Franklin bẩm sinh đã có những đức tính một chủ cửa hiệu: khéo léo, có duyên, sắc sảo trong đánh giá tính cách con người và luôn háo hức thành đạt. Anh trở thành một “chuyên gia bán hàng” - theo cách nói của anh - khi cùng Denham mở một hiệu tạp hóa trên Phố Water một thời gian ngắn sau khi trở về Philadelphia vào cuối năm 1726. Denham đóng vai trò một người thầy và người giám hộ của chàng trai 20 tuổi nhiều khát vọng. “Chúng tôi ở cùng nhà và ăn cùng mâm; anh ấy khuyên nhủ tôi như một người cha, dành cho tôi sự quan tâm chân thành. Tôi kính trọng và yêu quý anh ấy.”1
Nhưng giấc mơ trở thành một thương gia giàu có của Franklin tan tành sau vài tháng khi Denham lâm bệnh rồi qua đời. Trong di chúc bằng lời, anh xóa cho Franklin số nợ 10 bảng chi phí cho chuyến đi nhưng không để lại cho anh công việc kinh doanh họ đã cùng gây dựng. Hết tiền và chẳng có mấy hy vọng, Franklin nuốt tự ái vào lòng để nhận lời đề nghị của Keimer kỳ quặc - trở lại làm việc tại nhà in của ông, lần này trong vai trò người quản lý.2
Vì ở Mỹ không có xưởng đúc để đúc chữ, Franklin đã nghĩ ra cách riêng thông qua việc sử dụng các mẫu tự của Keimer để làm khuôn chì. Do đó, anh đã trở thành người đầu tiên ở Mỹ sản xuất chữ in. Một trong các kiểu chữ hiện đại phổ biến nhất, phông chữ sans-serif* có tên Franklin Gothic, thường được sử dụng cho tiêu đề bài báo, được đặt theo tên anh vào năm 1902.
Khi Keimer bắt đầu thể hiện sức mạnh của mình, mối ác cảm - một phần do di truyền và giáo dục - của anh với quyền lực độc đoán lại bùng lên. Một ngày, có một cuộc ẩu đả bên ngoài cửa hiệu và Franklin ló đầu ra khỏi cửa sổ để quan sát. Keimer lúc đó đang ở dưới phố đã gào lên yêu cầu anh tập trung vào công việc. Tính công khai của sự quở trách này làm Franklin bẽ mặt và anh đã bỏ việc ngay lập tức. Nhưng vài ngày sau, khi Keimer đến năn nỉ anh quay trở lại, Franklin đã đồng ý. Họ đều cần nhau, ít nhất là trong thời điểm đó.
Keimer giành được quyền ấn loát trong một đợt phát hành tiền giấy mới của Hội đồng Lập pháp New Jersey và Franklin là người duy nhất có kỹ năng thực hiện việc này một cách hoàn hảo. Anh sáng tạo ra kỹ thuật in sử dụng bản khắc đồng để tạo ra những tờ giấy bạc được trang trí công phu đến mức chúng không dễ bị làm giả, và họ cùng nhau đi tới Burlington. Một lần nữa, chính chàng trai trẻ Franklin, người có tài nói chuyện hóm hỉnh và nhiệt tình, chứ không phải ông chủ luộm thuộm của anh, đã kết bạn được với những người quyền cao chức trọng. “Trí tuệ của tôi so với Keimer đã được mở mang nhiều hơn nhờ đọc sách, tôi đoán đó là lý do những cuộc trò chuyện của tôi được đánh giá cao hơn. Họ đưa tôi về nhà, giới thiệu với bạn bè và đối xử với tôi rất lịch sự.”3
Mối quan hệ với Keimer được định trước không thể kéo dài. Franklin - một người không ngừng phấn đấu và cọ xát - nhận thấy anh đang bị lợi dụng. Keimer đang trả tiền đề anh đào tạo bốn “đôi tay giá rẻ” làm việc ở nhà in với ý định sẽ sa thải anh khi họ đủ lông đủ cánh. Về phần mình, Franklin cũng chẳng ngại lợi dụng Keimer. Anh và một trong số các thợ học việc, Hugh Meredith, đã bí mật lên kế hoạch mở một nhà in cạnh tranh sau kỳ phục dịch của Meredith kết thúc, do cha Meredith cấp vốn. Dù đây không hẳn là một kế hoạch gian dối thật sự, nhưng nó không hoàn toàn phù hợp với lời hứa trịnh trọng của Franklin rằng sẽ “hướng đến sự chân thành trong mọi lời nói và cử chỉ”.
Meredith 30 tuổi, ham đọc sách và ham cả rượu chè. Cha Meredith, một nông dân sinh ra ở xứ Wales, quý mến Franklin, đặc biệt vì anh đã thuyết phục con trai ông tránh xa việc uống rượu (ít nhất là tạm thời). Ông đồng ý cấp một số vốn cần thiết (200 bảng) để hai chàng trai bắt đầu hợp tác làm ăn, trong đó phần đóng góp của Franklin là tài năng của anh. Họ gửi mua thiết bị từ London.* Hàng về đến nơi đầu năm 1728 ngay sau khi Franklin chấm dứt hợp đồng và Meredith kết thúc kỳ học việc.
Hai người đối tác nói lời từ biệt với ông chủ kém may mắn Keimer, thuê một ngôi nhà trên Phố Chợ, mở xưởng và nhanh chóng được phục vụ khách hàng đầu tiên, một nông dân do một bạn hữu giới thiệu tới. “Năm shilling của người đàn ông này là thành quả đầu tiên của chúng tôi và nó đến thật đúng lúc, đem lại cho tôi niềm vui sướng lớn hơn bất cứ đồng curon* nào tôi kiếm được từ đó.”
Công việc kinh doanh thành công phần lớn do sự cần cù của Franklin. Khi họ được một nhóm tín hữu Quaker thuê in 178 trang sử của họ, phần còn lại sẽ do Keimer in, mỗi tối Franklin không rời xưởng cho đến khi đã hoàn tất một folio* bốn trang. Thường anh phải làm việc đến quá 11 giờ khuya. Một đêm, ngay khi anh đang hoàn thiện tờ in của ngày hôm đó, chiếc khuôn rơi ra và vỡ; thế là Franklin phải thức cả đêm để làm lại. “Sự cần cù mà ngay cả hàng xóm của chúng tôi cũng có thể thấy được bắt đầu đem lại cho chúng tôi danh tiếng và uy tín,” Franklin nhớ lại. Một trong những thương gia nổi tiếng của thành phố đã nói với các thành viên trong câu lạc bộ của ông rằng: “Sự cần cù của anh chàng Franklin này vượt xa bất cứ người nào tôi từng gặp; tôi thấy anh ta vẫn đang làm việc khi tôi rời câu lạc bộ về nhà, và trước khi hàng xóm ra khỏi giường, anh ta đã lại bắt đầu làm việc.”
Franklin trở thành ông tổ truyền bá đức tính cần cù - và việc tỏ ra cần cù cũng quan trọng không kém. Ngay cả khi đã thành công, anh vẫn cho mọi người thấy hình ảnh anh tự thồ những cuộn giấy đã mua bằng xe cút kít, xuôi xuống phố hướng về phía nhà in, thay vì thuê người làm việc đó.4
Trái lại, Meredith không hề cần cù và uống rượu trở lại. Thêm vào đó, cha anh ta chỉ mới trả một nửa số tiền mua thiết bị ông đã hứa hẹn, khiến các nhà cung cấp phải viết thư đe dọa. Franklin tìm được hai người bạn sẵn lòng cung cấp tài chính cho anh với điều kiện anh phải vứt bỏ Meredith. May mắn là Meredith nhận thấy tốt hơn cả anh ta nên trở lại với công việc đồng áng. Mọi thứ kết thúc tốt đẹp: Meredith đồng ý cho Franklin hoàn lại tiền để chấm dứt hợp tác, trở về vùng Carolina và sau này viết những lá thư tả cảnh đồng quê nơi đây. Chúng được Franklin xuất bản.
Vậy là cuối cùng Franklin đã có một nhà in của riêng mình. Hơn thế nữa, anh đã có một sự nghiệp. Nghề in và các nghề liên quan - chủ bút, nhà văn, nhà báo, chủ bưu điện - bắt đầu không còn là một công việc đơn thuần mà là một tiếng gọi thú vị, vừa cao quý vừa vui thích. Trong cuộc đời dài sau này, anh sẽ có nhiều sự nghiệp khác: nhà khoa học, chính trị gia, chính khách, nhà ngoại giao. Song từ đây anh luôn nhận diện bản thân theo cách mà ông lão Franklin 60 năm sau sẽ viết ở những dòng mở đầu cho ước nguyện sau cùng trong di chúc: “Tôi là Benjamin Franklin người Philadelphia, chủ nhà in.”5
HỘI KÍN
Franklin là người giỏi kết nối. Anh thích kết hợp đời sống công dân với đời sống xã hội và vui vẻ dùng cả hai làm đòn bẩy thúc đẩy đời sống kinh doanh. Cách tiếp cận này thể hiện rõ ở việc anh thành lập một hội của những người lao động trẻ vào mùa thu năm 1727, một thời gian ngắn sau khi trở về Philadelphia. Nó được biết đến rộng rãi với cái tên Câu lạc bộ Tạp dề da và được đặt tên chính thức là Hội Kín.Câu lạc bộ nhỏ của Franklin gồm các thương nhân và thợ thủ công dám nghĩ dám làm chứ không phải giới tinh hoa trong xã hội, vốn đã có những câu lạc bộ quý ông hào nhoáng hơn. Ban đầu, các thành viên họp mặt ở một quán rượu trong vùng vào mỗi chiều thứ Sáu, song chẳng bao lâu họ đã thuê được một ngôi nhà riêng. Tại đây họ bình luận các vấn đề thời sự, tranh luận các đề tài có tính triết lý và vạch ra các kế hoạch để hoàn thiện bản thân và thiết lập một mạng lưới để mở mang sự nghiệp của mình.
Franklin một là người dám nghĩ dám làm điển hình, luôn sẵn lòng tổ chức các hội nhóm vì lợi ích chung, và đó cũng là đặc trưng kiểu Mỹ. Khi trong lòng nước Mỹ, tầng lớp trung lưu của các chủ cửa hiệu dần phát triển, người dân đã cân bằng các đặc tính cá nhân chủ nghĩa với thiên hướng thành lập các câu lạc bộ, bang nhóm, đoàn thể và hội kín. Franklin là hình ảnh thu nhỏ cho sự thôi thúc này của các câu lạc bộ quay và sau hơn hai thế kỷ vẫn là biểu tượng của nó.*
Hội Kín của Franklin ban đầu có 12 thành viên trẻ, trong đó có Hugh Meredith, người cùng mở xưởng in với anh; George Webb, một sinh viên Oxford bỏ trốn, hài hước nhưng khinh suất, cũng đang học việc tại nhà in của Keimer; Thomas Godfrey, một thợ thủy tinh và nhà toán học nghiệp dư; Joseph Breintnall, một người quản lý văn khế yêu thơ ca; Robert Grace, một thanh niên hào phóng và thích chơi chữ, gia đình thuộc loại có tiền; và William Coleman, một nhân viên bán hàng thông minh, tốt bụng và có đức tính kiên trì, sau này trở thành một thương gia xuất sắc.
Không chỉ là những người bạn tử tế cùng câu lạc bộ, các thành viên Hội Kín thường giúp đỡ lẫn nhau cả trong đời sống cá nhân và nghề nghiệp. Godfrey ăn cơm tháng ở nhà in của Franklin và vợ anh nấu cho cả hai người. Breintnall là người bạn giúp anh nhận được đơn đặt hàng của các tín hữu Quaker. Còn Grace và Coleman đã tài trợ vốn cho Franklin khi anh ngừng hợp tác với Meredith.
Phong cách mà Franklin đặt ra cho các cuộc họp của Hội Kín là nghiêm trang. Những thành viên mới gia nhập phải đứng dậy, đặt tay lên ngực và trả lời đầy đủ bốn câu hỏi: Anh có thiếu tôn trọng bất cứ thành viên hiện tại nào không? Anh có yêu nhân loại nói chung, bất kể tôn giáo và nghề nghiệp không? Anh có cảm thấy nên trừng phạt con người vì chủ kiến hay tín ngưỡng của họ không? Anh có yêu và theo đuổi sự thật để phụng sự chính nó không?
Franklin lo lắng rằng sự yêu thích trò chuyện và nỗi háo hức gây ấn tượng dễ khiến anh sa đà vào “kể chuyện tầm phào, chơi chữ và chọc cười, điều mà chỉ các bạn hữu tầm thường mới có thể chấp nhận ở tôi”. Anh nhận thấy kiến thức “được tiếp thu bằng tai dễ hơn bằng lưỡi”. Bởi vậy, trong Hội Kín, anh bắt đầu tập vận dụng sự im lặng và lối đối thoại nhẹ nhàng.
Phương pháp theo đuổi chủ đề thông qua chuỗi truy vấn Socrates nhẹ nhàng được Franklin phát triển qua các cuộc tập tranh luận với John Collins ở Boston và sau đó là các cuộc đàm luận với Keimer. Phương pháp này đã trở thành phong cách được ưu tiên tại các cuộc họp của Hội Kín. Việc thảo luận được tiến hành “không phải kiểu cãi lấy được hay vì hiếu thắng”. Franklin dạy cho bạn bè cách đưa ra ý kiến thông qua các gợi ý và câu hỏi và dùng sự tò mò ngây ngô (hoặc ít ra là giả vờ) để tránh đối đầu với người khác theo cách có thể xúc phạm. Anh nhớ lại: “Mọi biểu hiện của sự cương quyết trong ý kiến hoặc của sự phủ nhận trực tiếp sẽ phải chịu những khoản tiền phạt nhỏ.” Đây chính là phương pháp mà 60 năm sau Franklin đã đề xuất áp dụng tại Đại hội lập hiến.
Trong bài báo hóm hỉnh có tiêu đề “Bàn về đối thoại” được Franklin viết không lâu sau khi thành lập Hội Kín, anh nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chiều theo người khác, hoặc ít nhất là việc tỏ vẻ như vậy. Nếu không, kể cả các bình luận khôn khéo nhất cũng “gây ra sự đố kỵ và phẫn nộ”. Bí quyết lấy lòng bạn bè và ảnh hưởng tới mọi người của Franklin khi đọc lên ban đầu có vẻ giống như một khóa học Dale Carnegie:* “Để giành được trái tim của người khác, bạn không được phép tỏ ra ganh đua mà phải ngưỡng mộ họ. Hãy cho họ mọi cơ hội thể hiện khả năng của mình. Khi bạn đã nuông chiều thói ưa hư danh của họ, sẽ đến lượt họ ca ngợi bạn và đặt bạn lên trên mọi người khác... Thói ưa hư danh của con người lớn tới mức việc chúng ta để tâm đến lời nói của người khác là cách làm vừa lòng họ chắc ăn hơn nhiều so với việc cố thuyết phục thật hay.”6
Những lỗi khác trong danh sách của anh, theo thứ tự gồm: tỏ ra thờ ơ, nói quá nhiều về đời sống riêng, soi mói bí mật cá nhân (“một sự thô lỗ không thể tha thứ”), kể các câu chuyện dài và vô nghĩa (“người già cả thường mắc lỗi này, đó là một lý do thường khiến những người bên cạnh họ muốn tránh xa”), phủ nhận hay phản bác ai trực tiếp, chế giễu hay nhiếc móc mọi thứ trừ khi ở mức độ nhẹ đủ để trở thành dí dỏm (“giống như một chút muối đem lại hương vị cho món ăn nhưng nếu bỏ cả nắm vào sẽ làm hỏng tất cả”), và tung lời gièm pha (dù về sau anh có viết những bài biện hộ nhẹ nhàng cho thói ngồi lê đôi mách).
Càng trưởng thành hơn, Franklin càng học được cách thực hiện lời khuyên của chính mình (với một vài sai sót đáng kể). Anh dùng sự im lặng một cách khéo léo, vận dụng phương pháp thuyết phục gián tiếp và luôn giả vờ khiêm tốn, ngây thơ trong các cuộc tranh luận. “Khi ai đó khẳng định điều gì mà tôi nghĩ là sai, tôi không cho phép bản thân vui sướng với việc phản bác họ.” Trái lại, anh sẽ đồng ý một phần rồi gián tiếp đưa ra ý kiến khác. “Suốt 50 năm qua, chưa ai từng thấy một biểu hiện độc đoán nào từ nơi tôi”, Franklin nhớ lại trong hồi ký. Phong cách tranh luận thận trọng dùng lời lẽ mềm mại và sự thụ động uyển chuyển này khiến một số người cho rằng anh khôn ngoan, trong khi nhiều người khác cho rằng anh chỉ giỏi luồn lọt và gạt gẫm, nhưng gần như nó chưa bao giờ làm ai nổi đóa. Phương pháp đó cùng với sự nhắc nhớ về Franklin thường là một nội dung trọng yếu trong những cuốn sách hiện đại về quản trị và tự hoàn thiện bản thân.
