2666

Lượt đọc: 798 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN NĂM (C)
phần về archimboldi

Suốt ba tháng sau đó Reiter cố thu xếp sao cho dành được hầu hết thời gian của mình để ở bên Ingeborg. Anh mua rau và trái cây ở chợ đen. Anh mua sách cho cô đọc. Anh nấu nướng và quét dọn căn gác xép họ ở chung. Anh đọc sách y khoa và lùng kiếm đủ loại thuốc. Một sáng nọ mẹ cùng hai em gái của Ingeborg xuất hiện nơi ngưỡng cửa. Bà mẹ ít nói và cư xử đúng mực, nhưng hai cô em, một cô mười tám còn cô kia mười sáu, thì chỉ nghĩ đến chuyện ra ngoài đi thăm những nơi thú nhất trong thành phố. Một hôm Reiter bảo các cô rằng nơi thú vị nhất ở Cologne chính là căn gác xép của anh thế là hai cô em gái của Ingeborg cả cười. Reiter, vốn chỉ cười khi ở cùng với Ingeborg, cũng cả cười. Một đêm nọ anh đưa họ đến chỗ anh làm. Hilde, cô mười tám tuổi, khinh khỉnh nhìn mấy cô gái điếm hay lui tới quán, nhưng đêm đó cô bỏ đi cùng với hai trung úy trẻ người Mỹ và mãi xế chiều hôm sau mới trở về, khiến bà mẹ lo sốt vó và buộc tội Reiter làm nghề ma cô dắt gái.

Mặt khác, tình trạng bệnh tật đã mài sắc thêm cơn khát tình của Ingeborg, nhưng căn gác xép lại nhỏ và tất cả mọi người ngủ chung một phòng, khiến Reiter cảm thấy lúng túng mỗi khi anh đi làm về nhà lúc năm sáu giờ sáng mà Ingeborg lại đòi hai người phải làm tình. Khi anh cố giải thích rằng mẹ cô hoàn toàn có thể nghe thấy, bởi bà không điếc, Ingeborg liền nổi giận nói anh không còn ham muốn cô nữa. Một đêm nọ cô em gái út, Grete, mười sáu tuổi, đi dạo cùng Reiter loanh quanh những đống đổ nát của khu phố và kể với anh rằng hồi ở Berlin đã có nhiều bác sĩ và nhà trị liệu thần kinh đến khám cho chị cô và tất cả đều chẩn đoán cô bị điên.

Reiter nhìn cô: cô giống Ingeborg nhưng đậm người hơn và cao hơn. Thật ra, cô cao và trông dáng thể thao đến độ chẳng khác gì vận động viên ném lao.

“Ba tụi em là người Quốc xã,” Grete nói, “cả chị Ingeborg cũng vậy, hồi đó chị ý là Quốc xã. Anh hỏi chị ấy mà xem. Chị ấy từng ở trong Đoàn Thanh niên Hitler.”

“Vậy là, theo em, cô ấy điên?” Reiter nói.

“Điên toàn tập,” cô em nói.

Ít lâu sau, Hilde cho anh biết Grete đang mê anh.

“Vậy là, theo em, Grete mê anh?”

“Mê đến điên cuồng,” Hilde nói, đảo hai con mắt.

“Thú quá nhỉ,” Reiter nói.

Một sáng nọ, sau khi lặng lẽ vào nhà, cố không làm cho ai trong số bốn người đàn bà đang ngủ kia sực tỉnh, Reiter nằm lên giường, kéo thân thể nóng bừng của Ingeborg áp vào mình và biết ngay cô đang sốt, thế là hai mắt anh trào lệ và anh bắt đầu thấy chóng mặt, nhưng một cách từ từ đến nỗi cảm giác đó không hoàn toàn khó chịu.

Thế rồi anh cảm thấy bàn tay của Ingeborg nắm lấy cái củ của anh và bắt đầu ve vuốt nó thế là anh liền lấy tay trật áo ngủ của Ingeborg lên tới eo lưng cô đoạn tìm âm vật cô và đến lượt mình cũng mơn trớn nó, vừa làm vừa nghĩ đến những chuyện khác, về cuốn tiểu thuyết của mình vốn vẫn đang tiến triển, về những biển của nước Phổ những con sông của nước Nga và về những con quái vật hiền lành sống trong những vùng nước sâu bên bờ bán đảo Crimea, cho đến khi anh cảm thấy bên cạnh bàn tay mình hai ngón tay của Ingeborg lùa vào âm hộ cô rồi sau đó cũng hai ngón ấy vuốt cho ướt cửa hậu môn cô và yêu cầu anh, không, ra lệnh anh thọc vào cô qua hậu môn, bây giờ, ngay lập tức, thế là Reiter làm chẳng hề đắn đo cũng chẳng hề cân đong hậu quả việc mình làm, mặc dù anh biết rất rõ Ingeborg phản ứng ra sao, nhưng đêm đó nỗi thôi thúc của anh giống như thôi thúc của một người đang ngủ, không có khả năng thấy trước một cái gì mà chỉ chú tâm vào khoảnh khắc hiện tại, và như thế trong khi họ làm tình và Ingeborg rên rỉ, anh thấy từ một góc nhà trồi lên không phải một dáng hình mà là một cặp mắt mèo, cặp mắt ấy bềnh bồng trôi lên và treo lơ lửng trong bóng tối, rồi thì một cặp mắt nữa dâng lên và dừng lại trong sáng tối nhá nhem, và anh nghe Ingeborg bằng giọng khàn đặc ra lệnh cho mấy con mắt ấy ngủ lại đi, thế rồi anh cảm thấy thân thể người đàn bà của mình bắt đầu run lên cả anh cũng bắt đầu run anh liền nghĩ thế này là tốt, sẽ giảm sốt, và anh nhắm mắt lại mà tiếp tục mơn trớn cơ quan sinh dục của Ingeborg bằng tay trái thế rồi khi mở mắt ra anh thấy năm cặp mắt mèo đang trôi trong bóng tối, điều đó anh cảm thấy là dấu hiệu không thể nhầm lẫn rằng anh đang mơ, bởi vì ba cặp mắt, của hai cô em và của bà mẹ Ingeborg thì âu còn hợp lý, nhưng năm cặp mắt thì thật bất nhất về không thời gian, trừ phi mỗi cô trong hai cô em đều đưa một người yêu về nhà trong đêm đó, một chuyện cũng chẳng trong phạm vi những gì có thể, không thể xảy ra cũng không thể tin được.

Hôm sau Ingeborg đâm ra bẳn tính, các cô em hay bà mẹ có làm hay nói gì đi nữa cô cũng đều cảm thấy như là nhằm chọc tức cô. Từ đó trở đi tình hình trở nên căng thẳng đến độ cô không đọc được mà anh cũng không viết được. Đôi khi Reiter có cảm tưởng Ingeborg ghen với Hilde, trong khi cô em mà cô có lý do chính đáng để ghen là Grete mới phải. Thỉnh thoảng, trước khi đi làm, Reiter đứng nơi cửa sổ căn gác xép nhìn cảnh hai tay sĩ quan của Hilde đứng nơi vỉa hè đối diện gọi tên cô và huýt sáo. Hơn một lần anh đưa cô xuống cầu thang và khuyên cô cẩn thận. Hờ hững, Hilde đáp:

“Họ làm gì được em chớ? Ném bom em chắc?”

Đoạn cô cười to và Reiter cũng cười to theo.

“Tệ lắm thì họ cũng chỉ có thể làm với em điều mà anh đã làm với Ingeborg,” có lần cô nói, và Reiter cứ nghiền đi ngẫm lại câu này suốt một thời gian dài.

Mình đã làm gì với Ingeborg. Anh đã làm gì Ingeborg ngoài yêu cô ấy?

Cuối cùng, một ngày kia mẹ và hai em gái của Ingeborg quyết định quay về ngôi làng ở Westerwald nơi gia đình họ đã an cư thế là Reiter và Ingeborg lại được một mình bên nhau. Giờ mình có thể yên ổn mà yêu đương rồi, Ingeborg nói. Reiter nhìn cô: Ingeborg đã trở dậy và đang dọn dẹp nhà cửa chút ít. Chiếc áo ngủ cô mặc có màu ngà và hai bàn chân cô dài, xương xẩu, gần như cùng màu với chiếc áo. Từ hôm đó trở đi sức khỏe của cô khá lên đáng kể và khi đã đến cái ngày định mệnh mà ông bác sĩ người Anh kia tiên báo, cô khỏe hơn bao giờ hết.

Ít lâu sau cô tìm được chỗ làm tại một hiệu may chuyên biến đồ cũ thành đồ mới và đồ lỗi mốt thành đồ hợp mốt. Hiệu may chỉ có mỗi ba máy may, song nhờ sự tháo vát của bà chủ, một phụ nữ táo bạo và bi quan tin chắc rằng Thế chiến thứ ba muộn nhất sẽ khởi đầu vào năm 1950, mà việc làm ăn của hiệu rất phát đạt. Ban đầu việc của Ingeborg là khâu lại với nhau các mẫu vải mà bà Raab đã cắt đúng theo số đo của khách, nhưng chẳng bao lâu sau do cửa hiệu thì nhỏ mà lượng hàng lại quá nhiều nên nhiệm vụ của cô là đến các hiệu quần áo dành cho phụ nữ mà nhận đơn đặt hàng rồi sau đó chính cô thực hiện các đơn hàng ấy.

Vào dạo ấy Reiter hoàn thành cuốn tiểu thuyết đầu tay. Anh đặt tên cho nó là Lüdicke và anh phải lang thang khắp các con phố heo hút của Cologne tìm ai đó có thể cho anh thuê máy đánh chữ, bởi anh đã quyết định sẽ không mượn hoặc thuê máy chữ của bất cứ ai quen biết, nói cách khác là của một người biết tên anh là Hans Reiter. Cuối cùng anh gặp một ông già có một cái máy chữ của Pháp, ông này vốn dĩ không hay cho thuê máy song với các nhà văn thì thỉnh thoảng cũng có ngoại lệ.

Ông già đòi giá cao nên lúc đầu Reiter nghĩ tốt hơn nên đi tìm kiếm tiếp, nhưng khi nhìn thấy cái máy chữ, được bảo quản tuyệt vời, tịnh không hạt bụi, tất cả các con chữ đều đang sẵn sàng để lại dấu ấn của mình trên giấy, anh liền quyết định mình có thể tự cho mình chơi sang mà thuê nó. Ông già đòi đưa tiền trước nên ngay đêm ấy, ở quán bar, Reiter hỏi mượn được tiền của mấy cô gái điếm. Hôm sau anh quay lại đưa tiền cho ông già, thế là ông lấy nơi bàn giấy ra một cuốn sổ và hỏi tên anh. Reiter nói ra cái tên đầu tiên nảy ra trong trí.

“Tên tôi là Benno von Archimboldi.”

Ông già nhìn vào mắt anh mà nói đừng có giỡn với tôi, tên thật của anh là gì.

“Tên tôi là Benno von Archimboldi, thưa ông,” Reiter nói, “còn nếu ông nghĩ tôi đang giỡn thì tốt nhất tôi nên đi thôi.”

Hai bên im lặng một chặp. Mắt ông già màu nâu sẫm, tuy nhiên dưới ánh sáng tù mù của căn phòng cặp mắt ấy trông như đen. Mắt Archimboldi màu xanh lơ và ông già cảm thấy nó như mắt một nhà thơ trẻ, một cặp mắt mỏi mệt, bơ thờ, ngầu đỏ, tuy nhiên trẻ và theo nghĩa nào đó là thuần khiết, dẫu đã từ lâu ông già thôi không tin vào sự thuần khiết nữa.

“Đất nước này,” ông nói với Reiter, người mà chiều hôm đó đã trở thành Archimboldi, hẳn vậy, “đã cố hất xuống vực thẳm nhiều đất nước khác nhân danh sự thuần khiết và ý chí. Với tôi, hẳn anh có thể hiểu được, sự thuần khiết và ý chí chỉ là cứt đái, không hơn. Nhờ sự thuần khiết và ý chí mà tất cả chúng ta, tất cả không trừ ai, anh đã nghe chưa, đều trở thành lũ hèn nhát và tội phạm, những thứ mà rốt cuộc thì cũng chỉ là một. Giờ thì chúng ta thút thít kêu rên mà nói chúng tôi không biết! chúng tôi có biết gì đâu! là bọn Quốc xã mà! nếu là chúng tôi thì chúng tôi đã chẳng đời nào làm vậy! Chúng ta biết cách than van. Chúng ta biết cách khêu gợi lòng thương. Người ta lăng nhục chúng ta cũng chả làm sao hết miễn người ta thương hại chúng ta và tha thứ chúng ta. Sẽ có ối thời gian để chúng ta khởi đầu cả một kỳ nghỉ dài của lãng quên. Anh có hiểu tôi không?”

“Tôi hiểu,” Archimboldi nói.

“Tôi từng là nhà văn,” ông già nói.

♣ ♣ ♣

“Nhưng tôi bỏ viết rồi. Máy chữ này là quà của ba tôi tặng tôi. Một người cha có văn hóa và đầy tình cảm sống đến tận tuổi chín mươi ba. Một người về cơ bản là tử tế. Một người tin ở sự tiến bộ, còn phải nói. Tội nghiệp ba tôi. Ông tin vào sự tiến bộ và bởi vậy tin vào tính thiện bản nguyên của giống người. Tôi cũng tin ở tính thiện bản nguyên của giống người, nhưng điều đó chả có ý nghĩa gì. Một kẻ giết người, trong sâu thẳm, là người tốt. Điều đó người Đức chúng ta biết rõ. Rồi sao? Tôi có thể uống rượu cả đêm với một kẻ giết người, hai chúng tôi ngắm mặt trời lên, có thể chúng tôi sẽ buột mồm hát hoặc âm ư một bài của Beethoven. Rồi sao? Rồi có thể kẻ giết người sẽ khóc trên vai tôi. Bình thường. Làm kẻ giết người không dễ. Điều đó anh và tôi biết rõ. Chẳng có gì dễ hết. Nó đòi ta phải có sự thuần khiết và ý chí, ý chí và sự thuần khiết. Sự thuần khiết như pha lê và ý chí thép. Và kể cả tôi cũng có thể khóc trên vai kẻ giết người và thì thầm với y những từ ngọt ngào như ‘người anh em’, ‘bạn thân thiết’, ‘bằng hữu chung cảnh ngộ’. Vào khoảnh khắc đó kẻ giết người là người tốt, bởi tự trong bản chất y tốt, còn tôi là thằng ngốc, bởi tự trong bản chất tôi ngốc, và cả hai chúng tồi đều đa cảm, bởi nền văn hóa của chúng ta có xu hướng không thể lay chuyển là thiên về đa cảm. Nhưng khi màn diễn đã dứt và tôi còn lại một mình, kẻ giết người sẽ mở cửa sổ phòng tôi, bước vào rón rén như một anh y tá mà cắt họng tôi cho đến khi máu tôi chảy kiệt hết.

“Tội nghiệp ba tôi. Tôi từng là nhà văn, từng là nhà văn, nhưng bộ não lười biếng tham lam của tôi ngốn ngấu chính ruột tôi. Là con kền kền của cái ngã Prometheus của tôi hay Prometheus của cái ngã kền kền của tôi, một ngày kia tôi hiểu ra rằng mình có thể đi xa đến mức cho in những bài báo kiệt xuất trên báo trên tạp chí và kể cả cho in những cuốn sách thậm chí còn không xứng với chỗ giấy được dùng để in ra chúng. Nhưng tôi cũng hiểu mình sẽ chẳng bao giờ đến gần được hoặc dấn đến được cái người ta gọi là kiệt tác. Tôi có thể nói rằng văn chương không phải chỉ gồm toàn kiệt tác, mà đúng hơn nó đầy những cái người ta gọi là tác phẩm tầm tầm. Tôi từng tin cả như thế nữa. Văn chương là một khu rừng bao la và các kiệt tác là những cái hồ, những cây cao ngất hoặc những cây cực lạ, những kỳ hoa dị thảo hay những hang động khuất mắt con người, nhưng một khu rừng còn bao gồm cả những loài cây thường, những vạt cỏ, những vũng nước, những dây leo, những loài nấm, những loài hoa dại con con. Tôi đã lầm. Trên thực tế, chẳng hề có những tác phẩm tầm tầm. Ý tôi muốn nói, tác giả một tác phẩm tầm tầm không phải là một ông X bà Y. Ông X và bà Y nào đó có thì có đấy, hiển nhiên rồi, họ vật vã họ cày cục và họ cho in trên báo in trong tạp chí và kể cả thi thoảng cho in một cuốn sách chẳng xứng với chỗ giấy dùng để in nó, nhưng mấy cuốn sách ấy hay mấy bài báo ấy, nếu nhìn kỹ anh sẽ thấy, nó đâu phải là do họ viết ra.

“Mỗi tác phẩm tầm tầm đều có một tác giả bí ẩn và mỗi tác giả bí ẩn, theo định nghĩa, là một nhà văn viết ra kiệt tác. Ai viết ra tác phẩm tầm tầm? Một nhà văn tầm tầm, hoặc có vẻ vậy. Vợ tay nhà văn tầm tầm tội nghiệp có thể làm chứng, chị ta đã thấy anh ta ngồi nơi bàn, gò lưng trên mớ trang trắng, bứt ra bứt rứt cựa mình, ngòi bút chạy trên mặt giấy. Có vẻ là một bằng chứng không thể bác bỏ. Song những gì ta thấy được chỉ là bề ngoài. Cái vỏ ngoài của văn chương. Một giả hình,” ông già nói và Archimboldi liền nhớ đến Ansky. “Kẻ thực sự đang viết cái tác phẩm tầm tầm ấy là một nhà văn bí ẩn vốn chỉ chấp nhận những gì mà một kiệt tác đọc cho anh ta chép lại.

“Anh thợ cừ của chúng ta viết. Anh ta đắm vào cái đang hình thành dù hay dù dở trên trang giấy. Vợ anh ta quan sát anh ta dù anh ta không hay biết. Quả thật anh ta chính là người viết. Nhưng nếu vợ anh ta có con mắt nhìn được như tia X thì chị ta sẽ biết mình không phải đang có mặt tại một phiên sáng tạo văn chương, mà là đang chứng kiến một cuộc thôi miên. Bên trong cái con người đang ngồi viết đó chả có gì ráo. Chả có gì là chính anh ta, tôi muốn nói vậy. Giá anh ta hiến mình cho việc đọc thì sẽ hay hơn cho anh ta biết bao nhiêu. Việc đọc là khoái lạc và niềm vui được sống hoặc nỗi buồn phải sống và trên tất cả nó là hiểu biết và những câu hỏi. Trong khi đó, sự viết hầu như luôn luôn trống rỗng. Trong lòng người đang ngồi viết chẳng có gì. Ý tôi là chẳng có thứ gì mà vợ anh ta, vào một thời điểm nhất định, có thể nhận ra. Anh ta viết như được ai đó đọc cho mà viết. Cuốn tiểu thuyết hay mấy bài thơ của anh ta, đường được, tàm tạm, nảy sinh ra không phải từ sự trui rèn phong cách hay ý chí như anh chàng bất hạnh đáng thương vẫn tin, mà là kết quả của một sự trui rèn thuật che giấu. Cần phải có nhiều sách, nhiều cây thông đẹp tuyệt, để giấu đi để những cặp mắt đói khát khỏi nhìn thấy được cuốn sách thực sự quan trọng, cái hang khốn kiếp của bất hạnh của chúng ta, đóa hoa mê hoặc của mùa đông!

“Tôi dùng ẩn dụ nọ kia anh bỏ quá cho nhé. Đôi khi hứng lên tôi đâm ra lãng mạn. Nhưng nghe này. Bất cứ tác phẩm nào không phải kiệt tác thì theo nghĩa nào đó đều là một phần của một lớp ngụy trang to lớn mênh mông. Anh từng là lính, chắc anh biết ý tôi muốn nói gì. Bất cứ cuốn sách nào không phải kiệt tác đều là cái bia hứng đạn, thứ bộ binh đi hàng đầu thí mạng, bởi vì nó bắt chước theo nhiều cách cái sườn cốt của một kiệt tác. Khi tôi ngộ ra được điều này, tôi bỏ viết. Tuy nhiên, tâm trí tôi không thôi hoạt động. Ngược lại, khi tôi không viết thì nó còn hoạt động mạnh mẽ hơn. Tôi tự hỏi: tại sao một kiệt tác lại cần phải bị giấu kín? những lực bí ẩn nào lôi nó về phía sự bí ẩn và sự u huyền?

“Nay thì tôi biết viết văn là vô ích. Hoặc viết văn chỉ đáng nếu như ta muốn và đã sẵn sàng viết một kiệt tác. Hầu hết các nhà văn đều lầm lạc hoặc đều đóng trò. Có lẽ lầm lạc và đóng trò là cùng một thứ, hai mặt của một đồng tiền. Trên thực tế chúng ta chẳng bao giờ thôi là lũ trẻ nít, những đứa trẻ nít quái gở lở loét gân xanh đầy bướu đầy u đầy đốm đồi mồi song nói gì thì nói vẫn là trẻ nít, nói cách khác chúng ta chẳng bao giờ chịu thôi bám víu vào cuộc sống bởi chúng ta là cuộc sống. Cũng có thể nói: chúng ta là sân khấu, chúng ta là âm nhạc. Cũng vậy, ít có nhà văn nào bỏ cuộc. Chúng ta chơi trò tin mình bất tử. Chúng ta tự dối mình trong sự đánh giá tác phẩm của chính mình và trong sự đánh giá luôn luôn sai lạc tác phẩm của những người khác. Hẹn gặp nhau ở giải Nobel, các nhà văn nói, giống như người ta nói: hẹn gặp nhau ở địa ngục.

“Có lần tôi xem một phim găngtơ của Mỹ. Trong một cảnh nọ một tay thám tử giết một thằng tội phạm và trước khi nổ súng tay này nói: hẹn gặp nhau ở địa ngục. Tay này đang diễn trò. Tay thám tử đang diễn trò và đang lầm lạc. Thằng tội phạm đang nhìn anh ta và chửi rủa anh ta trước khi chết, thằng ấy cũng đang diễn trò và cũng bị lừa, cho dù sân diễn và sân lầm lạc của hắn đã bị thu nhỏ lại gần như bằng không, bởi vì sang cảnh tiếp là hắn đã sắp chết rồi. Đạo diễn phim ấy cũng diễn trò. Tác giả kịch bản cũng vậy. Hẹn gặp nhau ở Nobel. Chúng ta sẽ đi vào lịch sử. Nhân dân Đức sẽ nhớ ơn chúng ta. Một trận chiến hào hùng sẽ được các thế hệ mai sau ghi nhớ. Một tình yêu bất tử. Một cái tên khắc vào đá hoa cương. Giờ của những nữ thần Muse. Kể cả một câu có vẻ vô hại đến vậy cũng dường như nói: những tiếng vang của văn chương Hy Lạp cũng chẳng là gì hơn lầm lạc với diễn trò.

“Diễn trò và lầm lạc là thứ che mắt và thứ thúc giục các nhà văn tầm tầm. Và cũng là lời hứa hẹn tương lai hạnh phúc của họ. Một khu rừng cứ lớn lên lớn lên với tốc độ chóng mặt, một khu rừng chẳng ai có thể quây rào, kể cả các viện hàn lâm, ngược lại là khác, các viện hàn lâm lo liệu sao cho nó lớn lên không bị gì ngăn trở, cả các doanh nhân các trường đại học (nơi ươm mầm những tên càn rỡ) cả các cơ quan nhà nước các nhà bảo trợ các hiệp hội văn hóa và những kẻ bình thơ, tất thảy góp phần làm cho khu rừng cứ lớn mãi lên và che giấu những thứ cần phải che giấu, tất thảy góp phần làm cho khu rừng tái sản sinh những thứ cần phải tái sản sinh, mặc dù chẳng bao giờ có ai được thấy chính xác ra cái gì đang được tái sản sinh, cái gì đang được phản chiếu lại một cách mơ hồ.

“Đạo văn, anh nói vậy chớ gì? Ừ phải, đạo văn, theo nghĩa là mọi tác phẩm tầm tầm, mọi tác phẩm từ ngòi bút của một tác gia tầm tầm, chẳng thể là gì hơn ngoài cái thứ đạo lại từ một kiệt tác. Khác biệt nhỏ ở đây là ta đang nói về một sự đạo văn được chuẩn thuận. Sự đạo văn nó là một thứ ngụy trang, nó là một phông cảnh bằng gỗ và vải bạt trên sân khấu, nó là một tuồng giả trá ắt rồi sẽ dẫn chúng ta đến hư vô.

