Mệt vì cuộc hành trình, hôm sau Alexy phải nằm suốt ngày. Bình tĩnh và chịu đựng như thường lệ, cậu nhìn chị cậu đi lại sắp xếp đồ đạc trong khi ông giáo lôi ra một tập hồ sơ, cô xếp cẩn thận trong hòm.
Bà già Octavia bước vào, mang khay café sữa. Bà báo với bố con ông giáo là trong một giờ nữa bà bá tước sẽ tiếp họ.
- Ông sẽ tìm đến ông, bởi vì ông không thể biết được lối đi trong hành lang này. Thưa cô Marysia cô có ngủ được ngon không?
- Rất ngon. Nhưng thưa bà, có một miếng kính vỡ gió lùa qua đấy mạnh lắm, không biết có bịt lại được không dù chỉ bằng một tờ các tông?
- Một miếng kính vỡ à?… trong buồng cô phải không?
- Không, trong hành lang bên cạnh.
Một vẻ hãi hùng hiện lên trên nét mặt bà Octavia.
- Trong hành lang?… vậy là cô đã ra hành lang?
Giọng bà run run.
- Hay là tôi đã phạm phải một điều gì thất lễ mà không biết chăng? Tôi chỉ muốn tìm xem vì đâu mà có gió vào.
- Ồ, không có gì thất lễ đâu. Chẳng ai dám đi ra đấy, nhất là buổi tối. Quả thật là như thế.
- … Cần phải nói rằng ban đêm mà ra đến cạnh hồ đen là nguy hiểm lắm. Nó có … ma đấy.
Giọng bà đột nhiên hạ thấp xuống và đưa mắt ra xung quanh như chờ đợi một con ma xuất hiện.
Marysia cười nói:
- Tôi không tin là có ma và tôi xin bảo đảm với bà là tôi không có ý định ban đêm đi vào hành lang khủng khiếp ấy làm gì. Nhưng phải công nhận là quang cảnh cái hồ ấy dễ có những câu chuyện sầu thảm.
- Những câu chuyện thôi à? Bà Octavia nói giọng nghẹn ngào. Chính mắt tôi một buổi sáng đã trông thấy xác một cô hầu gái trẻ trạc tuổi tôi bị bóp trên trên bờ hồ, hồi đó tôi mười sáu tuổi. Chính tôi đã chạy đến trước tiên khi nghe thấy tiếng kêu của nữ bá tước Luba. Tới nơi tôi thấy bà đang quỳ gối bên cạnh hồ, hai bàn tay giơ về phía mặt nước đen, ở đấy bà vừa trông thấy bà chị dâu biến mất mà không thể cứu được.
- Bà bá tước Luba là ai?
- Là bà chị bá tước Amulf, ông nội những bá tước trẻ hiện nay. Ông đã lấy một người vợ kế gốc Ý. Trời ơi bà ta đẹp làm sao. Nữ bá tước Paola...rất dịu dàng, rất nhân hậu. Bà dùng tôi làm hầu phòng. Tôi giúp người vú nuôi cô bé Franziska, ngày nay là nữ tu sĩ Lendau. Thế rồi một hôm, người hầu phòng của bà chạy đến bảo tôi: “Chị Octavia ơi, bà bá tước điên rồi”. Thưa cô, đúng thế. Vào buồng bà, tôi thấy bà đang ngồi vẻ ngơ ngác, thỉnh thoảng lại nhắc: “Cái hồ, cái hồ”
“Ông bá tước cùng bà chị chạy đến. Trông thấy chồng và bà chị chồng, nữ bá tước lên một cơn ghê gớm buộc hai người phải rút lui. Bà bá tước Luba nét mặt tái mét. Cảnh tượng đó như gây cho bà một hậu quả ghê gớm. Còn bá tước Amulf, khôntg ai nhận ra bá tước nữa. Người ta thuờng nói tâm tính ông không được tốt lắm. Nhưng dù sao tôi cũng cho ông là người rất yêu vợ, và bà vợ lúc nào cũng tỏ ra rất sung suớng được ở bên ông.