Dù là thành viên trẻ nhất của Hội, với sức hút của trí tuệ và sự duyên dáng trong lối ăn nói, Franklin không chỉ là người sáng lập mà còn là động lực của nó. Các đề tài được thảo luận trải rộng từ xã hội sang khoa học và cả siêu hình. Chúng đa phần đều nghiêm túc, một số hơi kỳ quặc, nhưng tất cả đều hấp dẫn. Liệu việc nhập cảng nhân công giao kèo có làm nước Mỹ giàu có hơn?* Điều gì làm nên một áng văn hay? Vì sao hơi nước ngưng tụ trên một chiếc cốc lạnh? Điều gì đem lại hạnh phúc? Minh triết là gì? Có gì khác nhau giữa tri thức và sự khôn ngoan? Nếu một quyền lực tối cao tước bỏ các quyền lợi của một công dân, việc anh ta phản kháng có chính đáng không?
Ngoài các chủ đề tranh luận trên, Franklin còn đưa ra hướng dẫn về cách đóng góp hữu ích cho những cuộc đối thoại mà mỗi thành viên có thể thực hiện. Tất cả gồm 24 điểm, và bởi tính thực tế của chúng bộc lộ cách tiếp cận có mục đích của Franklin, chúng cần được trích dẫn chi tiết:
#1. Anh có bắt gặp ở tác giả anh mới đọc điều gì đáng chú ý hoặc phù hợp để chia sẻ với Hội Kín?...
#2. Gần đây anh có nghe được chuyện gì thích hợp để kể trong các cuộc đàm luận?
#3. Gần đây anh có biết cư dân nào thất bại trong việc làm ăn, và anh có biết nguyên do của nó?
#4. Gần đây anh có biết cư dân nào làm ăn phát đạt và bằng phương cách nào?
#5. Gần đây anh có biết bằng cách nào một người giàu có hiện nay, ở đây hoặc nơi khác, có được số tài sản đó?
#6. Anh có biết một người đồng hương nào gần đây đã làm một việc đáng khen ngợi và học hỏi, hoặc đã làm một việc sai trái mà chúng ta phải cảnh báo và tránh xa?
#7. Gần đây anh có quan sát hoặc biết được các hệ quả không hay nào của thái độ không đúng mực, của sự thiếu thận trọng, của nỗi giận dữ, hoặc của bất cứ thói xấu hay hành động dại dột nào khác?
#12. Anh có biết người lạ mặt đáng khen nào mới đến thành phố kể từ lần họp trước? Anh biết gì về tính cách hay phẩm chất của người đó? Anh có nghĩ việc giúp đỡ hoặc khích lệ người đó vì anh ta xứng đáng nằm trong tầm tay của Hội Kín?
#14. Gần đây anh có nhận thấy điểm bất cập nào trong luật pháp nước mình và nghĩ rằng việc vận động cơ quan lập pháp sửa đổi điểm này là thích hợp?
#15. Gần đây anh có để ý thấy hành vi nào xâm phạm các quyền tự do của con người?
#16. Gần đây có kẻ nào công kích thanh danh của anh và Hội Kín có thể làm gì để bảo vệ nó?
#17. Có người nào anh muốn kết bạn cùng, và Hội Kín hay bất cứ thành viên nào của Hội có thể làm gì để tạo cơ hội cho anh?
#20. Hội Kín hoặc bất cứ thành viên nào của Hội có thể giúp đỡ anh thực hiện một kế hoạch đáng quý nào đó của anh theo cách thức nào?7
Franklin sử dụng Hội Kín như một bệ phóng cho rất nhiều ý tưởng phục vụ cộng đồng của mình. Hội đã sớm thảo luận về việc liệu Pennsylvania có nên tăng cung tiền giấy, một đề xuất mà Franklin hết lòng ủng hộ vì nghĩ nó sẽ làm lợi cho nền kinh tế và tất nhiên cả công việc in ấn của anh. (Franklin và nói rộng ra là Hội Kín hết sức quan tâm đến những việc có ích cho cả cộng đồng và bản thân.) Khi Hội Kín chuyển đến ngôi nhà thuê, họ đã lập một thư viện với sách do các thành viên góp vào. Nó chính là tiền thân của thư viện đóng phí đầu tiên ở nước Mỹ sau này. Qua Hội Kín, Franklin còn đưa ra các đề xuất về việc đặt một sắc thuế để trả lương cho công an địa phương, thành lập lực lượng cứu hỏa tình nguyện và thành lập một học viện, về sau trở thành Đại học Pennsylvania.
Nhiều quy tắc và câu hỏi mà Franklin đặt ra cho Hội Kín cũng tương tự với những gì Mather từng đặt ra trước đó một thế hệ cho các hội từ thiện lân gia tại Boston, dù ít tính phán xét hơn một chút. Thí dụ, một trong số các câu hỏi của Mather là: “Có hành vi bừa bãi của một người cụ thể nào tai tiếng và lộ liễu đến mức chúng ta cần phải gửi tới người đó những lời răn dạy nhân từ?” Franklin đã đọc bài luận Các Hội Ái hữu của Daniel Defoe và Các quy tắc của một hội gặp gỡ hàng tuần vì sự tiến bộ của tri thức hữu dụng và cũng xem chúng như mẫu mực để làm theo.8
Song nhìn chung với tinh thần nghiêm túc, chú trọng sự tự hoàn thiện, Hội Kín là một sản phẩm của chính diện mạo Franklin và một phần dấu ấn của anh lên nhân cách Mỹ. Hội Kín nở rộ trong suốt 30 năm anh giữ vị trí lãnh đạo. Dù nó hoạt động tương đối bí mật, song có quá nhiều người muốn gia nhập đến mức Franklin trao quyền cho các thành viên tự thành lập hội vệ tinh cho mình. Bốn hoặc năm chi nhánh như thế đã phát triển mạnh và Hội Kín đóng vai trò như sự mở rộng và khuếch đại bản tính công dân thích giao tế của anh. Cũng như chính Franklin, nó thực dụng, cần cù, hiếu kỳ, thích tiệc tùng và có tính triết lý vừa phải. Nó tán dương đạo đức công dân, lợi ích chung, sự hoàn thiện bản thân và xã hội cùng quan điểm cho rằng những công dân cần cù có thể làm giàu nhờ làm việc tốt. Nói tóm lại, nó chính là một cộng đồng được Franklin tạo hình.
TIỂU LUẬN KÝ TÊN NGƯỜI BẬN RỘN
Điều hành kinh doanh theo cách của mình với sự căn cơ, tính cần cù và được mạng lưới thành viên Hội Kín hỗ trợ, Franklin đảm nhận tốt vai trò khiêm tốn: là một trong ba nhà in của một thành phố vốn thường chỉ đủ chỗ cho hai. Song điều anh rút ra từ thời gian tập sự ở Boston là, thành công thật sự sẽ đến nếu anh không chỉ thực hiện tác vụ in mà còn cần có hệ thống nội dung và phân phối riêng. Đối thủ Andrew Bradford của anh hiện đang xuất bản tờ báo duy nhất ở thành phố; tuy có nội dung tầm thường nhưng đem lại lợi nhuận cao. Điều này có ích cho việc in ấn của Bradford bởi nó giúp anh ta gây ảnh hưởng tới các thương nhân và chính trị gia. Anh ta cũng là một giám đốc bưu điện, vì thế nắm quyền kiểm soát nhất định các tờ báo được phát hành và tiếp cận sớm nhất tin tức từ xa đến.Franklin quyết tâm đối đấu với Bradford, và một thập kỷ sau, anh đã xây dựng thành công một tập đoàn truyền thông có cả năng lực sản xuất (nghiệp vụ in ấn, các nhà in được nhượng quyền tại các thành phố khác), sản phẩm (tờ báo, tạp chí, niên giám), nội dung (các tác phẩm của chính anh hay Richard Nghèo Khổ, một hiện thân khác của anh và của các thành viên Hội Kín), và phân phối (cuối cùng là toàn bộ hệ thống bưu điện ở xứ thuộc địa).
Thứ xuất hiện đầu tiên là tờ báo. Franklin quyết định tung ra một ấn phẩm cạnh tranh với tờ Tuần báo Sao Thủy Hoa Kỳ* của Bradford, nhưng anh mắc sai lầm khi tiết lộ kế hoạch với George Webb, một thành viên Hội Kín đồng thời đang học việc ở nhà in của Keimer. Trước sự bủn rủn của Franklin, Webb đã cho Keimer biết và ông ta lập tức tung ra một tờ báo cẩu thả của riêng mình và đặt cho nó cái tên nặng nề Người thầy vạn năng của tất cả nghệ thuật và khoa học, và Nhật báo Pennsylvania. Franklin nhận thấy việc tung ra một tờ báo thứ ba ngay lúc đó sẽ rất khó khăn và anh cũng không đủ vốn. Vì thế, anh lên kế hoạch đầu tiên phải dẹp tờ báo của Keimer bằng cách sử dụng vũ khí lợi hại nhất mà anh có: sự thật, anh là cây bút xuất sắc nhất ở Philadelphia; và có lẽ ở tuổi 23, anh là người có tài viết văn hài hước nhất trên trên toàn xứ Mỹ. (Carl Van Doren, người viết tiểu sử Franklin và là nhà phê bình văn học lớn của thập niên 1930, đã thẳng thắn tuyên bố: năm 1728, Franklin “là cây bút xuất sắc nhất tại Mỹ”. Đối thủ nặng ký nhất cho danh hiệu này lúc đó có lẽ là nhà thuyết giáo Jonathan Edwards* - người chắc chắn sôi nổi và văn vẻ hơn song lại ít khéo léo và hài hước hơn nhiều.)
Ra đòn cạnh tranh gián tiếp, Franklin quyết định viết một loạt thư tín và tiểu luận giấu tên tương tự như những bài báo dưới bút danh Silence Dogood khi xưa và gửi cho tờ Sao Thủy của Bradford để kéo sự chú ý của độc giả ra khỏi tờ báo của Keimer. Mục đích của anh là làm cho tờ báo tẻ nhạt của Bradford trở nên sinh động, ít nhất cho đến khi Keimer bị đánh bại, vì trong suốt mười năm nó chưa từng đăng tải các bài đặc ký như thế.*
Hai bài đầu tiên là những cú tấn công vào Keimer tội nghiệp, người đang cho đăng từng số các mục từ của một cuốn bách khoa toàn thư. Trong số đầu tiên, ông ta ngây thơ đến mức đăng một bài về việc phá thai. Franklin chớp ngay lấy cơ hội. Dưới các bút danh “Martha Cẩn thận” và “Celia Mặt ngắn”, anh gửi thư tới tờ báo của Bradford, giả vờ bày tỏ nỗi sửng sốt và căm phẫn trước hành động xúc phạm của Keimer. Quý cô Martha hăm dọa: “Nếu ông ta tiếp tục lấn tới phơi bày các bí mật của giới chúng tôi theo cách trơ tráo đó, phụ nữ sẽ chẳng ngại túm lấy chòm râu cùa ông ta khi chạm mặt lần tới.” Vậy là Franklin đã tạo ra cuộc tranh luận đầu tiên được ghi nhận ở Mỹ về đề tài phá thai, không phải vì anh có cảm xúc mạnh mẽ đối với nó, mà vì anh biết nó sẽ khiến tờ báo đắt hàng.
Tuần tiếp theo, Franklin tung ra một loạt tiểu luận cổ điển ký tên “Busy-Body” (Người Bận rộn), được Bradford đăng trên trang nhất với một dòng ghi tên tác giả cỡ lớn. Franklin tự viết ít nhất bốn bài và viết chung hai bài khác trước khi chuyển giao loạt bài cho Joseph Breintnall, một hội viên Hội Kín. “Bằng cách đó, công chúng đã gắn chặt sự chú ý vào tờ báo này; không còn ai đếm xỉa đến các đề xuất của Keimer mà chúng tôi nhại lại và chế giễu.”9
Người Bận rộn bắt đầu với việc khéo léo chứng minh các thiếu sót trong tờ báo của Bradford (“thường khi rất nhạt nhẽo”) và tỏ rõ ý định của mình - làm nó hay hơn (ít nhất là tạm thời). Anh làm điều này thông qua việc đóng vai một người đàn bà hay gắt gỏng và ba hoa, với các đặc điểm tương tự nhân vật Isaac Bickerstaff mà nhà văn tiểu luận người Anh Richard Steele đã sáng tạo ra.* Nhờ đó, Franklin thêm vị trí chủ mục lượm lặt* vào danh sách các việc mà anh là người đầu tiên làm ở nước Mỹ. Anh cũng sẵn sàng thừa nhận về cơ bản đây “không phải là việc của ai” nhưng tự nguyện “nhận hết những việc không ai làm này về tay mình” vì “sốt sắng với lợi ích cộng đồng”. Anh cảnh báo một số người có thể sẽ cảm thấy bị xúc phạm. Song anh chỉ ra đâu là sự hấp dẫn cơ bản của việc ngồi lê đôi mách: “Bởi đa phần mọi người đều thích chỉ trích khi họ không phải là đối tượng bị chỉ trích, nếu ai thấy bị xúc phạm khi tôi phơi bày công khai các thói tật riêng tư của họ, tôi cam đoan chẳng bao lâu họ sẽ được thỏa nguyện khi thấy bạn hữu và láng giềng tốt của mình cũng rơi vào tình cảnh tương tự.”
Keimer đáp lại bằng lời khuyên bảo lỗi thời rằng loạt bài Người Bận rộn thoạt tiên có thể đem lại cho độc giả tờ báo của Bradford “sự kỳ vọng rằng giờ đây, khi bỏ tiền ra họ sẽ có được chút tiêu khiển”, song họ sẽ sớm cảm nhận được “nỗi đau khổ thầm kín khi thấy danh dự của những người hàng xóm bị hủy hoại”. Khi Người Bận rộn vui vẻ tiếp tục đăng tải những lời châm chọc của mình, Keimer bị kích động và bắt đầu to tiếng hơn. Ông ta đáp lại bằng một bài vè trúc trắc: “Các ngươi bóng gió về ta trên mặt báo. Điều đó khiến ta giờ đây phải rút đao. Bằng con mắt khinh bỉ, ta biết rõ các ngươi ganh ghét thế nào. Thương thay, số phận các ngươi mới hẩm hiu làm sao.” Keimer đăng nó cùng một câu chuyện được đan cài vào, có nhan đề “Màu sắc và tiếng khóc phía sau Người Bận rộn” minh họa Franklin và Breintnall như một con quái vật hai đầu, trong đó Franklin được miêu tả là “một con dã nhân thu nhỏ... với bộ lông xơ xác và xương sọ dày như đế giày”.10
Vậy là Keimer đã trở thành một trong những đối thủ công khai đầu tiên của Franklin. Sự phản trắc, cuộc chiến báo chí và trận đấu tiểu luận tay đôi, tất cả sẽ tái diễn một thập kỷ sau đó khi Franklin và Bradford quyết định cho ra mắt các tạp chí của mình.
Đáng tiếc cho những ai thích được chọc cười, các tiểu luận của Người Bận rộn thực tế không cung cấp nhiều tin đồn. Ngược lại, chúng thường là những câu chuyện khéo léo kể về các nguyên mẫu ngoài đời thực được che đậy sơ sài (đã có lần độc giả tìm cách công bố lời giải ai là nhân vật được đề cập trong tiểu luận). Franklin dùng cách mà ngày nay đã thành chuẩn mực của lời từ chối trách nhiệm lắt léo: “Nếu có bất cứ nhân vật xấu nào vô tình được tạo ra trong các bài viết này, chúng không ám chỉ người nào cụ thể.”
Tiểu luận ký tên Người Bận rộn do Franklin chắp bút chính cuối cùng đã chế giễu những người đi tìm kho báu bằng cách dùng que dò và đào bới các khu rừng đề tìm ra nơi hải tặc chôn giấu của cải ăn cướp. “Những người vốn đầy đủ tri giác lại bị cuốn vào việc này bởi ham muốn tự phụ được giàu lên nhanh chóng; trong khi cách thức hợp lý và gần như chắc chắn nhất để đạt tới sự giàu có thông qua đức tính chăm chỉ và căn cơ lại bị sao lãng,” anh viết. Câu chuyện ngụ ý - đòn giáng vào các kế hoạch làm giàu chớp nhoáng đang sôi sục thời đó - còn tiếp tục trình bày luận đề yêu thích của Franklin: sự cẩn mẫn chậm mà chắc là con đường chân chính dẫn tới sự sung túc. Anh kết lại bằng cách dẫn lời người bạn tưởng tượng Agricola đã nói khi trao cho con trai một thửa đất: “Cha đoan chắc đã tìm thấy khá nhiều vàng khi đào bới ở nơi đây và con cũng có thể làm như thế. Nhưng con phải luôn ghi nhớ điều này: đừng bao giờ đào sâu hơn độ sâu của chiếc lưỡi cày.”
