Anh bạn liền nói rằng khi rơi vào hoàn cảnh như vậy thì mơ thấy những chuyện ba láp cũng bình thường thôi.

“Không phải ba láp,” anh lính đáp, “tớ đã mơ thấy Chúa Trời, tớ được cứu, tớ lại về giữa anh em đồng đội, nhưng tớ vẫn cứ nghe trong dạ không an.”

Rồi, bằng giọng bình tĩnh hơn, anh tự chữa lại:

“Tớ vẫn cứ nghe trong dạ không chắc.”

Nghe đoạn người bạn liền đáp rằng trong chiến tranh người ta chẳng bao giờ chắc được cái gì. Tới đó thì cuộc chuyện vãn chấm dứt. Người bạn đi ngủ. Im lặng trùm khắp làng. Các lính trực canh châm thuốc lá. Bốn ngày sau, anh lính đã bán linh hồn cho Chúa Trời đang đi trên phố thì bị một chiếc xe hơi Đức tông chết.

♣ ♣ ♣

Trong thời gian trung đoàn lưu lại Normandie, Reiter thường đi bơi bất kể trời lạnh đến mấy, bơi ngoài bãi đá Portbail, gần Ollonde, hay ngoài bãi đá phía Bắc Carteret. Tiểu đoàn của anh đóng quân ở thị trấn Besneville. Sáng sáng anh mang theo vũ khí và một cái ba lô đựng pho mát, bánh mì và nửa chai rượu vang, rồi đi bộ về phía bờ biển. Đến đấy anh chọn một tảng đá khuất tầm nhìn, thế rồi sau khi trần truồng bơi lặn vài tiếng đồng hồ, anh duỗi dài trên tảng đá, ăn uống và đọc lại cuốn Các loài động vật và thực vật vùng bờ biển châu Âu.

Đôi khi anh gặp sao biển, anh cứ nhìn nó mãi chừng nào phổi anh còn chịu nổi, cho đến khi anh quyết định sờ vào chúng trước khi trồi lên mặt nước. Có lần anh thấy một cặp cá bống, Gobius paganellus, lạc giữa một vùng rong biển rậm rì, anh theo chúng một hồi lâu (lũng rong biển trông như những lọn tóc của một người khổng lồ đã chết) cho đến khi một con tuyệt vọng mãnh liệt lạ lùng chợt siết lấy anh khiến anh phải nhanh chóng trồi lên, bởi nếu anh nấn ná thêm chút nữa dưới này là cơn tuyệt vọng kia sẽ lôi anh xuống đáy sâu.

Đôi khi anh thấy ngủ thiu thiu trên phiến đá ẩm này thật dễ chịu đến nỗi thậm chí anh có thể chẳng bao giờ quay lại tiểu đoàn. Và không dưới một lần anh nghiêm túc nghĩ đến chuyện đào ngũ, sống như một tay cầu bơ cầu bất ở Normandie, tìm một cái hang, sống nhờ đồ bố thí của nông dân hoặc bằng cách ăn cắp những thứ vặt vãnh mà có mất cũng chẳng ai buồn trình báo cảnh sát. Mình sẽ học cách nhìn được trong bóng tối, anh nghĩ. Dần dà quần áo mình sẽ tã thành giẻ rách và cuối cùng mình sẽ sống trần truồng. Mình sẽ chẳng bao giờ về lại Đức nữa. Một ngày kia mình sẽ trầm mình mà chết, rạng rỡ niềm vui.

♣ ♣ ♣

Vào dạo đó, một đội y tế đến thăm đại đội của Reiter. Ông bác sĩ khám cho anh thấy anh hoàn toàn khỏe mạnh, ngoại trừ cặp mắt đỏ ngầu bất thường, nguyên nhân do đâu thì Reiter biết quá rõ: hàng bao tiếng đồng hồ lặn ngụp phơi mặt trong nước mặn. Nhưng anh không nói cho bác sĩ biết chuyện ấy vì sợ bị phạt hoặc bị cấm không cho ra biển nữa. Hồi ấy, Reiter cảm thấy đi lặn mà mang kính lặn là xúc phạm cái thiêng liêng. Đội mũ trùm thì được, đeo kính lặn, không. Ông bác sĩ kê thuốc nhỏ mắt cho Reiter rồi bảo anh đi gặp cấp trên xin đến khám bác sĩ nhãn khoa. Khi rời khỏi đó ông bác sĩ ngẫm nghĩ rằng thằng nhóc dài nghêu kia chắc là nghiện ma túy, và ông viết vào nhật ký: làm thế nào mà trong hàng ngũ quân đội ta lại có những gã trai trẻ nghiện moóc phin, nghiện heroin, nghiện có lẽ đủ thứ thuốc phiện vậy chứ? Họ đại diện cho cái gì? Họ là một triệu chứng hay là một căn bệnh xã hội mới? Họ là tấm gương soi số phận của chúng ta hay là cây búa sẽ đập nát tấm gương của chúng ta và cả số phận của chúng ta?

♣ ♣ ♣

Thay vì trầm mình chết, rạng rỡ niềm vui, một ngày nọ, chẳng hề báo trước, mọi nghỉ phép đều bị hủy và tiểu đoàn của Reiter, đang đóng ở thị trấn Besneville, hội quân với hai tiểu đoàn khác của trung đoàn 310 đang đồn trú tại St-Sauveur-le-Vicomte và Bricquebec rồi tất cả lên một đoàn tàu quân sự đi về phía Tây, đến Paris thì hợp nhất với một đoàn tàu khác chở trung đoàn 311, và tuy hãy còn thiếu trung đoàn 3, mà chắc hẳn sẽ chẳng bao giờ khôi phục được, sư đoàn vẫn khởi hành băng qua châu Âu từ Tây sang Đông, đi qua Đức và Hungary rồi cuối cùng dừng tại Rumani, chốn định mệnh mới của sư đoàn 79.

