Anh Hùng Thời Loạn (Bôi Tuyết Hệ Liệt)

Lượt đọc: 95208 | 21 Đánh giá: 9,1/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Nhất giải
Chữ hoa đầu chương

ây tụ ùn ùn

Mưa giăng lún phún

Chiều xuống nơi xa

Con đường trắc trở

Lặng tựa hiên đông

Rượu xuân độc ẩm

Bạn nẻo xa khuất

Ngóng đợi bâng khuâng

Mùa tuyết ở Giang Bắc bắt đầu rất sớm, trên tầng không khô lạnh có cánh chim vạch ngang trời, người đi trong tuyết liếm môi khô khốc, cảm thấy bờ môi khô cần có rượu chảy qua, cần thứ cay cay, âm ấm đó chảy qua môi, xuôi xuống họng, thẳng tới dạ dày, cần cái cảm giác cay sè ấy - nếu không, tuyết chỉ là tuyết mà thôi. Cho nên, trong ngày lạnh thế này mới có nhiều cuộc chè chén dưới tuyết như vậy: Không có chén rượu nóng rát như dao cắt, sao trừ được cái lạnh giá buốt này đây?

Đỗ Hoài Sơn và Thẩm Phóng lúc này cũng đang uống rượu.

“Dịch tiên sinh là người thế nào?” Thẩm Phóng hỏi.

Đỗ Hoài Sơn thoáng trầm ngâm, nhìn ra màn tuyết khô lạnh ngoài song, tựa như đang nghĩ xem nên trả lời thế nào. Từ lúc tiến vào đất Trữ Châu, lão nhận được tin tức, thế là không đi tiếp lên phía bắc nữa, lộ trình chuyển ngoặt sang hướng tây. Lúc tới địa giới Sào Hồ, tuyết đã ngừng rơi, nhưng lại thấy Thẩm Phóng với Tam Nương Tử cưỡi trên một con la xám và một chú lừa hoa từ phía sau đi lên. Đỗ Hoài Sơn là nhân vật thế nào, tuy Thẩm Phóng cười bảo hai bên có duyên nhưng thấy phu phụ Thẩm Phóng mấy lần có ý muốn đồng hành với bên mình, thi thoảng bắt chuyện, bây giờ lại hỏi câu này thì lão đã đoán được trong lòng Thẩm Phóng tính toán điều gì. Lão nhạt giọng nói: “Việc này nếu chỉ một, hai câu thật khó nói tỏ tường, lão hủ đọc một bài thơ vị ấy viết hồi nhỏ cho Thẩm huynh nghe vậy.” Nói rồi, mắt lão híp lại. “... Bài thơ này đề ở Long Trung, ta cũng là tình cờ đọc được. Lúc Dịch tiên sinh làm bài này, hẳn chỉ mới mười ba, mười bốn tuổi, câu từ chưa thể xem là hay, chắc sẽ khiến Thẩm huynh chê cười nhưng ý tứ trong thơ có chỗ rất đáng cảm khái, còn đáng để Thẩm huynh thể nghiệm một chút.”

Nói rồi, lão nhẹ giọng ngâm:

“Gia Cát tài hoa ai sánh được

Bình thản can qua chỉnh mũ khăn.

Rồng khóc muôn dặm mong thiên hạ,

Khách ngồi lều tranh kế chia ba.

Không công cũng trọn đời tận tụy,

Tao nhã oai phong cũng cực là.

Chẳng phải nhờ ngài luống vất vả,

Sáu lần xuất quân thế nào ra?”

Giọng lão mang khẩu âm Hoài Bắc, thô khàn già nua, dùng để ngâm thơ chưa hẳn đã hợp nhưng lại hợp với nét mặt lão. Bài thơ viết về Gia Cát Lượng từng ở ẩn tại Long Trung, về sau xuống núi phò tá Lưu Bị. Tên chữ của ông là Khổng Minh, hậu thế xưng tụng là Gia Cát Võ Hầu. Từ xưa đến nay có rất nhiều thơ văn vịnh Gia Cát Võ Hầu, Thẩm Phóng đã đọc qua không biết bao nhiêu mà kể, nhưng thấy một lão giả không quen việc bút mực lại cẩn thận ngâm vịnh tác phẩm thuở ấu thơ của một người thì không khỏi ngạc nhiên. Bài thơ này không được coi là hay nhưng nhìn vẻ mặt của Đỗ Hoài Sơn, Thẩm Phóng buộc phải thầm ngâm ngợi mấy câu ấy vài lượt. Chỉ nghe Đỗ Hoài Sơn nói: “Tiên sinh là người cao nhã, chẳng như hạng võ phu bọn tôi, hẳn là cảm thấy trong bài thơ này còn nhiều chỗ chưa được thanh nhã. Nhưng hoài bão trong lòng của người làm thơ, lúc bấy giờ đã có thể thấy đôi chút. Mấy năm nay, một mình ngài chống đỡ đại cục Hoài Bắc, hô ứng từ xa với Sở Tướng quân ở Tương Phàn, Lương tiểu ca nhi ở Hà Nam, Dữu Bất Tín ở Tô Bắc, một mình lo toan điều phối lương thảo, khăn áo cho nghĩa quân trong thiên hạ, vất vả trù tính, giật gấu vá vai nhưng trước sau không gục ngã. Người khác có khi không biết nhưng hai lão già tôi thì biết rõ sự tận tâm, tận sức của ngài. Cũng nhờ có ngài, nghĩa quân, phản thần, nghiệt tử, cô nhi trong thiên hạ mới có nơi để hướng về, có đất để yên thân dựng nghiệp, trăm họ ở Hoài Thượng cũng được nghỉ ngơi dưỡng sức. Sở Tướng quân, Lương tiểu ca nhi và Dữu Bất Tín có thể nói là nức tiếng thiên hạ, nhưng có mấy người biết đến Dịch tiên sinh ở Hoài Bắc đây? Ngài cũng không cầu được người khác biết đến, thậm chí còn sợ người ta biết đến mình, nhưng mấy năm nay, cái tiếng tăm không cầu mà có, cái công tích thầm lặng gây dựng nên thật chẳng biết đã bao nhiêu rồi. Có điều, thiên hạ tự nhiên có người hận ngài, ví như người Kim ở phương bắc từng có lời rằng: “Muốn có được Hoài Thượng, trước phải giết Bôi Tửu”, mà Bôi Tửu chính là ngoại hiệu của Dịch tiên sinh. Thẩm huynh nói xem, ngài là người thế nào?”

Thẩm Phóng yên lặng lắng nghe, hồi lâu mới hỏi: “Thiên hạ thật sự còn có người như thế sao?”

Đỗ Hoài Sơn mỉm cười, gật đầu.

Thẩm Phóng nâng bầu rượu, rót đầy một chén cho mình, sau đó nhìn Đỗ Hoài Sơn, nói: “Hồi huynh đệ còn ở Giang Nam, lòng lo việc nước nhà nhưng chẳng có chỗ để góp sức, thường ân hận đã uổng kiếp này. Nếu sớm biết thiên hạ vẫn còn anh tài bậc ấy, cho dù bán mạng cho người ấy cũng cam lòng. Luận cái khác Thẩm mỗ chẳng có gì hay ho nhưng tiền nong lương thảo, trù vận mưu lược, quân vụ tới lui, thư từ viết lách, hẳn cũng có thể dốc một phần tâm sức vì người khác, có lẽ bên cạnh Dịch tiên sinh cũng đang thiếu một người như thế. Nếu Dịch tiên sinh không chê, tại hạ sẽ dốc sức phò tá, đem thân báo đáp. Chỉ là, Đỗ lão, ngài nói xem, liệu tiên sinh có dùng tôi chăng?”

Đỗ Hoài Sơn như đang đợi câu này của hắn, chưa đợi Thẩm Phóng nói hết, trong mắt đã ngập tràn niềm vui. Thẩm Phóng nhìn lão, thấy lão dứt khoát gật đầu khẳng định, liền nâng chén rượu trong tay, từ từ uống cạn, trong lòng như chưa từng vui vẻ nhường này. Bấy giờ, ngoài song đang lúc trời trong tuyết lặng, trong cửa chén rượu ước hẹn đã thành.

Đang nói chuyện, bỗng thấy Tiêu Tứ Ẩn vội vã bước tới, trong tay cầm mấy con chim bồ câu đưa thư, Đỗ Hoài Sơn trông thấy liền biết có tin truyền tới. Lão trước giờ luôn tự tin vào khả năng nhìn người của mình, nay đã được Thẩm Phóng gia nhập, cũng không tránh né hắn nữa, bèn hỏi: “Tin gì thế?” Tiêu Tứ Ẩn, nét mặt trịnh trọng, nói: “Theo tin tức từ Trấn Giang, Viên lão đại rời kinh rồi.”

Đỗ Hoài Sơn cả kinh. “Thật sao?”

Tiêu Tứ Ẩn nặng nề gật đầu. Đỗ Hoài Sơn hỏi: “Vẫn vì chuyện món tiêu hàng này?”

Tiêu Tứ Ẩn đáp: “Không sai. Nghe nói, Viên lão đại rất đau lòng, tức giận vì chuyện Viên nhị bị thương, bất mãn với việc Lạc Hàn kiếm hạ vô tình nên đã phao tin muốn toàn lực truy sát những người ở Khốn Mã Tập đêm mưa hôm ấy, rồi sai họa công vẽ hình, truyền lệnh xuống dưới. Hắn còn buông lời rằng trong chuyến tiêu ấy của Lạc tiểu ca còn có một bí mật liên quan tới đại thế thiên hạ, người có được nó tuy không thể nói là uy hiếp thiên hạ nhưng đã gần như có thể khiến tình thế đôi bờ nam bắc đại giang biến đổi to lớn chỉ trong một đêm. Lời này của hắn rõ ràng là muốn khiêu khích hào kiệt trong thiên hạ động thủ, dụng ý không gì ngoài việc ép Lạc tiểu ca xuất hiện. Nghe nói, nhà họ Văn ở Giang Nam với Lão Long đường ở Trường Giang đã có ý nghe tin là sẽ hành động, chỉ sợ từ nay Hoài Thượng sẽ lắm chuyện. Điều khiến người ta kinh ngạc nhất là, bên ngoài đồn rằng Viên lão đại đã đích thân tới Trấn Giang, cũng biết tiêu bạc đã vào tay chúng ta, rất bất mãn với hành vi lần này của nghĩa quân, bảo rằng chúng ta qua sông gây chuyện, đã vi phạm minh ước năm xưa, có ý muốn qua Giang Bắc, tự mình nói chuyện với Dịch tiên sinh. Lần này, nếu gã thực sự qua Giang Bắc, chỉ sợ chẳng phải một, hai câu là đuổi đi được. Sau này, chỉ sợ thành ra binh đao gặp nhau, hai lão già ta e rằng đã đem phiền phức tới cho Dịch tiên sinh rồi.” Nói xong, lão than nhẹ một tiếng: “Ài, tình cảnh thế này, liệu Dịch tiên sinh còn có thể gánh được phiền phức bằng trời của Viên lão đại không đây?”

Sắc mặt trở nên nặng nề, Đỗ Hoài Sơn hỏi: “Giá Viên huynh bên chỗ lão gia có đưa tới tin gì không? Rốt cuộc bên chỗ Dịch tiên sinh thế nào?”

Tiêu Tứ Ẩn than: “Vẫn thiếu người, Thập niên, Ngũ canh đều đang có việc ở bên ngoài, ai lo việc nấy, trong nhà chỉ còn Tiểu Cam, Tiểu Khổ trông giữ, ngay Giá Hiên huynh cũng đã sang Ngạc Bắc xử lý chuyện chỗ Sở Tướng quân. Gần đây, Cù lão anh hùng, môn chủ Lục Hợp môn ở phủ Lục An vừa qua đời, Lục Hợp môn đại loạn, nguy tới liên minh Hoài Nam. Lại thêm nợ nần ở Sào Hồ lũ lượt tới hạn, từng khoản, từng khoản cộng dồn, e phải tới bốn, năm mươi vạn lượng bạc, Dịch tiên sinh quả thật không dứt ra được, chuyện này lại quá lớn, đã tự đi rồi.”

Đỗ Hoài Sơn đang bình tĩnh, lúc này không khỏi nhíu mày, vặn vẹo tay mà nói: “Lúc này mà công tử còn ra ngoài một mình sao? Thế bệnh suyễn của công tử...” Rõ ràng lão đã lo lắng vô hạn, một tay siết chặt hoa văn ở mép bàn, ngẩng đầu nhìn mây lạnh trên không trung. Mây che mặt trời, tuy ánh dương chẳng chút ló dạng nhưng áng mây đỏ vô cùng rực rỡ. Đỗ Hoài Sơn nhìn mãi, như đã bình tĩnh lại, lấy lại giọng điệu bình hòa mà hỏi: “Dịch tiên sinh có lời gì lưu lại cho chúng ta không?”

Tiêu Tứ Ẩn nói: “Ngài chỉ nói nếu thuận lợi, chúng ta lập tức áp tải bạc tới Thư thành ở Giang Bắc, ở đó sẽ có người tiếp ứng cho chúng ta. Còn nếu như không thể đắc thủ, cũng không cần bận tâm, ngài sẽ có biện pháp.”