“Thầy thuốc được cấp tốc gọi đến, làm dịu được cơn điên nhưng bệnh nhân ít có hy vọng có lý trí trở lại. Những thầy thuốc khác đến thăm cũng không cho được hy vọng gì hơn. Bà ta đã trở lại bình tĩnh nhưng với điều kiện là không trông thấy chồng và chị chồng, cũng không nghe thấy tiếng bước chân của hai người ấy. Bà không nói nữa, nếu có cũng chỉ hãi hùng thốt ra được hai câu: “Cái hồ, cái hồ”.
“Thế rồi một buổi tối, trong khi tôi và một người hầu phòng nữa đang ngồi làm việc trong những căn phòng này, dùng làm nơi tạm trú cho khách trong những cuộc săn lớn. Chúng tôi nghe một tiếng kêu hãi hùng. Ôi chỉ nghĩ đến đấy máu tôi đã đông lại trong huyết mạch. Làm sao mà tôi có can đảm chạy đến hành lang mặc dù chân tôi đã run lẩy bẩy? Có lẽ hồi đó tôi can đảm hơn bây giờ. Và tôi trông thấy cô nữ bá tước Luba quỳ bên hồ vặn hai tay vào nhau vừa kêu cứu vừa chỉ xuống mặt nước đang có những xoáy tròn lớn.
“Than ôi, chậm quá rồi. Người ta sục tìm đáy hồ rất sâu bằng những cái móc, nhưng cũng không vớt được xác bà bá tước Paola. Có lẽ nó đã bị cuốn vào một đáy giếng rất sâu theo như người ta nói, ở ngay trong lối với miếu thờ.
- Thế còn ông chồng bà Paola, ông bảo sao?
- Bá tước Amulf lúc ấy đang ở Dufelden. Một liên lạc viên được cấp tốc cử đi báo tin cho bá tước. Và chúng tôi thấy bá tước phóng ngựa về. Trông thấy ông chúng tôi lùi lại sợ hãi, vì ông như một con ma. Sau khi đã nghe những lời giải thích của một người trong chúng tôi, ông chẳng nói chẳng rằng tiến về hồ và cấm không ai được đi theo. Ông đến đấy làm gì? Không bao giờ chúng tôi được biết. Một giờ sau, một chị hầu phòng trông thấy ông từ trong căn nhà bà chị ông đi ra, căn nhà trông xuống hồ đối diện ở hành lang. Chị hầu phòng ấy sợ hãi chạy trốn và kể lại là chị đã nhìn thấy một cặp mắt không phải là của nguời nữa.
“Ông giam mình trong thư viện, từ chối mọi thức ăn. Một buổi sáng, Heintz đi qua thấy cửa trước đó đã đóng rất kín được mở ra. Trên bàn giấy của bá tuớc Amulf có một bức thư đề gửi cho con trai ông là Otto, Heintz cầm nó mang đi cho tiểu chủ. Tiểu chủ đọc và biết cha mình đã nhảy xuống hồ. Trong khi đó, rất ngắn gọn, ông cấm không đuợc tìm kiếm xác ông, bởi vì ông muốn được sống yên ổn bên cạnh nữ bá tước Paola, vợ ông. Và bá tước Otto tôn trọng ý muốn cuối cùng của cha.
- Quả là những ký ức sầu thảm. Marysia nói, người thiếu phụ tội nghiệp ấy chắc đã bị lôi xuống nước vì ý nghĩ đã ám ảnh bà trong cơ điên loạn.
Bà Octavia lắc đầu, lại làm dấu thánh, đáp:
- Bà ấy đã trông thấy kẻ đáng nguyền rủa, vì thế đã phát điên. Trước kia bà ấy hoàn toàn trong sáng về tinh thần và vui tươi. Nhưng bà đã trông thấy nó… và từ lúc đó, bà bị nó ám ảnh cho đến ngày lôi bà vào trong hố đen của nó, xuống vực thẳm mở ra dưới ấy. Có những đêm người ta trông thấy họ từ dưới nước đi lên, cả ba người , bá tước Amulf, vợ bá tước và Wolf Ludfell.
