Bạn có thích ăn ớt hạt tiêu không? Nếu có, thì chắc là chỉ cắn từng miếng nhỏ, và theo quan điểm của cơ thể, bạn đã hành động đúng. Theo như lời tác giả Ấn Độ Amal Nai, ớt là “quả ăn được duy nhất trên trái đất biết cắn lại”.1 Cùi ớt có chứa capsaicin, một hợp chất nitơ kích thích màng nhầy và tấn công dây thần kinh cảm thụ có phản ứng với nhiệt, khiến ta cảm thấy nó như cơn đau cháy bỏng. Người Trung Hoa cổ đại đã biết dùng bom ớt để chiến đấu, và ngày nay cảnh sát dùng bình xịt hơi cay có chất capsaicin. Thậm chí chỉ nghĩ đến việc cắn vào quả ớt và để cho cảm giác cay từ hạt của nó lan truyền khắp lưỡi cũng đủ khiến ta rùng mình.
Nhưng có hơn một tỉ người thích thú cảm giác này. Bởi vì người Mexico, người Ấn, người Thái xài ớt không phải bằng nhúm nhỏ mà bằng cả muỗng, ớt được dùng trên khắp thế giới ngày nay nhiều hơn bất kỳ gia vị nào khác. Ớt là linh hồn món ăn của nhiều quốc gia, và rất nhiều người chỉ có thể thưởng thức được món ăn khi mà miệng họ như đang cháy, vì ớt làm thay đổi thói quen ăn uống của chúng ta. Vị trái cây và vị ngọt thì khác - những người nghiện ớt sẽ nói chúng có vị ngon hơn - khi được nhìn nhận như một thứ phụ thêm cho đồ ăn nhiều gia vị. “Nó có vị như tờ giấy ấy!”, đấy là phản ứng của một người Ấn khi gặp món rau mà theo tiêu chuẩn của người Âu đã là quá nhiều gia vị.
Người sống ở những vùng nóng hơn trên thế giới có gien khác chăng? Hay các món cà ri và món thịt bò hầm đậu đỏ ớt cay đã giết hết các nụ vị giác của họ? Không lý do nào trong cả hai đúng cả. Chất capsaicin kích thích màng nhầy của những người thường xuyên tiếp xúc với nó không ít hơn so với những người khác. Ví dụ, người Ấn chữa cay bằng sữa chua. Tuy nhiên có một thứ khác nữa giúp làm dịu bớt vị cay. Việc đó không xảy ra ở miệng mà là ở não. Những người thích ớt đã học được cách yêu loại cảm giác đau đớn khiến người khác sợ hãi này.
Hầu hết những người thích gia vị đều quen với nó từ hồi trẻ con, chủ yếu là giữa tầm bốn đến bảy tuổi, đôi khi sớm hơn. Hồi ở Ấn Độ, tôi đã chứng kiến một bà mẹ nhét một mẩu hành vào mồm đứa bé đang gào lên vì mọc răng, và đứa bé nín ngay. Nhưng người lớn cũng có thể học cách để thích nghi. Thậm chí cả người Mỹ luôn ăn đồ ăn có gia vị trung tính cũng có thể học cách thưởng thức món ớt như đã được chứng minh qua các thí nghiệm ở Đại học Pennsylvania. Điều đáng chú ý là người tiến hành thí nghiệm tăng dần lượng ớt lên và không tiếc lời khen món ăn ngon. Đầu tiên đối tượng thí nghiệm còn ngập ngừng vì không muốn lộ ra cảm giác thật của họ trước mặt mọi người, nhưng càng quen với gia vị thì họ càng thấy nó ngon hơn.(2)
Việc người ta ăn ớt tự nguyện rất đáng chú ý, bởi vì việc thích hay ghét vị đặc biệt nào đó rất khó được lập trình sâu đến vậy trong não bộ của ta. Chúng ta rất khoái vị ngọt, nhưng lại nhăn mặt lại khi nếm cái gì quá đắng. Những khuynh hướng này là di sản của tiến hóa và chúng ta cũng chia sẻ nó với những động vật khác như chuột, mèo và khỉ. Nhưng không một loại động vật nào dám thử món khiến chúng đau. Chuột ở Mexico thà chết đói chứ không chịu ăn những thức ăn cay thừa lại trong thùng rác. Và những thí nghiệm Cố gắng làm cho loài vật có thể thay đổi ác cảm với món ăn cay đều thất bại. 3)
Cảm giác của loài người, ngược lại, rất linh hoạt, chúng ta có thể học để thích thú với những thứ mà bẩm sinh hoàn toàn không quan tâm, thậm chí cả những thứ chúng ta thấy rất kinh tởm.
Hành trình đến những cảm giác mới
Khi chúng ta trải nghiệm những thay đổi loại này, não bộ của ta được lập trình lại - điều mà cho đến gần đây các nhà khoa học vẫn còn nghĩ là không thể. Thay vào đó, họ cho rằng mô tế bào chất xám và các đuôi gai (dendrite) dưới đỉnh sọ não kia là một cấu trúc rất phức tạp, được thiết định xong xuôi tại một thời điểm nào đó trước hoặc ngay sau khi ta ra đời và hầu như không thay đổi trong suốt quá trình sống. Chúng ta mới chỉ biết được quan điểm này là sai như thế nào trong vài năm gần đây. Không một hệ thống tự nhiên nào lại có khả năng thay đổi như bộ não con người.
Để thưởng thức được quả ớt, cần biết rằng nó liên quan đến cái đau, nhưng cũng có thể có những cách nhẹ nhàng hơn làm tăng sự thích thú của ta. Chúng ta có thể học cách phân biệt các vị khác nhau của rượu vang, học cách đánh giá một mối quen biết sau này có thể trở thành bạn, và học tạo thói quen biết ngỡ ngàng đôi chút trước ánh ban mai rồi mới vùi đầu đọc báo.
Chúng ta học được ở từng dịp như thế, là bởi chúng ta đã đạt được một cách trải nghiệm mới hay cách mới để làm gì đó. Và cũng như sự khởi đầu một tình bạn mới khác với việc nếm một chai vang Bordeaux hảo hạng - một việc vốn còn tinh tế hơn - các quá trình cơ bản trong não cũng khác nhau như vậy: Có cái gì đó hoạt động khác trước đây. Những kết nối mới được tạo thành trong mạng tế bào thần kinh của ta.
Cảm xúc là phản ứng của cơ thể ta đối với các kích thích. Khi có một tiếng động lớn bất ngờ phía sau, chúng ta hoảng sợ, khi nhìn thấy một khuôn mặt thân thuộc, chúng ta hạnh phúc. Có hai cách thay đổi cảm giác của ta. Chúng ta có thể thay đổi những kích thích bên ngoài mà ta đang phải đối mặt, hoặc chúng ta học nhận thức các kích thích này khác đi, tức là thay đổi cách não ta phản ứng với chúng. Nếu không muốn chịu đựng miếng ớt cay xè trong miệng, ta có thể tránh các món cay, hoặc có thể học thưởng thức cảm giác cháy bỏng trên đầu lưỡi.