“Nói gọn: kinh nghiệm là tốt nhất. Tôi sẽ không nói rằng anh không thể có được kinh nghiệm bằng cách thường xuyên lui tới thư viện, tuy nhiên thư viện vẫn đứng sau kinh nghiệm. Kinh nghiệm là mẹ của khoa học, người ta hay nói vậy. Hồi tôi còn trẻ và còn đang nghĩ mình sẽ làm nên sự nghiệp trong văn giới, tôi đã gặp một nhà văn lớn. Một nhà văn lớn có lẽ đã viết một kiệt tác duy nhất, mặc dù theo nhận định của tôi mọi thứ ông ấy viết đều là kiệt tác.

“Tôi không cho anh biết tên ông ấy đâu. Anh mà biết cái tên ấy thì chẳng hay gì, với lại chẳng nhất thiết anh phải biết thì mới nghe câu chuyện được. Chỉ cần nói rằng ông ấy là người Đức và một hôm ông ấy đến Cologne diễn thuyết. Dĩ nhiên tôi chẳng bỏ lỡ buổi nào trong ba buổi diễn thuyết của ông ấy ở trường đại học. Tại buổi cuối tôi giành được ghế ở hàng đầu, và thay vì nghe (thật ra ông ấy chỉ lặp lại những gì đã nói tại buổi đầu và buổi thứ hai), tôi quan sát từng chi tiết nơi ông, hai bàn tay ông chẳng hạn, xương xẩu và đầy khí lực, cái cổ của ông già, giống như cổ con gà tây hay con gà trống trụi lông, cặp xương hàm phảng phất nét Xlavơ, cặp môi không sinh khí, đôi môi mà người ta có thể lấy dao rạch đứt nhưng rồi cầm chắc sẽ không có giọt máu nào từ đó chảy ra, hai bên thái dương màu xám giống như biển đang dậy sóng, và trên hết là cặp mắt, cặp mắt sâu, cặp mắt mà, tùy theo những cử động nhỏ nhất của đầu ông, đôi lúc trông như hai đường hầm vô tận, hai đường hầm bị bỏ phế và sắp sụp tới nơi.

“Dĩ nhiên, bài diễn thuyết vừa kết thúc là ông ta liền bị đám có máu mặt của thành phố cuỗm đi nên tôi thậm chí còn không thể bắt tay ông ấy mà nói tôi ngưỡng mộ ông ấy biết bao. Thời gian trôi qua. Nhà văn ấy chết và tôi cứ đọc tới đọc lui ông ấy, âu cũng dễ hiểu. Rồi đến cái ngày tôi quyết định bỏ văn chương. Tôi bỏ. Cái bước ấy hoàn toàn chẳng đau đớn gì, nó giải phóng tôi thì có. Giữa hai ta với nhau, tôi thú nhận với anh rằng nó giống như mình quyết định mất trinh. Nhẹ người biết bao, bỏ văn chương, thôi không viết nữa mà chỉ đọc!

“Nhưng đó là chuyện khác. Ta sẽ nói đến chuyện đó khi anh đem trả máy cho tôi. Nhưng dù gì thì ký ức về chuyến thăm của nhà văn lớn ấy đến thành phố của tôi vẫn không chịu rời tôi. Dạo đó tôi bắt đầu đi làm ở một nhà máy làm dụng cụ quang học. Tôi kiếm sống khá. Tôi độc thân, tôi có tiền, tuần nào tôi cũng đi xem phim, xem kịch, xem triển lãm, còn học cả tiếng Anh và tiếng Pháp, và đến nhà sách, gặp cuốn nào thấy thích là mua.

“Một cuộc sống dễ dàng thoải mái. Nhưng tôi không sao rũ bỏ được hồi ức về chuyến thăm của nhà văn lớn, mà không chỉ vậy, tôi chợt nhận ra mình chỉ nhớ có mỗi bài diễn thuyết thứ ba, và ký ức tôi cứ xoay quanh khuôn mặt ông, như thể khuôn mặt ông đã cố nói với tôi điều gì đó song rốt cuộc không nói. Nhưng điều gì? Một hôm, vì những lý do không liên quan, tôi đi cùng một anh bạn làm bác sĩ đến nhà xác của bệnh viện. Chắc anh chưa đến đó bao giờ. Nhà xác nằm ở tầng hầm, là một phòng dài tường lát gạch men trắng, trần bằng gỗ. Chính giữa có một bục cao lên ở đó người ta làm giải phẫu pháp y, mổ xác và những trò khoa học quái gở khác. Phía sau có hai phòng làm việc nhỏ, phòng của trưởng khoa pháp y và phòng của ông giáo sư khác. Ở hai đầu phòng là các phòng lạnh trữ xác, xác những kẻ bần cùng khố rách áo ôm hoặc của những người không giấy tờ tùy thân đang trọ trong mấy khách sạn rẻ tiền thì bị Thần Chết đến mang đi.

“Dạo đó tôi thể hiện một mối quan tâm rõ là bệnh hoạn đối với những chỗ như thế và anh bạn làm bác sĩ của tôi xăng xái tự mình đảm trách nhiệm vụ thuyết minh chi tiết cho tôi, thậm chí chúng tôi còn đến dự cuộc mổ pháp y cuối cùng trong ngày. Rồi thì bạn tôi vào phòng trưởng khoa thế là tôi còn lại một mình ngoài hành lang đợi anh ta, trong khi sinh viên thì cũng đi khỏi và một thứ lờ đờ mụ mị của giờ khắc chạng vạng bò qua khe cửa chui vào giống như hơi độc. Sau khi đợi mười phút tôi nghe một âm thanh từ phía một trong mấy phòng lạnh làm tôi giật thót. Tôi cam đoan với anh rằng hồi đó chừng ấy thôi là đủ làm bở vía bất cứ ai, tuy nhiên tôi chưa bao giờ là một tên quá ư chết nhát thế nên tôi bèn tiến về phía đó.

“Khi tôi mở cửa một luồng khí lạnh ập vào mặt tôi. Cuối phòng, cạnh một chiếc cáng, một người đang cố mở một ngăn lạnh để cất vào đó một cái xác, nhưng dù ông ta đã cố hết sức bình sinh, cửa cái ngăn hay cái hộc ấy vẫn không nhúc nhích. Vẫn không rời ngưỡng cửa, tôi hỏi ông ta có cần tôi giúp không. Người kia thẳng mình lên, ông ta rất cao, nhìn tôi với vẻ mà tôi thấy là đầy tuyệt vọng. Có lẽ chính vì cảm nhận được nỗi tuyệt vọng trong mắt ông ta mà tôi mới đủ gan tiến đến chỗ ông ta. Vừa tiến đến ông ta, hai bên là hai dãy xác chết, tôi vừa châm một điếu thuốc để trấn tĩnh và khi đã lại gần ông ta việc đầu tiên tôi làm là mời ông ta một điếu thuốc khác, có lẽ để gượng khơi ra một tình bằng hữu vốn không có thật.

“Chỉ khi đó nhân viên nhà xác mới nhìn tôi và như thể tôi đã đi ngược thời gian. Mắt ông ta giống hệt mắt của nhà văn lớn từng diễn thuyết ở Cologne và tôi đã đến nghe không sót buổi nào như một con chiên ngoan đạo. Tôi thú nhận rằng lúc đó, trong vài giây, thậm chí tôi ngỡ đâu mình đã phát điên. Chính giọng nói của nhân viên nhà xác, chả giống tí nào với giọng nồng ấm của nhà văn vĩ đại, chính nó đã cứu tôi khỏi cơn hoảng loạn. Ông ta nói: Ở đây cấm hút thuốc.

“Tôi không biết trả lời sao. Ông ta nói thêm: khói thuốc có hại cho người chết. Tôi cười rộ. Ông ta cho thêm một lời giải thích: khói thuốc ảnh hưởng đến quá trình bảo quản. Tôi phác một cử chỉ bất hợp tác. Ông ta cố một lần cuối: ông ta nói về những bộ lọc, ông ta nói về các mức ẩm, ông ta phát ra từ ‘thuần khiết’. Tôi lại mời ông ta điếu thuốc và ông ta tuyên bố với vẻ đầy cam chịu rằng ông ta không hút thuốc. Tôi hỏi ông ta làm việc ở đây đã lâu chưa. Bằng giọng vô cảm và có phần the thé ông ta bảo ông ta làm việc ở trường đại học từ lâu rồi, trước cả cuộc chiến năm 1914.

” ‘Lúc nào cũng ở nhà xác?’ tôi hỏi.

” ‘Tôi không biết chỗ nào khác,’ ông ta đáp.

” ‘Lạ nhỉ,’ tôi nói, ‘nhưng mặt ông, mà nhất là mắt ông, khiến tôi nhớ lại mắt một nhà văn Đức lớn.’ Đến đây tôi nhắc tên nhà văn kia.

” ‘Tôi chưa bao giờ nghe nói đến ông ta,’ ông kia đáp.

“Giá như ngày trước thì câu trả lời này hẳn đã làm tôi nổi xung, nhưng nhờ ơn Chúa tôi đang sống một cuộc đời mới. Tôi nhận xét với ông ta rằng làm việc ở nhà xác ắt hẳn sẽ khiến ta có những suy tưởng hiền minh hay ít nhất là độc đáo về thân phận con người. Ông ta nhìn tôi tuồng như tôi đang nhạo báng ông ta hoặc tôi đang nói tiếng Pháp. Tôi cứ dấn tới. Chốn này, tôi nói, kèm một cử chỉ ôm trọn toàn bộ nhà xác, theo cách nào đó là nơi lý tưởng để chiêm nghiệm về sự ngắn ngủi của cuộc đời, về cái thứ khôn dò là thân phận con người, về sự phù phiếm của mọi lo toan trần thế.

“Với một cái rùng mình kinh sợ, tôi đột ngột nhận ra mình đang nói chuyện với ông ta như thể ông ta là nhà văn Đức vĩ đại kia và đây là cuộc chuyện trò mà tôi với ông đã chưa bao giờ có trong thực tế. Tôi không có nhiều thì giờ, ông kia nói. Tôi lại nhìn vào mắt ông ta. Không thể nghi ngờ gì nữa: là đôi mắt của thần tượng của tôi. Và câu đáp của ông ta: Tôi không có nhiều thì giờ. Biết bao cánh cửa được câu đáp ấy mở ra! Biết bao con đường đột nhiên trở nên quang đãng, bày ra lồ lộ cho tôi, nhờ câu đáp ấy!

“Tôi không có nhiều thì giờ, tôi còn bận lôi xác chết. Tôi không có nhiều thì giờ, tôi còn bận thở, bận ăn, bận uống, bận ngủ. Tôi không có nhiều thì giờ, tôi còn bận giữ cho các bánh răng trong cỗ máy chạy đều. Tôi không có nhiều thì giờ, tôi còn bận sống. Tôi không có nhiều thì giờ, tôi còn bận chết. Chắc anh cũng thấy, tôi chẳng còn câu hỏi nào nữa. Tôi giúp ông ta mở cái ngăn ra. Tôi toan giúp ông ta nhét cái xác vào nhưng tôi hậu đậu vụng về đến nỗi làm cái chăn đắp xác tuột ra khiến tôi nhìn thấy mặt của xác chết thế là tôi nhắm mắt lại cúi đầu và để yên cho ông ấy làm.

“Khi bạn tôi đi ra, anh ta đứng nơi cửa im lặng nhìn tôi. Mọi chuyện ổn chớ? anh ta hỏi. Tôi không thể trả lời, hoặc không biết trả lời sao. Chắc tôi đã nói: Mọi chuyện không ổn. Nhưng đó không phải điều tôi muốn nói.”

♣ ♣ ♣

Trước khi Archimboldi ra về, sau khi uống với nhau một tách trà, người đàn ông cho anh thuê chiếc máy chữ nói:

“Giêsu là kiệt tác. Mấy tên cướp là tác phẩm tầm tầm. Chúng có đó làm gì? Không phải để làm khung cho thập giá, như một số người ngây thơ nhẹ dạ vẫn tin, mà để che khuất nó đi.”

♣ ♣ ♣

Giữa một trong bao chuyến ngược xuôi của Archimboldi khắp thành phố tìm ai đó có thể cho anh thuê máy chữ, anh gặp lại hai gã cầu bơ cầu bất mà anh đã cùng chung sống trong căn hầm trước khi chuyển đến căn gác xép.

Có vẻ chẳng có gì thay đổi mấy nơi hai người bạn cũ cùng chung hoạn nạn. Tay cựu nhà báo đã cố tìm việc ở tờ nhật báo mới của Cologne, nhưng người ta không chịu nhận ông bởi ông từng là Quốc xã. Tính tình vui vẻ dễ mến của ông cứ biến mất dần bởi đận khó khăn nghịch cảnh của ông cứ kéo dài không dứt và ông bắt đầu phải chịu những chứng đau nhức nọ kia của tuổi già. Tay cựu lính tăng thì ngược lại, nay làm việc tại một xưởng sửa xe máy và đã gia nhập đảng Cộng sản.

Khi hai người còn ở cùng nhau trong căn hầm, họ không thôi cãi nhau. Anh lính tăng kết tội ông nhà báo là hèn nhát và có tinh thần quân phiệt Quốc xã. Ông cựu nhà báo liền quỳ xuống thề thốt to đến lủng phổi rằng đúng, ông là tên hèn nhát, nhưng còn Quốc xã thì không đời nào, Quốc xã đích thực thì không đời nào. Chúng tôi viết những gì người ta bảo. Nếu không muốn bị sa thải, chúng tôi phải viết những gì người ta bảo, ông rên rỉ trước sự dửng dung của anh cựu lính tăng, anh này bổ sung thêm vào những lời kết tội của mình cái sự thật hiển nhiên rằng trong khi anh và những người như anh chiến đấu trong những chiếc tăng bị bắn cháy thì ông nhà báo và những kẻ như ông ta cam tâm viết ra những tuyên truyền dối trá, không đếm xỉa gì đến tình cảm của các lính tăng của các bà mẹ sinh ra các lính tăng và kể cả của hôn thê của các lính tăng.

“Vì chuyện đó tôi sẽ không bao giờ tha thứ cho ông đâu, Otto,” anh ta bảo ông.

“Nhưng có phải lỗi của tôi đâu,” ông nhà báo rên rỉ.

“Giả nhân giả nghĩa,” anh lính tăng nói.

“Chúng tôi đã cố làm thơ,” ông nhà báo nói, “chúng tôi cố đà đận cho qua ngày đoạn tháng và cố sống tiếp để xem chuyện gì sẽ đến.”

“Giờ thì ông đã thấy chuyện gì đến rồi đó, đồ heo bẩn thỉu,” anh lính tăng đáp.

Đôi khi, ông nhà báo nói về chuyện tự sát.

“Tôi chẳng thấy lối thoát nào khác,” ông nói khi Archimboldi đến thăm họ. “Với tư cách nhà báo, tôi xong rồi. với tư cách công nhân nhà máy, tôi tuyệt không có khả năng nào. Với tư cách nhân viên nhà nước, tôi mãi mãi mang vết nhơ quá khứ của tôi. Với tư cách lao động tự do, tôi chẳng biết làm gì ra hồn. Vậy thì kéo dài thống khổ để làm gì chớ?”

“Để trả món nợ của ông với xã hội, để sám hối những lời dối trá của ông,” anh lính tăng thét lớn, anh ta đang ngồi nơi bàn, làm bộ mê mải đọc báo nhưng kỳ thực đang lắng nghe ông.

“Anh chả biết mình nói gì đâu, Gustav,” nhà báo trả lời. “Tôi nói với anh cả triệu lần rồi, tội duy nhất của tôi là hèn nhát và vì nó tôi đã trả giá đắt rồi.”

“Ông sẽ còn phải trả đắt hơn nữa, Otto, đắt hơn nữa kìa.”

Trong lần viếng thăm này Archimboldi gợi ý với nhà báo rằng có lẽ vận mệnh của ông sẽ thay đổi nếu ông chuyển đến một thành phố khác, một thành phố đỡ tan hoang hơn Cologne, một thành phố nhỏ hơn nơi chẳng ai biết ông, một khả năng mà ông nhà báo chưa bao giờ nghĩ tới song từ phút ấy trở đi ông bắt đầu cân nhắc một cách nghiêm túc.

♣ ♣ ♣

Archimboldi mất hai mươi ngày mới gõ xong bản thảo. Anh làm một bản sao bằng giấy than và rồi, tại thư viện công cộng vừa mở cửa lại, anh tìm tên của hai nhà xuất bản mà anh có thể gửi bản thảo đến. Sau một hồi lâu tìm hiểu anh vỡ lẽ rằng các nhà xuất bản từng ấn hành nhiều cuốn sách mà anh ưa thích đã thôi tồn tại từ lâu, một số vì khó khăn tài chính hoặc vì chủ sở hữu thờ ơ hay thiếu quan tâm, số khác là do bị bọn Quốc xã đóng cửa hoặc các biên tập viên bị bỏ tù, số khác nữa do bị những trận bom của phe Đồng minh quét sạch.

Một trong các thủ thư, có quen biết anh và biết anh đang viết lách, hỏi xem anh cần giúp gì không, thế là Archimboldi liền nói anh đang tìm những nhà xuất bản văn chương nào còn đang hoạt động. Cô thủ thư nói việc đó cô có thể giúp anh. Cô lục lọi giấy tờ gì đó một chặp rồi gọi một cuộc điện thoại. Khi quay lại cô đưa cho Archimboldi một danh sách hai mươi nhà xuất bản, con số vừa đúng bằng số ngày anh phải bỏ ra để gõ bản thảo vào máy chữ, đây rõ ràng là một điềm lành. Nhưng vấn đề là anh chỉ có mỗi một bản gốc cùng một bản than, tức là anh chỉ có thể gửi cho hai nhà mà thôi. Đêm đó, đứng nơi cửa quán bar, chốc chốc anh lại rút tờ danh sách ra nghiền ngẫm. Chưa bao giờ anh thấy những cái tên các nhà xuất bản lại đẹp đến thế, đặc sắc đến thế, đầy hứa hẹn đầy hy vọng đầy ước mơ đến thế. Dẫu vậy, anh quyết định sẽ thận trọng, sẽ không để bị cơn hứng chí lôi đi. Bản đánh máy gốc, anh thân hành mang đến đưa cho một nhà xuất bản ở Cologne. Làm thế có cái lợi là nếu người ta từ chối bản thảo thì chính Archimboldi có thể đến lấy lại đem gửi ngay cho nhà khác. Bản giấy than thì anh gửi cho một nhà ở Hamburg từng xuất bản sách của cánh tả Đức cho đến năm 1933, khi chính phủ Quốc xã không chỉ đóng cửa nhà xuất bản mà còn toan tống luôn chủ biên là ông Jacob Bubis vào tù, đáng ra họ đã làm vậy rồi nếu như ông Bubis không đi trước họ một bước là chọn kế lưu vong.

Một tháng sau khi hai bản thảo được gửi đi, nhà xuất bản ở Cologne viết thư hồi âm nói rằng tuy tiểu thuyết Lüdicke của anh có những phẩm chất không thể chối cãi song đáng tiếc không phù hợp với kế hoạch xuất bản của họ, tuy nhiên anh hãy gửi cho họ cuốn tiểu thuyết tiếp theo. Anh quyết định không nói cho Ingeborg biết sự tình và ngay hôm đó anh đi lấy lại bản thảo, phải mất mấy tiếng đồng hồ vì chẳng ai biết bản thảo nằm đâu mà Archimboldi thì tỏ rõ anh tuyệt không có ý định ra về nếu không có bản thảo trong tay. Hôm sau anh thân hành đến nhà xuất bản kia tại Cologne, nhà này từ chối bản thảo sau một tháng rưỡi, cũng bằng những từ ít nhiều giống như nhà xuất bản đầu tiên, có chăng là thêm vào một ít tính từ, có chăng là chúc anh lần sau sẽ gặp may hơn.

Giờ chỉ còn lại một nhà xuất bản ở Cologne thôi, nhà này thỉnh thoảng có in một cuốn tiểu thuyết hay một tập thơ hay một cuốn sử, tuy nhiên danh mục ấn hành chủ yếu bao gồm các sách hướng dẫn chỉ bảo người ta tuốt tuột mọi thứ, từ cách trông nom thích đáng một khu vườn cho đến sơ cấp cứu hoặc dựng lại khung sườn những căn nhà bị phá hủy sao cho đúng cách. Nhà xuất bản này có tên là Người cố vấn và, trái với hai nhà trước, lần này đích thân vị chủ biên ra nhận bản thảo. Mà không phải vì thiếu nhân công, ông này chỉ cho Archimboldi thấy vậy, bởi ông ta có ít nhất năm người làm việc cho ông, mà vì ông thích nhìn thấy khuôn mặt những nhà văn mong được in ở nhà xuất bản của ông. Cuộc trò chuyện giữa hai người, theo Archimboldi nhớ lại, thật lạ. Ông chủ biên có khuôn mặt một gã găngtơ. Ông còn trẻ, chỉ hơn Archimboldi vài tuổi, mặc bộ com lê may cắt không chê vào đâu được tuy nhiên hơi chật, cứ như là ông này chỉ sau một đêm đã lén lút béo lên thêm chục ký lô.

Hồi chiến tranh ông ta phục vụ trong một đơn vị lính dù, mặc dù ông ta chưa nhảy dù bao giờ cả, ông ta vội vàng nói rõ vậy, cho dù ông rất muốn. Hồ sơ quân vụ của ông cho thấy ông đã tham gia nhiều trận đánh tại nhiều chiến trường khác nhau, đặc biệt là ở Ý và Normandie. Ông kể ông từng bị máy bay Mỹ ném bom rải thảm. Và ông tuyên bố mình biết bí quyết để sống sót trong một trận ném bom như thế. Vì Archimboldi phục vụ ở phía Đông suốt cả cuộc chiến tranh nên anh chẳng biết ném bom rải thảm nghĩa là gì và anh bảo vậy. Ông chủ biên, vốn tên là Michael Bittner song lại thích bạn bè gọi mình là Mickey, giống như tên con chuột, liền giải thích rằng ném bom rải thảm là khi một bầy máy bay của kẻ thù, nhưng là cả một bầy thật đông, kìn kìn, đông nghẹt, thả bom xuống một khu vực nào đó, một mảnh đất được chỉ định sẵn, cho đến khi cả một cọng cỏ cũng không còn.

“Tôi không biết tôi giải thích vậy đã đủ rõ chưa, Benno,” ông nói, nhìn đăm đăm vào Archimboldi.

“Ông đã giải thích rõ ràng đến tuyệt vời, Mickey ạ,” Archimboldi nói, trong khi nghĩ bụng người đàn ông này không chỉ rầy rà phiền nhiễu mà còn lố bịch, sự lố bịch chỉ có ở những kẻ tự đóng tấn tuồng cuộc đời mình và những tên ngốc khốn khổ tin chắc mình đã tham gia vào một khoảnh khắc quyết định của lịch sử, trong khi ai cũng biết, Archimboldi nghĩ vậy, rằng lịch sử, vốn chẳng qua là một ả điếm tầm thường, chẳng có khoảnh khắc quyết định nào hết mà chỉ có cơ man những thời khắc, những khoảnh ngắn toen hoẻn tranh đua nhau xem bên nào quái gở hơn.

♣ ♣ ♣

Tuy nhiên Mickey Bittner, cái gã bất hạnh đáng thương bị nhồi vào bộ com lê cắt may tuyệt khéo song quá chật này, ông ta muốn là muốn giải thích cho Archimboldi hiểu ném bom rải thảm gây tác động gì cho binh lính và ông ta nghĩ ra phương sách gì để đương đầu với nó. Tiếng ồn. Trước hết là tiếng ồn. Anh lính đang ở dưới chiến hào hoặc trong cứ điểm được xây quấy quá của anh ta thì chợt nghe thấy tiếng ồn. Tiếng ồn của máy bay. Nhưng không phải tiếng ồn của máy bay chiến đấu hay máy bay chiến đấu kiêm ném bom, kiểu tiếng ồn nhanh, nếu tôi có thể dùng từ ấy, một tiếng ồn bay là là, mà là một tiếng ồn đến từ một điểm cao hơn trên trời, một tiếng ồn gầm rú chát chúa chẳng hứa hẹn gì tốt lành, như thể có bão đang đến gần, như thể các đám mây đang va vào nhau, nhưng vấn đề ở chỗ không có mây cũng chẳng có bão. Dĩ nhiên, anh lính nhìn lên. Ban đầu anh chả thấy gì. Anh pháo thủ nhìn lên. Anh chả thấy gì. Anh xạ thủ súng máy, anh lính vận hành súng cối, anh lính trinh sát nhìn lên và chả thấy gì. Anh lái xe bọc thép hay lái tăng nhìn lên. Anh cũng chả thấy gì. Tuy nhiên, vì cẩn thận, anh ngoặt xe ra khỏi con đường. Anh đậu xe dưới một gốc cây hoặc lấy vải bạt ngụy trang che lại. Ngay khi ấy những máy bay đầu tiên xuất hiện.