Một số quân đóng trại gần biên giới với Liên Xô, số khác gần biên giới mới với Hungary. Tiểu đoàn của Hans đồn trú ở vùng núi Karpat. Bộ chỉ huy sư đoàn - nay không còn thuộc quân đoàn 10 nữa mà thuộc vào một quân đoàn mới, quân đoàn 49 vừa được thành lập và hiện chỉ có vỏn vẹn một sư đoàn - thì đóng tại Bucharest, mặc dù thỉnh thoảng tướng Kruger, chỉ huy mới của quân đoàn, cùng tướng Von Berenberg - trước đây là đại tá Von Berenberg, chỉ huy mới của sư đoàn 79, lại đi thăm binh lính và lưu tâm đến tình hình chuẩn bị của họ.

Giờ thì Reiter sống xa biển, giữa núi non, và tạm thời anh từ bỏ ý định đào ngũ. Trong mấy tuần đầu dừng chân ở Rumani anh chẳng gặp ai khác ngoài lính của tiểu đoàn mình. Rồi anh gặp những người nông dân, họ không lúc nào đứng yên, cứ như thể họ bị kiến bò trong quần và trên lưng, đi tới đi lui tay xách nách mang và chỉ nói chuyện với bọn trẻ con đi theo họ như lũ cừu hay lũ dê con. Hoàng hôn ở vùng Karpat dài vô tận, nhưng bầu trời dường như vô cùng thấp, chỉ cách đầu binh lính có vài mét thôi, gây ra nơi họ cảm giác ngột ngạt hoặc bất an. Cuộc sống hằng ngày, bất chấp tất cả, một lần nữa trở lại bình yên vô sự.

♣ ♣ ♣

Một đêm kia một số lính trong tiểu đoàn của Reiter dậy trước bình minh và lên hai chiếc cam nhông đi về phía núi.

Đám lính vừa yên vị trên mấy băng ghế gỗ nơi phần sau hai chiếc cam nhông là ngủ lại ngay lập tức. Reiter không ngủ được. Ngồi cạnh cửa lật phía đuôi xe, anh vẹt tấm bạt dùng làm mui xe ra ngắm nhìn phong cảnh. Cặp mắt loài thú đêm của anh, lúc nào cũng đỏ dù sáng nào cũng nhỏ thuốc, nhìn thấy một loạt những thung lũng nhỏ tối đen giữa hai rặng núi. Thỉnh thoảng hai xe chạy xuyên qua những cụm thông khổng lồ bò ra đường đầy đe dọa. Đằng xa, trên một ngọn núi thấp hơn, anh phát hiện ra hình bóng một tòa lâu đài hoặc một pháo đài. Khi trời rạng anh nhận ra đó chỉ là một cánh rừng. Anh thấy những ngọn đồi hay những mỏm đá nhô ra trông như những con thuyền sắp đắm, mũi nhô lên gần như dựng đứng chẳng khác nào những con ngựa đang cơn cuồng nộ. Anh thấy những đường mòn núi tối tăm chẳng dẫn đến đâu, nhưng bay vút lên trên mấy con đường đó là những con chim đen ắt hẳn là loài ăn xác thối.

Quãng giữa buổi sáng thì họ đến một tòa lâu đài. Trong lâu đài họ chỉ gặp ba người Rumani và một sĩ quan SS đóng vai trò quản gia, người này bắt họ làm việc ngay lập tức sau khi cho họ ăn bữa sáng gồm một ly sữa lạnh và một mẩu bánh mì mà một vài chú lính để nguyên không đụng đến vì ghê tởm. Trừ bốn lính đứng gác, trong số đó có Reiter bị viên sĩ quan SS cho là không phù hợp với nhiệm vụ dọn dẹp tòa lâu đài, tất cả những người còn lại thảy đều để súng ống lại trong nhà bếp và bắt tay quét tước, lau sàn, chùi bụi mấy cái đèn, thay ga sạch cho mấy cái giường.

Khoảng ba giờ chiều khách khứa đến. Một trong số đó là tướng Von Berenberg, chỉ huy sư đoàn. Đến cùng ông là Herman Hoensch, một cây bút của Đế chế, và hai sĩ quan của ban tham mưu sư đoàn 79. Trên xe kia là tướng Eugenio Entrescu người Rumani, bấy giờ ba mươi lăm tuổi và là ngôi sao đang lên của quân đội đất nước ông, đi cùng là học giả trẻ Paul Popescu, hai mươi ba tuổi, và nữ nam tước Von Zumpe, mà hai người Rumani này chỉ vừa mới gặp hồi đêm trước tại một bữa tiệc ở sứ quán Đức, về lý thì lẽ ra nữ nam tước phải đi chung xe với tướng Von Berenberg tuy nhiên, trước những lối nịnh đầm của Entrescu và trước tính cách vui nhộn hay đùa của Popescu, rốt cuộc nữ nam tước đã xiêu lòng mà nghe theo lời thỉnh cầu của hai người dựa trên một cái cớ rất hợp lý rằng xe của phía Rumani chở ít người hơn nên nữ nam tước sẽ được rộng chỗ hơn so với trên xe của Đức.

Nỗi ngạc nhiên của Reiter khi thấy nữ nam tước Von Zumpe từ trên xe bước xuống thật không bút nào tả nổi. Nhưng điều lạ nhất là lần này nữ nam tước trẻ tuổi dừng chân trước mặt anh mà hỏi, với vẻ quan tâm thực sự, rằng liệu anh có quen cô không, vì mặt anh trông quen, cô bảo thế. Reiter (vẫn đứng nghiêm, nhìn về phía chân trời với vẻ vô cảm đúng theo phép tắc nhà binh hoặc cũng có thể chẳng nhìn gì) liền đáp rằng dĩ nhiên anh có biết cô vì anh từng phục vụ trong nhà của cha cô, ngài nam tước, từ lâu lắm rồi, cả mẹ anh là bà Reiter cũng vậy, chắc nữ nam tước còn nhớ.

“Đúng,” nữ nam tước nói, đoạn cười vang, “cậu là thằng nhỏ chân dài ngoẵng cứ hậu đà hậu đậu suốt.”

“Là tôi,” Reiter nói.