Thế giới được tạo ra trong đầu ta
Nhà văn Đức Heinrich von Kleist 13 từng viết rằng nghệ thuật sống nằm ở việc hút mật từ mỗi bông hoa.” Nhưng đấy mới chỉ là một phần của sự thật. Điều đó chưa đủ để có được mật hoa trọn vẹn: chúng ta còn phải biết cách thưởng thức nó.
Thế giới chúng ta trải nghiệm về cơ bản được tạo ra trong trí não ta. Thậm chí cả những quá trình nhận thức đơn giản nhất cũng khiến bộ não mất nhiều bước để xử lý dữ liệu thô mà các cơ quan thụ cảm truyền đến. Khi xem một bộ phim, não bộ ta tự động tạo ra những ảo ảnh về chuyển động, dù chỉ có những hình ảnh đơn lẻ lập lòe trên màn hình. Khi ăn một quả táo, ta cảm được vị ngon của táo trên đầu lưỡi, mặc dù cảm nhận về mùi góp phần ít nhất cũng tương đương với cảm nhận về vị cho sự lĩnh hội của ta về quả táo. Nếu như cả mũi lẫn mắt đều bị bịt lại, ta khó lòng phân biệt được đâu là quả táo, đâu là củ khoai tây sống
Qua thực hành, ít nhất chúng ta cũng có khả năng nào đó để tác động lên quá trình xử lý dữ liệu nhiều bước nằm giữa một kích thích và sự phản ứng lại kích thích đó của ta. Ví dụ, chúng ta có khả năng phát triển giác quan ngửi và nếm một cách chính xác đến nỗi chỉ cần ngửi là có thể phân biệt được các dòng rượu vang Bordeaux khác nhau. Nhưng chúng ta cũng có thể học cách ít bận tâm hơn đến con nóng giận của một cộng sự nóng nảy. Đây cũng chính là phần thưởng mà khả năng thích nghi của bộ não con người mang lại cho ta.
Theo khía cạnh này, chúng ta mới hiểu loài người phi thường như thế nào khi so sánh với các loài khác. Nhà khoa học thần kinh người Đức Gerhard Roth đã cố gắng đo xem nhận thức và phản ứng của não bộ đã được nhạy cảm hóa
đến mức độ nào trong quá trình tiến hóa. Mạch thần kinh của con giun dẹp (loài có hệ thần kinh đơn giản nhất trong tất cả) phản ứng với mỗi kích thích bên ngoài bằng một xung động duy nhất. Đó là lý do tại sao hành vi của con gian hoàn toàn bị ngoại cảnh quy định: nó giống y một con rối giơ tay lên khi bị giật dây. Nhưng con kỳ nhông, cũng được Roth nghiên cứu kỹ, phản ứng đối với mỗi tín hiệu ngoại cảnh được truyền tiếp qua các cơ quan thụ cảm với vài nghìn xung động phát ra từ bộ não có kích thước bằng đầu kim. Thậm chí những loài động vật nguyên thủy cũng bị điều khiển không chỉ bởi môi trường của nó mà còn bởi một cuộc sống đơn giản bên trong. Vì lý do này, Roth không phải lúc nào cũng có thể phán đoán được các động vật lưỡng cư sẽ phản ứng lại ra sao với một kích thích cụ thể. Đôi khi chúng đón con ruồi được dâng tận miệng, mặc dù vừa ăn no xong. Nhưng một lần khác, dù đã mấy ngày không ăn, chúng vẫn từ chối thức ăn. Roth ước tính rằng, người thông minh chúng ta, với hệ thần kinh phức tạp hơn nhiều, sẽ phản ứng lại với mỗi tín hiệu ngoại cảnh bằng vài triệu xung động bên trong. Bộ não là cơ quan đầu tiên và trước hết tham gia vào những hoạt động của chính nó. Bởi vì phần lớn cảm giác đều tự ta tạo ra.)
Những kỹ thuật đã được kiểm chứng chắc chắn nhất của tâm lý trị liệu đều dựa trên nền kiến thức này. Đặc biệt, liệu pháp hành vi dạy chúng ta cách phản ứng trước những cảm giác khác với những cảm giác chúng ta vốn đã quen, cho phép chẳng hạn như một người mắc bệnh xấu hổ vượt qua được nỗi sợ chỗ đông người. Thậm chí đã từng xảy ra trường hợp sau khi trị liệu hành vi, một người sợ nhện có thể để cho một con nhện độc tarantula đầy lông lá bò trên tay mình. Mục đích của tâm lý trị liệu ở đây nhìn chung là giúp bệnh nhân kiểm soát được cảm xúc tiêu cực mà họ đã trải nghiệm như những giới hạn đáng sợ. Nó nhằm kéo mọi người thoát ra khỏi nỗi đau đớn sâu thẳm trong lòng. Nhưng những phương pháp tương tự cũng có thể được dùng để tăng cường cảm giác tích cực và giúp chúng ta trên con đường hướng đến hạnh phúc.
Có phải lòng biết ơn mới mẻ dành cho tia nắng sớm sáng nay đã nâng dậy tinh thần ta, hay là ngược lại, ta nhìn ngắm đắm đuối hơn những màu sắc của bầu trời bởi vì ta cảm thấy sảng khoái hơn? Câu trả lời là cả hai. Trong não bộ của ta, và do đó trong cách ta trải nghiệm, nguyên nhân và kết quả hiếm khi tách rời nhau. Con gà hay quả trứng có trước thường là một câu hỏi không đáng hỏi. Như chúng ta đã biết, hầu hết mạch thần kinh trong não bộ được kết nối chặt chẽ với nhau đến nỗi gần như mọi trải nghiệm đều có thể tự hoạt động ngược trở lại dựa trên chính nó - một nguyên tắc mà trong Công nghệ gọi là phản hồi. Khi sử dụng cơ chế này đúng cách, chúng ta tạo ra một vòng xoắn ốc chuyển động đi lên có tác động không ngừng tăng lên não bộ: chúng ta đang học những cảm giác tích cực.
Cuộc đào tạo của triết gia
Giống như hầu hết những ý tưởng tốt đẹp khác, ý tưởng rằng chúng ta có thể ngăn được bất hạnh và học được hạnh phúc xuất phát từ một truyền thống lâu đời. Các triết gia Hy Lạp cổ đại gọi việc cố gắng làm chủ được cảm giác của mình bằng cách tự kiểm soát là askesis. Ngày nay chúng ta thường có xu hướng liên tưởng chủ nghĩa khổ hạnh (asceticism) 14 với sự diệt trừ cái tôi và nghĩ về những người nhịn ăn, tự đánh đập mình bằng roi bạch dương. Song những thứ này mới xuất hiện từ thời Trung cổ. Thời Hy Lạp cổ đại, askesis chỉ đơn giản có nghĩa là “luyện tập”. “Mọi thứ đều là luyện tập” là câu nói được cho là của Periandrosul 15 , một trong những tư tưởng gia sớm nhất trong lịch sử triết học.