Những người lính nhìn chúng. Có nhiều máy bay, song những người lính nghĩ chúng đang trên đường đi ném bom thành phố nào đó phía sau chiến tuyến. Thành phố hoặc cầu hoặc đường ray xe lửa. Nhiều máy bay, nhiều đến nỗi trời đen kịt lại, tuy nhiên mục tiêu của chúng chắc chắn là khu công nghiệp nào đó của Đức. Nhưng rồi mọi người ngạc nhiên thấy các máy bay kia thả bom và bom rơi xuống một khu vực giới hạn. Và sau đợt đầu là đợt thứ hai. Tiếng ồn trở nên điếc tai. Bom rơi tạo thành hố rồi lại hố trên mặt đất. Rừng cây bùng cháy. Tầng cây bụi thấp, lớp thực vật chính ở Normandie, bắt đầu biến mất. Các hàng giậu nát ra từng mảnh. Nhà cửa thảy đều sụp đổ. Nhiều lính bị điếc tai trong chốc lát. Vài người không chịu nổi liền vùng chạy. Ngay lúc đó, ngay trên vạt đất đã được chọn đó đợt máy bay thứ ba lại đến ném bom. Tiếng ồn lại còn ồn hơn nữa, dẫu điều này tuồng như không thể. Cứ gọi nó là tiếng ồn đi. Có thể gọi nó là tiếng gầm, tiếng rống, tiếng rú chát chúa, tiếng nện đinh tai nhức óc, ống bễ của chư vị thần linh, song tiếng ồn là một từ đơn giản đủ để mô tả một thứ không tên. Xạ thủ súng máy chết. Một trái bom khác rơi ngay trên xác anh. Xương và vụn thịt của anh vương vãi trên những chỗ mà ba chục giây sau sẽ bị những trái bom khác nghiền thành bụi. Anh xạ thủ súng cối bốc hơi. Anh lái xe bọc thép khởi động xe đi tìm chỗ núp tốt hơn, nhưng dọc đường anh bị trúng một quả bom rồi lại thêm hai quả nữa biến cả xe lẫn người thành một thứ độc nhất chẳng ra hình thù gì nằm ngay đường cái giữa những đống đổ nát và dung nham. Rồi đến đợt thứ tư và đợt thứ năm. Mọi thứ phừng phừng cháy. Chẳng còn giống Normandie mà giống mặt trăng. Khi đám máy bay đã thôi không giã khoảnh đất được chỉ định nữa, chẳng còn nghe tiếng một con chim. Sự thực là, kể cả ở những khu lân cận cả bên phải lẫn bên trái khu vực bị tàn phá, những nơi chẳng hề có trái bom nào rơi, cũng chẳng hề nghe thấy tiếng chim nào.

Thế rồi quân địch xuất hiện. Cả với họ nữa, dấn thân vào cái lãnh địa màu xám thép, bốc khói và lỗ chỗ hố bom kia, là một chuyện chẳng phải không có phần kinh rợn. Thi thoảng từ mặt đất bị xáo tung tàn bạo kia có một lính Đức trồi lên với cặp mắt người điên. Vài người vừa đầu hàng vừa khóc. Những người khác, lính dù, các cựu binh Wehrmacht, vài tiểu đoàn bộ binh SS nổ súng, cố khôi phục đội hình và ngăn bước tiến quân thù. Vài người trong số lính đó, những người bất khuất nhất, rõ là có uống rượu. Trong số đó hiển nhiên có anh lính dù Mickey Bittner, bởi công thức của anh hầu chống chịu mọi hình thức ném bom rải thảm là thế này: uống schnaps, uống cô nhắc, uống brandy, uống grappa, uống whiskey, uống bất cứ đồ uống mạnh nào, kể cả rượu vang nếu không có thứ nào khác, để mà thoát khỏi tiếng ồn, hoặc để lẫn lộn tiếng ồn với những cú giật thình thình và xoay mòng mòng của bộ não ta.

♣ ♣ ♣

Thế rồi Mickey Bittner muốn biết cuốn tiểu thuyết của Archimboldi là về cái gì và có phải nó là tiểu thuyết đầu tay của anh hay là anh đã từng có tác phẩm rồi. Archimboldi bảo ông ta nó là tiểu thuyết đầu tay của anh, đoạn mô tả nó bằng vài nét khái quát. Xem ra có tiềm năng, Bittner nói. Nhưng rồi lập tức nói thêm: có điều sẽ không thể in năm nay được. Đoạn ông ta nói: sẽ không có chuyện ứng trước. Đoạn ông nói rõ hơn: chúng tôi sẽ trả anh năm phần trăm giá bìa, thế là quá tốt rồi. Đoạn ông ta thừa nhận: ở Đức bây giờ người ta không đọc như ngày trước nữa, hiện thời người ta có nhiều thứ thiết thực cần phải nghĩ hơn. Đến chừng đó thì Archimboldi biết chắc thằng cha này nói chỉ để mà nói và có lẽ tất tật bọn lính dù cứt đái, lũ chó của tướng Student* đều vậy cả, nói chỉ để mà nói, chỉ để nghe giọng của mình mà tự trấn an rằng đến giờ chưa ai treo cổ mình lên.

♣ ♣ ♣

Suốt mấy ngày Archimboldi nghĩ thứ mà nước Đức thực sự cần là một cuộc nội chiến.

Anh chẳng hề tin rằng Bittner, kẻ chắc chắn chả biết mô tê gì về văn chương, sẽ xuất bản cuốn tiểu thuyết. Anh bồn chồn bất an, ăn mất ngon. Anh gần như chẳng đọc gì và số sách ít ỏi mà anh có đọc, nó làm cho anh nôn nao khó chịu đến nỗi vừa bắt đầu đọc một cuốn là anh phải gấp sách

“Anh đang ở đâu vậy?” Ingeborg hỏi khi chuyện này xảy ra.

Kể cả giọng của người đàn bà anh yêu cũng chỉ đến được anh như thể từ hết sức xa xăm. Sau hai tháng chẳng nhận được hồi âm, ừ cũng không mà hữ cũng không, Archimboldi đến nhà xuất bản nọ yêu cầu được nói chuyện với Mickey Bittner. Thư ký bảo ông Bittner hiện giờ lo chuyện xuất nhập khẩu hàng nhu yếu phẩm và rất hiếm khi có mặt ở nhà xuất bản, dĩ nhiên ông vẫn là chủ nhà xuất bản, mặc dù gần như chẳng bao giờ ghé qua. Nằn nì mãi, Archimboldi mới được người ta chỉ chỗ văn phòng mới của Bittner nằm ở ngoại ô Cologne. Tại một khu xưởng máy cũ từ thế kỷ mười chín, bên trên một nhà kho chất đầy thùng đầy sọt, là văn phòng của Bittner, tuy rằng cả ở đây cũng chả thấy mặt ông ta.

Thay vào chỗ ông ta là ba tay cựu lính dù và một cô thư ký tóc bạch kim. Mấy tay lính dù cho anh biết Mickey Bittner đang ở Antwerp để hoàn tất một hợp đồng giao chuối. Đoạn cả bọn phá lên cười và phải mất một hồi Archimboldi mới hiểu ra họ cười là cười vụ chuối chứ không phải cười anh. Kế đó mấy tay lính dù bắt đầu nói về phim, vì họ đều ghiền phim hạng nặng, cô thư ký cũng vậy, rồi họ hỏi Archimboldi anh từng ở mặt trận nào và phục vụ trong binh chủng nào, Archimboldi liền đáp ở phía Đông, luôn luôn ở phía Đông, và trong binh chủng bộ binh nhẹ, cho dù trong mấy năm cuối chiến tranh anh chả thấy một con ngựa hay con lừa nào hết. Mấy tay lính dù kia thì luôn luôn chiến đấu ở phía Tây, ở Ý, ở Pháp, một người ở Crete, và họ có cái phong thái thị thành lịch duyệt của các cựu binh Mặt trận phía Tây, cái phong thái của những tay chơi ru lét, những kẻ chơi bời trác táng thâu đêm, những người nhấp rượu vang ngon, những kẻ bước vào nhà thổ và gọi tên các cô gái điếm, một phong thái chẳng giống gì với dáng điệu của các cựu binh Mặt trận phía Đông, những kẻ trông giống hơn với những xác chết biết đi, thây ma sống dậy, những kẻ sống trong nghĩa địa, những gã lính không mắt không mồm, nhưng lại có dương vật, Archimboldi nghĩ, bởi vì dương vật, dục vọng xác thịt, rủi thay lại là thứ cuối cùng người ta đánh mất trong khi lẽ ra nó phải là thứ đầu tiên, thế nhưng không, giống người vẫn cứ làm tình, làm tình hoặc tự làm tình, đằng nào thì rốt cuộc cũng như nhau, cho đến hơi thở cuối, giống như anh lính bị kẹt dưới một đống xác và ở đó, dưới các xác chết và dưới tuyết, anh ta dùng cái mai thường đào một cái hang nhỏ, và để giết thì giờ anh ta đặt tay lên cái của mình mà sục, mỗi lần một dữ dội hơn, bởi một khi cái sợ và nỗi kinh ngạc của những khoảnh khắc đầu đã biến mất thì những gì còn lại chỉ là niềm sợ chết và nỗi chán, và để diệt đi nỗi chán anh ta bắt đầu thủ dâm, ban đầu e dè, tuồng như anh ta đang tán tỉnh một cô thôn nữ hay một nàng chăn cừu bé nhỏ, rồi sau đó càng lúc càng quyết liệt, cho đến khi anh ta khiến được mình thỏa mãn hoàn toàn, và anh ta cứ ở đấy mười lăm ngày, bị vùi trong cái hố giữa xác chết và giữa tuyết, dè sẻn thức ăn và thả phanh dục vọng, những dục vọng nó chẳng làm anh yếu đi mà ngược lại dường như bồi bổ lại cho anh, tuồng như anh đã uống tinh dịch của chính mình hoặc tuồng như sau khi hóa điên anh đã tìm được một con đường bị lãng quên để về lại một sự tỉnh giác mới, cho tới khi quân Đức phản công và phát hiện ra anh, và đây mới là chi tiết lý thú, Archimboldi nghĩ, bởi một trong mấy người lính đã lôi anh ta ra khỏi đống xác chết bốc mùi hôi thối và những đụn tuyết nói rằng thằng cha có mùi là lạ, nói cách khác không phải mùi cáu ghét hay cứt hay nước đái, không phải như thịt thối hay thịt có giòi, thật ra thằng cha có mùi dễ chịu, có thể là gắt nhưng dễ chịu, giống như nước hoa rẻ tiền, nước hoa Hung hay nước hoa digan, có lẽ thoang thoảng mùi sữa chua, có lẽ phảng phất mùi rễ cây, nhưng cái mùi chủ đạo thì chắc chắn không phải mùi sữa chua hay rễ cây, thứ mùi làm kinh ngạc tất cả những ai có mặt ở đó, những kẻ đang xúc mấy cái xác ra đặng gửi về hậu phương hoặc để chôn cất theo nghi lễ Thiên Chúa giáo, một cái mùi xẻ đôi nước, giống như Moses xẻ đôi Biển Đỏ, để cho người lính này qua, cho dẫu anh ta gần như đi không nổi, nhưng qua rồi đi đâu? ai mà biết, dù gì thì cũng rời xa tiền tuyến, nhất định là về một nhà thương điên ở quê nhà.

♣ ♣ ♣

Mấy tay lính dù, vốn không phải người xấu, mời Archimboldi tham gia một công việc mà họ phải đảm trách ngay đêm đó. Archimboldi hỏi việc ấy khi nào xong, bởi anh không muốn mất chỗ làm ở quán bar, thì bọn họ liền cam đoan muộn nhất là mười một giờ mọi thứ sẽ xong. Họ thỏa thuận tám giờ tối sẽ gặp nhau ở một quán bar gần nhà ga và khi anh ra về thì cô thư ký nháy mắt với anh.

Quán bar tên là Họa Mi Vàng và điều đầu tiên khiến Archimboldi chú ý khi ba tay lính dù vào quán là họ thảy đều mặc áo khoác da màu đen rất giống áo của anh. Việc của họ là dỡ một phần của một toa hàng toàn bếp quân dụng của Mỹ. Gần toa hàng, trên một đường nhánh tách biệt họ gặp một người Mỹ, người này trước tiên đòi họ một số tiền, đếm kỹ cho tới tờ bạc cuối, rồi thì nhắc nhở họ, giống như người ta nhắc lại một mệnh lệnh quen thuộc cho một lũ trẻ con chậm hiểu, rằng họ chỉ được phép dỡ các thùng ở trên toa hàng đó, và chỉ dỡ các thùng có mã hiệu PK mà thôi.

Ông ta nói tiếng Anh và một trong mấy tay lính dù đáp bằng tiếng Anh bảo ông ta đừng có lo. Kế đó ông người Mỹ biến mất vào bóng tối và một người khác trong nhóm lính dù xuất hiện với một chiếc xe tải nhỏ, đèn tắt, và sau khi phá niêm phong lô hàng họ bắt tay vào việc. Một giờ sau họ xong xuôi và hai lính dù chui vào ca bin xe tải còn Archimboldi và lính dù còn lại leo lên thùng xe phía sau, trong khoảng trống nhỏ xíu còn lại giữa các thùng hàng. Họ lái xe dọc những con phố khuất, vài phố chẳng có đèn đường, về lại văn phòng của Mickey Bittner ở ven thành phố. Tại đó cô thư ký đang chờ họ với một phích cà phê nóng và một chai whiskey. Khi đã dỡ xong mọi thứ, họ đi lên văn phòng và bắt đầu trò chuyện về tướng Udet. Trong khi mấy tay lính dù pha whiskey vào cà phê, họ trôi vào hồi tưởng về những sự kiện lịch sử, mà trong trường hợp này cũng là những hồi ức đàn ông cứ bị ngắt quãng luôn luôn vì những tràng cười vỡ mộng, như muốn nói tôi là tôi thấy hết cả rồi, các người không lỡm được tôi đâu, tôi biết rõ bản tính con người, sự xung đột vĩnh viễn giữa những ý chí, hồi ức của tôi được viết bằng những chữ cái rực lửa và chúng là đồng vốn duy nhất của tôi, thế rồi họ bắt đầu khơi lại hình ảnh Udet, tướng Udet, tay phi công ưu tú đã tự sát vì lời vu khống do Goering phát tán.

Archimboldi không chắc Udet là ai, mà cũng không hỏi. Cái tên nghe quen, kiểu như những cái tên khác nghe quen, nhưng chỉ có thế. Hai trong mấy tay lính dù đã từng thoáng thấy Udet và nói về ông ta bằng những lời tuyệt đẹp.

“Một trong những người cừ nhất của Luftwaffe.”

Tay lính dù thứ ba nghe họ mà lắc đầu, chẳng tin mấy vào những gì hai chiến hữu của mình khẳng định, song anh ta hoàn toàn không sẵn bụng dạ mà cãi, còn Archimboldi thì nghe mà lòng kinh sợ, bởi nếu có điều gì mà anh tin chắc thì đó là trong Thế chiến thứ hai người ta có quá đủ lý do để tự sát, nhưng rõ ràng là với một thằng cha vớ vẩn ba láp như Goering thì không.

“Vậy cái ông Udet này tự sát vì những mưu mô phòng khách của Goering?” anh hỏi. “Vậy là ông ấy tự sát không phải vì những trại diệt chủng hay những giết chóc nơi mặt trận hay những thành phố chìm trong lửa, mà vì Goering gọi ông ấy là một tên kém cỏi?”

Ba tay lính dù nhìn anh như thể mới thấy anh lần đầu, mặc dù không có vẻ quá ngạc nhiên.

“Có lẽ Goering có lý,” Archimboldi vừa nói vừa rót cho mình thêm tí whiskey và úp bàn tay lên tách khi cô thư ký toan rót thêm cà phê vào đấy. “Có lẽ Udet tận trong sâu xa là người kém cỏi,” anh nói. “Có lẽ thật ra cái tay Udet này là một nùi dây thần kinh cùn nhụt xác xơ,” anh nói. “Có lẽ ông ta là một tên gà chết, giống như hầu hết đám người Đức đã để cho Hitler phịch mình qua lỗ đít,” anh nói.

“Mày người Áo hả?” một trong mấy tay lính dù hỏi.

“Không, tôi cũng là người Đức,” Archimboldi nói.

Suốt một hồi ba tay lính dù im lặng, tuồng như đang tính xem nên giết anh hay nên dần cho anh một trận nhừ tử. Tuy nhiên Archimboldi bình thản tự tin quá, chốc chốc anh lại ném về phía họ những cái nhìn phẫn nộ ẩn tàng nhiều thứ ngoại trừ sợ hãi, khiến họ quyết định thôi không phản ứng bằng sức mạnh.

“Trả tiền cho nó,” một trong ba người nói với cô thư ký.

Cô này liền đứng dậy mở một cái tủ bằng kim loại, nơi phần dưới tủ là một cái két con. Chỗ tiền cô đưa cho Archimboldi bằng nửa lương tháng của anh ở quán bar trên đường Spengler. Archimboldi cất tiền vào túi trong áo khoác trước cái nhìn thấp thỏm của mấy tay lính dù (họ tin chắc rằng anh giấu ở đó một khẩu súng lục hay ít nhất một con dao) đoạn nhìn quanh tìm chai whiskey song không thấy. Anh hỏi nó đâu rồi. Tôi cất đi rồi, cô thư ký nói, cậu uống nhiều rồi nhóc ạ. Archimboldi thích từ nhóc tuy nhiên anh vẫn đòi thêm rượu.

“Uống thêm lượt cuối rồi biến đi vì tụi này còn việc phải làm,” một trong mấy tay lính dù nói.

Archimboldi gật đầu. Cô thư ký rót thêm cho anh whiskey cỡ bằng hai ngón tay. Archimboldi uống chậm, nhẩn nha thưởng thức món đồ uống mà anh đồ rằng cũng là hàng nhập lậu. Đoạn anh đứng dậy và hai trong ba tay lính dù hộ tống anh ra cửa. Ngoài ra trời tối và mặc dù anh biết rất rõ mình cần phải đi đâu song anh vẫn thụt chân vào những hố những ổ gà chi chít trên đường phố trong khu đó.

♣ ♣ ♣

Hai ngày sau Archimboldi lại đến chỗ nhà xuất bản của Mickey Bittner và cũng cô thư ký lần trước nhận ra anh, cô bảo anh người ta tìm ra bản thảo của anh rồi. Ông Bittner đang ở trong phòng làm việc. Cô thư ký hỏi Archimboldi có muốn gặp ông ấy không.

“Ông ấy có muốn gặp tôi không?” Archimboldi hỏi.

“Chắc là có,” cô thư ký nói.

Archimboldi chợt thoáng nghĩ trong vài giây rằng biết đâu Bittner giờ lại muốn xuất bản cuốn tiểu thuyết của anh. Có thể ông ta muốn gặp anh để mời anh làm một chỗ làm khác bên ngạch kinh doanh xuất nhập khẩu của ông ta. Tuy nhiên, anh nghĩ nếu gặp ông ta thì chắc anh sẽ đấm gãy mũi ông ta, nên anh đáp là không.

“Vậy chúc anh may mắn,” cô thư ký nói.

“Cảm ơn,” Archimboldi nói.

Bản thảo lấy về được anh chuyển cho một nhà xuất bản ở Munich. Sau khi gửi bưu điện xong, vừa về đến nhà anh đột nhiên nhận ra rằng suốt thời gian vừa qua anh gần như chẳng viết gì. Anh trao đổi chuyện này với Ingeborg trong khi họ làm tình.

“Phí thời gian quá,” cô nói.

“Không hiểu làm sao chuyện này lại xảy ra được,” anh nói.

Đêm đó, trong khi làm việc nơi cửa quán bar, anh tự tiêu khiển bằng cách nghĩ đến một thời gian có hai vận tốc, một cực chậm, trong vận tốc đó chuyển động của con người và sự vật gần như không thể nhận thấy, một thì cực nhanh, trong đó tất cả mọi thứ, kể cả các vật trơ ì cũng đều ngời lóe lên tốc độ. Thời gian thứ nhất gọi là Thiên đường, thời gian thứ hai là Địa ngục, và điều duy nhất Archimboldi muốn là không phải sống ở thời gian nào trong hai cái đó.

♣ ♣ ♣

Một sáng nọ anh nhận được một lá thư từ Hamburg. Thư ký tên ông Bubis, nhà biên tập vĩ đại, và trong thư ông nói những lời to tát, hay ít nhất là những điều to tát mà ta có thể đọc ra giữa các dòng thư, về cuốn Lüdicke, một tác phẩm mà ông ta muốn xuất bản, dĩ nhiên là nếu như ông Benno von Archimboldi chưa có nhà xuất bản nào khác, nếu vậy thì ông ta rất tiếc, bởi vì cuốn tiểu thuyết chẳng phải là không có cái hay và theo nghĩa nào đó là độc đáo, nói gọn là một cuốn sách mà ông, Bubis, đã đọc với rất nhiều hứng thú và cảm thấy có thể đặt cược vào nó, cho dù thực trạng ngành xuất bản tại Đức ngày nay khiến ông chỉ có thể đề xuất với anh một khoản tiền tạm ứng thế này thế này, một con số thật lố bịch, ông biết, một con số mà mười lăm năm trước ông chẳng bao giờ dám đề xuất, song bù lại ông bảo đảm rằng cuốn sách sẽ được xuất bản đâu ra đó và sẽ được bày bán ở tất cả các nhà sách tốt nhất, không chỉ ở Đức mà cả ở Áo và Thụy Sĩ, những nơi mà cái tên Bubis vẫn còn được tất thảy các chủ nhà sách có tinh thần dân chủ nhớ tới và quý trọng, như một biểu trưng cho xuất bản độc lập và chất lượng cao.

Sau đó ông Bubis kết thư bằng những lời thân ái, nài nỉ anh hôm nào đó có dịp ghé ngang Hamburg thì nhất định phải đến thăm ông, và cùng với lá thư ông gửi kèm một bản tin thư của nhà xuất bản, in trên giấy rẻ tiền song bằng kiểu chữ đẹp, thông báo rằng sắp tới sẽ cho ra thị trường hai cuốn sách “tuyệt vời”, một cuốn là các tác phẩm đầu tay của Döblin còn cuốn kia là tập tiểu luận của Heinrich Mann.

♣ ♣ ♣

Khi Archimboldi đưa lá thư cho Ingeborg xem, cô ngạc nhiên vì cô không biết Benno von Archimboldi là ai.

“Là anh, dĩ nhiên,” Archimboldi nói.

“Tại sao anh lại đổi tên?” cô muốn biết.

Sau khi suy nghĩ một thoáng Archimboldi đáp là để cho an toàn.

“Có thể người Mỹ đang truy lùng anh,” anh nói. “Có khả năng cảnh sát Mỹ và cảnh sát Đức đã chắp được các đầu mối lại với nhau.”

“Đầu mối về một tội phạm chiến tranh?” Ingeborg hỏi.

“Công lý vốn mù lòa,” Archimboldi đáp.

“Mù lòa khi có lợi cho mụ ấy,” Ingeborg nói, “nhưng nếu mớ áo xống bẩn thỉu của Sammer bị phơi ra trước bàn dân thiên hạ thì có lợi cho ai? Chẳng cho ai cả!”

“Ai mà biết được,” Archimboldi nói. “Dù thế nào đi nữa, người ta mà quên Reiter đi là tốt nhất cho anh.”

Ingeborg nhìn anh ngạc nhiên.

“Anh nói dối,” cô nói.

“Không, anh không nói dối,” Archimboldi nói, và Ingeborg tin anh, nhưng sau đó, trước khi anh đi làm, cô nói với anh với một nụ cười rạng rỡ:

“Anh tin chắc mình sẽ nổi tiếng!”