Đỗ Hoài Sơn thở dài, nghĩ: Tiên sinh còn có thể có biện pháp gì, nhất là với sức khỏe của ngài hiện giờ... Nhất thời lão không nói gì thêm, hồi lâu mới bảo Tiêu Tứ Ẩn: “Chốc nữa huynh ra ngoài dặn bọn Vương Mộc một tiếng, đêm nay anh em nghỉ ngơi cho tốt, cho ngựa ăn đầy đủ, sáng sớm mai mọi người phải dậy thật sớm, ngựa không dừng gót, nhất định trong vòng ba ngày phải tới được Thư thành, không được để Dịch tiên sinh đợi lâu.”

Ngày hôm sau, trời vừa tảng sáng, cả bọn y lời Đỗ Hoài Sơn mà hành động, dọc đường đi vội vã, đội trăng đội sao, ngày đi đêm nghỉ, tới sáng sớm ngày thứ ba đoàn người đã tới Thư thành. Chạy trên lằn bánh xe đóng băng nên xe ngựa không khỏi nghiêng vẹo nhưng được cái hai xa phu đều quen đường, lại có một đám hán tử của Lâm An tiêu cục, nhờ vậy mà xe đi một mạch thuận lợi.

Lúc tới được Thư thành, Thẩm Phóng cũng không ngờ được cái thành nho nhỏ này mà cũng có khí tượng riêng. Vì dải đất này nằm ở Sào Hồ, đất đai sông nước hợp người, mỗi năm tới mùa Sào Hồ vào vụ lúa chín, đất Dự, đất Hoán đều được đủ đầy, một dải này có thể coi là một vựa thóc lớn của Trung Nguyên, lại thêm trăm họ cần cù, mấy năm gần đây được cả mưa thuận gió hòa, việc binh hỏa yên ắng, không có chiến sự quá lớn, cho nên đến Thẩm Phóng cũng phải trầm trồ Giang Bắc vẫn còn có nơi trù phú tới mức này. Theo lời Đỗ Hoài Sơn, sự bình yên của dải đất này trong mấy năm nay phần lớn là nhờ vào Dịch tiên sinh của bọn họ khổ tâm xoay xở, nam thì vỗ về sứ nhà Tống, bắc thì chống chọi với người Kim, lại phải trong trừ giặc cướp, ngoài kháng cường tặc, trong vòng vài năm, nơi đây đã được xây dựng thành kho lương quan trọng nhất của nghĩa quân Hà Nam. Hiện lương thảo qua tay Dịch tiên sinh có non nửa là điều từ đây tới.

Dọc đường đi, Thẩm Phóng cũng nhận ra Đỗ Hoài Sơn tuy ngoài mặt lạnh lùng nhưng hành sự lại tỉ mỉ, chu đáo, bây giờ thấy Đỗ Hoài Sơn cố ý nói cho mình nghe thì càng lắng nghe chăm chú. Đỗ Hoài Sơn quả là một bồ kiến thức địa lý sống, lão đem tất tật việc ở dải đất này, vùng nào sản xuất thứ gì, có thể dùng vào đâu, có thể sản xuất bao nhiêu, trước nay sắp xếp thế nào... nhất nhất nói ra, đã biết là nói hết, đã nói là nói kỳ tận, Thẩm Phóng cũng thu được không ít lợi ích, biết rằng nếu quả có một ngày bản thân chủ quản việc tài vụ, điều phối lương thảo các nơi của nghĩa quân thì những lời này ắt là có ích cho mình.

Thư thành là một tòa thành nhỏ, tự dưng có bao nhiêu người tới thế này, lũ trẻ nhỏ liền kéo nhau chạy theo xe, hò reo í ới. Vương Mộc túm lấy một đứa, cười, hỏi: “Tới Túy Nhan các đi lối nào?”

Đứa nhóc đó cười, đáp: “Đấy là tửu lâu đấy, các vị đông thế này, muốn ở trọ thì nên tìm khách điếm trước, chỗ kia chắc không có chỗ ở đâu.”

Vương Mộc liền nhìn Đỗ Hoài Sơn. Đỗ Hoài Sơn trầm ngâm một lát rồi nói: “Thế cũng được... Chỉ là không biết Dịch tiên sinh vội đến đâu, bọn ta không thể để ngài đợi lâu. Thế này đi, ngươi với Kim hòa thượng đem xe tiêu đi tìm khách điếm trú lại trước, tiện thể nghỉ ngơi, ta với vợ chồng Thẩm huynh tới Túy Nhan các trước xem sao. Nơi đây tuy yên bình nhưng xét cho cùng vẫn là đất nhà quan, các ngươi phải hết sức cẩn thận, để hai người lưu lại ngoài khách điếm canh chừng, có động tĩnh là phải nhanh chóng báo lại, tránh trường hợp gặp phải địch thủ quá mạnh, lại bị chúng vây khốn, không thoát thân được.”

Thẩm Phóng nghe mà lòng bội phục, thầm nhủ: Xét cho cùng, lão giang hồ quả là có tác phong của lão giang hồ. Tiêu Tứ Ẩn lại càng cẩn thận, chỉ sợ có mấy người Vương Mộc với Kim hòa thượng thì không gánh nổi trọng trách bảo vệ tiêu hàng, bèn đi theo đám Vương Mộc, chỉ có Thẩm Phóng, Kinh Tam Nương cùng Đỗ Hoài Sơn đi tới Túy Nhan các trước để dò hỏi tin tức.

Ba người còn chưa tới Túy Nhan các, Đỗ Hoài Sơn trông thấy bên đường có một quán ăn nhỏ, liền dừng bước, cười, nói với Thẩm Phóng: “Chúng ta ăn chút gì trước đã nhé?”

Thẩm Phóng hơi ngạc nhiên, thầm nghĩ: Túy Nhan các là tửu lâu, tới đó còn lo không có đồ ăn sao? Sao lại phải tìm một quán nhỏ bên đường để ăn trước? Xem ra nghĩa quân Hoài Thượng thật tiết kiệm. Hắn còn đang nghĩ ngợi, Đỗ Hoài Sơn đã rẽ vào trước, dùng giọng Hoài Thượng dặn chủ quán làm ba bát mì, lại gọi thêm vài món nhắm. Tam Nương Tử kết tóc với Thẩm Phóng đã chục năm, biết tỏng tâm tư của hắn, vừa nhìn sắc mặt hắn đã rõ hắn nghĩ lầm, mới thấp giọng cười, nhắc: “Lão chẳng phải vì tiết kiệm đâu. Đỗ Hoài Sơn là lão cáo già, trước nay chỉ bày hố cho người khác, sợ nhất là bước vào cái bẫy do người khác bày ra, cho nên lão nhất định phải nghe ngóng tình thế đại khái trong Túy Nhan các trước rồi mới chịu đi tiếp. Giang hồ hiểm ác, nói không chừng lại có chuyện gì... Xem ra, một dải Thư thành này cũng không phải nằm trong phạm vi thế lực của bọn họ, nếu không đã chẳng phải cẩn thận thế này. Ý tứ của lão chính là nếu có đánh nhau thì cũng phải ăn cơm cho có sức trước đã.”

Thẩm Phóng bật cười, nghĩ thầm, mấy thứ thói người lẽ việc, chiêu trò quỷ quái này thật không qua nổi mắt nương tử của mình. Thế rồi hắn kéo tay áo Tam Nương, cùng vào ngồi. Đỗ Hoài Sơn bên kia cũng đã gọi món xong, cười, nói với Thẩm Phóng: “Thẩm huynh vốn không chê nghĩa quân Hoài Bắc bọn tôi nghèo khổ, chịu gia nhập tương trợ, đáng lẽ tiểu lão nhi nên liệu đường mà mời vợ chồng Thẩm huynh một chén, nhưng giang hồ quỷ dị, không thể không đề phòng, với lại tôi có tiếng là cáo già, đã quen giảo hoạt, ba bát mì này coi như là rượu mừng Thẩm huynh gia nhập đi, Thẩm huynh chớ hiềm sơ sài.” Miệng nói, ánh mắt lão lại hiện ý cười mà nhìn Tam Nương.

Tam Nương không ngờ lão đầu này đã già nhưng tai lại thính thế, mặt hơi đỏ, có chút xấu hổ, thấy Đỗ Hoài Sơn không hề có ý trách cứ, ngược lại còn tỏ thái độ hài hước, rộng rãi, biết lão không giận, nàng mới yên lòng, thầm nhủ: Lão đầu này cũng không phải chỉ có mỗi bộ mặt âm trầm, xét ra vẫn có khá nhiều chỗ đáng yêu. Ba người cùng nhau ăn, quán nhỏ này chẳng mấy nhộn nhịp, khách không nhiều, nhà chủ cũng không bận rộn. Đỗ Hoài Sơn vốn nóng lòng chạy tới Túy Nhan các nhưng bây giờ lại không gấp, không vội, ăn xong mì cũng chẳng lên đường ngay mà câu được câu chăng chuyện trò với tiểu nhị.

Chỉ nghe Đỗ Hoài Sơn cười, hỏi: “Nhớ năm xưa, chỗ các vị có Túy Nhan các khá là được, nấu được rượu ngon, giờ có còn không?”

Tiểu nhị kia cười, đáp: “Tên tuổi mấy chục năm, đương nhiên vẫn còn, sao có thể bảo không còn là không còn luôn được?”

Đỗ Hoài Sơn cười. “Chỗ đó thực là một nơi thú vị, dạo gần đây có chuyện gì mới mẻ, hay ho không, nói nghe coi! Ta nhớ ở đó thường có nhiều chuyện mới mẻ nhất đấy!”

Cũng đúng, tửu lâu trà quán vốn là nơi có nhiều tin tức mới mẻ nhất. Tiểu nhị nọ cũng vui tính, chớp chớp mắt, nói đùa: “Lão nhân gia người thọ đà bao nhiêu rồi?”

Đỗ Hoài Sơn cười híp mắt, đáp: “Sáu mươi sáu.”

Tiểu nhị nọ tiếc rẻ, thở dài một tiếng. “Đáng tiếc, lão nhân gia ngài đến muộn mất rồi.”

Sâu trong đôi mắt tươi cười của Đỗ Hoài Sơn chợt hiện tia sắc bén. “Sao lại thế?”

Tiểu nhị cười, đáp: “Nếu lão nhân gia ngài tới sớm vài năm, trẻ lại vài tuổi thì đảm bảo sẽ cảm thấy tới Túy Nhan các kia đúng là không uổng, sẽ gặp được người ngài muốn gặp. Hắc hắc, không phải tôi trêu chọc ngài, ngài chớ giận, hồi ấy chỉ e bảo ngài giao cái mạng cho người ta, ngài cũng đồng ý ấy chứ!”

Khuôn mặt tươi cười của tiểu nhị nọ khá ám muội, lời nói ra như có ý mà như vô tình, nhưng lọt vào tai kẻ đi lại trên giang hồ đã lâu, sống đời đầu đao mũi kiếm đã thạo như Đỗ Hoài Sơn thì đương nhiên có ý nghĩa khác. Tới Thẩm Phóng cũng ngạc nhiên, không rõ rốt cuộc tiểu nhị kia có ý gì. Tam Nương không kìm được chăm chú nhìn thẳng vào tiểu nhị nọ, đôi mắt nàng trong trẻo, sáng ngời, có thể nói là từng xem qua vô số người rồi nhưng cũng không nhìn ra hàm nghĩa đằng sau vẻ tươi cười của tiểu nhị này. Đỗ Hoài Sơn lại càng hồ nghi, nhưng lão có tính cẩn thận trời sinh, thấy tiểu nhị này trong lời có hàm ý, không chịu nói rõ, lão cũng không hỏi sâu thêm, chỉ làm như thuận miệng hỏi: “Túy Nhan các kia còn việc gì khác hay ho không?”

Tiểu nhị nọ cười, đáp: “Còn, nghe bảo lão gia tử của Lỗ gia giàu nhất đám thương nhân Huy Châu bọn tôi cũng tới đó, đây hẳn được xem là tin tức mới chứ?” Sau đó, gã lại rề rà nói: “Ngoài ra, mấy ngày nay trong Túy Nhan các, sáng nào cũng vọng ra tiếng đàn. Có một người tới đó đánh đàn, không uống rượu, cũng chẳng ăn cơm, hình như là khách của Lỗ lão gia, hai người này lại chẳng nói chuyện với nhau, ngài bảo có lạ không?”

Đỗ Hoài Sơn nhìn chằm chằm tiểu nhị kia, mỗi câu của gã tựa như đều có can hệ rất lớn nhưng lại không nhận ra được là gã cố ý hay vô tình. Tới lúc này, Đỗ Hoài Sơn cũng không tiện ngồi thêm, liền trả tiền, nói: “Quấy rầy rồi!” rồi cùng Thẩm Phóng và Tam Nương đứng dậy rời đi.

Ra khỏi cửa tiệm, rẽ vào một góc phố, Đỗ Hoài Sơn liền trông thấy một hán tử hộ tiêu mà Tiêu Tứ Ẩn phái tới đang đứng đợi bên đường, bèn vẫy tay gọi gã lại, thấp giọng sai phái: “Trở về báo với Tiêu lão gia tử, nơi này chỉ e có điều cổ quái, bảo lão cẩn thận mọi sự, ngoài ra, phái thêm người tới đợi tin của ta!”

