Bão

Lượt đọc: 744 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2

Tôi tên June. Mẹ tôi là một người đàn bà của biển. Tôi không có bố. Mẹ tôi tên Julia, mẹ có một cái tên khác, không phải tên Cơ Đốc, nhưng mẹ không muốn tôi nói đến. Khi tôi chào đời, bố tôi đã bỏ rơi mẹ tôi. Mẹ tôi đã tìm cho tôi một cái tên, ông của mẹ tên Jun, một cái tên Trung Hoa, bởi ông là người gốc Hoa, mẹ đặt tên tôi là June, bởi từ này trong tiếng Mỹ có nghĩa là tháng Sáu, và tôi được hoài thai vào tháng này. Tôi cao lớn, nước da sẫm, bên ngoại nguyền rủa tôi bởi tôi không có bố. Thế nên mẹ tôi dẫn tôi theo, và chúng tôi tới sống trên đảo này. Khi tới đây tôi bốn tuổi, và tôi không nhớ gì về quãng thời gian trước đó, cũng như về chuyến đi, ngoại trừ việc mẹ tôi đã lên một con tàu, và khi ấy trời mưa, còn tôi đeo một chiếc ba lô rất nặng, trong đó mẹ giấu toàn bộ nữ trang cùng những vật dụng giá trị, để không bị mất, bởi mẹ nghĩ người ta sẽ không trộm ba lô của một bé gái bốn tuổi. Sau đó, mẹ bán phần lớn nữ trang, nhưng vẫn còn lại đôi bông tai vàng và một sợi dây chuyền, cũng bằng vàng, hoặc giả chỉ là kim loại mạ vàng. Tôi nhớ khi ấy trời mưa trên biển. Có lẽ là tôi khóc. Hoặc chính mưa đã khiến mặt tôi ướt đẫm và tóc dính vào miệng. Suốt một khoảng thời gian dài tôi cứ ngỡ rằng khi trời mưa, đó là ông trời khóc. Giờ thì tôi không bao giờ khóc nữa.

Mẹ tôi không hẳn là một người đàn bà của biển, ý tôi là giống như những người đàn bà ở đây vốn làm nghề này từ khi còn nhỏ xíu, và giống những con cá voi to màu đen, nhất là khi họ ra khỏi mặt nước và loạng choạng trên đôi chân gầy guộc già nua. Mẹ tôi vẫn còn trẻ, mẹ rất đẹp và mảnh dẻ, tóc mẹ láng đẹp còn gương mặt hầu như không có nếp nhăn, nhưng càng đi mò vớt nhiều, đôi tay mẹ thành ra đỏ ửng và móng tay gãy. Mẹ tôi không phải là người ở đây. Mẹ sinh ra và lớn lên tại thủ đô, khi dính bầu tôi mẹ đang là sinh viên. Khi bố tôi bỏ rơi mẹ, để lại ra đi đến đầu kia thế giới, bởi ông không muốn có con, mẹ tôi đã quyết định trốn đi để sinh tôi, và để khỏi trở thành nỗi ô nhục cho gia đình, mẹ đã tìm tới vùng nông thôn xa lắc mà sinh sống. Để mưu sinh, mẹ đã kinh qua đủ thứ nghề, mẹ từng sống trong một trang trại nuôi vịt, mẹ từng làm việc trong một nhà hàng, rửa bát và cọ hố xí. Mẹ đi từ thành phố này sang thành phố khác, cùng một hài nhi là tôi, tới tận phương Nam, rồi một ngày nọ, mẹ nghe nhắc đến hòn đảo này, mẹ đã bắt tàu thủy rồi tới tận đây. Thoạt tiên mẹ làm việc trong các nhà hàng, rồi mẹ mua một chiếc mặt nạ và một bộ đồ lặn liền thân, và mẹ bắt đầu mò bào ngư.