Cho tới lúc đó Archimboldi chưa bao giờ nghĩ đến danh tiếng. Hitler nổi tiếng. Goering nổi tiếng. Những người mà anh yêu hoặc bùi ngùi nhớ đến thì không nổi tiếng, họ chỉ thỏa mãn một số nhu cầu nhất định. Döblin là niềm an ủi của anh. Ansky là sức mạnh của anh. Ingeborg là niềm vui của anh. Hugo Halder nay đà biệt tích là sự nhẹ nhõm vô lo của cuộc đời anh. Cô em gái, mà anh chẳng bao giờ nghe tin gì nữa, là sự ngây thơ hồn nhiên của chính anh. Dĩ nhiên, họ còn là những thứ khác nữa. Kể cả có những lúc họ là mọi thứ cùng một lúc song danh tiếng thì không, danh tiếng là cái thứ nếu không cắm rễ trong tham vọng thì cắm rễ trong lầm lạc và dối trá. Thêm nữa, danh tiếng làm cho mọi thứ nhỏ đi. Tất cả những gì chấm dứt nơi danh tiếng và tất cả những gì từ danh tiếng mà ra đều không tránh khỏi bị nhỏ đi. Thông điệp của danh tiếng là trần trụi. Danh tiếng và văn chương là hai kẻ thù không đội trời chung.

Suốt ngày hôm đó anh nghĩ mãi về chuyện tại sao mình lại đổi tên. Ở quán bar ai cũng biết anh là Hans Reiter. Những người quen của anh ở Cologne biết anh là Hans Reiter. Nếu cảnh sát rốt cuộc quyết định truy nã anh vì vụ sát hại Sammer thì họ chẳng thiếu gì manh mối. Vậy lấy một bút danh để làm gì? Có lẽ Ingeborg có lý, Archimboldi nghĩ, có lẽ trong thâm tâm mình tin chắc mình sẽ nổi tiếng và với việc đổi tên này mình đang làm những thu xếp đầu tiên cho an toàn của mình trong tương lai. Nhưng cũng có thể điều này có ý nghĩa hoàn toàn khác. Có thể, có thể, có thể…

♣ ♣ ♣

Nhận được thư của Bubis hôm trước, hôm sau Archimboldi biên thư phúc đáp cam đoan với ông ta rằng tiểu thuyết của anh chưa được nhà xuất bản nào hứa in và khoản tạm ứng ông Bubis đề xuất là đẹp ý anh rồi.

Chẳng bao lâu sau anh nhận được thư của Bubis mời anh đến Hamburg để hai bên gặp mặt và tiến hành ký hợp đồng. Trong cái thời như thế này, tôi không tin tưởng ở nhà bưu điện Đức cũng chẳng tin cái sự đúng ngày giờ và hoàn hảo không sai chạy của nó như người ta hay nói, ông Bubis viết vậy. Và, sau hết, bởi vừa từ Anh quốc về, ông đã tập nhiễm thói quen gặp mặt trực tiếp tất cả các tác giả của mình.

Ông giải thích rằng trước năm 33 tôi xuất bản nhiều nhà văn Đức trẻ đầy hứa hẹn, và năm 1940, trong cảnh cô đơn của một khách sạn London, tôi bắt đầu giết thời gian bằng cách tính xem bao nhiêu nhà văn được ra mắt lần đầu qua nhà xuất bản của tôi đã trở thành đảng viên Quốc xã, bao nhiêu người gia nhập SS, bao nhiêu người đã viết cho những tờ báo điên cuồng bài Do Thái, bao nhiêu người đã công thành danh toại trong bộ máy nhà nước Quốc xã. Kết quả bài tính làm tôi suýt nữa tự tử, ông Bubis viết vậy.

Thay vì tự tử tôi chỉ tự đánh mình. Đột nhiên đèn khách sạn tắt phụt. Tôi vẫn tiếp tục chửi rủa và tự đánh mình. Ai mà thấy tôi chắc đều sẽ nghĩ tôi điên rồi. Bỗng nhiên tôi thấy không thở nổi liền mở cửa sổ ra. Ở đó bày ra trước mắt tôi diễn trường ban đêm vĩ đại của chiến tranh: tôi đang nhìn London bị ném bom. Bom đang rơi ở gần sông, tuy nhiên trong đêm tối chúng có vẻ như rơi chỉ cách khách sạn vài mét. Những ánh đèn pha chéo ngang chéo dọc bầu trời. Tiếng bom càng lúc càng to. Thi thoảng có tiếng nổ nhỏ, một ánh lóe lên trên những quả bóng phòng không khiến ta tưởng chừng như một máy bay Luftwaffe vừa bị bắn trúng dù thật ra không phải. Mặc cho cảnh kinh hoàng bủa vây, tôi vẫn tiếp tục vừa tự đánh mình vừa tự chửi mình. Đồ ngu, đồ đầu đất, đồ đần độn, đồ vô tích sự, đồ xuẩn, đồ tồi, anh thấy đó, toàn những tiếng chửi trẻ con vô hại hoặc già khú đế.

Thế rồi có ai đó gõ cửa phòng tôi. Đó là một cậu hầu phòng trẻ măng người Ireland. Trong một cơn điên khùng tôi tưởng như mình đang gặp mặt James Joyce. Tức cười quá.

“Nên kéo ri đô lại thì hơn,” cậu ta nói.

“Kéo gì cơ?” tôi hỏi, đỏ như tôm luộc.

“Kéo rèm, ông già ơi, rồi thì mau xuống dưới hầm.”

Tôi hiểu là cậu ta đang lệnh cho tôi xuống hầm.

“Chờ một chút, cậu nhóc,” tôi nói, đoạn đưa cậu ta ít tiền trà nước.

“Ông thật là tử tế,” cậu ta nói trước khi đi, “giờ thì mau mau xuống hầm nào.”

“Cậu đi trước đi,” tôi đáp, “tôi sẽ theo sau.”

Khi cậu ta đi rồi, tôi lại mở cửa sổ đứng nhìn những ánh chớp lòe nơi các ụ tàu, thế rồi tôi bật khóc bởi cái mà lúc đó tôi nghĩ là một cuộc đời đã đánh mất nhưng rồi lại được cứu trong đường tơ kẽ tóc.

♣ ♣ ♣

Thế là Archimboldi xin nghỉ phép rồi lên tàu đến Hamburg.

Nhà xuất bản của ông Bubis nằm trong chính tòa nhà nó đã tọa lạc đến năm 1933. Hai tòa nhà lân cận đã bị bom san phẳng, cũng như một số tòa nhà phía mặt đường đối diện. Một vài nhân viên của nhà xuất bản nói (sau lưng ông Bubis, dĩ nhiên) rằng chính ông ta đã chỉ đạo các cuộc không kích nhắm vào thành phố. Hoặc ít nhất là vào khu này. Khi Archimboldi gặp ông Bubis thì ông này đã bảy mươi tư tuổi và có những lúc gây ấn tượng là một ông già bệnh tật, bẳn tính, bủn xỉn, chẳng tin ai, một lão con buôn chẳng mấy quan tâm hoặc chả quan tâm tí gì đến văn chương, tuy rằng thật ra tính cách ông hoàn toàn khác hẳn: ông Bubis có hoặc làm ra vẻ có sức khỏe đáng ganh tị, chẳng bao giờ bệnh, luôn luôn sẵn nụ cười, cả tin như đứa trẻ con và không hề bủn xỉn cho dù khó mà nói rằng ông trả lương hậu hĩ cho nhân viên.

Ở nhà xuất bản này, ngoài ông Bubis (là người làm tất cả mọi việc) còn có một người đọc morát, một nhân viên hành chính kế toán cũng đồng thời phụ trách quan hệ với báo chí, một thư ký, người này thường hỗ trợ nhân viên đọc morát và kế toán, và một thủ kho, người này chả mấy khi có mặt ở kho nằm dưới tầng hầm, cái tầng hầm này ông Bubis thường xuyên phải sửa chữa vì nước mưa cứ thỉnh thoảng lại lọt vào làm ngập, đôi khi còn ngập vì nước ngầm nữa, thủ kho giải thích rằng nước ngầm dâng lên rồi tích lại trong tầng hầm thành từng mảng ẩm rất to, rất có hại cho sách và cho sức khỏe mọi người làm việc ở đó

Ngoài bốn nhân viên đó, tại nhà xuất bản thường có thể gặp một bà trông khả kính, ít nhiều cùng độ tuổi với ông Bubis nếu không phải già hơn đôi chút, bà đã làm việc cho nhà này cho đến năm 1933, bà Marianne Gottlieb, nhân viên trung thành nhất của nhà xuất bản, đến độ nghe nói chính bà đã lái chiếc xe chở vợ chồng ông Bubis đến biên giới với Hà Lan, tại đó, sau khi bị cảnh sát biên phòng lục soát song chẳng tìm thấy gì, họ tiếp tục lên đường đến Amsterdam.

Làm sao mà Bubis cùng vợ lại qua lọt được chốt biên phòng? Chẳng ai biết, nhưng trong tất cả các dị bản của câu chuyện mọi công lao đều được quy cho bà Gottlieb.

Khi Bubis quay về lại Hamburg vào tháng Chín năm 1945, bà Gottlieb đang sống trong tột bậc khốn cùng thế nên Bubis, bấy giờ đã mất vợ, liền đưa bà về sống chung nhà. Dần dà bà Gottlieb hồi phục. Đầu tiên bà tỉnh táo lại. Một sáng kia bà nhìn Bubis và nhận ra ông là ông chủ cũ của mình, nhưng chẳng nói gì. Đêm đó, khi Bubis từ tòa thị chính về nhà, bởi dạo ấy ông tham gia chính sự, ông thấy bữa tối đã sẵn sàng và bà Gottlieb đang đứng bên bàn đợi ông. Đó là một đêm hạnh phúc cho ông Bubis và bà Gottlieb, dẫu rằng bữa tối kết thúc bằng câu chuyện lưu vong của ông và cái chết của bà Bubis, và với một dòng sông lệ khóc cho nấm mồ đơn côi của bà nơi nghĩa trang Do Thái ở London.

Sau đó sức khỏe bà Gottlieb khá lên chút ít, nên bà có thể chuyển sang một căn hộ nhỏ nhìn ra một công viên bị phá tả tơi nhưng đến mùa xuân vẫn xanh tươi trở lại nhờ sức mạnh của thiên nhiên, hầu như bàng quan với những sự vụ của con người, hay là không phải vậy nhỉ, ông Bubis - vốn bản tính đa nghi - nói, ông chấp nhận song không đồng cảm với lòng khao khát tự lập này của bà Gottlieb. Chẳng bao lâu sau bà nhờ ông tìm việc làm cho bà, bởi bà Gottlieb chẳng có khả năng ăn không ngồi rồi. Thế là ông Bubis nhận bà vào làm thư ký cho ông. Nhưng bà Gottlieb, dẫu những chuyện này bà chẳng bao giờ nói tới, cũng đã trải qua thời địa ngục và ác mộng, thế nên thỉnh thoảng, chẳng vì lý do gì rõ rệt, sức khỏe bà sa sút và bà ngã bệnh rất nhanh và rồi hồi phục cũng nhanh. Những lần khác thì chính tâm trí bà đâm lẫn lộn. Có những lúc lẽ ra Bubis phải gặp nhà chức trách Anh ở một nơi này nhưng bà Gottlieb lại bảo ông đến một nơi khác mãi đầu kia thành phố. Hoặc bà lên lịch cho ông gặp những tay Quốc xã đạo đức giả và chẳng biết ăn năn hối cải là gì muốn đề nghị được phục vụ cho thành phố Hamburg. Hoặc bà ngủ gật, ngồi trên ghế trong phòng làm việc, tựa đầu lên cái cọc giấy thấm mà thiu thiu ngủ.

Vậy nên ông Bubis tìm cho bà một chỗ làm mới ở kho lưu trữ Hamburg, ở đấy bà sẽ phải quản lý sách và hồ sơ giấy tờ, tức là việc mà bà quen làm hơn, ông Bubis nghĩ vậy. Thế nhưng ngay cả trong kho lưu trữ nơi mà hành vi quá quắt thường được dung dưỡng nhất, bà Gottlieb vẫn cứ duy trì cái kiểu lúc thì chỉn chu lúc thì đồng bóng thất thường. Và bà vẫn cứ tiếp tục đến thăm ông Bubis vào giờ ngủ của ông, đồ rằng biết đâu sự hiện diện của bà sẽ có ích cho ông. Cho đến khi rốt cuộc ông Bubis đâm chán chính trị chán việc điều hành thành phố mà quyết định tập trung sức lực vào công việc mà xét cho cùng chính là lý do khiến ông về lại Đức: phục hồi nhà xuất bản của ông.

Thường thì, mỗi khi người ta hỏi tại sao ông quay về, ông trích dẫn Tacitus: Ngoài những hiểm nguy của một biển cả xa lạ và hung hãn, ai lại đi bỏ châu Á, châu Phi hay Ý để đến Đức, một xứ sở mà đất đai xô xảm gồ ghề, khí hậu khắc nghiệt, sống và cày cấy chẳng vui gì, trừ kẻ lấy xứ ấy làm quê cha đất tổ? Những ai nghe ông nói đều gật đầu mỉm cười và bình phẩm với nhau: Bubis là người của chúng ta. Bubis không quên chúng ta. Bubis không oán hận chúng ta. Vài người vỗ lưng ông và chẳng hiểu gì. Những người khác mang vẻ mặt buồn rầu ân hận mà nói câu của Tacitus kia hàm chứa hàng bao nhiêu chân lý. Tacitus thật vĩ đại và Bubis của chúng ta cũng vĩ đại, tuy là ở cấp độ khác, tất nhiên rồi!

Sự thực là khi Bubis trích dẫn sử gia La Mã, ông thực tình muốn nói đúng nghĩa đen. Chuyến đi băng qua biển Manche là thứ luôn khiến ông sợ chết khiếp. Trên tàu Bubis bị say sóng, nôn mửa, gần như không bao giờ rời nổi buồng của mình, cho nên khi Tacitus nhắc đến một biển cả xa lạ và hung dữ thì đấy là ông ta muốn nói tới biển Baltic hoặc Biển Đen song Bubis lại luôn luôn nghĩ đến chuyến vượt biển Manche, đến chuyện nó tai hại đến nhường nào cho cái dạ dày nhạy cảm và cho sức khỏe nói chung của ông. Cũng vậy, khi Tacitus nói về việc rời bỏ Ý, Bubis nghĩ về nước Mỹ, đặc biệt là về New York, nơi ông đã được vài nhà xuất bản ở khu Táo Lớn mời về làm việc với mức lương chào hậu hĩ, còn khi Tacitus nhắc tới châu Phi và châu Á, Bubis liên tưởng tới nhà nước Israel mới nổi, nơi ông tin chắc mình có thể làm được rất nhiều chuyện, trong ngành xuất bản, tất nhiên, ấy là chưa kể xứ ấy là nơi nhiều bạn cũ của ông đang sinh sống, và ông rất muốn được gặp lại họ.

Tuy nhiên ông đã về lại Đức, xứ sở sống và cày cấy chẳng vui gì. Tại sao? Chắc chắn không phải vì đó là tổ quốc của ông, bởi tuy ông Bubis cảm thấy mình là người Đức song ông khinh miệt thói tự phụ dân tộc, một trong những lý do mà theo ông đã giết chết hơn năm mươi triệu con người, mà bởi Đức là nơi từng có nhà xuất bản của ông hoặc nơi ông từng có ý niệm về nhà xuất bản, một nhà xuất bản Đức, có đầu não tại Hamburg còn các mạng lưới của nó, dưới dạng đơn đặt hàng sách, trải rộng khắp các nhà sách cũ trên toàn nước Đức, một số chủ các nhà sách ấy là chỗ quen thân với ông và mỗi khi ông đi công tác ông hay ngồi uống trà hoặc cà phê với họ, ngồi trong một góc nhà sách, lúc nào cũng ỉ ôi phàn nàn thời buổi khó khăn, than thở cái sự thờ ơ của công chúng đối với sách, thở dài ngao ngán những người trung gian và các nhà buôn giấy, đau buồn cho tương lai một đất nước không đọc sách, nói gọn lại là hết mực nhẩn nha tận hưởng trong khi họ nhấm bánh bích quy hay những khoanh Kuchen nhỏ cho đến khi ông Bubis đứng dậy bắt tay người chủ hiệu sách già, hiệu Iserlohn chẳng hạn, thế rồi ông đi đến Bochum, để thăm ông chủ già của hiệu sách Bochum, ông này còn giữ những cuốn sách mang logo của Bubis như một thứ di vật quý (di vật để bán) cố nhiên, những sách xuất bản năm 1930 hoặc 1927, tức là đáng lẽ đã phải bị đốt muộn nhất là vào năm 1935 theo luật Schwarzwald, rõ ràng như thế, tuy nhiên ông chủ hiệu già đã quyết định giấu đi, thuần túy vì tình yêu, điều này Bubis hiểu (chẳng mấy ai khác hiểu, không loại trừ bản thân tác giả cuốn sách) và ông tỏ lòng biết ơn điều ấy bằng một hành vi tôn kính vượt ngoài văn chương, một hành vi có thể nói là của những thương nhân chính trực, những thương nhân sở hữu một bí mật có lẽ bắt nguồn mãi tận từ buổi bình minh của châu Âu, một hành vi vốn là một huyền thoại hay một cánh cửa mở vào một huyền thoại mà hai trụ cột trung tâm là nhà bán sách và nhà biên tập, chứ không phải nhà văn, kẻ dấn vào cuộc hành trình đầy bất trắc hoặc làm con tin cho những thứ khôn lường hồn ma bóng quế, nhà bán sách, nhà biên tập và một con đường dài quanh co khúc khuỷu vẽ ra bởi tay một họa gia thuộc trường phái Flamand.

♣ ♣ ♣

Thành ra chẳng mấy lạ lùng rằng ông Bubis chẳng mấy chốc đâm chán chính trị mà quyết định mở lại nhà xuất bản, bởi trong thâm tâm điều duy nhất ông thực sự bận tâm là cuộc phiêu lưu in sách ra đem bán.

Tuy nhiên, vào dạo đó, ngay trước khi ông Bubis quay lại tòa nhà mà công lý đã trả lại cho ông, ông gặp ở Manheim, trong khu người Mỹ tiếp quản, một phụ nữ tị nạn mới ngoài ba mươi tuổi, con nhà thế phiệt trâm anh với nhan sắc phi thường, và, dẫu không ai biết bằng cách nào, bởi ông Bubis vốn không có tiếng là tay sát gái, họ thành cặp tình nhân. Sự thay đổi tận gốc mà mối quan hệ này gây ra ở ông thật quá rõ ràng. Năng lượng của ông, vốn đã tràn trề bất kể độ tuổi ông, nay tăng gấp ba. Niềm ham sống của ông trở nên mạnh khôn xiết kể. Niềm tin của ông vào thành công của doanh nghiệp xuất bản mới (tuy rằng hễ có ai dùng mấy chữ “doanh nghiệp mới” là ông Bubis liền mau mắn đính chính ngay bởi đối với ông đó vẫn là nhà xuất bản trước kia, nay tái xuất sau một thời gian gián đoạn dài không ai muốn) đâm ra thật dễ lây.

Hôm khai trương nhà xuất bản, trước tất tật giới quan chức giới nghệ sĩ giới chính trị gia Hamburg được mời tới dự, ngoài ra còn một đoàn gồm các sĩ quan Anh quốc ham đọc sách (tuy đáng tiếc rằng hầu hết họ chỉ mê tiểu thuyết trinh thám hoặc tiểu thuyết kỵ sĩ phiên bản Gruzia hoặc sách sưu tầm tem), và giới báo chí không chỉ của Đức mà còn của Pháp, Anh, Hà Lan, Thụy Sĩ và thậm chí cả Hoa Kỳ, quý bà bạn gái của ông, theo như ông gọi đầy trìu mến, đã xuất hiện lần đầu trước công chúng, và những biểu hiện lòng tôn trọng ở mọi người bèn song hành cùng nỗi bối rối, bởi ai nấy đều chờ đợi thấy một phụ nữ tầm bốn năm chục tuổi, hẳn là thuộc típ trí thức, một số còn đinh ninh đấy là một phụ nữ Do Thái đúng theo truyền thống của gia tộc Bubis, một số khác còn, dựa theo kinh nghiệm, cho rằng đây chẳng qua lại thêm một trò chơi khăm nữa của ông Bubis, người vốn rất ưa đùa. Thế nhưng chuyện này là nghiêm túc, trong buổi tiệc người ta dần dần nhận ra như vậy. Người phụ nữ này không phải người Do Thái mà là Aryan trăm phần trăm, cũng không phải bốn mươi mà mới ngoài ba mươi tuy nhìn thì chỉ hai mươi bảy là cùng, và hai tháng sau trò chơi khăm hay trò đùa nho nhỏ của Bubis chuyển thành sự đã rồi khi ông kết hôn với cô, với mọi sự vinh danh và được giới máu mặt trong thành phố ủng hộ, tại tòa thị chính khả kính đang nửa chừng cuộc xây dựng lại, trong một hôn lễ dân sự không thể nào quên mà người chủ trì là không ai khác ngoài đích thân thị trưởng Hamburg, vị này nhân cơ hội tốt đưa Bubis lên tận mây xanh, tuyên bố ông là đứa con hoang trở về và công dân mẫu mực.

♣ ♣ ♣

Khi Archimboldi đến Hamburg, nhà xuất bản vẫn chưa đạt tới được tầm cao mà ông Bubis đã đặt làm cái đích thứ hai (đích thứ nhất là giữ được nguồn cung giấy đều đặn và duy trì mạng lưới phân phối trên toàn nước Đức, tám đích còn lại thì chỉ mình ông Bubis biết), tuy nhiên nó vẫn đang tiến lên với nhịp độ chấp nhận được và chủ nhân kiêm đức ông của nó đang vừa hài lòng vừa mệt mỏi.

Ở nước Đức bắt đầu xuất hiện những nhà văn khiến ông Bubis chú ý, tuy thật ra không nhiều, hoặc ít nhất là còn xa mới bằng các nhà văn viết tiếng Đức mà ông quan tâm hồi trước và đến giờ với họ ông vẫn tiếp tục trung thành một cách đáng khen, nhưng trong số nhà văn mới có vài người cũng không tồi, dẫu rằng trong số ấy ta không thể thoáng nhìn ra (hoặc là ông Bubis không có khả năng thoáng nhìn ra, như chính ông thừa nhận) một Döblin mới, một Musil mới, một Kafka mới (mặc dù nếu có một Kafka mới xuất hiện thì tôi sẽ run lên bần bật, ông Bubis nói rồi cười rộ tuy mắt ông buồn bã sâu xa), một Thomas Mann mới. Phần lớn danh mục xuất bản vẫn là các đầu sách ngày trước in hoài không hết của nhà này, nhưng họ cũng bắt đầu ngửi ra các nhà văn mới trong cái mỏ khơi hoài không hết của văn chương Đức, ngoài ra còn có sách dịch từ văn chương Pháp và văn chương Anh-Mỹ, vào thời kỳ ấy loại sách này, sau một thời kỳ dài vắng bóng dưới chế độ Quốc xã, nay đã có được lượng người đọc trung thành đủ để bảo đảm nhà xuất bản có lãi hoặc ít nhất là không bị lỗ.

Dù thế nào đi nữa, nhịp độ công việc nếu không phải điên cuồng thì cũng đều đều mà tiến, thành thử khi Archimboldi đến nhà xuất bản điều đầu tiên anh nghĩ là ông Bubis trông bận túi bụi thế kia thì e chẳng tiếp mình đâu. Nhưng ông Bubis, sau khi để anh chờ mười phút, đã giục anh vào phòng làm việc của ông, một phòng làm việc mà Archimboldi sẽ không bao giờ quên, bởi hàng bao nhiêu sách và bản thảo chật ních các kệ, la liệt trên sàn nhà thành hàng đống hàng chồng cao như tháp, vài chồng chống chếnh hiểm nghèo đến độ tới lượt mình đổ ụp, một sự hỗn độn phản ánh thế giới này, phong phú và kỳ tuyệt bất chấp chiến tranh và bất công, một thư viện gồm những cuốn sách kỳ vĩ mà Archimboldi tận đáy lòng khao khát đọc, ấn bản đầu tác phẩm của những tác gia lớn có chữ viết tay đề tặng cho Bubis, sách về nghệ thuật suy đồi mà những nhà xuất bản khác đang cho lưu hành lại ở Đức, sách xuất hiện tại Pháp và sách xuất bản tại Anh, những ấn bản bìa mềm in tại New York tại Boston tại San Francisco, ngoài ra còn những tạp chí Mỹ với những cái tên kỳ bí mà đối với một nhà văn trẻ nghèo túng thì thực sự là cả một kho báu, biểu hiện cùng tột của giàu sang, nó biến phòng làm việc của Bubis thành thứ gì đó giống như cái hang của Ali Baba.