Hán tử kia “dạ” một tiếng rồi rời đi. Bấy giờ Thẩm Phóng mới hỏi: “Đỗ lão, bây giờ chúng ta có tới Túy Nhan các nữa không?”

Đỗ Hoài Sơn chỉnh lại nét mặt. “Đi, sao lại không đi? Tôi muốn xem xem là kẻ nào mà đáng để lão Đỗ này giao mạng cho hắn, hắc hắc!” Tuy miệng lão nói thế nhưng trong lòng lại đang lo cho một người, không khỏi cất bước đi đầu.

Túy Nhan các là một tòa lầu cổ có kết cấu tinh xảo, đẹp đẽ. Cả tòa lầu được dựng bằng gỗ, tuy có chỗ màu sơn đã bạc nhưng từng phòng, từng tòa đều được làm vô cùng tỉ mỉ. Toàn bộ tòa lầu không lớn, bên trong men theo hành lang mà đi, lại có chỗ quẹo ngoặt, tạo thêm cảm giác hiên vườn thâm u. Tiểu nhị đón bọn họ lên lầu hai, tửu lâu này cũng chỉ có hai tầng, cửa ở ba mặt lầu hai vây thành một hành lang uốn khúc ở lưng chừng, ở giữa là một cái giếng trời thông thẳng xuống lầu một. Ánh nắng soi xuống, bóng xuyên qua khe cửa, cả tòa lầu mang một vẻ tĩnh lặng khôn tả, hoàn toàn không có không khí ồn ào của tửu lâu thông thường. Thẩm Phóng hỏi tiểu nhị: “Ít khách thế này, tửu lâu của các ngươi làm sao mà tiếp tục mở cửa được?”

Tiểu nhị nọ vừa lau bàn vừa cười, đáp: “Khách quan không thích yên tĩnh sao? Mà đúng là tửu lâu của chúng tôi ít khách thật. Thư thành vốn đã nhỏ, lại chẳng phải nơi giao thông trọng yếu gì, cho nên khách càng ít. Chỉ vì tòa tửu lâu này do Bùi Thượng thư hồi lập quốc của triều ta thuê thợ giỏi thầy khéo dựng cho nên ở một dải Hoán Nam cũng rất có danh tiếng. Không giấu khách quan, thật ra tửu lâu này của chúng tôi chủ yếu chỉ phục vụ một người, chính là Lỗ lão gia danh tiếng vang dội ở chỗ chúng tôi đây. Vừa hay Lỗ lão gia thích yên tĩnh, cũng dặn rằng ngài thích sự thanh tĩnh, ông chủ chúng tôi liền chấp nhận thà ít khách cũng được. Lỗ lão gia kia vốn là đệ nhất phú thương ở nơi này, không phải giàu nhất cả nước thì chí ít cũng giàu nhất bảy tỉnh. Ông ấy thích nhất phòng ở chỗ chúng tôi, đã dặn phải giữ gìn cho tốt. Mà một năm ông ấy tới được mấy lần chứ? Nhưng lần nào tới cũng thưởng rất nhiều, cho nên bằng vào mấy lần ấy, chỉ cần một vị khách như ông ấy cũng đủ để nuôi sống tửu lâu này rồi.”

Thẩm Phóng kêu “oa” một tiếng. Chẳng giống hắn - kẻ hoàn toàn không có tâm cơ gì - Đỗ Hoài Sơn với Tam Nương vừa vào liền quan sát khắp xung quanh, liệu xem nếu có chuyện gì thì chỗ nào tiến được, chỗ nào lui được, chỗ nào có thể công, chỗ nào thì nên thủ. Ba người vừa mới ăn mì, lúc này chỉ gọi trà. Trà Lục An là thứ nổi tiếng ở nơi này, lúc khói trà bốc lên, tiểu nhị liền lui xuống. Vài ngày nay, mấy người họ vất vả suốt, chẳng dễ dàng gì mới tới được đích, cộng thêm sự tĩnh lặng đột ngột này, thật khiến cho người ta không sao quen nổi. Nhất thời cũng không có gì để nói, tâm tình vốn đang dâng tràn, uống mấy hớp trà, chợt như vơi đi rất nhiều.

Thẩm Phóng đang nghĩ không biết Dịch tiên sinh kia là người thế nào, sẽ phái ai tới nhận xe hàng? Suốt chuyến đi, đặc biệt là sau khi qua sông, đâu đâu cũng có tai mắt của hội Đỗ Hoài Sơn, không chỉ thông báo tin tức mà cò có lương tiền qua lại, đất Sào Hồ này xem ra chính là hậu phương lớn của Hoài Thượng. Lúc này hàng hóa mà Đỗ Hoài Sơn áp tải đã không chỉ là thứ Lạc Hàn tặng. Trừ hai chục vạn lượng bạc có dư đổi thành vàng ngọc ra, dọc đường Đỗ Hoài Sơn còn thu thêm mấy chục bao bạc, tính ra cũng khoảng dăm ba vạn lượng, đều là tiền dọc đường được tai mắt nghĩa quân cũng như trăm họ dân gian thật tâm quyên tặng. Thẩm Phóng không khỏi ngầm bội phục vị Dịch Bôi Tửu kia: Đất Hoài Thượng được người này cày xới tỉ mỉ nhường này, đủ để thấy công sức bỏ ra. Chẳng rõ người này qua lại thế nào với Lỗ lão gia?

Ở một dải Sào Hồ, thanh danh của người này có vẻ vang xa. Dọc đường đi, Thẩm Phóng nghe người khác nhắc tới tên người đó không dưới năm, sáu lần, trong giọng nói đều có vẻ kính trọng. Một đường từ Trữ Châu tới đây, trên mọi phố lớn trấn to dọc đường, gần như nơi nào Thẩm Phóng cũng thấy có bảng hiệu “Thông Tế tiền trang”, còn có cả “Thông Tế dược phòng”, “Thông Tế khách điếm”, ắt hẳn đều do một nhà bỏ vốn. Tuy trước đây Thẩm Phóng từng nghe tên người này nhưng không ngờ việc làm ăn của lão lại hưng vượng đến vậy.

Vị Lỗ lão gia này nghe nói họ Lỗ tên Tiêu, tên chữ là Cuồng Triều, thương nhân đất Huy nổi tiếng khắp thiên hạ, nghe nói một nửa thương nhân của Huy Châu vay tiền vốn của lão để làm ăn, có thể tưởng tượng ra mức độ giàu có của lão. Khi ấy, hai nước Tống - Kim chia thiên hạ, duy chỉ có ngân phiếu trong tiền trang của lão là có thể lưu thông ở cả hai bên. Việc làm ăn chủ yếu của lão chỉ có một, chính là Thông Tế tiền trang nức tiếng thiên hạ. Lão chia tiền trang thành Bắc trang và Nam trang, xử lý việc làm ăn ở hai nước. Nghe nói triều đình Nam Tống xây đê biển ở Tiền Đường cũng phải có qua lại tiền bạc với lão, thật xứng danh gia tài bạc vạn, giàu ngang một nước. Thẩm Phóng đang mải nghĩ, chợt thấy tiểu nhị kia đem nước sôi tới, châm thêm nước rồi cười, nói với Thẩm Phóng: “Khách quan chẳng phải chê yên tĩnh sao? Sắp náo nhiệt tới nơi rồi, có một đám sứ Kim quá cảnh, Ngô Huyện lệnh của bản huyện muốn đích thân khoản đãi, nha phiếu của nha môn vừa được đưa tới, lát nữa Ngô Huyện lệnh sẽ tới đây đón khách, thu xếp chỗ ngồi ở ngay hành lang đối diện với chỗ của các vị, tới lúc ấy chỉ e còn phải diễn đàn nhạc, mời ca kỹ, chốc nữa thôi là ồn ào rồi.”

Thẩm Phóng biết gã có lòng tốt, liền cười với gã, thầm nghĩ: Cái người mà viên tiểu nhị lúc nãy nói Đỗ Hoài Sơn vừa gặp thì sẽ cam tâm giao mạng mình ở đâu nhỉ? Chắc không phải chỉ là một câu nói đùa đấy chứ!

Một lúc sau, quả nhiên bên ngoài lâu vọng vào tiếng ồn ào. Bố cục của tửu lâu này không giống bình thường, cách với đường lớn ngoài cửa một con ngõ nhỏ, như có ý giữa chốn ồn ã tìm lấy cái tĩnh lặng, giữa lầu chính với con ngõ nhỏ ấy lại cách một bức tường ngăn, sau tường vẫn còn một quãng dăm ba chục bước chân nữa. Cứ như vậy, tiếng ồn ào từ đường lớn truyền vào ngõ nhỏ, truyền vào cửa, vào tiểu viện rồi mới dần vọng tới tửu lâu. Thẩm Phóng và Tam Nương muốn nhìn xem rốt cuộc là ai mà ồn ào thế, bèn chăm chú ngóng nhìn, chỉ thấy đằng trước có ba, bốn nha dịch mở đường, mình mặc áo đen, đầu đội mũ công sai, khá uy phong. Kế đó là một sư gia mình bận áo lụa, vừa vào đã đảo mắt xem xét trên dưới cả tòa tửu lâu. Tiếp đó mới là Huyện lệnh. Vị Huyện lệnh này độ ngoài ba mươi, da trắng bóc, mang bộ dạng điển hình của thư sinh Nam triều, vừa vào cửa đã cung kính đưa tay mời khách. Khách khứa lũ lượt kéo vào, có đến hơn hai chục người, đều ăn mặc kiểu Bắc triều, tiết trời còn chưa quá lạnh mà bọn họ đã đeo thêm mấy thứ da, lông trên mũ. Người đứng trước có dáng vẻ vênh váo, cử chỉ ngang tàng, hình như là trưởng đoàn, hắn xem xét tửu lâu này rất kĩ, cứ gặp những chỗ tạc hoa khắc gỗ, hoa văn tinh xảo là dừng bước ngắm nghía. Đến cả chỗ đầu gỗ nối ghép cũng thường khiến hắn phải tán thán. Tiếng Hán của gã tuy cứng nhưng vẫn lưu loát, chỉ nghe gã nói với người Kim bên cạnh mấy câu tiếng Kim rồi mới dùng tiếng Hán nói với Huyện lệnh rằng: “Người Nam đánh nhau kém nhưng thợ thủ công thì thật ưu tú.”

Huyện lệnh nọ rất mực văn nhã, đưa tay mời khách lên tầng hai, vừa hay chênh chếch đối diện với chỗ ba người Thẩm Phóng, cách cái giếng trời, đôi bên có thể nhìn rõ nhau. Người bên đó ồn ào chiếm cả một đoạn hành lang nhưng chẳng có hứng thú gì với ba người Thẩm Phóng bên này. Đám tiểu nhị trong Túy Nhan các nhàn tản quen rồi, vốn trước nay ít khách, bây giờ bỗng lắm người tới thế này, lại là khách của Huyện lệnh, bọn họ nhất thời náo loạn. Hồi lâu sau, ba mươi mấy người bên kia mới coi như an tọa, bấy giờ rượu mới được mang lên. Người Kim dường như không quen uống món rượu Khổ Tô nổi tiếng ở đây, ai nấy nhíu mày, kêu ầm lên: “Nhạt, nhạt quá!”

Chỉ nghe viên quan huyện nọ cười, nói: “Đây là rượu của người Nam chúng tôi, vị không mạnh nhưng dư âm kéo dài, vào miệng hơi đắng nhưng hay ở chỗ trong đắng có ngọt. Bá Nhan đại nhân vốn hào sảng, hẳn là uống không quen, để tôi bảo họ đem đổi rượu. Có điều, nếu đại nhân có thể kiên nhẫn thưởng thức, hẳn sẽ cảm nhận được một thứ ý vị khác.”

Viên quan nhà Kim được gọi là Bá Nhan nọ không ngờ lại nghe theo lời khuyên của Huyện lệnh, nhâm nhi hai ngụm, cười, nói: “Người Nam các ông chỉ giỏi làm ra mấy thứ lằng nhằng quanh co, đến rượu mà cũng phải xét dư vị. Theo ta thấy, là do cổ họng các người mềm, chẳng chịu nổi hơi rượu mạnh, không như người Kim bọn ta, uống rượu mà lớn, thế mới là anh hùng thật sự, các người cái gì cũng phải làm mềm trước rồi mới nói.” Nói xong, gã quay đầu dặn viên quan người Kim sau lưng: “Nhớ khi nào quay về phải bảo sứ thần Nam triều đem cái kẻ chế ra rượu Khổ Tô với đám thợ dựng Túy Nhan các này đến cho Hoàng đế chúng ta.”

Nói rồi, gã cười ha ha, bảo: “Không sai, rượu này quả có chút hương vị, cơ mà người Nam các ông có khéo hơn nữa thì cũng có tác dụng gì? Nếu không đủ mạnh, đồ có tinh xảo hơn cũng chỉ để đem cho chúng ta dùng thôi.”