Phần sau của bài tiểu luận ủng hộ việc tăng cung tiền giấy cho Pennsylvania. Franklin là người viết chính phần này, với một phần nhỏ do Breintnall viết. Franklin ngụ ý rằng những ai phản đối việc tăng cung tiền giấy đều chỉ bảo vệ lợi ích tài chính của họ dù anh dĩ nhiên cũng có lợi ích tài chính riêng khi ủng hộ việc gia tăng in ấn. Anh còn tung ra cú đầu tiên trong số nhiều cú đòn nhằm vào giới nghiệp chủ của tỉnh, gia đình nhà Penn và vị thống đốc do họ chỉ định, bằng cách ám chỉ họ đang cố gắng biến số đông cư dân Pennsylvania thành “các tá điền và người hầu của mình”. Kết luận này bị xóa bỏ trong hầu hết các bản in tờ báo của Bradford, có lẽ vì Bradford là đồng minh với nhà Penn và phe cánh của họ.11
Một nguyên cớ khác của việc giữ lại phần viết về tiền giấy là vì, Franklin đã viết một tiểu luận khác sắc sảo hơn nhiều bàn về chủ đề này. Anh đưa ra thảo luận trong Hội Kín và tuần sau đó xuất bản nó dưới dạng một cuốn sách nhỏ. “Truy vấn Khiêm nhường về Bản chất và Tính thiết yếu của Tiền giấy” là phân tích nghiêm túc đầu tiên của Franklin về chính sách công và nó trình bày tốt hơn nhiều so với sự mơ màng siêu hình của anh về tôn giáo. Tiền tệ là một khái niệm anh có cảm thức rõ ràng chứ không như các khái niệm thần học trừu tượng.
Franklin lập luận rằng cung tiền không đủ sẽ đẩy lãi suất lên cao, cố định lương bổng ở mức thấp và làm tăng sự phụ thuộc vào nhập khẩu. Anh cáo buộc các tài chủ và nghiệp chủ lớn phản đối gia tăng cung tiền là do những động cơ ích kỷ, trong khi “những người yêu thương mại và vui mừng khi thấy các ngành sản xuất được thúc đẩy sẽ ủng hộ việc tăng đáng kể lượng cung tiền”. Franklin sáng suốt nhận thấy tiền tệ mạnh như vàng, bạc không phải là biện pháp đích thực dẫn tới sự giàu có của quốc gia: “Tài sản của một quốc gia phải được tính bằng lượng lao động mà người dân của quốc gia đó có thể mua, chứ không phải số vàng bạc mà nó sở hữu.”
Tiểu luận này rất được lòng người, ngoại trừ tầng lớp giàu có. Nó góp phần thuyết phục các nhà lập pháp chấp thuận đề xuất tăng cung tiền giấy. Tuy Bradford là người đầu tiên được ủy thác in một phần số tiền, nhưng Franklin được giao lượt in thứ hai. Với tinh thần mà Richard Nghèo Khổ gọi là “làm giàu nhờ làm việc tốt”, anh không phản đối việc kết hợp lợi ích cá nhân với lợi ích cộng đồng. Bạn bè của anh ở trong hội đồng lập pháp, những người tin rằng anh “đã góp sức nhất định, thấy tưởng thưởng cho tôi bằng cách thuê tôi in tiền là việc phù hợp, nó đem lại nhiều lợi nhuận và giúp ích cho tôi rất lớn. Đây là một lợi thế khác mà khả năng viết lách của tôi đem lại.”12
NHẬT BÁO PENNSYLVANIA
Kế hoạch đẩy Keimer đến chỗ phá sản của Franklin đã sớm thành công - nó được hậu thuẫn bởi chính sự bất tài và bất lực trong việc phớt lờ những đòn công kích của vị chủ nhà in lập dị này. Keimer sa vào nợ nần và bị bỏ tù một thời gian ngắn, sau đó lánh đến Barbados. Trước khi đi, ông ta bán lại tờ báo của mình cho Franklin. Bỏ hết các bài báo được đăng tuần tự như một cuốn bách khoa toàn thư và một phần tên gọi trúc trắc của tờ báo, Franklin trở thành vị chủ bút đáng tự hào của tờ Nhật báo Pennsylvania vào tháng 10 năm 1729. Trong lá thư ngỏ đầu tiên gửi độc giả, anh tuyên bố, “nhiều người từ lâu đã khao khát được thấy một tờ báo hay ở Pennsylvania” - câu nói này châm chọc cả Keimer và Bradford.13
Có rất nhiều kiểu chủ bút báo chí khác nhau. Một số người là những chiến binh ý thức hệ; họ may mắn có chủ kiến rõ ràng, niềm say mê mang tính đảng phái hay khao khát thách thức nhà cầm quyền. Anh trai của Benjamin, James, vốn thuộc nhóm này. Trái lại, một số người thích quyền lực và thích gần gũi nó; họ sống thoải mái với trật tự sẵn có và cảm thấy được trọng dụng trong trật tự đó. Đối thủ cạnh tranh của Franklin ở Philadelphia, Andrew Bradford, thuộc nhóm này.
Lại có những người bị hấp dẫn và tìm thấy niềm vui nơi thế giới xung quanh, đồng thời thích thú với việc hấp dẫn và đem lại niềm vui cho người khác. Họ có xu hướng hoài nghi cả tính chính thống lẫn dị giáo, nhưng rất chân thành trong nỗi khao khát đi tìm chân lý và luôn ủng hộ cải biến xã hội (cũng như bán báo). Đó chính là nhóm của Franklin. Anh được trời phú và bị ảnh hưởng bởi nét đặc trưng quen thuộc của các ký giả, nhất là những ai đã từng đọc Swift và Addison quá thường xuyên. Họ mong muốn dự phần vào thế giới trong khi vẫn giữ vị thế một người quan sát khách quan. Trong vai trò một ký giả, anh có thể bước ra khỏi tình huống, cho dù đó là một tình huống lôi cuốn anh đến mức đắm đuối, và bình luận về nó hoặc về bản thân bằng một sự mỉa mai khôi hài. Nơi tận cùng đức tin của anh thường bị che giấu sau thói quen nháy mắt ra vẻ đầy hiểu biết.
Giống hầu hết những tờ báo khác cùng thời, tờ Nhật báo Pennsylvania của Franklin không chỉ đăng những mẩu tin ngắn và các bài tường thuật sự kiện cộng đồng mà còn có cả những tiểu luận vui và thư tín của độc giả. Điều làm cho tờ báo của anh hấp dẫn là sự đa dạng của loại thư tín này - đa phần trong đó được chính Franklin viết ra dưới tên giả. Chiêu viết thư dưới danh nghĩa độc giả giúp Franklin thoải mái hơn khi đem các đối thủ ra châm chọc, tận hưởng những tin đồn nhảm, trốn tránh được lời hứa cá nhân (không nói xấu ai) và thử nghiệm những triết lý mà anh đang phát triển.
Bằng một mưu mẹo khôn ngoan cổ điển, Franklin tìm cách đính chính lỗi in ấn của mình. Anh đưa tin có người chết (“died”) ở một nhà hàng trong khi ý của anh là người đó ăn tối (“dined”) ở đây. Anh soạn ra một lá thư của một độc giả “J.T.” giả tưởng, bày tỏ nỗi bất bình với những lỗi in ấn khác. Thí dụ, một bản in Kinh Thánh dẫn lời David nói ông “điên rồ (“mad”) một cách tuyệt vời” trong khi lẽ ra phải là được tạo ra (“made”). Sai sót đó khiến “một nhà thuyết giáo dốt nát đã giảng cho các cử tọa suốt nửa giờ về chủ đề sự điên loạn của linh hồn”. Kế đó, Franklin tiếp tục (dưới danh nghĩa của J.T.) khen ngợi chính tờ báo của mình và chỉ ra lỗi in ấn tương tự trong tờ báo đối thủ, phê phán Bradford vì “nói chung có tính tùy tiện hơn” và (với sự mỉa mai ngọt xớt) ca ngợi việc Franklin đã không chê trách Bradford: “Tờ báo của ông về tổng thể rất chuẩn xác nhưng tôi chưa bao giờ thấy ông thừa thắng, ỷ vào đó để nhạo báng công khai và phơi bày các sai sót liên tiếp của đồng nghiệp.” Franklin thậm chí còn biến lòng khiêm tốn giả tạo này thành một châm ngôn nhằm tha thứ cho lỗi in ấn của chính mình: “Bất cứ ai tập cho bản thân thói quen im lặng bỏ qua những lỗi lầm của láng giềng, người đó sẽ được thế gian ban cho sự tha thứ lớn hơn nhiều khi chính anh ta mắc phải lỗi lầm tương tự.”14
Cuộc chiến báo chí giữa Franklin và Bradford gồm cả những bản tin riêng và những câu chuyện bị ăn cắp. “Bởi ông Bradford xuất bản sau chúng tôi và từng lấy bài từ tờ Nhật báo một đôi lần - việc mà ông ta luôn sẵn sàng làm - tôi chỉ mong ông ta không ghi ngày tháng trên tờ báo của mình trước tờ báo của chúng tôi một ngày, kẻo người đọc lầm tưởng chúng tôi lấy bài của ông ta, điều mà chúng tôi luôn thận trọng tránh.”
Cuộc cạnh tranh giữa họ đã kéo dài được một năm khi Franklin tiến hành vận động để giành lấy vị trí nhà in chính thức của Hội đồng Lập pháp Pennsylvania từ tay Bradford. Anh bắt đầu xây dựng mối quan hệ với một số thành viên, đặc biệt là những người thuộc phái chống lại quyền lực của nhà Penn và những người ủng hộ họ thuộc giới thượng lưu. Sau khi Bradford in bài phát biểu của vị thống đốc trước Hội đồng Lập pháp theo “một cách thô lỗ và ngớ ngẩn”, Franklin biết thời cơ của mình đã đến. Anh in thông điệp tương tự “một cách lịch lãm và chuẩn xác”, như anh mô tả, và gửi nó tới từng thành viên. “Điều này tiếp thêm sức mạnh cho các bạn hữu của chúng tôi trong Nghị viện và họ đã chọn chúng tôi làm nhà in cho mình”, Franklin sau này nhớ lại.15
Kể cả khi hoạt động chính trị nhiều hơn, Franklin vẫn tránh để tờ báo của mình có tính bè phái gay gắt. Anh thể hiện tuyên ngôn chủ bút của mình trong bài xã luận nổi tiếng trên tờ Nhật báo - “Lời biên bạch cho các chủ nhà in” - đến nay vẫn là một trong những bài hùng biện xuất sắc và mạnh mẽ nhất bảo vệ quyền tự do báo chí.
Ý kiến của con người “cũng đa dạng gần như gương mặt họ”, Franklin viết. Công việc của các nhà in là để cho con người biểu đạt các ý kiến khác nhau này. “Sẽ có rất ít thứ được in ra” nếu các nhà xuất bản chỉ cho ra lò những thứ không động chạm đến ai, anh nhấn mạnh. Đây chính là bản chất của tự do biểu đạt và Franklin tóm tắt lại quan điểm của chủ nghĩa Khai sáng trong một câu - ngày nay được đóng khung trên tường các phòng tin: “Các chủ bút được giáo dục để hiểu rằng khi con người có sự khác biệt về quan điểm, cả hai bên có quyền được công luận lắng nghe như nhau. Một khi Chân lý và Sai lầm đấu với nhau một cách công bằng, Công lý sẽ luôn chiến thắng.”
“Thật bất hợp lý khi tưởng tượng các nhà in phải tán thành mọi thứ họ in ra”, anh tiếp tục lập luận. “Điều này cũng bất hợp lý như việc một số người khẳng định rằng các nhà in không được in bất cứ thứ gì mà họ không tán thành; bởi lẽ... sau đó, tự do viết lách sẽ cáo chung, và thế giới sẽ chẳng còn gì để đọc ngoài những thứ thuộc về chủ kiến của các nhà in.”
Với một chút khôi hài, anh nhắc lại với độc giả rằng các chủ bút cung cấp tin tức cho công chúng nhưng cũng phải kiếm tiền. “Vì thế họ sẵn lòng phục vụ tất cả những cây bút tranh luận nào trả tiền hậu hĩnh cho họ” ngay cả khi không đồng ý với quan điểm của người viết. “Nếu tất cả những người có ý kiến khác biệt trong tỉnh này hứa trả tiền để tôi không in những thứ họ không thích, bằng với số tiền tôi kiếm được khi in chúng, tôi hẳn sẽ có một cuộc đời nhàn hạ. Và nếu tất cả các nhà in khắp nơi đều được thương lượng như vậy, sẽ có rất ít thứ được in ra.”
Song về bản chất Franklin không phải là người giáo điều hay cực đoan với bất cứ nguyên tắc nào. Nhìn chung anh hướng đến một sự cân xứng hợp lý. Anh nhận thấy quyền lợi của các nhà in phải cân bằng với nghĩa vụ hành xử có trách nhiệm của họ. Do đó, dù các nhà in có thể tự do đăng tải những ý kiến có tính công kích, nói chung họ nên suy xét thận trọng. “Bản thân tôi luôn từ chối bất cứ thứ gì có thể khuyến khích sự đồi bại hoặc cổ vũ thói vô đạo đức dù được trả nhiều tiền. Tôi luôn từ chối in những thứ có thể gây tổn thương thật sự cho bất cứ ai.”
Một ví dụ điển hình là việc, có lần một khách hàng đề nghị vị chủ bút trẻ tuổi đăng một bài mà Franklin thấy có tính “thô bỉ và phỉ báng” trên tờ Nhật báo. Khi cố gắng để quyết định xem liệu có nên nhận tiền của khách hàng dù vi phạm các nguyên tắc của mình không, Franklin tự đưa ra phép thử sau cho bản thân:
Để quyết định có nên đăng nó hay không, khi về nhà vào buổi tối, tôi mua một ổ bánh mì giá hai xu ở tiệm bánh và lấy đó làm bữa tối cùng với nước trong máy bơm. Sau đó tôi cuộn mình trong áo choàng, nằm xuống sàn và thiếp đi cho đến sáng hôm sau. Tôi ăn sáng bằng một ổ bánh mì và một cốc nước khác. Tôi không hề cảm thấy bất tiện với chế độ ăn uống này. Nhận thấy mình có thể sống theo cách đó, tôi đã hạ quyết tâm không bao giờ bán rẻ tờ báo vì các mục đích tham nhũng hoặc lạm dụng kiểu này để có được một sinh kế tiện nghi hơn.
Franklin kết thúc “Lời biện bạch cho các chủ nhà in” bằng câu chuyện ngụ ngôn về hai cha con đi đường cùng một con lừa. Khi người cha cưỡi lừa còn người con trai đi bộ, ai gặp họ cũng chê cười; tương tự, họ vẫn bị chê cười khi người con trai cưỡi lừa còn người cha đi bộ, khi hai người cùng cưỡi lừa hoặc cùng đi bộ. Vậy là cuối cùng họ quyết định đẩy con lừa từ trên cầu xuống sông. Theo Franklin, câu chuyện này cho thấy việc cố gắng tránh mọi chỉ trích là điều dại dột. Franklin kết luận, dù “chán nản việc phải làm hài lòng tất cả mọi người, tôi cũng sẽ không đốt cháy tờ báo hay nung chảy những con chữ của mình”.16
Bên cạnh những nguyên tắc cao thượng như vậy, anh cũng vận dụng một vài chiêu trò thông dụng hơn để tăng số báo bán ra. Một phương pháp đáng tin cậy, có sức hấp dẫn đặc biệt với vị chủ bút chưa kết hôn khá phóng đãng này là sự thật đã được thời gian kiểm chứng: tình dục hái ra tiền. Franklin thêm gia vị cho tờ Nhật báo bằng vài mẩu tin có chút dâm dật và gây cười. Thí dụ, trong số báo xuất bản một tuần sau “Lời biện bạch cho các chủ nhà in”, Franklin viết về một người chồng bắt được vợ trên giường với một người đàn ông có tên Stonecutter và định dùng dao chặt đầu gã gian phu song đã tự làm mình bị thương. Franklin kết thúc bằng lối chơi chữ vui về sự thiến: “Một số người ngưỡng mộ việc người chồng bị xúc phạm không tự biến chính mình thành một St-n-c-tt-r ngay cả khi anh ta có cơ hội chính đáng và phù hợp đến vậy.”*
Số báo tiếp theo có một bản tin ngắn tương tự về một viên cảnh sát đa tình “giao hẹn với một phụ nữ hàng xóm sẽ thức cùng chị ta đêm đó”. Viên cảnh sát leo nhầm qua cửa sổ nhà một phụ nữ khác trong khi người chồng đang ở phòng bên cạnh. Franklin thuật lại: “Qua sự dịu dàng lạ thường của người bạn chăn gối, người đàn bà tốt hiểu ra đó không thể là chồng mình nên đã gây nhiều tiếng động để đánh thức người đàn ông tốt. Khi thấy có kẻ đột nhập vào nhà mình trong khi mình còn chưa ra khỏi nhà, anh bắt đầu đánh viên cảnh sát không thương tiếc.”