“Bạn tâm phúc của em họ tôi,” nữ nam tước nói.

“Bạn của em họ bà, ông Hugo Halder,” Reiter nói.

“Thế cậu làm gì ở đây, tại lâu đài Dracula?” nữ nam tước nói.

“Phụng sự Đế chế,” Reiter nói, và rồi lần đầu tiên anh nhìn cô.

Anh thấy cô đẹp choáng người, đẹp hơn nhiều so với hồi anh mới biết cô. Đứng cách họ vài thước là tướng Entrescu đang chờ đợi, ngài không thể thôi mỉm cười được, và học giả Popescu trẻ tuổi, anh này đã kêu lên không chỉ một lần: tuyệt, tuyệt, lại thêm lần nữa lưỡi gươm số phận chặt đứt đầu con quái vật hydra* của sự ngẫu nhiên.

♣ ♣ ♣

Khách khứa dùng một bữa ăn nhẹ rồi đi thăm thú khuôn viên lâu đài. Tướng Von Berenberg, vốn là người khởi xướng chuyến đi này, chẳng mấy chốc đâm mệt bèn rút lui để nghỉ ngơi, để cho tướng Popescu lãnh nhiệm vụ dẫn đoàn, ông này khoác tay nữ nam tước, còn học giả Popescu trẻ tuổi đi bên trái, anh này tự cho mình nhiệm vụ tuôn ra và thêm thắt kể lể vào một lô một lốc thông tin mà hầu hết mâu thuẫn nhau chan chát. Đi cạnh Popescu là viên sĩ quan SS, và đi sau chút nữa là Hoensch, cây bút của Đế chế, cùng hai sĩ quan ban tham mưu. Khóa đuôi cả đoàn là Reiter, nữ nam tước đã khăng khăng xin cho anh đi cùng bởi trước khi phụng sự Đế chế thì anh từng phụng sự gia đình cô, kiến nghị này được Von Berenberg chuẩn thuận ngay tức khắc.

Chẳng mấy chốc họ đến một hầm mộ đào trong đá. Chắn ngang lối vào là một cổng sắt với gia huy bị thời gian bào mòn. Viên sĩ quan SS, xử sự cứ như chủ nhân ông ở đây, rút chìa khóa trong túi ra mở cổng cho họ vào. Sau đó y bật một cây đèn pin và tất cả họ bắt đầu thám hiểm hầm ngầm, trừ Reiter, vì một trong mấy sĩ quan đã ra hiệu cho anh đứng gác ngoài cửa.

Thế là Reiter đứng đó, quan sát những bậc tam cấp đá dẫn xuống chỗ tối tăm và khu vườn đìu hiu họ đã đi qua, và những ngọn tháp của lâu đài trông như hai cây nến xám trên một ban thờ hoang phế. Đoạn anh lần trong áo khoác rút ra một điếu thuốc, mồi lửa rồi nhìn lên bầu trời xám, nhìn những thung lũng xa xa, và nghĩ đến khuôn mặt nữ nam tước Von Zumpe trong khi tàn thuốc rơi xuống đất và anh, lưng tựa vào tường đá, lần lần rơi vào giấc ngủ. Anh mơ thấy bên trong hầm mộ. Các bậc tam cấp dẫn xuống một sân khấu bậc thang chỉ được soi sáng một phần nhờ cây đèn của viên sĩ quan SS. Anh mơ thấy các khách tham quan đang cười vang, trừ một trong các sĩ quan ban tham mưu, anh này vừa khóc không thôi vừa tìm chỗ trốn. Anh mơ thấy Hoensch đọc một bài thơ của Wolfram von Eschenbach rồi thì thổ huyết. Anh mơ thấy họ đã nhất trí với nhau sẽ ăn thịt nữ nam tước Von Zumpe.

Anh giật mình sực tỉnh và suýt nữa đã xồng xộc lao xuống thang để tận mắt chứng thực những gì anh vừa mơ thấy chẳng có gì là thật cả.

Khi các khách tham quan trở lại mặt đất thì ngay cả một người quan sát gà mờ nhất cũng thấy rằng họ đã chia làm hai nhóm, nhóm những người mặt tái nhợt khi leo lên tới nơi, tuồng như ở dưới đó họ đã thấy một cái gì siêu việt, và nhóm những người xuất hiện với một nụ cười nửa miệng phác trên mặt, như thể họ vừa mới nhận thêm một bài học nữa về sự ngây thơ của giống người.

Đêm đó, trong khi ăn tối, họ nói chuyện về hầm mộ, nhưng họ cũng nói về những chuyện khác nữa. Họ nói về cái chết. Hoensch nói rằng cái chết tự nó chỉ là một ảo tưởng được kiến tạo không ngừng, rằng trên thực tế cái chết không hiện hữu. Viên sĩ quan SS nói cái chết là một điều cần thiết: chẳng ai có đầu óc lành mạnh mà lại chấp nhận một thế giới đầy những rùa hoặc hươu cao cổ, ông nói vậy. Ông kết luận cái chết đóng một vai trò kiểm soát. Học giả Popescu trẻ tuổi nói rằng cái chết, theo minh triết phương Đông, chỉ là một chặng chuyển tiếp. Anh bảo, điều không rõ, hay ít nhất thì cũng không rõ đối với anh, là cái chặng chuyển tiếp ấy dẫn đến chỗ nào, đến thực tại nào.

“Vấn đề là ở đâu,” anh nói. “Câu trả lời là,” anh tự trả lời, “phẩm cách của tôi đưa tới đâu, tôi sẽ theo tới đó.”

Tướng Entrescu thì có ý kiến rằng điều này chẳng mấy quan trọng, điều quan trọng là di chuyển, tính năng động của sự di chuyển, khiến cho con người và mọi loài sinh vật, kể cả gián, sánh ngang với những vì sao lớn. Nữ nam tước Von Zumpe nói, và có lẽ cô là người duy nhất nói chân thành, rằng cái chết là một thứ chán ngắt. Tướng Von Berenberg từ chối đưa ra ý kiến của mình, hai sĩ quan ban tham mưu cũng vậy.