Nghe lời này của người Kim, Đỗ Hoài Sơn không khỏi nổi giận, Thẩm Phóng thì khẽ than: “Đáng tiếc, lời gã nói chẳng sai.” Không thể không nói rằng ham của lạ, thích đồ đẹp là nguyên do chính khiến người Nam Tống đớn hèn. Đám Thẩm Phóng không muốn chú ý tới bên kia nữa, để tránh tức giận. Đang định tìm chuyện mà nói, chẳng ngờ lời kế tiếp bên kia lại cứ rõ rành rành chui tọt vào tai họ. Chợt nghe Bá Nhan nói: “Có điều, trong số người Nam các ông cũng có người được đấy, lần này ta tới là vì chuyện sứ giả nhà Kim bị giết ở quán Thất Lý. Ngột Nhi Ca đại nhân cũng là một trang dũng sĩ, đấu vật, bắn tên, trước nay trong người Kim bọn ta ít có địch thủ, thế mà ông ấy cùng hai mươi mấy hộ vệ với bao nhiêu lính Tống lại bị một người giết sạch, sao Hoàng đế bọn ta chẳng nổi cơn thịnh nộ? Ta vốn cũng không tin, nhưng khi tận mắt trông thấy vết thương của bọn họ thì đúng là do một người ra tay. Cái người động thủ này thật sự là anh hùng, chỉ là chẳng biết tại sao bỗng dưng không thấy đâu nữa.”

Ngô Huyện lệnh cười bợ đỡ. “Bá Nhan đại nhân đúng là anh hùng trọng anh hùng, tấm lòng này quả thật khiến tại hạ bội phục, hẳn là triều đình đã đồng ý sai người truy xét?”

Bá Nhan cười, đáp: “Triều đình các ông giao chuyện này cho Đề kỵ, đáng tiếc là thủ lĩnh Đề kỵ lại chẳng hề chuyên tâm, ta rất không hài lòng. Bức ép thế nào, thủ lĩnh Đề kỵ vẫn không chịu trả món nợ này, chính là Tần Thừa tướng của các ông không chịu nổi áp lực của ta nên mới mời người của Văn gia Giang Nam tra xét hung thủ, rồi bảo hung thủ là kẻ thôn dã không được giáo hóa, với người trên giang hồ phải dùng cách của giang hồ. Ta lại chẳng xem trọng người của nhà họ Văn nọ, chỉ biết ám sát, hành thích, việc này bọn chúng ắt làm chẳng xong. Về sau, nghe nói bảy bộ hạ, một đồ đệ của thủ lĩnh Đề kỵ Viên lão đại cũng bị một người giết sạch, lại còn đánh trọng thương em ruột hắn, bấy giờ hắn mới tức giận mà động thủ. Bây giờ hắn tới Trấn Giang rồi ta mới yên tâm, Viên lão đại là một anh hùng, chỉ có hắn mới tóm được tên kia.”

Gã dường như hiểu rất rõ mọi chuyện ở Nam triều, tuy nói tiếng Hán còn cứng gượng nhưng đủ để biểu đạt ý tứ. Thẩm Phóng không ngờ trong triều đình lại còn uẩn khúc này. Hiện giờ áp lực của Viên lão đại dồn lên Hoài Thượng rất lớn, Thẩm Phóng cùng Đỗ Hoài Sơn không khỏi vểnh tai lắng nghe. Lại nghe sứ Kim nói: “Sao gã Lạc Hàn này không xuất hiện nữa nhỉ? Hắn với người Nam Tống tầm thường các ông rất khác nhau, người Nam các ông toàn dựa vào bạn bè thân thích của người khác để khống chế người ta, nhưng hắn hình như chẳng có bạn bè thân thích, tới cả Đề kỵ cũng tra không ra ai có quan hệ với hắn. Ta rất lo, cũng rất giận. Nếu hắn cứ một mực không chịu thò mặt, lẽ nào cái án này coi như thôi?”

Ngô Huyện lệnh chỉ giương vẻ mặt cười nhạt mà lắng nghe, tuy gã làm quan trong triều nhưng thói quen nhất quán là việc to việc nhỏ gì hễ không liên quan tới mình thì chỉ nghe để đấy, nhưng sứ nhà Kim ngược lại càng nói càng hưng phấn: “Ta mới đem lời này nói với Viên lão đại, vẫn là hắn có biện pháp, hắn chỉ hỏi ta một câu: “Ngài có biết chuyện chúng tôi bị cướp một món bạc không?” Ta gật đầu, bảo: “Biết.” Hắn hỏi tiếp: “Thế ngài có biết là ai cướp bạc không?” Ta lắc đầu, rồi lại gật đầu, không rõ Viên lão đại có thích nghe tới tên người đó không. “Nghe bảo là một kẻ tên Lạc Hàn.” Ta thấy mặt Viên lão đại âm trầm như nước, rồi hắn hỏi: “Vậy ngài có biết bạc ấy được chuyển tới đâu không?” Ta lắc đầu. Ta thấy Viên lão đại cười, bảo: “Hoài Thượng!” Lời của hắn luôn rất ngắn nhưng lại chắc chắn, khiến người ta tin tưởng. Hắn bảo: “Tuy tôi không thật chắc chắn nhưng tôi đã đoán ra hắn muốn đem bạc ấy gửi cho ai rồi, người kia cũng đang trong lúc khốn khó. Hắc hắc!

Phiêu bạt khốn cùng một bôi rượu(1), thiên hạ ngày nay cũng thật sự chỉ mình hắn mới có được bằng hữu như Lạc Hàn. Hắc hắc! Vỏ tuyết kiếm băng, thanh bạch song bích! Cho nên tôi chẳng cần phí sức đi tìm Lạc Hàn, chỉ cần tuyên bố một câu: Nếu hắn không ra mặt, tôi sẽ ép Hoài Thượng. Với câu này của tôi, hắn nhất định sẽ xuất hiện.””

Thẩm Phóng và Đỗ Hoài Sơn nhìn nhau. Không sai! Viên lão đại quả nhiên cao minh. Hắn vừa tới Trấn Giang đã lộ vẻ hung hãn khó đoán, khí thế áp bức, mau lẹ, thì ra mục đích thực sự là như thế này. Chỉ nghe Bá Nhan kia nói: “Ta hỏi: “Nếu hắn vẫn không chịu ra thì sao?” Viên lão đại sầm mặt, nói: “Ngài có ấn tượng sâu sắc với một kẻ họ Dịch chăng?” Ta đương nhiên biết người hắn nói là ai, triều đình bọn ta trên dưới chẳng ai không có ấn tượng sâu sắc với hắn. Chỉ thấy mặt mày Viên lão đại âm trầm. “Nếu gã không ra, tôi đã biết được bạc kia chuyển tới đâu, vậy tôi sẽ trực tiếp tìm họ Dịch kia tính nợ.””

Đỗ Hoài Sơn bất giác siết chặt tay vịn ghế, tay vịn làm bằng gỗ Hoa Lê trong tay lão vang lên tiếng “lắc rắc” rồi nứt ra. Thẩm Phóng biết lão cố kỵ Viên lão đại nhưng không ngờ lại tới mức sợ hãi thế này, quả thật đoán không ra Viên lão đại rốt cuộc có thủ đoạn gì, có thể khiến Tam thập nhị đô úy lai lịch hỗn tạp, ai cũng có chỗ dựa phải cúi đầu nghe lệnh, khiến bậc lão luyện giang hồ như Đỗ Hoài Sơn, Tiêu Tứ Ẩn cũng sợ hãi bó tay, thậm chí ngay sứ Kim là Bá Nhan cũng hiện rõ vẻ bội phục. Tuy Thẩm Phóng chẳng có ấn tượng gì tốt với gã nhưng tới mặt mũi người Kim mà gã cũng chẳng nể lắm, riêng điểm này so với trên dưới trong triều đã là một trời một vực, khiến Thẩm Phóng không ngờ được. Theo lời Bá Nhan, dường như quyền thế mưu mô của Tần Thừa tướng cũng khó lay chuyển chủ kiến của gã, đủ thấy Viên lão đại này quả thật bất phàm. Thẩm Phóng nhìn sang Đỗ Hoài Sơn, cũng đã rõ lão lo lắng điều gì: Dịch tiên sinh - một thân văn nhân sức yếu nơi Hoài Thượng liệu có chống đỡ nổi Viên lão đại đích thân bức ép không đây?

Ai nấy nhất thời yên lặng, Thẩm Phóng nhìn Tam Nương, thấy Tam Nương đang chỉnh lại tóc mai. Tóc mai của nàng vốn rất ngay ngắn, không cần chỉnh trang, Thẩm Phóng hiểu rõ Tam Nương, biết đó là biểu hiện nàng đang vô cùng lo lắng. Biết nhau đã mười năm, trước nay hắn chưa từng thấy nàng như vậy. Nếu Viên lão đại thật sự qua sông, thế lực Đề kỵ lấn lên bờ Bắc, vợ chồng hắn tất nhiên bất hạnh. Có điều, Thẩm Phóng tuy là thư sinh nhưng có dũng khí của thư sinh, hắn vươn tay nắm chặt tay Tam Nương. Tam Nương được hắn nắm tay, tựa hồ bình tĩnh hơn nhiều, cũng nắm chặt lấy tay hắn, thầm nghĩ: Vị phu quân này tuy không hiểu võ kỹ nhưng tính cách cũng có chỗ có thể nương tựa.

Tới cả Ngô Huyện lệnh cũng biết chuyện này trọng đại, Dịch Bôi Tửu kia tuy xa tít tận Hoài Thượng nhưng chính là một tấm bình phong đệm giữa Tống - Kim. Mấy năm nay, Hoài Nam được bình ổn phần lớn là nhờ vào điều đó. Gã bèn cất giọng lo lắng mà hỏi: “Thế rốt cuộc Lạc Hàn kia đã xuất hiện chưa?”

Hầu hết những người ngồi đây đều muốn biết, lại nghe sứ Kim nói: “Không biết, có điều, không rõ tại sao Viên lão đại đột nhiên dừng việc Bắc thượng, cứ nán lại Trấn Giang. Hình như có người nói, bên bờ Trường Giang chỗ gần Trấn Giang thấp thoáng nhìn thấy một thiếu niên mặc đồ đen dắt lạc đà uống nước. Hành tung của hắn rất mơ hồ, ai biết được đấy có phải Lạc Hàn hay không? Mà dẫu có phải, người khác cũng chẳng lường được hắn nghĩ gì.”

Thẩm Phóng bỗng cảm thấy máu huyết toàn thân như dồn cả lên mặt, siết chặt tay vịn ghế, đồng thời cảm thấy bàn tay Tam Nương trong bàn tay mình siết lại. Hai người tâm ý tương thông, liền biết suy nghĩ của người kia giống hệt mình, đang nhớ tới một kiếm nọ của Lạc Hàn trong đêm mưa ở quán trọ ngày trước. Cái thần thái và sự sắc bén không thể tránh thoát đó, cái dũng khí quyết tâm sôi sục xoay chuyển tình thế đó... Thẩm Phóng chỉ cảm thấy tim mình đập nhanh, thầm nhủ: Ai bảo trời đất tiêu điều, giang hồ tịch mịch? Có Viên lão đại nọ uy phong trong cõi, thế vươn Hoài Thượng thì liền có thiếu niên áo đen kia lựa lúc hắn ở Trấn Giang mà thấp thoáng xuất hiện. Tuy chỉ thấp thoáng nhưng đã khiến Viên lão đại dừng lại, không dám Bắc thượng, còn ai dám nói chẳng kẻ nào có thể chặn mũi tiến của Viên lão đại? Chỉ một thoáng xuất hiện thôi, tuy mũi kiếm của người nọ còn chưa xuất nhưng đã khiến ai nấy thấy được chỗ mà mũi kiếm chẳng e chẳng sợ của hắn hướng vào.

Đỗ Hoài Sơn thở dài, sắc mặt Ngô Huyện lệnh bên kia cũng dãn ra. Tam Nương Tử cũng cảm thấy lòng nhẹ bẫng, thấy Thẩm Phóng và Đỗ Hoài Sơn chăm chú vểnh tai nghe phía đối diện, không biết vì sao nàng chợt có cảm giác mình đã trở lại là một người phụ nữ. Lời này nói ra dường như buồn cười nhưng từ khi Kinh Tam Nương xuất đạo tới nay, một mình giữ gìn Bồng Môn, thoa lệnh đến đâu là ở đó tầm cừu báo hận, chưa từng có cơ hội cảm thấy bản thân mình là một cô gái. Nàng trước nay cũng rất căm hận nam nhân xung quanh mình, bởi vì nàng gần như chẳng cảm thấy bọn họ giống nam nhân, sau khi kết duyên với Thẩm Phóng, tuy nàng tạm thời bình tĩnh lại nhưng Thẩm Phóng trước giờ có chí nhưng không được thỏa, tâm tình buồn bực, nàng cũng thường phải an ủi trượng phu. Bây giờ, thấy hai nam nhân bên cạnh vì chuyện quốc gia, vì thế lực tăng giảm mà vô cùng chăm chú, không hiểu sao lần đầu tiên Tam Nương có cảm giác mình là nữ nhân.