Archimboldi cũng sẽ không quên câu hỏi đầu tiên mà Bubis hỏi anh sau màn giới thiệu chiếu lệ:

“Tên thật của anh là gì, vì nhất định tên cúng cơm của anh không phải như anh nói với tôi.”

“Đấy là tên tôi,” Archimboldi đáp.

Nghe đoạn Bubis nói:

“Anh nghĩ rằng những năm tôi sống ở Anh hay nói chung là thời gian đã biến tôi thành thằng ngu sao? Chả ai có tên như vậy hết. Benno von Archimboldi. Mới nghe Benno không thôi là đã thấy đáng nghi rồi.”

“Tại sao?” Archimboldi muốn biết.

“Anh không biết hả? Thật không đó?”

“Tôi thề là tôi không biết,” Archimboldi nói.

“Bởi vì Benito Mussolini chớ tại vì gì, trời ạ. Anh không có cái đầu hay sao vậy?”

Đến lúc ấy thì Archimboldi nghĩ mình bỏ tiền bỏ thời gian để đi từ Hamburg đến đây chỉ tổ phí hoài vô ích và thấy mình ngồi trên tàu đi về lại Cologne ngay tối đó. Nếu gặp may thì sáng mai là anh về tới nhà rồi.

“Người ta gọi tôi là Benno là dựa theo tên Benito Juarez,” Archimboldi nói, “tôi tưởng ông biết Benito Juarez là ai.”

Bubis mỉm cười.

“Benito Juarez,” ông lẩm bẩm, vẫn cười. “Vậy là Benito Juarez hả?” ông hỏi bằng giọng lớn hơn một chút.

Archimboldi gật đầu.

“Tôi cứ nghĩ anh sắp nói với tôi là tên của anh nhằm để tưởng nhớ Thánh Benedict.”

“Tôi chưa từng nghe tên ông thánh ấy,” Archimboldi nói.

“Tôi thì tôi biết ba ông,” Bubis nói. “Thánh Benedict xứ Aniane, là người cải cách dòng Benedict vào thế kỷ thứ chín. Thánh Benedict xứ Nursia, người đã sáng lập vào thế kỷ thứ sáu dòng tu mang tên ông mà người ta biết đến dưới cái tên ‘Cha đẻ của châu Âu’, một danh hiệu cực nguy hiểm, anh có thấy vậy không? Thánh Benedict xứ Moor, là người Moor, ý tôi là người da đen, sinh và mất tại Sicilia vào thế kỷ mười sáu và thuộc dòng Phanxicô. Anh thích ông nào hơn?”

“Benito Juarez,” Archimboldi nói.

“Còn cái họ, Archimboldi, anh không cho là tôi sẽ tin rằng cả dòng họ anh ai cũng được người ta gọi như vậy đó chớ?”

“Tôi thì họ tôi là thế,” Archimboldi nói, anh đang sắp sửa bỏ đi không thèm chào, mặc xác cái con người bé nhỏ bẳn tính này đang còn nói chửa hết câu.

“Chả ai có cái họ như vậy hết,” Bubis nói đầy vẻ chán chường. “Vậy thì trong trường hợp này chắc là để tưởng nhớ Giuseppe Arcimboldo. Nhưng còn cái “von” kia thì từ đâu chui ra vậy? Nếu là Benno thì chả phải Benno Archimboldi là đủ rồi sao? Benno muốn làm cho thiên hạ thấy rõ rằng y là người Đức chăng? Anh là người vùng nào của Đức?”

“Tôi là người Phổ,” Archimboldi vừa nói vừa đứng dậy dợm đi.

“Chờ một chút,” Bubis ngăn lại, “trước khi anh về khách sạn tôi muốn anh gặp vợ tôi.”

“Tôi không về khách sạn nào hết,” Archimboldi nói, “tôi về Cologne. Làm ơn cho tôi xin lại bản thảo.”

Bubis lại mỉm cười.

“Cái đó để sau cũng được mà,” ông nói.

Đoạn ông rung chuông và trước khi cửa mở ông hỏi lần cuối:

“Vậy là anh thực sự không muốn cho tôi biết tên thật của anh à?”

“Benno von Archimboldi,” Archimboldi nói, nhìn thẳng vào mắt ông.

Bubis dang rộng hai bàn tay ra hai bên rồi chập lại vào nhau, tuồng như vỗ tay, song chẳng có âm thanh nào, thế rồi cô thư ký thò đầu qua cửa.

“Đưa ông đây vào văn phòng của bà Bubis,” ông nói.

Archimboldi liếc nhìn cô thư ký, một cô có mái tóc vàng loăn xoăn, và khi anh nhìn lại Bubis thì đã thấy ông này lại vùi đầu vào một bản thảo. Anh theo cô thư ký. Văn phòng của bà Bubis nằm ở cuối một hành lang dài. Cô thư ký gõ cửa và rồi, không đợi ai trả lời, mở cửa ra mà nói, Anna, ông Archimboldi đã đến. Một giọng nói ra lệnh cho anh vào. Cô thư ký nắm lấy cánh tay anh đẩy vào trong. Thế rồi, sau khi tặng anh một nụ cười, cô đi. Bà Anna Bubis đang ngồi sau một bàn làm việc gần như trống trơn (nhất là nếu so với bàn viết của ông Bubis) trên đó chỉ có mỗi một chiếc gạt tàn thuốc, một gói thuốc lá của Anh, một bật lửa bằng vàng và một cuốn sách bằng tiếng Pháp. Archimboldi, dẫu cho bao năm tháng đã qua, vẫn nhận ra bà ngay tức khắc. Ấy là nữ nam tước Von Zumpe. Tuy nhiên, anh đứng im, quyết định không nói gì, ít nhất là trong lúc này. Bà nam tước đeo kính, theo anh nhớ thì hồi trước bà không đeo, và bà nhìn anh bằng ánh mắt hết sức xa xăm, tuồng như phải khó khăn lắm bà mới dứt được mình ra khỏi thứ bà đang đọc hay điều bà đang nghĩ, tuy nhiên cũng có thể ánh mắt của bà khi nào cũng vậy.

“Benno von Archimboldi?” bà hỏi.

Archimboldi gật đầu. Trong khoảng vài giây nữ nam tước không nói gì mà chỉ săm soi vẻ mặt của anh.

“Tôi mệt,” bà nói. “Anh có thích cùng với tôi đi dạo một chút, làm một tách cà phê hay không?”

“Được thôi,” Archimboldi nói.

Trong khi đi xuống những lượt thang tối tăm của tòa nhà, nữ nam tước nói bà đã nhận ra anh và tin chắc anh cũng đã nhận ra bà.

“Tôi nhận ra ngay, thưa nữ nam tước,” Archimboldi nói.

“Nhưng đã bao thời gian trôi qua rồi, và tôi đã thay đổi,” nữ nam tước Von Zumpe nói.

“Bề ngoài thì không, thưa nữ nam tước,” Archimboldi nói từ sau lưng bà.

“Tuy nhiên tên của anh thì tôi không nhớ,” nữ nam tước nói. “Anh là con trai của một trong mấy người hầu nhà chúng tôi, tôi chỉ nhớ được vậy thôi, mẹ anh làm việc trong căn nhà giữa rừng, nhưng tên anh thì tôi không nhớ.”

Archimboldi thấy cách bà nam tước gọi cơ ngơi xưa của gia đình mình ở miền quê nghe khá vui. Căn nhà giữa rừng nghe như một căn nhà của búp bê, một căn lán gỗ, một túp lều, một nơi nằm ở rìa thời gian và mãi mãi gắn chặt vào một thời thơ ấu tưởng tượng và tự nguyện, dễ chịu và tinh khôi vô nhiễm.

“Nay tên tôi là Benno von Archimboldi, thưa nữ nam tước,” Archimboldi nói.

“Được,” nữ nam tước nói, “anh đã chọn một cái tên rất tao nhã. Hơi nghịch nhĩ, nhưng nhất định là có sự tao nhã nào đấy.”

Trong khi hai người tản bộ, Archimboldi nhận thấy một vài con phố của Hamburg đang trong tình trạng tồi tệ hơn những con phố tiêu điều nhất của Cologne, cho dù ở Hamburg anh có ấn tượng người ta đang tiến hành tái thiết với nhiều nỗ lực hơn. Trong khi họ đi, bà nữ nam tước nhí nhảnh như một nữ sinh trốn học, còn Archimboldi lưng đeo túi lữ hành, họ kể cho nhau nghe về những gì cả hai đã trải qua kể từ khi gặp nhau lần cuối ở vùng Cácpát. Archimboldi kể cho bà nghe về chiến tranh, tuy không đi vào chi tiết, anh kể với bà về Crimea, về Kuban và những dòng sông lớn của Liên bang Xô viết, anh kể với bà về mùa đông và về hàng tháng trời anh không nói được, và bằng cách nào đó, bóng gió, anh nhắc tới Ansky, dẫu không trực tiếp nhắc tên anh ta.

Về phần mình, nữ nam tước, như để làm đối trọng với những chuyến du hành bắt buộc của Archimboldi, kể với anh về những chuyến đi của bà, tất cả đều được hoạch định trước và đều do ý muốn và bởi vậy đều vui vẻ, những chuyến tìm xứ lạ đến Bulgaria đến Thổ Nhĩ Kỳ đến Montenegro và những buổi chiêu đãi tại sứ quán Đức ở Ý, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, và bà thú nhận rằng đôi khi bà muốn ăn năn hối cải về những lạc thú bà đã trải trong suốt những năm đó, song, cho dẫu bà muốn chối bỏ hành vi dục lạc ấy của mình đến đâu, trên cấp độ tinh thần hay chính xác hơn phải nói là cấp độ đạo đức, thì sự thật là ký ức đó, mỗi khi bà nhớ lại, đều khiến bà run lên dễ chịu.

“Anh có hiểu không? Anh có hiểu được tôi không?” bà hỏi anh khi hai người uống cà phê ăn bánh ở một tiệm cà phê cứ như từ trong truyện cổ tích mà ra, có cửa sổ to nhìn ra một dòng sông và những triền đồi xanh mướt nhấp nhô lượn sóng.

Chừng đó Archimboldi, thay vì nói với bà rằng anh hiểu hay không hiểu, liền hỏi bà có biết chuyện gì đã xảy ra với tướng Entrescu người Rumani không. Nào tôi có biết, bà nam tước nói.

“Tôi thì biết,” Archimboldi nói, “nếu bà muốn tôi có thể kể bà nghe.”

“Tôi đoán là chuyện chẳng tốt lành gì đâu,” nữ nam tước nói, “đúng không?”

“Tôi không biết,” Archimboldi nói, “tùy theo cách nhìn mà nó có thể rất tệ hoặc không đến nỗi tệ.”

“Vậy anh đã gặp ông ấy, có gặp phải không?” nữ nam tước thầm thì, mắt nhìn ra dòng sông nơi ngay lúc đó có hai con tàu đi qua, một tàu ra biển, tàu kia vào trong nội địa.

“Có, tôi có gặp,” Archimboldi nói.

“Vậy thì thôi đừng kể,” nữ nam tước nói, “để sau cũng được.”

Một trong các tay bồi ở quán cà phê gọi cho họ chiếc taxi. Nữ nam tước cho tài xế biết tên một khách sạn. Nơi quầy tiếp tân đã có người đặt sẵn một phòng cho Benno von Archimboldi. Hai người theo nhân viên xách đồ đi lên một phòng đơn. Ngạc nhiên, Archimboldi phát hiện thấy trên bàn có một chiếc radio.

“Dỡ hành lý ra đi,” nữ nam tước nói, “rồi soạn sửa cho chỉn chu một chút, tối nay chúng ta dùng bữa với chồng tôi.”

Trong khi Archimboldi lấy trong hành lý ra một đôi tất, một cái sơ mi và một quần lót, nữ nam tước bắt đầu tìm một kênh nhạc jazz trên radio. Archimboldi vào buồng tắm, cạo râu, vã nước lên tóc rồi chải tóc. Khi đi ra anh thấy đèn trong phòng trừ đèn bàn ngủ đều đã tắt hết và nữ nam tước ra lệnh cho anh cởi quần áo rồi lên giường. Nằm trên giường, chăn kéo tận cằm và với một cảm giác mệt mỏi dễ chịu, anh quan sát nữ nam tước, mặc độc chiếc quần lót đen, đứng chuyển kênh cho đến khi gặp một kênh nhạc cổ điển.

♣ ♣ ♣

Anh lưu lại Hamburg tổng cộng ba ngày. Có hai lần anh dùng bữa với ông Bubis. Lần đầu anh nói về bản thân, còn lần thứ hai anh gặp vài người trong số bạn bè của ông Bubis và gần như không mở miệng, vì sợ nói điều gì thất thố. Trong giới thân cận của ông Bubis, ít nhất là tại Hamburg, không có nhà văn nào. Một chủ nhà băng, một nhà quý tộc suy vi, một họa sĩ mà nay chỉ viết chuyên khảo về các họa sĩ thế kỷ mười bảy và một dịch giả từ tiếng Pháp, tất thảy đều am hiểu văn hóa, tất cả đều thông tuệ, nhưng chẳng ai là nhà văn.

Dù vậy đi chăng nữa, anh hầu như không mở miệng.

Thái độ của ông Bubis đối với anh đã thay đổi đáng kể, Archimboldi cho rằng đó là nhờ sự giúp đỡ của bà nam tước, rốt cuộc anh đã nói tên thật của mình cho bà biết. Anh nói cho bà biết lúc ở trên giường, trong khi họ làm tình, và bà nam tước chẳng cần phải hỏi đến hai lần. Mặt khác, thái độ của bà khi yêu cầu anh kể chuyện gì đã xảy ra với tướng Entrescu thì kỳ lạ và theo cách nào đó làm anh hiểu rõ vài thứ. Sau khi Archimboldi kể cho bà nghe rằng ông tướng Rumani đã bị giết bởi tay chính đám lính rã ngũ của ông, họ đánh đập ông rồi đóng đinh ông lên thập giá, bà nam tước chỉ hỏi anh mỗi một điều, tuồng như bị giết trên thập giá là chuyện xảy ra hằng ngày trong Thế chiến thứ hai, ấy là cái xác trên thập giá mà anh nhìn thấy là trần truồng hay có mặc quân phục. Câu trả lời của Archimboldi là hầu như trần truồng, tuy nhiên trên thực tế vẫn còn đôi mảnh quân phục, vừa đủ để cho quân Nga đang đuổi sát nút họ khi đến đây thì sẽ biết rằng món quà lính Rumani để lại kia là một vị tướng. Nhưng ông cũng trần trụi đủ để mấy người Nga kia có thể kiểm chứng bằng chính mắt mình kích cỡ siêu phàm của dương cụ Rumani, mặc dù, Archimboldi nói, trong trường hợp này đó rõ ràng là một bản mẫu không tiêu biểu, vì anh từng thấy một số lính Rumani trần truồng và dương cụ của họ tuyệt chẳng có gì khác với dương cụ trung bình của người Đức chẳng hạn, trong khi dương cụ của tướng Entrescu, thõng thợt và bầm tím đúng như của một người bị đánh tơi bời rồi đóng đinh lên thập giá, có kích cỡ gấp đôi gấp ba dương cụ bình thường, dẫu là của người Rumani hay Đức hay, để lấy một ví dụ khác, của người Pháp chẳng hạn.

Nói đoạn Archimboldi nín lặng, và nữ nam tước liền nhận xét rằng cái chết như vậy hẳn sẽ chẳng làm mếch lòng vị tướng can trường. Rồi bà nói thêm rằng Entrescu, mặc cho những thắng lợi trên chiến trường mà người ta gán cho ông, luôn luôn thất bại thảm hại trong tư cách nhà chiến thuật và nhà chiến lược. Tuy nhiên, trong tình trường thì ngược lại, ông là người tình tuyệt nhất bà từng biết trong đời.

“Không phải vì kích cỡ cái đó của ông ấy đâu,” bà nam tước giải thích nhằm xua tan bất cứ hiểu lầm nào có thể nảy sinh nơi Archimboldi đang nằm trên giường cạnh bà, “mà vì một thứ năng lực biến hình: khi trò chuyện ông ấy khôn hơn quạ còn khi trên giường ông ấy biến thành một con cá đuối quỷ.”

Nghe vậy Archimboldi liền đáp rằng qua những gì ít ỏi anh quan sát được trong khoảng thời gian ngắn ngủi Entrescu cùng đoàn tùy tùng của ông lưu lại lâu đài vùng Cácpát, anh tin rằng thật ra con quạ là Popescu, viên thư ký của Entrescu, ý kiến này lập tức bị bà nam tước bác bỏ, với bà Popescu chỉ là con vẹt không hơn không kém, con vẹt bay đằng sau con sư tử. Chỉ có điều con sư tử không có móng vuốt hoặc nếu có thì cũng không định dùng, cũng không có nanh để xé xác ai, chỉ có một cảm thức hơi buồn cười về số phận của mình, một số phận và một ý niệm về số phận mà theo cách nào đó là đồng vọng với số phận và ý niệm về số phận của Byron, dẫu rằng Archimboldi, vốn đã tình cờ đọc Byron do một trong những tình cờ nảy sinh từ việc sử dụng thư viện công cộng, nghĩ rằng đấy là một nhà thơ không thể nào đem ra so với tướng Entrescu bỉ ổi, kể cả là như một đồng vọng cũng không, và anh nói thêm rằng ý niệm về số phận không phải là một thứ có thể tách rời khỏi số phận một cá nhân (một cá nhân thảm hại), mà hai thứ đó tự bản chất là một: số phận, thứ không thể nắm bắt được cho đến khi nó trở thành không thể tránh khỏi, là ý niệm của mỗi người về số phận của chính mình.

Nghe vậy bà nam tước mỉm cười mà rằng nghe là biết Archimboldi chưa làm tình với Entrescu bao giờ. Câu đó khiến Archimboldi liền thú nhận rằng đúng vậy, anh chưa bao giờ lên giường với Entrescu, nhưng thay vào đó anh từng chứng kiến tận mắt một trong những cuộc giường chiếu lừng danh của vị tướng quân.

“Với tôi, chắc vậy,” bà nam tước nói.

“Đúng đó, với mình,” Archimboldi nói, lần đầu tiên xưng mình mình tôi tôi với bà.

“Khi đó mình ở đâu?” bà nam tước hỏi.

“Trong một căn phòng bí mật,” Archimboldi nói.

Thế là bà nam tước bật cười ngặt nghẽo không sao dừng được và giữa những đợt ngừng lấy hơi bà nói bà chẳng thấy lạ rằng anh đã quyết định tự xưng là Benno von Archimboldi. Anh không hiểu ý của bà, nhưng vui vẻ tiếp nhận nó và cười ngặt nghẽo với bà.

♣ ♣ ♣

Thế là Archimboldi, sau ba ngày học hỏi, trở về Cologne trên chuyến tàu đêm nơi người ta ngủ ngay cả ở hành lang, và chẳng bao lâu sau anh trở lại căn phòng áp mái, kể cho Ingeborg nghe tin tức kỳ tuyệt từ Hamburg, những tin tức chỉ cần nói ra với nhau là đã khiến họ ăm ắp niềm vui đến nỗi họ cất tiếng hát rồi thì ôm nhau khiêu vũ, chẳng sợ sàn nhà sụp dưới chân. Sau đó họ làm tình và Archimboldi mô tả nhà xuất bản, ông Bubis, bà Bubis, chị biên tập viên tên Uta có khả năng sửa lỗi ngữ pháp của Lessing, người mà chị coi khinh một cách nhiệt tình đậm chất thượng lưu vương giả, nhưng Lichtenberg thì chị không khinh, chị yêu; Anita, kế toán trưởng hoặc trưởng phòng quan hệ công chúng, người quen biết gần như bất cứ nhà văn nào ở Đức tuy nhiên chỉ thích văn chương Pháp; chị thư ký tên là Martha có bằng ngữ văn và đã tặng anh vài cuốn do nhà này xuất bản mà anh tỏ ra có quan tâm; chàng thủ kho tập sự tên Rainer Maria, dẫu còn trẻ tuổi nhưng đã là một nhà thơ theo phái biểu hiện, một nhà tượng trưng và một kẻ suy đồi.

Anh cũng kể cho Ingeborg nghe về bạn bè của ông Bubis và danh sách nhà văn của ông Bubis. Và hễ Archimboldi nói dứt một câu là anh và cô lại cả cười, như thể anh đang kể một chuyện tiếu lâm tức cười không cưỡng nổi. Sau đó Archimboldi hăm hở bắt tay vào cuốn thứ hai và chưa đầy ba tháng đã viết xong.

Lüdicke hãy còn chưa ra khỏi nhà in thì ông Bubis đã nhận được bản thảo Đóa hồng bất tận, ông đọc nó trong hai đêm là xong, sau đó, bị chấn động sâu xa, ông đánh thức vợ dậy nói với bà rằng họ sẽ phải in cuốn sách mới này của Archimboldi.

“Có hay hay không?” bà nam tước hỏi, mơ màng chẳng buồn trở dậy.

“Còn hơn cả hay,” Bubis vừa đi đi lại lại trong phòng vừa nói.

Thế rồi, vẫn không ngừng đi đi lại lại, ông bắt đầu nói về châu Âu, về thần thoại Hy Lạp và về một thứ gì hao hao cuộc điều tra của cảnh sát, nhưng bà nam tước lại ngủ rồi và chẳng nghe ông nói gì nữa.

Từ đó cho đến sáng Bubis, vốn thường bị mất ngủ nên biết cách biến những cơn mất ngủ thành có lợi cho mình, cố đọc những bản thảo khác, xem sổ sách kế toán, viết thư cho các bên phát hành, nhưng thảy đều vô ích.

Trời vừa tảng sáng ông lại đánh thức vợ dậy bắt bà hứa rằng khi ông không còn là người đứng đầu nhà xuất bản nữa, đấy là uyển ngữ ông dùng để ám chỉ khi ông chết, bà sẽ không bỏ rơi Archimboldi.

“Bỏ rơi theo nghĩa nào?” bà nam tước hỏi, vẫn đang ngái ngủ.

Bubis không trả lời ngay.

“Phải bảo vệ anh ta,” ông nói.

Sau vài giây, ông nói thêm:

“Bảo vệ anh ta bằng hết khả năng của mình với tư cách nhà xuất bản.” Những lời cuối này bà nam tước Von Zumpe không nghe thấy vì bà lại ngủ rồi. Bubis ngồi nhìn khuôn mặt bà một chặp, khuôn mặt trông như từ một bức họa tiền Raphael. Đoạn ông đứng dậy khỏi giường đi vào bếp, tự làm cho mình một cái xăng uých pho mát với hành dầm, một công thức mà hồi ở Anh ông được một nhà văn lưu vong người Áo dạy cho.

“Làm một cái bánh như thế này vừa giản đơn lại vừa khỏe cả người,” ông nhà văn Áo nói với ông.

Đơn giản, chắc rồi. Và ngon, có vị là lạ. Nhưng khỏe cả người thì hoàn toàn không, ông Bubis nghĩ, phải có bao tử bằng thép thì mới chịu nổi chế độ ăn như thế. Đoạn ông ra phòng khách vén rèm ra cho ánh sáng xám của buổi sáng tuôn vào. Khỏe cả người ra, khỏe cả người ra, khỏe cả người, ông Bubis vừa nghĩ vừa lơ đãng nhấm nháp xăng uých. Muốn khỏe người ra thì phải cần thứ khác chứ không phải chỉ xăng uých pho mát với hành ngâm. Nhưng kiếm nó ở đâu, phải ở đâu thì mới tìm thấy nó và tìm thấy rồi thì làm gì với nó? Vừa lúc ấy ông nghe tiếng cửa sau mở ra và, dù nhắm mắt, ông nghe tiếng những bước chân khẽ khàng của bà phục vụ đến đây mỗi sáng. Ông có thể đứng như thế nhiều giờ liền. Một pho tượng. Thay vì vậy ông để cái xăng uých lên bàn rồi đi về phòng mình, ở đó ông bắt đầu thay quần áo để bắt đầu một ngày làm việc khác.