Sau đó có câu chuyện về một người đàn bà khao khát tình dục, muốn ly dị chồng vì anh này không thể làm cô ta thỏa mãn. Cô ta “nhiều lúc cần mẫn gạ tình hầu hết các quan tòa” để giành lấy cảm tình cho cảnh ngộ của mình. Sau khi người chồng được kiểm tra y khoa, cô ta lại trở về bên anh này. “Sự hài lòng mà báo cáo của các thầy thuốc (những người kiểm tra khả năng của anh ta theo thủ tục và thừa nhận anh ta đủ sức khỏe trên mọi khía cạnh) đem lại cho cô không hề nhỏ”, Franklin viết. “Liệu các thí nghiệm đầy đủ hơn đã được tiến hành chưa là điều ta không thể nói; song dường như giờ đây cô ta tỏ rõ ý kiến của mình rằng ‘George cừ như người cừ nhất.”’ Trong bài viết đầu tiên về sét được xuất bản của mình, Franklin cũng thoáng đề cập về dục tính ở nam giới. Anh thuật lại việc sét đánh chảy chiếc cúc quần của một chàng trai trẻ và nói thêm: “Chắc quanh đó không có thứ gì khác làm bằng thiếc.”
Dưới bút danh “Người gỡ rối”, Franklin thậm chí còn góp phần mở đường cho loại chuyên mục tư vấn tình dục và đạo đức.* Dù nghĩa gốc của từ casuistry (sự phân định đúng sai) đề cập tới việc áp dụng các nguyên tắc đạo đức trong ứng xử hằng ngày, Franklin sử dụng nó theo nghĩa thông tục hơn với đôi chút mỉa mai, hàm ý sự áp dụng có chút thiên lệch hoặc sai lạc các nguyên tắc đó. Một lá thư của bạn đọc, hoặc của Franklin giả làm bạn đọc, đã đặt ra tình huống lưỡng nan sau: Giả sử một người phát hiện vợ mình bị gã hàng xóm dụ dỗ; và giả sử anh ta có lý do để tin rằng nếu tiết lộ sự việc với vợ gã hàng xóm, cô này sẽ đồng ý lên giường với anh ta, “liệu việc đó có chính đáng không”? Franklin, dưới danh nghĩa Người gỡ rối, đã đưa ra một câu trả lời nghiêm chỉnh. Nếu người hỏi là một tin đồ Cơ Đốc giáo, anh ta sẽ tự biết không nên “lấy ác báo ác mà phải lấy thiện báo ác”. Còn nếu anh ta không theo Cơ Đốc giáo mà là người “lấy lý trí làm cơ sở cho hành vi của mình,” anh ta cũng sẽ đi đến cùng một kết luận: “những hành vi như thế không đem lại điều tốt đẹp cho xã hội”.17
Franklin cũng biết một châm ngôn khác của báo chí: tin tức về tội phạm giúp báo đắt hàng, nhất là khi chúng lạ lùng. Chẳng hạn, trong bài tường thuật cái chết của một cô bé, anh đã kết hợp giữa việc đưa tin và rủa sả - điều sau này được các tờ báo lá cải đặc sắc hơn hoàn thiện. Vụ việc liên quan tới một cặp đôi bị kết tội giết con gái riêng từ cuộc hôn nhân trước của người đàn ông bằng cách bỏ mặc đứa trẻ, ép nó “nằm im và thối rữa trong sự bẩn thỉu”, cho nó “ăn phân của chính mình” và “đẩy nó ra khỏi cửa”. Cô bé đã chết, nhưng một bác sĩ chứng thực rằng, dù gì nó cũng sẽ chết vì các tật bệnh trong người; vì thế quan tòa chỉ kết án cặp đôi này bị đóng dấu sắt nung lên tay. Franklin nổi giận trước phán quyết “thống thiết” này và tự đưa ra bản án khắt khe hơn, theo đó cặp đôi này “không chỉ hành xử trái với luật pháp của mọi quốc gia mà còn vi phạm luật lệ tự nhiên phổ quát”.18
Phương pháp bán báo đáng tin cậy thứ ba khai thác tính thích đàm tiếu, gièm pha khá nhẹ nhàng và ngây thơ của con người. Trong tiểu luận đầu tiên viết cho Bradford dưới bút danh Người Bận rộn, Franklin đã bảo vệ giá trị của sự tọc mạch và ba hoa. Giờ đây, khi có tờ báo riêng, anh minh định rằng tờ Nhật báo vui lòng, mà thực chất là tự hào, được tiếp tục phục vụ độc giả. Dùng cùng giọng điệu với Người Bận rộn, Franklin gửi một lá thư ẩn danh đến tờ báo của mình để bảo vệ việc ngồi lê mách lẻo, chỉ trích và nói xấu sau lưng “bằng cách chỉ ra sự hữu ích của nó và lợi ích lớn lao mà nó đem lại cho xã hội”.
“Thông thường đó là phương pháp để cản trở những kẻ tồi tệ, xảo quyệt và có quyền lực, không để họ được ưa thích quá mức” - anh viết. “Sự chỉ trích dựa trên việc xem xét toàn diện với trăm con mắt và ngàn chiếc lưỡi sẽ sớm phát hiện ra và nhanh chóng tiết lộ tới mọi góc phố từng tội lỗi hoặc nhược điểm nhỏ nhất - một phần tính cách thật của những kẻ đó. Điều này sẽ xén đi đôi cánh tham vọng của họ.” Anh nhấn mạnh, đàm tiếu cũng có thể yểm trợ đạo đức vì nhiều người bị thúc đẩy bởi nỗi sợ bị làm nhục nơi công cộng hơn là các nguyên tắc đạo đức bên trong họ. ‘“Nếu tôi làm thế này, thế giới sẽ nói gì về tôi?’ thường là một mối trăn trở đủ mạnh cho phép con người chống lại sự cám dỗ của điều xấu xa hay điên rồ. Nó bảo vệ sự chính trực khỏi bị lung lạc, bảo vệ tính lương thiện trước mọi ham muốn, bảo vệ tính thiêng liêng của một số người có đạo và bảo vệ sự trong trắng của mọi trinh nữ.”
Điều thú vị là, dù sẵn sàng công kích quyết tâm bẩm sinh của “tất cả” trinh nữ, Franklin đã tự bảo vệ bản thân khi chỉ công kích “một số” người theo đạo. Ngoài ra, anh đã phơi bày một phương diện có phần giễu cợt khi ngụ ý rằng hầu hết mọi người cư xử có đạo đức không phải bởi thiện tính bên trong mà bởi họ sợ bị dư luận phê phán.19
Tuần kế tiếp, Franklin bảo vệ giá trị của thói đàm tiếu trong một lá thư khác thậm chí còn thú vị hơn, được viết công khai bởi một độc giả mang cái tên rất phù hợp: Alice Addertongue. Franklin, lúc đó mới 26 tuổi, đã để nhân vật hư cấu Alice tự mô tả bản thân với đôi chút mỉa mai - “một cô gái trẻ tuổi khoảng ba mươi lăm”. Cô sống cùng với mẹ và tự nhận thấy “có trách nhiệm cũng như thiên hướng rèn luyện tài năng phê phán vì lợi ích của những người quê mùa quanh mình”.
Sau khi tấn công bài báo “ngớ ngẩn” có nội dung phê bình thói ngồi lê mách lẻo của đàn bà trên tờ Sao Thủy của Bradford, Alice thuật lại việc bản thân cô từng mâu thuẫn với mẹ về vấn đề này. “Bà lập luận rằng sự gièm pha làm hỏng những cuộc hội thoại tốt đẹp, còn tôi đinh ninh rằng nếu không có nó thì cũng chẳng có cái kia.” Kết quả là, cô bị xua vào bếp khi có khách tới dùng trà. Khi mẹ cô đang tiếp khách bằng một bài diễn thuyết cao siêu trong phòng khách, Alice thết đãi mấy người bạn trẻ bằng câu chuyện về sự dan díu giữa gã hàng xóm và cô hầu gái của ông ta. Nghe thấy tiếng cười, nhóm bạn của mẹ cô bắt đầu dạt từ phòng khách xuống nhà bếp để dự phần vào cuộc chuyện phiếm. Sau cùng, mẹ cô cũng tham gia với họ. “Từ lâu tôi đã nghĩ nếu ông biến tờ báo của mình thành một phương tiện chuyên chở những bê bối, ông sẽ có gấp đôi số lượng người đặt báo.”
Trong các bài báo thú vị nhất mà Franklin từng viết, lời biện hộ hài hước dành cho những người lăng xăng đã định hình giọng điệu vui vẻ của tờ Nhật báo. Vốn hay giao du và say mê tìm hiểu nhân cách người, anh rất thích các chuyện kể về nhược điểm và hành vi của con người và hiểu rõ vì sao những người khác cũng như vậy. Tất nhiên anh chỉ nghiêm túc một nửa khi biện bạch cho thói đàm tiếu. Nửa còn lại trong tính cách của anh chân thành hơn: anh luôn quyết tâm không nói xấu ai. Kết quả là, dù đùa cợt trên tờ Nhật báo với các lập luận ủng hộ thói đàm tiếu, anh không thật sự ham mê việc đó lắm. Ví dụ, trong một số báo, anh cho biết đã nhận được một lá thư kể về sự bất hòa và hành vi của một cặp vợ chồng nào đó, “song vì lý do độ lượng, lá thư này hiện chưa phù hợp để xuất bản”.20
Tương tự, anh cũng “nước đôi” khi bàn về việc uống rượu. Vốn là một người ôn hòa, dù sao anh cũng thích sự vui tươi ở các tửu quán. Trong một bài viết nổi tiếng trên tờ Nhật báo, về sau được dán trên tường vô số quán rượu, anh đã soạn ra “Tửu khách Tự điển” liệt kê khoảng 250 từ đồng nghĩa mô tả tình trạng say xỉn: bối rối, liêu xiêu, chuếnh choáng, túy lúy... Song anh cũng làm độc giả run sợ với các bài tường thuật sinh động về những cái chết do rượu gây ra, đồng thời viết các bài xã luận về hệ lụy độc hại của rượu mạnh. Khi còn là thợ in ở London, anh từng giảng giải cho các đồng nghiệp biết rượu mạnh khiến họ làm việc sa sút; và khi là một chủ bút ở Philadelphia, anh vẫn tiếp tục chiến dịch này.21
Franklin cũng hoàn thiện nghệ thuật đem bản thân ra để chọc cười. Giống như các nhà văn hài hước người Mỹ thế hệ sau, anh nhận thấy một chút tự trào khôi hài có thể khiến anh trở nên đáng mến hơn. Trong một mẩu tin nhỏ trên tờ Tuần báo, anh nhớ lại việc “một chủ nhà in cụ thể” trượt ngã khi đang đi bộ dọc cầu tàu và kẹt chân vào một thùng hắc ín. Sự thoát thân vụng về của anh ta giống như câu thành ngữ “lanh lợi như con ong trong thùng hắc in”. Franklin kết thúc mẩu tin bằng phép chơi chữ nhẹ nhàng: “Anh ta quả thật không phải là con ong Dịu dàng, cũng không phải là con ong Khiêm tốn, song anh ta được phép là con ong Vụng về, mang tên B.F.”22*
Từ đầu thập niên 1730, việc kinh doanh của Franklin phát triển mạnh. Anh bắt đầu xây dựng một đế chế nhỏ mở rộng bằng cách đưa những người thợ in trẻ, sau thời gian học việc với anh, đến mở các xưởng hợp danh tại các vùng từ Charleston cho tới Hartford. Anh hỗ trợ họ máy móc và một phần chi phí, cùng với nội dung cho các xuất bản phẩm; đổi lại, anh được chia một phần doanh thu.
CUỘC HÔN NHÂN THỰC DỤNG
Giờ đây khi đã tự thiết lập công việc kinh doanh cho bản thân, Franklin thấy mình cần một người vợ tốt. Việc sống độc thân không được tán thành ở xứ thuộc địa Mỹ; và Franklin sở hữu một ham muốn tình dục mà anh biết nó cần có kỷ luật. Vì thế anh bắt đầu tìm kiếm bạn đời và ưu tiên một người mang theo nhiều của hồi môn.Có một người bạn cùng Hội Kín ở trọ tại nhà anh. Đó là người thợ kính và nhà toán học Thomas Godfrey cùng vợ, một người chăm lo các bữa ăn và công việc nội trợ. Bà Godfrey mai mối cho anh với một trong các cháu gái của bà - người mà Franklin thấy “rất xứng đáng” và thời gian tìm hiểu bắt đầu. Vì của hồi môn đã thành thông lệ nên Franklin tìm cách thương lượng qua bà Godfrey: gần 100 bảng, bằng số tiền anh vẫn mắc nợ từ khi khởi nghiệp in ấn. Khi gia đình cô gái đáp rằng họ không thể dành dụm nhiều đến thế, Franklin gợi ý một cách rất thiếu lãng mạn rằng họ có thể thế chấp căn nhà.
Gia đình cô gái lập tức cắt đứt mối quan hệ, hoặc vì giận dữ hoặc vì (như Franklin nghi ngờ) hy vọng việc tìm hiểu giữa hai người đã đi xa đến mức cô sẽ bỏ đi theo trai mà không cần của hồi môn. Franklin phật ý và từ chối mọi sự dính dáng tới cô gái kia, kể cả khi bà Godfrey đề nghị rằng họ sẵn sàng thương thuyết.
Không chỉ việc tìm hiểu kết thúc, mà lại một tình bạn khác của Franklin cũng thế. Godfrey chuyển đi, từ bỏ Hội Kín và cuối cùng giao việc in ấn cuốn niên giám nhỏ của mình cho Bradford, đối thủ của Franklin. Nhiều năm sau, Franklin viết một cách lạnh lùng về người bạn từng sống chung một nhà, sinh hoạt cùng một hội và có lẽ chia sẻ cả tình cảm. Godfrey “không phải là một người bạn dễ chịu, giống như tất cả các nhà toán học vĩ đại mà tôi từng gặp. Ông ta kỳ vọng sự chính xác dị thường trong mọi lời nói; luôn phủ nhận hoặc phân biệt những điểm nhỏ nhặt đến mức làm rối cả cuộc trò chuyện.”
Sự bực tức cũng khiến Franklin chế giễu sự việc này trên tờ Nhật báo không lâu sau đó dưới bút danh Anthony Afterwit. Vị “thương gia chân thật” than thở rằng khi anh đang tìm hiểu vợ mình, bố cô ấy bóng gió rằng có thể anh sẽ nhận được một khoản hồi môn kha khá và anh đã “lên vài kế hoạch tươi đẹp” để tiêu tiền. “Khi quý ông già thấy tôi đã cắn câu và mối quan hệ của chúng tôi đã đi quá xa nên không dễ dàng bị chia cắt, ông... cấm cửa tôi và nói với con gái mình rằng nếu cô ấy lấy tôi, ông sẽ không cho cô một xu.” Không như Franklin, Afterwit đã cùng người yêu bỏ trốn. “Từ đó tôi nhận ra, ngoài bố vợ tôi, còn có những ông già keo kiệt khác dùng mẹo này để gả con gái mà vẫn giữ được số tiền hồi môn không dùng đến.”
(Bài viết dưới tên Anthony Afterwit có một hiệu ứng phụ thú vị. Abigail Afterwit, người vợ tưởng tượng của anh, là tên một nhân vật đã được James, người anh trai bị Franklin xa lánh, sáng tạo ra từ một thập kỷ trước trên tờ Tuần báo New England. Kể từ đó, James đã chuyển tới Đảo Rhode. Anh in lại câu chuyện của Anthony Afterwit trên tờ báo của mình cùng lời hồi âm từ một nhân vật có tên Patience Teacraft. Đến lượt mình, Benjamin cũng đăng lại lời hồi âm này trên tờ báo của anh tại Philadelphia. Năm sau, anh tới thăm James và họ đã hàn gắn đầy xúc động. Sức khỏe của James khi đó rất sa sút và anh xin Benjamin chăm lo cho cậu con trai 10 tuổi. Benjamin đã làm theo - anh sắp xếp việc ăn học của cậu bé và nhận cậu vào học việc. Một đề tài chủ đạo trong tự truyện của Franklin là việc mắc sai lầm và sự bù đắp sau đó, như thể anh là một kế toán viên cân đối các tài khoản. Franklin nói, chạy trốn khỏi nhà anh trai “là một trong những lỗi sai đầu tiên của đời tôi”. Cưu mang con trai của James là cách để đưa sổ cái trở lại cân đối. “Đây là sự bù đắp rộng rãi mà tôi dành cho James để chuộc lại sự bất đễ vì rời bỏ anh quá sớm.”)