Giọng của bà già bỗng đượm một vẻ sợ hãi lúc nói đến tên cuối cùng ấy.
- Người ấy là ai thế? Alexy hỏi.
- Là tên đáng nguyền rủa, tên phản bội. Nó đã ám sát anh cả nó là Rudolf - việc xảy ra hàng trăm năm này – và ném xác ông ấy xuống hồ. Nhưng bà vợ của nó biết tội ác ấy ngoài ý muốn của nó và bà bắt đầu suy sụp dần vì đau khổ. Tên lãnh chúa tàn nhẫn ấy chỉ yêu có vợ, lao vào tuyệt vọng. Mấy giờ trước khi chết, bà vợ ấy cho chồng biết nguyên nhân cái chết của mình và yêu cầu chồng phải sám hối và yêu cầu để tưởng nhớ đến Rudolf xây dựng cái thánh đường để chuộc lỗi ở giữa hồ là nơi chôn xác ông. Wolf đau đớn đến điên cuồng hứa sẽ thực hiện lời hứa của vợ. Quả thực hắn có xây dựng thánh đường, nhưng còn lâu mới sám hối, hắn lao mình vào chè chén say sưa, vào trong ma thuật và tội ác, đến nỗi một hôm lên cơn thác loạn và thất vọng, hắn tự gieo mình xuống hồ…. Và cả xác hắn cũng không tìm thấy.
- Vậy thì cái hồ ấy đúng là nấm mồ gia đình. Ông giáo kêu lên. Đã bao giờ người ta nghĩ đến thay nước hồ chưa?
- Thưa giáo sư, chẳng ai nghĩ đến. Vả lại cũng nên để những xác chết ấy đuợc yên nghỉ.
- Và ông Lendau hiện nay là những người kế thừa gia đình Wolf?
- Một cách gián tiếp. Wolf chết không có con và gia tài chuyển sang ngành thứ, đã giàu có và thế lực, từ đó các vị chúa công trẻ của chúng tôi mới là trực tiếp.
- Đã có bao giờ bà trông thấy con ma ghê gớm ấy chưa? Marysia mỉm cười hỏi.
Bà già giơ tay lên trời đáp:
- Nếu như vậy, tôi đã chẳng còn ở đây, thưa cô. Kẻ nào mà trông thấy nó đừng có hòng mà còn sống trên đời này. Đó là trường hợp cô hầu gái trẻ, bạn đồng nghiệp của tôi trước kia mà tôi đã nói chuyện với cô lúc nãy. Sự tò mò đã làm cô toi mạng. Cô ta chẳng biết sợ là gì, cũng như cô, và cô thấy đấy, cô ta đã bị trừng phạt như thế nào? … bà Octavia lại vội vàng hỏi thêm vì muốn lái sang câu chuyện khác – Thưa cô, nhà ta ở đây thấy có được không ạ?
- Tốt lắm. Không khí tuyệt diệu, nó làm khỏe người.
Marysia lại gần một cửa sổ và nhìn một lúc nền xanh gồm những cây cối trong công viên. Gần hơn là khoảng trống trông thấy tối hôm qua. Một lớp cỏ dày phủ lên, cả trên dãy cột bằng đá đen và trên cái bể nước cổ đã vỡ xây ở trung tâm, rêu điểm thành những vệt xanh lớn. Nơi này rõ ràng đã bỏ không trước khi gia đình giáo sư đến.
- Lúc đầu bà bá tước định bố trí gia đình cô ở trên gác một kia đấy. Octavia nói và lại gần cô gái. Trên đó mà nhìn ra thật là tuyệt đẹp. Nhưng sau đó bà nghĩ là ở tầng trệt sẽ tiện hơn cho cậu nhà ta. Vả lại các phòng trên gác đều bỏ không cả, do đó ông và cô cậu lúc nào thích đều có thể lên đấy mà ngắm cảnh rừng.