Rồi họ nói về giết chóc. Sĩ quan SS nói giết chóc là một từ nước đôi, khó hiểu, không chính xác, mập mờ, không rõ nghĩa, dễ bị dùng sai. Hoensch đồng ý. Tướng Von Berenberg nói ông thà phó thác luật pháp vào tay các luật sư và tòa hình sự và nếu chánh án nói rằng hành vi nào đấy là giết chóc thì đấy là giết chóc, còn nếu chánh án và bồi thẩm đoàn phán là không phải thì không phải, thế là hết chuyện. Hai sĩ quan ban tham mưu đồng ý với sếp mình.

Tướng Entrescu thú nhận rằng hồi ông còn bé những người hùng của ông luôn luôn là những kẻ sát nhân và tội phạm, ông rất là trọng vọng họ, ông bảo thế. Học giả Popescu trẻ tuổi nhắc rằng một kẻ sát nhân và một người hùng giống nhau ở chỗ họ đều cô đơn, và hành động của họ đều bị người xung quanh không hiểu, ít nhất là lúc đầu.

Trong khi đó, nữ nam tước Von Zumpe nói cả đời cô chưa gặp một kẻ sát nhân bao giờ, âu cũng tự nhiên thôi, nhưng cô có gặp một tên tội phạm, nếu có thể gọi anh ta như thế, một gã đê tiện nhưng lại toát ra một vầng hào quang huyền bí khiến phụ nữ mê mẩn anh ta, sự thật là, cô nói, một bà cô của cô, em gái duy nhất của cha cô, nam tước Von Zumpe, đã phải lòng anh ta, khiến cha cô gần như nổi điên và đi đến chỗ thách cái kẻ dám chinh phục trái tim của em gái ông đấu súng, gã này, trước sự ngạc nhiên của toàn thiên hạ, nhận lời thách đấu, và cuộc đấu diễn ra trong rừng Trái Tim Mùa Thu ở ngoại vi Potsdam, một nơi mà cô, nữ nam tước Von Zumpe, nhiều năm sau đã đến thăm để tận mắt thấy những cái cây thân xám cao ngất và khoảng đất trống, một khoảnh đất dốc dài khoảng năm mươi mét, nơi cha cô đã đấu với con người khó lường đó, anh ta đến đó lúc bảy giờ sáng cùng với hai gã cầu bơ cầu bất thay cho nhân chứng, hai gã ăn mày say quắc cần câu, dĩ nhiên, trong khi nhân chứng của cha tôi là nam tước X và bá tước Y, một sự sỉ nhục gớm ghê đến nỗi nam tước X, đỏ mặt tía tai vì cuồng nộ, suýt nữa đã giơ súng lên bắn chết hai nhân chứng tới cùng người yêu của em gái nam tước Von Zumpe, tên anh ta là Conrad Halder, như tướng Von Berenberg nhất định sẽ nhớ (vị tướng gật đầu mặc dù ông chả biết nữ nam tước Von Zumpe đang nói cái gì), vụ này hồi đó được người ta bàn tán xôn xao, trước khi tôi ra đời, dĩ nhiên, bởi thực tế nam tước Von Zumpe, hồi đó hãy còn độc thân, trong khu rừng nhỏ với cái tên lãng mạn nhường kia đã tiến hành cuộc đấu, bằng súng lục, dĩ nhiên, và tuy tôi không biết khi ấy họ theo luật nào nhưng tôi cho là cả hai người đã nhắm và bắn cùng một lúc: viên đạn của nam tước, cha tôi, bay sượt sít sao vai trái Halder, trong khi chẳng ai nghe thấy phát súng của Halder mặc dù ai cũng tin chắc cả nó cũng chả trúng đích, bởi cha tôi là tay thiện xạ cừ khôi hơn anh ta nhiều và nếu có ai ngã xuống thì đó là Halder chứ không phải cha tôi, thế nhưng, ôi ngạc nhiên chưa, tất cả mọi người, kể cả cha tôi, thấy Halder, còn khướt mới ngã xuống, vẫn đang giương súng ngắm, và rồi họ hiểu ra rằng anh ta chưa bắn cho nên cuộc đấu vẫn chưa kết thúc, và rồi xảy ra điều kỳ lạ hơn cả, nhất là nếu ta xét đến thanh danh kẻ đó, người đang ngấp nghé cô em gái của cha tôi, anh ta, thay vì mới bắn vào cha tôi, đã chọn một phần trên cơ thể mình, đâu như là tay trái, rồi bắn thẳng vào chính mình.

Chuyện sau đó thế nào tôi không biết. Chắc họ đưa Halder đi bác sĩ. Hay có thể chính Halder tự mình đi tới đó, cùng với hai tay đầu đường xó chợ đóng vai nhân chứng, tìm bác sĩ để người ta chăm sóc vết thương, trong khi cha tôi đứng sững trong rừng Trái Tim Mùa Thu, sục sôi căm giận hay tím tái ruột gan trước những gì ông chứng kiến, trong khi các nhân chứng của ông xúm lại an ủi ông, bảo ông đừng bận trí làm gì, cái phường đá cá lăn dưa như bọn đó thì có gì mà chúng chả dám làm.

Chẳng bao lâu sau Halder cùng với em gái ba tôi bỏ trốn. Họ sống ở Paris một dạo rồi sau đó ở miền Nam nước Pháp nơi Halder - vốn là họa sĩ, dù tôi chưa thấy bức tranh nào của y bao giờ - đã từng sống trong những quãng thời gian dài. Rồi họ cưới nhau và định cư ở Berlin, là tôi nghe nói thế. Cuộc sống chẳng dễ dàng gì nên em của ba tôi lâm bệnh nặng. Hôm bà chết, ba tôi nhận được một bức điện và rồi đêm đó ông gặp Halder lần thứ hai. Ông thấy gã say bí tỉ, cởi trần, trong khi con trai gã, em họ tôi, bấy giờ lên ba tuổi, đi lang thang khắp cái nhà đồng thời cũng là xưởng vẽ của Halder, thằng nhóc truồng tô hô và toàn thân bê bết sơn màu.