Cảm giác này thật là tuyệt, đây chính là cảm giác gác đao kiếm xuống, toàn thân yên ổn. Nàng nhìn xuống lầu dưới, bóng nắng chiếu nơi cửa đột nhiên ngắn lại, nàng nhìn kĩ, thì ra có người đang đi vào. Đó là một thiếu niên ôm đàn. Tam Nương nhìn hắn, không biết tại sao trong lòng tĩnh lặng. Thiếu niên nọ khoác trên người bộ y phục đã cũ, chẳng có gì khác với người thường, chỉ là chưa từng thấy ai mặc đồ cũ mà lại toát lên vẻ thư thái, trong sáng, mềm mại, nhẹ nhàng, khiến người ta nhìn vào mà thấy thoải mái như hắn. Hắn ôm đàn, bước thong thả, không phát ra chút tiếng động, tới ngồi xuống tấm phản gỗ cạnh cửa sổ mé trái của lầu một rồi đặt cây đàn lên đùi. Tam Nương vừa rồi còn nghĩ tới hai chữ “nam nhân”, giờ trông thấy thiếu niên này lại không biết nên phẩm bình ra sao, bỗng nghĩ tới một câu trong tập Đường thi nằm ngay ngắn trên bàn trong thư phòng của phu quân mà nàng từng đọc được: “Trướng ngọa tân xuân bạch giáp y(1).” Sau mới sực nghĩ, bây giờ đâu phải tiết xuân chứ!

Bên kia lầu vẫn đang sôi nổi, lại nghe Bá Nhan cười, nói: “Ngô đại nhân, chắc ông không chỉ định mời bọn ta rượu suông đấy chứ? Hình như người Nam các ông có câu thơ: “Hoa thời đồng túy phá xuân sầu, túy triết hoa chi tác tửu trù(2)”, đối tửu há có thể không có hoa, không có hoa làm sao được, hoa đâu? Đem hoa tới!”

Ngô Huyện lệnh nọ bật cười “hắc hắc”, cúi đầu trầm ngâm, bảo: “Thư thành đất mọn, tuy có doanh kỹ nhưng chẳng qua đều là bọn quê mùa, thô kệch, không so bì được với gái đẹp Giang Nam, chỉ sợ chẳng có đứa nào lọt được vào mắt Bá Nhan đại nhân, thế này đi...” Gã vỗ tay, một người hầu tiến tới, chỉ thấy gã thấp giọng dặn dò người hầu vài câu, lại nói: “Đi nhanh về nhanh, chọn mấy đứa được được đem tới!”

Vào thời Tống, chế độ doanh kỹ là một chế độ cực kỳ tàn nhẫn, phàm là gia quyến của quan lại phạm tội, vợ cùng con gái của kẻ đó, ngoài việc bị đưa vào cung làm nô, làm tì thì còn bị đem vào trong doanh làm kỹ nữ, từ đó sống cuộc đời hầu hạ mua vui, bán thân bán xác. Tàn nhẫn nhất chính là, vào một thời điểm nhất định hằng năm, bọn họ còn phải luân phiên vào hầu trong trại lính, cho nên bao giai thoại súc tích được lưu truyền trong phường hát của bọn sĩ đại phu phong lưu thơ rượu, chẳng cái nào không viết từ máu và nước mắt của những nữ nhân đó. Tuy Tam Nương Tử ở tầng lớp dưới cùng của xã hội, xuất thân mãi nghệ, nhưng dù thế nào vẫn có chút tôn nghiêm ít ỏi, song nếu thân là doanh kỹ thì chẳng khác nào đọa mình dưới địa ngục tăm tối nhất, muôn đời chẳng thể thoát ra.

Cho nên lúc nghe nói thế, Thẩm Phóng không khỏi buồn rầu thở dài. Đám bên kia vẫn truyền ly đổi chén, chẳng ai bận tâm. Khi ấy, người Kim trên đất Tống luôn thích gì đoạt nấy, vàng lụa, đàn bà đều không ngoại lệ, huống chi vài đứa doanh kỹ. Được một lúc, chỉ nghe ngoài cửa có tiếng xe ngựa dừng bánh, cả đám đang vui vẻ, cũng chẳng để ý. Chỉ có một viên sứ Kim hỏi sư gia của Ngô Huyện lệnh: “Tổng cộng gọi tới mấy đứa?”

Sư gia kia tủm tỉm cười, đáp: “Thư thành đất nhỏ, chẳng có đứa nào xuất sắc, đã truyền gọi sáu đứa, còn một đứa là từ bên ngoài tới, nghe bảo đứa này còn được xem là xuất sắc, quan gia chỉ cần nhìn mình nó là được.”

Viên sứ Kim kia nghe không rõ, sững người. “Một đứa?” Từ lúc tới Nam triều, gã chưa từng gặp chủ nhà nào “nhỏ mọn” nhường này, thế rồi gã quay người nhìn xuống lầu, quả nhiên thấy có mấy nữ nhân tiến vào lầu dưới, đúng là chẳng có ai xuất sắc, mặt người nào người nấy trát đầy phấn, cười gượng gạo đi lên lầu. Bên người họ đương nhiên không thiếu mấy thứ đàn sáo. Mấy người Bá Nhan đi sứ Nam triều nhiều lần rồi, mà kể cả ở đất Bắc, phụ nữ Hán bọn họ cướp về cũng không ít, khi thấy những ả này thì đều không kìm được nhíu mày. Trừ một ả được miễn cưỡng lưu lại để hầu rượu, đám còn lại đều bị đuổi xuống lầu tấu nhạc. Thư thành quả nhiên là đất quê mùa, hẻo lánh, mấy quan kỹ nọ tấu khúc Nghênh tiên khách cũng chẳng ra làm sao, tới Ngô Huyện lệnh nghe mà cũng phải cau mày. Bá Nhan không kìm được, ném ly rượu xuống lầu dưới, “xoảng” một tiếng, cắt ngang khúc nhạc, mặt mũi đỏ bừng. Ngô Huyện lệnh như đã sớm đoán được tình cảnh này, lẩm bẩm: “Sao Chu Nghiên còn chưa tới?”

Lại thấy Bá Nhan cười “hắc hắc”, nói: “Ngô Huyện tôn, ông coi thường bọn ta hay là tiếc mấy đứa doanh kỹ của ông, sao lại đem mấy thứ vừng mè kê thóc vứt đi này tới? Ta nghe nói chỗ các ông có một nữ tử nổi tiếng, tên là Chu Nghiên, nàng ở đâu, sao không thấy đến?”

Ngô Huyện lệnh lo tới toát mồ hôi, cười nịnh. “Tôi đã sai đám hạ nhân đi gọi nàng rồi, đại nhân bớt giận, đợi thêm một chút, đợi thêm một chút!”

Đây là lần đầu tiên mọi người nghe thấy có doanh kỹ dám đến chậm. Đợi hồi lâu, mãi vẫn chưa thấy đến, chẳng đợi Bá Nhan nổi giận, Ngô Huyện lệnh đã phát nộ rồi. Một kẻ văn nhã như gã mà cũng tát ngay vào mặt tên gia nhân tới thưa lời, in dấu năm đầu ngón tay, giận dữ thét lên: “Ngươi chuyển lời của ta, có phải khiêng cũng phải mang nàng tới đây!”

Gia nhân nọ không dám nói gì, vội vàng lui xuống. Bá Nhan ở bên cạnh quan sát rồi cười lạnh, Ngô Huyện lệnh cũng tự thấy mất mặt, chỉ nghe Bá Nhan cười “hắc hắc”, nói: “Ngô đại nhân, khi quay về ta sẽ nói chuyện với Án sát sứ An Huy Lô đại nhân của các ông, ông tiếp đãi hạ quan thật tốt, phải thăng cho ông hai cấp quan ấy chứ!”

Không khí trong sảnh đột nhiên thắt lại, Ngô Huyện lệnh không dám đáp lời, chỉ liên tục vuốt mồ hôi. Nên biết lúc bấy giờ, lễ tiết của Nam triều đối với sứ thần phương Bắc luôn là lấy chiều ý làm chủ, không ai dám chậm trễ, dưới uy thế của Tần Thừa tướng, ai dám gánh trách nhiệm sơ sót gây chiến loạn đây? Lại thấy mặt mày Bá Nhan âm trầm như nước, giọng lạnh băng: “Ngô đại nhân, ta đếm đến ba, nếu Chu Nghiên còn chưa tới, tiệc rượu này bọn ta không ăn cũng được.”

Nói rồi, hắn bắt đầu đếm: “Một...”

“Hai...”

“Ba...”

Chỉ thấy trán Ngô Huyện lệnh tứa mồ hôi, trông vừa hèn hạ vừa đáng thương. Bá Nhan đã đếm tới ba, gã nói được là làm được, chẳng hề giữ cho Ngô Huyện lệnh chút thể diện, đứng dậy định đi. Ngô Huyện lệnh biết chỉ cần gã đi, cái chức quan của mình e là đi đứt, mười năm khổ sở đèn sách sẽ hóa thành bọt nước, bèn nài nỉ cầu xin: “Bá Nhan đại nhân, ngài nguôi giận, đợi thêm chút nữa, tôi nhất định gọi nàng tới cho ngài!”

Bỗng nghe dưới lầu vang lên tiếng thở dài nhè nhẹ. Tiếng thở ấy tuy nhẹ nhưng nghe vui tai, tiếp đó một giọng nói cực kỳ dễ nghe cất lên: “Ngọc Trác, không cần xin nữa! Bá Nhan đại nhân, Chu Nghiên tới rồi!”

Mọi người nhìn xuống lầu nhưng chẳng thấy mỹ nữ nào, tiếng nói ấy là của một gã xách đồ vừa rồi vào cùng mấy ả doanh kỹ, ban nãy không theo lên lầu. Hắn vừa cất tiếng, chúng nhân thấy hắn thân thể thướt tha mới biết ra là nữ tử. Bá Nhan cũng ngẩn người, nhìn xuống dưới lầu, hỏi: “Ai là Chu Nghiên?”

Đứa tớ kia đáp: “Chính là thiếp.”

Nàng ngẩng mặt, mọi người chỉ thấy nàng có ngũ quan rất đẹp nhưng sắc mặt ảm đạm. Bá nhân ngớ ra. “Cũng không thấy có gì xuất sắc.”

Đứa tớ kia như chẳng hề sợ gã, lạnh nhạt nói: “Ngài chớ làm khó Ngô Huyện lệnh, thiếp sẽ trả cho ngài một Chu Nghiên tuyệt diễm vô song.”

Bá Nhan cũng muốn xem xem nàng có trò biến đổi gì, bèn gật đầu. “Được!”

Đứa tớ kia bèn bảo: “Đem nước lên!”

Nàng hẳn đã quen thuộc với Túy Nhan các, người làm quả thật mang nước tới, trong mắt còn phảng phất vẻ lo lắng cho nàng. Chỉ thấy Chu Nghiên đặt chậu xuống đất, cúi đầu, từ từ rửa mặt. Những người ngồi đây đều yên lặng, khắp lầu chỉ nghe tiếng nàng vốc nước. Nàng còn chưa ngẩng đầu, tiếng động nọ như đã lay động lòng người. Kế đến, chỉ nghe nàng thở dài một tiếng, từ từ ngẩng đầu, nhìn lên lầu. Mới rồi son phấn làm nhơ nhan sắc, mọi người không trông thấy diện mạo thật của nàng, bây giờ nàng mới hơi ngẩng đầu, lại như toát ra vẻ mệt mỏi khôn tả, mệt mỏi với việc để nam nhân ngắm nhìn. Mọi người giờ mới thấy dung nhan như phù dung đượm sương sớm của nàng, trong tòa lầu cổ này, đó quả là một vẻ tuyệt diễm khó có thể diễn tả bằng lời. Bá Nhan há hốc miệng, chỉ nghe nàng cất tiếng thở dài, nói: “Thiếp đi thay y phục”, sau đó cất bước thướt tha đi ra khỏi cửa. Chúng nhân nhìn theo bóng lưng nàng mà chẳng nói nên lời, tựa như giờ mới hiểu thế nào là: “Vân tưởng y thường hoa tưởng dung(1)”, thế nào là: “Danh hoa khuynh quốc lưỡng tương hoan(2).”

Chu Nghiên rời đi rất lâu, thúc mấy lần, mãi sau nàng mới trở lại trong sự kỳ vọng của mọi người. Đầu tiên, chúng nhân chỉ nghe tiếng nàng xuống ngựa, hẳn là nàng thay y phục trên xe, sau đó có tiếng ngọc bội “lanh canh”, tuy rất nhỏ nhưng lại khiến ai nấy phải vểnh tai lắng nghe. Trang sức của Chu Nghiên hẳn không nhiều nhưng cứ vang lên tiếng “tinh tinh”, lúc ngưng lúc tỏ, người còn chưa tới, âm thanh đã vang khắp không gian. Chỉ mấy bước từ cửa viện tới cửa lâu, ngọc bội của nàng đã tạo thành một đoạn nhạc, tựa như khẽ khàng gõ vào lòng người, nàng nói: “Thiếp đến rồi, đến rồi đây!”