Nói xong bà già đi ra và Marysia lại bắt tay vào sắp xếp. Cô gái đã tìm thấy niềm vui thường ngày, ánh nắng mặt trời tràn ngập trong phòng hướng nam và cùng với nó không khí trong lành đượm mùi hương của rừng cây. Những tia nắng vàng nhảy nhót trong những căn buồng rộng lớn và trang nghiêm, chiếu sáng những đồ đạc cổ và móc những tia lửa trên dây đèn cổ treo trong phòng giáo sư. Alexy đã tỉnh táo, cặp mắt ảm đạm của cậu như mở to hơn để hấp thụ ánh sáng tốt lành ấy. Cậu kêu lên vui vẻ.
- Lâu đài thần thoại này tuyệt thật. Những bức tường thế kỷ này hẳn được nghe và trông thấy biết bao chuyện thần thoại. Cần phải dò hỏi bà Octavia, có phải không chị Marysia?
- Ồ, chị chẳng yêu cầu gì hơn. Chị rất thích nghe những câu chuyện cổ.
Thực tế là Marysia phối hợp được những đức tính thực dụng thừa hưởng của mẹ và lòng ham muốn lý trí của ông bố. Đặc biệt là quá khứ, cũng như em trai, hấp dẫn cô và cô gái khôn ngoan Marysia không hề giấu giếm thích nghe những câu chuyện từ thời trung cổ, ly kỳ và khủng khiếp đã đuợc kể trong bối cảnh lịch sử hay truyền thuyết dân gian. Vì vậy cô rất thích thú đã phát hiện ngay từ buổi đầu, Runsdorf có ma và cái hồ đen bí mật đã chứa chấp những nạn nhân của nó.
Đến giờ hẹn, bà Octavia trở lại. Qua những hành lang vô tận, ba bố con ông giáo đi theo bà già tiến đến dãy nhà chính, trên gác là gia đình ở, còn tầng trệt là nơi tiếp tân.
Bà Octavia đưa hai bố con ông giáo vào phòng khách trang trí những cây sên cổ chạm trổ và những tấm thảm cổ. Một người đàn bà thân hình bé nhỏ nhưng khỏe, mặc rất đơn giản một bộ đồ bằng len đen, đang đứng cạnh cửa sổ. Bà ta quay lại và nghiêng đầu đáp lễ khách. Bà lên tiếng giọng lịch sự và lạnh:
- Xin chào ông và cô. Hai vị đi đường có được bình an không?
Sau khi ông đã trả lời mấy câu tỏ ý hài lòng về tình hình Runsdorf, bà ta giơ tay chỉ ghế mời ngồi và nói:
- Vâng, gia đình ông ở đây sẽ rất tốt. Cuộc sống thanh bình và gia đình ông sẽ hoàn toàn tự do trong ngôi nhà này. Octavia sẽ phục vụ mấy bố con ông.
- Cháu không cần người phục vụ, - Marysia ngắt lời bà. - Ở Vienne cháu làm lấy hết.
Cô trông thấy như có ánh vui vẻ trong cặp mắt của bà chủ nhà.
- Nếu cô muốn thế, cô được hoàn toàn tự do, sẽ có Rosine mang thức ăn đến và nếu cần gì cô cứ nói. Vậy về phần ấy giải quyết xong rồi nhé? Bây giờ ta bàn đến phần dạy học.
Bà bá tước có một giọng nói rõ ràng, hơi ngắn, làm Marysia nhớ đến giọng nói của bá tước Lendau được nghe tối hôm qua. Vả lại đó là điểm duy nhất giống nhau giữa hai mẹ con. Sau mấy phút nói chuyện, cô nhận thấy còn có điểm giống nhau nữa. Trên bộ mặt héo hắt mệt mỏi ấy có lẽ không bao giờ có sắc đẹp nhưng tươi tốt, có duyên trong cử chỉ và trong sự đón tiếp, cô nhận thấy có một phong cách quý phái, vẻ cao ngạo hạ cố của bề trên mà cô đã nhận thấy ở bá tước Lendau.