Đêm đó họ nói chuyện với nhau lần đầu tiên và có lẽ đã đi đến một thỏa thuận. Ba tôi nhận nuôi nấng đứa cháu còn Conrad Halder rời khỏi Berlin vĩnh viễn. Thỉnh thoảng lại có tin về anh ta, lần nào cũng theo sau một vụ xì căng đan nho nhỏ nào đấy. Các bức tranh của anh ta ở Berlin được để lại cho ba tôi giữ, ông không nỡ đem đốt. Có lần tôi hỏi ông cất chúng ở đâu. Ông không muốn cho tôi biết. Tôi hỏi ông các tranh ấy trông thế nào. Ba tôi nhìn tôi mà bảo chỉ toàn những đàn bà chết. Chân dung của dì con? Không, ba tôi nói, những đàn bà khác, thảy đều là người chết cả.

♣ ♣ ♣

Chẳng ai trong bữa ăn tối ấy từng thấy bức tranh nào của Conrad Halder, cố nhiên, trừ viên sĩ quan SS, ông này bảo tay họa sĩ kia là một nghệ sĩ suy đồi, rõ là một sự ô nhục cho gia đình Von Zumpe. Thế rồi họ nói chuyện về nghệ thuật, về cái hùng trong nghệ thuật, về tranh tĩnh vật, về những mê tín dị đoan và về các biểu tượng.

Hoensch nói rằng văn hóa là một chuỗi những mắt xích gồm có nghệ thuật về cái hùng và những diễn giải mê tín dị đoan. Học giả Popescu trẻ tuổi nói rằng văn hóa là một biểu tượng mang hình dạng một cái phao cứu sinh. Nữ nam tước Von Zumpe nói rằng văn hóa về cơ bản là khoái lạc, bất cứ thứ gì cung cấp hoặc ban cho ta khoái lạc, còn lại thì toàn trò bịp tất. Viên sĩ quan SS nói rằng văn hóa là tiếng gọi của máu, tiếng gọi ấy về đêm nghe rõ hơn ban ngày, và, ngoài ra, là thứ giải mã số phận, ông ta nói thế. Tướng Von Berenberg nói rằng văn hóa là Bach, với ông vậy là đủ. Một trong hai sĩ quan tham mưu của ông nói rằng với anh ta văn hóa là Wagner và với anh ta vậy cũng là đủ. Viên sĩ quan tham mưu kia bảo với anh ta văn hóa là Goethe và với anh ta, trùng với cách nói của ông tướng, vậy cũng là đủ, đôi khi còn hơn cả đủ. Đời một người chỉ có thể sánh với đời một người khác. Đời của một người chỉ dài vừa đủ để hân thưởng trọn vẹn tác phẩm của một người khác, anh ta bảo vậy.

Tướng Entrescu, có vẻ rất chi thích thú trước tuyên bố của viên sĩ quan tham mưu, nói rằng với ông thì ngược lại, văn hóa là sự sống, không phải sự sống của một người duy nhất hay tác phẩm của một người duy nhất mà là sự sống nói chung, bất kỳ biểu hiện nào của nó, kể cả biểu hiện thô lậu nhất, rồi kế đó ông nói về hậu cảnh của vài bức tranh thời Phục hưng nào đó và nói rằng những cảnh đó người ta có thể thấy bất cứ đâu ở Rumani, rồi thì ông nói về các Mẹ đồng trinh và nói rằng ngay tại khoảnh khắc này ông đang nhìn gương mặt của một Mẹ đồng trinh đẹp hơn Mẹ đồng trinh của bất cứ họa gia Ý thời Phục hưng nào (nữ nam tước Von Zumpe liền đỏ mặt) rồi cuối cùng ông bắt đầu nói về chủ nghĩa lập thể và về hội họa hiện đại và nói rằng bất cứ bức tường bị bỏ phế hay bị bom đánh sập nào cũng đẹp hơn bức họa lập thể lừng tiếng nhất, còn chủ nghĩa siêu thực thì thôi đừng bận tâm, ông nói, cái thứ ấy còn chẳng bằng được giấc mơ của một gã nông dân thất học xứ Rumani. Sau đó có một quãng lặng ngắn, ngắn nhưng không tránh được, tuồng như tướng Entrescu vừa mới nói ra một từ dở hay một từ thô tục hay một từ khiếm nhã hay đã xúc phạm các vị khách người Đức, bởi vì chính ông (ông và Popescu) là người đã nảy ra ý đi thăm cái lâu đài dưới lòng đất nọ. Dẫu sao nữ nam tước Von Zumpe cũng phá vỡ khi cô hỏi ông, bằng một giọng mà quãng âm giai đi từ hồn nhiên đến trần tục, rằng các nông dân người Rumani đố họ nằm mơ thấy những gì và làm sao ông biết những nhà nông khác thường nhất hạng kia họ nằm mơ thấy những gì. Nghe đoạn tướng Entrescu đáp lại bằng một tiếng cười thành thực, tiếng cười cởi mở trong vắt như pha lê, tiếng cười mà trong những giới thanh lịch tại Bucarest người ta mô tả, chẳng phải không có chút mập mờ đa nghĩa, là tiếng cười không thể nhầm được của một siêu nhân, rồi sau đó, nhìn thẳng vào mắt nữ nam tước Von Zumpe, ông nói rằng chẳng có cái gì xảy ra với người của ông (ý nói lính của ông, vốn phần lớn con nhà nông) mà lại xa lạ với ông.

“Tôi lẻn vào trong giấc mơ của họ,” ông nói. “Tôi lẻn vào trong những ý nghĩ đáng hổ thẹn nhất của họ, tôi ở trong từng cơn run rẩy, từng cái co giật của linh hồn họ, tôi lẻn vào trong tim họ, tôi săm soi những niềm tin nguyên sơ nhất của họ, tôi khảo sát những xung năng phi lý của họ, những cảm xúc không thể nói thành lời của họ, mùa hè tôi ngủ trong phổi họ còn mùa đông tôi ngủ trong cơ bắp họ, và tất cả những việc đó tôi làm không chút khó khăn gì, không dự định, không đòi hỏi cũng không tìm kiếm, không một chút cưỡng ép nào, chỉ thuần túy xuất phát từ lòng tận tụy và tình thương.”