Những triết gia về sau đã mở những nơi về bản chất là trường học hạnh phúc để rèn luyện trí óc cho học trò của họ. Sự chia tách giữa khoa học và nghệ thuật sống như ngày nay đối với họ là một điều xa lạ. Trong khi ở thời đại của chúng ta triết học thường được quan niệm là môn cung cấp một nền tảng lý thuyết cho kiến thức, thì các triết gia Hy Lạp và La Mã nghĩ rằng sự hiểu biết chỉ có tác dụng khi mọi người được đào tạo để áp dụng chúng. “Triết học bao gồm hai phần”, triết gia Khắc kỷ AristonII) đảo Chios giải thích. “Người hiểu đúng cái gì phải làm và cái gì nên tránh chưa phải là người thông thái, và sẽ không phải người thông thái chừng nào trí óc anh ta chưa hòa trộn hoàn toàn với những điều đã được nó thừa nhận là đúng và sai.” (6)
Mục đích của các triết gia là nhằm hình thành tính cách của học trò để họ có thể sống một cuộc sống hạnh phúc và cân bằng hơn. Vấn đề mấu chốt là việc lặp lại có mục đích một số trải nghiệm nhất định. Người thầy có cả kho các bài tập luyện để tạo cho học trò quen với các quy tắc của hạnh phúc. Họ gọi chuỗi hành động này - theo đó dùng lý trí để khuất phục lòng tham lam, sự ghen tuông và nỗi sợ chết - là phương pháp trị liệu. Học trò luôn phải tự nhắc nhở mình liên tục rằng những cảm giác tiêu cực là có tính phá hoại, để dần dần có thể giải thoát đầu óc mình khỏi những cảm giác đó.
Thêm nữa, những bài tập luyện tăng độ nhạy cảm được đặt ra để giúp học trò mở rộng ý thức cho những cảm giác tích cực. Với tuyên bố rằng không ai có thể làm chủ được tương lai, Epicurus 16 khuyến cáo học trò của mình không nên hoãn sự sung sướng lại. Ở đây, người thầy cũng nhấn mạnh sức mạnh của thói quen hơn là lời nói. Trước khi đi ngủ mỗi buổi tối, học trò phải tự hỏi mình xem trong suốt cả ngày họ có sống theo phương châm tận hưởng hiện tại 17 không.” (7)
Cuối cùng, học trò được yêu cầu luyện những bài tập mà trong đó họ sẽ hình dung ra một góc nhìn bên ngoài mình để quan sát xem những lo lắng và nhu cầu của họ tầm thường như thế nào khi đứng từ ngoài trông vào. Trong Vườn Epicurell 18 - là cụm từ mà triết phái này tự gọi mình - việc hình dung ra phản ứng bình tĩnh của Thầy đối với mỗi tình huống cụ thể là chuyện bình thường. Ngày nay, các nhà khoa học thần kinh đã xác nhận giá trị của việc rèn luyện tinh thần theo cách này, bởi vì trí tưởng tượng có thể định hình não bộ đến mức độ gần bằng như trải nghiệm thực tế (8)
Trong tập thơ Metamorphoses (Biến đổi), nhà thơ Ovid 19 còn làm một cuộc hành trình vào trong vũ trụ để thực hành hạnh phúc: “Tôi hân hoan trong hành trình giữa những vì sao xa; tôi hân hoan bỏ lại trái đất cùng những khoảng không u ám, để cưỡi lên những đám mây, tôi đứng trên vai Atlas khổng lồ,từ cao tít nhìn xuống loài người, rồi lang thang đâu đó, lòng rũ sạch tri thức, lo lắng và nỗi sợ chết.” (9)
Tái thiết não bộ
Hơn hai nghìn năm sau Ovid, nhà tâm lý học Ivan Pavlov đã tiến hành một loạt thí nghiệm tại bệnh viện thuộc trường đại học ở St. Perterburg. Ông nhận thấy rằng, những con chó chỉ cần nhìn thấy ông mặc áo khoác thí nghiệm vào buổi trưa là đã bắt đầu chảy nước miếng. Một người thờ ơ hơn hẳn sẽ đồ rằng lũ chó đang mong chờ bữa ăn của chúng và không nghĩ gì thêm. Nhưng Pavlov, nhà nghiên cứu đầy nhiệt huyết, thì lại muốn biết nhiều hơn thế: Làm thế nào lũ chó học được cách phản ứng tích cực này?
Đầu tiên, ông khởi động một cái máy tạo nhịp gõ. Sau đó ông rải bột thịt trước mũi lũ chó. Ông gom nước bọt và dịch tiêu hóa của chúng lại, đổ qua phễu vào ống dẫn đến một xi lanh bằng giấy có thể quay tròn được. Theo cách này, ông có thể xác định chính xác khi nào lũ chó đói. Sau một khoảng thời gian, nước bọt bắt đầu tiết ra ngay khi lũ chó nghe tiếng gõ của máy tạo nhịp,ngay cả khi ông không cho chúng tế thịt nào. Từng bước,Pavlov làm thay đổi phản ứng thèm ăn tự nhiên của lũ chó. Ông đã khám phá ra cơ sở của sự học.
Với những thí nghiệm này, Pavlov giành được giải Nobel năm 1904, và lũ chó của ông trở thành những con vật thí nghiệm nổi tiếng nhất trong lịch sử. Ông trở thành một trong những nhà khoa học đầu tiên đặt những khám phá tâm lý của mình dựa trên những chứng cứ có thể tái tạo. Nhưng tại thời điểm đó không ai có thể hiểu được bộ não của lũ chó làm việc như thế nào để giải thích cho hành vị của chúng.
Phải mất nhiều thập kỷ cho đến khi các nhà khoa học làm sáng tỏ được bí mật của quá trình học. Đầu tiên, họ phải tìm cách tiếp cận đơn vị nhỏ nhất của não bộ, các tế bào thần kinh. Để thay đổi hành vi và cảm xúc của ta, não bộ phải thay đổi, và những thay đổi này bắt nguồn từ các tế bào thần kinh.
Mỗi tế bào chất xám này hoạt động như một cái máy tính tí hon, và mỗi tế bào thần kinh đều được kết nối với nhau sao cho các tín hiệu của chúng có thể tích hợp lại và gửi tới cả nghìn tế bào thần kinh khác. Nhưng các tế bào này có thể tự thay đổi cách thức chúng xử lý những tín hiệu đến. So sánh với các tế bào thần kinh thì máy tính để bàn thực sự là loại máy móc cứng đầu. Nếu máy tính cá nhân, với tất cả quyền năng của nó, có một khả năng tương tự, thì chúng hẳn sẽ có khả năng thích nghi - và ương ngạnh - như một con vật nuôi biết cảm nhận và tự thay đổi theo những ý thích và không thích của chủ nó.