- Ông sẽ có ba người học trò. Con trai tôi tên là Gultram mười ba tuổi. Helena và Valeria mười một và mười hai. Hai bố con ông phân chia nhau các bài giảng như thế nào tùy ý. Tôi không có một chút ý định nào cho các con tôi trở thành thông thái. Đó không phải là phong tục trong gia đình chúng tôi. Chỉ cần chúng có học thức, đó là yêu cầu của họ nhà Lendau.
Nói như vậy, bà có một âm vang kiêu hãnh trong giọng nói và cặp mắt xám hơi mờ ảo của bà phấn khởi lên trong mấy giây. Bà nói tiếp:
- Để tôi gọi chúng lên ra mắt thầy và cô giáo. Ông sẽ bắt đầu lên lớp khi nào ông thấy thuận tiện.
Người ta không thể nào không thừa nhận có một vẻ lễ độ nào đó và những ý định tốt đẹp của bà bá tước. Có lẽ lòng kiêu ngạo về chủng tộc đã ngăn cách gia đình ông giáo với bà, và hàng rào giá lạnh ấy Marysia đã nhận thấy ngay từ đầu.
Cô còn cảm thấy nó ở ngay giữa cô và các học trò mới. Gultram, một cậu thiếu niên tóc hung lỏng khỏng; Helena, một cô bé tóc nâu có những nét nhỏ nhắn như anh cả; Valeria, một cô bé tóc hung mập mạp vẻ mặt bình thản và có vẻ hơi buồn ngủ, tất cả đều lễ phép và cũng bộc lộ một vẻ cao ngạo như muốn nói với thầy cô giáo "Chúng tôi ở trên thầy cô nhiều, do đó thầy cô nên thấy rất có vinh dự được dạy những học trò như chúng tôi".
Lúc đi về, Marysia bàn với bố:
- Đối với chúng ta chỉ có những quan hệ cần thiết mà thôi. Thái độ của họ đối với tất cả mọi người cho chúng ta thấy rõ ràng là không thể làm khác được.
Hai cha con đi theo hành lang mà họ cho là đúng như bà Octavia đã dẫn đi lúc nãy. Đến đầu hành lang trước một cánh cửa mở để lộ một căn phòng lớn tường trát thạch cao. Giữa phòng là một cái bàn trên để đầy những thức ăn còn thừa: thịt vằm nhồi gà rút xương, những khúc cá bọc thịt đông, bánh ngọt, bánh ngọt đã bị vỡ, những chai champagne rỗng.
Đứng trước bàn và quay lưng ra cửa là một bà nhỏ người, mặc bộ đồ đen nâu. Trên gáy rủ xuống những mớ tóc hung dày. Đột nhiên bà ta quay phắt lại, mặt còn rất trẻ với những nét khá đều đặn, nước da thanh nhã và cặp mắt xám thẫm, sâu và có ý tứ. Bà nhìn hai người lạ với vẻ ngạc nhiên và bực tức.
Ông giáo tiến lên mấy bước và cúi đầu.
- Xin lỗi bà... chúng tôi bị lạc trên hành lang lạ này và không biết làm sao trở về chỗ ở được.
Cặp mắt thiếu phụ dịu lại:
- Điều đó tôi không lấy làm lạ. Tôi sẽ chỉ đường. Rosine đâu!
Từ buồng bên cạnh đi ra một hầu gái, có lẽ cô ta đang bận một công việc lau chùi nặng nhọc, vì trên trán cô ta lấm tấm những giọt mồ hôi.
"... Rosine, hãy chỉ đường cho giáo sư về nơi ở của ông".