♣ ♣ ♣

Khi đến giờ đi ngủ hoặc chuyển sang phòng khác có trang trí những bộ giáp trụ cùng với những thanh gươm và chiến lợi phẩm đi săn, nơi rượu nhẹ cùng với bánh và thuốc lá Thổ Nhĩ Kỳ đang chờ họ, tướng Von Berenberg xin kiếu từ và liền sau đó rút về phòng riêng. Một trong hai sĩ quan của ông, tay sùng mộ Wagner, cũng làm theo ông trong khi người kia, kẻ sùng mộ Goethe, thì quyết định vui chơi thêm nữa. Về phần mình, nữ nam tước Von Zumpe bảo cô không buồn ngủ. Văn nhân Hoensch cùng viên sĩ quan SS dẫn đầu đi sang phòng bên. Học giả Popescu vẫn đứng, bên lò sưởi, quan sát viên sĩ quan SS với vẻ tò mò.

Hai người lính, một trong số đó là Reiter, đứng hầu ở ngoài. Người kia là một tay béo, tóc đỏ, tên là Kruse, xem chừng sắp ngủ tới nơi.

Đầu tiên họ khen ngợi bánh sao mà khéo xếp khéo chọn nhiều thứ vậy, rồi sau đó, không dừng một tí nào, họ chuyển sang nói về bá tước Dracula, làm như suốt tối họ chỉ chờ có mỗi lúc này thôi. Chẳng mấy chốc họ chia làm hai phe, phe tin vào chuyện Dracula và phe không tin. Trong phe không tin có viên sĩ quan tham mưu, tướng Entrescu và nữ nam tước Von Zumpe, phe tin thì có học giả Popescu, văn nhân Hoensch và viên sĩ quan SS, cho dù Popescu khẳng định Dracula, tên thật Vlad Tepes, biệt hiệu Vlad Xiên Người, là một quý tộc Rumani, còn Hoensch và sĩ quan SS khẳng định Dracula là một quý tộc Đức, đã rời nước Đức vì một tội phản bội hay bất trung tưởng tượng nào đấy và đã cùng một số gia nhân thân tín rời đến Transylvania từ lâu trước khi Vlad Tepes chào đời, và tuy họ không phủ nhận Vlad Tepes là có thật trong lịch sử hoặc xuất thân từ Transylvania, song họ tin rằng những phương pháp y dùng, như ta có thể thấy qua biệt hiệu hay bí danh của y, chẳng có liên quan gì tới các phương pháp của Dracula, vì Dracula về cơ bản là kẻ chuyên bóp cổ chứ không xiên người, thỉnh thoảng cứa cổ, và cuộc sống của Dracula ở nước ngoài, ta hẵng tạm gọi vậy, là một lốc xoáy không ngừng nghỉ, một nỗi ăn năn sám hối lớn lao không bao giờ dứt.

Về phần mình, Popescu cho rằng Dracula chẳng qua là một nhà yêu nước Rumani từng đương cự lại quân Thổ, một chiến công mà bất cứ nước châu Âu nào cũng phải hàm ơn trong chừng mực nào đấy. Lịch sử vốn tàn nhẫn, Popescu nói, tàn nhẫn và đầy nghịch lý: con người từng chặn đứng cuộc hành quân chinh phạt của quân Thổ, qua tay một nhà văn Anh hạng nhì lại bị biến thành một con quái vật, một kẻ coi trời bằng vung chỉ quan tâm có mỗi máu người, trong khi sự thật là thứ máu duy nhất Tepes muốn làm cho đổ là máu Thổ.

Đến chỗ này thì Entrescu, người mà cho dẫu đã nốc hàng đống rượu trong bữa tiệc và giờ ngồi rốn lại khi tiệc đã tàn vẫn đang tiếp tục nốc hàng đống song vẫn chẳng có vẻ say - trên thực tế ông gây cảm tưởng rằng ông, cùng với viên sĩ quan SS cảnh vẻ họa hoằn lắm mới chỉ nhấp môi, là hai người tỉnh nhất bọn - nói rằng, nếu ta bình thản mà nhìn những chiến công vĩ đại trong lịch sử (kể cả những chiến công để trống trong lịch sử, mặc dù điều này cố nhiên không ai hiểu), ta sẽ thấy cũng chẳng lạ gì khi một người hùng bị biến thành con quái vật hoặc thành loại ác nhân tồi tệ nhất hoặc thành ra vô hình dù bản thân không muốn vậy, cũng hệt như khi một kẻ ác hay một kẻ tầm thường hay một người tầm tầm có tấm lòng vàng qua nhiều thế kỷ sẽ trở thành ngọn hải đăng minh triết, một ngọn hải đăng thần diệu có khả năng mê hoặc hàng triệu con người, tuy kẻ ấy đã chẳng hề làm gì cho thấy mình xứng đáng với sự sùng mộ ấy, thậm chí kẻ ấy cũng chẳng hề khát khao vươn tới nó hay mong muốn nó (mặc dù tất cả con người, cho đến cả hạng lưu manh mạt hạng nhất, cũng có lúc nào đó trong đời mơ đến chuyện ngự trị trên những người khác và trên thời gian). Ông hỏi: Liệu Giê su có từng ngờ rằng một ngày nào đó nhà thờ của ngài sẽ vươn đến những chốn xa xôi nhất của thế gian? Ông hỏi: Liệu Giê su từng có cái mà ngày nay chúng ta gọi là một ý niệm về thế giới? Liệu Giê su, người dường như biết hết muôn sự, có biết rằng trái đất tròn và ở phía Đông có người Trung Hoa sinh sống (câu này ông khạc ra như thể phải nỗ lực rất nhiều mới thốt ra được) còn về phía Tây là các dân tộc sơ khai châu Mỹ? Và rồi ông tự trả lời rằng không, mặc dù, rõ là thế rồi, theo cách nào đó có một ý niệm về thế giới là điều hết sức dễ dàng, ai trên đời cũng có, thường là một ý niệm giới hạn ở ngôi làng của mình, gắn với đất đai, với những sự vật hữu hình và tầm thường trước mắt, và cái ý niệm này về thế giới, tủn mủn, hạn hẹp, đầy thứ cáu bẩn của cái thân quen, sẽ còn trường tồn và càng nhiều năm tháng qua thì lại càng thêm quyền uy thêm hùng biện.