Nhưng làm sao những tế bào nhỏ xíu ấy, không thể nhìn thấy bằng mắt thường, lại có thể làm được kỳ tích như vậy? Chúng hoạt động theo kiểu “cái gì giống nhau thì cuốn hút nhau”. Mọi tế bào thần kinh đều thích nghi với môi trường xung quanh chúng, hoặc chính xác hơn là, với những tín hiệu mà chúng tiếp nhận từ “xóm giềng”. Các tế bào thần kinh không truyền tín hiệu theo kiểu dòng chảy. Chúng phát nổ hàng loạt. Khi hai tế bào cùng nổ liên tục tại một thời điểm, thì mối liên kết giữa chúng, còn gọi là khớp thần kinh, sẽ trở nên bền vững. Theo như các nhà kinh học, “Những tế bào phát nổ cùng nhau sẽ kết nối với nhau”.
Và đó chính là điều xảy ra trong não bộ những con chó thí nghiệm của Pavlov. Bởi ông đã bật máy tạo nhịp gõ trùng với lúc cho những con chó ăn, nên hai tổ hợp tế bào thần kinh trong não lũ chó phản ứng với thịt” và “tiếng gõ của máy tạo nhịp” cùng nổ tại một thời điểm. Tần suất sự việc xảy ra càng lớn thì mối liên kết giữa các tế bào thần kinh càng mạnh. Sau một khoảng thời gian, sự liên kết mạnh đến nỗi những tế bào phát nổ khi phản ứng lại tiếng gõ đã kích hoạt luôn mạch thần kinh thèm ăn tại cùng thời điểm - hệt như quân cờ domino làm đổ quân tiếp theo.
Cái nguyên tắc rằng những thứ có liên quan với nhau thì hợp lực với nhau là rất thích đáng trong sinh học, và cũng áp dụng cho cả não bộ. Nó giải thích tại sao sau bao nhiêu năm từ khi bị bỏng vì cái bếp lò, ta vẫn còn nhớ. Nhờ một số trải nghiệm đau đớn thời niên thiếu, trí óc ta vẫn ghi nhớ được mối liên kết mạnh giữa “bếp lò” và “nóng” đến mức mỗi khi tiếp xúc với bếp lò ta đều hết sức cẩn trong một cách vô thức.
Sự rèn tập tạo ra những kết nối này gọi là Luật Hebb về sự học, sau khi nhà tâm lý học người Canada Donald Hebb, ngay từ năm 1949 đã phỏng đoán chính xác rằng mỗi tế bào thần kinh đơn lẻ đều chịu trách nhiệm cho việc học. Mọi sự học đều vận hành theo nguyên tắc này, dù đấy là ghi nhớ từ vựng, luyện các bước của điệu nhảy mới, hay bắt đầu thưởng thức mùi vị của một loại quả lạ - trong môi trường hợp đó, chúng ta đều đang thay đổi hàng trăm kết nối giữa các khớp thần kinh trong não bộ của ta.

NÃO BỘ ĐANG HỌC
Não bộ bao gồm 100 tỉ tế bào thần kinh, mỗi tế bào hoạt động như một máy tính nhỏ. Thông qua một mạng gồm nhiều các nhánh, các đuôi gai, tế bào nhận xung động thần kinh từ những tế bào thần kinh khác. Nó xử lý những xung động này và gửi kết quả qua lối ra của nó, gọi là sợi trục thần kinh (axon), tới các tế bào thần kinh khác. Chỗ tiếp xúc giữa hai tế bào thần kinh gọi là khớp thần kinh (hình phóng to bên trái). Khi có một xung động thần kinh xuất hiện, chất truyền dẫn thần kinh (ví dụ như dopamine phân tử tạo cảm giác hạnh phúc) sẽ được giải phóng. Phía bên kia của khớp thần kinh là các cơ quan tiếp nhận những chất truyền dẫn đã được giải phóng này. Chúng nhận những tín hiệu hóa học này và giải phóng ra một xung động thần kinh mới. Khi ta học điều gì đó, cấu trúc của những tế bào này sẽ thay đổi. Quá trình xử lý bên trong mỗi tế bào và thậm chí cả hình dáng của các tế bào thần kinh cũng thay đổi. Ở một số chỗ, các đuôi gai có thể biến mất, và mạng mới sẽ sinh ra ở đâu đó. Như vậy, các tế bào thần kinh thay đổi liên tục, như cây cối trong một khu vườn.
Quan sát mạng dây thần kinh thay đổi
Khi bạn đọc xong cuốn sách này,não của bạn trông sẽ khác so với trước khi đọc. Những thay đổi của tín hiệu điện trong các tế bào thần kinh không những đo được qua thí nghiệm, mà còn có thể quan sát được trực tiếp trong não bộ. Phép màu nhỏ bé này trở thành hiện thực nhờ nhà sinh học thần kinh người Đức Tobias Bonhoeffer vào năm 1999. Với loại kính hiển vi mới, ông đã quan sát và ghi hình được những tế bào thần kinh sống đang thay đổi.10) Sử dụng mô thần kinh của chuột, ông đã cho những tế bào thần kinh sống lấy từ một phần của não bộ đóng vai trò quan trọng trong trí nhớ dài hạn vào một dung dịch chất nuôi dưỡng, đánh dấu từng tế bào bằng một vệt phát quang, và kết nối chúng với những dây điện siêu mỏng. Bằng cách lặp đi lặp lại những xung điện cưỡng bức hại tế bào thần kinh cùng một thời điểm, ông đã kích hoạt hai nhận thức tương ứng, như hai tín hiệu “bếp lò” và “nóng”. Sau khoảng nửa giờ đồng hồ, các cục u xuất hiện từ đuôi gai của các tế bào thần kinh, còn gọi là các nhú lồi của đuôi gai (dendritic spine), tạo nên kết nối giữa các tế bào thần kinh. Và một kết nối mới giữa các khớp thần kinh trong não đã được hình thành.(11)
Những thước phim của Bonhoeffer không những là hình ảnh ngoạn mục về bộ não trong trạng thái biến đổi mà còn đưa ta đến tận cốt lõi của quá trình.
Trước tiên, sự lặp đi lặp lại đóng một vai trò quyết định. Tần số kích hoạt các tế bào thần kinh càng cao thì khả năng kết nối bền vững được thiết lập càng chắc chắn. Càng bấm một số điện thoại nhiều lần, ta càng nhớ số đó nhanh hơn. Việc học các phản ứng cảm xúc cũng diễn ra tương tự như vậy. Một khi các kết nối đã được tạo ra, thì sự lặp lại sẽ duy trì chúng.
Thứ hai, việc học diễn ra tự động. Những tế bào thần kinh mà Bonhoeffer thí nghiệm không hề nhận một mệnh lệnh nào rằng có cái gì đó nó phải học ngay. Xét cho cùng, chúng đã được tách hẳn ra khỏi bộ não. Dẫu sao thì việc tạo ra những kết nối mới đơn giản là bởi vì các kích thích xảy đến cùng một thời điểm. Mọi thứ chúng ta nhận biết, cảm nhận hoặc suy nghĩ đều thay đổi não bộ của ta, dù ta Có muốn hay không.