Thẩm Phóng cùng Tam Nương cũng dõi theo ánh mắt mọi người, kế đó Chu Nghiên mới xuất hiện ở cửa. Những người nhìn thấy nàng đều bất giác giật mình, người vốn đang mồm miệng tép nhảy bỗng ngậm miệng, người vốn đang ngậm miệng thì lại hơi hé miệng, tiếng nói chuyện ở các bàn lần lượt lặng đi, chỉ thấy Chu Nghiên đứng nơi ngưỡng cửa, dáng vẻ ngại ngần, giống như không biết mình đang làm gì, đi đâu, đẹp tới cùng cực chính là ở vẻ mê man mà chính mình cũng không biết. Nàng bận một chiếc áo đỏ rực, choàng khăn màu bạc, dưới làn khăn lộ nửa cánh tay áo màu xanh lạt, nàng đứng ở cửa, ánh sáng sau lưng, như thật như ảo. Bấy giờ mọi người chẳng nhìn rõ mặt nàng, tới Đỗ Hoài Sơn cũng kinh ngạc. Lúc này, Chu Nghiên mới ngẩng đầu nhìn lên lầu, cất tiếng hỏi: “Ngọc Trác, ba tháng nay chàng không chịu gặp ta, sao bây giờ lại vội vàng gọi ta tới thế?”

Người nàng hỏi hình như là Ngô Huyện lệnh, hẳn tên thật của Ngô Huyện lệnh là Ngọc Trác, chỉ thấy vẻ mặt gã cực kỳ xấu hổ. Chu Nghiên ra mặt tuy đã giải vây cho gã nhưng lúc này dường như gã không muốn gặp Chu Nghiên. Vừa chạm vào ánh mắt Chu Nghiên, gã lập tức nhắm mắt. Hình như Chu Nghiên và gã biết nhau từ trước, thấy gã không đáp thì khe khẽ thở than một tiếng rồi đi lên lầu.

Nàng uyển chuyển chào hỏi: “Tiểu nữ xin ra mắt các vị đại nhân!”

Giọng nàng không thể ví là như châu như ngọc, bởi có là châu ngọc cũng chẳng thể tạo ra thứ âm thanh trong trẻo, nhuần nhị chẳng có ở chốn nhân gian đó. Bây giờ ở gần, chúng nhân mới trông tỏ dung mạo của nàng. Chỉ thấy nàng quả đúng như tên gọi, xinh đẹp thanh tân(1). Thông thường, khi nữ nhân nhìn nhau thường sẽ nhìn y phục trước tiên, nhưng Tam Nương cảm thấy Chu Nghiên khiến cho người khác chưa kịp nhìn y phục của nàng thì đã mơ màng rồi. Nàng không mang nhiều trang sức rườm rà nhưng không phải là không có, để tránh nhạt nhẽo. Không thể diễn tả nổi nàng đẹp thế nào, chỉ là bất cứ nữ nhân nào trên đời trông thấy nàng, chỉ e con tim sẽ mất đi cảm giác. Thì ra một người con gái có thể “con gái” tới mức này. Tam Nương Tử kinh ngạc nhìn cô gái tên Chu Nghiên đó, đã từng này tuổi, vậy mà bây giờ nàng mới hiểu ra thế nào là “kinh diễm”.

妍): nghĩa là “đẹp đẽ”.

Trước nay Tam Nương không thích nữ nhân quá chói mắt, nhưng thì ra “chói” cũng có thể chói thành vẻ tuyệt diễm nhường này, nàng cũng có chút xem thường “mị”, nhưng “kiều mị mà không tục tĩu” hóa ra cũng không phải câu nói suông. Sau khi nhìn thấy Chu Nghiên, nàng mới biết nữ nhân chốn thành thị hóa ra cũng có thể “tươi mới”, nhưng lại không phải kiểu tươi mới tới quê kệch như con gái miền quê, còn về phần “xinh đẹp”, thì ra mấy thứ phấn son có thể điểm trang cho một người để có được vẻ tự nhiên nhường ấy.

Trong cả tòa lầu, người duy nhất không kinh ngạc đến ngây người hẳn là Thẩm Phóng, hắn nhìn một cái rồi quay lại nhìn Tam Nương. Bỗng nghe Ngô Huyện lệnh nói: “Chu hiệu thư(1), chuyện của chúng ta sau này sẽ nói. Bá Nhan đại nhân là khách quý của triều đình, vừa rồi ngài than thở đối tửu không thể thiếu hoa, mới đợi nàng tới. Thư thành của chúng ta nhỏ bé, chẳng ai xứng lọt vào mắt ngài. May có nàng lưu lại đây, ta muốn mời nàng đàn một khúc, thế nào?”

Chu Nghiên đưa mắt nhìn hắn, vừa có vẻ vui mừng vừa có vẻ nghi hoặc, nhưng trong hoàn cảnh này cũng không tiện nhiều lời, bèn khẽ gật đầu, tự mình tới ngồi xuống một cái đôn vuông cạnh lan can. Nàng có đem theo một cây đàn tỳ bà, chỉ thấy nàng ôm nó trong lòng, mắt vẫn nhìn về phía Ngô Huyện lệnh, tựa như có nét u oán. Song Ngô Huyện lệnh lại chẳng nhìn nàng, nàng khẽ cười khổ rồi gảy dây đàn, sau đó liếc nhìn xung quanh. Nàng ngồi chênh chếch, chọn vị trí tốt, có thể bao quát toàn lầu. Làn thu ba lưu chuyển, những người ngồi đây bất kể là ai, ngay cả Thẩm Phóng và Tam Nương bên kia đều cảm thấy, nàng đã nhìn tới mình. Kẻ tuổi trẻ thì tim nhảy thót, không khỏi nảy sinh cảm giác tự thẹn mình hình dung xấu xí. Cái nhìn ấy xem như lời dạo đầu của nàng, chỉ nghe nàng gảy đàn, tiếng đàn “tinh tang”, dần kết thành khúc điệu, nàng nhẹ cất tiếng hát:

“Hay là thôi mấy lời thủ thỉ, chỉ muốn hỏi chàng lấy một câu, phải chăng có phép hay cách lạ, cởi thiếp đây mê loạn muộn phiền. Thiếp thấy sợ gối đây chăn đấy, những ấp ôm dơ bẩn thế kia, nói cái gì mà ca hay múa đẹp, đều chỉ là giả dối buổi ngày thôi. Ôi đáng hận, thật là đáng hận. Thiếp chỉ mong được áo vải với quần thô, thoát khỏi chốn phong hoa phóng đãng.”

Lúc nàng cất tiếng ca nhè nhẹ ở bên này, ở bên kia Đỗ Hoài Sơn đang thấp giọng hỏi tiểu nhị: “Nàng ấy là ai thế?”

Tiểu nhị khẽ cười, đáp: “Cô nương ấy chính là Chu Nghiên, nghe bảo ở Lâm An cũng là phường nức tiếng.

Quý khách chưa từng nghe tới à? Nàng lưu lạc tới đây, thật xinh đẹp tới sững sờ phải không? Đáng tiếc, doanh kỹ có tới đâu vẫn cứ là doanh kỹ, chẳng thoát nổi sổ sách của giáo phường, có xinh đẹp hơn nữa cũng chỉ uổng mà thôi.”

Đỗ Hoài Sơn gật đầu, lão là người cẩn thận, lại hỏi nhỏ: “Sao thi thoảng nàng lại ngó nhìn Huyện lệnh của các vị thế? Ta thấy lời ca này của nàng dường như là hát cho hắn nghe vậy.”

Tiểu nhị nọ biến sắc mặt, ngó bốn phía thấy không có ai mới than khẽ một tiếng, nhưng vẫn không nói gì, xoay người rời đi. Đỗ Hoài Sơn sao chịu để gã đi, bèn níu lại, cười mà truy hỏi: “Kể đi mà!” Tiểu nhị hãy còn do dự, Đỗ Hoài Sơn đã nhét vào tay gã một thứ cưng cứng, lành lạnh, màu bạc, khiến cho con mắt nhìn thấy thì con tim không thể không động. Tiểu nhị nọ không thể không dừng lại, tủm tỉm cười, nói: “Thật ngại quá, chuyện nói ra cũng dài, tôi cũng là nghe ông bố vợ ở nhà kể, Chu Nghiên cô nương này thuê nhà lão mở một quán trọ nhỏ.”

Nói tới đây, thần sắc của tiểu nhị nọ có phần ảm đạm. “... Đúng là hồng nhan bạc phận! Nghe bảo Chu Nghiên cô nương vốn có xuất thân tốt, ai ngờ hồi chạy xuống phía nam, gia đình tan nát, vì sao tới mức lưu lạc vào ngõ Bình Khang làm nghề này để sinh nhai, nàng không nói, cũng chẳng ai biết, tóm lại chẳng phải bởi số khổ sao? Được cái nàng lớn lên xinh đẹp, thân ở giáo phường, nếu lớn lên mà xấu xí thì sẽ càng phải chịu thiệt thòi. Cũng may, nhờ dung mạo ấy mà nàng có được vị trí tốt, tôi nghe một vị chưởng quỹ ở chỗ chúng tôi hay qua lại thành Lâm An kể, điều hiếm có chính là rất ít nam nhân chiếm được nàng, bởi nàng quá đẹp, hiếm ai đối diện với nàng mà không tự thẹn mình xấu xí, suốt mấy năm liền, nàng không động lòng với ai, cũng chẳng tiếp bao nhiêu khách, nhưng danh tiếng trong thành Lâm An thì rất cao, lời rằng: “Chu Nghiên múa một điệu, ngàn vàng cũng khó mua” e cũng chẳng phải ngoa. Bên trên cũng tự có vài quý nhân chiếu cố bảo vệ nàng, chỉ cần nàng không vướng vào yêu đương thì ổn rồi.”

Nói rồi, giọng tiểu nhị bỗng nhẹ đi: “Đáng tiếc, hồng nhan bạc phận, giai nhân thường vướng phải phường kém cỏi. Bao nhiêu vương tôn công tử như thế, nàng chẳng để ý mà lại nhìn trúng Huyện lệnh chỗ chúng tôi. Huyện lệnh chỗ chúng tôi hồi chưa đỗ tiến sĩ, gia cảnh cùng quẫn, chẳng biết thế nào lại quen được Chu Nghiên, nghe nói hắn cũng có chút tài hoa. Chu Nghiên cũng vì quý tài hoa của hắn mà chịu hạ mình bầu bạn, còn đem vàng lụa giúp hắn đỗ đạt. Đáng tiếc, Huyện lệnh chỗ chúng tôi chẳng có chỗ dựa nào trong triều, đành phải ở ngoài làm huyện lệnh của cái huyện bé tí này. Mới đầu, bọn họ còn hay thư từ qua lại, về sau, Ngô Huyện lệnh bèn cắt đứt. Tôi nghe người biết nội tình kể: Ngô Huyện lệnh đã sớm hối hận vì chuyện qua lại với nàng khiến cho thanh danh hắn không được tốt, hắn cũng không được đám công tử quý nhân trong thành Lâm An dung nạp nên mới phải làm quan ở bên ngoài, nhưng vì Chu Nghiên vẫn đang ở trong kinh, giao lưu với toàn những người không tầm thường, cho nên hắn vẫn phải dây dưa với nàng. Về sau, nghe nói từ khi hắn ra ngoài làm quan, Chu Nghiên liền đóng cửa từ chối khách, Ngô Huyện lệnh không hài lòng, bèn không hồi âm thư của nàng nữa. Ai ngờ, Chu Nghiên cô nương này thật sự si tình, dứt khoát vứt bỏ hết phồn hoa, một mình vượt xa xôi nghìn dặm tìm đến đây. Nàng tới Thư thành cũng được ba tháng rồi, nhưng Ngô Huyện lệnh một mực không tiếp. Ài, chẳng ngờ... hôm nay bọn họ cũng đã gặp mặt...” Tiểu nhị dường như cũng chẳng biết nên bình luận cục diện khó xử hôm nay ra sao, bèn nhìn mấy người Đỗ Hoài Sơn, trên mặt hiện nụ cười khổ rồi xách ấm đi.

Điệu khúc Chu Nghiên hát gọi là Đao đao lệnh, vốn có xuất xứ từ phương Bắc, sau vào Giang Nam thì biến hóa phức tạp hơn, hai năm nay rất nổi tiếng. Chỉ thấy nàng hát một câu lại nhìn Ngô Huyện lệnh một cái, ánh mắt chất chứa sự thở than, tựa như một người vốn không dám tin trên đời có thể nương tựa vào ai nhưng lại tình nguyện nhẹ dạ một lần, khuất thân bầu bạn song lại bị phụ bạc, nhìn rồi lại nhìn, nhận ra mình đang đến gần vực sâu của sự thê lương và cảm thán. Thê lương vốn là khổ nhưng trong mắt nàng, thê lương cũng là đẹp. Những người ngồi nghe đều nghiêm nghị ngồi thẳng, chỉ có Bá Nhan là hơi há miệng, ngơ ngẩn nhìn nàng... bởi vì cũng chỉ có gã mới có tư cách này. Chu Nghiên đàn xong một khúc liền thu tỳ bà lại, chầm chậm đứng dậy, thấp giọng hỏi: “Ngọc Trác, chàng thật sự không nhận ra thiếp sao?” Nét mặt nàng lộ vẻ quyết tuyệt.