Thế rồi, làm một cú ngoặt bất ngờ, tướng Entrescu khởi sự nói về Flavius Josephus, con người thông minh, hèn nhát, cẩn trọng kia, kẻ xun xoe bợ đỡ và con bạc chỉ đánh khi đã ăn chắc, kẻ có một ý niệm về thế giới phức tạp và tinh tế hơn nhiều so với của Giê su nếu như ta chú ý quan sát kỹ, nhưng kém tinh tế hơn nhiều so với ý niệm về thế giới của những người nghe nói đã giúp vào việc dịch cuốn Lịch sử của ông sang tiếng Hy Lạp, nói cách khác là những triết gia Hy Lạp thấp kém hơn, những kẻ làm mướn của kẻ làm mướn vĩ đại, những kẻ ban hình hài cho những văn bản vô hình vô dạng của ông, cấp sự thanh lịch cho cái thô lậu, những kẻ đã biến những lời lắp ba lắp bắp của Flavius Josephus về nỗi kinh hoàng và cái chết thành một thứ gì xuất chúng, cao nhã và tinh tế.

Rồi sau đó Entrescu bắt đầu hình dung ra những triết gia làm thuê làm mướn đó, ông thấy họ lang thang khắp phố phường thành La Mã và những con đường dẫn ra biển, ông thấy họ ngồi ven những con đường ấy, quấn mình trong áo choàng, dựng lên trong đầu mình một ý niệm về thế giới, ông thấy họ ngồi ăn trong những lữ quán bến tàu, những chốn tối tăm sặc mùi đồ biển và gia vị, mùi rượu và mùi thức ăn chiên, cho đến khi rốt cuộc họ tan biến đi, cũng giống như Dracula tan biến đi, với bộ giáp vấy máu và áo quần vấy máu, một Dracula khắc kỷ, một Dracula đọc Seneca hoặc thích nghe các ca nhân hát rong nước Đức ngày xưa và làm nên những kỳ tích tại châu Âu vốn chỉ có thể sánh với những chiến công được mô tả trong Bài ca Roland. Ấy là xét từ góc độ lịch sử, tức là chính trị, Entrescu thì thào, cũng như từ góc độ biểu tượng, hay góc độ thơ ca.

Nói đến đây Entrescu liền xin lỗi đã quá hăng mà nói quá nhiều rồi thì im bặt, thế là Popescu liền tiện đấy bắt đầu nói về một nhà toán học Rumani sinh năm 1865 và mất năm 1936, ông này suốt hai mươi năm cuối đời miệt mài tìm kiếm những “con số huyền bí” ẩn giấu trong cảnh quan rộng lớn mà con người nhìn thấy được song bản thân các số này thì vô hình và có thể sống giữa những tảng đá hay sống giữa phòng này với phòng khác hay thậm chí giữa một số này với một số khác, ta có thể gọi đó là một thứ toán học khác cải trang nấp giữa số bảy và số tám, đợi người nào đó có khả năng nhìn thấy và giải mã nó. Khó khăn duy nhất là để giải mã nó thì người ta phải thấy được nó mà để thấy được nó thì người ta phải giải mã nó.

Popescu giải thích rằng khi nhà toán học nói đến chuyện giải mã, thật ra ý ông muốn nói là hiểu, và khi ông nói đến chuyện thấy, thật ra ý ông muốn nói là áp dụng, hoặc Popescu cho rằng vậy. Nhưng chắc không phải ý ông muốn nói là chần chừ, anh ta bảo vậy. Có lẽ là các môn đồ của ông, trong đó có tôi, đã hiểu sai lời ông. Dù thế nào đi nữa, một đêm kia ông hóa điên và người ta phải đưa ông vào nhà thương điên, chuyện đó âu khó tránh. Popescu và hai thanh niên người Bucarest khác có đến thăm ông. Ban đầu ông không nhận ra họ, nhưng dần dà, nhiều ngày sau, khi ông không còn dáng điệu một người điên cuồng nộ nữa mà chỉ là một ông già hom hem tiều tụy, ông nhớ ra họ hoặc giả bộ nhớ ra họ và mỉm cười với họ. Tuy nhiên, theo yêu cầu của gia đình, ông ở lại trong nhà thương điên. Vả lại, do ông thỉnh thoảng vẫn lên cơn tái phát nên bác sĩ khuyên ông lưu lại vô thời hạn. Một hôm Popescu đến thăm ông. Bác sĩ đã cho nhà toán học một cuốn sổ nhỏ trong đó ông vẽ những cây cối bao quanh bệnh viện, chân dung những bệnh nhân khác và sơ phác kiến trúc của những căn nhà có thể nhìn thấy được từ sân bệnh viện. Hai người im lặng hồi lâu, cho tới khi Popescu quyết định nói thẳng. Với sự bộp chộp điển hình của tuổi trẻ, anh đề cập thẳng đến chứng điên hay tình trạng cầm bằng là điên của ông thầy. Nhà toán học cười rộ. Chả có cái gì gọi là điên hết, ông nói. Nhưng thầy đang ở đây, mà đây là nhà thương điên, Popescu đáp. Nhà toán học có vẻ chẳng nghe anh nói: chứng điên duy nhất có thật, nếu chúng ta có thể gọi đó là điên, ông nói, là một sự mất cân bằng hóa học, có thể chữa dễ dàng bằng cách dùng sản phẩm hóa học.

“Nhưng thầy yêu quý ơi, thầy đang ở đây, ở đây, ở đây,” Popescu la lên.