♣ ♣ ♣

Cuốn Lüdicke thu được hai nhận xét tích cực và một nhận xét tiêu cực và bán được ba trăm bản trong lần in đầu tiên. Đóa hồng bất tận, ấn hành năm tháng sau đó, nhận được một nhận xét tích cực và ba nhận xét tiêu cực và bán được hai trăm lẻ năm bản. Sẽ không nhà xuất bản nào khác liều in cuốn thứ ba của Archimboldi, nhưng Bubis không chỉ sẵn sàng in cuốn thứ ba mà cả cuốn thú tư, cuốn thứ năm và tất cả những gì cần in sau đó và Archimboldi có thể hoàn toàn trông cậy ở ông.

Trong thời gian này, về mặt tài chính, nguồn thu nhập của Archimboldi có cải thiện một chút, nhưng cũng chỉ một chút mà thôi. Trung tâm văn hóa Cologne trả tiền cho anh đọc tác phẩm của mình trước công chúng tại hai nhà sách khác nhau trong thành phố, mà chủ các nhà sách này, ta phải nói ngay, là chỗ thân quen với Bubis, cả hai buổi đều chẳng được người ta chú ý là bao. Buổi đầu chỉ có mười lăm người dự, tính cả Ingeborg, và cuối buổi chỉ có ba người dám mua cuốn sách. Ở buổi thứ hai, đọc một số đoạn chọn lọc từ Đóa hồng bất tận, chỉ có chín người tham dự, một lần nữa tính cả Ingeborg, và đến cuối buổi chỉ còn lại ba người, trong căn phòng mà kích thước nhỏ xíu của nó giúp nguôi bớt phần nào đó nỗi đau. Trong ba người ấy có Ingeborg, dĩ nhiên, và mấy giờ sau cô thú nhận với Archimboldi rằng có một lúc đến cả cô cũng đã nghĩ đến chuyện rời khỏi phòng.

Cộng tác với các ủy ban văn hóa vừa mới thành lập và có phần rối ren của vùng Hạ Saxonia, Trung tâm văn hóa Cologne cũng tổ chức một loạt bài giảng và buổi đọc sách khởi đầu bằng trống giong cờ mở rình rang ở Oldenburg rồi tiếp diễn ở một loạt thị trấn làng mạc, những thị trấn làng mạc càng về sau càng nhỏ và càng bị Chúa bỏ quên, rặt những nơi chưa một nhà văn nào từng chịu tới, vòng tua kết thúc ở những xóm chài xứ Frisia, nơi mà Archimboldi bất ngờ gặp được đám đông cử tọa đông đảo nhất và ở đó cũng rất ít người bỏ về trước khi kết thúc.

Sự viết của Archimboldi, cái tiến trình sáng tạo hay cái trình tự ngày ngày êm ả diễn ra tiến trình này, nó thu nạp sức mạnh và một cái gì đó mà, do không có từ nào hay hơn, ta có thể gọi là sự tự tin. Sự “tự tin” này, lẽ dĩ nhiên, không có nghĩa là chấm dứt hoài nghi, càng không có nghĩa là nhà văn tin tác phẩm của mình có giá trị nào, bởi Archimboldi vốn có quan điểm (tuy rằng từ “quan điểm” nghe to tát quá) rằng văn chương chia ra thành ba ngăn, trong đó mỗi ngăn chỉ thông giao một cách hết sức tinh tế với hai ngăn kia: ở ngăn đầu tiên là những cuốn sách mà anh đọc đi rồi đọc lại và coi là tuyệt diệu và đôi khi quái dị, như tác phẩm của Döblin, vốn vẫn là một trong các nhà văn ưa thích nhất của anh, hoặc như toàn bộ tác phẩm của Kafka. Trong ngăn thứ hai là sách của những tác giả bắt chước và các tác giả mà anh gọi là Bầy Lũ, những kẻ mà trong thực chất anh coi là kẻ thù của anh. Trong ngăn thứ ba là sách của bản thân anh và dự đồ những cuốn sách tương lai anh sẽ viết, anh coi đó như một trò chơi mà cũng như một cuộc kinh doanh, một trò chơi trong chừng mực anh nếm trải niềm lạc thú trong khi viết, niềm lạc thú tương tự như của nhà thám tử đang theo sát gót kẻ giết người, và một cuộc kinh doanh trong chừng mực việc xuất bản sách của anh phụ thêm, dù khiêm nhường, vào đồng lương bảo vệ quán bar.

Việc làm ở quán bar anh vẫn không bỏ, dĩ nhiên, một phần vì anh đã quen với nó rồi và một phần vì cơ chế của công việc ấy thích nghi một cách hoàn hảo với cơ chế của việc viết văn. Khi anh hoàn thành tiểu thuyết thứ ba, Mặt nạ da, ông già đã cho anh thuê máy chữ và anh đã tặng cho một bản Đóa hồng bất tận giờ đề nghị bán cái máy cho anh với giá phải chăng. Cái giá ấy chắc là phải chăng đối với ông cựu nhà văn, nhất là nếu xét rằng chẳng còn ai thuê cái máy ấy nữa, nhưng với Archimboldi nó vẫn quá cao, cho dẫu rất hấp dẫn. Vậy nên, sau ba ngày suy nghĩ và làm phép cộng trừ, anh viết thư cho ông Bubis xin tạm ứng, lần đầu tiên, cho một cuốn sách mà anh hãy còn chưa bắt tay viết. Lẽ tự nhiên, anh giải thích trong thư rằng tại sao anh cần khoản tiền ấy và long trọng hứa rằng không quá sáu tháng nữa sẽ giao cuốn sách mới cho ông.

Câu trả lời của Bubis hoàn toàn ngoài mong đợi của anh. Một sáng kia có hai người giao hàng của chi nhánh Olivetti tại Cologne mang tới cho anh một máy đánh chữ mới hoành tráng và anh chỉ phải làm mỗi một việc là ký vài tờ biên nhận. Hai hôm sau anh nhận được một lá thư của thư ký nhà xuất bản trong đó cô cho anh biết rằng, theo lệnh sếp, cô đã đặt mua một cái máy đánh chữ với tên người nhận là anh. Cô thư ký nói, cái máy này là quà tặng của nhà xuất bản. Suốt hai ngày Archimboldi ngây ngất vì vui. Họ tin mình, anh nhắc đi nhắc lại thành tiếng, trong khi thiên hạ đi ngang qua trước mặt anh, vừa đi vừa im lặng hoặc, giống như anh, nói một mình, một hình ảnh thường thấy ở Cologne trong mùa đông năm đó.

Mặt nạ da bán được chín mươi sáu cuốn, vậy là không nhiều, Bubis tự nhủ đầy nhẫn nhục trong khi kết toán sổ sách, nhưng sự ủng hộ của nhà xuất bản dành cho Archimboldi không bao giờ vơi giảm. Ngược lại, vào dạo đó Bubis phải đi Frankfurt, và trong khi lưu lại đó ông có ghé Mainz trong ngày để thăm nhà phê bình văn học Lothar Junge, ông này sống trong một căn nhà nhỏ ở vùng ven, gần một khu rừng và một ngọn đồi, một căn nhà nhỏ có thể nghe tiếng chim hót, một điều mà Bubis không sao tin nổi, nghe kìa, ta thậm chí còn nghe cả tiếng chim hót nữa, ông nói với nữ nam tước Von Zumpe, mắt tròn xoe, một nụ cười ngoác tận mang tai, làm như ông chẳng hề chờ đợi sẽ gặp ở chốn này của Mainz một khu rừng cùng một đàn chim hót và một căn nhà nhỏ hai tầng tường quét vôi trắng, một căn nhà có kích thước như trong truyện cổ tích, một căn nhà nhỏ xíu, một căn nhà nhỏ bằng sôcôla trắng với cột kèo giống như những thanh sôcôla đen, vây quanh là một khu vườn nhỏ với những bông hoa như cắt giấy và một bãi cỏ được xét tỉa với sự chính xác toán học, lại thêm một đường mòn con con rải sỏi kêu sào sạo dưới chân khiến những người nam người nữ thần kinh yếu đi trên đó phát bồn chồn, tất cả đều được vạch bằng thước kẻ, thước thợ mộc và compa, ông Bubis thì thào với bà nam tước như thế sau khi buông chiếc vòng gõ cửa (hình đầu heo) cho nó đập vào cánh cửa gỗ nặng dày.

Nhà phê bình văn học Lothar Junge thân hành ra mở cửa. Cố nhiên là gia chủ đang chờ khách tới vì ông Bubis và bà nam tước thấy trên bàn có bày bánh quy giòn kẹp thịt xông khói, món tiêu biểu của vùng này, cùng hai chai rượu. Nhà phê bình cao ít nhất một mét chín và ông đi lại trong nhà tuồng như sợ cộc đầu vào trần. Ông không béo, nhưng cũng không gầy, và ông mặc theo kiểu các giáo sư trường Heidelberg, vốn chẳng bao giờ cởi cà vạt ngoại trừ những lúc làm tình. Một hồi lâu, trong khi thưởng thức các món khai vị, họ trao đổi về hiện tình chung của nền văn chương Đức, một lãnh địa mà Lothar Junge tới lui một cách thận trọng giống như người tháo ngòi bom mìn chưa nổ. Sau đó một nhà văn trẻ vùng Mainz đến cùng với vợ, rồi thêm một nhà phê bình văn học khác của chính tờ tạp chí Frankfurt nơi Junge đăng các bài điểm sách của mình. Họ ăn món thỏ hầm. Cô vợ anh nhà văn thành Mainz chỉ mở miệng một lần trong suốt bữa ăn, để hỏi bà nam tước rằng bộ đầm bà đang mặc kia mua ở đâu. Ở Paris, bà nam tước trả lời, và đấy là lần cuối cùng cô vợ anh nhà văn mở miệng. Tuy nhiên, từ lúc đó trở đi khuôn mặt cô chuyển thành một diễn ngôn hay một bản ghi nhớ về những nỗi ô nhục mà thành phố Mainz phải chịu kể từ khi thành lập đến nay. Tổng gộp những cái bĩu môi và quắc mắt của cô, vốn chuyển dịch tới lui bằng tốc độ ánh sáng trên cái khoảng cách giữa căm hận tận xương tủy và thù ghét manh nha đối với ông chồng, kẻ mà trong mắt cô là đại diện cho tất cả những con người hạ tiện đang ngồi quanh bàn, nó không thoát khỏi con mắt của bất cứ ai, có chăng là trừ nhà phê bình văn học kia, tên là Willy, vốn có chuyên môn là triết học và bởi vậy viết bài điểm các sách về triết học và nuôi kỳ vọng một ngày kia cho in một cuốn sách về triết học, ba cái nghề, nếu có thể gọi đó là nghề, khiến ông ta đặc biệt vô cảm trước những gì diễn ra trên khuôn mặt (và trong tâm hồn) một kẻ ngồi ăn chung bàn.

Ăn xong, họ quay lại phòng khách để uống cà phê hoặc trà, và Bubis, vốn không hề có ý định nán lại lâu hơn trong cái nhà đồ chơi đang khiến ông muốn phát khùng này, liền chộp lấy cơ hội này để lôi ông Junge - vốn cũng thuận tình - ra chỗ vườn sau, cũng được chăm nom kỹ càng như vườn trước tuy nhiên có lợi thế là rộng hơn và từ đấy ta thậm chí thấy rõ hơn khu rừng vây quanh các bức tường nhà. Họ trò chuyện, trước tiên về những trước tác của Junge, mà ông này muốn được in ở chỗ ông Bubis đến chết đi được. Bubis nhắc tới, một cách mơ hồ, về một ý tưởng mà ông ấp ủ trong đầu mấy tháng nay, về việc tạo ra một tập tinh tuyển mới, dẫu ông cẩn thận không nói rõ mình đang nghĩ đến tập tinh tuyển loại gì. Sau đó họ lại nói về nền văn chương mới, những gì Bubis cho in và những gì các đồng nghiệp của Bubis ở Munich ở Cologne ở Frankfurt ở Berlin cho in, không quên nhắc tới các nhà xuất bản đã có vị thế vững chắc ở Zürich hay Bern và các nhà mới nổi trở lại ở Wien. Cuối cùng Bubis hỏi, làm ra vẻ chỉ tình cờ mà hỏi, rằng Junge thấy, chẳng hạn, Archimboldi thì thế nào. Lothar Junge, bấy giờ đang bước đi trong vườn cũng cẩn trọng như đi dưới mái nhà mình, ban đầu chỉ nhún vai.

“Anh đọc anh ta chưa?” Bubis hỏi.

Junge không đáp. Ông cân nhắc câu trả lời trong khi, đầu cúi, ông đắm mình ngắm nghía hay chiêm ngưỡng bãi cỏ cuối vườn, bãi này do nằm sát mép rừng nên lôi thôi hơn, vẫn lá rụng hay nhành cây gãy hay hình như cả sâu bọ.

“Nếu anh chưa đọc thì nói tôi hay, tôi sẽ bảo người ta gửi cho anh bản in tất cả sách của anh ta,” Bubis nói.

“Tôi đọc rồi,” Junge thú nhận.

“Rồi anh thấy thế nào?” người biên tập già hỏi, dừng lại bên một cây sồi mà bản thân sự hiện hữu của nó dường như thông báo bằng giọng đầy đe nẹt: nơi đây là kết thúc lãnh địa của Junge và khởi đầu nước cộng hòa của cây cối. Junge cũng dừng, nhưng ở trước Bubis vài bước, đầu hơi nghiêng, như sợ một cành cây nào đó có thể làm rối mái tóc thưa của ông.

“Tôi không biết, không biết,” ông thì thầm.

Thế rồi, một cách không hiểu nổi, ông bắt đầu làm những bộ mặt mà theo cách nào đó khiến ông trông như có dây mơ rễ má với bà vợ ông nhà văn thành Mainz, đến độ Bubis nghĩ chắc họ thực tình là anh em ruột và chỉ có vậy thì ta mới hiểu được tại sao ông nhà văn và bà vợ lại có mặt ở bàn ăn. Cũng có khả năng, Bubis nghĩ, rằng họ là tình nhân, bởi người ta biết rằng các cặp tình nhân thường đâm ra giống nhau, thường là ở nụ cười, ở những ý kiến, những quan điểm, nói gọn là mớ hành trang bên ngoài mà mọi con người đều có nghĩa vụ phải mang cho đến hết đời, như tảng đá của Sisyphus, phải, Sisyphus, vốn được coi là con người quỷ quyệt nhất trong mọi con người, con của Aeolus và Enarete, người sáng lập thành Ephyra, tên cũ của thành Corinth, một thành phố mà chàng Sisyphus tốt bụng biến thành diễn trường cho những hành vi sai quấy đầy vui vẻ của mình, bởi vì với sự khéo léo nhanh lẹ của cơ thể vốn là nét đặc trưng của chàng và với thiên hướng trí tuệ vốn xem mọi bước ngoặt của số phận như một nước cờ khó hay một chuyện trinh thám cần giải và với cái bản năng của chàng vốn ưa cười ưa đùa ưa trêu cợt ưa pha trò ưa chớt nhả ưa móc máy ưa cạnh khóe ưa chế nhạo ưa phỉnh phờ ưa đối đáp ưa giễu nhại ưa mai mỉa, chàng quyết định trở thành kẻ trộm, tức là nẫng nhẹ tư trang của bất cứ lữ khách nào đi ngang qua đó, thậm chí trộm luôn của người hàng xóm Autolycus, vốn cũng là kẻ trộm, có lẽ với niềm hy vọng xa vời rằng trộm của kẻ trộm thì sẽ được hưởng trăm năm tha thứ, và đồng thời lại bị con gái của ông hàng xóm ấy là Anticlea làm cho bị hút hồn, bởi Anticlea đẹp lắm, thật một giai nhân, nhưng nàng Anticlea đó đã có nơi có chốn đàng hoàng, nàng đã được hứa gả cho Laertes, kẻ về sau sẽ lừng danh, nhưng điều đó chẳng khiến Sisyphus chùn bước, chàng ta có thể trông cậy vào sự đồng lõa của cha cô gái, tên trộm Autolycus, lòng hâm mộ của gã này dành cho chàng đã tăng bội lên giống như niềm kính trọng của một nghệ sĩ khả kính và khách quan dành cho một nghệ sĩ khác có tài năng ưu tú hơn mình, đến nỗi thậm chí dù Autolycus, như một con người trọng danh dự, vẫn giữ nguyên lời hứa với Laertes, tuy nhiên gã cũng không mặt nặng mày nhẹ trước hàng bao nhiêu luyến ái khôn đành của Sisyphus dành cho con gái gã, cũng không coi đó là hành động bất kính hay nhạo báng ông con rể tương lai của gã, và rốt cuộc, theo người ta nói, nàng ta kết hôn với Laertes nhưng chỉ sau khi đã thuận tình với Sisyphus một hai lần, năm sáu lần, có thể mươi mười lăm lần, luôn luôn là với sự thông đồng của Autolycus, gã muốn người hàng xóm của mình cấy cho con gái gã hạt mầm sao cho gã có đứa cháu cũng thông minh như Sisyphus, và ở một trong những lần như thế Anticlea thụ thai và chín tháng sau, bấy giờ đã là vợ của Laertes, nàng sinh đứa con trai, con của Sisyphus, được gọi là Odysseus hay Ulysses, người mà quả thật cũng thông minh như cha, cho dù Sisyphus chẳng bao giờ quan tâm tới chàng ta mà vẫn tiếp tục sống cuộc sống của mình, một cuộc sống đầy quá quắt đầy hội hè đầy khoái lạc, trong đó chàng ta cưới Merope, ngôi sao lu mờ nhất trong chòm Thất tinh chính bởi vì nàng ta lấy một người trần tục, một người trần tục khốn nạn, một tên trộm cắp khốn nạn, một tên côn đồ khốn nạn làm tôi đòi cho những sự quá quắt, mù quáng vì những sự quá quắt, trong số đó, dù hẳn chưa phải sự quá quắt tồi tệ nhất, là chuyện chàng ta quyến rũ Tiro, con gái của Salmoneus anh ruột Sisyphus, chẳng phải vì chàng ta si mê Tiro, chẳng phải vì Tiro đặc biệt gợi tình, mà vì Sisyphus ghét người anh ruột của mình và muốn làm cho anh ta đau đớn, và bởi việc làm này, sau khi chàng ta chết, chàng ta bị đày xuống địa ngục và chịu hình phạt phải lăn một tảng đá lên đỉnh một ngọn đồi, lên tới đó hòn đá lại lăn xuống chân đồi, Sisyphus phải xuống lăn tảng đá lên đỉnh đồi lần nữa, lên tới nơi thì nhìn tảng đá lại lăn trở xuống chân đồi, cứ như vậy hoài hoài không bao giờ dứt, một hình phạt gớm ghê vượt ngoài mọi tội lỗi hay lầm lỡ của chàng ta, đúng hơn nên gọi là một đòn trả thù của Zeus, bởi vì người ta kể có một lần Zeus đi qua Corinth cùng với một nữ thủy thần mà ngài vừa mới bắt cóc và Sisyphus, vốn khôn như rận váy, liền tóm ngay cơ hội, thế là khi Asopus, cha của nàng thiếu nữ, đi ngang qua đó trong cơn tuyệt vọng tìm đứa con gái rượu, Sisyphus đề nghị rằng chàng sẽ cho ông ta biết tên của kẻ đã bắt cóc con gái ông, đổi lại ông này sẽ tạo ra một suối nước phun lên giữa thành phố Corinth, điều này cho thấy Sisyphus cũng không phải là một công dân xấu xa, hoặc có lẽ đơn giản chỉ là chàng ta đang khát, Asopus đồng ý thế là suối nước trong leo lẻo liền phun lên và Sisyphus phản bội Zeus, vị này nổi trận lôi đình, bèn ngay tức khắc đưa chàng đến Thanatos hay Thần Chết, tuy nhiên vị này không kham nổi Sisyphus, bởi chàng này, bằng một đòn cao thủ xứng với kỳ danh về khiếu hài hước và tài khéo léo của mình, liền túm lấy Thanatos trói vào xiềng, một kỳ tích thực sự là cực hiếm ai làm nổi, chàng xiềng Thần Chết một thời gian lâu và suốt thời gian đó không một người nào trên thế gian phải chết, một thời kỳ hoàng kim khi mà con người, tuy vẫn không thôi là người, được sống mà không phải chịu nỗi thống khổ của cái chết, tức là không có nỗi thống khổ của thời gian, bởi giờ đây họ có thừa thãi thời gian, vốn có lẽ là thứ khác biệt với nền dân chủ, thời gian nhàn rỗi, thời gian dư dật, thời gian để đọc và thời gian để nghĩ, cho tới khi Zeus phải đích thân can thiệp và Thanatos được giải thoát, đến chừng đó thì Sisyphus chết.

Nhưng mấy cái bộ mặt mà Junge đang phơi ra kia chẳng có gì liên quan tới Sisyphus hết, Bubis nghĩ, thay vì vậy chúng là do một cái tật máy giật khó chịu của mặt, ừ thì không phải khó chịu lắm, nhưng rõ là cũng chẳng dễ ưa, cái tật mà ông, Bubis, đã nhận thấy ở những trí thức Đức khác, tuồng như sau chiến tranh một số trí thức này đã chịu một cơn sang chấn thần kinh biểu lộ ra thành thế này, hoặc như thể trong thời gian chiến tranh họ đã trải qua một cơn căng thẳng không thể nào chịu nổi, cơn căng thẳng mà, một khi giao tranh đã dứt, để lại cái di chứng kỳ khôi và vô hại này.

“Anh thấy Archimboldi thế nào?” Bubis nhắc lại.

Khuôn mặt Junge chuyển sang màu đỏ hoàng hôn dâng lên sau đồi rồi sau đó ngả xanh như những lá thông trong khu rừng.

“Hừm,” ông nói, “hừm.” Đoạn mắt ông hướng về phía căn nhà nhỏ, tuồng như ông chờ đợi cảm hứng hay tài hùng biện hay một loại trợ giúp nào đó từ nơi ấy đến. “Nói thật lòng,” ông nói. Rồi thì: “Thật ra mà nói, ý kiến của tôi không…” Và cuối cùng: “Tôi có thể nói gì với anh đây?”

“Gì cũng được,” Bubis nói, “ý kiến của anh với tư cách độc giả, ý kiến của anh với tư cách nhà phê bình.”

“Được rồi,” Junge nói. “Vậy thì, tôi đã đọc anh ta, đấy là sự thật.”

Hai người mỉm cười.

“Nhưng tôi không cảm thấy…” ông nói thêm, “một tác giả… Ý tôi là, anh ta là người Đức, điều đó chẳng có gì phải cãi, văn của anh ta là văn Đức, thô ráp nhưng Đức, điều tôi muốn nói là tôi không cảm thấy anh ta là một tác gia châu Âu.”

“Có lẽ Mỹ chăng?” Bubis gợi ý, bấy giờ ông đang ấp ủ ý đồ mua bản quyền ba tiểu thuyết của Faulkner.

“Không, Mỹ cũng không phải, châu Phi thì đúng hơn,” Junge nói, đoạn ông lại làm mặt xấu dưới những cành cây. “Đúng hơn là châu Á,” nhà phê bình lẩm bẩm.

“Phần nào của châu Á?” Bubis muốn biết.

“Ai biết được,” Junge nói, “Đông Dương, Mã Lai, những khi hay nhất anh ta có vẻ như người Ba Tư.”

“A, văn chương Ba Tư,” Bubis nói, thật ra ông chẳng biết mô tê gì về văn chương Ba Tư.

“Mã Lai, Mã Lai,” Junge nói.

Sau đó họ chuyển sang nói về những tác gia khác của nhà xuất bản, những tác gia mà nhà phê bình đánh giá cao hoặc làm ông chú ý nhiều hơn, rồi họ quay về khu vườn nhìn ra bầu trời đã chuyển màu đỏ thắm. Lát sau Bubis và bà nam tước chào từ biệt với những lời thân thiết và những tiếng cười, và gia chủ không chỉ tiễn chân họ đến tận xe mà còn đứng giữa đường vẫy tay cho đến khi xe của Bubis biến mất nơi khúc quanh đầu tiên.

Đêm đó, sau khi nhận xét với vẻ ngạc nhiên vờ vĩnh về sự cọc cạch so le giữa Junge và cái nhà bé xíu của ông, ngay trước khi họ đi ngủ tại khách sạn ở Frankfurt, Bubis nói với bà nam tước rằng nhà phê bình kia không thích sách của Archimboldi.