Sau khi việc tìm hiểu cô cháu gái của bà Godfrey vụt mất, Franklin nhìn quanh để tìm các hôn thê tiềm năng khác. Song anh nhận thấy các chủ nhà in trẻ không được trọng vọng đủ để đòi hỏi một khoản hồi môn chắc chắn. Anh không thể mong có tiền trừ phi chịu cưới một cô gái “mà lẽ ra tôi không thể nào nghĩ mình chấp nhận được”. Trong cuốn tự truyện được Franklin bắt đầu viết sau đó nhiều năm như một lá thư gửi cho đứa con ngoài giá thú cũng đang tìm vợ, có một dòng đáng nhớ sau: “Trong lúc đó, dục vọng khó kiềm chế của tuổi trẻ đã hối thúc cha dan díu với các phụ nữ hạ đẳng gặp trên đường, một việc luôn đi kèm chút chi phí và rất nhiều bất tiện.”23
Deborah Read, cô gái đã cười Franklin khi anh chân ướt chân ráo tới Philadelphia, cũng đang lâm vào tình thế khá tuyệt vọng. Sau khi Franklin rởi bỏ cô để đến sống ở London, cô chỉ nhận được một lá thư cộc lốc từ anh. Bởi vậy, cô mắc phải sai lầm cưới một thợ làm gốm quyến rũ nhưng không đáng tin cậy có tên John Rogers. Anh ta làm không đủ sống, và chẳng bao lâu, Deborah nghe được tin đồn anh ta đã bỏ vợ ở Anh. Do đó, cô bỏ về nhà mẹ đẻ và Rogers bắt cóc một nô lệ rồi bỏ trốn tới West Indies, để lại số nợ chồng chất. Dù có một số tin tức cho biết anh ta đã chết tại đó trong một cuộc cãi vã nhưng chúng chưa được xác nhận, điều này đồng nghĩa với việc Deborah rất khó tái hôn hợp pháp. Người mắc tội lấy hai chồng có thể bị phạt đánh 39 roi và ngồi tù suốt đời.
Sau khi cha Deborah qua đời, mẹ cô phải kiếm thêm để trang trải cuộc sống bằng việc bán thuốc nhà làm. Một tờ quảng cáo (do Franklin in ấn) ghi: “Bà quả phụ Read... tiếp tục bào chế và bán loại thuốc mỡ trị ngứa lừng danh, nhờ nó bà đã chữa lành cho rất nhiều người... Nó cũng diệt và xua đuổi mọi loại chấy rận chỉ sau một đôi lần sử dụng.” Franklin thường xuyên ghé thăm nhà Read để cho họ lời khuyên về việc làm ăn và rất thương cảm trước sự rầu rĩ của Deborah. Anh đổ lỗi cho bản thân về cảnh ngộ của cô dù bà Read nhân từ đã nhận phần lỗi lớn nhất về mình vì đã không cho hai người kết hôn trước khi anh đi London. Theo Franklin, điều may mắn cho tất cả là “tình cảm chúng tôi dành cho nhau đã sống lại”.
Cùng thời gian đó, Franklin xây dựng phương pháp để ra những quyết định khó khăn. “Cách của tôi là dùng một đường kẻ chia mảnh giấy thành hai cột, một bên đề Ưu điểm còn bên kia là Nhược điểm”, về sau anh nhớ lại. Sau đó anh liệt kê tất cả các lập luận cho mỗi bên và cân nhắc xem từng luận điểm quan trọng tới đâu. “Khi đã tìm được một luận điểm cho mỗi bên có vẻ cân bằng nhau, tôi sẽ gạch bỏ cả hai; nếu tìm thấy một ưu điểm tương ứng với hai nhược điểm, tôi gạch bỏ cả ba.” Bằng lối tính toán của kế toán viên, anh dần hiểu “sự cân bằng nằm ở đâu”.
Dù cách anh đưa ra quyết định chính xác đến đâu, sự cân bằng của mọi suy xét cuối cùng đều tập trung về phía Deborah. Từ tháng 9 năm 1730, họ bắt đầu chung sống như vợ chồng. Không có hôn lễ chính thức nào, thay vào đó, họ dàn xếp một cuộc hôn nhân theo luật tập tục nhằm bảo vệ họ khỏi tội lấy hai chồng nếu Rogers đột ngột tái xuất.* Nhưng anh ta không bao giờ trở lại. Franklin xem chuyện hợp hôn với Deborah, cũng như việc hòa giải với anh trai, là một thí dụ của việc sửa chữa sai lầm trước đó. “Thế là, tôi đã sửa được sai lầm lớn ấy theo cách tốt nhất có thể” - Franklin sau này đã viết như thế về việc bạc đãi Deborah trước đây.
Franklin thường được mô tả (hoặc bị kết tội) như một người thực dụng hơn là lãng mạn; một con người của lý trí hơn là trái tim. Câu chuyện về cuộc hôn nhân theo luật tập tục với Deborah củng cố thêm góc nhìn này. Song nó cũng hé lộ phần nào sự phức tạp trong tính cách của anh: quyết tâm chế ngự các ham muốn khó kiềm chề bằng việc sống thực tế, sự trìu mến chân dành cho thân bằng quyến thuộc. Anh không hợp với những lời hứa mùi mẫn và đôi mắt lấp lánh hoặc tình yêu thi vị; thay vào đó, sự kết nối cảm xúc có xu hướng trở thành những sự ràng buộc tình cảm bình dị hơn, lớn lên từ việc hợp sức làm ăn, lợi ích cá nhân, từ sự hợp tác, tình bạn và các mối quan hệ họ hàng thân thiết.
Một cô vợ mang theo của hồi môn cũng có thể mang theo khí chất và sự thu hút rất xa hoa về mặt xã hội. Thay vào đó, Franklin nhận thấy “một người bạn đời tốt bụng, chung thủy” biết sống căn cơ, thực tế và không đòi hỏi có các đức tính mà sau này anh khẳng định chúng còn quan trọng hơn nhiều đối với một thương nhân đang ăn nên làm ra. Sự hợp tác của họ mãi có ích cho nhau, nếu không nói là lãng mạn sâu sắc, cho đến khi Deborah qua đời 44 năm sau. Franklin không lâu sau đã mượn lời Richard Nghèo Khổ phát biểu trong cuốn niên giám: “Hãy mở to mắt trước hôn nhân và nhắm chặt lại sau đó”.24
WILLIAM
Có một chuyên rắc rối lớn mà cặp vợ chồng mới cưới phải đối diện. Cùng vào thời gian đó, Franklin làm cha và là người chăm lo duy nhất cho đứa con trai ngoài giá thú có tên William. Có lẽ đây là “sự bất tiện lớn” mà anh lạnh lùng viết trong tự truyện về hậu quả của việc kết giao với “hạng đàn bà hạ đẳng”.Danh tính người mẹ của William là một trong những bí mật ngọt ngào của lịch sử, làm các học giả phải không ngừng suy đoán. Franklin không bao giờ hé lộ bí mật này và William cũng vậy, nếu như cậu biết. Sự thật là ngay cả ngày sinh của cậu cũng không rõ ràng. Chúng ta hãy bắt đầu từ đây.
Đa số các sử gia cho rằng William chào đời từ khoảng ngày 12 tháng 4 năm 1730 đến 12 tháng 4 năm 1731. Họ dựa trên lá thư do Franklin gửi cho mẹ đề ngày 12 tháng 4 năm 1750, có nhắc đến William “nay đã là một thanh niên 19 tuổi đẹp trai, cao lớn và khá đào hoa.”
Trong tác phẩm A Little Revenge (Cuộc trả thù nhỏ), một cuốn sách tường thuật hấp dẫn nhưng hơi suy diễn về mối quan hệ rắc rối giữa Franklin với con trai, Willard Sterne Randall đã hoài nghi điều này. Tháng 9 năm 1746, William rời nhà, mang quân hàm thiếu úy, tham gia vào một cuộc viễn chinh của quân đội tới Canada. Vì vậy, Randall lập luận rằng, khi đó không thể nào cậu mới chỉ 15 hay 16 tuổi. Có thể trong lá thư gửi mẹ, Franklin đã giảm đi một, hai tuổi của William để cho mọi thứ có vẻ chính thống. Tương tự, trên trang web cung cấp thông tin chi tiết về cuộc đời Franklin của mình, J. A. Leo Lemay, một học giả nghiên cứu tỉ mỉ về Franklin, phỏng đoán William sinh năm 1728 hoặc 1729, giống như một số nhà viết tiểu sử thế kỷ 19 khác.
Tuy vậy, chúng ta biết rằng trước khi được phép tòng quân, có thể vào đầu năm 1746, William đã tìm cách trốn nhà đi biển và cha cậu phải lôi cậu từ một chiếc tàu ngoài cảng về nhà. Sự việc này cho thấy thực ra có lẽ cậu không nhiều hơn 15 hay 16 tuổi vào thời điểm đó (cha cậu từng có ý định bỏ nhà đi biển ở tuổi 12 và đã bỏ trốn đến Philadelphia ở tuổi 17). Cuốn tiểu sử chi tiết về William của Sheila Skemp khiến việc cậu gia nhập quân đội ở tuổi 16, ngay sau khi hoàn thành việc học, trở nên khá hợp lý. Hơn nữa, William chịu trách nhiệm với niềm tin được thuật lại trên một tạp chí về việc mình qua đời ở tuổi 82 vào năm 1813 (điều đó đồng nghĩa với việc William sinh vào cuối năm 1730 hoặc đầu năm 1731).
Tóm lại, vì không ai từng phủ nhận việc William là đứa con ngoài giá thú, không có lý do gì để Franklin phải nói dối mẹ khi nhắc tới tuổi của cậu. Cũng rất hợp lý khi tin rằng William không bao giờ muốn làm người ta nhầm lẫn về tuổi tác của mình (dù có chủ đích hay không). Dựa trên các giả định này, nhiều khả năng William chào đời vào cuối năm 1730 - khi Deborah bắt đầu chung sống với Franklin.25
Nếu vậy, có khi nào chính Deborah là mẹ đẻ của cậu như một số học giả nghi ngờ? Liệu có phải một phần căn nguyên của đám cưới theo luật tập tục là vì cô mang thai, trong khi lai lịch của William được giữ mờ mịt phòng khi Rogers trở về và cáo buộc cô ngoại tình và lấy hai chồng? Như Carl Van Doren suy đoán, “một vụ lùm xùm là điều khó tránh khỏi, nhưng tất nhiên nó sẽ nhẹ nhàng hơn nếu đứa trẻ là con của Franklin và một người đàn bà không rõ danh tính. Nhà triết gia cường tráng có thể hứng hết mọi lời chê bai.”
Song giả thuyết này không thật kín kẽ. Nếu Deborah đã có thai và hạ sinh, chắc chắn phải có một số bạn bè và họ hàng, trong đó có mẹ cô, biết được sự việc. Như H. W. Brands đã phân tích, “ngay cả sau mười năm trôi qua, khi mà những mối lo ngại về Rogers không còn nữa, Deborah vẫn từ chối nhận William là con đẻ - một sự chối bỏ khó lòng tưởng tượng nổi với bất cứ người mẹ nào, chưa nói đó là một người mẹ phải luôn thấy con mình kề bên song đành để nó chịu tiếng con hoang suốt đời.” Ngược lại, cô công khai ghét bỏ William. Theo một nhân viên làm việc cho nhà Franklin sau này, Deborah gọi William là “nhân vật phản diện vĩ đại nhất trên mặt đất” và trút lên cậu ta “những lời thóa mạ bằng ngôn ngữ độc địa nhất tôi từng nghe thấy ở một người phụ nữ đứng đắn”.26
Trong cuộc bầu cử nóng bỏng năm 1764, câu chuyện về dòng dõi của William đã trở thành vấn đề. Một truyền đơn có tính bôi nhọ đã rêu rao rằng mẹ anh là một cô gái làng chơi có tên Barbara, người sau đó bị Franklin bóc lột như một con sen cho đến chết và được chôn cất dưới một nấm mồ vô danh. Bằng vào bản chất thô bỉ của chiến dịch đó và khả năng nhà Franklin chịu để mẹ ruột của William sống kề bên như một người tớ gái là rất thấp, điều này có vẻ như cũng bất hợp lý.
Lời giải thích hợp lý nhất đến từ một lá thư viết năm 1763 nhắc tới William, được tìm thấy sau hơn hai thế kỷ. Người viết nó là George Roberts, một thương gia giàu có tại Philadelphia và là một thân hữu của gia đình. Roberts nói với một người bạn ở London như sau: “Ở đây ai cũng biết anh ta là con ngoài giá thú và mẹ anh ta không có địa vị tốt. Thế nhưng, lời thuật về việc bà ta phải ăn xin bánh mì hằng ngày trên lề đường thành phố không hề dựa trên sự thật nào dù là nhỏ nhất. Tôi biết anh ta có chu cấp một khoản nhỏ cho mẹ; song việc bà ta không thuộc loại phụ nữ được xã hội chấp nhận khiến họ không thể công khai và cha con họ cũng khó lòng thừa nhận bất cứ mối liên hệ nào với bà ta.” Bởi Roberts có thể có điều kiện biết sự thật và bởi ông không có động cơ bên trong nào khác, chỉ còn giả thuyết này là đáng tin cậy nhất.27
NGƯỜI BẠN ĐỜI CĂN CƠ
Trong tự truyện của mình (nơi hai đức tính “cần cù” và “căn cơ” được ca ngợi tổng cộng 36 lần), Franklin viết về vợ như sau: “Tôi thật may mắn vì được tiếp xúc nhiều với người có tính cần cù và căn cơ giống như tôi vậy.” Về sau, Franklin thậm chí còn dành cho vợ lời tán dương hơn thế nữa trong một lá thư được viết lúc gần cuối đời: “Căn cơ là đức tính giúp ta giàu có hơn, một đức tính tôi không hề tự nhiên có được mà thật may mắn tôi thấy nó ở bà ấy. Deborah vì thế đã trở thành một kho báu đối với tôi.” Với Franklin, đây chính là tình yêu thật sự. Deborah giúp anh ở xưởng in, đóng gáy các cuốn sách nhỏ và mua giẻ cũ để làm giấy. Ít nhất vào thời gian đầu, họ chưa có người phục vụ, và mỗi sáng Franklin chỉ dám ăn món cháo bánh mì sữa trong một chiếc tô giá hai xu.Vài năm sau, khi chàng trai mâu thuẫn Franklin đã ít nhiều biết cảm thụ sự sang trọng nhưng vẫn trung thành ngưỡng mộ tính căn cơ, anh hài hước thuật lại sự sa ngã nhẹ của Deborah để thấy “cái xa hoa sẽ bước vào các gia đình và lấn tới dần bất chấp mọi nguyên tắc ra sao”. Một ngày, anh ngồi vào bàn dùng bữa sáng và thấy nó được đựng trong bát sứ với một chiếc thìa bạc. Vợ anh đã bỏ ra 23 shilling, một “khoản tiền khổng lồ”, để mua chúng. Cô không “biện bạch hay xin lỗi gì ngoài việc cho rằng chồng mình xứng đáng được dùng thìa bạc và bát sứ như bất cứ người láng giềng nào của anh”. Với sự pha trộn khôi hài giữa tự hào và khinh thị, Franklin nhớ lại việc nhiều năm sau khi đã trở nên giàu có, họ đã sắm sửa đồ sứ và các vật dụng khác có giá hàng trăm bảng.