Ban lệnh đó xong, thiếu phụ tóc hung duyên dáng nghiêng mình đáp lại câu cám ơn của hai bố con giáo sư. Rồi hai bố con đi theo người hầu gái.
- Người thiếu phụ ấy có lẽ là con gái cả bà bá tước, vì nom hai người giống nhau lắm, - ông giáo nói khi chỉ có một mình hai bố con với nhau. Rosine đã đi về sau khi đã dẫn đúng đường cho họ.
- Chắc thế. Diện mạo bà ta nom cũng dễ coi mặc dù vẻ cao ngạo ấy như có cả trong gia đình họ. Nhưng thật ra thì cũng chẳng can hệ gì đến bố con ta.
Buổi trưa hôm đó, Heintz đến gõ cửa buồng ông giáo. Lão mang đến một tờ giấy để dán thay vào chỗ miếng kính vỡ. Lão giải thích:
- Sau này người ta sẽ thay miếng kính khác, bởi vì ở đây không có sẵn thợ.
Trong khi lão làm nhiệm vụ, ông giáo ngắm rất lâu mặt nước kỳ lạ mà ánh nắng mặt trời phản chiếu lên những tia có màu xanh lá cây. Ông lên tiếng hỏi lão:
- Do đâu mà mặt nước có màu ấy?
- Do bản chất đáy hồ, có lẽ thế!
Heintz đáp và quay mặt lại - phải chăng là ánh phản chiếu của nước hồ ảm đạm?
Ông giáo trầm tư một lát như ngẫm nghĩ đến câu trả lời vắn tắt ấy rồi ông lại nói:
- Nếu như tôi là các ngài lãnh chúa ở đây, tôi sẽ thay nước hồ.
Lão già rùng mình và đột nhiên nói, tay không ngừng công việc:
- Để làm gì? Nhằm mục đích gì?
- Để biết được cấu tạo của nó. Thế rồi, nếu có thể tìm những xác chết chìm dưới đó, mang chôn vào đất thánh.
- Chúng yên ổn dưới đó rồi, - Heintz làu bàu và chấm mạnh chổi lông vào bát hồ.
Tiếp sau cha, Marysia bước vào hành lang và gọi cha chỉ cho ông xem rất nhiều bức chân dung treo trong hành lang ấy. Một số do những hoạ sĩ bậc thầy có ký tên bên dưới.
Ông lãnh chúa hiện nay ở Runsdorf, bá tước Lendau, là người thừa kế theo kiểu các tổ tiên quý tộc của ông. Ở hầu khắp người ta thấy cùng một khuôn mặt hơi dài, nước da mờ mờ, tóc nâu, thái độ cao ngạo hơi khinh khỉnh thể hiện ở người cháu trẻ. Chỉ có cặp mắt là khác nhau: to hoặc nhỏ, trong sáng hoặc ảm đạm, tươi cười hoặc nghiêm khắc, thường là khắc nghiệt, oai vệ, rất ít biểu lộ nhân hậu, hiền lành.
Một trong những vị bá tước Lendau ấy có diện mạo rất có cảm tình. Ông ấy vào trạc bốn mươi tuổi và mặc quần áo kiểu đầu thế kỷ XIX, cặp mắt nâu rất đẹp, rất hiền lành và rất sâu sắc tỏ vẻ có thiện cảm với những người bình dân mà các bạn ông coi khinh từ trên đỉnh cao của tầng lớp quý tộc.
Marysia thốt lên lúc đến trước chân dung một thiếu phụ:
- Ôi, một con người đẹp làm sao!
Thiếu phụ đó đội trên đầu bộ tóc nâu một vành hoa quận chúa. Bộ áo gấm đỏ rực của bà lắc rắc những đồ nữ trang. Bà ngẩng cái đầu nhỏ nhắn lên một cách kiêu kỳ và nhìn trừng trừng vào Marysia với cặp mắt ảm đạm và khắc nghiệt.
Lão Heintz nói cộc lốc:
- Đó là quận chúa đương vị Darnstadt tức bá tước Nathilde Lendau!