Ngô Ngọc Trác sững người, dường như không tiện trả lời. Sư gia bên cạnh gã luống cuống, vội chõ miệng cười, đáp: “Chu hiệu thư vang danh thiên hạ, làm gì có ai không biết. Tới đây, tới đây, ta rót một chén rượu, cô nương tới kính Bá Nhan đại nhân một chén.”

Chu Nghiên chẳng hề nhìn hắn lấy một cái, cũng chẳng buồn liếc Bá Nhan, cay đắng hỏi: “Ba tháng rồi, chàng chẳng chịu gặp thiếp lấy một lần. Thiếp biết chàng đã nạp thê cưới lẽ, thiếp chẳng biết nói sao, nhưng hai năm ân tình, sớm hôm bầu bạn, lẽ nào cứ thế cắt đứt ư?”

Ngô Huyện lệnh tỏ vẻ xấu hổ, lại nghe Chu Nghiên nói: “Kỳ thực, thiếp là hạng người này, cắt đứt thì cắt đứt thôi, thiếp chỉ muốn chàng ở trước mặt nói với thiếp một câu, thật ra chỉ cần tốt cho chàng, thiếp thế nào cũng được.” Trán Ngô Ngọc Trác lấm tấm mồ hôi, lần này chẳng phải vì sợ mà là vì hổ thẹn. Chỉ nghe gã nói: “Chu Nghiên, chuyện này chúng ta nói sau được không? Bây giờ Bá Nhan đại nhân với bao nhiêu vị đại nhân đều có mặt ở đây, nàng... nàng hát thêm một khúc đi!”

Chu Nghiên khẽ run rẩy. Nàng nhìn Ngô Ngọc Trác, chỉ thấy gã đang mặt mày bất an mà ngó Bá Nhan. Cuối cùng nàng cũng nhìn rõ nam nhân này, nghe thấy trong cõi lòng mình có thứ gì đó tan vỡ, âm thanh ấy tuy rất nhỏ nhưng cũng rất lớn, tới cả Tam Nương ở phía đối diện cũng có vẻ nghe ra từ thân hình khẽ run rẩy của nàng. Đáng tiếc, kẻ nàng từng quan hoài nhất, từng vì gã mà buông bỏ tất thảy lại đang mồ hôi đầy mặt mà nhìn viên sứ thần nước Kim, sợ sệt run rẩy, hoàn toàn chẳng nghe được.

Chu Nghiên nở nụ cười, nụ cười rạng rỡ khôn bì, cảm thấy đời này kiếp này không muốn nhìn thấy loại nam nhân này nữa.

Sau đó, nàng khinh rẻ tột độ, chỉ vào Bá Nhan. “Rốt cuộc, vì Thư thành quá bé, chẳng có gì để khoản đãi vị quan nhà Kim này nên chàng mới nhìn tới thiếp, đem thiếp ra tiếp đãi?”

Nàng đau lòng đến muốn chết, trên khuôn mặt vẫn toát ra vẻ diễm lệ mà thê lương. Nàng lắc đầu, cười khổ. “Nam nhân a!” Nam nhân ngồi đó, những ai có chút lòng đều thấy hổ thẹn, cảm thấy ba chữ này của nàng đã cảm thán tới cùng tận cái đức hạnh của nam nhân. Lại nghe Chu Nghiên than rằng: “Vậy thiếp còn hát Đao đao lệnh làm gì nữa, vốn là giả tình giả ý, có thiết tha mấy cũng níu chẳng được, giữ chẳng xong.”

Mắt nàng đẫm lệ. Nàng vốn tuyệt sắc, tuy trong chốn bùn nhơ nhưng vẫn xuất trần. Nàng cảm thấy mình vốn đã cho cái thế giới đen tối này một cơ hội để níu giữ nàng... tựa như lưu giữ lại sự tốt đẹp và một chút chân tâm, tuy nàng hoàn toàn không tin nó nhưng vẫn cho đi, nhưng nó lại đem chà đạp.

Nàng nhìn Bá Nhan, khẽ cười, hỏi: “Ngài muốn ngủ cùng ta sao?”

Bá Nhan ngớ người, không ngờ nàng lại hỏi như thế, cũng chỉ có thú tính bên trong gã mới không bị sự thương cảm cảm nhiễm, chỉ nghe gã hớn hở đáp: “Phải!”

Chu Nghiên chỉ cười, ánh mắt nhìn gã giống như đang nhìn một loài thú vật, rồi nàng quét mắt nhìn tất cả mọi người có mặt, sau đó nhìn vào khoảng không, miệng khẽ buông: “Nằm mơ đi!”

Miệng nói, tay trái nàng đã đưa ra ngoài lan can rồi buông ra, cây đàn tỳ bà trong tay rơi xuống. Mọi người xung quanh cả sợ. Chỉ thấy nàng cười khẽ, cơ thể nhẹ nhàng đổ xuống, cả người rơi xuống lầu, chẳng ai ngờ nàng lại dứt khoát đến thế, chỉ kịp nghe nàng thủ thỉ một câu: “Ngọc Trác, nhớ lấy, ta không phải vì chàng mà nhảy, chàng còn chưa xứng để khiến ta thất vọng...”

Những người có mặt đều “úi” một tiếng, đa số còn chưa kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra thì đã sắp có cảnh máu nhuộm lan son rồi.

Lúc Chu Nghiên buông mình nhảy xuống, trong tay nàng nắm sẵn một con dao gọt hoa quả nhỏ. Nàng biết lầu gác không cao, cho nên lúc nhảy đã hướng người xuống, lại kề mũi dao ngay ngực, rõ là đã ôm lòng chết chắc. Mọi người đều chẳng ngờ nàng lại cứng cỏi đến vậy, chỉ có Đỗ Hoài Sơn là phản ứng nhanh, vừa thấy Chu Nghiên nhảy xuống đã lập tức nhào tới cứu. Đoạn hành lang chỗ lão cách chỗ Chu Nghiên phải bốn, năm trượng, Chu Nghiên rơi thẳng xuống, lão lại bay nghiêng qua, có điều thân thủ của Đỗ Hoài Sơn cực nhanh, dù tà tà lao tới vẫn bắt kịp lúc nàng còn cách mặt đất ba thước. Ngoại hiệu của lão là Động Minh thủ, vốn có ánh mắt sắc bén, giữa không trung đã thấy được trong tay Chu Nghiên cầm dao. Lão không vội túm lấy người mà vươn tay túm lấy cổ tay nàng trước, vừa kéo vừa vặn, con dao trong tay nàng liền tuột ra, mũi dao cắm thẳng xuống, “phụp” một tiếng, ghim xuống sàn gỗ, dao lút tới cán, đủ thấy nó sắc bén tới mức nào.

Kế đó Đỗ Hoài Sơn mới giữ lấy Chu Nghiên, vững vàng đáp xuống. Tuổi lão đã cao, đã quá cái tuổi tri thiên mệnh, vốn chẳng cần để ý tới cái mà thế tục gọi là kiêng kỵ nam nữ, nhưng Chu Nghiên này quả thật quá xinh đẹp, lúc Đỗ Hoài Sơn đón lấy nàng bèn bất giác đưa hai tay về phía trước, giữ người nàng ở xa xa, sau đó nhẹ nhàng đặt nàng xuống đất, bấy giờ nước mắt của Chu Nghiên mới tuôn rơi. Đỗ Hoài Sơn sống trên đời đã sáu mươi mấy năm, giờ mới rõ thế nào là lệ má hồng chẳng quản tuế nguyệt, chỉ nghe nàng lẩm bẩm: “Cớ sao còn cứu thiếp?”

Đỗ Hoài Sơn không tiện đáp, mà cũng không đáp nổi.

Chu Nghiên than rằng: “Thiếp đã là một nữ nhân chẳng ai đoái hoài. Cuộc đời này thiếp đã sống chán rồi. Thiếp có sống tiếp, cũng chỉ chịu thêm khuất nhục mà thôi, có còn ý nghĩa gì đâu! Ài... Chu Nghiên à Chu Nghiên, trần thế nhộn nhạo, toàn là bọn mày râu bẩn thỉu, chẳng có được người nào có thể bao bọc ngươi.”

Đỗ Hoài Sơn ngẩn người nhìn nàng, tự đáy lòng dâng lên cảm giác dịu dàng đã lâu không gặp. Trên lầu bỗng vang lên một tràng hoan hô, hóa ra thấy lão một thân già cả, suy yếu mà lại phóng mình vút đi, cứu người thành công, thân thủ nhanh nhẹn hơn đứt đám thiếu niên, đám người Kim ở dãy hành lang phía bắc tuy trước nay vẫn xem thường người Nam triều cũng vỗ tay tán thưởng. Đỗ Hoài Sơn không tìm được lời nào để an ủi, cảm thấy không nên tiếp tục lưu lại bên cạnh Chu Nghiên. Trong lòng lão cũng thầm thẹn, từ lúc thê tử của lão qua đời, lão vẫn luôn nhìn hồng nhan như xương khô, lòng chẳng dấy ý niệm nam nữ đã hơn hai chục năm, nhưng khi cứu Chu Nghiên, lão không kìm được hai tay nâng đỡ, rõ ràng đã động lòng nam nữ, bây giờ dưới ánh mắt bao nhiêu người lại cảm thấy không tiện lưu lại bên cạnh Chu Nghiên, thế là do đâu? Thoáng ngẫm, mặt đỏ lên, lão nghĩ: Đỗ Hoài Sơn à Đỗ Hoài Sơn, thật uổng cho ngươi chăm chỉ tu luyện Động Minh thủ hơn ba chục năm! Liếc mắt nhìn sang, thấy Chu Nghiên tuy đang rơi lệ nhưng phong thái không loạn, vẻ đẹp đó của nàng thật khiến người ta kính nể, Đỗ Hoài Sơn thầm than trong lòng, tự nhủ: Người như thế, vốn không nên sinh trong cõi người. Lão nhặt cây đàn tỳ bà Chu Nghiên thả rơi lúc trước, thấy đuôi đàn cùng trụ căng dây đã nứt vỡ.

Lão xoay mình đưa cây đàn cho Chu Nghiên, khẽ nói: “Cô nương hãy bảo trọng, nghe một câu của lão hủ, đời người dài lắm, dù sao cũng chớ nên nghĩ quẩn nữa!” Rồi lão xoay người lên lầu, biết hành động này của mình chẳng phải là vì giếng cũ sóng không gợn, mà là để tránh né vẻ mỹ diễm tỏa ra bốn phía của nữ tử kia.

Ánh mắt từ bốn phương nhất thời tụ lại trên người Chu Nghiên ở dưới lầu, chỉ thấy nước mắt nàng không ngừng rơi, người gập xuống, ngồi bệt dưới đất. Sau một lần tìm tới cái chết, nàng như đã quên đi ý muốn tự tuyệt, ôm cây đàn tỳ bà tựa người bằng hữu đã bầu bạn với mình cả đời vào lòng, ngơ ngơ ngẩn ngẩn, không rõ đang nghĩ gì. Bất tri bất giác, ngón tay giữa của nàng khẽ cử động, chạm phải dây đàn, âm thanh vang lên, nàng như mới có chút tri giác với thế giới bên ngoài. Nàng đưa đôi mắt mờ mịt nhìn bốn phía, tất thảy đều trống rỗng, ảm đạm, không thể nương tựa, chỉ có cây đàn này là thân thuộc. Thế giới này cô quạnh là thế, tới mức chỉ còn lại cây đàn này thôi! Bàn tay nàng không tự chủ nhấn xuống dây đàn ngày thường nàng quen nhất, sợi dây khẽ rung, vang lên điệu khúc ngày thường nàng thuộc nhất. Tỳ bà rơi hỏng, âm thanh hơi vỡ, trụ dây lại lung lay, âm chuẩn có chút loạn nhưng càng tăng nỗi thê lương. Móng gảy đàn của Chu Nghiên rơi đâu mất hai, ba cái, nàng cũng chẳng buồn tìm, tựa như hoàn toàn không cảm thấy gì, tùy tay gảy tấu, chênh chênh tấu lên lại chính là khúc Đao đao lệnh vừa rồi - người con gái đẹp như nàng cũng chỉ mong tìm thấy một mối tình có thể một đời một kiếp tha thiết không thôi.

Nàng nhỏ giọng ca rằng:

Nhớ về buổi hương đưa ngày trước, đã buông lời thề ước chân thành. Tiễn người đi ngựa xe đà khuất nẻo, mà lệ rơi cô quạnh tới thê lương. Ngóng mòn mỏi chẳng thấy tin ngư nhạn, mối hàn ôn biết ký thác vào đâu. Nhắc tới chàng phụ tình bạc bẽo thế, cõi lòng khôn nguôi nỗi xót xa. Đau lòng lắm thật là đau muốn chết. Tội thiếp đây sớm khuya dằng dặc, chịu hết thảy đọa đày chốn yên hoa.

Khúc điệu thật thê lương, ngay cả đám châm trà của Túy Nhan các cũng đưa tay áo lau nước mắt. Bỗng lại nghe giọng Chu Nghiên dần vút cao:

Chàng mải miết điệu đàn tiếng trống, ngày ngày lanh lảnh ở bên thân. Chàng cùng bầy cơ nương thân cận, chẳng dứt tình ái ới triền miên. Nào có nhớ cái thuở không giày áo, phải bần cùng cơ cực tới thế nào. Cũng chẳng nhớ thiếp hết lòng hết dạ, mỏi mòn mong thật ngốc nghếch đáng thương. Giận chết mất ôi thật giận muốn chết! Cớ làm sao mà linh thiêng thần thánh, như hồ đồ mà quên mối nợ kia!