“Điều đó có quan trọng không?” bà nam tước hỏi, bà dẫu độc lập đến mấy, vẫn theo cách của mình yêu ông chủ nhà xuất bản và rất mực coi trọng ý kiến của ông.

“Còn tùy,” Bubis mặc quần lót đứng bên cửa sổ, vừa nói vừa nhìn ra bóng tối ngoài kia qua một khe hở nhỏ xíu giữa hai cánh rèm. “Thật ra, với chúng ta thì chẳng quan trọng gì. Nhưng với Archimboldi thì rất quan trọng.”

Bà nam tước nói gì đó mà ông Bubis không nghe thấy. Ngoài ra vẫn tối om, ông nghĩ, đoạn ông vẹt những lá sách rộng hơn ra một chút, một chút thôi. Chẳng thấy gì. Chỉ có khuôn mặt ông, khuôn mặt của ông Bubis càng lúc càng sắc cạnh càng nhàu nhĩ và càng lúc càng thêm bóng tối.

♣ ♣ ♣

Chẳng bao lâu sau cuốn sách thứ tư của Archimboldi đến tay nhà xuất bản. Nó được gọi là Những dòng sông châu Âu, tuy thật ra nó nói về chỉ một dòng sông, sông Dnieper. Có thể nói sông Dnieper là nhân vật chính còn các dòng sông chỉ là phụ họa. Ông Bubis đọc cuốn sách một mạch trong phòng làm việc, và tiếng cười ha hả của ông trong khi đọc vang vọng khắp tòa nhà. Lần này khoản tiền tạm ứng ông gửi cho Archimboldi lớn hơn bất kỳ khoản tạm ứng nào trước đó, nó lớn đến nỗi cô thư ký Martha, trước khi gửi ngân phiếu đi Cologne, đem nó vào phòng làm việc của ông Bubis chìa ra mà hỏi (không phải một mà hai lần) rằng số tiền có đúng không, ông Bubis trả lời rằng đúng, con số này đúng, hoặc là không đúng, nhưng vậy thì đã sao, khi còn lại một mình ông nghĩ, một số tiền thì luôn luôn gần đúng, chả có con số nào là con số đúng, chỉ có bọn Quốc xã và mấy ông thầy dạy toán sơ cấp thì mới tin ở số đúng mà thôi, chỉ có những kẻ bè phái, lũ điên, bọn thu thuế (trời tru đất diệt chúng đi), bọn chiêm tinh đọc số phận người ta để lấy vài đồng xu lẻ thì mới tin ở những con số đúng mà thôi. Các nhà khoa học thì ngược lại, họ biết mọi con số đều chỉ gần đúng. Các nhà vật lý vĩ đại, nhà toán học vĩ đại, nhà hóa học vĩ đại và các nhà biên tập luôn biết rằng con người ta luôn mò mẫm tìm đường trong bóng tối.

♣ ♣ ♣

Vào khoảng thời gian này, trong một cuộc kiểm tra sức khỏe định kỳ, Ingeborg được chẩn đoán bị bệnh phổi. Ban đầu cô không nói gì với Archimboldi, mà chỉ uống mấy viên thuốc do một tay bác sĩ ất ơ kê đơn cho, mà cũng chỉ uống bữa đực bữa cái. Khi cô bắt đầu thổ huyết, Archimboldi lôi cô đến phòng mạch của một bác sĩ người Anh, ông này gửi ngay cô tới một vị người Đức chuyên về phổi. Ông bảo cô rằng cô bị lao, một chứng bệnh nhiều người bị ở nước Đức thời hậu chiến.

Với số tiền có được nhờ Những dòng sông châu Âu, Archimboldi, theo chỉ thị của chuyên gia, chuyển đến sống ở Kempten, một thị trấn trên dãy Alp xứ Bavaria, nơi mà khí hậu khô, lạnh hẳn sẽ giúp Ingeborg khỏi bệnh. Ingeborg xin nghỉ ốm còn Archimboldi bỏ nghề bảo vệ quán bar. Tuy nhiên, sức khỏe của Ingeborg không cải thiện nhiều lắm, dẫu rằng những ngày họ ở bên nhau tại Kempten thật hạnh phúc.

Ingeborg không sợ bệnh lao vì cô tin chắc mình sẽ không chết vì căn bệnh đó. Archimboldi mang theo máy đánh chữ và trong vòng một tháng, mỗi ngày viết tám trang, anh hoàn thành cuốn sách thứ năm, đặt tên là Bifurcaria bifurcata, cuốn này, đúng như nhan đề của nó tiết lộ, nói về rong biển. Về cuốn này, mà Archimboldi dành mỗi ngày không quá ba giờ, thỉnh thoảng bốn giờ để viết, điều làm Ingeborg ngạc nhiên hơn cả là tốc độ viết, hay nói đúng hơn là kỹ năng sử dụng máy chữ của Archimboldi, một sự thành thục của nhân viên đánh chữ lão thành, tuồng như Archimboldi là hóa thân của bà Dorothea, một bà thư ký mà Ingeborg đã gặp hồi cô còn bé tí, lần đó cô cùng cha bước vào văn phòng tại Berlin nơi cha cô làm việc, vì lý do nào cô không nhớ nữa.

Ingeborg nói với Archimboldi rằng ở các văn phòng ấy có hàng hàng bất tận các thư ký gõ máy chữ không ngừng nghỉ trong một căn phòng hẹp nhưng rất dài, với cả một đội những cậu nhóc chạy việc mặc sơ mi xanh lục quần nâu ngắn lăng xăng tới tới lui lui tiếp thêm giấy hoặc thu lại những hồ sơ đã được đánh máy sạch sẽ đặt trên những khay kim loại bên cạnh từng thư ký. Và Ingeborg nói với Archimboldi, rằng tuy mỗi thư ký gõ một văn bản khác nhau, nhưng cái âm thanh do ngần ấy máy chữ tạo ra là một âm thanh đồng nhất, tuồng như tất cả các thư ký đang gõ cùng một thứ hoặc gõ cùng tốc độ. Ngoại trừ một người.

Rồi Ingeborg giải thích rằng có bốn dãy bàn, mỗi dãy là một loạt thư ký. Và ngự ở đầu bốn dãy bàn, đối diện họ, là một cái bàn đơn độc, giống như bàn giám đốc, mặc dù người thư ký ngồi nơi bàn đó chẳng phải là giám đốc gì hết, chỉ là người thư ký lớn tuổi nhất, đã làm việc lâu năm nhất ở văn phòng hoặc cơ quan chính phủ nơi bố cô đã dẫn cô vào và có lẽ ông đang làm việc vào hồi đó.

Và khi cô cùng bố bước vào phòng, cô thì bị âm thanh thu hút còn bố cô thì muốn cho cô được thỏa trí tò mò hoặc có lẽ muốn làm cô phải ngạc nhiên, cái bàn chính, bàn chỉ huy (mặc dù đó không phải bàn chỉ huy, em phải nói ngay cho rõ, Ingeborg nói) đang trống và trong phòng chỉ có các thư ký đang gõ máy nhanh thoăn thoắt cùng với các cậu trai mặc quần soóc mang vớ cao tận gối tất bật tới lui giữa các dãy bàn, rồi lại có một bức tranh to treo từ trên trần thả xuống, nơi đầu kia phòng, sau lưng các thư ký, khắc họa Hitler đang ngắm cảnh đồng quê, một Hitler mang một vẻ gì đó vị lai, cái cằm, cái tai, lọn tóc, nhưng trên tất cả đấy là một Hitler tiền-Raphael, rồi những ngọn đèn trên trần nhà, theo lời bố cô thì các đèn này được để sáng hai tư trên hai tư, rồi lớp kính bẩn thỉu của những cửa sổ mái chạy dọc suốt chiều dài căn phòng, ánh sáng từ chúng không chỉ quá yếu chẳng đủ thấy đường gõ máy chữ mà còn quá yếu không dùng được cho bất cứ việc gì khác, trên thực tế là chẳng để làm gì, ngoại trừ để người ta biết rằng bên ngoài căn phòng này và tòa nhà này có một bầu trời và có lẽ có nhà cửa có con người, thế rồi đúng lúc đó, ngay khi Ingeborg cùng bố vừa đi đến cuối một dãy và đang vòng lại để đi ngược trở lên, bà Dorothea bước vào qua cửa chính, một bà già bé loắt choắt mặc áo dài đen đi đôi dép lê chẳng phù hợp mấy với tiết trời giá lạnh ngoài kia, một bà già nhỏ bé tóc bạc bới lên thành một búi, một bà già nhỏ bé ngồi nơi bàn mình mà nghiêng đầu, tuồng như chẳng có gì hiện hữu ngoại trừ bà ta và các cô đánh máy, và ngay khoảnh khắc đó các cô này, bao người như một, đồng thanh nói Chào bà Dorothea, cùng một lúc, nhưng không nhìn bà Dorothea và vẫn không ngừng gõ máy chữ, một điều Ingeborg thấy thật khó tin, là đẹp khó tin hay ghê rợn khó tin thì cô không biết, nhưng dù thế nào đi nữa, sau lời chào đồng loạt đó thì cô, bé gái Ingeborg, đứng im phắc như vừa bị sét đánh hoặc tuồng như rốt cuộc cô đang ở trong một nhà thờ thứ thiệt nơi các lễ nghi tế tự các vật thiêng và vẻ long trọng phù hoa là có thật, nơi chúng đau và giần giật thon thót như quả tim bị moi ra từ một nạn nhân của người Aztec, mãnh liệt đến độ mà cô, bé gái Ingeborg, không chỉ đứng im phắc mà còn đưa một tay lên chỗ con tim, tuồng như nó vừa bị rứt ra, và lúc đó, chính ngay lúc đó, bà Dorothea cởi găng tay, uốn hai bàn tay trong suốt lại mà không nhìn chúng, và, mắt cắm vào một tài liệu hay bản thảo đặt ở một bên, bắt đầu gõ máy.

Ngay khoảnh khắc đó, Ingeborg nói vói Archimboldi, em hiểu rằng âm nhạc có thể có trong bất cứ cái gì. Cách gõ của bà Dorothea quá nhanh, quá đặc biệt, có quá nhiều bản thân bà Dorothea trong sự gõ của bà, đến nỗi mặc cho tiếng ồn hay âm thanh hay tiết điệu đều tăm tắp của hơn sáu chục cô thư ký gõ máy chữ cùng một lúc, cái âm nhạc tuôn ra từ chiếc máy đánh chữ của bà thư ký cao tuổi nhất cất lên cao hơn nhiều bên trên dàn hợp tấu tập thể của các đồng nghiệp bà, không áp đặt họ, mà đúng hơn là điều hợp họ, dẫn dắt họ, nô đùa với họ. Đôi khi nó dường như lên thấu những ô cửa sổ trên trần, đôi khi nó trườn bò sát sàn nhà, chạm phớt vào gót chân khách đến thăm và các cậu trai mặc quần soóc. Đôi khi nó thậm chí còn tự cho mình cái sự xa xỉ là chậm bước lại và chừng đó máy đánh chữ của bà Dorothea giống như một trái tim, một trái tim khổng lồ đập giữa lòng sương mù và hỗn mang. Song những khoảnh khắc ấy ít ỏi. Bà Dorothea thích tốc độ cho nên bước gõ của bà thường vượt trước mọi bước gõ khác, như thể bà đang mở đường giữa một thung lũng tối om, Ingeborg nói, tối ơi là tối, tối om om…

♣ ♣ ♣

Ông Bubis không thích Bifurcaria Bifurcata, đến độ thậm chí ông chẳng đọc cho hết, mặc dù dĩ nhiên ông vẫn quyết định in cuốn tiểu thuyết, nghĩ nhỡ đâu cái gã ngốc Lothar Junge kia lại thích cuốn này thì sao.

Tuy nhiên, trước khi gửi cuốn sách đến nhà in, ông đưa nó cho bà nam tước và yêu cầu bà cho ý kiến thành thật nhất. Hai hôm sau bà nam tước nói bà ngủ mất và không thể đọc quá trang bốn, điều này chẳng làm ông Bubis nản lòng, bởi dù sao ông cũng chẳng mấy tin tưởng vào những phán xét văn chương từ bà vợ xinh đẹp của ông. Ít lâu sau khi ông gửi hợp đồng cuốn Bifurcaria Bifurcata cho Archimboldi, ông nhận được từ tác giả một bức thư trong đó nhà văn không úp mở trình bày nỗi bất mãn trước số tiền tạm ứng mà ông Bubis định trả cho anh. Trong một tiếng đồng hồ, giữa khi ông Bubis ăn một mình trong một nhà hàng nhìn ra cửa sông, ông ngẫm nghĩ xem nên trả lời bức thư của Archimboldi ra sao. Phản ứng đầu tiên của ông khi đọc thư là phẫn nộ. Sau đó bức thư khiến ông cười ha hả. Cuối cùng ông đâm buồn, một phần là do dòng sông, vào giờ này trong ngày nó nhuốm sắc độ của lớp mạ vàng xưa, của lá vàng, và tất cả dường như đang rụn vỡ, dòng sông, những con thuyền, những ngọn đồi, những vạt cây, mỗi thứ đi một ngả, về những thời gian khác nhau và không gian khác nhau.

Chẳng có gì còn mãi, Bubis lẩm bẩm. Chẳng có gì ở lại cùng ta quá lâu. Trong thư Archimboldi nói anh đã mong nhận được khoản tiền tạm ứng ít nhất là ngang với khoản tạm ứng cho Những dòng sông châu Âu. Xét cho cùng, anh ta có lý, Bubis nghĩ: một cuốn tiểu thuyết làm mình phát chán không có nghĩa nó là cuốn tiểu thuyết tồi, nó chỉ có nghĩa là nó sẽ không bán được và vì vậy sẽ chiếm một không gian quý báu trong nhà kho của mình. Hôm sau ông gửi cho Archimboldi một khoản tạm ứng lớn hơn chút ít so với khoản mà nhà văn đã nhận cho cuốn Những dòng sông châu Âu.

♣ ♣ ♣

Tám tháng sau khi dừng chân ở Kempten lần đầu tiên, Ingeborg và Archimboldi quay lại, song lần này thị trấn không có vẻ đẹp như lần trước, thế nên hai ngày sau, khi cả hai người đã bức bối lắm rồi, họ ra đi trên một chiếc xe bò hướng về một ngôi làng trên núi.

Ngôi làng chỉ có chưa tới hai mươi cư dân và ở rất gần biên giới với Áo. Họ thuê một phòng của một nông dân có trang trại bò sữa và sống một mình, vì hồi chiến tranh bác ta mất hai người con, một người ở Nga một người ở Hungary, và vợ bác ta đã chết vì buồn, ấy là theo bác ta nói, nhưng dân làng thì khẳng định rằng bác ta đã đẩy vợ xuống vực.

Người nông dân nọ tên là Fritz Leube và có vẻ vui lòng vì có khách đến trọ, dù rằng khi thấy Ingeborg ho ra máu thì bác ta lo ngay ngáy, vì bác nghĩ lao là bệnh rất dễ lây. Nhưng đằng nào thì họ cũng chẳng hay gặp nhau. Tối tối, sau khi dắt bò về, Leube nấu một nồi xúp tướng cho bản thân mình và hai vị khách, phải ăn mấy ngày mới hết. Nếu họ đói, trong kho chứa cũng như trong bếp có đủ thứ pho mát và thịt ướp muối, họ muốn lấy ăn lúc nào cũng được. Bánh mì, từng ổ tròn to đùng nặng ba ký, thì bác ta mua của một bà trong làng hoặc mua mỗi khi ghé qua một làng khác hoặc đi xuống Kempten.

Thỉnh thoảng Leube khui một chai rượu và thức đến khuya chuyện trò với Ingeborg và Archimboldi, hỏi họ về thành phố lớn (đối với bác ta thành phố lớn nghĩa là bất cứ thành phố nào có trên ba chục ngàn dân) và nhíu mày trước những câu trả lời thường là đầy ác ý của Ingeborg. Chuyện tàn, đêm dứt, Leube nút chai lại, lau sạch bàn và, trước khi đi ngủ, nói rằng không gì sánh nổi với đời sống miền thôn dã. Dạo đó Ingeborg và Archimboldi làm tình thường xuyên, như thể họ có dự cảm chẳng lành nào đó. Họ làm tình trong căn buồng tối tăm thuê của Leube và họ làm tình trong phòng khách, trước lò sưởi, khi Leube đã đi làm. Dăm ngày lưu lại Kempten họ chủ yếu dùng vào việc làm tình. Một đêm nọ, trong làng, họ làm tình nơi chuồng gia súc, giữa lũ bò, trong khi Leube và dân làng đang ngủ. Sáng sáng, thức dậy, họ giống như vừa xong một trận đánh nhau. Cả hai đều bầm tím chỗ này chỗ nọ trên người và mắt cả hai đều có những quầng thâm đại tướng, mà Leube nói là đặc trưng cho dân thành phố có lối sống không lành mạnh.

Để lại sức họ ăn bánh mì đen với bơ và uống sữa nóng từng tô lớn. Một đêm kia, sau khi ho một chặp lâu, Ingeborg hỏi Leube vợ bác ta chết vì cái gì. Vì buồn khổ, Leube đáp, như mọi khi.

“Lạ thật,” Ingeborg nói, “trong làng người ta nói bác giết bà ấy.”

Leube vốn đã biết những lời đồn đại ấy nên không tỏ vẻ ngạc nhiên.

“Nếu tôi giết mụ ấy thì giờ tôi nằm khám rồi,” bác ta nói. “Mọi kẻ giết người, kể cả là giết vì lý do chính đáng, sớm muộn gì cũng nằm khám hết.”

“Tôi không tin,” Ingeborg nói, “có nhiều kẻ giết người, nhất là giết vợ mình, mà chẳng bao giờ vào khám.”

Leube cười rộ.

“Cái đó chỉ có trong tiểu thuyết thôi,” bác ta nói.

“Tôi không biết là bác có đọc tiểu thuyết,” Ingeborg đáp.

“Hồi còn trẻ tôi có đọc,” Leube nói. “Hồi đó tôi có thể xài phí thời gian mà chẳng làm sao, bởi ba mẹ tôi còn sống. Vậy làm sao người ta lại cho rằng tôi giết vợ?” Leube hỏi sau một quãng lặng dài với âm thanh duy nhất là tiếng nổ lách tách trong ngọn lửa.

“Người ta nói bác đẩy bà ấy xuống vực,” Ingeborg nói.

“Vực nào?” Leube hỏi, cuộc đối thoại càng lúc càng khiến bác ta thích thú.

“Tôi không biết,” Ingeborg nói.

“Ở đây có nhiều vực lắm, tiểu thư à,” Leube nói, “có vực Cừu Lạc và vực Hoa, vực Bóng Tối (gọi vậy vì nó luôn luôn chìm trong bóng tối) và vực Con Nhà Kreuze, có vực Quỷ và vực Trinh Nữ, có vực Thánh Bernard và vực Phiến, từ đấy tới đồn biên giới còn hơn trăm vực nữa.”

“Tôi không biết,” Ingeborg nói, “bất kỳ vực nào trong mấy cái vực ấy.”

“Không, không phải bất cứ cái nào trong số đó, phải là một cái, một cái cụ thể, bởi vì nếu tôi giết vợ tôi bằng cách đẩy mụ ta xuống một cái vực bất kỳ nào thì cũng bằng như tôi chẳng giết mụ ta. Phải là một vực cụ thể, không phải bất cứ vực nào,” Leube nhắc lại. “Nhất là,” bác ta nói sau một hồi im lặng dài, “bởi vì có những vực mà đến mùa xuân băng tan là biến thành lòng sông thế nên bất cứ cái gì bị ném xuống đó hoặc rơi xuống đó hoặc bất cứ cái gì người ta muốn giấu đều bị cuốn xuống thung lũng cả. Chó bị sẩy chân, cừu lạc, củi mục cành khô,” Leube nói bằng giọng hầu như không nghe được. “Hàng xóm của tôi họ còn nói gì nữa?” sau một lát Leube hỏi.

“Chả nói gì thêm,” Ingeborg nói, nhìn thẳng vào mắt bác ta.

“Họ nói láo,” Leube nói, “họ nói láo rồi ngậm miệng, đáng lẽ họ có thể nói thêm nhiều thứ nữa, nhưng họ nói láo rồi ngậm miệng. Bọn họ giống như thú vật, tiểu thư không thấy thế sao?”

“Không, tôi không có ấn tượng đó,” Ingeborg nói, thật ra cô chả mấy khi nói gì với dân làng vốn ít ỏi, tất cả đều quá bận làm ăn chẳng hơi đâu mất thì giờ với người lạ.

“Thế nhưng họ lại có thì giờ thông tin cho tiểu thư biết về cuộc đời tôi,” Leube nói.

“Qua loa đại khái thôi,” Ingeborg nói, đoạn cô bật một tiếng cười rền vang cay đắng khiến cô ho thêm lần nữa.

Trong khi nghe cô ho, Leube nhắm mắt lại.

Khi cô bỏ khăn tay ra khỏi miệng, vết máu trông như một đóa hồng khổng lồ đang nở rộ.

♣ ♣ ♣

Đêm đó, sau khi làm tình, Ingeborg rời làng cất bước về phía con đường núi. Tuyết dường như phản chiếu ánh sáng vầng trăng tròn vạnh. Không có gió và cái lạnh cũng không đến nỗi nào, nhưng Ingeborg mặc chiếc áo dệt kim dày nhất, thêm áo khoác, mang bốt cổ cao và đội mũ len. Ngay khúc quanh đầu tiên là ngôi làng đã biến khỏi tầm nhìn, chỉ còn lại một hàng thông và những núi những non nhân lên trong đêm, tất cả trắng toát, như những nữ tu không còn ham muốn trần tục.

Mười phút sau Archimboldi giật mình thức dậy nhận ra rằng Ingeborg không có ở trên giường. Anh mặc quần áo, tìm cô trong buồng tắm, trong bếp và phòng khách, rồi đi đánh thức Leube dậy. Bác này ngủ say như chết nên Archimboldi phải lay bác mấy lần, cho đến khi Leube mở một mắt nhìn anh với vẻ sợ chết khiếp.

“Là tôi đây,” Archimboldi nói, “vợ tôi biến mất rồi.”

“Đi tìm cô ấy,” Leube nói.

Anh đã giật áo Leube mạnh đến nỗi suýt nữa rách toạc.

“Tôi không biết phải bắt đầu ở đâu,” Archimboldi nói.

Rồi anh trở về phòng mang bốt và khoác áo, và khi đi xuống tầng dưới anh gặp Leube đầu bù tóc rối nhưng đã mặc xong quần áo để ra ngoài. Khi đến trung tâm làng, Leube đưa cho anh một cây đèn pin rồi bảo anh là hai người nên tách nhau ra. Archimboldi theo đường lên núi còn Leube bắt đầu đi xuống thung lũng.

Khi đến chỗ khúc quanh con đường Archimboldi nghe như có tiếng hét. Anh dừng lại. Tiếng hét lại vang lên, dường như nó vẳng lên từ dưới đáy khe núi, nhưng Archimboldi hiểu đó là Leube, bác ta đang vừa đi về phía thung lũng vừa hét to tên Ingeborg. Mình sẽ không bao giờ gặp lại cô ấy nữa, Archimboldi nghĩ, người run cầm cập vì lạnh. Trong lúc vội vàng anh đã quên đeo găng tay đội mũ len và trong khi trèo lên hướng đồn biên giới hai bàn tay và mặt anh đã tê cứng đến độ anh không còn cảm thấy chúng nữa, chốc chốc anh dừng lại thở vào hai bàn tay hoặc xát hai bàn tay vào nhau, và véo mặt mình nhưng chả ăn thua.