Khi nghe tin cô em gái Jane sắp kết hôn, Franklin viết thư cho cô để trình bày quan điểm rằng, một người vợ tốt nên sống căn cơ và cần cù. Anh nói đã từng nghĩ đến việc gửi tặng cô một chiếc bàn trà song tính thực tế trong anh đã chiến thắng: “Khi nhận thấy các đức tính của một phụ nữ nội trợ còn đáng quý hơn một quý bà lịch thiệp thuần túy, anh quyết định gửi tặng cô một chiếc xa quay tơ.” Về sau, Richard Nghèo Khổ phát biểu ngay từ niên giám đầu tiên: “Nhiều tiền của được bỏ vào việc mua sắm, bởi phụ nữ thích uống trà nên không còn muốn quay tơ, kéo sợi.”28
Tính căn cơ là một trong những chủ đề ưa thích của Franklin khi còn trẻ, thể hiện qua các bài viết trên tờ Nhật báo. Trong một lá thư dưới tên Anthony Afterwit, sau khi than thở về việc phải bỏ trốn cùng người yêu mà không nhận được của hồi môn, anh tiếp tục nhạo báng vợ mình vì học đòi kiểu cách và thói quen tiêu xài của một quý bà. Đầu tiên cô ta bỏ tiền mua một chiếc gương lộng lẫy, điều đó kéo theo việc phải có một chiếc bàn đẹp để đặt nó lên; sau đó là bộ đồ uống trà và cuối cùng là một chiếc đồng hồ. Trước nợ nần chất ngất, Anthony quyết định bán hết các đồ đạc này khi vợ anh ta rời thành phố đi thăm họ hàng. Để thay thế các vật dụng màu mè kia, anh mua một chiếc xa quay tơ và vài chiếc kim đan. Anthony muốn tờ Nhật báo đăng tải lá thư, hầu mong vợ mình đọc được nó trước khi trở về để chuẩn bị tinh thần. “Nếu cô ta có thể làm quen với phương án sống mới này, chúng tôi có lẽ là đôi vợ chồng hạnh phúc nhất tỉnh.” Sau này, anh có thể để vợ mua lại chiếc gương đẹp đó như một phần thưởng.
Là người ít kỳ thị giới tính hơn đa số nam giới cùng thời, Franklin cũng chĩa cả mũi nhọn về phía đàn ông. Lá thư của Afterwit được Celia Cô Đơn, một nhân vật khác do Franklin hư cấu, hồi âm sau hai tuần. Với giọng điệu tán gẫu hấp dẫn giống với các nhân vật nữ khác của anh như Silence Dogood và Alice Addertongue, Celia kể lại việc ghé thăm một người bạn có chồng đang cố gắng học theo lối tiếp cận của Afterwit. Một cuộc tranh luận đến khản cổ đã xảy ra sau đó. “Không có gì là tội lỗi hay đáng xấu hổ khi ngồi đan một đôi bít tất” - người chồng nói. Cô vợ đáp lại: “Anh có thể lấy những người phụ nữ khác trong thành phố này đủ nghèo đề biết đan lát!” Sau cùng, Celia bỏ đi “vì biết rằng, một người đàn ông và vợ anh ta có xu hướng cãi nhau dữ dội hơn trước mặt người lạ so với khi chỉ có họ với nhau”. Sau đó, cô nghe tin cuộn sợi đan cuối cùng đã bị ném vào lò sưởi.
Celia Cô đơn (hay đúng hơn là Franklin) tiếp tục khiển trách Franklin về việc cho đăng nhiều bài báo về phụ nữ buông thả hơn là đàn ông buông thả. “Nếu được phép chỉ trích, tôi có thể cung cấp cho ông đầy đủ ví dụ” - cô nói và sau đó lập tức đưa ra một danh sách dài những người đàn ông lãng phí thời gian chơi bi-a, cá ngựa hay đánh cờ và sắm quần áo màu mè. Cuối cùng, Franklin đã khéo léo chọc vào tấm mạng che bằng tên giả của mình. “Có những lỗ thủng đủ để bị soi ra trên áo khoác của ông cũng như nhiều tấm áo khác; và đám người bị những lời châm chọc ông sắp sửa xuất bản chế giễu sẽ chẳng quan tâm nhiều lắm đến việc ai đã in chúng.”29
Một ghi chép nghiêm túc hơn và ít hiện đại hơn được Franklin xuất bản bốn tuần sau khi cưới, “Các quy tắc và châm ngôn để củng cố hôn nhân hạnh phúc”. Anh bắt đầu với việc ca tụng hôn nhân là “nền tảng lâu bền và vững chắc nhất của sự yên ổn và tình yêu”. Chính sự dại dột của một số người khi bước vào hôn nhân đã khiến nó thành ra “trạng thái bất hạnh và đau khổ thấm thía nhất”. Anh xin lỗi vì hướng lời khuyên tới phụ nữ vì thực tế đàn ông mắc lỗi nhiều hơn; “nhưng vì tôi quý trọng họ và có lẽ họ dễ đón nhận và thực hiện nó tốt hơn”.
Trong số các quy tắc anh đưa ra gồm có: tránh nghĩ cách điều khiển chồng, không bao giờ lừa dối anh ta hoặc khiến anh ta thấy không thoải mái, chấp nhận anh ta “là con người chứ không phải thiên thần”, “mỗi sáng quyết tâm sống hiền hậu và vui vẻ”, ghi nhớ từ “tuân phục” đã thề khi kết hôn, không tranh cãi với anh ta và “không để bản thân thỏa mãn một cách tầm thường với các sở thích riêng”. Franklin tin rằng hạnh phúc và sức mạnh của một người đàn bà “không bắt nguồn từ đâu khác ngoài sự tôn trọng và tình yêu của chồng”. Do đó, người vợ nên “chia sẻ và xoa dịu những nỗi lo âu của chồng, che giấu những phút yếu đuối của anh ta bằng tất cả sự cần mẫn”. Còn về vấn đề tình dục, anh viết: “Hãy để sự dịu dàng trong tình cảm vợ chồng của bạn được thể hiện với nỗi thẹn thùng, tinh tế và cẩn trọng nhất để nó rõ ràng và hoàn toàn khác biệt với sự trìu mến đầy thủ đoạn của một cô gái điếm.”30
Các tiểu luận và thư từ giấu tên của Franklin thể hiện rõ anh mang một số quan điểm truyền thống về đời sống vợ chồng khi tiến tới hôn nhân với Deborah: vợ nên đóng vai trò hỗ trợ chồng, các gia đình nên sống căn cơ và cần mẫn. May mắn cho anh, Deborah cũng có xu hướng chia sẻ các quan điểm này. Nói chung, cô có thẩm mỹ khá đơn giản, sẵn sàng làm việc và luôn muốn chiều lòng nửa kia. Tất nhiên, với những gì anh thể hiện, điều tương tự cũng đúng khi nói về anh lúc đó.
Cứ thế, họ quen dần với sự hợp tác vừa nhiều hơn lại vừa ít hơn một cuộc hôn nhân truyền thống. Là một cộng sự không biết mệt mỏi ở nhà và trong công việc, Deborah phụ trách sổ sách và mở rộng đầu mục hàng hóa của cửa hiệu. Cô thêm vào các loại thuốc mỡ của mẹ, xà phòng in hình mũ miện do họ hàng của Franklin ở Boston sản xuất, cà phê, sô-cô-la, trà, nghệ tây, pho-mát, cá và rất nhiều đồ khô khác. Dưới ánh nến, cô căng mắt khâu sổ sách và may vá quần áo. Dù việc đánh vần và chọn từ của cô cho thấy hạn chế về học vấn - người canh gác nhà thờ (sexton) bị cô viết nhầm thành seek stone và một vị khách bị cô ghi chú “Mary kẻ theo Giáo hội La Mã” - những nội dung phong phú được cô đưa vào sổ sách của cửa hiệu là nguồn tư liệu thú vị về thời đại đó.
Tình cảm của Franklin dành cho vợ lớn dần với niềm tự hào của anh về tính cần cù của cô. Nhiều năm sau, khi ở London và tranh luận trước Viên Thứ dân rằng các sắc thuế bất công có thể dẫn tới sự tẩy chay các nhà sản xuất Anh quốc, Franklin khẳng định anh chưa khi nào thấy tự hào hơn thời còn là một thương nhân trẻ và chỉ mặc quần áo do vợ may vá.
Nhưng Deborah không chỉ là một người bạn đời biết phục tùng, đối xử nhu mì với người đàn ông cô thường gọi là “đứa bé thân thương” (Franklin cũng thường gọi cô như vậy). Trước mặt mọi người, đôi khi cô còn gọi anh là “Pappy”. Cô là người nóng tính và Franklin luôn bảo vệ cô về điều này. “Cháu chưa biết tất cả các bà vợ đều luôn đúng sao?” - anh hỏi cháu trai mình trong một lần tranh cãi với Deborah. Không bao lâu sau đám cưới, anh đã viết một bài có nhan đề “Một người vợ gắt gỏng” để bảo vệ những người phụ nữ quyết đoán. Anh cho rằng, chính họ thường là “những người tháo vát trong các công việc gia đình, những người nội trợ đặc biệt tốt và rất quan tâm tới sở thích của chồng”.31
Trong bức họa duy nhất còn lại của Deborah, cô có vẻ là một phụ nữ nhạy bén và quyết đoán, tuy hơi tròn trịa và thô ráp nhưng không phải không hấp dẫn. Trong một lá thư Franklin viết cho vợ nhiều năm sau từ London, anh mô tả một chiếc cốc anh đang gửi đi và so sánh nó với cô: “Anh thích nó ngay từ ánh nhìn đầu tiên vì nghĩ nó trông giống một phu nhân mũm mĩm, vui tươi, sạch sẽ và ngăn nắp trong một chiếc áo choàng bằng vải in hoa màu xanh pha trắng gọn gàng; một người hiền hậu, đáng yêu và chỉ có mình anh trong tâm tưởng - giống như một ai đó.”
Mối quan hệ ấy không khơi nguồn cho những bài thơ lãng mạn tuyệt vời mà trở thành một bản ballad đáng yêu như anh đã từng mượn lời Richard Nghèo Khổ để nói ra. Trong đó, Franklin tôn thờ “Joan mộc mạc của tôi” và sung sướng với ngày cô là của riêng mình. Trong lời hát có những câu như sau:
Bạn sẽ không nghe thấy một lời ngợi ca vóc dáng, gương mặt hay đôi mắt nàng,
Về những ngọn lửa hay những mũi tên ái tình:
Tôi ngưỡng mộ cái đẹp nhưng biết trân trọng đức hạnh,
Thứ sẽ không phai tàn sau bảy mươi năm...
Nàng luôn giữ mái nhà yên bình và ngăn nắp,
Luôn thận trọng tiết kiệm những đồng tiền tôi kiếm được;
Nhưng vẫn vui vẻ tiêu pha và mỉm cười với bạn hữu mà tôi tiếp đãi...
Những người hoàn hảo nhất đôi khi cũng mắc lỗi và Joan của tôi cũng vậy,
Nhưng khi đó chúng cực kỳ nhỏ,
Và giờ đây khi đã quen với chúng, chúng cũng giống như những lỗi lầm của tôi.
Tôi gần như chẳng còn nhận ra chúng nữa.
Sau nhiều năm, Franklin vượt Deborah về nhiều mặt. Cho dù họ chia sẻ nhiều giá trị, anh có tính thời đại và trí tuệ hơn cô hoặc hơn cô từng muốn rất nhiều. Bằng chứng cho thấy có thể cô sinh ra ở Birmingham và được đưa đến Mỹ khi còn nhỏ, nhưng có lẽ từ lúc trưởng thành, cô chưa từng rời khỏi Philadelphia dù chỉ một đêm. Cô sống phần lớn cuộc đời ở Phố Chợ, cách ngôi nhà nơi cô lớn lên chỉ hai dãy phố.
Trái lại, Franklin là người thích ngao du, và dù những năm sau này anh đôi khi bày tỏ mong ước có cô đi cùng, anh biết rằng cô sẽ từ chối. Franklin phần nào cảm nhận được Deborah không thấy dễ chịu trong địa hạt mới của anh. Vì thế, về mặt này, họ tôn trọng sự độc lập của nhau, có lẽ đến mức thành sai lầm. Trong 17 năm cuối đời của Deborah, Franklin vắng nhà suốt 15 năm, kể cả khi vợ mất. Tuy nhiên, tình cảm họ dành cho nhau, sự tôn trọng và chung thủy của họ, cũng như nhận thức của họ về sự hợp tác sẽ mãi trường tồn.32
FRANCIS
Tháng 10 năm 1732, hai năm sau lễ cưới, Deborah hạ sinh một đứa con trai. Francis Folger Franklin, thường được gọi là Franky, được cả cha lẫn mẹ yêu quý: được vẽ chân dung khi còn là trẻ sơ sinh, và cha cậu tìm một gia sư về dạy cả hai con khi Francis 2 tuổi và William khoảng 4 tuổi. Suốt đời mình, Franklin sẽ phải kinh ngạc trước những kỷ niệm về cậu bé Franky đặc biệt, sớm phát triển và rất hiếu kỳ.Than ôi, số phận định sẵn đây toàn là những kỹ niệm đau buồn. Một trong những thảm kịch đau đớn nhất đời Franklin là chuyện Franky mất vì bệnh đậu mùa khi vừa tròn 4 tuổi. Trên bia mộ của con trai, Franklin khắc một dòng giản dị: “Con là niềm vui sướng của tất cả những ai từng biết con.”
Điều mỉa mai cay đắng là Franklin đã trở thành một người nhiệt thành ủng hộ việc tiêm chủng ngừa đậu mùa sau khi nó bị chế giễu trên Tuần báo New England vào thời gian anh làm việc với James. Trong những năm trước khi Franky ra đời, anh đã viết những bài xã luận trên tờ Nhật báo Pennsylvania để ủng hộ các đợt tiêm chủng và công bố số liệu thống kê cho thấy tính hiệu quả của chúng. Chẳng hạn, vào năm 1730, anh viết bài tường thuật về một trận dịch ở Boston, trong đó đa phần những ai từng được tiêm chủng đều sống sót.
Anh đã lên kế hoạch cho Franky tiêm chủng nhưng phải hoãn lại vì cậu bé bị ốm vì mắc chứng kiết lỵ. Trong tin buồn đăng trên báo một tuần sau khi cậu bé mất, anh gạt bỏ những lời đồn rằng cậu chết bị tiêm chủng. “Nhân đây, tôi xin chân thành tuyên bố rằng con trai tôi chưa hề được tiêm chủng mà bị rối loạn theo cách thường thấy ở sự truyền nhiễm.” Anh tiếp tục khẳng định niềm tin rằng tiêm chủng là một “thủ thuật an toàn và hữu ích”.