Đã làm xong việc, lão lại gần hai bố con ông giáo, nói tiếp:
- Có rất nhiều mối thông gia hoàng tộc với gia đình Lendau. Chị bà quận chúa xinh đẹp Nathilde cũng được quận công Lorraine cầu hôn. Nhưng bà từ chối bởi vì bà yêu Rudolph Urbrecht, một quý tộc nông thôn đã cứu tính mạng bà trong một cuộc đi săn. Thấy bà kiên trì từ chối, bá tước cố giam bà vào trong kia... - Heintz chỉ tay vào căn nhà đối diện với hành lang phía bên kia bờ hồ, rồi nói tiếp. - Ông thề là bà chỉ có thể ra khỏi nơi đó khi đã là vợ chưa cưới của quận công hay là chết.
- Bà ấy chọn thế nào? - Ông giáo hỏi.
- Nhà giam vĩnh viễn. Bà suy sụp dần dần và một hôm người ta thấy bà không còn sống nữa. Nhưng những người Lendau vẫn cứ coi tên của họ là vinh quang trên mọi quan niệm.
Một thỏa mãn kiêu kỳ rung lên trong giọng nói của lão già, đầu lão ngẩng cao lên, một tia lửa xuyên qua cái nhìn sắc sảo của lão. Lão thấy như niềm vinh quang ấy rơi xuống và thấm sâu vào tâm hồn lão.
- Tội nghiệp người thiếu nữ! - Marysia lẩm bẩm. - Vậy là cha cô không có tình cảm gì với cô?
- Ông ấy tuân theo yêu cầu của đẳng cấp mình, - lão Heintz nói với một giọng khắc nghiệt. - Một bá tước Lendau không thể hành động như một người thường đâu. Ông phải nêu gương cho những người ở thế hệ sau, cho các nữ bá tước Lendau đang có xu hướng bắt chước con gái Walburge của ông muốn nhìn xuống dưới. Trong gia đình, nếu có vấn đề thành hôn, trái tim không bao giờ được đếm xỉa đến, chỉ cần môn đăng hộ đối, nhất là về nguồn gốc.
- Tội nghiệp những người đàn bà, - Marysia nói và nắm lấy tay cha để đi về nhà.
Lúc đi qua ông lãnh chúa có bộ mặt dễ mến, cô dừng lại và hỏi:
- Ông này là ai thế?
Chiếc chổi lông rơi khỏi tay Heintz. Lão cúi xuống nhặt và trả lời:
- Bá tước Eberhard đấy.
Vào đến buồng, thấy lão sắp ra về, ông giáo hỏi lão:
- Từ đây đến Nunsthel có xa không?
- Đi bộ nhanh nhất chừng nửa giờ.
- Đường đi không xấu chứ?
- Một quãng đường rừng thật tốt, nhưng hơi lên dốc. Nunsthel ở trên lưng chừng núi.
Xem chừng lão Heintz muốn vội vã ra về. Ông giáo thôi không hỏi những câu hỏi khác, ông để dành hỏi bà Octavia, bà có vẻ mau chuyện hơn lão già cứng nhắc này.
Quả nhiên, bà già chỉ dẫn mọi điều cần thiết và nói khá dài về tình hình sức khỏe và tinh thần của ông giám thủ Conrad Duntz.
- Mặc dù đã năm mươi tuổi, ông còn là người đàn ông đẹp nhất vùng. Và thông minh làm sao! Đại công tước Joseph tín nhiệm ông ấy lắm. Cùng với lòng từ thiện và nhân hậu, các cấp dưới và những người nghèo khổ mến ông ấy lắm.
- Thế còn các con cái?
- Con trai ông là Heinrich không giống ông ấy lắm về thể chất, nhưng người ta nói là cũng tốt như ông. Cô con gái đầu lòng vừa mới ra trường năm ngoái, cô gái bé mới mười hai tuổi. Một gia đình tốt đẹp, hoà thuận, sống rất giản dị.