Khúc ca dứt, nàng không khống chế nổi tâm tình, quăng đi cây đàn tỳ bà đã bầu bạn bên mình nhiều năm. Một cây đàn tốt tiếc thay đã vỡ! Chu Nghiên ôm mặt khóc, trên lầu, sắc mặt Ngô Ngọc Trác khi đỏ khi trắng, tới Bá Nhan cũng thấy xót thương, gượng gạo nói: “Tiểu nương tử này, nàng không muốn thì thôi, bọn ta đâu ép uổng gì nàng!”

Chu Nghiên chẳng hề để ý đến hắn, chậm rãi đứng dậy, dáng hình nàng hòa trong ánh ban mai, toát lên vẻ yểu điệu tuyệt thế. Lại nghe tiếng nàng than: “Thật là lạnh... Ai có thể đàn cho thiếp một khúc, thiếp sẽ vì người đó mà múa ca.”

Vào thời khắc gặp phải sự đả kích lớn nhất của cuộc đời, điều mà nàng có thể nghĩ tới chỉ là hai thứ khiến nàng khó nói là yêu hay ghét - ca và múa.

Bỗng từ chỗ hành lang bên dưới vọng lên tiếng đàn, mọi người đều ngạc nhiên, lúc này mới nhất loạt nhìn về phía thiếu niên bận áo cũ ban nãy Tam Nương trông thấy. Chỉ thấy người này đặt ngang đàn trên đùi, yên lặng ngồi thẳng, tay trái vê nhẹ, tay phải chậm gảy, tiếng đàn phát ra từ chỗ của hắn. Chu Nghiên cũng không nén nổi kinh ngạc, lời của nàng ban nãy chẳng qua chỉ là lời nói rỗng tuếch buông lúc buồn bã, có ý tự xót bản thân không ai bầu bạn, chẳng ngờ lại có người mang theo đàn thật, mà còn là đàn Thất huyền bấy giờ hiếm thấy. Tiếng của nó lanh lảnh, âm sắc trong trẻo. Chu Nghiên vốn là người sành nhạc, vừa nghe đã biết đàn làm bằng gỗ tốt, không kìm được bèn quay đầu nhìn, lại nghe đàn bên đó vang lên dăm ba tiếng, phảng phất ý an ủi, khuyên giải.

Chu Nghiên sững người, lại nghe đàn khúc đã vang lên, tựa như có giọng nói trầm nhẹ: “Muốn múa hãy múa đi!” Đôi chân Chu Nghiên bất giác cử động. Chỉ có múa một khúc mới có thể quên ưu sầu. Khúc đàn kia mở đầu thì mênh mang, man mác, nhập đề rồi thì dần chuyển bổng trầm, ra là khúc Lục ma thời Đường. Chu Nghiên nghiên cứu sâu về âm luật nên nhận ra ngay, bèn theo đó múa điệu Chá chi(1). Chỉ thấy nàng nhẹ nhàng xoay rồi bẻ cành, vin hoa, tất thảy đều là động tác trong Chá chi vũ. Những người ngồi đấy nhất thời xem mà ngây người, từ lâu đã nghe tiếng “Chu Nghiên múa một điệu, ngàn vàng cũng khó mua”, ai ngờ hôm nay lại được tương ngộ ở cái thành vắng vẻ này, lại còn được thấy nàng múa trong tâm trạng thế kia. Tam Nương khe khẽ gõ phách, có khi nàng là người duy nhất đang ngồi đây nhận ra được điệu múa này.

Tiếng đàn của thiếu niên dưới lầu nọ lại trở nên mênh mang, mỗi khi vang lên như nâng bước cho Chu Nghiên. Miệng người nọ dường như vẫn đang ngâm nga nho nhỏ, vì cách xa, nghe không rõ, Thẩm Phóng kiên nhẫn lắng tai, hình như là Đình vân của Đào Tiềm. Màn múa này kéo dài suốt khoảng thời gian một bữa cơm, đột nhiên thiếu niên thu ngón, Chu Nghiên đang xoay nhanh cũng dừng phắt lại, hai bên phối hợp khéo đến mức tưởng như trong lòng đã ngầm hẹn, luyện tập tới nhuần nhuyễn rồi. Thẩm Phóng nghe thấy thiếu niên nọ lúc thu ngón than rằng: “Tự cổ tài nhân hay tịch mịch, cần chi lưỡng lự chuyện ở đi”, lời này tựa như nói với Chu Nghiên vậy.

Một điệu múa như cầu vồng rủ mây, mỹ diệu muôn phương, sớm đã khiến đám người Kim ở lầu đối diện xem mà vò đầu bứt tai, hưng phấn dạt dào. Sứ Kim Bá Nhan vỗ mạnh tay, thốt lên: “Tuyệt kỹ thế này, nếu không đem về dâng lên Hoàng thượng, há chẳng đáng tiếc sao! Người đâu! Xuống mời Chu Nghiên cô nương lên!”

Chu Nghiên chẳng qua vì tri âm mà múa, nhờ đó giải khuây, ai ngờ lại gây ra mối tai họa này. Nàng nhìn về phía Ngô Huyện lệnh, nghĩ ân tình đó đây ừ đã đoạn, cái nghĩa bạn bè hẳn nên còn, mong gã mở lời giúp đỡ, Ngô Ngọc Trác lại chỉ nhìn nàng, lắc đầu cười khổ. Thấy hai gã người Kim đã xuống lầu “mời” mình, sắc mặt Chu Nghiên thê thảm, nàng lùi lại trước một cây cột, ngay trước chân nàng là con dao ban nãy rơi cắm xuống sàn, nàng đưa ngón chân khẽ hướng vào nó. Trên con dao nọ có Hạc đỉnh hồng nàng bí mật luyện đã lâu, lúc chế món thuốc này, nàng tự biết nó chẳng phải dùng để đầu độc kẻ khác, trên đời này chưa có ai xứng để nàng hạ độc giết, nàng là muốn dùng nó cho chính mình. Chỉ cần mũi chân nàng khẽ động, cứa đứt hài, độc tố trên dao sẽ ngấm vào máu, chưa tới một giờ ba khắc, hồn nàng sẽ về miền cực lạc. Miệng nở một nụ cười nhạt, nàng ngẩng đầu lên trời, nói: “Ta chưa thành danh nàng chửa lấy, hẳn bởi là do chẳng bằng người(1), Chu Nghiên ta thật sự sinh ra chẳng bằng người khác sao? Ài!... Hôm nay ai lấy Chu Nghiên? Bạc đầu quyết sẽ chẳng phụ chàng!... Hôm nay ai lấy Chu Nghiên? Bạc đầu quyết sẽ chẳng phụ chàng!”

Câu này nàng nói ra thảm liệt mà trịnh trọng, nhưng trong lầu này có mấy người hiểu được? Có mấy người dám đáp? Có mấy người có thể đáp? Hai gã người Kim đã tới gần, trên mặt Chu Nghiên lộ vẻ phong tình đẹp đẽ, giọng nói uyển chuyển như lời thủ thỉ mà nhắc lại lần cuối: “Hôm - nay - ai - lấy - Chu - Nghiên?”

Nàng nhẹ nhàng ngẩng mặt. “Bạc đầu quyết sẽ chẳng phụ chàng!” Nói xong, nàng hướng chân trái tới lưỡi dao nọ, chầm chậm đạp xuống. Người con gái mỹ lệ phải chăng hệt như giấc mộng đẹp, cuối cùng chỉ có thể gió thổi mây tàn?

Hai gã người Kim nọ cười, bảo: “Cô nương, theo bọn ta lên lầu thôi, nàng gặp vận may rồi! Với dung mạo này, giọng ca này, tài múa này, vinh hoa phú quý đang đợi nàng đấy!”

Chu Nghiên từ từ nhắm mắt, chẳng muốn nhìn mặt hai người này thêm nữa - rặt những bộ mặt tham quyền hám sắc, nanh độc tàn ác, nàng mệt rồi, muốn ra đi, cõi đời này chẳng xứng cho nàng lưu lại. Bấy giờ nàng bỗng nghe thấy ba tiếng: “Ta lấy nàng!”

Nàng tựa như không tin nổi, cũng chẳng dám tin nhưng vẫn không kìm nổi khẽ hé mắt, bởi âm thanh kia mới dễ chịu làm sao! Những người ngồi đây nhất loạt tìm theo hướng giọng nói, thấy thiếu niên gảy đàn nọ đẩy đàn đứng dậy, đi tới chỗ Chu Nghiên. Thấy nàng mở mắt, thiếu niên khẽ cười, bảo: “Hôm nay ai lấy Chu Nghiên? Ta lấy nàng, ta lấy nàng là được.”

Hắn nói ba từ này với vẻ rất trịnh trọng, để lộ hàm răng trắng đều. Chu Nghiên nhìn hắn, mê man như mộng. Nàng lại liếc nhìn con dao khẽ lấp loáng ánh xanh dưới sàn, chẳng biết giữa hắn với nó, cái nào là thật, cái nào là mộng, cái nào đáng tin hơn. Hắn... dựa vào cái gì mà lấy nàng? Dựa vào cái gì mà đối đáp nàng? Dựa vào đâu để che chở nàng? Đến hai gã người Kim cũng ngẩn ra, cả tòa lầu im phăng phắc, thiếu niên nọ đã tới trước mặt Chu Nghiên, chắn giữa nàng với con dao, trầm giọng nói: “Ta - lấy - nàng!”

Giọng hắn tuy thấp nhưng vang khắp lầu tựa sấm giật chớp rung. Hai gã người Kim nọ đã tỉnh lại, quát: “Tiểu tử thối từ đâu tới, ngươi dựa vào cái gì mà đòi lấy nàng?”, rồi vươn tay ra, muốn chộp lấy thiếu niên.

Tay Tam Nương khẽ động, đang muốn xuất thủ, bỗng thấy thiếu niên kia ngẩng đầu sang bên này, hô: “Lão Đỗ!” Đỗ Hoài Sơn nghe tiếng gọi bèn đứng dậy, mặt lộ nét cười, nói: “Công tử?” Nói rồi, lão rút từ trong người ra một cây cờ nhỏ, nền đen chỉ vàng, thêu một ngọn đèn, chỉ nghe lão quát: “Giang hồ dạ vũ thập niên đăng!”

Hai gã người Kim kia chẳng bận tâm tới điều đó, vẫn chộp về phía thiếu niên, mặt của sứ Kim Bá Nhan ở trên lầu thoắt biến sắc, gã đứng phắt dậy, quát: “Dừng tay!”

Hai gã kia sững sờ, vội thu tay lại. Mặt Bá Nhan tái nhợt, quay sang bên này hỏi: “Là các người?”

Đỗ Hoài Sơn gật đầu.

Bá Nhan nói: “Các người quản quá rộng đó!”

Đỗ Hoài Sơn lạnh lùng đáp: “Đây là giang sơn của người Hán bọn ta, bọn ta không quản thì ai quản? Ngài còn muốn yên ổn quay về đại đô chứ?”

Sứ Kim Bá Nhan đáp: “Muốn, đương nhiên là muốn” rồi chợt nghiến răng, quát: “Đi!” Động tác của bọn họ quả thực rất nhanh, một đám người nói đi liền đi, thoáng cái đã biến sạch. Ngô Huyện lệnh biết người của nghĩa quân Hoài Thượng đang có mặt ở đây, lúng túng một lúc bèn kêu sư gia ở lại xử lý mọi sự, còn mình thì đem gia đinh đi trước.

Đỗ Hoài Sơn vui vẻ đi xuống lầu, hướng về phía thiếu niên nọ mà thăm hỏi, thiếu niên nọ cũng cười nhẹ, đáp: “Đỗ lão vất vả rồi, Dịch tiên sinh sai tôi tới nhận chuyến xe này của Đỗ lão, đoàn các vị ổn cả chứ?”

Đỗ Hoài Sơn không kìm được niềm vui trong lòng, cứ như đã trút được một tảng đá lớn trong tim, gật đầu, cười, nói: “Tốt cả.”

Lúc này, một tiểu nhị mới chạy tới, nói với thiếu niên: “Lỗ lão gia biết hôm nay huyện quan ở đây mời khách, không thích ồn ào nên đi trước rồi, có lời nhắn lại rằng hôm nay không nghe thiếu gia đàn nữa. Lão gia nói, sau mấy ngày sẽ gặp thiếu gia ở phủ Lục An, bấy giờ mong thiếu gia đã chuẩn bị đầy đủ, đừng lần lữa nữa.”

Thiếu niên kia “ừm” một tiếng. Thẩm Phóng cùng Tam Nương nhìn hắn - đây chính là người nhận xe hàng, nhận tiêu hàng xong thì hắn muốn làm gì tiếp? Làm thế nào? Người này xem ra phong thái từ tốn nhưng ngoài gảy đàn ra, hắn còn có tài gì khác sao? Trong lòng họ nhất thời nghi hoặc vô hạn.

« Lùi
Tiến »