Ký ức về Franky là một trong số những điều ít ỏi làm Franklin phải suy tư đau đớn. Nhiều năm sau, khi đang ở London và nhận được thư của Jane báo tin về những đứa cháu trai, Franklin đáp rằng điều đó “vẫn gợi lại nơi tâm trí anh hình ảnh đứa con trai đầu lòng Franky, cho dù nó đã qua đời 36 năm nay. Kể từ đó, anh hiếm khi thấy có gì sánh bằng Franky, và cho tới giờ anh vẫn không thể không nhớ đến nó mà không nén tiếng thở dài.”33
Nỗi đau thương còn thấm thía hơn vì khi Franky còn sống, Franklin từng viết trên tờ báo của anh một bài bình luận sắc sảo như thường lệ về “Tử vong ở trẻ sơ sinh” với duyên cớ là cái chết của một đứa trẻ hàng xóm. Dựa trên những gì anh quan sát ở cậu bé Franky bé nhỏ, anh mô tả vẻ đẹp kỳ diệu của trẻ thơ: “Thật đáng tò mò khi thấy các chi vận động tới lui trên mỗi khớp nối và bản lề. Làm sao có thề nắm bắt được từng dây thần kinh, tĩnh mạch, động mạch, sợi cơ và các bộ phận nhỏ bé hiện diện ở từng đứa trẻ!... Đó là cả một sự trù tính vô tận để đảm bảo sự sống, nuôi dưỡng bản năng và truyền lại đặc tính tương tự cho các sinh thể tương lai!” Rồi Franklin tự hỏi, nỡ lòng nào “Đấng Sáng thế lòng lành và từ bi lại tạo ra hằng hà sa số cỗ máy tinh xảo như thế mà không để chúng đi đến cuối đường hay phục vụ mục đích nào mà chỉ để đặt vào các buồng tối nơi đáy mồ” trước khi chúng đủ lớn để biết thế nào là tốt, xấu; biết phụng sự cộng đồng và Thiên Chúa. Anh cho rằng câu trả lời “nằm ngoài tầm hiểu biết về lẽ sinh tử của con người... Khi mẹ thiên nhiên cho chúng ta nước mắt, Người cũng phép chúng ta được khóc than.”34
ĐỊNH NGHĨA THIÊN CHÚA
Lần gần nhất chúng ta nhắc tới đời sống tâm linh của Franklin là khi anh viết tác phẩm thiếu thấu đáo Luận văn về Tự do và Tất yếu ở London. Cuốn sách nhỏ vốn được in ra để đả phá tư tưởng về ý chí tự do và phần lớn thần học Calvin, sau đó đã bị anh chối bỏ như một “lỗi in ấn” đáng xấu hổ. Điều này khiến anh rơi vào tình thế lúng túng về tôn giáo. Anh không còn tin ở giáo lý từng tiếp thu từ nền giáo dục Thanh giáo, dạy rằng con người ta chỉ được cứu rỗi bởi hồng ân Thiên Chúa chứ không phải nhờ làm việc tốt. Song anh không thoải mái khi phải ủng hộ phiên bản đơn giản và sơ khai của chủ nghĩa tự nhiên thần giáo, tín điều của thời kỳ Khai sáng, cho rằng nhận thức lý tính và nghiên cứu về tự nhiên (thay vì mặc khải của thần thánh) sẽ cho chúng ta biết tất cả về Đấng Sáng thế. Các nhà tự nhiên thần giáo mà anh biết, kể cả chính anh khi còn trẻ, hóa ra đều là những người ranh mãnh về mặt đạo đức.Từ khi trở lại Philadelphia, Franklin ít bộc lộ sự hứng thú với tôn giáo có tổ chức, và đối với việc đi lễ ngày Chủ nhật thì còn ít hơn nữa. Nhưng anh vẫn giữ một số niềm tin tôn giáo cơn bản, chẳng hạn “sự tồn tại của Thần tính” và “làm điều thiện cho con người là cách phụng sự Chúa được hoan nghênh nhất”. Anh khoan dung với mọi giáo phái, nhất là các giáo phái nỗ lực cải biến thế giới trở nên tốt đẹp hơn. Anh luôn cố gắng “tránh mọi lời bàn luận có xu hướng làm suy giảm ý niệm tốt đẹp mà một người có thể dành cho tôn giáo của người đó”. Vì tin nhà thờ có ích cho cộng đồng, anh nộp tiền phí hằng năm để hỗ trợ mục sư của thành phố, Jedediah Andrews.35
Một lần, Andrews thuyết phục anh thử đến nghe các bài giảng ngày Chủ nhật và Franklin làm theo trong năm tuần. Tiếc là anh thấy các bài giảng “vô vị và không giúp mở mang đầu óc vì không có bất cứ nguyên tắc đạo đức nào được ghi khắc hay thực thi. Dường như mục tiêu của chúng là biến con người thành các tín đồ Giáo hội Trưởng lão ngoan đạo thay vì các công dân tốt.”* Buổi cuối cùng anh đến dự, bài đọc trích từ Kinh Thánh (Philippians 4:8) liên quan đến đạo đức. Vốn rất tâm huyết với chủ đề này, Franklin hy vọng Andrews sẽ luận giải chi tiết khái niệm đó trong bài giảng. Đáng tiếc, mục sư chỉ chăm chăm vào giáo lý và học thuyết mà không đưa ra một suy nghĩ thực tế nào về đạo đức. Franklin thấy “chán ngấy” và lại dành các ngày Chủ nhật để tự đọc sách và viết lách.36
Franklin bắt đầu xác định niềm tin tôn giáo của mình qua một loạt tiểu luận và thư tín. Trong đó, anh chọn một tín ngưỡng từ đây sẽ đi theo anh suốt đời: một phiên bản tự nhiên thần giáo có phẩm giá, tăng cường tính đạo đức và thực tế. Không như đa số các nhà tự nhiên thần giáo thuần túy, theo Franklin, niềm tin rằng lòng trung thành với Thiên Chúa sẽ soi rọi những việc làm hằng ngày của con người là một điều hữu ích. Nhưng cũng như các nhà tự nhiên thần giáo khác, đức tin của anh tránh xa giáo lý có tính bè phái, linh hồn thiêu đốt, cuộc tìm kiếm trong sâu thẳm tâm hồn hoặc mối liên hệ cá nhân với Chúa.37
Tiểu luận có nội dung tôn giáo đầu tiên trong số đó là một tác phẩm “vì mục đích sử dụng cá nhân”, được viết vào tháng 11 năm 1728, có nhan đề “Các khoản mục của niềm tin và các hành vi của tôn giáo ”. Không giống áng luận văn anh viết tại London, vốn tắc nghẽn vì bắt chước thứ triết học phân tích rối rắm, tác phẩm này nhã nhặn và thoáng hơn. Anh bắt đầu với một lời khẳng định giản dị: “Tôi tin vào sự tồn tại của một Đấng Tối Cao toàn mỹ.”38
Đó là một phát biểu quan trọng: một số nhà tự nhiên thần giáo ủy mị hơn thậm chí cảm thấy ngại ngùng khi đi xa đến thế. Như Diderot từng châm biếm, một người theo tự nhiên thần giáo chẳng qua chưa sống đủ lâu để thành vô thần. Franklin sống rất lâu và cho dù John Adams và nhiều người khác nghi ngờ anh là một người vô thần kín tiếng, anh luôn nhắc đi nhắc lại, và thực tế càng lúc càng khẳng định lòng tin của mình với Thiên chúa tối cao.
Theo truyền thống của tự nhiên thần giáo, Đấng Tối Cao của Franklin có phần xa vời và không gắn với sự khó nhọc hằng ngày của con người. “Tôi thiết tưởng bản thân mình quá sức phù phiếm nếu tin rằng Đấng Tối Cao toàn mỹ không có chút gì đáng kể giống với con người, dù là ở khía cạnh nhỏ nhất”, anh viết. Anh thêm vào đó niềm tin của mình rằng “Người Cha Vô Hạn” luôn ở trên cao, chờ đợi những lời ngợi ca hay khẩn cầu của chúng ta.
Tuy nhiên, Franklin ngờ rằng mỗi con người đều cảm nhận được trong họ nỗi khát khao và bổn phận sâu sắc - được thờ phụng một Thiên Chúa gần gũi hơn. Do đó, anh viết, Đấng Tối Cao đã tạo ra những vị chúa nhỏ bé hơn và có tính cá nhân hơn để người trần thờ phụng. Và Franklin đã có được điều này theo hai cách: kết hợp quan niệm về Thiên Chúa như một Căn Nguyên xa vời của thần giáo tự nhiên với niềm tin của các tôn giáo khác, vốn tôn thờ một vị Chúa gắn bó trực tiếp với đời sống con người. Kết quả là, Đấng Tối Cao có thể hiện ra theo nhiều cách khác nhau tùy vào nhu cầu của những người thờ phụng khác nhau.
Một số nhà bình luận - nổi bật là A. Owen Aldridge - đã diễn giải điều này theo nghĩa đen và cho rằng Franklin ủng hộ một kiểu đa thần giáo, tin rằng có một nhóm chúa tể nhỏ coi sóc các địa hạt và hành tinh khác nhau. Đôi khi trong đời mình, Franklin đề cập đến “các vị chúa” nhưng việc để cập sau này thường khá tình cờ và thông tục; hơn nữa có lẽ khi đó Franklin nói theo cách tượng trưng chứ không phải theo nghĩa đen như trong tiểu luận năm 1728. Như Kerry Walters đã viết trong cuốn Benjamin Franklin và các vị Chúa của mình: “Thật sai lầm khi cho rằng những gì Franklin viết trực tiếp ám chỉ thuyết đa thần theo nghĩa đen. Kết luận này vừa kỳ quặc về mặt triết học lại thiếu xác đáng về mặt nguyên văn.” (Franklin đôi khi cảm thấy việc đặt niềm tin vào một vị Chúa còn khó khăn, nên ít có khả năng anh lại đi tin tưởng vào nhiều vị Chúa.)39
Franklin tiếp tục phác thảo cách thức anh nhìn nhận và thờ phụng vị Chúa của riêng mình. Điều này bao gồm việc dâng những lời cầu nguyện thích hợp và Franklin đã tạo ra một nghi thức tế lễ hoàn toàn do anh biên soạn. Nó cũng đòi hỏi việc cư xử có đạo đức và Franklin tiến hành phép tính toán đạo đức rất thực tế và có phần vị lợi: “Tôi tin Ngài sẽ hài lòng và vui mừng chứng kiến niềm hạnh phúc của những con người do Ngài sáng tạo ra; và vì nếu thiếu đạo đức, con người ta không thể có được hạnh phúc trong thế giới này, tôi tin chắc Ngài sẽ vui mừng khi thấy tôi sống có đạo đức.”
Trong một bài viết sau đó anh đọc cho bạn hữu trong Hội Kín, Franklin làm rõ niềm tin tôn giáo của mình bằng việc khảo sát vấn đề “sự phù hộ của Chúa” - phạm vi mà Thiên Chúa tham gia vào các vấn đề trần tục. Các tín hữu Thanh giáo tin vào một sự tham gia tỉ mỉ và mật thiết mà họ gọi là “sự phù hộ đặc biệt” nên thường cầu nguyện để Chúa can thiệp giúp các việc rất cụ thể. Như chính Calvin đã nói: “Việc cho rằng Ngài tĩnh tại ngự trên thiên đàng mà không quan tâm đến thế giới sẽ thô bạo cướp đi tất cả quyền lực thật sự của Thiên Chúa.” Trái lại, đa số các nhà tự nhiên thần giáo tin vào một “sự phù hộ đại thể”. Theo họ, Chúa bày tỏ ý chí của mình thông qua các quy luật tự nhiên mà Ngài đang cho vận hành thay vì việc quản lý vi mô đời sống hằng ngày của con người.
Như thường lệ, Franklin tìm kiếm một giải pháp thực tế trong bài phát biểu tại Hội Kín được anh gọi là “Bàn về sự phù hộ của Thiên Chúa trong quản trị thế giới”. Anh mào đầu bằng việc xin lỗi “những người bạn rượu thân thiết” vì tự nhận thấy bản thân “chưa đủ phẩm chất” để bàn về vấn đề tâm linh. Franklin thổ lộ, chính từ việc nghiên cứu tự nhiên, anh đã tin rằng Thiên Chúa tạo ra vũ trụ và là đấng toàn trí, toàn mỹ, toàn năng. Sau đó, anh xem xét bốn khả năng: (1) Thiên Chúa đã tiên liệu và tiền định mọi thứ sẽ xảy ra, loại trừ hết mọi khả năng tồn tại ý chí tự do; (2) Ngài để sự vật vận hành theo các quy luật tự nhiên và theo ý chí tự do của các tạo vật mà Ngài tạo ra và không bao giờ can thiệp; (3) Ngài tiền định một số sự vật và để các sự vật khác vận hành theo ý chí tự do nhưng vẫn không bao giờ can thiệp; (4) “Ngài đôi khi can thiệp bằng sự phù hộ đặc biệt của mình và loại trừ các hệ quả có thể nảy sinh từ bất cứ nguyên do nào trên đây.”40
Cuối cùng, Franklin đã quyết định lựa chọn khả năng thứ tư, song không phải vì anh có thể chứng minh nó; trái lại, đó là kết quả của một quá trình loại trừ và của ý thức cho rằng khi đó đức tin sẽ hữu ích nhất với những ai nắm giữ. Việc lựa chọn bất kỳ một trong ba khả năng đầu tiên đều đồng nghĩa Thiên Chúa không phải là đấng toàn trí, toàn mỹ, toàn năng. “Vì thế chúng ta nhất thiết phải đi tới khả năng thứ tư” - anh viết. Anh thừa nhận nhiều người sẽ thấy mâu thuẫn khi vừa tin Thiên Chúa là đấng toàn năng vừa tin con người có ý chí tự do (đó là câu đố khiến anh lúng túng trong luận văn ở London mà anh từng viết sau đó lại từ bỏ). Nhưng Franklin lập luận, nếu Thiên Chúa thật sự toàn năng, chắc chắn Ngài có thể tìm ra cách thức để trao cho các tạo vật mà Ngài đã tạo nên theo hình ảnh của chính mình một phần ý chí tự do của Ngài.
Kết luận của Franklin kéo theo các hệ quả thực dụng đúng như kỳ vọng - con người nên kính yêu Thiên Chúa và “cầu nguyện để được Ngài chiếu cố và che chở”. Tuy vậy, anh không quá xa rời thuyết thần giáo tự nhiên. Anh không mấy tin vào tác dụng của những lời cầu nguyện về phép lạ hay những thỉnh cầu cụ thể. Trong một lá thư bất kính Franklin gửi cho anh trai John sau này, anh tính toán rằng 45 triệu lời cầu nguyện đã được xướng lên trên khắp New England hầu mong chiến thắng đội quân đồn trú do Pháp yểm trợ ở Canada. “Nếu anh không thành công, em lo rằng chừng nào còn sống, trong các tình huống như thế này, em sẽ luôn giữ ý kiến khác với quan điểm bàng quan của các tín đồ Giáo hội Trưởng lão. Thật sự, khi tấn công các thành phố mạnh, chúng ta cần dựa vào hành động hơn là đức tin.
Trên tất cả, niềm tin của Franklin đều bị chi phối bởi chủ nghĩa thực dụng. Câu cuối trong bài tham luận trước Hội Kín nhấn mạnh rằng, những ai tin vào cách diễn giải về sự phù hộ của Chúa và ý chí tự do như anh đề xướng sẽ có ích cho xã hội: “Tín ngưỡng này sẽ chỉnh đốn mạnh mẽ các hành vi của chúng ta, đem lại cho chúng ta sự yên bình và tĩnh tại trong tầm hồn và khiến chúng ta trở nên nhân từ, hữu dụng và có lợi đối với người khác.”41
Không phải mọi suy tưởng tôn giáo của Franklin đều nghiêm túc như vậy. Cùng khoảng thời gian với bài phát biểu tại Hội Kín, anh còn viết cho tờ Nhật báo một truyện ngắn có nhan đề “Một cuộc phán xử Phù thủy tại Núi Thánh”. Đó là một câu chuyên thú vị, giễu nhại đức tin Thanh giáo huyền bí, vốn xung đột với thực nghiệm khoa học. Những người bị buộc tội phù thủy phải trải qua hai phép thử: đứng lên bàn cân mà đầu bên kia là cuốn Kinh Thánh và bị trói tay chân trước khi quẳng xuống sông để xem họ có nổi được không. Họ đồng ý thực hiện các phép thử này với điều kiện hai trong số những người buộc tội cùng thực hiện để đối chứng. Franklin đã tả lại quá trình này với các chi tiết sống động về sự long trọng ngớ ngẩn. Tất cả những người buộc tội và bị buộc tội đã vượt qua phép thử thứ nhất - họ đều nặng hơn cuốn Kinh Thánh. Nhưng cả hai người bị buộc tội và một người buộc tội đã không chìm xuống sông, điều đó cho thấy họ là phù thủy. Những người quan sát thông minh hơn kết luận rằng đa số mọi người đều nổi tự nhiên. Những người khác không dám chắc điều đó nên quyết định đợi đến mùa hè khi có thể tiến hành thí nghiệm này mà các đối tượng không cần mặc quần áo.42
Sự tự do tư tưởng của Franklin làm gia đình anh mất bình tĩnh. Khi nhận được thư của cha mẹ bày tỏ mối quan ngại về “những quan điểm sai trái” của anh, Franklin đáp lại bằng một lá thư vạch rõ một triết lý tôn giáo dựa trên lòng khoan dung và tính hữu dụng, điều sẽ theo anh suốt đời. Franklin viết rằng bất cứ ai cũng là kẻ hão huyền nếu cứ khăng khăng cho “mọi học thuyết mà anh ta ủng hộ là đúng và mọi học thuyết mà anh ta phản bác là sai”. Cũng có thể nói điều tương tự về các tôn giáo khác nhau. Theo nhà thực dụng chủ nghĩa trẻ tuổi, các tôn giáo nên được đánh giá thông qua tính hữu dụng của chúng: “Con thiết nghĩ các ý kiến nên được phán xét bằng ảnh hưởng và tác dụng của chúng. Nếu người nào giữ một ý kiến không có xu hướng làm đức hạnh của anh ta giảm đi và sự đồi bại của anh ta tăng lên, có thể kết luận rằng ý kiến của anh ta không hề nguy hại. Đây cũng là điều con hy vọng đúng ở trường hợp của con.” Franklin không mấy để tâm đến các khác biệt về mặt giáo lý mà mẹ anh e ngại. “Con nghĩ tôn giáo thiết thân đã luôn phải chịu tổn thất khi tính chính thống được đặt lên trên đạo đức. Và Kinh Thánh đã trấn an con rằng, vào ngày cuối cùng con người sẽ bị phán xét không phải bởi những gì chúng ta đã nghĩ, mà bởi những gì chúng ta đã làm... xem chúng ta có làm điều gì tốt đẹp cho các đồng loại ở chung quanh mình. Hãy đọc Phúc âm Matth 26.” Cha mẹ anh, vốn có phần thông thạo Kinh Thánh hơn, nghĩ rằng chắc hẳn anh muốn nhắc đến Phúc âm Matthew 25. Tuy vậy, cuối cùng họ đã thôi lo lắng về những tư tưởng dị giáo của anh.43
KẾ HOẠCH HOÀN THIỆN ĐẠO ĐỨC
Đối với những ai tôn thờ lẫn phỉ báng Franklin, tiếng tăm lịch sử của anh được định hình một phần lớn qua lời kể trong cuốn tự truyện về kế hoạch lừng danh anh đề ra để đạt đến “sự hoàn hảo về đạo đức”. Sự nỗ lực khá kỳ lạ này đòi hỏi anh thực hành liên tục một danh mục các đức tính. Việc đó dường như vừa chân thành lại vừa máy móc đến mức người ta không thể không ngưỡng mộ hoặc mỉa mai anh. Chính tiểu thuyết gia D. H. Lawrence về sau đã chế nhạo: “Anh ta lập ra cho bản thân một danh sách các đức tính rồi để chúng chạy nước kiệu bên trong như một con ngựa xám trên bãi chăn thả”.