“Để bảo vệ chính tôi,” nhà toán học nói.

Popescu không hiểu ông. Anh nghĩ mình đang nói chuyện với một người điên thứ thiệt, một người điên hết thuốc chữa. Anh giơ hai tay ôm mặt ngồi yên một chặp. Có một lúc anh ngỡ như mình sẽ ngủ đi mất. Rồi anh mở mắt ra, dụi mắt, và thấy nhà toán học đang ngồi trước mặt anh, quan sát anh, lưng thẳng, hai chân vắt tréo. Popescu hỏi đã có chuyện gì xảy ra phải không. Tôi đã thấy điều lẽ ra không được thấy, nhà toán học nói. Popescu nài ông giải thích rõ hơn. Nếu tôi giải thích cho anh thì tôi sẽ điên lại và có thể sẽ chết, nhà toán học đáp. Nhưng mà một người thiên tài như thầy mà phải ở đây thì chẳng khác gì bị chôn sống cả, Popescu nói. Nhà toán học mỉm cười hiền từ. Anh lầm rồi, ông nói, chính ở đây tôi có tất cả những gì cần thiết để phòng tránh cái chết: thuốc men, thời gian, y tá và bác sĩ, một cuốn sổ để vẽ, và một khu vườn.

Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau đó nhà toán học chết. Popescu dự đám tang. Khi đám kết thúc, anh cùng với vài môn sinh khác của người đã khuất đi tới một nhà hàng, ở đó họ ăn và ngồi kề cà cho đến chập tối. Họ kể chuyện cho nhau nghe về nhà toán học, họ nói về hậu thế, ai đó so sánh số phận con người với số phận một ả điếm già, và một cậu trai chắc chưa tới mười tám tuổi, vừa mới cùng cha mẹ đi Ấn Độ một chuyến về, đọc một bài thơ.

Hai năm sau, thuần túy do tình cờ, Popescu dự một bữa tiệc cùng với một trong mấy bác sĩ đã chữa cho nhà toán học hồi ông còn ở nhà thương điên. Bác sĩ đó là một người trẻ tuổi và thành thật, với tấm lòng Rumani, tức là một tấm lòng tuyệt không lươn lẹo tí nào. Đã vậy anh còn hơi say rượu, nhờ vậy chuyện tâm sự thân tình cũng dễ hơn.

Theo anh bác sĩ này thì nhà toán học khi được đưa vào viện đã bộc lộ những triệu chứng tâm thần phân liệt trầm trọng, tuy nhiên sau vài ngày điều trị thì tình trạng ông tiến triển rất thuận lợi. Một đêm nọ anh bác sĩ này trực, anh ta bước vào phòng của nhà toán học để chuyện trò chút đỉnh bởi vì nhà toán học, ngay cả dù có uống thuốc ngủ cũng khó mà ngủ được trong khi nội quy bệnh viện cho phép ông để đèn bao lâu tùy ý. Ngạc nhiên đầu tiên xảy đến khi anh mở cửa. Nhà toán học không ở trên giường. Bác sĩ thoáng nghĩ hay là ông đã trốn viện nhưng rồi anh bắt gặp bệnh nhân đang ngồi thu lu một góc trong bóng tối. Anh ngồi thụp xuống cạnh ông và sau khi kiểm tra cho chắc là mình mẩy ông không bị làm sao, bèn hỏi ông có chuyện gì vậy. Chừng đó nhà toán học nói: chẳng gì hết, đoạn nhìn thẳng vào mắt bác sĩ, và bác sĩ thấy một vẻ khiếp sợ tuyệt đối mà cả đời anh chưa từng thấy bao giờ, cho dù hằng ngày anh vẫn tiếp xúc với hàng bao nhiêu người điên chẳng còn thiếu loại gì.

“Nhưng mà cái vẻ khiếp sợ tuyệt đối ấy nó ra làm sao?” Popescu hỏi.

Anh bác sĩ ợ mấy lần, cựa mình trên ghế, rồi đáp rằng đó là một cái nhìn thương cảm, nhưng trống rỗng, như thể tất cả những gì còn lại từ lòng thương cảm, sau một cuộc hành trình bí ẩn, là cái bộ da, tuồng như lòng thương cảm là một túi da đựng đầy nước trong tay chẳng hạn như một kỵ sĩ Tác-ta phi ngựa trên thảo nguyên và mỗi lúc một xa dần cho đến khi biến mất, rồi sau đó kỵ sĩ quay về, hay là bóng ma của kỵ sĩ quay về, hay cái bóng của kỵ sĩ, hay ý niệm về kỵ sĩ, mang theo cái túi da giờ đã rỗng, không còn nước, bởi trong chuyến đi chàng ta đã uống sạch, hoặc chàng ta cùng con ngựa đã uống sạch, và giờ cái túi da rỗng không, là một túi da thường, một bộ da rỗng, bởi vì rốt cuộc một cái bộ da chứa đầy nước mới là thứ bất thường, nhưng cái bộ da đầy nước, cái bộ da kinh rợn chứa đầy nước kia không khơi nên nỗi sợ, không đánh thức nỗi sợ, càng không cách ly nỗi sợ, nhưng bộ da rỗng thì có, và đó là cái mà bác sĩ nhìn thấy trên gương mặt nhà toán học, nỗi khiếp sợ tuyệt đối.

Nhưng điều thú vị nhất, ông bác sĩ nói với Popescu, là sau một chặp nhà toán học hồi lại được và cái vẻ xa lạ của ông ta biến mất không dấu vết, và, theo như bác sĩ biết, cái vẻ ấy chẳng bao giờ quay trở lại. Đó là câu chuyện Popescu kể, và cũng như Entrescu đã làm trước đó, anh ta tỏ ý xin lỗi đã nói quá lâu, chắc làm cho tất cả mọi người phát chán, mọi người liền vội nói không phải vậy đâu, tuy giọng họ thiếu thành thật. Từ lúc đó trở đi cuộc chuyện trò nhạt dần và chẳng mấy chốc sau mọi người ai về phòng nấy.

♣ ♣ ♣

« Lùi
Tiến »