Vấn đề chỗ đỗ xe
Giống như những nếp cười in đậm trên khuôn mặt những người thường xuyên hạnh phúc, cảm giác cũng để lại những dấu ấn của nó trong não bộ. Tác dụng của việc lặp đi lặp lại cảm xúc buồn hoặc vui cũng giống như những giọt nước rơi tí tách xuống từ mái nhà. Mỗi giọt biến mất nhanh chóng, nhưng qua thời gian, hằng hà sa số hạt có thể tạo thành cả một con mương, một lòng sông, một thung lũng. Sự vui vẻ có thể trở thành thói quen, và sự khó chịu cũng vậy. Đây là minh chứng về mặt thần kinh thuyết phục cho lời khuyên chí lý rằng hãy nuôi dưỡng những cảm giác tích cực và ngăn ngừa những cảm xúc tiêu cực.
Những phản ứng cảm xúc cũng tự thiết lập trong não bộ theo Luật Hebb về sự học, quá trình mà Bonhoeffer đã ghi hình lại. Một ví dụ đơn giản: chỉ cần một ai đó nhanh chân đỗ xe ngay vào chỗ mà bạn định lùi vào thì cũng đủ để cơn thịnh nộ của bạn bùng nổ, và tệ hại hơn, nó còn để lại một vết mòn cho tương lai. Lần tới, khi bị ai đó cư xử khó chịu khi tham gia giao thông, ta có thể phản ứng còn thô bạo hơn, bởi vì mối liên kết giữa “tài xế thô lỗ” và “thịnh nộ” đã được gia cố mạnh thêm.12) Lấy độc trị độc chẳng khác nào đổ thêm dầu vào lửa. Thay vì kiểm soát những cảm giác khó chịu, chúng ta lại dễ bị chúng làm tổn thương hơn.
Như chúng ta đã biết ở chương trước, thùy trước trán rõ ràng được tạo ra để kiểm soát những cảm xúc tiêu cực. Thậm chí ngay cả khi chúng ta giận điên lên, hay sự phát khiếp, thì đó cũng là lợi thế để đặt cảm xúc của ta vào tầm kiểm soát. Khi tập luyện việc tự kiểm soát, ta sẽ có một tác động kép lên não bộ. Thứ nhất, chúng ta ít có khả năng phản ứng tiêu cực lúc ban đầu, bởi vì kết nối giữa kích thích và phản ứng cảm xúc tương ứng bị yếu đi. Thứ hai, chúng ta tăng cường được khả năng (đặc biệt là của thùy trước trán) kiềm chế những cảm xúc đó, nếu sau cùng chúng vẫn bùng lên. Cũng giống như những thành tựu khác, việc kiểm soát cảm xúc một cách có ý thức cần được luyện tập. Và luyện tập, đến lượt nó, lại làm thay đổi cấu trúc não bộ
- với kết quả rằng, theo thời gian, chúng ta học được cách xử lý những cảm giác của mình dễ dàng hơn.
Không có gì đứng yên
Mặc dù sự thay đổi trong não bộ bắt đầu từ những đơn vị nhỏ nhất là tế bào thần kinh, nhưng mọi sự không dừng lại đấy. Những thói quen có thể thay đổi toàn bộ các phần của não bộ nhiều và nhanh thế nào, điều này đã được nhà thần kinh học người Mỹ Latinh Alvaro Pascual-Leone chỉ ra trong quá trình ông nghiên cứu người khiếm thị. Ví dụ, khi một người khiếm thị phát triển mạnh xúc giác để bù lại việc mất khả năng nhìn, thì các ranh giới phân vùng trong não bộ sẽ thay đổi. Điều này rõ ràng nhất tại các phần của vỏ não chịu trách nhiệm cho ngón tay trỏ.(13) Do người mù đọc chữ nổi bằng ngón này, nên họ có nhiều chỗ trong não cho nó hơn người bình thường. Và thật ngạc nhiên, chỉ mất vài giây để vùng não này phát triển hơn so với các vùng khác. Pascual-Leone nhận ra rằng những vùng não chịu trách nhiệm cho ngón tay đọc sách đã mở rộng ra ngay vào buổi tối sau ngày đầu tiên một biên tập viên khiếm thị làm việc. Và sau kỳ nghỉ cuối tuần thì chúng co lại tí chút.(14)
Toàn bộ những vùng não có thể thay đổi nhanh đến vậy không phải là kết quả của tình trạng khiếm thị mà đơn giản là kết quả của một quá trình hằng ngày, như rất nhiều thí nghiệm khác nhau đã chỉ ra.(15)
Tuy nhiên, không phải tất cả các hệ thống trong não bộ đều có thể linh hoạt được như phần vỏ não chi phối xúc giác. Một số không thay đổi ngay trong vài ngày được, mà phải mất hàng tuần thậm chí hàng năm để tái cấu trúc. Và một số vùng khác của não bộ chỉ phát triển vào một thời điểm nhất định của cuộc đời, như thời thơ ấu chẳng hạn.
Khi sự vật thay đổi chậm rãi thì ta có cảm giác như chúng không thay đổi gì cả. Như chúng ta quan sát cỏ mọc vậy. Ví dụ rất nhiều người thất vọng vì họ không có cảm giác về phương hướng và luôn bị lạc đường. Nhưng họ cũng Có thể học cách tìm đường đi dễ dàng. Họ phải rèn luyện những vùng não như thủy hải mã, vốn chịu trách nhiệm về trí nhớ không gian. Tuy nhiên, những mạng thần kinh này nằm sâu trong não bộ và nói chung không thay đổi dễ dàng như vỏ não, vì chúng là di sản tiến hóa cũ xưa hơn nhiều. Nhưng chúng cũng có thể lớn lên và co lại. Điều này đã được nhà tâm lý thần kinh học London là Chris Frith chứng minh khi ông khảo sát não bộ của các lái xe taxi ở London. Nếu muốn trở thành tài xế taxi London, bạn phải trải qua một kỳ thi sát hạch bao gồm không dưới 467 tuyến đường. Khi rốt cuộc đã có được bằng lái xe trong túi, bạn có thể lái xe khắp một trong những mê cung đường phố rối rắm nhất châu Âu nhiều năm trời. Hoạt động này sẽ để lại những đường mòn trong não bộ của lái xe, và một số phần ở thùy hải mã của họ mở rộng ra - mức độ mở rộng tùy vào số năm làm việc trong mạng lưới giao thông hỗn độn của London (16)
Suối nguồn tươi trẻ trong đầu ta
Phải mất một chặng đường dài từ gia cố một kết nối thần kinh tới tái thiết toàn bộ một vùng não, và phải trải qua nhiều bước để hoàn thành Mbretha: trong các tế bào thần kinh. Các phản ứng sinh hóa trong tế bào điều chỉnh hoạt động của tế bào, hình dáng các phân tử protein thay đổi, các đường dẫn trong thành tế bào mở ra, và lượng chất truyền dẫn được giải phóng tăng lên. Những quá trình này đều làm cho dòng chảy thông tin giữa hai tế bào thần kinh được thuận tiện hơn, một bước đầu tiên trong quá trình học - còn được gọi là tạo tiềm lực ngắn hạn (short-term potentiation) - bước này giống như đang mở những cánh cửa của tế bào ra.(17)
Bước tiếp theo, tạo tiềm lực dài hạn (long-term potentiation), là những cánh cửa thông tin mới được tạo ra. Bây giờ những protein thông tin đặc biệt tác động vào vật liệu di truyền trong tế bào thần kinh và kích hoạt gien trong nhân tế bào. Những gian này ra lệnh cho tế bào thần kinh thay đổi hình dáng của chúng và chỉ huy việc sản xuất protein làm vật liệu xây dựng cho những kết nối mới. Các nhú lồi nhỏ của đuôi gai phát triển. Chúng liên kết với đuôi gai tương ứng của các tế bào thần kinh bên cạnh để tạo ra các khớp thần kinh mới. Theo thời gian ngày càng có nhiều đuôi gai mọc ra từ trục chính của đuôi gai, còn đuôi gai thì kết nối tế bào thần kinh này với các tế bào thần kinh khác. Nhờ những kết nối mới này, các tín hiệu chảy vào trong tế bào thần kinh.
Tế bào thần kinh phải tiêu tốn năng lượng để tạo ra tiềm lực dài hạn. Vì lý do này, bước tiếp theo chỉ xảy ra khi đã chắc chắn rằng kết quả bảo đảm được điều đó. Chỉ khi các kích thích sẽ được liên kết với nhau trong trí nhớ đã xuất hiện cùng nhau đủ nhiều lần thì cầu nối mới sẽ phát triển trong não bộ - đấy là lý do mà sự nhớ cần lặp lại và tập luyện.
Sự tạo tiềm lực dài hạn cũng bị tác động bởi các hóa chất truyền tin là serotonin và dopamine, hai chất truyền dẫn thần kinh đóng vai trò thiết yếu trong việc tạo ra những cảm giác tích cực. Những chất tương tự cho phép chúng ta trải nghiệm sự dễ chịu, thích thú hay cảm thông cũng đóng vai trò then chốt trong việc tái cấu trúc não bộ. Đây không phải sự trùng hợp ngẫu nhiên, vì như chúng ta sẽ thấy, quá trình học và trải nghiệm hạnh phúc là mối liên kết không thể tách rời.
Các yếu tố tăng trưởng thần kinh cũng phải ở đúng vị trí để cho các kết nối mới có thể phát triển trong não bộ. Đây là những chất có chức năng như tên gọi của chúng: chúng lo liệu để các tế bào thần kinh phát triển những đuôi gai mới. (18) Các yếu tố tăng trưởng thần kinh không chỉ là phân bón tự nhiên cho các tế bào xám mà còn là thuốc trường sinh cho não. Không có chúng, các tế bào não sẽ chết.
Nhiều khả năng có một mối liên kết giữa tâm trạng của ta với số lượng các yếu tố tăng trưởng thần kinh tồn tại trong não bộ. Số lượng của những chất này do cơ thể tạo ra được kiểm soát chủ yếu bởi chất truyền dẫn serotonin.(19) Nếu chúng ta buồn phiền, mức serotonin hạ thấp dần, và các tế bào xám sẽ chết. Các cảm xúc tích cực thì ngược lại, giữ cho não bộ luôn sống, bởi vì những kết nối mới sẽ được tạo ra dễ dàng hơn khi serotonin và dopamine lưu thông dồi dào trong não bộ. Theo cách này, hạnh phúc thực sự là suối nguồn tươi trẻ của não.
Bộ não là một khu vườn
Nhưng ngay cả nếu ta luôn sống trong những tâm trạng tốt nhất, thì nguồn cung cấp các yếu tố tăng trưởng thần kinh cũng không kéo dài mãi mãi được. Theo cách nào đó, sự phát triển của não bộ cũng giống như một khu vườn: cả hai khía cạnh, vật chất chết dễ dàng nếu nó không phát triển, và những gì muốn phát triển phải cạnh tranh để được nuôi dưỡng và có không gian. Não bộ cũng biết được cách tiết kiệm nguồn tài nguyên của nó và thường chỉ khai thác các yếu tố phát triển khi nhu cầu thực sự cấp thiết - quan tâm đến các kết nối đang trong quá trình hình thành, hoặc các kết nối thường xuyên được sử dụng và do vậy là đặc biệt quan trọng.
Mặt khác, những kết nối ít hoạt động thì nhận được ít yếu tố tăng trưởng thần kinh hon. Dần dần chúng thoái hóa, như cây không được bón phân. Dùng kính hiển vi điện tử, chúng ta thậm chí có thể quan sát thấy các kết nối không hoạt động trong não bộ của động vật dần dần biến mất như thế nào. (20) Thật thú vị khi biết việc những kết nối thần kinh chết đi cũng quan trọng đối với cơ thể không kém việc tạo ra những kết nối mới. Chỉ khi một kết nối cũ biến mất thì một vùng của não bộ mới có thể đảm đương được một chức năng mới - nếu muốn gieo một luống hoa mới thì ta phải nhổ cỏ dại trước. Chỉ khi rất nhiều tế bào thần kinh giải tán những kết nối cũ và tạo ra những kết nối mới thì một vùng của não bộ mới có thể bắt đầu tự tái cấu trúc.
Những gì mà não bộ có thể làm được chắc chắn không có sẵn từ bẩm sinh. Chúng ta có thể tăng khả năng của nó, nhưng chúng ta cũng có thể phá hủy nó. Cũng giống như cơ bắp, các tế bào xám cần một sự luyện tập thường xuyên để có thể giữ được vóc dáng. Tài năng mà không được khuyến khích thì cũng thui chột. Điều này áp dụng đối với mọi hoạt động của não bộ. Như chúng ta có thể học đánh máy, học tiếng Tây Ban Nha, hoặc luyện tăng cường nhận thức của ta, thì chúng ta cũng có thể luyện khả năng của mình để trở nên hạnh phúc.
Chó già có thể học được những trò mới
Theo nghiên cứu gần đây, chỉ có một vài chức năng mà khi đã trưởng thành dù có luyện tập cũng không tiến bộ được. Một trong số đó là thị giác. Nếu như các trung tâm điều khiển chức năng thị giác trong não bộ không được luyện từ hồi ấu thơ, chúng sẽ không có khả năng phát triển sau này. Đây là lý do tại sao một đứa trẻ sinh ra bị mờ giác mạc và phẫu thuật quá muộn sẽ bị mù suốt đời. Ánh sáng có thể tiếp xúc với võng mạc thường xuyên, nhưng não bộ thì không thể xử lý được hình ảnh.