Những tiếng hét của Leube càng lúc càng xa hơn cho đến khi hoàn toàn bặt mất. Đôi lúc Archimboldi đâm bấn loạn, anh tưởng như thấy Ingeborg đang ngồi bên vệ đường, nhìn chăm chăm vào những vực sâu mở hoác ra hai bên, nhưng khi lại gần anh phát hiện đấy chỉ là một tảng đá hoặc một cây thông nhỏ bị bão quật trốc gốc. Đi được nửa đường thì đèn pin chết, anh bỏ nó vào túi áo khoác, dù rằng lẽ ra anh đã vui lòng vứt béng nó lên những triền đồi phủ tuyết. Mặt khác trăng soi sáng đường đi nên không cần phải có đèn pin. Trong đầu anh thoáng qua ý nghĩ về tự sát và tai nạn. Anh bước ra khỏi con đường và kiểm tra độ chắc của tuyết. Ở một vài chỗ anh thụt sâu xuống đầu gối. Ở những chỗ khác, gần các vách đá hơn, anh thụt sâu gần đến thắt lưng. Anh mường tượng Ingeborg bước đi với cái nhìn vô định. Anh mường tượng cô đến gần một trong các vực. Vấp chân. Rơi xuống. Anh cũng lần đến một miệng vực. Tuy nhiên, trăng chỉ soi sáng con đường: dưới đáy vực vẫn đen ngòm, một màu đen vô hình vô dạng, trong đó có thể mơ hồ thấy những khối và những đường viền nhập nhoạng.

Anh quay lại con đường, tiếp tục leo lên. Đến một lúc anh nhận ra mình đang đổ mồ hôi. Mồ hôi tuôn ra nóng hổi từ các lỗ chân lông và lập tức trở thành một màng mỏng lạnh mà đến lượt mình bị triệt tiêu bởi nhiều mồ hôi nóng nữa… Dù thế nào thì anh cũng không còn thấy lạnh. Khi chỉ còn một chút nữa là đến đồn biên giới thì anh thấy Ingeborg đứng cạnh một thân cây, cái nhìn hướng lên trời, cổ của Ingeborg, cằm cô, hai má cô ngời sáng như được chạm tới bởi một cơn mất trí màu trắng. Anh chạy tới choàng tay ôm lấy cô.

“Anh làm gì ở đây?” Ingeborg nói.

“Anh sợ,” Archimboldi nói.

Mặt Ingeborg lạnh như băng. Anh hôn má cô cho đến khi cô chuội ra khỏi vòng tay của anh.

“Nhìn những ngôi sao kìa, Hans,” cô nói.

Archimboldi nghe theo. Bầu trời đầy sao, nhiều hơn nhiều so với sao đêm ở Kempten và nhiều hơn gấp bội bội lần so với sao trời vào những đêm quang đãng nhất ở Cologne. Bầu trời đẹp thật, em yêu dấu, Archimboldi nói, đoạn anh thử cầm tay cô kéo cô trở về làng, nhưng Ingeborg níu lấy một cành cây, như thể họ đang đùa với nhau, cô không chịu đi.

“Anh có nhận ra tụi mình đang ở đâu không, Hans?” cô hỏi, với một tiếng cười mà Archimboldi nghe như một dòng thác băng.

“Trên núi, em yêu,” anh nói, vẫn nắm bàn tay cô và cố gắng một cách hoài công để ôm cô lần nữa.

“Tụi mình đang ở trên núi,” Ingeborg nói, “nhưng cũng là ở một nơi bị quá khứ vây quanh. Tất cả những vì sao này,” cô nói, “thông minh như anh mà cũng có thể nào không hiểu ư?”

“Có gì để hiểu chứ?” Archimboldi nói.

“Nhìn những vì sao đi,” Ingeborg nói.

Anh nhìn lên: quả vậy, có rất nhiều sao, sau đó anh nhìn lại Ingeborg và nhún vai.

“Anh chẳng thông minh lắm đâu, em biết mà,” anh nói.

“Toàn bộ ánh sáng này đều chết cả rồi,” Ingeborg nói. “Toàn bộ ánh sáng này được phát ra từ hàng ngàn hàng triệu năm trước rồi. Khi ánh sáng các vì sao này được phát ra thì chúng ta còn chưa hiện hữu, chưa có cuộc sống trên trái đất, bản thân trái đất cũng chưa có. Ánh sáng này được phát ra từ lâu lắm rồi, anh có hiểu không, nó là quá khứ, chúng ta đang bị quá khứ vây quanh, những gì không còn tồn tại nữa hoặc chỉ tồn tại trong ký ức hay trong suy đoán thì đều đang ở đây, bên trên chúng ta, soi sáng núi non soi sáng tuyết và chúng ta chẳng thể nào cản được.”

“Một cuốn sách cũ cũng là quá khứ,” Archimboldi nói, “một cuốn sách được viết và xuất bản vào năm 1789 là quá khứ, tác giả của nó không còn nữa, nhà in đã in nó hay người đọc nó đầu tiên hay cái thời nó được viết ra không còn nữa, nhưng cuốn sách, ấn bản đầu tiên của cuốn sách ấy, vẫn còn đây. Giống như các kim tự tháp của người Aztec vậy,” Archimboldi nói.

“Em ghét những ấn bản đầu tiên ghét các kim tự tháp và ghét những người Aztec khát máu đó,” Ingeborg nói. “Nhưng ánh sáng các vì sao này làm em chóng mặt. Chúng làm em muốn khóc,” Ingeborg nói, mắt ươn ướt bởi cơn mất trí.

Sau đó, phẩy tay xua Archimboldi đi, cô quay người đi về phía đồn biên giới, đó là một căn nhà nhỏ hai tầng bằng gỗ. Từ ống khói tuôn lên một làn khói mảnh màu đen tan vào trời đêm, và trên một cây cột có treo một tấm biển thông báo rằng nơi đây là biên giới.

Gần căn nhà có một cái lán không vách, ở đó một chiếc xe tải con đang đậu. Không có ánh đèn nào, trừ quầng sáng yếu ớt của một ngọn nến hắt qua một cửa chớp mở hé trên tầng hai.

“Thử vào xem họ có cái gì nóng cho mình không,” Archimboldi nói, đoạn gõ cửa.

Không ai trả lời. Anh lại gõ, lần này mạnh hơn. Đồn biên giới hình như chẳng có ai. Ingeborg đang đợi anh ở cách cổng vài bước, đã khoanh hai tay trước ngực và mặt cô đã tái nhợt đến mức mang sắc độ giống như tuyết. Archimboldi đi vòng quanh căn nhà. Ở đằng sau, cạnh đống gỗ, anh gặp một cái chuồng chó rõ to, nhưng chẳng thấy con chó nào. Khi anh quay lại cửa trước thì Ingeborg vẫn đứng, nhìn các vì sao.

“Chắc đội biên phòng đi rồi,” Archimboldi nói.

“Có ánh sáng,” Ingeborg nói mà không nhìn anh, và Archimboldi không biết cô đang nói đến ánh sáng của những vì sao hay ánh sáng có thể thấy trên tầng hai.

“Anh sẽ phá cửa sổ,” anh nói.

Anh nhìn quanh trên mặt đất tìm cái gì đó cưng cứng nhưng chả thấy gì, thế là sau khi giật cánh cửa chớp bằng gỗ ra, anh lấy cùi chỏ nện vỡ ô cửa kính. Rồi, bằng hai tay, anh cẩn thận dẹp các mảnh kính vỡ rồi mở cửa sổ ra.

Một mùi đậm đặc, nằng nặng đập vào mặt anh khi anh chuồi vào trong. Trong nhà mọi thứ tối om, trừ một ánh mờ mờ từ trong lò sưởi. Cạnh lò sưởi, trong một ghế bành, anh thấy một lính biên phòng mặc áo khoác mở phanh, nhắm mắt, tuồng như đang ngủ, nhưng anh ta không ngủ mà đã chết. Trong một phòng tầng trệt, anh gặp một người khác nằm trên giường tầng, một người đàn ông tóc bạch kim mặc sơ mi trắng và quần dài trắng.

Trên tầng hai, trong căn phòng có ngọn nến có thể thấy được từ dưới đường, chẳng có ai. Nó chỉ là một căn phòng, với một cái giường, một cái bàn, một chiếc ghế và một kệ sách nhỏ trong đó có vài cuốn sách, chủ yếu là truyện phiêu lưu cao bồi Viễn Tây. Di chuyển nhanh nhẹn nhưng thận trọng, Archimboldi tìm thấy một cây chổi và một tờ báo, liền quét chỗ kính anh đập vỡ hồi nãy, trút qua cái lỗ trên cửa sổ ra ngoài, làm như một trong hai người chết mới là kẻ đã gây nên thiệt hại kia, từ trong nhà chứ không phải từ ngoài. Sau đó anh đi ra mà không chạm vào một cái gì và choàng tay ôm Ingeborg, và cứ vậy, ôm nhau, họ quay về ngôi làng trong khi toàn bộ quá khứ của vũ trụ ụp xuống đầu họ.

♣ ♣ ♣

Ngày hôm sau Ingeborg nằm liệt giường. Cô sốt bốn mươi độ và đến chiều cô bắt đầu mê sảng. Giữa trưa, khi cô đang ngủ, Archimboldi từ cửa sổ phòng mình thấy một chiếc xe cứu thương chạy ngang đi về phía đồn biên giới. Chặp sau một chiếc xe cảnh sát chạy ngang và ba giờ sau chiếc xe cứu thương đi xuống phía Kempten chở theo hai xác chết, nhưng chiếc xe cảnh sát thì mãi sáu giờ mới quay lại, khi đó đêm đã xuống, khi đến làng xe dừng lại và cảnh sát nói chuyện với một số dân làng.

Về phần mình, Archimboldi và Ingeborg không bị thẩm vấn, có lẽ nhờ Leube can thiệp. Đến tối Ingeborg bắt đầu bị ảo giác và ngay đêm đó cô được đưa tới bệnh viện Kempten. Leube không đi cùng họ, nhưng sáng hôm sau, khi Archimboldi đang đứng hút thuốc ngay nơi lối vào bệnh viện, anh thấy Leube đến, mặc áo jacket len, xài xạc cũ mèm dẫu chẳng phải là không có một phong cách nào đó, thắt cà vạt và mang đôi bốt thấp thô tháp trông như đóng bằng tay.

Họ nói chuyện trong vài phút. Leube nói chẳng ai trong làng biết về cuộc trốn đi đêm của Ingeborg, cho nên nếu có ai hỏi thì tốt nhất Archimboldi đừng nói gì hết. Kế đó bác ta hỏi bệnh nhân (bác ta nói đúng như thế: bệnh nhân) có đang được điều trị tử tế không, mặc dù qua cái cách bác ta hỏi thì rõ là bác ta cho rằng chả lấy đâu mà tử tế cho được, về thức ăn trong bệnh viện, về thuốc men người ta cho uống, rồi thì đột ngột bác ta bỏ đi. Trước khi đi, chẳng nói chẳng rằng, bác đặt vào tay Archimboldi một gói bọc bằng giấy rẻ tiền, bên trong là một tảng pho mát tướng, bánh mì, và hai thứ thịt xông khói, cũng một loại mà tối nào họ cũng ăn ở nhà bác.

Archimboldi không đói, và khi thấy pho mát với thịt xông khói anh cảm thấy buồn mửa không cưỡng nổi. Nhưng anh không muốn vứt thức ăn đi nên cuối cùng anh cất nó vào ngăn kéo bàn ngủ của Ingeborg. Đêm cô lại mê sảng và không nhận ra Archimboldi. Sáng tinh mơ cô thổ huyết và khi người ta đưa cô đi chụp X-quang cô hét lên rằng anh đừng bỏ cô một mình, đừng để cô chết ở một cái bệnh viện khốn khổ khốn nạn như thế này. Anh không làm vậy đâu, Archimboldi hứa với cô trong hành lang, trong khi các y tá tất tả đẩy đi xa dần chiếc băng ca nơi Ingeborg đang quằn quại giành sự sống. Ba ngày sau cơn sốt bắt đầu giảm, tuy rằng những thay đổi tâm trạng của Ingeborg trở nên rõ rệt hơn.

Cô gần như chẳng nói năng gì với Archimboldi và khi cô nói thì ấy là để ra lệnh cho anh đưa cô ra khỏi đó. Cũng trong phòng ấy có hai phụ nữ khác bị bệnh phổi mà chẳng mấy chốc đã trở thành kẻ thù không đội trời chung với Ingeborg. Theo cô, họ ganh tị với cô vì cô là dân Berlin. Sau bốn ngày các y tá đã chán ngấy Ingeborg và ít nhất một bác sĩ thấy cô, ngồi rất im trên giường, mái tóc suôn mềm đổ xuống hai vai, chẳng khác gì hiện thân của Nữ thần Báo oán. Một ngày trước khi cô được xuất viện, Leube lại đến bệnh viện.

Bác ta vào phòng, hỏi Ingeborg vài câu, rồi đưa cô một cái gói con giống y cái gói bác đã đưa Archimboldi vài hôm trước. Từ lúc đó cho đến khi về bác im lặng, ngồi cứng đơ trên ghế, chốc chốc lại ném cái nhìn tò mò về phía hai nữ bệnh nhân kia và các khách đến thăm mấy người này. Khi đi bác nói với Archimboldi rằng bác muốn nói chuyện với mình anh thôi, nhưng Archimboldi không muốn nói chuyện với Leube, nên thay vì dẫn bác ta tới căng tin bệnh viện anh vẫn đứng với bác ta giữa hành lang, khiến Leube bối rối, bác này vốn đang mong được nói chuyện ở một chỗ kín đáo hơn.

“Tôi chỉ muốn cho anh biết,” bác ta nói, “rằng tiểu thư nói đúng. Tôi đã giết vợ tôi. Tôi đẩy mụ ta xuống vực. Vực Trinh Nữ. Thật ra tôi chẳng nhớ nữa. Có khi là vực Hoa không chừng. Nhưng tôi đã đẩy mụ ta xuống vực và quan sát thân thể mụ ta rơi xuống, các vách đá nhô ra đập nát nhừ. Sau đó tôi mở mắt ra tìm mụ ta. Mụ ta nằm dưới đó. Một đốm màu giữa các phiến đá. Tôi nhìn chăm chăm một hồi lâu. Sau đó tôi leo xuống quẩy mụ ta lên vai cõng mụ ta lên, nhưng mụ ta chả còn nặng tí nào, cứ như leo lên mà mang trên lưng một bó củi. Tôi đưa mụ ta vào nhà qua cửa sau. Chả ai thấy tôi. Tôi cẩn thận rửa ráy cho mụ, mặc quần áo mới cho mụ, để mụ nằm lên giường. Làm sao mà chẳng ai lại nhận ra xương của mụ ta gãy hết kia chớ? Tôi nói mụ ta chết rồi. Vì sao mà chết? người ta hỏi. Vì buồn khổ, tôi nói. Khi người ta chết vì buồn khổ thì tuồng như ta làm gãy hết xương trong người mình, làm cho thân mình bầm giập mọi chỗ và làm sọ nứt ra. Buồn khổ là vậy đó. Tôi tự tay đóng quan tài trong một đêm và ngày hôm sau tôi chôn cất mụ. Rồi tôi thu xếp việc giấy tờ ở Kempten. Mấy tay văn phòng có nghi ngờ. Tôi thấy vẻ mặt lạ lùng của họ. Nhưng họ chẳng nói gì mà vẫn làm thủ tục khai tử. Sau đó tôi quay về làng mà sống tiếp. Cô đơn vĩnh viễn,” bác ta thì thầm sau một quãng lặng dài. “Vậy đấy.”

“Tại sao ông kể với tôi chuyện này?” Archimboldi hỏi.

“Để anh có thể kể cho tiểu thư. Tôi muốn tiểu thư biết. Là vì cô ấy mà tôi kể cho anh, để cô ấy biết. Đồng ý chứ?”

“Đồng ý,” Archimboldi nói, “tôi sẽ kể cho cô ấy.”

Rời bệnh viện, họ quay về Cologne bằng xe lửa, nhưng họ chỉ lưu lại đó chẳng được ba ngày. Archimboldi hỏi Ingeborg cô có muốn đi thăm mẹ cô không. Ingeborg đáp rằng một trong các dự đồ của cô là không bao giờ gặp lại cả mẹ cô lẫn các em cô một lần nào nữa. Em thích chu du đây đó, cô nói. Ngày hôm sau Ingeborg làm thủ tục xin hộ chiếu còn Archimboldi vay mượn tiền bạn bè của họ. Đầu tiên họ sang Áo rồi sau đó Thụy Sĩ và từ Thụy Sĩ họ sang Ý. Họ thăm Venice và Milano, như hai kẻ lang thang cầu bất cầu bơ, và giữa hai thành phố ấy họ dừng chân tại Verona, ngủ lại trong nhà trọ nơi Shakespeare đã ngủ và ăn tại quán ăn nơi Shakespeare đã ăn, nay được gọi là Trattoria Shakespeare, và họ cũng đến nhà thờ nơi Shakespeare đã đến để ngồi trầm tư mặc tưởng hoặc chơi cờ với linh mục giáo xứ, bởi vì Shakespeare, cũng như họ, không nói được tiếng Ý, nhưng chơi cờ thì chẳng cần phải nói được tiếng Ý cũng chẳng cần nói được tiếng Anh hay tiếng Đức hay cả tiếng Nga.

Và do ngoài cái đó ra ở Verona chẳng còn bao nhiêu thứ để xem, họ đến Brescia, Padova và Vicenza và các thành phố khác dọc theo đường xe lửa nối Milano với Venice, thế rồi họ tới Mantua và Bologna và lưu lại ba ngày ở Pisa làm tình như điên, thế rồi họ bơi ở Cecina và Piombino, đối diện đảo Elba, thế rồi họ thăm Florencia và lên đường về lại Roma.

Họ sống nhờ gì? Chắc là Archimboldi, vốn từng học được nhiều thứ hồi còn làm bảo vệ quán bar trên phố Spengler, đã dùng đến ngón nghề trộm vặt. Trộm của khách du lịch Mỹ dễ như không. Trộm của người Ý chỉ khó hơn một tí. Có thể Archimboldi đã xin nhà xuất bản tạm ứng thêm một khoản nữa và có lẽ người ta đã gửi cho anh bằng bưu điện hoặc có thể đích thân nữ nam tước Von Zumpe đưa tận tay anh, bà tò mò muốn gặp bạn tình của người hầu cũ của mình.

Tuy nhiên địa điểm gặp lại là một nơi công cộng và chỉ một mình Archimboldi đến. Anh uống một cốc bia, cầm tiền, cảm ơn bà rồi đi. Hoặc đấy là bà nam tước mô tả như thế trong một bức thư dài gửi cho chồng được bà viết trong một lâu đài ở Senigallia, ở đó bà lưu lại mười lăm ngày, chỉ tắm nắng và đi bơi đường dài. Những cuộc bơi đường dài mà Ingeborg và Archimboldi không thể thực hiện hoặc phải hoãn sang kiếp khác, bởi sức khỏe của Ingeborg lao dốc khi mùa hè dần qua, và khả năng quay về vùng núi hoặc vào bệnh viện bị hai người bác bỏ lập tức. Đầu tháng Chín họ ở Roma, cả hai mặc quần ngắn, màu cát sa mạc hoặc màu cồn cát, như thể họ là hai bóng ma của quân đoàn Châu Phi của Đức Quốc xã bị lạc trong hầm mộ của những người Cơ đốc đầu tiên, những hầm mộ cô đơn nơi chẳng có âm thanh nào khác ngoài tiếng nước rỏ lúc có lúc không của một ống máng nào đó gần đây và tiếng ho của Ingeborg.

Tuy vậy, chẳng bao lâu sau họ dạt về Florencia và từ đó, lúc đi bộ lúc đi nhờ xe, họ hướng về biển Adriatic. Bấy giờ nữ nam tước Von Zumpe đang ở Milano làm khách của một số biên tập viên người Milano, và từ một quán cà phê giống một cách kỳ lạ với một giáo đường La Mã bà viết một bức thư cho Bubis trong đó bà cho ông biết tình hình sức khỏe của các chủ nhà ở đây, họ mong Bubis có mặt ở đây, và về một vài biên tập viên người Torino mà bà vừa mới làm quen, một người lớn tuổi rất vui tính cứ luôn gọi Bubis là anh em chiến hữu của ông ta, và một người khác trẻ tuổi, cánh tả, rất bô trai, nói rằng các biên tập viên cũng phải góp phần vào việc làm thay đổi thế giới, sao lại không. Lại nữa, cũng trong chuyến đi này, từ bữa tiệc này đến buổi hội kia bà làm quen với một số nhà văn Ý, vài người trong số đó có những cuốn sách nếu dịch ra thì chắc cũng thú vị. Cố nhiên bà nam tước đọc được tiếng Ý, dẫu rằng lịch hoạt động hằng ngày khiến bà chẳng còn thì giờ để đọc.

Đêm nào cũng có tiệc tùng. Và khi nào không có tiệc thì chủ nhà bày ra tiệc. Đôi khi họ rời Milano thành một đoàn bốn năm chiếc xe, lái đến một thị trấn trên bờ hồ Garda tên là Bardolino, ở đấy một người trong đoàn có một tòa biệt thự, đêm xuống là tất cả họ, mệt nhừ song vui vẻ, nhảy nhót trong quán ăn nào đó ở Desenzano, dưới cái nhìn hiếu kỳ của đám dân địa phương đã thức trắng đêm (hoặc vừa trở dậy), bị cảnh ăn chơi phè phỡn kia thu hút.

Tuy nhiên, một sáng kia bà nhận được điện tín từ Bubis cho hay vợ của Archimboldi đã chết ở một làng xa xôi bên bờ biển Adriatic. Không biết vì sao, bà nam tước bắt đầu khóc như thể bà vừa mất một người em gái và ngay hôm đó bà báo cho các vị chủ nhà rằng bà sẽ rời Milano để tới ngôi làng xa xôi đó, chẳng hề biết chắc mình sẽ đi xe lửa hay xe buýt hay taxi, bởi ngôi làng đó không được nhắc tới trên bản đồ du lịch Ý. Tay biên tập trẻ tuổi theo cánh tả đề nghị chở bà bằng xe của anh ta và bà nam tước, vốn đã có ít nhiều lăng nhăng chim chuột với anh ta, liền tỏ lòng biết ơn đến mức anh chàng người Torino ngớ người kinh ngạc.

Chuyến đi là một thiên điếu thi hoặc một khúc tang ca, tùy theo vùng quê họ đi qua, được xướng bằng một thứ tiếng Ý càng lúc càng não nề và cường điệu. Cuối cùng họ cũng tới ngôi làng kỳ bí đó, kiệt quệ sau khi phải đọc qua cả một danh sách dài dằng dặc các thành viên gia đình đã chết (của bà nam tước cũng như của tay biên tập viên) và của những bạn bè đã thất lạc, vài người trong số ấy đã chết mà họ không hề hay biết. Nhưng họ vẫn còn đủ sức để hỏi về một người Đức vừa mất vợ. Dân làng, mặt sưng mày sỉa và đang bận vá lưới hoặc trám thuyền, nói với họ rằng quả thực cách đây mấy hôm có một cặp người Đức đến đây và chỉ ít lâu sau người đàn ông ra đi một mình vì bà vợ đã chết đuối.

Người đàn ông đi đâu? Họ không biết. Nữ nam tước và tay biên tập viên hỏi linh mục làng nhưng ông này cũng chẳng biết gì luôn. Họ hỏi cả phu đào huyệt thì ông này lặp lại nguyên xi như một bài kinh những gì họ đã nghe: rằng ông người Đức đã ra đi ít lâu và bà người Đức kia không được chôn trong nghĩa trang này, vì bà ta chết đuối và người ta chẳng bao giờ tìm được xác.

Chiều hôm đó, trước khi rời ngôi làng, bà nam tước đòi được lên một ngọn núi nơi có thể nhìn hết được toàn bộ vùng này. Bà thấy những lối mòn quanh co với những sắc vàng biến mất giữa mấy cụm rừng nho nhỏ màu chì, những cụm rừng trông như những quả cầu phình lên bởi nước mưa, bà thấy những ngọn đồi phủ kín cây ô liu và những đốm những vệt di chuyển với một sự chậm chạp và khó hiểu mà bà cảm thấy là thuộc thế giới này tuy nhiên không thể nào chịu nổi.

♣ ♣ ♣

Suốt một thời gian dài chẳng có tin tức gì về Archimboldi.

Chẳng như mọi người chờ đợi, Những dòng sông châu Âu vẫn bán chạy và đã được tái bản. Ít lâu sau cả Mặt nạ da cũng vậy. Tên của Archimboldi xuất hiện trong hai bài tiểu luận về văn chương Đức mới, tuy rằng trong cả hai bài tên của anh đều chỉ được nhắc sơ qua, tuồng như tác giả hai bài tiểu luận chẳng bao giờ biết chắc liệu có phải mình đang là nạn nhân của một trò đùa. Một số người trẻ tuổi đọc anh. Sách của anh là món đọc thời thượng, một sở thích theo mùa của sinh viên đại học.

♣ ♣ ♣

« Lùi
Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang