Bất Đáo Trường Thành Phi Hảo Hán

Lượt đọc: 1248 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN III- 1 -

– Các hạ khá nhỉ, hôm nay biết đến đúng giờ, nếu hôm nay mà các hạ đến muộn chắc tôi sẽ phải sai âm binh đến hô phong hoán vũ, nâng chiếc xe bay lên cho khỏi kẹt đường.

Tôi cảm động thấy mình đã đến sớm mà ông tướng còn đến sớm hơn. May quá giờ nầy còn ít du khách và tôi là một trong những du khách “đáo Trường Thành” sớm nhất.

– Kính chào tướng công.

– Thiên An Môn vui không?

Tôi ngạc nhiên vì mình chưa kịp nói gì ngoài câu chào “Tảo An” mà ông tướng đã biết cả. Tôi muốn hỏi xem ngài có khỏe không, buổi họp với chư vị tướng lĩnh cõi âm có gì đặc biệt không.

– Thiên An Môn, nơi nầy rồi sẽ phải bị gọi là Thiên Bất An Môn, vì chỉ e nơi nầy sẽ được tắm nhiều máu. Thật đáng thương.

Nghe giọng ông tướng có vẻ ưu tư, tôi giật mình lo sợ  hỏi ngay:

– Sao, tướng công nói gì vậy? Tôi tưởng nước Trung Hoa ngày nay đã hoàn toàn đổi khác. Đặng tiên sinh là người khôn ngoan nhất, so với thời của Tứ Nhân Bang, mỗi sáng sớm tôi đi dạo ra đường phố, quan sát thấy mọi người vui sống, hàng quán linh đình, sáng chiều gì cũng tấp nập, tưởng như chưa hề có những vụ Vệ Binh Đỏ hay là Cách Mệnh Văn Hóa gì gì đó đã từng xảy ra….

– Người Âu gọi đó là “mémoire courte” (trí nhớ cụt) đấy, nhưng đó chỉ là bề ngoài thôi, các hạ ơi, không bao giờ nên căn cứ ở cái bề ngoài mà đoán định phê phán những gì ẩn dấu bên trong.

Nói xong câu ấy, ông tướng vội ngừng, nhếch mép gượng gạo hình như hối tiếc sự quá lời của mình. Tôi như linh cảm thấy có một điều gì bất an, nghe lạnh sau lưng, tôi rùng mình, đưa tay kéo tấm áo. Tướng Mông Điềm nói tiếp ý, như muốn vớt vát một sự gì.

– Cầu mong cho mãi mãi được như sự trông thấy của các hạ, nhưng các hạ cũng nên tập cái tính dè dặt, đừng quá hấp tấp vội vàng, tin ở cái bề ngoài hào nhoáng cũng như tin những lời hồ mị, khoe khoang. Các hạ hay dùng chữ “auto ca” tức là tự ca ngợi đề cao chính mình là đó, dễ tin thì dễ bị chúng lừa.

Tôi trầm ngâm, chưa hiểu những lời nói của tướng Mông Điềm hôm nay còn có ẩn ý gì nữa đây. Tự giận sao mình còn u mê trầm trệ. Sáng nay gặp lại tướng Mông Điềm, mới qua có một đêm, tính ra chỉ cách có mấy giờ mà sao nghe thật xa vời, thật lâu như cả mấy tuần, mấy tháng. Ngồi trên xe mà cứ thấy xe chạy quá chậm, nóng lòng muốn gặp người bạn khả kính nầy, chắc phải gọi là tổ sư mới đúng, gọi là bạn quả có thất lễ.

Muốn hỏi thêm về tình hình chính trị về tương lai của Việt Nam của Trung Hoa, của thế giới. Cái gì cũng muốn biết, muốn nghe, liệu thời gian có cho phép. Chắc phải đổi vé máy bay, đổi phòng trọ để ở thêm một thời gian nữa. Nếu không thì về kỳ nầy phải để dành đủ một chuyến đi khác, và sẽ chỉ dành cho tri kỷ nầy mà thôi chăng.

– Các hạ có gì, sao trông vẻ ưu tư.

– Tại hạ muốn đi viếng nhiều nơi, gặp nhiều người mua bán ít sách, mà lại không muốn rút ngắn cuộc nói chuyện học hỏi với tướng công, nên tại hạ muốn hỏi vấn Âm Dương một câu xem tại hạ có còn dịp nào trở lại đất nầy nữa không? Nếu biết chắc rằng còn trở lại thì tại hạ sẽ dành hết quãng thời gian nầy cho sự học hỏi. Tức là dành hết để được nghe những lời giảng dạy của tướng công, mà tại hạ biết rằng có đi suốt cả cuộc đời cũng chưa chắc đã gặp được một người thứ hai.

– Các hạ muốn đi những đâu?

– Muốn đi viếng Thiếu Lâm Tự.

– Để xem bức tường đá mà ngài Đạt Ma đã “diện bích” suốt chín năm, hay muốn được nghe, được học, được hiểu về cái thuật khí của Trương Tam Phong? Con người có một không hai ở cõi đời nầy.

– Cả hai ba thứ, muốn viếng ngôi chùa, nhìn cái địa lý và lý khí của ngôi chùa ấy, cũng như muốn biết về Trương Tam Phong, con người, cuộc sống.. học thuật của ông.

– Ngôi chùa chính với tất cả những dấu tích của ngày xưa thì không còn mấy, nhưng qua nhiều lần tu bổ, sửa chữa và địa điểm thì vẫn đó. Bộ các hạ muốn học phép luyện khí công để sống lâu vài trăm tuổi như Trương Tam Phong hay sao mà đòi đến nơi ấy?

– Nhân tiện hôm, nay chỉ có cách hỏi tướng công là chắc nhất. Người ta bảo Trương Tam Phong đời Tống và Trương Tam Phong đời Minh là một người, có sách bảo là hai người, vì làm sao mà đời Tống với đời Minh cách nhau những mấy trăm năm và con người có thể nào sống đến 399 tuổi, vẫn khỏe vẫn trẻ như thường, hơi vô lý, tướng công thấy sao, xin được giải thích.

Tướng Mông Điềm ngước mặt nhìn trời, vuốt hàm râu cười lên mấy tiếng trước khi bắt đầu giảng giải.

– Vì mọi người không phải ai cũng biết được hết cái uy lực của khí công, Tam Phong người sống dưới thời Bắc Tống, tại Thiểm Tây, nơi đây ông ta đã lập lên cái Kim Đài Quan, phía bắc ngạn sông Vị, nhưng nếu ai tìm trong sử Tống thì chẳng có gì để khảo chứng, mãi đến về sau, đời Tống các văn gia, bút giả mới bắt đầu tìm tòi nghiên cứu mà ghi lại, xưng tụng ông là một bậc quyền dũng tuyệt kỹ nổi danh, đến một vị vua sùng đạo giáo như Tống Huy Tông nghe danh ông, đã hạ chiếu cầu gặp mà không được. Đó là phong cách của một chân đạo nhân, chân quân tử, kẻ sĩ. Tương truyền rằng Tam Phong nhờ được thần nhân ban đêm đưa đi học về quyền pháp, mới đạt đến cái trình độ tuyệt kỹ như vậy. Một sức mình đã giết được 100 tên cướp. Các hạ cũng nên biết rằng quyền dũng còn phân ra nội và ngoại. Ngoại gia khởi tự Thiếu Lâm, giỏi về môn Kích Nhân, trái lại, nội gia không kích nhân ngay mà lấy TĨNH để chế ĐỘNG.

Đến đời nhà Minh sử ký đã ghi có một Trương Tam Phong, người ở Liêu Đông, thuộc Ý Xuyên, còn tên là Toàn, lại một tên nữa là Quân Báu, hiệu là Tam Phong. Sử chép người ông rất bẩn, chẳng bao giờ tắm, đầu tóc bù xù, hình hạc, lưng rùa, tai to, mắt tròn. Bốn mùa nóng hay lạnh cũng chỉ mặc có mỗi một bộ áo. Ăn rất nhiều nhưng có thể mấy ngày không cần ăn cũng vẫn như thường. Sách nào đọc qua là nhớ ngay, một ngày có thể đi nghìn dặm. Minh Thái Tổ muốn mời cũng không đến. Một hôm nghe bảo chết rồi đi đâu mất. Người ta làm hòm chôn, bỗng nghe tiếng hét trong hòm, mở hòm ra thấy nằm đó và đang sống y nguyên. Sang Tứ Xuyên, vào núi Vũ Xương, một thời gian nhiều năm, chẳng ai gặp, không biết ở đâu. Đến đời Minh Anh Tông (1459 Tây lịch), Triều đình phong tặng cho ông, gọi là Thông Vi Hiển Hóa chân nhân. Ông nầy rất giỏi về môn luyện khí, Kim Đan, Cửu chuyền, Bát mạch đều thông thuộc. Đến cái thuật nội công của ông thì được gọi là cổ kim đệ nhất. Khống chế được cả ngũ tạng lục phủ. Do đó nên huyết mạch thần kinh không hề suy lão. Kể từ Tống Huy Tông đến Minh Anh Tông, cả hai ông vua đều hạ chiếu cầu gặp mà không thèm đến.Từ ông vua Tống đến ông vua Minh tính ra là 339 năm . Cố nhiên ai có thể tin được rằng một người có thể sống lâu như thế.

Ông tướng nói một hơi dài về Trương Tam Phong, chắc hẳn ông ta cũng có nghiên cứu chứ làm sao mà nhớ được vanh vách như thế, báo hại tôi vừa nghe vừa ghi muốn hụt hơi, chợt nhớ cái thời đi làm ký giả cho đài truyền hình ở các nước Đông, Tây, hôm nay như tình cờ đã được sống lại mẫu đời ấy trong một khung cảnh khá đặc biệt. Tôi cần phải ghi kỹ vì ở Hoa Kỳ có nhà sư Tiểu Thừa Tịnh Đức và chú Trịnh Khải Hoàng cứ nhắn làm sao sang bên Trung Quốc phải tìm tài liệu về Trương Tam Phong, phải đến Thiếu Lâm Tự để viếng ngôi chùa…

Tướng Mông Điềm chờ tôi vừa ghi xong lại nói tiếp:

– Kim Đài Quan có nhiều cái động bằng đất, gọi là Thổ Động, do người ta đào đất mà thành, có đủ ánh sáng xây cất với các thứ gạch, ngói của địa phương. Mùa đông ấm áp, mùa hè mát mẻ, u nhã tĩnh trí, có thể gọi đó là một nơi động phủ của Thần tiên. Mỗi động đều rộng rãi, đường đi về khúc triết. Ngôi động ở trung tâm có tượng của Trương Tam Phong, lúc nào cũng được khói hương trầm tỏa, mỗi cửa động đều có ghi tên và Triều Dương động là nơi mà Trương Tam Phong đã ở tại đó.

– Tướng công có biết là tại hạ rất kém, hầu như không có tí kiến thức tài ba nào về vũ nghệ, một độ cũng tấp tểnh đi học môn Thái Cực Quyền và ngày xưa khi bố còn làm Quản Đạo tại KonTum thì rất thèm được học võ Bình Định mà bố mẹ không bao giờ cho phép. Mà chắc có cho cũng chẳng ra gì, học Thái Cực chỉ được có mỗi một thế, qua đến thế hai là quên đầu quên đuôi. Xin được nghe giảng thêm về môn khí công.

– Để làm gì? Biết mà rồi có áp dụng được không?

– Biết để có chút kiến thức khỏi thua chúng kém bạn, chứ tại hạ cũng chẳng bao giờ có tham vọng học được cái môn ấy.

Khí công có 36 pháp, mà trọng yếu nhất là 6 pháp, đó là:

– Đan Điền.

– Cao Hoang.

– Bách hội.

– Dũng tuyền.

– Thủ chỉ.

– Mệnh môn.

Sáu nơi nầy được gọi là cơ sở, khí nhập từ mũi mà vào, nhập thẳng đến sáu nơi nầy gọi là Sơ Bộ Công Phu. Cổ nhân gọi người học đạo là Đan Sĩ, đan tức là đan điền, và đan sĩ là kẻ sĩ luyện đan. Đan điền cách rốn một thốn năm phân, ở bên dưới. Đan điền có danh xưng mà không có vật thể, chỉ là một tiểu hình không gian, ấy vậy mà có sức chứa một số lượng không khí khá lớn.. ai luyện tập đủ 100 ngày, khí sẽ sung mãn, đáo đạt khắp thân thể mà trên nguyên tắc cứ khí ở đâu thì huyết theo đó. Mạch nào cũng được thông sướng điều hòa, tất nhiên là vô tật bệnh, và không bệnh thì khó chết. Tất cả đó là bí quyết của người tu tiên học đạo đấy thôi.

– Có người nói đến các thứ linh đơn tiên dược, tướng công nghĩ sao về những thứ ấy? Còn có ích gì trong thời đại nầy nữa không?

– Ngụy cả, trường sinh là do ở sự luyện tập mà thôi, nói theo thuyết nhà Phật của các hạ thì, những người nào mà nhờ kiếp trước có tu hành, không giết người, săn bắn, thì kiếp nầy có cuộc sống dài hơn và những kẻ yểu mệnh đa số là vì đã tạo nhiều nghiệp ác độc, giết hoặc tiếp tay cho người giết, làm những công việc của anh đồ tể…

– Vậy tướng công nghĩ gì về những quả bom nguyên tử và các thứ khí giới tối tân ngày nay.

Tướng Mông Điềm lắc đầu thở dài, nói giọng chán chường:

– Không có những cái của ấy thì kém thua người ta, mất thể diện, nên xứ nào cũng muốn có của riêng để chứng tỏ sự hùng mạnh. Nước nào cũng thử trên trời, thử dưới đất. Các thứ phóng xạ độc địa ấy được tản bố khắp nơi, theo gió bay cùng hang cùng ngõ, rơi xuống hồ sông biển suối, khói bốc lên thành mây, để rồi mây lại rơi xuống thành mưa, trong nước mưa ngày nay cũng đầy chất độc nhiễm. Con người ngày nay ai sống được ngoài trăm tuổi thì cũng lê lết, lệ thuộc, làm sao có thể như Trương Tam Phong thời ấy nữa.

– Thời của tướng công chắc nước suối nước mưa gì cũng ngọt ngào lành, tha hồ pha trà ngon nhỉ ?

– Các hạ đang nhớ trà sao mà nhắc đến nó?

– Cũng không nhớ lắm, tại hạ đi đâu cũng đưa đủ bộ sậu theo, và cố nhiên là một vài thứ trà thật ngon. Tội vạ gì mà nhịn.

– Nguồn vui của các hạ thật bé nhỏ, nhưng khi có nhiều thứ bé nhỏ ấy thì rồi gom góp lại nó cũng chẳng bé nhỏ nữa đâu. Thứ trà thượng đẳng mua ở xứ ngoài không rẻ đâu nhỉ. Nhưng thôi bỏ qua câu chuyện bé nhỏ ấy lại, bây giờ đến lượt bỉ nhân muốn hỏi các hạ xem ngoài hai môn Thiên Văn và Địa lý các hạ còn say mê thứ gì nữa không, nói nghe thử.

Tôi nhăn mặt, lắc đầu:

– Tại hạ chỉ là đứa mù dò đường, cái gì cũng gợi ý tò mò, nhưng để trả lời câu hỏi của tướng công, tại hạ cũng còn vài sở thích khác nữa, tại hạ thích tìm hiểu về Giáp Cốt, tại hạ là con nhà Phật nên cũng ưa tìm thêm về Mật Tông là điều mà Đức Phật cũng khuyên nếu ai không có duyên thì nên tìm một đường tu hành khác… Hôm nay nhân gặp tướng công cũng có vài câu hỏi.

– Nếu các hạ tin rằng tôi có đủ tư cách để trả lời thì xin cứ hỏi, nếu không thì đợi vài hôm tôi sẽ triệu tập một vài vị thông giỏi, chẳng hạn như Lại Bố Y là bạn vong niên nhưng cũng khá thân. Tôi sẽ mời cả Triệu Khang Tiết, có thể mời chư vị ở mọi ngành tha hồ cho các hạ chất vấn . Về quân sự tôi sẽ mời cả Tôn Tử, Tư Mã Ý. Hôm nọ các hạ nói đến Vũ Tắc Thiên, muốn mời bà ta cũng không khó lắm.

Tôi chợt nẩy ra ý định hay là nhân đây nhờ tướng Mông Điềm kéo mấy vị quốc tặc của các quốc gia đến chất vấn một phen chơi, tôi sẽ hỏi họ sao mà tàn nhẫn với con dân dữ vậy.

– Tướng công có bao giờ gặp Mao ông, hoặc Stalin, Lenin ở cõi âm ấy không, có bao giờ tướng công hỏi..

– Những kẻ ấy còn mục xương trong ngục Vô Gián, chưa trả xong tội thì chưa được ra đâu,. Vả lại tôi gặp những tên đồ tể ấy để làm gì, có gì để nói với nhau. Nhưng nếu các hạ tha thiết muốn… Ngay đến Tần Thủy Hoàng tôi cũng không thích gặp nữa là, tùy đấy..

– Tại hạ cũng chẳng lấy gì làm tha thiết, chỉ hơi tò mò vậy thôi, muốn biết những kẻ lúc sống hét ra lửa ấy thì lúc chết rồi làm được những gì. Có bao giờ biết sám hối.

– Đền tội, nếu ngày nào đền xong, và may nhờ một kiếp xưa từng có biết giúp đỡ bố thí cho các hiền nhân, hoặc có lần cũng từng được nghe giảng dạy về đạo lý qua các Kinh Sách… thì cũng có thể ra thoát nhưng dầu có ra rồi cũng phải trở về cuộc đời làm cầm thú súc sinh để kéo cày trả nợ, để cho người đánh mắng, nạt nộ. Những gì mà kiếp trước mình đã làm cho kẻ khác. Nếu có may mắn được sinh trở lại làm người thì cũng sẽ là những dong nhân, tức là những kẻ tầm thường, thiên đường không nhận địa ngục cũng lắc đầu, loại người mà ngày nay nhan nhãn.. Đó là may mắn lắm nếu không sẽ thành những kẻ sinh ra đã bị tật nguyền từ tinh thần đến vật chất.

Nghe ông tướng nói đến đây tôi chợt nghĩ đến sự tiến bộ của khoa học, và nghĩ đến cái thuyết nhân quả của nhà Phật. Có cả sao? tôi vẫn còn phân vân, mang cái chứng bệnh của thứ người ếch nằm đáy giếng, cái gì cũng đòi phải có khoa học chứng minh, tôi bướng bỉnh hỏi lại.

– Thế nào gọi là tàn tật tinh thần. Sự đui què mẻ sứt là tàn tật thể xác thì biết rồi, tướng công muốn nói gì, ám chỉ ai, xin nói rõ.

– Tinh thần tàn tật là một sự kiện còn đáng thương hơn là sự tàn phế thể xác, thế mà trên cõi đời nầy loại người bị tàn tật tinh thần lại nhiều hơn. Mặc dầu có bao nhiêu cuộc chiến tranh đã xảy ra để lại bao nhiêu thương phế binh.

Nghe nói đến chuyện thương phế binh, tôi chợt nhớ đến Serge Wourgaft là người tổng thư ký Hội Thương Phế Binh Quốc Tế. Ngày miền Nam mới mất, ông ta có dịp sang Hà Nội để nói chuyện giúp đỡ thương binh. Lúc trở về ông ta kể cho tôi nghe rằng: “Buồn cười lắm, họ đề nghị chúng tôi chỉ giúp cho thương phế binh của họ, tức là thương phế binh của miền Bắc mà thôi, vậy thì lính miền Nam bị tàn phế không phải là thương phế binh à, chúng tôi đâu có chịu”.

Ông tướng đọc ngay được ý nghĩ vừa chen vào đầu tôi, ông ta nói tiếp để cho tôi khỏi phải lập thành lời.

– Các hạ còn nợ ông nầy đấy nhé.

– Vâng ít thôi, nhưng rồi chắc kiếp sau cũng phải làm con gà hay con bò cho ông ta bán trứng, bán thịt. Tại độ ấy cần phải sang họp ở Brasilia mà vé máy bay đắt quá, ông ta cho mượn.

– Biết rồi, các hạ còn cầu nguyện cho ông ta đi Indonesia được bình yên, đừng bị tai nạn máy bay…

– Lo chứ, nếu không có ông ta cho mượn thì khỏi đi.

– Đúng là có nợ.

– Đã biết vậy thì nên quên đi. Cố áp dụng cái lý thuyết của mình.

– Tướng công muốn tại hạ đọc bài thơ vịnh cái lý thuyết ấy không?

– Biết rồi

Vạn vật vô thùng rác.

Lâu đài rồi đổ nát,

Canh bạc được mà thua,

Chợ chiều bán hay mua

Cành hoa rồi tan tác

Đưa nhau vô thùng rác…

– Thôi, biết tài của tướng công rồi, đọc thêm sẽ làm cho tại hạ xấu hổ, thơ với thẩn. Chẳng qua chỉ là… trong một lúc bực mình và nghĩ lại thì chẳng có gì đáng, cứ quẳng hết nó vào thùng rác là xong. Bài thơ rất dài nhưng tướng công không nên biết hết làm gì.

– Chẳng sao, thấy các hạ còn vẫy vùng trong cái biển nghiệp ấy quá nhiều, đáng thương. Thôi chúng ta tiếp nối câu chuyện, như tôi vừa nói với các hạ. Tại cái số dong nhân quá nhiều, càng ngày lại càng nhiều hơn, nhung nhúc….

Tôi cúi đầu suy nghĩ, chẳng biết chung quanh ai là dong nhân, và ai phải bị ông tướng liệt vào hạng thương phế, tàn tật tinh thần. Tướng Mông Điềm thấy tôi có vẻ suy nghĩ lại nói tiếp.

– Các hạ không nên thắc mắc, cứ chấp nhận tất cả là yên. Học theo cái triết lý của anh chàng ngư phu khi khuyên thi sĩ Khuất Nguyên: Nước trong thì ta giặt giải mũ, nước đục thì ta rửa chân, mọi sự đều sẽ xong. Nhưng ban nãy các hạ muốn hỏi bỉ nhân về cái gì?

– Muốn tướng công giải thích về Giáp Cốt văn tự cho tại hạ nghe thêm, còn một vài điểm thắc mắc.

Tướng Mông Điềm gật gù, có vẻ hợp ý, chắc là lên đúng cung bậc của cây đàn. Nếu ví con người là cây đàn, ai tưởng sờ vào trục đàn là phát lên âm thanh cũng sai, sờ lưng đàn cũng sai, sờ mặt trước hoặc hai bên đều sai, đều không làm phát ra được một âm thanh nào, nhưng nếu nhấn đúng vào phím đàn, thì sẽ làm cho những thứ âm thanh văn, vũ được phát ra. Tướng Mông Điềm phóng cái nhìn ra tít lên phía đỉnh cao của ngọn Trường Thành, cất giọng trầm hẳn xuống, khác với ban nãy, nói chậm rãi.

– Các hạ, thật đáng tiếc sao chúng ta lại phải cách biệt âm dương, nếu không thì nhất quyết chúng ta sẽ thành đôi bạn tri kỷ, tri âm.

Tôi lắc đầu tỏ sự không đồng ý.

– Tướng công quên một điểm rất quan trọng, chúng ta là người ở hai quốc gia khác, hai tập quán khác. Tướng công là đàn ông, có tất cả những thói quen tật xấu của người đàn ông, tại hạ đây cũng có đủ một nghìn lẻ một cái thói quen tật xấu của người đàn bà. Làm sao chúng ta có thể chịu nhau nổi.

Ông tướng cau vừng trán một lúc rồi đổi nét mặt, gật đầu đồng ý, trả lời câu hỏi của tôi.

– Giáp Cốt văn tự là thứ văn tự của đời thượng cổ đã khắc lên giáp cốt, tức là khắc lên xương thú với mai rùa. Người sau mới biết đến nó từ đời nhà Thanh, Quang Tự thứ 15, tức là vào khoảng 1870. Người ta tìm thấy nó trước tiên hết là ở tại Hà Nam, huyện An Dương, nơi kinh đô của nhà Ân. Thời ấy, người Ân mỗi khi có việc gì cần cầu xin, thì phải bói và các Trinh nhân còn gọi là bốc sư, tức là mấy ông thầy bói, sau mỗi lần bói đều có ghi lên trên mai rùa hoặc xương thú, để cho khỏi quên. Trinh nhân hay bốc sư hay thầy bói đều phải là những người có học, biết đọc và biết viết, thời ấy rất hiếm. Giáp là lân giáp, xác cốt, là cái mai con rùa con miết, và cốt là xương tất cả các loài thú.

Giáp Cốt được người sau chia ra là Ân Hư văn tự, Ân Hư thư khế, Trinh bốc văn tự, Ân Hư bốc từ, khế văn, miết giáp văn. Chữ hơi giống như loại chữ Triện, chữ Trứu, nhưng đặc biệt là đơn giản hơn.

Tôi đưa tay ra ngăn lại để đặt câu hỏi, muốn cho về nhà sau nầy có kể lại thì sẽ được rõ ràng hơn.

– Xin giảng về hai chữ Ân Hư để được khỏi bị lầm lẫn.

– Có gì đâu, Hư là tên nhà Ân, khởi đầu với vua Thành Thang. Hư có nghĩa là làng mạc, khu phố chợ, ở đây chỉ để gọi nhà Ân mà thôi.

Tôi lại bắt ngay câu chuyện nhân nói về vụ Thành Thang, biết mình đang đi ra ngoài đề, chẳng sao, cần thì cứ hỏi lại trở vào đề sau đó chứ có sao.

– Xin được nghe nói về Thành Thang và Y Di, sử sách ghi rằng hai người ấy vừa gặp nhau là bị… .

– Drop dead gorgeous, tiếng Pháp gọi là coup de foudre, quý quốc gọi là tiếng sét… mà không phải ái tình, có thể dịch là hai người vừa gặp nhau đã thích thú nhau ngay. Sự kiện nầy cũng chẳng có gì lạ, nhất là trên quan điểm tri thức, khi hai làn sóng tri thức hợp nhau thì bất kể tuổi tác, chủng tộc, nam nữ… và có khi còn là âm dương. Bao nhiêu cuộc tình giữa ma với người, các hạ không nghe sao?

– Đúng vậy, tại hạ có nghe một câu chuyện khá kỳ lạ, bảo rằng vua Thang không yêu thương gì bà vợ, nhưng vì muốn có Y Di để gần mình nên phải chịu cưới bà ấy, bắt Y Di phải bồi giá theo như phong tục xưa. Như thế mới được gần Y Di phải vậy không.

– Thì đấy, nhưng ở đây nó chỉ là một chi tiết vụn vặt, người đời sau hay thích khai thác. Nhìn giòng sông ta phải biết nhìn ngọn nước cuồn cuộn chảy hay là đang lờ lững chậm rãi, sao lại nhìn những thứ bèo bọt tấp hai bên bờ làm gì, bỉ nhân khuyên các hạ… nhưng thôi để nói cho hết. Y Di trước đó đã đến gặp vua Kiệt, bảo nhà vua nên nghe lời khuyên của mình, nếu không thì xã tắc sẽ lâm nguy. Vua Kiệt trả lời một câu mà lịch sử không thể quên, hay là người đọc sử không thể không biết đến. Bỉ nhân xin đọc đúng câu rồi ta sẽ dịch ra sau. “Tử hà yêu ngôn, Ngô hữu thiên hạ như thiên chi hữu nhật dã, nhật hữu vong hồ, nhật vong ngô diệt vong” (Ngươi sao nói chi lời yêu quái, ta đây có thiên hạ như trời có mặt trời, mặt trời có mất không, ngày nào mặt trời mất thì ta mới mất được).

– Lạ nhỉ, thời nào cũng có những con người như mấy cái nhà ông vua ấy, mà nào có phải họ ngu đần.

– Thì mới dễ mất nước, nếu không có những người như thế thì dân giàu nước mạnh mãi sao. Còn gì là cái quy luật biến hóa của trời đất.

– Thôi bây giờ xin được trở lại với Giáp Cốt Văn Tự, để thì giờ qua phí đi. Xin tướng công nói nốt, ban nãy tướng công vừa nói đến….

– Trước hết phải nói đến các Trinh nhân là những vị chuyên về khoa bói toán, dùng mai rùa để bói gọi là Bốc, dùng cỏ Thi để bói gọi là phệ. Cỏ Thi là một thứ cỏ đặc biệt, mầu xanh mà có sách ghi là bạt tâm bất tử, tức là có bị kéo ruột ra cũng không chết.

– Sao ngày nay ít thấy ai dùng phương pháp ấy nhỉ.

– Ngày nay văn minh nhưng kém nhiều chất thơ so với ngày xưa, không còn thú vị như ngày xưa. Dùng mai rùa hơ lên lửa, mà trước khi hơ lửa phải quét mực lên. Hơ lửa rồi thì những nét mực ấy sẽ rạn đi, và qua những nét rạn đó mà đoán sự việc. Ban đầu xem bốc nấy để đoán thời tiết trời mưa hay nắng, xám hay thanh, có mây mù ùn ùn, hay chỉ vài cụm mây đen lơ thơ… Rất cần cho việc hành quân, cho những trận hỏa chiến, chắc các hạ có đọc những thiên quân sự nói đến trận Xích Bích, trận Phì Thủy. Xem cỏ Thi để biết việc làm có chính đáng gọi là Trinh, hay có sự gì để phải ăn năn, gọi là Hối. Tất cả đều với mục đích để suy xét phán đoán xem việc làm hay con người có sai lầm hay không. Xong rồi quý vị Trinh nhân ấy mới khắc lên xương thú hay mai rùa để cho đừng quên. Trinh nhân thời ấy tức là thời đại Thương Ân là những vị sử quan, gồm chỉ có 28 vị từ đầu đến cuối. Tức là từ đời Bàn Canh đến đời Đế Tân. Lối bút pháp của các ông nầy có 5 lần biến hóa. Nhờ ở sự nghiên cứu của các học giả và cũng may nhờ các Trinh nhân có ký tên mình, chắc để chịu trách nhiệm những gì mình đã xem thấy, đã ghi ra. Cũng nhờ như thế ngày nay các nhà nghiên cứu mới được dễ dàng trong công việc, mỗi mảnh xương có một lối bút pháp riêng của một Trinh nào đó. Người ta phải viết chữ lên xương trước, sau đó mới dùng dao khắc vào, có như thế mới giữ được đến ngày nay, nhất là qua hằng nghìn năm ngủ trong lòng đất. Nếu các hạ muốn xem thì cứ đi vào các viện bảo tàng, hoặc Đài Loan, hoặc Bắc Kinh. Tha hồ mà ngắm, muốn nghiên cứu thêm thì đi tìm sách. Ngày nay sách ra nhiều, đầy rẫy những tác giả chịu khó. Lại có cả tự điển về Giáp Cốt tự… Nhưng bỉ nhân muốn hỏi các hạ tò mò quá để làm gì, biết đó rồi để làm gì. Ngày giờ nầy, và thời đại nầy là thời đại Hoàng Kim, sao các hạ không nghiên cứu cái nghệ thuật làm giàu để khỏi làm cái việc “cầm” bút, đỡ khổ biết mấy.

– Biết vậy nhưng tại hạ chẳng muốn bận tâm đến những vấn đề ấy lắm. Vả lại, nếu tướng công biết rằng thời đại nầy mà rủi giàu thì phải tìm đủ cách để dấu của, gian thuế. Điều đáng sợ nhất là những phường giặc cướp, dưới đủ mọi hình thức. Kể cả những hình thức rất lương thiện khi mới nghe qua. Dại gì mà tại hạ lại đi nghiên cứu vấn đề làm giàu cho khổ thân.

Tướng Mông Điềm cất giọng cười vui vẻ, không còn nói lời mỉa mai như mấy lần trước nữa.

– Thì thôi, nói vậy chứ cũng biết các hạ đang được sự nâng đỡ của người thân mới có thì giờ để ngồi yên mà viết lách… Chỉ thỉnh thoảng…

Thấy tôi hơi cau mặt, tướng Mông Điềm biết là tôi đang muốn thay đổi vấn đề, không chịu cho ông ta khai chuyện riêng tư của mình. Quả thật đối với người cõi âm, chưa nói ra là đã thấu rõ rồi. Tôi rất sợ phải đưa lưng cho người xem nên chợt nhớ đến hôm qua lúc nói chuyện về âm nhạc mà quên nói về cái định nghĩa giữa hai thứ Trị Thế Chi Âm, và Loạn Thế Chi Âm, khác nhau như thế nào.

– Các hạ muốn nhắc lại vấn đề âm nhạc à, Trị Thế và Loạn Thế khác nhau lắm chứ, âm nhạc của thời loạn và thời bình, nghe ra là nhận biết ngay, các hạ cứ để ý xem…

– Chắc tướng công phẩm thanh theo tiêu chuẩn và quan niệm của thời xưa. Người xưa bảo âm của thời thịnh trị thì an lành, vui vẻ, mà âm của thời loạn thì nghe có giọng oán hận và phẫn nộ. Nhưng thời buổi nầy, xứ nào cũng bắt chước người Hoa Kỳ, mà các tác giả Hoa Kỳ ngày nay lại bắt chước người da đen, những vùng Phi châu xa xôi, nghe đủ giọng hò hét la lối mà có loạn gì đâu. Tướng công không tin hãy thử đi một chuyến sang Hoa kỳ mà xem.

– Ừ nhỉ, tại sao không. Các hạ cứ về đi bao giờ yên ổn thu xếp nhà cửa xong xuôi, bỉ nhân sẽ sang thăm một chuyến. Đồng thời chắc sẽ đi viếng mấy căn cứ quân sự xem quý vị quân nhân thời nầy làm ăn ra sao.

– Bây giờ tại hạ muốn tướng công nói một ít về y học của thời ấy cho tại hạ nghe. Văn rồi y, rồi đến lý… vấn đề nầy sẽ xin được đặt sau.

– Biết quá rồi, các hạ vừa nóng nảy vừa tham lam, nhảy cứ y như là con sóc, vấn đề nầy chưa xong đã đòi nghe vấn đề khác. Mới có hơn hai ngày mà nếu đem cộng lại, thì chỉ mới có mấy tiếng đồng hồ, hỏi chúng ta đã nói đến bao nhiêu là chuyện, bao nhiêu là vấn đề các hạ có biết không.

Tôi cười đãi tội, tại cái tính tò mò, nếu hôm nay không vội vàng, lợi dụng hỏi cho thật nhiều, biết đâu ngày mai chắc gì còn có dịp gặp lại nhau, nhất là sự gặp gỡ hy hữu nầy.

– Các hạ có bao giờ nghe nói đến hai chữ Thế Thân không?

– Là người anh hay em gì của ngài Vô Trước là hai vị đã có công trong việc nghiên cứu Phật Pháp sau ngài Long Thọ …

Tướng Mông Điềm lắc đầu bật cười to.

– Ồ không phải, hôm nay chúng ta nào đã đề cập đến Phật Giáo của các hạ đâu. Các hạ hỏi về Y học cơ mà.

Tôi cắn môi dấu sự ngượng ngùng, ờ nhỉ sao mà nhanh nhẩu một cách méo mó, chắc tại mấy hôm nay về phòng đêm nào chưa ngủ cũng mang tập tài liệu về Phật Giáo Đại Thừa ra mà nghiền ngẫm nên mới trả lời hấp tấp như thế.

– Xin được sự giảng giải.

– Trên phương diện y học mà có chút huyền bí thì phương pháp thế thân tức là dùng một người khác chết thay cho mình. Không phải chuyện ông Lê Lai và vua Lê Lợi của các hạ đâu, chưa gì đã vội nghĩ xa. Đa số người ta dùng hình nộm, phải có người thầy pháp đến trì chú, dùng phép thuật đuổi con ma bệnh vào cái xác nộm ấy, mục đích để cầu cho người bệnh trở lại mạnh khỏe.

Tôi nghe xong reo lên, đắc ý vì nhớ đến chuyện mẹ tôi có lần kể lại ngày tôi còn ở Saigon.

– Đúng rồi, tại hạ cũng nhờ con nộm thế thân nên hôm nay mới có thể đáo Trường Thành để diện kiến với tướng công đây.

– Thật vậy sao? Kể lại nghe chơi.

– Tại hạ đâu có biết gì, nghe mẹ của tại hạ kể lại rằng ngày ấy tại hạ ốm đau kinh khủng lắm. May nhờ có ông bác vừa giỏi khoa Dịch Kinh lại vừa giỏi khoa Đông Y, ông đi tàu hỏa từ Hà Tĩnh vào Huế với mục đích cứu đứa cháu sắp chết. Trong những phương pháp cứu chữa ấy có chôn con nộm thế thân mà hình như không phải chỉ có một mà đã dùng tới hai, ba con nộm chôn khắp mấy hướng chứ không phải chỉ có một hướng.

– Thảo nào, có vậy nên lắm khi trông các hạ cũng hơi đần giống mấy con nộm ấy nhỉ.

Chủ và khách lại cười vang, bất kể những người chung quanh mà có người đang đứng rất gần, tay cầm cả máy ảnh. Chắc lần nầy ông tướng hết dám trêu, tôi cứ lì trơ ra, chẳng biết giận đỗi là gì. Ngày giờ ít quá mà còn giận dỗi nó sẽ phí đi, chứ đâu phải vì giống mấy con nộm thế thân mà không biết giận.

– Thôi xin tướng công nói nốt đi…

– Ngày xưa không có các thứ Laser mổ xẻ như ngày nay, cũng không có cả siêu thanh điện tử như ngày nay nên người ta phải dựa vào siêu tự nhiên lực lượng để trị bệnh. Không phải chỉ có kỳ đảo mà còn bao nhiêu phương pháp chú thuật khác. Cũng hay, một vài khi, giờ phút nào mà con người cảm thấy kiệt lực, hết cả mọi hy vọng. Chẳng còn biết phải làm gì thì lúc ấy, tất nhiên sẽ nghe theo bất cứ một lời khuyên bảo, chỉ vẻ của bất cứ ai, bất kể từ phương nào đến.

– Kỳ đảo là gì? Phải làm những gì?

– Thì trước mặt các vị Thần linh, con người xin được ban phúc… Tôn giáo nào cũng có các lễ nghi Kỳ Đảo nầy, mà riêng Mật Giáo tức là Phật Giáo Mật Tông là có nghi thức quy mô hoàn bị nhất. Có thiên vạn sự khác nhau, nhưng tổng hợp lại được chia làm 4 đại yếu điểm là:

1.Tức tai pháp.

2. Tăng ích pháp.

3. Kính ái pháp.

4. Điều phục pháp.

Tức Tai có nghĩa là cầu cho qua khỏi tai nạn, Tăng Ích là cầu cho được tăng gia phúc lợi, Kính Ái là thỉnh cho được sự phù hộ và Điều Phục là cầu xin sao cho mình có thể làm thối lui các thứ tà ma ác my.

Ngừng một lúc, hẳn ông tướng muốn cho tôi có đủ thì giờ để “tiêu hóa” những gì ông vừa nói ra. Ban nãy tôi cũng có nghĩ đến để hỏi về Mật Tông, nhưng định phải qua vấn đề Y học nầy đã, nếu không chắc sẽ rối ren vì bao nhiêu điểm làm sao nhớ nổi.

– Các hạ chịu khó về mở sách Chu Lễ mà đọc, thì sẽ thấy rằng không phải chỉ có Vu Y, tức là chữa bệnh theo lối đồng cốt, bói toán, mà còn có Thực Y, Tật Y, Thương Y, Thú Y. Mỗi ngành đều có phương thức học riêng, chuyên môn riêng. Tật Y là nội khoa, mà Thương Y là ngoại khoa.

– Còn Thực Y và Thú Y?

– Thực Y, để chữa những chứng bệnh phát ra khi bị trúng món ăn. Vì người xưa coi vấn đề ăn là quan trọng nhất, đối với đa số, nhà nghèo ăn vì cần phải nuôi thân xác, nhà giàu ăn vì không biết làm gì ngoài cái vui ấy. Cũng do từ sự ăn uống mà phát ra không biết bao nhiêu bệnh trạng. Ăn ít cũng bệnh, ăn nhiều cũng bệnh, không ăn cũng bệnh… Thú Y không phải như ngày nay chữa cho tất cả chó mèo gà vịt, ngày xưa Thú Y để dành riêng cho quân mã vì thời ấy ngựa là con vật cần thiết cho mọi sự di chuyển. Trận mạc, quân đội cần con ngựa như ngày nay cần phi cơ, trực thăng, ngoài ra còn phải chữa cho trâu bò, lo sức khỏe cho chúng vì chúng là những con vật cần thiết cho sự cày bừa đồng áng.

Tôi cảm thấy thích thú khi được nghe nói đến những vấn đề nầy, trong lòng náo nức chỉ muốn hỏi tới thêm nữa, chẳng biết có bị chê là tham lam, nhưng mặc chứ, ai chê thì chê. Tôi đề nghị thêm.

– Tại hạ muốn nghe nói đến một vài nhân vật đặc biệt của quý quốc về Y học xưa? Cũng như tại hạ muốn được nghe nói về ngựa, các thứ kỳ mã, linh mã, độc đáo trong lịch sử, nhưng xin nói về người trước đã.

Nghe câu hỏi, tướng Mông Điềm cắn môi suy nghĩ một lúc rồi mới nói.

– Ừ. Cũng có một số nhân vật xứng đáng, sau Hoàng Đế và Thần Nông, còn có Biển thước, Hoa Đà. Mà cũng lạ, hai ông sau thật giỏi, thật chuyên môn mà đều bị chết một cách u uất. Biển Thước thì bị một y sư biết mình không đủ tài, đủ đức bằng nên đã cho người đến giết chết, còn Hoa Đà thì bị Tào Tháo bỏ vào ngục rồi cho người đánh chết.

– Tại sao ngày xưa người ta độc ác quá, mà lại còn một số người lại quá yếu, không có phương thế nào để trốn tránh cả sao? Xin nói về Hoa Đà, con người ấy tài về môn gì?

– Về khoa mổ xẻ, cả về y thuật, tướng số. Hẳn vì biết cái phần số của chính mình, không thể thoát. Biết cái nghiệp quả từ kiếp trước đã tạo ra, hay là biết cái số mình đã tận và phải chịu cái chết ấy. Toàn những thứ chết khốc liệt, thế mà vẫn không tìm cách trốn tránh. Phải nói về Biển Thước trước, ông ta sống vào thời Chiến Quốc. Học trò của Trương Tang Quân, tên ông ta là Việt Nhân, đây cũng là một vấn đề mà các hạ nên về đặt ra bắt mấy ông thầy thuốc của xứ Việt thử nghiên cứu xem. Tại sao lại là Việt Nhân?

Một hôm hai thầy trò vào núi, nhặt được một quyển sách thuốc, mang về đến nhà thì bỗng nhiên ông thầy là Trương Tang Quân biến đâu mất tích. Có kẻ đặt nghi vấn rằng đây hẳn là người thần tiên hiện xuống để giúp đời đó chăng. Lệ thường vẫn thế, lúc nào đại loạn thì hay có Thánh nhân hiện ra để tiếp sức, tiếp tay. Các hạ xem trong Kinh sách hay có các vị Bồ Tát là đó. “Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật”.

Lạ lùng hơn nữa là trong quyển sách thuốc ấy có kẹp vào một gói thuốc. Biển Thước vì đã từng nghe thầy bảo trước nên đã hứng sương hòa với thuốc mà uống trong 30 ngày. Sương phải hứng ở các lá cây, từ đó ông như đã được sự khai mở, trợ giúp của thần linh. Người hay vật gì đứng cách một bức tường vẫn có thể nhìn được, tất nhiên là con bệnh không cần đến gần, ông cũng vẫn biết và đoán ra bệnh. Lại có thể nhìn rõ gốc gác của ngũ tạng. Cứu sống nhiều người đã chết nên rất nổi danh. Biển Thước là nhà y sư đã chia ra 6 lý do được gọi là bất trị.

– Ồ hay quá, tại hạ phải ghi ngay lấy những điều nầy để lúc về còn thảo luận với quý vị bác sĩ Đông y và Tây y, xem họ có đồng ý, vì dầu sao thì ngày xưa, cách những mấy nghìn năm, so với ngày nay cũng đã quá cách xa, xin tướng công nói đi cho tại hạ ghi.

– Thứ nhất là phóng túng, không nghe lời khuyên bảo.

Thứ hai là khinh thân, trọng tài, tức là coi rẻ cái thân các mình mà chỉ lo làm tiền quần quật.

Thứ ba là ăn mặc không thích hợp, tức là ăn bậy, mặc bậy không thích hợp với thời tiết.

Thứ tư là âm dương chống đối, tạng khí bất định.

Thứ năm là gầy còm yếu đuối đến không chịu nổi thuốc.

Thứ sáu là tín Vu bất tín Y, tức là chỉ nghe theo lời đồng cốt, bói toán mà không nghe theo lời Y sư.

Trên đây là “Lục bất trị” các hạ thấy có còn dùng được ở thời đại nầy nữa không. Theo tôi thấy thì cũng chẳng có gì khác nhau lắm, con người với lòng tham làm tiền đến quên sức khỏe, hay là cơ thể lục phủ ngũ tạng cũng giống hệt nhau.

Biển Thước đi khắp nơi, chỉ tiếc rằng lúc sang nước Tần, ông bị một vị danh y khác tên là Lý Ê, tự biết mình không giỏi bằng Biển Thước nên đã mướn thích khách giết chết. Thật đáng hận, con người ấy, tự mình đã từng cứu bao nhiêu người, mà đến khi mình gặp nạn lại chẳng còn ai cứu nổi mình. Thời đại ấy, người ta cho rằng bệnh hoạn là do từ cái khí của Ngũ Tạng không điều hòa nên mới khởi bệnh đó thôi. Ngày nay còn cả trăm nguyên do khác.

– Ngũ tạng có phải để gọi tim, gan, tỳ, phế, thận, không?  Còn lục phủ là gì, cứ nghe mấy ông thầy thuốc nói mãi mà chắc lắm khi có người không biết, mà cũng không chịu hỏi.

– Thế à?  thế thì hôm nay bỉ nhân xin nói cho các hạ vậy. Lục phủ là mật, dạ dày, ruột già, ruột non, bàng quang và tam tiêu.

– Tam tiêu là gì, chữ nầy thì chính tại hạ cũng ngớ ngẩn, quý vị y sư tưởng ai cũng giỏi như mình nên chẳng mấy khi chịu cắt nghĩa rõ ràng cho con bệnh nghe.

– Có gì đâu mà khó, thượng tiêu là cái miệng trên của dạ dày, chỗ giữa gọi là trung tiêu và cái khúc trên của bàng quang gọi là hạ tiêu.

– Lại còn hai chữ tì và khí mà mấy ông thầy thuốc hay nói đó là gì, xin tướng công giảng kỹ.

– Nhưng bỉ nhân đâu phải làm nghề thầy thuốc mà các hạ hỏi dữ vậy, bỉ nhân cũng không phải là tập Bách Khoa từ điển. Nhưng thôi các hạ đã hỏi thì cũng xin trả lời. Tì là các lá lách, mà khí là cái hơi, cái gì thoát ra từ tâm, từ phế, từ thần.

– Bây giờ xin tướng công nói về Hoa Đà, tại hạ biết danh ông ấy ngày mới lên 5 tuổi.

– Sao biết danh ông ấy sớm dữ vậy, bộ gia đình các hạ xuất thân y học à, cha làm thầy thuốc à?

– Không, nhưng bố của tại hạ rất thích những gì văn minh, tân tiến. Ông già là người chơi phim và máy ảnh sớm nhất nhì trong nước. Ông già đã lấy Tam Quốc viết thành chuyện phim. Mướn một gánh hát đến đóng phim. Trong ấy có đoạn Hoa Đà mổ cho Tào Tháo, và hôm ấy người bếp đi chợ phải mua cho được một cái bong bóng heo, về nhà đưa cho ông phụ tá quay phim để ông nầy còn hòa phẩm đỏ đổ đầy cái bong bóng. Lúc Hoa Đà mổ, cái bong bóng được dấu trong áo, để rồi cũng có máu đỏ chảy ròng ròng y như thật. Nhất là thuở ấy tại hạ còn trẻ con. Đến giờ phút nầy nhắc tới cuộn phim do ông già đạo diễn, tại hạ như còn trông thấy trước mắt những hình ảnh, nào là lúc Quan Công ngồi thắp đuốc đọc binh thư ở ngoài sân, sau khi phò nhị tẩu đưa về phòng an nghỉ. Sau khi cánh cửa phòng của nhị tẩu đã đóng, thì phim chiếu đến đoạn Tào tháo và một vị quan nữa đang rình xem Quan Công có thật là người trung chính. Nào là cảnh Tào Tháo tung quà sang cho Quan Công, cả hai đều đang ngồi trên lưng ngựa để kể lể về sau rằng: Tôi đối với ngài, “Thượng mã đề kim, hạ mã đề ngân”.

Tướng Mông Điềm có vẻ hứng thú, đưa tay lên vuốt chòm râu, hình như người có râu làm cử chỉ ấy để nói lên cái nỗi niềm riêng tư. Ông là tiền bối của Quan Công chắc thuở ấy cũng đã từng phục nhau. Tôi nghe ông nói một mình: “Anh hùng tự cổ xuất Tây Bắc.” Đây là câu mà người ta hay nói khi nhắc đến Quan Thánh Đế Quân, vì ngài sinh ở vùng Tây Bắc ấy.

– Gia đình các hạ cũng hay nhỉ.

– Tại hạ có ông bố lắm tài và rất nhiều nghệ sĩ tính, chỉ tiếc là sinh vào một giai đoạn nhiễu nhương, lúc buồn chỉ có làm thơ dấu trong ngăn kéo vì độ ấy người Pháp và các quan mật thám rất nhiều. Họ chuyên đi rình rập tư tưởng và hành động của từng cá nhân.

Tướng Mông Điềm thở dài thông cảm nói lên một câu an ủi.

– Thời nào rồi cũng chẳng khác nhau gì mấy đâu. Nhưng sự đô hộ của ngoại bang cũng như sự tàn khốc của ngoại bang đối với dân tộc mình thì còn hiểu được. Khó hiểu là khi đã cùng chung một giống nòi, một lịch sử và ngay đến trong một gia đình mà cũng bôi mặt đá nhau mới là đáng buồn và đáng hận.

Tôi cau mặt chưa biết ông tướng còn muốn nói gì nữa đây, chỉ thấy ông im lặng, đôi mắt nhìn có vẻ xa vời, chắc đang trở về với cái thế giới hư ảo của mình, hay đang hồi nhớ tới sự tàn ác của Triệu Cao, hay của Tứ Nhân Bang, cái thời Hồng Vệ Binh nắm quyền, hành hạ dân chúng… Tôi lại đổi vấn đề, lại phải đặt câu hỏi. Nhất quyết không cho thời gian trôi qua một cách phí phạm.

– Hà vị vương khí? (Vương khí là gì).

Tướng Mông Điềm mỉm cười thấy tôi dùng tiếng Trung Hoa của ông để đặt câu hỏi, nhưng ông cũng vui vẻ trả lời.

– Theo cổ thư mà chúng ta vẫn đọc thì vương khí, thuộc ngành thiên văn, do ở sự quan sát các tinh tượng, tức là các vì sao, và đã vòng được cái khí ở giữa các vì sao ấy. Nếu muốn rõ ràng hơn, chúng ta có thể giải thích rằng, Vương Khí là mạch của núi và khí của đất. Nếu ai nhận thấy ở ngôi đất nào có khí thế mà xử dụng, lập cơ sở, lập quốc thì có thể kiến lập được cái gọi là Đại Nhất Thống chi Vương Triều. Nếu không biết thì chỉ có thể xưng hùng xưng bá một thời gian ngắn mà thôi, rồi chẳng bao lâu sẽ bị tiêu diệt. Cho nên một chính quyền nào muốn tồn tại thì phải biết nhìn tầm quan hệ của khoa Địa Lý. Ai muốn tranh đoạt giang sơn thì phải thuận khí thế. Nói cho mấy ông bà tấp tểnh ra tranh chức, tranh quyền liệu mà tìm thầy học hỏi.

– Tại hạ từng nghe nói rằng Vương Khí của đất Kim Lăng đã bị Tần Thủy Hoàng bắt phá đi, thật vậy không? Thời ấy là đương thời của tướng công, chắc tướng công cũng từng nghe, từng biết.

– Lạ nhỉ các hạ là người Việt mà sao lại quan tâm đến bản quốc hơi nhiều đấy, làm cho bỉ nhân thắc mắc.

– Có gì đâu mà tướng công thắc mắc, tại hạ vẫn nghĩ rằng giữa quý quốc và tệ quốc rồi sẽ còn liên quan, cũng như đã có nhiều liên quan từ trước đến nay. Mặc dầu…

Tôi đang ngập ngừng không biết có nên đọc mấy câu thơ ấy, nhưng Tướng Mông Điềm hiểu ý đọc thay tôi ngay.

– Nam quốc sơn hà, Nam Đế cư. Sơn hà Nam quốc là chỗ của Nam Đế, phải thế không, bỉ nhân xin đọc tiếp. Tiệt nhiên định phận tại thiên thư. Như hà nghịch lỗ, lai xâm phạm. Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư. Ba câu sau để nói đến sự phân chia đã được ghi lên sách trời, đừng có dại mà dòm ngó thế nào cũng thất bại… Phải đúng vậy không thưa bà ký giả.

Thêm một lần được ngạc nhiên thích thú, vì nhận thấy mấy câu thơ mà Lý Thường Kiệt đã làm cho quân nhà Tống mất hết tinh thần.

– Đây chẳng có thần nhân nào cả mà chỉ là mưu sâu của Lý Thường Kiệt, một danh tướng của quý quốc đó thôi, phải gọi là Thiên Tướng mới đúng. Ông cho người nấp trong đền Trương Hát, phía Nam cửa sông Như Nguyệt, vào lúc đêm khuya, các hạ biết rõ điều ấy chứ?

– Có, tại hạ phải học mãi từ năm còn để chỏm, và khi lớn lên cũng đã từng đặt câu hỏi rằng người giả danh thần nhân ấy, phải đọc bài thơ bằng thứ ngôn ngữ nào, tướng công trả lời sao?

– Chắc phải đọc theo âm Trung quốc chứ nhỉ, nếu không thì chú lính Trung Hoa viễn chinh ấy làm sao nghe hiểu đến buông súng vì mất tinh thần được.

Nói đến đây ông tướng lại cau mặt suy nghĩ.

– Thế tướng công có dịp gặp ông tướng của bản quốc lần nào không?

– Có chứ, nếu các hạ quả thật muốn thì độ một hai hôm nữa, bỉ nhân sẽ xin đi thỉnh vị tướng ấy về cho các hạ được chiêm ngưỡng, học hỏi. Nhất là hỏi đến những vấn đề có liên quan hệ đến quý quốc. Rồi đây, bỉ nhân sẽ có mấy cuộc hội họp thượng đỉnh, bàn về vấn đề Thiên An Môn. Chắc sẽ bận rộn một vài khi, không thể ra đây mà chiêu đãi các hạ được.

– Thật là điều ngoài tầm ước mong của tại hạ, xin tướng công giữ lời, chắc tại hạ sẽ có nhiều điều hỏi han.

Tướng Mông Điềm lại gật gù có vẻ đắc ý, ông nói một mình…

– Ừ, như vậy mới là tướng, mới xứng đáng mang danh tướng… nhưng thôi, bây giờ để bỉ nhân trả lời câu hỏi của các hạ rằng có phải Vương Khí của đất Kim Lăng đã bị Tần Thủy Hoàng ra lệnh phá hủy không. Đúng hay sai? Các hạ muốn biết điều ấy chứ gì?

– Đúng như thế, tại hạ nhớ như đã có đọc qua ở đâu, hôm nay nhân gặp tướng công, cũng muốn biết rõ hơn.

– Chính thế, Tần Thủy Hoàng đã ra lệnh đào con sông mà ngày nay vẫn gọi là Tần Hoài Hà, đã làm tổn thương địa khí rất nhiều. Vì vậy nên không còn có thể lập đô ở đất Nam Kinh.

– Thế thì Tần Thủy Hoàng có biết rằng đất Kim Lăng có Vương Khí không? Nếu biết thì sao lại không xử dụng.

– Biết chứ, nhưng vì quá sợ người đất ấy sẽ lên làm vua nên phải đào ngay con sông để phá hủy cái địa khí ấy đó thôi. Bảo rằng Tần Thủy Hoàng khai triển thì đúng hơn. Con sông Hoài nầy lắm chuyện hơn những con sông khác, nhưng các hạ nên, nhớ rằng chữ hoài nầy viết với bộ thủy chứ không phải hoài bộ tâm đâu nhé, đừng có lầm. Nên tìm sách mà đọc thêm về sử của nó, khá vui đấy, tin rằng các hạ sẽ rất thích.

– Nghĩ đến sự khôn ngoan mưu chước của người xưa mà sợ.

Thấy tôi cắn môi, hơi rùng mình, ông tướng biết ý nói ngay.

– Các hạ tưởng rằng người đời nay thua hay sao? Với các thứ bom khí độc, các đầu não điện tử, muốn đổ quân đến xứ nào, là chỉ cần vài tiếng đồng hồ hay là một hai ngày tùy xa gần, trong khi người xưa phải hằng năm hằng tháng. Người đời nay quỷ quyệt hằng mấy trăm lần hơn ấy chứ.

– Bây giờ tại hạ muốn hỏi thăm một số nhân vật, những người đã được sử sách thường hay nhắc tới, khen có, chê có, lắm khi hơi bất công, chẳng hạn như…

Tướng Mông Điềm đưa tay khoác ngang, cau mặt lắc đầu.

– Xin các hạ hãy ngừng sự bắt đầu óc chúng ta làm việc, hãy ngâm cho nhau nghe một bài thơ, ca cho nhau nghe một bản hát, dạo một khúc đàn, chứ từ đầu đến đuôi cứ hết nói chuyện quân sự lại đến chuyện chính trị, các hạ không mệt mỏi hay sao.

Tôi mỉm cười đồng ý từ thuở nảo thuở nào, tôi đã bị nhiều bạn bè nhất là nam giới, phàn nàn, phê bình nhưng làm sao thay đổi được, tuy vậy tôi tự hứa sẽ cố và bây giờ phải chiều theo ý của ngài.

– Thế thì ngày mai xin tướng công mang đàn ra đây dạo một khúc cho tại hạ được thưởng thức, tiếng đàn của người mà lịch sử cây đàn tranh không dám quên công ơn. Tại hạ cũng sẽ xin “múa rìu” đáp lễ, gọi là múa rìu thôi vì dầu sao đối với tại hạ cũng là nghề tay trái mà thôi. Nếu Tướng công có dịp nghe những danh sư của bản quốc, nhà tại hạ có một số băng nhạc, ngày nào về xứ sẽ mở băng nhạc, xông trầm mời tướng công về nghe.

– Thế nghề tay phải của các hạ là gì?

– Đã khai với tướng công là nghề cầm bút, làm dân Việt Nam, lại thiếu đầu óc thương mại thì là một nghề ốm đói. Viết sách gửi ra hiệu mà không dám đi hỏi tiền, lắm khi có cảm giác như mình đi ăn xin người ta. May mắn lắm và có thể nói là đếm đầu ngón tay mới gặp được một vị chủ hiệu sách hiểu biết… thật là ê chề, đúng là cái nghiệp, thế mà tại sao cởi không ra, bao nhiêu lần thề thốt ném bút mà rồi có bao giờ ném được đâu.

– Xin lỗi các hạ vậy, ai bảo sinh làm dân Việt Nam …

Đang nói đến đây bỗng thấy một chiếc xe tứ mã băng qua, lướt nhẹ trên không gian, tướng Mông Điềm ngước mắt lên nhìn rồi vỗ tay reo.

– Ô kìa nhà thơ Bạch Cư Dị, chúng ta vừa nói chuyện đòi thay đổi vấn đề, các hạ có muốn gặp nhà thơ không?

– Thật kỳ diệu khó ngờ, xin tướng công mời nhà thơ ghé lại với chúng ta, để cùng thảo luận về thi ca cho nó thay đổi.

Tướng Mông Điềm biến đi, khoảnh khắc, xe tứ mã ngừng rồi lại đằng vân phóng nhanh và cao hơn, ông tướng trở về nói.

– Bạch Tiên sinh bận đi họp một buổi văn nghệ chư hành tinh, hẹn hôm khác, ông cũng có vẻ quan tâm đến ngành thi ca của hạ giới lắm.

– Không sao, tại hạ cũng chưa chuẩn bị, tư tưởng còn tạp loạn, một vài hôm nữa chắc sẽ có đủ thời gian sắp xếp, ổn định tâm tư. Và hẳn còn nhiều vấn đề cần được giải tỏa…

– Biết ngay mà, các hạ thì lúc nào cũng “có nhiều vấn đề”, gặp ai cũng đặt vấn đề, cho các hạ mà gặp chư vị thần linh chắc sẽ níu áo nằm vạ chứ chẳng chơi. Chất chứa tham lam chi cho nhiều, để thì giờ mà…

– Thì ra tướng công cũng hệt như một số người tị nạn tại Hoa Kỳ cứ khuyên tại hạ nên để dành thì giờ mà “ăn doi”, họ chỉ sống để “ăn doi” mà thôi.

Tướng Mông Điềm cau mặt, lần thứ nhất ông tỏ vẻ không hiểu “ăn doi” là ăn cái gì, ngập ngừng một lúc ông hỏi.

– Bỉ nhân không hiểu  “ăn doi” là ăn cái gì, nó ra làm sao mà các hạ bảo người tị nạn Việt Nam ở Hoa Kỳ thích ăn.

Tôi bật cười, tướng Mông Điềm cũng ngơ ngác hệt như tôi lần đầu tiên nghe nói hai chữ ấy. Mãi một lúc sau mới biết đó là chữ “enjoy” của tiếng Mỹ.

Tướng Mông Điềm thấy tôi im lặng cũng đứng im một lúc rồi mới hỏi lại một câu khác, thay đổi hẳn câu chuyện.

– Trong tất cả mọi ngành các hạ thích ngành nào nhất?

– Tại hạ đã nói rồi mà, nhất thiên văn, nhì địa lý, thứ ba mới là khảo cổ, thứ tư… à nhưng mà đó là cách mấy năm trước, ngày giờ nầy tại hạ chắc là thích nghiên cứu về Phật Pháp, thấy nó có gì sâu đậm hơn. Hay là tại tuổi cao niên, mỗi thời một ý thích. Tại hạ cứ ấm ức mỗi khi nhìn truyền hình thấy các khoa học gia thuyết trình về những vấn đề thuộc khoa học, toán học. Tại hạ cứ tự hẹn kiếp sau ta có đầu thai làm người ta cũng sẽ chuyên về những ngành nầy mới thỏa chí, kiếp nầy muộn mất rồi…

Tướng Mông Điềm có vẻ thông cảm với những u uất của tôi, ông như muốn không gợi đến nhiều, trở lại với vấn đề cũ đang nói.

– Thiên văn và địa lý đi chung, bỉ nhân cũng rất chuộng hai món ấy, chỉ tiếc rằng chúng ta phải chờ thêm vài trăm năm nữa con người mới quay lại mà tìm kiếm. Ngày giờ nầy những môn ấy còn đang phải ẩn dạng để cho loài người tiêu thụ hết các món ăn văn minh tân kỳ… cũng hệt như ánh trăng lúc gặp đám mây đen che, phải đợi tan mây, ánh trăng mới sáng lạng trở lại.

– Vậy thì chúng ta chờ, đến năm tháng ấy sẽ xin đầu thai ra chọn một quốc gia thật đầy đủ phương tiện, tha hồ mà nghiên cứu nhỉ. Bây giờ hãy lo tích lũy sự hiểu biết, tướng công nghĩ sao?

– Còn bát cháo lú, người Âu gọi là uống nước suối “Lê-Tê” hay gì đó, các hạ quên sao?

– Xin đừng ăn, tại hạ sẽ trốn đi. À mà tướng công có hứa sẽ đi thỉnh vị Việt Nam danh tướng Lý Thường Kiệt, cho tại hạ được gặp, xin đừng quên. Tội nghiệp tui.

– Cũng phải một vài hôm mới biết được hiện ngài đang chỉ huy ở nơi nào, đâu phải chuyện dễ, đối với loại phàm phu dong nhân thì dễ chứ các danh nhân là cả một vấn đề, nhưng không sao, các hạ cứ yên chí. Mà sao các hạ lại vừa xưng tui với bỉ nhân? Tui là gì?

Tôi mừng rỡ, đến quên cả lễ nghi, thế là vài hôm nữa tôi sẽ gặp Thắng Đại Vương. Đây là chức hiệu của vua Trần Anh Tôn phong cho tướng Lý Thường Kiệt. Trong những ngày giờ chờ đợi, tối nay tôi sẽ về phòng trọ suy nghĩ, đặt những câu hỏi nào gay cấn nhất. Những câu hỏi quan hệ nhất về tương lai của đất nước chúng ta.

– Tướng công nghĩ gì về bậc danh tướng của bản quốc?

– Người nầy là trời sai xuống để giúp quý quốc, Bắc phạt Tống, Nam bình Chiêm, đúng là một thiên tướng, lại thêm có diện mạo xinh đẹp nên được bổ chức Hoàng Môn chi hậu, để chầu Thái Tôn.

– Đây cũng là một điểm đã làm cho tại hạ thắc mắc, vì diện mạo đẹp tươi mà được sung vào Hoàng Môn chi hậu, chứ đâu phải là một hoạn quan, thái giám như một vài trang sử đã hồ đồ ghi lại.

Tướng Mông Điềm lắc đầu cho là điều không đúng.

– Ừ sử sách cũng lắm khi sai lầm, mình là người đọc có đầu óc, không nên nhắm mắt tin theo… Tận tín ư thư bất như vô thư…

Tôi đành nói trước để chứng tỏ cho tướng Mông Điềm biết mình cũng có nghe câu ấy.

– Có nghĩa là nhắm mắt tin vào sách thì thà đừng có sách, phải vậy không thưa tướng công?

– Phải, đã biết rồi sao còn hỏi.

– Danh tướng họ Lý của Việt Nam chúng tôi sống tới 86 tuổi, làm sao có thể sống thọ được đến như vậy trong khi các ông Hoa Đà, Biển Thước, là người đã từng cứu bao nhiêu sinh mệnh lại phải chết trẻ và chết đau đớn, lạ nhỉ, tướng công giải thích làm sao?

– Thì đã bảo mỗi con người đều có cái nghiệp tạo từ bao nhiêu kiếp trước, xưng là con nhà Phật mà cứ hỏi mãi.

– Tại hạ nghe nói Gia Cát Khổng Minh cũng yểu mất cả chục năm vì đánh trận Xích Bích, ông biết mà ông vẫn không thể làm khác được. Đứng trước bổn phận và trách nhiệm của một vị tướng.

– Các hạ chịu khó nhỉ.

– Tướng công hứa mời Uy Thắng Đại Vương Lý tướng công cho tại hạ, xin tướng công đừng quên, bây giờ chúng ta đổi sang nói đến Gia Cát Khổng Minh nữa đi.

– Bộ muốn học làm tướng sao mà cứ đòi nghe chuyện tướng, hôm nào mời Tôn Tử đến cho mà nghe chuyện binh pháp.

– Nói vậy thì nhân có tướng công ngay đây tại hạ muốn giải thích tại sao gọi là Tố Thư, vì có nhiều sách lầm Tố Thư với Tam Lược, nhưng lại có người cãi lại, tại hạ như đứa mù lạc trong đêm sương, hôm nay xin được nghe lời chỉ dẫn.

Tướng Mông Điềm cau mặt lắc đầu nhìn tôi hơi thoáng cái nhìn khi gặp quái vật, nhưng tôi cứ tỉnh như không hay biết gì. Mặc chứ, đã bảo là nghìn năm một thuở mà, may quá ông tướng cũng chiều đứa gan lì, ông cất giọng sang sảng như khi giảng binh thư giữa chốn ba quân, chắc hẳn ông cũng vui vì được sống lại cái thời kỳ còn là vị tướng uy chấn Hung Nô.

– Tố Thư gồm có hai phần, một phần là Thái Công binh pháp của Khương Thái Công, mà quý vị vẫn quen gọi là ông Lã Vọng, còn phần thứ hai, là do Hoàng Thạch Công trước tác với dụng ý làm sáng tỏ các ý kiến của Khương Thái Công.

– Thế tại sao gọi là Tố Thư, cũng như trong Hoàng Đế Nội Kinh hay có nhiều lúc…

– Các hạ hãy bình tỉnh, hỏi gì mà hỏi một lúc mấy câu, mà mỗi câu là cả một pho kinh sách, hãy yên nghe bỉ nhân giảng về Tố Thư đã nào. Tố có nghĩa là bản thủy, tức là căn bản từ nguyên thủy để lại, thư là sách, cũng như trăm nghìn pho sách khác.

– Người ta hỏi sao Thái Công đã có Lục Thao rồi mà còn viết thêm Thái Công Binh Pháp?

– Thì đấy, vì Thái Công là một triết gia, tiên gia, tinh thông mọi điều, nên biết tương lai của bản quốc, bắt buộc phải viết ra Thái Công Binh Pháp dụng ý để cho nhà Hán, nên mới đến tay Hoàng Thạch Công để mà truyền cho Trương Lương, nhờ đó mà Trương Lương đã giúp Lưu Bang gây dựng nên nhà Hán.

– Hoàng Thạch Công là ai ?

– Chỉ là một ẩn sĩ đời nhà Tần, ông đã đóng vai ông lão trên cầu xứ Hạ Bì, đã làm rơi chiếc giày để thử lòng Trương Lương. Chuyện nầy hẳn mọi người ai cũng đã nghe qua.

Tôi nhanh nhẩu đọc thuộc lòng ngay một câu.

– “Độc thử thư, khả dĩ vi vương giả chi sư” (đọc sách nầy có thể làm thầy của bậc vương giả).

– Giỏi đấy, khi từ giã Hoàng Thạch Công dặn Trương Lương: Mười ba năm nữa, đến Cốc Thành, phía bắc nước Tề, thấy một khối đá vàng là ta đó. Y như rằng, mười ba năm sau Trương Lương theo Hán Cao Tổ đến Cốc Thành thấy khối đá vàng bèn mang về thờ. Tương truyền khi Trương Lương chết, người ta mang đá chôn theo với sách.

– Sao có sách lại ghi Trương Lương một hôm bỏ ra đi chẳng ai biết đi đâu, hình như đi vào núi.

– Tại hạ chịu khó đấy, nhưng huyền thoại và thần thoại bao giờ cũng rất nhiều, nên nhớ như thế. Người ta có thể thêm thắt, có người thì do những phút quán tưởng, đó là nói đến các vị chân tu…

– Tướng Công làm tại hạ nhớ đến câu chuyện của Viên Áng và Triều Thố trong Tây Hán Thư.

– Sao lại không nói ngay là chuyện của vị Quốc Sư Ngộ Đạt và cái nhân diện thương, nói như thế thì các cao tăng đại đức sẽ khen là các hạ nhớ kinh Sám Hối.

– Từ Bi Tam Muội Thủy Sám… – tôi nhắc lại tên Kinh, cố cho tướng Mông Điềm nghe, vì ông sinh vào thời trước nên chắc không biết.

– Sao lại không biết nhưng tại sao đang nói chuyện binh pháp mà các hạ lại nhảy sang nói chuyện kinh kệ nhỉ.

– Vì tướng công nói đến sự hẹn hò của Hoàng Thạch Công với Trương Lương, đến Cốc Thành gặp khối đá, trong Kinh Thủy Sám cũng ghi câu chuyện khi nhà sư Ngộ Đạt từ giã vị hoạn tăng, (tức là nhà sư mắc bệnh Gia Ma La, chẳng ai săn sóc vì ai cũng gớm) ông nầy nói một câu: “Tử hướng hậu, hữu nạn, khả vãn Tây Thục, Bành Châu Cửu Long sơn tương tầm, kỳ sơn hữu nhị Tùng vi chí” (ngày sau ông sẽ có nạn, hãy đến Tây Thục ở Cửu Long sơn, vùng Bành Châu mà tìm nhau, nơi ấy có hai gốc tùng làm đấu).

Tướng Mông Điềm vui vẻ nghe tôi thao thao kể chuyện lại câu chuyện của hai vì sư, mà hẳn một vị cũng là Tiên, Phật hóa độ chăng.

– Cũng vui, bỉ nhân rất bằng lòng, gặp một người mà mình có thể trao đổi chuyện trò, hẳn đây là căn bản của tình bạn chăng. Nhưng… có một điều, không biết bỉ nhân có nên tiết lộ với các hạ, hay là thôi, không nên. Các hạ chỉ nên biết rằng các hạ sang được bản quốc hôm nay là quý lắm, sang năm sau, ngày giờ nầy có cả chục nghìn cũng chưa chắc đi đến hay là có đến cũng không…

Tôi giật mình kinh ngạc, chẳng hiểu ông tướng muốn nói điều gì, tôi hỏi vội.

– Sao vậy tướng công, lại bế môn tỏa cảng, lại có một cuộc cách mệnh văn hóa nữa sao. Từ hôm sang đến đây, tại hạ nhận thấy coi bộ tình hình cởi mở quá, đâu đâu cũng ngựa xe dập dìu hàng quán tấp nập, hộp đêm, hộp ngày, du khách đông đảo. Các đền đài cung điện chen chúc vừa người bản xứ, vừa ngoại nhân. Trong câu chuyện, tại hạ nghe chừng như có rất nhiều người muốn xuất dương du lịch. Người nào cũng muốn cất ít đồng Mỹ-kim để có ra ngoài mà tiêu xài. Coi bộ phồn thịnh quá, Mỹ-kim đổ vào như nước xối. Ngay đến cái thân cầm bút không giàu sang như tại hạ mà mỗi cái tiền tắc xi không cũng đã đến mấy trăm đồng, chưa nói đến các vụ tiêu xài khác. Còn ở lâu chắc ngày về sẽ còng lưng ra mà trả nợ.

– Làm sao các hạ có đủ tiền?

– Tại hạ dùng credit card, mỗi ngày vay được trên 100 Mỹ-kim.

– À ra thế, cũng đỡ khổ cho lũ nhà nghèo, tiền lời có nhiều không?

– Trên 20 phần trăm, có còn hơn không, phải hoan nghênh cái sáng kiến của tư bản, nếu không có những ngân hàng tín dụng nầy thì chí nguy cho tất cả đám du khách trên thế giới.

– Nhưng về thì lại tha hồ trả nợ, các hạ nhớ chứ.

– Tại hạ chỉ có mua sách, mua bút vài thứ văn phòng dụng cụ lặt vặt, ngoài ra, chẳng có nhà hàng nào moi được của tại hạ nhất nguyên, chứ đừng nói là nhiều hơn.

– Tại các hạ không phải là phú ông, phú bà, chứ quý vị ấy sang đây người nào cũng mê mệt các món nữ trang vải lụa, gấm vóc bình chóe ngọc ngà. Đáng cười nhất là có người mua được vài thứ giả đồ cổ, mà tưởng là thứ thật, ôm về nâng niu.

– Sao tướng công biết là đồ giả.

– Bộ chúng tôi điên hay sao, sau những trận Nha Phiến Chiến Tranh, với mấy trăm nghìn vạn ông dương quỷ tử sang đây đã hốt gần hết. Các hạ còn lạ gì, sự việc đã xảy ra quá quắt trên quý quốc, từ hằng trăm năm xưa. Nhìn lại trong mấy cái viện bảo tàng của quý quốc còn lại những gì ngoài vài cái trống đồng nát và mấy con voi đất Biên Hòa, bao nhiêu vàng ngọc châu báu đã theo quý vị thực dân và ngay cả những ông quan lớn của quý quốc, khi được cử ra xứ người đã chở đi theo. Tiếng Pháp gọi đó là “saigner à blanc” tức là như con bệnh cứ chảy máu ra hết cho tới ngày kiệt lực. Chính thể của Mao ông khôn ngoan hơn, đã cho người sang các quốc gia Âu Mỹ lùng mua lại hết các thứ đồ cổ giả hay thật, mang về phẩm định kỹ, rồi cứ thế bắt chước làm lại cho thật đúng, để lại đưa ra bán, y như là của thật. Như thế mới là tài tình.

– À ra thế nhỉ, bây giờ tại hạ mới biết, con người càng ngày càng khôn ngoan, tại hạ sẽ về trình lại với các phú ông phú bà cho họ bớt lo.

– Sao lại bớt lo, phải bảo là bớt huênh hoang chứ.

– Bớt lo là vì nó là của giả. Chẳng ai thèm.

– Nhưng người ta đã bỏ tiền ra mua như là của thật từ đời Tống, đời Minh, có khi còn ngỡ từ đời Hán Đường nữa mới oai chứ.

– Đối với tại hạ chẳng có gì bền, vạn vật đều quy… thùng rác, không đời nầy thì đời sau. Ngày còn bé sống trong gia đình, bố mẹ của tại hạ cũng là những tay chơi đồ cổ, cành vàng lá ngọc, đôn sứ choé sành, toàn đời nầy đời kia. Hai ông bà tranh nhau lùng cho được những bảo vật của người xưa, càng xưa càng quý. Nào chén uống nước của Đường Minh Hoàng, trâm cài tóc của Lý Phu Nhân… Để rồi từ ngày có cuộc cách mệnh của cộng sản vào thì tất cả đều tiêu ma. Tại hạ chỉ tiếc bộ văn phòng tứ bảo bằng bạch ngọc của bố tại hạ, nào nghiên, nào bút, nào ống cắm bút, tấm khay đặt lên bàn… Chẳng biết ngày giờ nầy chúng nó lạc vào tay ai, nhưng chắc chắn là ở hải ngoại.

– Thôi các hạ cũng đừng nên tiếc, trên đời nầy mỗi báu vật đều chỉ có thể ở với con người có một thời gian. Dài hay ngắn là do cái căn duyên thiển bạc, đừng bao giờ nghĩ rằng của cha mẹ rồi có thể truyền lại cho con cháu, đâu có dễ dàng như vậy, phải còn tùy cái nghiệp, cái đức độ của mỗi đứa con. Cũng đừng tưởng rằng cứ đi cắt cổ cắt họng, đội trên đạp dưới, hoặc dè xẻn, đo lọ nước mắm, đếm củ dưa hành mà rồi để lại được gia tài cho con cháu ngày sau.

Nói đến đây, tướng Mông Điềm ngừng lại, chắc để cho tôi có đủ thì giờ ghi nhận, vô tình ông ta đã dùng từ ngữ Việt Nam để đưa ra ba loại nhà giàu, loại ác ôn cắt cổ cắt họng mà xây nên cơ nghiệp. Loại thứ hai là loại nịnh bợ vào luồn ra cúi, và loại thứ ba là loại vắt cổ chày hà tiện bủn xỉn để làm giàu. Thấy tôi có vẻ đã tiêu hóa được những lời ý của mình, ông tướng sắp nói tiếp nhưng tôi vội đưa tay ngăn lại, xin hỏi.

– Theo tướng công thì đời không còn cách nào để giàu sang nữa sao, chỉ có ba cái ngõ ấy thôi sao? Tại hạ tưởng rằng cũng còn có những phương thức khác chứ.

– Có thể, nhưng chỉ là một cuộc sống vừa phải, không phung phí được.

Tôi chợt nghĩ đến những tay buôn thuốc phiện lậu, cờ bạc bịp hay là các minh tinh, những ông vua dầu hỏa… Các đại tư bản kỹ nghệ đời nay. Tôi chưa kịp lên tiếng thì tướng Mông Điềm chặn nói tiếp ngay.

– Các hạ tưởng rằng buôn thuốc phiện lậu là hay lắm sao? Đó là một việc làm độc ác nhất, không phải chỉ hại một người mà hại cả một gia đình, một thế hệ. Tội nầy mà chết đi là vào ngục Vô Gián, dầu là làm tên buôn nhỏ hay buôn lớn. Những người làm nghề nầy còn mang cái tội đối trá. Không dối trá thì làm sao trót lọt qua các cửa ải. Người nào đã dúng chân vào cái biển nghiệp nầy, thì dầu có được sung sướng vật chất một thời gian rồi cũng sẽ có những hồn oan nó đến nó đòi nợ, dưới hình thức nầy hoặc hình thức khác.

– Biển nghiệp…. một hình ảnh thật đẹp, chắc tại hạ sẽ ăn cắp cái tên để về đặt cho một quyển sách.

– Sách gì?

– Một chuyện dài đang viết, tìm chưa ra tên, hôm nay nhân nghe hai chữ Biển Nghiệp thấy coi bộ có thể phù hợp, tướng công sống vào một thời xa xưa mà sao. ..

– Phải hú theo đàn sói chứ.

Nói xong, tướng Mông Điềm bĩu môi có vẻ không cần những lời khen vô bổ của người cõi trần, ông đưa mắt nhìn ra chân trời nói tiếp.

– Các hạ nên xem giờ về, ngày mai tôi sẽ cố mời Lý Tướng Công đến đây để chúng ta cùng thảo luận, chắc sẽ không thiếu vấn đề.

Tôi vui mừng thoáng một chút kiêu hãnh, không ngờ cái thứ “Phụ nhân nan hoá” như mình mà cũng được dự vào những cuộc thảo luận của chư vị tướng linh, mà lại là thứ tướng lĩnh có công lao, chứ không phải tướng “salon” như một số đông trên nhiều quốc gia.

Chúng tôi giã từ nhau sau một vài câu chào hỏi hẹn ngày mai như tất cả những lần chia tay khác, minh thiên tái kiến, thỉnh bảo trọng... (ngày mai gặp lại xin giữ gìn..)

« Lùi
Tiến »