Nhưng đây chỉ là một trường hợp hãn hữu. Hầu hết những con chó già có thể học được các trò mới. Mặc dù việc chúng ta học ngoại ngữ dễ dàng hơn khi còn trẻ là đúng, nhưng ta vẫn có thể học tiếng Pháp, Ả Rập và thậm chí tiếng Trung khi tuổi đã cao.
Và do đó, việc học các cảm giác tích cực cũng vậy. Những kết nối trong não ta quyết định chúng ta cảm thế nào, và hầu hết là chúng được hình thành dễ dàng hơn từ thời thơ ấu. Như chúng ta đã biết, các mạch thần kinh giải phóng ra cảm xúc bên dưới vỏ não, nhưng thùy trước trán mới có thể học điều khiển chúng một cách ý thức và ngăn không cho những cảm giác tiêu cực như buồn chán hay sợ hãi chiếm thế thượng phong. Và như trung tâm xử lý ngôn ngữ đặc biệt dễ tiếp thu trong thời ấu thơ, những trung tâm của thùy trước trán này cũng đặc biệt dễ huấn luyện trong những năm đầu đời. Một đứa trẻ vui tươi là đứa trẻ đã học cách xử lý cảm giác của chúng từ rất sớm.
Tuy nhiên, chúng ta không phải là nô lệ của việc dưỡng dục thời thơ ấu. Không nhiều người biết hai ba ngoại ngữ là do học từ lúc nhỏ. Cho nên, người trưởng thành hoàn toàn có khả năng học những phương pháp mới để xử lý cảm giác của họ.
Điều này đã được nhà tâm thần học Lewis Baxter ở California chứng minh một cách ấn tượng khi nghiên cứu những bệnh nhân bị chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế nặng - ví dụ, họ không thể cưỡng lại được thôi thúc quay lại nhà liên tục để kiểm tra xem tất cả các vòi nước đã tắt chưa. Những bệnh nhân quyết định điều trị bằng thuốc thì được uống Prozac, loại thuốc không những có tác dụng với trầm cảm mà còn trị được bệnh rối loạn ám ảnh cưỡng chế. Những bệnh nhân còn lại được điều trị trong một khóa tâm lý trị liệu kéo dài ba tháng, tại đó họ học cách hướng sự chú ý ra khỏi những cảm giác cưỡng ép ngay khi chúng xuất hiện. Liệu pháp tâm lý và phương pháp điều trị bằng dược phẩm đều có hiệu quả gần như tương đương nhau. Cả hai liệu pháp đều giúp khoảng hai phần ba số bệnh nhân kiểm soát được tình trạng rối loạn của họ.
Những thay đổi tích cực của cảm giác và hành vi có thể quan sát được trong các hoạt động của não bộ bệnh nhân, đã được kiểm tra bằng máy chụp cắt lớp PET trước và sau khi điều trị. Có một sự khác biệt rõ ràng trong thùy trước trán cũng như trong hai vùng dưới của vỏ não: đồi thị (thalamus) và nhân đuôi (caudate nucleus). Trước khi trị liệu, tương tác giữa các cấu trúc này hoàn toàn bị rối, giống như dàn nhạc bị mất nhịp. Nhưng sau quá trình trị liệu, chúng đã quay trở lại nhịp độ thông thường. Rõ ràng, một kết nối giữa chúng đã được thiết lập, cho phép thùy trước trán kiểm soát được những thôi thúc ám ảnh.(21)
Hoạt động não bộ của bệnh nhân đã được chữa khỏi trầm cảm - dù bằng trị liệu tâm lý hay bằng thuốc - cũng thay đổi theo cách tương tự.2) Ứng với cùng một mức độ cải thiện tâm trạng, hoạt động trong nửa não trái (chịu trách nhiệm cho cảm giác tích cực) cũng gia tăng. (23)
Những nghiên cứu này không chỉ là chứng cứ thuyết phục về tính mềm dẻo của não bộ đối với cảm giác, mà còn chỉ ra cách thức điều trị hiệu quả hơn cho bệnh tâm thần. “Chúng ta đứng trước một khả năng hấp dẫn, đó là khi những kỹ thuật chụp ảnh não bộ hoàn thiện hơn, chúng rốt cuộc trở nên hữu ích không chỉ cho việc chẩn đoán các loại bệnh thần kinh mà cho cả việc giám sát tiến trình trị liệu tâm lý, nhà khoa học thần kinh người Áo Eric Kandel, đoạt giải Nobel năm 2000 và khám phá ra các quá trình học của tế bào, đã phát biểu như vậy.(24)
Minh triết phương Đông
Ý thức của ta có ảnh hưởng lớn tới cách cảm xúc định hình não bộ. Ví dụ như, với loài khỉ, các tế bào thần kinh chịu trách nhiệm nhận thức sẽ phản ứng với ánh sáng dễ dàng hơn khi con khỉ hướng sự quan tâm về phía ánh sáng.255 Tương tự với người, rất nhiều hình thức học tập gắn chặt với nhận thức có ý thức - một người mới tập đi xe đạp không thể nào học được đạp xe nếu không tập trung hoàn toàn. Rõ ràng sự gắn kết có ý thức với một đối tượng sẽ làm tăng khả năng ghi nhớ trong não bộ.
Mặc dù chúng ta vẫn thiếu những chứng cứ bệnh học thần kinh thuyết phục, nhưng dường như chúng ta càng gắn kết với các cảm giác tích cực hơn thì chúng càng phát triển mạnh hơn. Những người luôn hưởng thụ trọn vẹn những giây phút tươi đẹp của cuộc đời là cũng đang hành động hợp lý: hẳn là họ đang tái tạo hình dáng não bộ để sống tốt hơn.
Đấy đã luôn là quan điểm của triết học phương Đông - thần kinh-tâm thần học hiện đại có rất nhiều điểm chung với triết học phương Đông. Các cảm xúc vô thức được coi là CÓ ý nghĩa đặc biệt đối với cả tâm lý học Phật giáo lẫn thần kinh học, và cả hai đều đi đến kết luận rằng trí não được hình thành qua trải nghiệm. Nhưng tâm lý học Phật giáo luôn luôn công nhận một điều mà triết học phương Tây đã ngờ vực tranh luận một thời gian dài, đó là quan niệm có một hoạt động tinh thần vô thức thâm nhập vào trí não qua một cổng (được gọi là manodoara - ý môn).(26) Thần kinh tâm thần học ngày nay hiểu bộ não theo cách tương tự: cảm xúc là trạng thái vô thức của cơ thể, trong khi cảm giác là những nhận thức có ý thức. Theo tâm lý học Phật giáo và các nghiên cứu về não bộ thì trí óc được hình thành bởi các trải nghiệm. Ở điểm này, lĩnh vực nghiên cứu về tính linh hoạt của thần kinh đang tiến bộ nhanh đến mức chúng ta sẽ sớm có thể nói nhiều hơn nữa về những vấn đề này.