Phần lớn những người đàn bà của biển đều đã già. Khi trò chuyện với họ, tôi thường gọi họ là “bà”. Khi tới đất này mẹ tôi còn trẻ. Thoạt tiên những người đàn bà ấy bảo mẹ: “Cô đến đây làm gì? Quay về thành phố của cô đi.” Nhưng mẹ đã trụ vững, và cuối cùng họ cũng chấp nhận mẹ. Họ đã chỉ cho mẹ biết phải làm thế nào, để lặn, để giữ hơi, để xác định những nơi sò ốc sống. Nhưng điều dễ chịu, đó là họ đã chấp nhận mẹ mà không hỏi han về chồng của mẹ, hay về tôi. Họ là gia đình của tôi, cái gia đình mà tôi chưa bao giờ có. Ngay khi tới tuổi có thể dạo quanh một mình, tôi đã đến thăm họ. Tôi mang cho họ một chút xúp nóng, khi họ ngoi lên khỏi mặt nước, hoặc giả những loại trái cây. Tôi thì sống cùng mẹ trong một ngôi nhà ở trên cồn, chúng tôi thuê của một bà lão xưa kia cũng là dân thợ lặn. Một bà lão gù và đen nhẻm, tôi gọi bà là bà trẻ, bà đã thôi không lặn nữa từ khi gặp một tai nạn do ở lại quá lâu dưới nước, và kể từ đó bà hơi đù đờ chậm chạp. Ban ngày, bà ở ngoài ruộng khoai, để xới đất và nhổ cỏ dại, tôi thường tới giúp bà mỗi khi tan học. Bà nuôi một con chó tên là Chubb, bởi nó to béo và chân ngắn ngủn, nhưng khá là khôn. Hồi năm ngoái, một gã đàn ông tới ở nhà mẹ tôi. Gã tự xưng là Brown, như thể gã là dân Anh, nhưng tôi thì không ưa gì gã. Trước mặt mẹ, gã nói năng nhẹ nhàng và ngọt ngào, nhưng khi có mình tôi với gã, gã dữ dằn, nói năng thô lỗ, gã sai khiến tôi, giọng gã nghe thật dị. Một hôm gã khiến tôi phát bực, tôi bèn nhại đúng giọng gã để nói với gã: “Vậy thì đừng có nói năng với tôi như thế nhé, tôi đâu phải con gái ông.” Gã nhìn tôi như thể muốn hành hung tôi, nhưng từ đó gã dè chừng. Tôi không mấy thích cách gã nhìn tôi, tôi có cảm giác gã tìm cách nhìn xuyên qua quần áo tôi mặc trên người. Khi ở bên mẹ, gã giở trò tình tứ, và tôi càng ghét gã hơn.

Ở trường tôi không có bạn. Ban đầu, chuyện ổn cả, nhưng kể từ đầu năm học này, mọi thứ đã thay đổi. Có một bọn con gái cứ thích khiêu khích tôi. Tôi đã nhiều lần đánh nhau với chúng, tôi là đứa cao lớn nhất nên thường giành phần thắng, nhưng đôi lần nhiều đứa hùa vào cùng đánh tôi, khi tôi đang cuốc bộ về nhà, chúng ném những hòn đất hoặc những viên sỏi nhỏ vào tôi, chúng giả đò sủa. Chúng bảo tôi không có bố, bảo bố tôi là đồ ăn mày, là tù phạm, và chính vì thế ông chẳng bao giờ đến thăm tôi. Một lần tôi nói: “Bố tao không phải tù phạm mà đã hy sinh trong chiến tranh.” Chúng đã cười chế giễu. “Chứng minh xem,” chúng đã trả lời như vậy, còn tôi không thể chứng minh chuyện đó. Tôi đã hỏi mẹ: “Bố con còn sống hay đã chết?” Nhưng mẹ không đáp, mẹ cúi đầu, làm như thể không nghe thấy. Suy đi nghĩ lại, tôi cho là chúng nói đúng, bởi mẹ tôi đã dạy tôi nói tiếng Anh từ khi tôi còn nhỏ, mẹ bảo đó là vì tương lai của tôi, nhưng có lẽ là để tôi cũng thông thạo ngôn ngữ của bố mình.

Trong cả đám học sinh ở trường, đứa độc ác nhất là một thằng con trai tên Jo. Nó cao và gầy, lớp nó ngay bên trên lớp tôi. Nó thật tai quái. Nó bảo tôi là mọi đen. Nó bảo bố tôi là một tên lính Mỹ da đen ở căn cứ quân sự, còn mẹ tôi là một ả điếm. Suốt ngày nó lải nhải câu đó, khi tôi một mình đi trên đường và người lớn không thể nghe thấy. Nó chạy theo tôi, và khi đi ngang qua, nó nói khẽ: “Mẹ mày là điếm, bố mày là mọi đen.” Nó biết tôi sẽ không nhắc lại chuyện đó với ai, nếu vậy tôi sẽ quá xấu hổ. Thằng Jo có đôi mắt gian xảo như một con chó khốn kiếp, mũi nó dài khoằm và đôi mắt vàng với những chấm đen ở giữa. Nó chạy tới sau lưng khi tôi đi một mình trên đường, nó túm lấy tóc tôi, bởi tóc tôi dày xoăn và những ngón tay nó ngoắc vào bên trong rồi giật cho tới khi tôi chúc đầu xuống đất, còn mắt thì ầng ậng nước nhưng tôi không muốn cho nó hưởng cái thú vui ấy. Nó những muốn tôi kêu lên: “Gọi mẹ mày đi, gọi đi!” Nhưng tôi không nói gì, tôi đá nó vài cú và cuối cùng nó buông tóc tôi ra.

Biển chính là thứ tôi yêu hơn hết thảy mọi thứ trên đời. Từ khi còn nhỏ xíu, tôi đã dành phần lớn thời gian bên biển. Khi chúng tôi tới hòn đảo này, ban đầu mẹ làm việc trong những nhà hàng phục vụ các món sò ốc. Mẹ tới đó từ sáng sớm, và đặt tôi vào xe đẩy để trong một góc để tôi khỏi làm phiền ai hết. Mẹ dùng bàn chải cọ nền xi măng, mẹ rửa thau chậu và xoong nồi, mẹ quét sân rồi đốt rác, sau đó mẹ làm việc trong bếp, thái hành, rửa sò ốc, rồi nhặt rau nấu canh và xắt cá làm sushi. Tôi thì ngồi yên trong xe đẩy, nhìn mẹ mà chẳng nói chẳng rằng. Có vẻ như hồi đó tôi rất ngoan. Tôi không muốn ra ngoài chơi. Bà chủ thường nói: “Con bé này sao vậy? Cứ như thể nó sợ mọi thứ.” Nhưng tôi đâu có sợ mọi thứ, tôi ở yên để bảo vệ mẹ đấy chứ, để chắc chắn mẹ không gặp phải chuyện gì. Rồi một ngày nọ, mẹ phát ngấy việc làm đầy tớ cho những người này. Mẹ đã thỏa thuận với các bà già thường mang sò ốc tới, rồi cả mẹ nữa, mẹ cũng trở thành một người đàn bà của biển.

Kể từ khi ấy, ngày nào tôi cũng tới bờ biển. Tôi cuốc bộ cùng mẹ, mang túi xách, giày và mặt nạ cho mẹ. Mẹ thay đồ giữa những mỏm đá khuất gió. Tôi nhìn mẹ khi mẹ ở trần, trước khi mẹ xỏ bộ đồ lặn liền thân. Mẹ không cao to như tôi, đúng ra mẹ vừa gầy vừa nhỏ người, da mẹ rất sáng, ngoại trừ gương mặt sạm nắng. Tôi nhớ mình thường nhìn xương sườn của mẹ nhô lên dưới da, và hai bầu vú với những núm thâm đen bởi mẹ đã cho tôi bú suốt một thời gian dài, cho tới tận khi tôi lên năm hay sáu tuổi. Da bụng và lưng mẹ trắng nõn, còn da tôi thì gần như đen ngay cả khi không phơi nắng, và chính vì thế mà ở trường lũ trẻ bảo tôi là mọi đen. Một hôm tôi hỏi mẹ: “Bố con đúng là một lính Mỹ và đã bỏ rơi mẹ con mình hả mẹ?” Mẹ nhìn như thể muốn bạt tai tôi, rồi bảo: “Đừng bao giờ nhắc lại điều con vừa nói. Con không có quyền nói với mẹ những điều độc ác như vậy.” Mẹ cũng nói thêm: “Nếu con nhắc lại những điều độc ác mà thiên hạ nói với con thì có khác nào con tự nhổ vào mặt mình.” Bởi thế tôi không bao giờ nói về chuyện này với mẹ nữa. Nhưng dù vậy tôi những muốn biết được sự thật về bố mình.

Hồi nhỏ tôi không đến trường. Mẹ sợ tôi có thể gặp rắc rối, còn tôi tin chắc là mẹ cũng xấu hổ bởi tôi không có bố. Tôi ở lại giữa những mỏm đá. Tôi trông quần áo cho mẹ trong lúc mẹ mò sò ốc. Tôi thích việc đó. Tôi ở trong một thứ như cái tổ được làm từ những món đồ len, tôi nép mình giữa những phiến đá đen, và tôi nhìn biển. Có cả những con vật kỳ cục, những loại cua-bọ hung rụt rè ló ra từ những khe nứt để tới nhìn tôi. Chúng phơi mình dưới nắng không nhúc nhích, song hễ thấy bất kỳ cử động nhỏ nhặt nào là phóng vụt về chỗ nấp. Còn có nhiều loại chim, hải âu, chim cốc, và những chú chùn màu xám pha xanh đứng vắt vẻo trên một chân. Mẹ tôi mặc bộ đồ lặn bằng cao su, chỉnh lại mũ, bao tay, giày, rồi bước xuống nước, lúc đó mẹ mới đeo mặt nạ. Tôi nhìn mẹ bơi ra khơi, kéo theo sau cái phao đen trắng. Mỗi người đàn bà của biển có một màu phao riêng biệt. Khi đã ra đủ xa giữa những con sóng, mẹ lặn xuống và tôi nhìn thấy đôi giày màu lam của mẹ quẫy trong không trung, rồi đôi chân mẹ lướt về phía đáy biển và mẹ khuất hẳn. Tôi đã học được cách đếm giây. Mẹ từng bảo tôi: “Đếm đến một trăm nhé, nếu mẹ không ngoi lên con phải đi cầu cứu.” Nhưng mẹ không bao giờ lặn đến một trăm. Nhiều lắm là ba mươi hoặc bốn mươi giây mẹ đã ngoi lên. Tới đó, mẹ kêu lên. Tất cả những người đàn bà của biển đều kêu lên. Mỗi người một tiếng kêu riêng. Làm vậy là để lấy lại hơi, và tôi có thể nhận ra tiếng kêu của mẹ từ xa, ngay cả khi không nhìn thấy mẹ. Thậm chí là giữa những tiếng kêu khác, những âm thanh khác. Nghe như một tiếng chim hót, chói lói, rồi kết thúc trầm hết sức, thành tiếng rira! uu-rrraurrra! Tôi đã hỏi mẹ tại sao chọn tiếng kêu ấy. Mẹ bật cười, mẹ đáp không biết, cái đó đến tự nhiên, vào lần đầu tiên mẹ ngoi lên mặt nước. Để chọc cười mẹ bảo tôi cũng từng kêu như vậy, lúc chào đời! Không phải ngày nào mẹ cũng lặn cùng một chỗ. Chuyện này phụ thuộc vào gió, vào sóng và cả vào quyết định từ những người đàn bà của biển. Mỗi sáng họ chọn vị trí sẽ lặn, bởi họ biết sẽ tìm thấy những loại sò ốc mới. Người ta có thể tưởng sò ốc nằm dính dưới đáy nước không nhúc nhích, nhưng thực tế chúng di chuyển rất nhiều. Chúng thay đổi vị trí hằng đêm, bởi chúng đi tìm thức ăn, hoặc bởi chúng bị bọn sao biển tấn công. Lũ sao biển là kẻ thù của sò ốc. Thỉnh thoảng mẹ vớt chúng bỏ túi, rồi mẹ để chúng chết dưới nắng, còn tôi giữ lại những con sao biển đẹp nhất, và cả những nhánh san hô hồng, để bán cho các quầy đồ lưu niệm gần đê chắn sóng.

Khi đã bắt đầu đi học rồi, tôi thôi không ra bãi biển cùng mẹ nữa, và chuyện này khiến tôi vô cùng buồn bã. Ban đầu, tôi bảo với mẹ là tôi không muốn đi học, tôi muốn trở thành một người đàn bà của biển giống mẹ, nhưng mẹ bảo tôi phải học hành rồi trở thành ông nọ bà kia, chứ không phải một kẻ mò ốc bắt sò, bởi nghề đó quá vất vả. Nhưng sang hè, mẹ dẫn tôi theo suốt quãng thời gian trường cho nghỉ học. Tôi mặc nhiều lớp áo phông chồng lên nhau, mặc nguyên chiếc quần jean cũ thủng lỗ chỗ, xỏ đôi giày nhựa, đeo mặt nạ dưỡng khí rồi bơi cùng mẹ, ra khơi xa, để quan sát đáy nước. Ban đầu tôi nắm tay mẹ vì hơi sợ. Tôi nhìn những đàn cá, rong tảo, sao biển và nhím biển với những chiếc gai màu đen chuyển động như thể nhím đang khiêu vũ. Dưới nước, tôi nghe thấy những âm thanh kỳ lạ, những bọt nước, những tiếng lạo xạo trong cát. Đôi lúc là tiếng ầm ầm xa xăm khi một con phà ngang qua eo biển. Mẹ đã chỉ cho tôi chỗ ẩn nấp của lũ bào ngư dưới đám rong tảo và làm cách nào dùng dao tách lấy chúng. Tôi có một chiếc túi lưới giống mẹ để bỏ vào bên trong những thứ thu hoạch được. Tôi không có bộ đồ lặn bằng cao su nên thường nhanh chóng bị lạnh, bởi vậy mẹ quan sát hai bàn tay tôi và đưa tôi về tận bờ khi nhìn thấy da tay trở nên trắng bợt. Tôi cuộn mình trong một tấm khăn và nhìn mẹ quay ra khơi.

Khi ở trường, tôi không còn biết mẹ sẽ lặn ở đâu. Vừa tan lớp, là tôi chạy ra bờ biển, tôi cuốc bộ dọc đường bờ biển, và cố gắng nhận ra mẹ giữa những người đàn bà của biển. Tôi lắng nghe những tiếng kêu và khi nghe thấy tiếng uu-rrraurrral của mẹ, tôi biết mẹ đang ở đó. Nhưng cũng có khi tôi không tìm ra mẹ. Tôi đứng đó nhìn biển, tim thắt lại, tôi quan sát từng đợt sóng. Lũ chim cốc đậu trên đá ngầm với đôi cánh hơi xòe ra để hong cho khô trước gió, trông cứ như thể những lão ngư quàu quạu. Khi tôi về lại nhà, mẹ đã ở đó rồi, mẹ không đi lặn mò vì biển động, hoặc bởi mẹ cảm thấy mệt, và tôi nhẹ nhõm khi nhìn thấy mẹ đến nỗi muốn bật cười. Nhưng dĩ nhiên tôi không nói gì với mẹ, bởi chính vì tôi mà mẹ theo đuổi cuộc sống khó khăn này, để trang trải tiền ăn học cho tôi.

Đôi khi mẹ kể với tôi về chú cá heo của mẹ. Ban đầu khi bắt đầu nghiệp mò lặn mẹ đã gặp chú, rồi thỉnh thoảng chú lại gần bờ thăm mẹ. Mẹ hào hứng kể về chú, mẹ bật lên tiếng cười trẻ thơ. Răng mẹ trắng đẹp nên khi cười trông mẹ rất trẻ. Còn răng tôi thì to cộ và xiêu vẹo giống những quân đô mi nô chuẩn bị đổ rạp! Mẹ rất đẹp. Để lặn, mẹ cắt tóc ngắn thành một vầng tóc đen hơi xù lên vì nước biển. Tôi thích gội đầu cho mẹ. Tóc tôi thì dài và xoăn, hẳn là thừa hưởng từ bố, nếu bố là người Phi như Jo nói, hoặc giả vì ông tôi người Hoa. Tôi không biết đã đọc ở đâu thấy hình như tóc người Hoa thường xoăn. Mẹ bảo mẹ rất thích tóc tôi nên không muốn tôi cắt tóc. Mẹ thường gội đầu cho tôi, sau đó mẹ xoa thêm dầu dừa để tóc tôi láng bóng.

Tôi đã quen một mình đi dọc bờ biển. Sau giờ tan học, thay vì về nhà làm bài tập, tôi cuốc bộ ra tận bờ biển. Tôi tới bãi biển lớn bởi vào mùa đông nó vắng tanh. Tôi rất yêu mùa đông. Tôi có cảm giác vạn vật đều nghỉ ngơi, biển, những mỏm đá, thậm chí cả lũ chim. Vào mùa đông, mẹ không rời khỏi nhà sớm quá vì bóng tối vẫn còn bảng lảng nơi đáy nước. Trên mặt biển và dưới đáy biển, ngày không rạng cùng lúc. Tôi đến gặp mẹ giữa những mỏm đá. Biển xám, những con sóng được gió vuốt phẳng, chỉ hơi lăn tăn như thể da ngựa. Những ngày ấy phần đông những người đàn bà của biển không rời nhà. Mẹ không ngần ngại vì biết mình sẽ thu hoạch được gấp đôi. Những ngày đó mẹ có thể kiếm được sáu mươi đến bảy mươi đô. Mẹ bảo tôi mang giúp sò ốc tới các nhà hàng, nhất là khi có nhiều bào ngư, bởi chúng nặng trịch. Mẹ lặn không xa lắm, gần cảng, có con đê che chắn, hoặc trong bãi đá cuối bãi biển. Tôi trú trong lều của những người đàn bà của biển, và nhìn mẹ bước xuống nước, chân mẹ thẳng đuột trong không trung trước khi lặn xuống, đôi giày đẹp màu lam sáng lấp lánh, rồi nước khép lại trên mẹ, và tôi đếm, như khi còn bé, hết sức chậm rãi, mười, mười một, mười hai, mười ba, mười bốn, rồi mẹ lại xuất hiện, đầu ngửa ra sau, mẹ kêu: uu-rrraurrra, còn tôi đáp lời mẹ. Tôi đã xem trên truyền hình một bộ phim về loài cá voi, tôi bảo mẹ: “Các bà, những người đàn bà của biển, các bà kêu như cá voi vậy!” Câu nói ấy khiến mẹ bật cười, mẹ kể thêm với tôi về chú cá heo của mẹ, chú cá thỉnh thoảng vẫn tới thăm mẹ vào lúc hoàng hôn. Không riêng mình mẹ. Bà lão Kando bạn mẹ, hình như bà là con hoang của một lính Nhật, đã kể với tôi rằng bà cũng từng gặp gỡ một chú cá heo, và bà biết nói chuyện với chú. Bà kể với tôi rằng đôi khi, lúc sáng sớm, hoặc ngay trước khi đêm buông, chú cá heo lại gần bà, và bà nói chuyện với chú bằng cách phát ra những tiếng kêu khe khẽ dưới nước, miệng mím lại, hoặc bà vỗ tay, và chú cá heo sát lại gần bà, sát đến nỗi bà có thể vuốt ve làn da vô cùng trơn láng và mịn màng của chú, bà kể như thế đấy. Thế là lúc chiều tối, khi biển thật lặng sóng, tôi cũng ra biển, đeo mặt nạ rồi bơi với hy vọng gặp được chú cá heo, nhưng cho tới lúc này vẫn chưa thấy chú đâu. Chỉ có mẹ và bà lão Kando là từng gặp chú. Nhưng chú thân nhất với Kando, chú không sợ Kando bởi bà đã già rồi. Tôi từng hỏi Kando xem mắt chú cá heo màu gì. Bà suy nghĩ: “Ơ kìa, mày hỏi đến lạ,” bà bảo vậy. Bà nói bà không biết, có lẽ mắt chú màu xanh lơ, hoặc có thể là xám. Mẹ chưa từng nhìn thấy chú cá heo thật gần, đó chỉ là một bóng đen đôi khi lướt qua gần mẹ, nhưng mẹ hiểu ngôn ngữ của chú, những tiếng kêu nhỏ mừng rỡ khi chú bơi cạnh mẹ. Chuyện ấy không phải rất tuyệt hay sao? Chính bởi lẽ đó mà tôi cũng vậy, tôi cũng sẽ trở thành người đàn bà của biển.

Biển chứa đầy bí ẩn, nhưng chuyện ấy chẳng làm tôi sợ. Thi thoảng, biển nuốt chửng ai đó, một người đàn bà của biển, hoặc một người câu mực, hoặc giả một du khách bất cẩn bị sóng cuốn phăng từ một mỏm đá bằng phẳng. Thường thì biển không trả lại xác. Buổi tối, khi những người đàn bà của biển tụ tập trước túp lều dựng bằng gạch nén, để trút bỏ quần áo và tắm dưới vòi nước, tôi ngồi cùng họ và lắng nghe họ chuyện trò. Họ nói bằng thổ ngữ của đảo, tôi khó mà hiểu được hết. Giọng họ trầm bổng kỳ cục như thể họ không quên được những tiếng mình hô gọi khi ra khỏi biển. Họ nói bằng ngôn ngữ của biển, thứ ngôn ngữ không hoàn toàn giống với ngôn ngữ của chúng ta, trong ngôn ngữ đó pha trộn những âm thanh ta nghe thấy dưới nước, những tiếng rì rào của bọt nước, tiếng cát lạo xạo, những tiếng vỡ òa trầm đục của sóng khi xô vào đá ngầm. Tôi cho rằng họ rất yêu quý tôi. Họ gọi tôi bằng tên, June, họ biết tôi không phải dân gốc vùng này, biết tôi sinh ra ở thành phố. Nhưng họ không bao giờ căn vặn tôi, cả về bố lẫn về mẹ tôi, họ kín đáo, ngay cả khi tôi dám chắc rằng họ vẫn buôn chuyện khi tôi đi khỏi, nhưng chuyện đó không quan trọng, tất cả mọi người đều làm vậy. Họ già nua, con cái ở xa, chúng làm việc cho các công ty, chúng đi đây đi đó. Họ rất yêu quý tôi vì chắc hẳn tôi khiến họ nhớ tới con gái họ, một đứa con gái đã lớn và họ chỉ còn gặp mặt mỗi năm đôi ba bận, vào dịp kỷ niệm hoặc lễ tết. Họ gọi tôi là “con gái ta”, hoặc giả “con bé con”, ngay cả khi tôi cao lớn hơn họ.

Mẹ không thích lắm việc tôi suốt ngày ở bên những người đàn bà của biển. Mẹ đã cấm tôi đi bơi cùng họ. Mẹ sợ tôi giống như họ, sợ tôi cũng trở thành thợ lặn. Mẹ bảo tôi phải học ở trường cho giỏi, để sau này học lên đại học, để đạt được những gì mẹ đã vì tôi mà không thể đạt đến. Mẹ bảo tôi phải trở thành bác sĩ, hoặc luật sư, hoặc giáo viên trung học, một nghề hẳn hoi. Hoặc cùng lắm cũng là nhân viên văn phòng. Nhưng tôi không muốn làm nghề nào trong số ấy, ngày ngày tới cùng một chỗ, nhận lệnh từ một bà sếp cáu bẳn và tai ác, rồi tối tối lại về nhà ngủ. Cái tôi thích là những gì biển dạy cho tôi, những gì các bà dạy cho tôi khi họ rời khỏi mặt nước, nhóm lên một ngọn lửa từ những tấm ván và trú trong túp lều gạch nén, khi dưới ánh chiều tà họ trải ra trên phiến đá đen những kho báu từ đáy biển, những con bào ngư ánh xà cừ, những con sò gai ngạnh và đen đúa, những con sao biển, những con mực. Tôi nghĩ hẳn dưới biển có tồn tại một thế giới, một thế giới hết sức đẹp đẽ, khác với tất cả những gì ta thấy trên mặt đất. Một thế giới không hề cứng nhắc và khô khan, không làm trầy da hay nhức mắt, một thế giới nơi mọi thứ lướt qua chậm rãi, êm đềm. Có nhiều truyền thuyết về biển, ví như câu chuyện về bà lão đã thoát khỏi nanh vuốt của hổ nhờ có rồng biển, hoặc câu chuyện về những quái vật nuốt chửng đoàn thủy thủ, tất cả những gì người ta vẫn kể cho lũ trẻ. Nhưng tôi không muốn nghe những câu chuyện ấy. Đúng ra tôi muốn nghe loại chuyện về một cánh cửa mở ra một thế giới khác, một xứ sở nơi vạn vật đều xanh biếc, vừa sáng rỡ vừa ảm đạm, vừa trơn tuột vừa mạnh mẽ, một thế giới lấp lánh. Một thế giới lạnh lẽo, nơi sinh sống những đàn cá trong suốt, một thế giới nơi mọi âm thanh đều khác biệt, không phải âm thanh từ những con người đang trò chuyện, không có gì xảo trá hay độc ác, chỉ là tiếng ầm ì vây quanh ta, cuốn ta theo, và khi nó đã chiếm lĩnh ta rồi, ta không còn muốn trở lại mặt đất nữa.

Đó là điều mà những bà lão của biển cho tôi thấy khi họ rời khỏi mặt nước. Họ loạng choạng bước đi trên những mỏm đá, hai cánh tay hơi dang ra, thân hình đen bóng hơi phình lên ở bụng và ngực, họ không còn vẻ duyên dáng nhẹ nhàng của nước, nét thanh xuân của nước, gió xô đẩy họ, bầu trời đè nặng lên họ, ánh nắng khiến họ ứa nước mắt. Họ lau mắt, họ đưa tay hỉ mũi, họ khạc vào những vũng nước. Họ đổ tất tật những thứ thu hoạch được như ốc xoắn và bào ngư, nhím biển ra một phiến đá phẳng, móng tay họ đen đúa và gãy nham nhở, da cổ họ nhăn nheo như da cổ rùa. Họ không trò chuyện. Họ cởi bộ đồ lặn cao su, tôi giúp họ kéo ống tay áo ra, không cười. Làn da họ tỏa mùi biển, mái tóc hoa râm xoăn lại vì ướt. Có lần tôi bảo: “Ơ này, hình như cháu sinh ra dưới biển nên tóc cháu xoăn sẵn hay sao ấy .” Rồi họ gom đồ vào xe đẩy, tôi nghĩ đó chính là những chiếc xe họ từng dùng để đẩy con gái đi dạo khi họ còn là những bà mẹ trẻ. Họ nối đuôi nhau rời đi trên con đường ven biển, không hề để ý đến những chiếc ô tô của du khách, đến những kẻ tò mò dừng lại chụp ảnh họ. Họ trở về nhà. Trên mặt đất, họ nặng nề, vụng về, cứ như thể lũ hải âu già trúng bẫy nhựa dính, nhưng riêng tôi thấy họ đẹp. Tôi yêu nhất bà lão Kando. Khi tôi về đến nhà, mẹ nhìn tôi nghiêm nghị. Brown đã có lần định lên lớp tôi, nhưng tôi lạnh lùng nhìn gã, và kể từ khi tôi coi khinh gã, gã trở nên dè chừng. Gã nên câm miệng thì hơn.

Tôi quên kể về Ngài Kyo. Tôi gọi ông như vậy nhưng kỳ thực, tên thật của ông là Philip. Đó là một người ngoại quốc. Tôi đã gặp ông lần đầu trên bến cảng, bấy giờ ông đang ở trên đê chắn sóng để câu cá. Ông có hẳn một bộ đồ lề lủng củng cho việc ấy. Một bộ dụng cụ chuyên nghiệp. Một cần câu sợi thủy tinh, những ống cuộn dây câu cải tiến. Một hộp nhựa màu đỏ đựng đủ loại lưỡi câu, dây cước, phao, hòn chì, và thêm vào đó là một con dao nhỏ bằng inox có nhiều lưỡi và cây kéo gấp, một cái bấm móng tay. Ông có một hộp kim loại đựng đầy giun và tôm làm mồi câu. Tối hôm đó tôi tới đê chắn sóng để xem phà rời bến, và bấy giờ ông ngồi đó một mình. Vốn rất mến những người ngoại quốc nên tôi tới bắt chuyện với ông. Tôi không quen làm thế, vậy mà tối hôm đó tôi lại muốn trò chuyện với người đàn ông chưa quen biết ấy. Ông có dáng vẻ kỳ cục, hơi so vai rụt cổ và vụng về trong y phục phố thị, cùng với cả bộ đồ lỉnh kỉnh của dân câu. Trông khá kỳ quặc, và nói thực lòng, quả là mới lạ.