Nhà thần kinh-tâm thần học Herta Flor người Đức đã Có những bước tiến đáng kể trong lĩnh vực này, bà chỉ ra rằng khi ta tập trung vào nỗi đau, những thay đổi trong vỏ não sẽ làm chúng ta nhạy cảm hơn với đau đớn. Nói cách khác, nhận thức về nỗi đau ít nhất có thể được học phần nào. Khảo sát người bị bệnh đau lưng kinh niên, Flor nhận ra rằng khi mà những người thân quan tâm đến họ quá mức, thì cơn đau đớn lại tăng lên. Còn những người ốm than vãn nhưng bị người thân phớt lờ thì dường như ít nhạy cảm với đau đớn hơn. Bà cũng chứng minh điều này qua thí nghiệm với những bệnh nhân nhúng tay vào nước đá. Những người nhận được nhiều sự cảm thông hơn thường có hoạt động não mạnh hơn: họ đau thật sự. Chúng ta có lẽ hay nói rằng người nhạy cảm hơn thì cần và nhận được nhiều sự quan tâm hơn. Nhưng thật ra thì ngược lại mới đúng. Ngay khi người thân quan tâm hết mực kia rời khỏi phòng, não của bệnh nhân phản ứng yếu đi đối với cái nhức nhối do nước lạnh gây ra. Những người bị ám ảnh mạnh bởi đau đớn đã làm cho nhận thức của mình về nó nhạy bén hơn. Flor có thể quan sát trong máy chụp não để biết qua thời gian những vùng não lớn hơn bắt đầu tham gia vào quá trình xử lý nỗi đau ra sao: nói theo ngôn ngữ thần kinh học, thì sự đau đớn bắt đầu được lập trình.(27)
Quan điểm của Phật giáo về cách trí óc được hình thành do ta hướng sự quan tâm đến cảm giác của mình, điều này được Thích Nhất Hạnh, một thiền sư-nhà văn người Việt Nam nhập cư vào Pháp và muốn truyền kiến thức Phật giáo của mình tới người phương Tây, trình bày. Lời của ông đọc như một phiên bản đậm chất thơ cho tư tưởng chủ đạo của chương này: “Các sách vở truyền thống mô tả ý thức như là một cánh đồng, một mảnh đất, mà trên đó gieo tất cả các loại hạt giống - hạt đau khổ, hạt hạnh phúc, hạt niềm vui, hạt nỗi buồn, hạt sợ hãi, hạt bực bội và hạt hy vọng. Và truyền thống cũng mô tả trí nhớ cảm giác như là một nhà kho chứa đầy các hạt giống của ta. Ngay sau khi một hạt hiển lộ trong ý thức ta, nó sẽ luôn trở lại nhà kho mạnh mẽ hơn trước... Mỗi giây phút đơn lẻ chúng ta cảm nhận điều gì đó thanh bình và đẹp đẽ là chúng ta đang tưới tắm cho các hạt giống thanh bình và đẹp đẽ trong mình... Và cũng trong thời gian đó thì những hạt giống khác như sợ hãi hay đau đớn không được chăm lo."(28)
Chẳng có gì ngạc nhiên khi những tri thức tôn giáo nhất quán nhất với những khám phá của khoa học thần kinh đều xuất phát từ các trường phái tôn giáo và triết học phương Đông. Không ai trên hành tinh này lại quan tâm đến tâm trí một cách lâu dài và sâu sắc như người Nam Á và Đông Á. Lý do nằm trong tôn giáo của họ. Sự khác biệt giữa các tôn giáo phương Tây với Ấn Độ giáo và Phật giáo là ở cách hiểu về cội nguồn chân lý. Trong khi Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo tìm kiếm chân lý trong một cuốn kinh thánh thì các tôn giáo phương Đông dạy ta tìm kiếm những thứ thẳm sâu nhất trong ta. Đây là con đường dẫn đến giác ngộ mà, theo Ấn Độ giáo, khiến chúng ta nhìn thấy cái thánh thiêng trong chính tâm hồn ta, và theo niềm tin Phật giáo, giải phóng ta khỏi những đau khổ trần gian.
Mối bận tâm kéo dài hàng thiên niên kỷ về tâm trí con người đã tạo nên những cuộc đối thoại hiệu quả giữa các nhà nghiên cứu não bộ phương Tây và văn hóa phương Đông. Không phải ngẫu nhiên mà một số phòng thí nghiệm sinh học thần kinh hàng đầu thế giới được đề cập trong sách này đã nhiều lần mời Đạt Lai Lạt Ma đến thăm.
Ý chí muốn hạnh phúc
Để sống một cách thông thái cần có khả năng nhận thức, định hướng và dự đoán được những cảm xúc của chúng ta. Những cảm giác hạnh phúc không phải ngẫu nhiên mà là kết quả của những suy nghĩ và hành động đúng đắn - một quan điểm mà cả khoa học thần kinh đương đại, triết học cổ đại và Phật giáo (tôn giáo có niềm tin sâu sắc vào luật nhân quả) đều thống nhất.
Người phương Tây chúng ta thường nhấn mạnh giá trị của quyết định đúng: giá như chúng ta lựa chọn chính xác ngả này ngả kia của con đường thì mọi thứ sẽ tốt biết bao. Nhưng theo truyền thống Phật giáo và triết lý của triết học Hy Lạp, La Mã cổ đại, điều quan trọng hơn là gắn kết chúng ta vào những thói quen tốt, bởi vì chúng sẽ hình thành nên trí não ta. Chúng ta nên nghĩ đến việc thay đổi bản thân hơn là thay đổi ngoại cảnh. Sự thanh thản sẽ đến sau, bởi vì với một tâm trí đã sẵn sàng cho hạnh phúc, chúng ta sẽ tự động biết tìm ra những hoàn cảnh khiến mình hạnh phúc.
Xét cho cùng, tầm quan trọng mà mỗi chúng ta đặt vào sự lựa chọn có ý thức là vấn đề niềm tin. Nhưng có hai điều chắc chắn ở đây. Đầu tiên, cảm giác hạnh phúc của ta phụ thuộc vào cách nhận thức của não bộ nhiều hơn là vào ngoại cảnh. Thứ hai, những cố gắng tùy hứng thì không đủ để thay đổi cách nhận thức của ta. Nếu muốn mạng thần kinh của não bộ được thiết lập lại, thì luyện tập và thói quen là không thể thiếu. Và, điều đó là do lòng quyết tâm và nỗ lực của ta quyết định.
Mọi người luôn sẵn sàng lao vào khó khăn gian khổ khi nó liên quan đến địa vị, sự nghiệp, hay sự phát triển của con cái họ. Nhưng khi nó liên quan đến hạnh phúc trong cuộc sống hằng ngày thì họ lại keo kiệt sức lực một cách kỳ lạ. Tuy nhiên, con đường đi đến hạnh phúc lại khá đơn giản: “Bí quyết thực sự của đường đến hạnh phúc là quyết tâm, nỗ lực và thời gian,” Đạt Lai Lạt Ma đã giảng giải như vậy.(29)
Với quan điểm này, khoa học chỉ có thể tán thành tuyệt đối.