“Ngài trang bị siêu đầy đủ thế kia, chắc ngài câu thạo lắm nhỉ!” Ông nhìn tôi như thể cố hiểu xem tôi có đang giễu cợt ông không. Thậm chí ông không có vẻ ngạc nhiên khi thấy tôi nói trôi chảy thứ tiếng của ông.

“À ừ, cuối cùng ông lên tiếng. Nhưng trang bị thế nào thì đâu có quyết định được gì.” Ông khẽ mỉm cười thú nhận, và tôi thích thú vì đây là lần đầu tiên một người đàn ông không hề hổ thẹn khi nói ra điều này: “Ta chẳng biết gì đâu, đây là lần đầu tiên ta đi câu đó.”

Ông có bộ mặt rầu rĩ, làn da hơi tái, mái tóc xoăn khá dài, ấy là những gì tôi nhìn được bởi ông đội một chiếc mũ lưỡi trai in số 1986. Ông lực lưỡng, vai rộng với đôi bàn tay to. Ông đóng bộ com lê và đi giày đánh xi đen, đương nhiên không hợp để đi câu rồi. Trông ông cũng chẳng giống khách du lịch.

“Ngài đến đây để tập câu, đúng không?” Ông nhìn tôi không cười. Tôi đoán ông phải lấy làm lạ, cái con nhóc mười ba tuổi đang chất vấn mình. Ông quăng dây, nó rít lên trước khi đầu chì chạm xuống nước, cách mép đê khoảng chục mét. Ông bảo: “Thế cháu định dạy ta câu chắc?” Chắc chắn ông nói mỉa, nhưng tôi không nản lòng. Tôi trả lời ông: “Vâng, cháu có thể dạy. Cháu câu giỏi mà. Cháu câu từ hồi còn bé tí.” Tôi còn nói thêm để tỏ ra là một đứa thông minh: “Ngài biết đấy, ở đây nào có việc gì khác mà làm.” Ông không trả lời, chỉ cuốn dây câu, thế là tôi nói tiếp: “Phải biết chỗ câu cơ. Ví dụ như ở đây thì ngài sẽ chẳng câu được gì đâu. Nước không đủ sâu, rồi lưỡi câu lại vướng vào tảo cho mà xem.” Đúng lúc đó, cứ như trời xui đất khiến, dây câu của ông vướng dưới nước. “Ngài thấy chưa? tôi bảo. Ngài bị mắc rồi.” Ông buông một câu chửi thề và lấy hết sức kéo cần lên, đến mức nó suýt gãy. “Khoan đã, để cháu làm cho.” Tôi cầm lấy cần và lắc sang hai bên, nhẹ thôi, tôi bò ra trên kè và kéo từng tí một, như kéo một con vật bằng xích. Một lúc sau, dây tuột ra, ông ấy cuốn lại. Lưỡi câu kéo theo một khóm tảo lên mặt nước. Cuối cùng thì người đàn ông cũng mỉm cười, có vẻ hài lòng. “Đúng là cháu không nói dối.” Ông trở nên thân thiện. “Cháu câu giỏi thế, nếu có thời gian thì dạy ta nhé.” Tôi bảo: “Ngoài lúc đi học cháu đều rỗi.” Lúc này, ông nói tên là Philip Kyo. Tôi rất thích cái tên này. Ngay lập tức tôi đã nghĩ rằng chúng tôi có thể trở thành bạn bè, với cái tên như thế. Tôi nán lại một lúc lâu để giải thích cho ông phải câu như thế nào, tôi chỉ cho ông góc phía đằng kia con đê, nơi thủy triều không thể đẩy dây câu đi được. Đêm xuống, tôi trở về nhà. Nhưng trước khi đi, tôi nói với Ngài Kyo: “Mai là Chủ nhật, nếu ngài quan tâm, cháu sẽ đến chỉ chỗ câu cho ngài. Tức là những chỗ câu ngon ấy.” Ông vẫn khẽ mỉm cười nhìn tôi. “OK, sáng mai nhé?” Tôi nói: “Chiều đi, tại sáng cháu phải đi nhà thờ cùng mẹ.” Ông cất cần và mồi. “Cháu biết ta ở chỗ nào không?” Tôi ra hiệu là có: “Ai mà chẳng biết ngài ở đâu. Ở đây mọi người đều biết nhau cả, đảo này bé tí ấy mà.” Tôi nói thêm, vì không chắc ông hiểu: “Ngài chỉ cần đi ra khỏi nhà, chính cháu sẽ đón ngài.” Và chúng tôi đã thành bạn của nhau như thế đó, Ngài Philip Kyo và tôi.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của j. m. g. le clézio