Bởi thế, rất cần lưu ý các dấu hiệu của sự châm biếm và tự trào trong những dòng hồi ức hài hước mà Franklin viết khi đã 79 tuổi về thứ được gọi khôi hài là “kế hoạch táo bạo và gian khổ để đạt đến sự hoàn hảo về đạo đức”. Lối miêu tả của Franklin khi đó pha chút giọng điệu thích-thú-với-bản-thân-hồi-trẻ - điều có thể nhận ra trong các mẩu chuyện tiêu khiển mà Franklin viết ở Pháp vào cùng thời gian khi phần này của cuốn tự truyện đang được thảo ra. Tuy nhiên, nên lưu ý rằng, có lẽ khi còn trẻ Franklin nhìn nhận chương trình hoàn thiện đạo đức của mình bằng sự chân thật đáng yêu và thậm chí vẫn tự hào về giá trị của nó khi đã về già.
Franklin bắt đầu cuộc kiếm tìm của mình vào khoảng thời gian khi anh ngừng tham dự các buổi lễ của Giáo hội Trưởng lão vì cảm thấy chưa thỏa mãn và tự vạch ra giáo lý cho bản thân. Sự nỗ lực này mang tính thực dụng điển hình. Nó không hề là một lối triết lý hóa mơ hồ và cũng không dẫn chiếu tới bất cứ học thuyết tôn giáo nào. Như anh sau này nhớ lại và tự hào, nó không chỉ có tác dụng khích việc sống có đạo đức mà còn là một bản hướng dẫn thực tế cách thức đạt được mục tiêu đó.
Đầu tiên, anh lập ra danh mục 12 đức tính mà anh cho là đáng ao ước và với mỗi đức tính anh thêm vào một định nghĩa ngắn gọn:
Chừng mực. Đừng ăn đến khi thấy uể oải; đừng uống đến khi thấy lâng lâng.
Yên lặng: Chỉ nói những gì có lợi cho người khác hoặc bản thân; đừng lãng phí những cuộc chuyện trò.
Ngăn nắp: Dành cho mỗi đồ vật một vị trí riêng, dành cho mỗi công việc một thời gian riêng.
Quả quyết: Quyết tâm thực hiện những gì phải làm và làm bằng được những gì đã quyết tâm.
Căn cơ: Chỉ chi tiêu những gì có ích cho người khác hoặc chính mình (nghĩa là không lãng phí thứ gì).
Cần cù: Đừng lãng phí thời gian, luôn sử dụng nó vào một việc có ích; cắt bỏ mọi hành động không cần thiết.
Chân thành: Đừng làm đau người khác bởi sự giả dối; luôn suy nghĩ trong sáng và công tâm; một khi bạn đã nói thì phải nói phù hợp hoàn cảnh.
Công bằng: Đừng đối xử bất công với ai hoặc đừng bỏ sót những điều lợi mà bạn có nghĩa vụ phải làm.
Tiết chế: Tránh cảm xúc cực đoan; nhẫn nại trước mọi sự xúc phạm gây phẫn uất chừng nào thấy xứng đáng.
Sạch sẽ: Không chấp nhận bất cứ sự thiếu sạch sẽ nào trên thân thể, áo quần hay thói quen.
Tĩnh tại: Không xao động trước những việc nhỏ mọn và những biến cố dù thông thường hay không tránh khỏi.
Trong sạch: Tiết chế tình dục trừ khi vì sức khỏe hoặc để duy trì nòi giống; không ham mê đến mức đờ đẫn, suy nhược hoặc làm tổn hại sự yên ổn và danh dự của người khác hay chính mình.
Một người bạn theo đạo Quaker tốt bụng đã cho anh biết anh bỏ sót mấy điểm: Franklin thường mắc phải thói “tự cao” - người bạn này nói và chỉ ra nhiều ví dụ - đồng thời anh cũng có “tính hách dịch và hơi xấc xược”. Do đó, Franklin đưa thêm “khiêm tốn” thành đức tính thứ 13 trong danh sách. “Bắt chước Chúa Jesus và Socrates.”44
Các định nghĩa cũng tiết lộ khá nhiều điều, thí dụ sự hiền hòa đáng chú ý khi nói về tính trong sạch. Bản thân nỗ lực này cũng vậy. Chính trong nỗi khao khát tự hoàn thiện mình qua lòng quyết tâm cần mẫn, nó cũng thể hiện tính cách Mỹ đầy say mê.
Franklin nhấn mạnh vào những điểm có thể giúp anh thành công trong cuộc sống thay vì những điểm có thể đề cao tâm hồn anh với đời sau. “Franklin tán dương một bộ chuẩn mực đạo đức mang đặc trưng của giới tư sản”, nhà lý thuyết xã hội David Brooks viết. “Đó không phải là các phẩm chất anh hùng. Chúng không đốt cháy lên trí tưởng tượng hoặc khơi dậy những đam mê giống như tình yêu danh giá của giới quý tộc. Chúng không phải là các phẩm chất tinh thần đặc biệt nhưng chúng thực tế và dân chủ.”
Như Edmund Morgan và nhiều người khác đã chỉ ra, bộ chuẩn mực đạo đức này có phần hơi ích kỷ. Thí dụ, nó không nhắc đến sự nhân từ hay lòng nhân ái. Nhưng nói cho công bằng, chúng ta cần nhớ rằng đây chỉ là kế hoạch tự hoàn thiện bản thân của một thương gia trẻ chứ không phải là lời tuyên bố về giá trị đạo đức của anh ta như đã bị thổi phồng lên. Đối với anh, sự nhân từ đã và tiếp tục là một lý tưởng thúc đẩy; còn lòng nhân ái, như Morgan lưu ý, “thực chất là kim chỉ nam của cuộc đời Franklin”. Anh đã nhiều lần khẳng định giáo lý căn bản trong giá trị đạo đức của mình: “Làm điều thiện cho con người là cách phụng sự Chúa được hoan nghênh nhất.”45
Làm chủ được cả 13 đức tính này cùng một lúc là “nhiệm vụ khó khăn hơn so với những gì tôi đã tưởng tượng”, Franklin nhớ lại. Vấn đề là “trong khi tôi chú tâm để tránh lỗi sai này, tôi lại thường bị đột kích với một lỗi sai khác”. Bởi vậy, Frankin quyết định xử lý chúng như một người “có một khu vườn phải nhổ cỏ nhưng không thể cố gắng nhổ tất cả cỏ dại cùng một lúc vì điều đó vượt quá tầm tay và sức lực của anh ta. Ngược lại, anh ta sẽ chỉ nhổ mỗi lúc một luống mà thôi.”
Trên các trang của một cuốn sổ tay nhỏ, anh kẻ một bảng với bảy cột màu đỏ dành cho các ngày trong tuần và 13 dòng dành cho các đức tính. Mỗi lần vi phạm sẽ bị đánh dấu bằng một chấm đen. Tuần đầu tiên, anh tập trung vào tính chừng mực và cố gắng giữ dòng đó sạch sẽ trong khi không lo lắng gì về các dòng khác. Khi đức tính này đã được củng cố, anh có thể chuyển sự chú tâm sang dòng tiếp theo, yên lặng, và hy vọng rằng dòng chừng mực vẫn được giữ sạch sẽ. Trong vòng một năm, anh có thể thực hiện bốn lần chu kỳ 13 tuần như vậy.
“Tôi ngạc nhiên nhận thấy bản thân mắc rất nhiều lỗi hơn so với tôi tưởng”, anh tỉnh khô nhớ lại. Thực tế, cuốn sổ của anh đầy các lỗ nhỏ khi anh cố xóa các dấu chấm đề sử dụng lại trang giấy. Thế nên anh chuyển các bảng biểu của mình sang các phiến ngà đề có thể lau sạch dễ dàng.
Khó khăn lớn nhất mà Franklin gặp phải là tính ngăn nắp. Vốn là người luôm thuộm, cuối cùng anh quyết định rằng vì anh quá bận rộn và có trí nhớ đủ tốt nên không cần quá ngăn nắp. Anh tự so sánh mình với một người hối hả mang cây rìu đi lau chùi nhưng khi mất kiên nhẫn liền tuyên bố: “Tôi nghĩ tôi thích nhất một cây rìu hoen.” Hơn nữa, như anh hào hứng thuật lại, anh đã đưa ra một giải thích duy lý tiện lợi khác: “Có một thứ gì đó vờ như là lý trí cứ đôi lúc lại nhắc nhở tôi rằng, một sự tốt đẹp cực đoan như tôi đòi hỏi ở bản thân có thể là một kiểu thích chưng diện về đạo đức, điều sẽ khiến tôi trở nên lố bịch nếu để người khác biết được. Một nhân cách hoàn hảo sẽ có thể gặp phải cái bất tiện của việc bị ghen tị và ghét bỏ.”
Khiêm tốn cũng là một vấn đề đối với anh. “Tôi không thể ba hoa nói rằng đã đạt nhiều thành công trong thực tế ở đức tính này. Thế nhưng, về việc tỏ ra khiêm tốn thì tôi rất giỏi” - anh viết và nhớ lại điều từng kể trước đây về cách thức tạo ra vẻ ngoài cần cù khi anh tự kéo các cuộn giấy qua đường phố Philadelphia. “Dường như không có ham muốn bản năng nào của con người khó khuất phục bằng sự tự cao. Cứ che giấu nó, đấu tranh với nó, dìm nó xuống, đè nén nó, hành hạ nó đến mức nào bạn muốn, nó vẫn cứ tồn tại và lúc này hay lúc khác sẽ lộ ra và thể hiện mình.” Trận chiến với tính tự cao còn thách đố và khiến anh thích thú trong suốt đoạn đời còn lại. “Có lẽ có thể thấy điều đó ngay trong tự truyện này. Vì dù tôi có tưởng rằng mình đã hoàn toàn chế ngự được nó, biết đâu chính khi đó tôi lại đang tự cao về sự khiêm tốn của mình.”
Thật ra, anh luôn nuông chiều đôi chút kiêu hãnh khi nói về kế hoạch hoàn thiện đạo đức. Năm mươi năm sau, khi bông lơn với các quý bà ở Pháp, Franklin lôi những phiến ngà cũ ra để khoe các đức tính của mình. Điều này khiến một người bạn Pháp mừng quýnh khi được chạm vào “cuốn sách nhỏ quý giá này”.46
TÍN NGƯỠNG KHAI SÁNG
Kế hoạch theo đuổi đạo đức kết hợp với góc nhìn tôn giáo mà anh đồng thời xây dựng đã đặt nền tảng cho một tín ngưỡng mà anh theo đuổi suốt đời. Nó dựa trên chủ nghĩa nhân văn thực dụng và niềm tin vào một Chúa Trời nhân từ nhưng xa xôi, được phụng sự tốt nhất thông qua việc cư xử nhân từ với người khác. Những ý tưởng của Franklin không bao giờ đủ chín để trở thành một triết lý tôn giáo hay đạo đức sâu sắc. Anh tập trung vào việc tìm hiểu đạo đức hơn là ân huệ của Chúa và lấy sự hữu dụng duy lý thay vì đức tin tôn giáo làm cơ sở cho tín ngưỡng của mình.Góc nhìn của Franklin mang một số vết tích của nền giáo dục Thanh giáo, đáng chú ý nhất là xu hướng thiên về tính căn cơ, không sống giả tạo và niềm tin rằng Chúa trân trọng những người cần cù. Nhưng anh tách rời các khái niệm này khỏi tư tưởng Thanh giáo chính thống bàn về sự cứu rỗi những ai được Chúa chọn cùng các tín điều khác mà anh không thấy hữu ích cho việc hoàn thiện đạo đức nơi trần thế. Như A. Whitney Griswold, học giả Đại học Yale, đã nhận định - cuộc đời Franklin chứng tỏ “những gì mà việc các tập quán Thanh giáo khi tách rời đức tin Thanh giáo có thể đạt được”.
Anh ít hướng nội hơn rất nhiều so với Cotton Mather hoặc các tín đồ Thanh giáo khác. Thực tế, anh cười nhạo những cách bày tỏ đức tin ít phục vụ mục đích thế tục. Như Owen Aldridge viết: “Các tín hữu Thanh giáo được biết đến vì sự mặc tưởng bền bỉ của họ - luôn buồn phiền về các tội lỗi, dù có thật hay tưởng tượng, và đau khổ vì không chắc liệu họ có được cứu rỗi. Chắc chắn, tìm kiếm trong tâm hồn là điều Franklin không bao giờ làm. Người ta có thể nghiền ngẫm tác phẩm của ông từ trang đầu tới trang cuối mà không tìm thấy một dấu hiệu nào của sự khắc khoải về tinh thần.”47
Tương tự, anh cũng không mấy hữu ích cho tính chủ quan ủy mị của thời kỹ Lãng mạn, vốn đề cao những thứ gây xúc động hoặc truyền cảm hứng. Thời kỳ Lãng mạn bắt đầu manh nha ở châu Âu và tiếp đó là Mỹ vào cuối đời Franklin. Vì thế, anh đã phải hứng chịu sự phê phán từ các đại diện của thời kỹ Lãng mạn như Keats, Carlyle, Emerson, Thoreau, Poe và Melville.48
Thay vào đó, anh khớp vừa vặn với truyền thống của thời kỳ Khai sáng và thời đại Lý tính - nói đúng hơn, anh là đại diện tiêu biểu đầu tiên của nước Mỹ. Trào lưu này, vốn khởi phát ở châu Âu vào cuối thế kỷ 17, được đặc trưng bởi sự nhấn mạnh vào lý tính và thực nghiệm quan sát được, sự hoài nghi tính chất chính thống của tôn giáo và quyền lực thế tập cùng sự lạc quan về giáo dục và tiến bộ. Franklin thêm vào tập hợp trên các yếu tố thuộc chủ nghĩa thực dụng của riêng anh. Đúng như tiểu thuyết gia Henry Steele Commager cùng nhiều người khác nhận xét, anh có khả năng nhận thức rõ các nguồn năng lượng bên trong chủ nghĩa Thanh giáo và giải thoát chúng khỏi giáo lý cứng nhắc để chúng được nở rộ trong không khí tự do tư tưởng của thời kỳ Khai sáng.49
Franklin ít khi bày tỏ nhiều nhiệt thành trong các tác phẩm viết về tôn giáo suốt năm thập kỷ tiếp theo. Lý do chủ yếu là vì anh cảm thấy thật vô ích khi vật lộn với các câu hỏi lý thuyết mà không có chứng cứ thực nghiệm nào và do đó không có cơ sở duy lý để hình thành quan điểm. Đối với anh, các tiếng sét từ thiên đàng là thứ gì đó bị sợi dây diều thu hút và phải được nghiên cứu.
Kết quả là, anh trở thành người đề xướng lòng khoan dung. Anh cảm thấy việc chú mục vào những cuộc tranh luận về học thuyết thật sẽ chỉ gây chia rẽ và việc gắng sức đạt được sự chắc chắn về thần thánh nằm ngoài khả năng của phàm nhân. Anh cũng không cho rằng những nỗ lực đó có ích cho xã hội. Mục đích của tôn giáo là làm cho con người trở nên tốt đẹp hơn và cải biến xã hội nên với anh, giáo phái hay tín ngưỡng nào làm được điều đó đều được xem là tốt đẹp. Kể lại kế hoạch hoàn thiện đạo đức trong tự truyện, anh viết: “Trong đó không có dấu hiệu của một sự phân biệt giáo lý hay giáo phái nào. Tôi đã chủ động tránh việc đó để hoàn toàn tin rằng phương pháp của tôi thật sự hữu ích và có tính ưu việt, nó có thể phục vụ con người thuộc mọi tôn giáo. Và vì tôi dự định sẽ công bố nó lúc này hay lúc khác, tôi không đưa vào bất cứ nội dung nào có thể gây định kiến với bất cứ giáo lý của bất cứ giáo phái nào.”
Sự giản dị trong tín ngưỡng của Franklin đồng nghĩa với việc nó bị những kẻ ưa phức tạp coi thường và không đủ điều kiện được xếp vào loại triết lý quyên bác. Albert Smyth, người sưu tập hàng chồng tác phẩm của Franklin vào thế kỷ 19 đã nhận định: “Triết lý của ông không bao giờ đi xa hơn các châm ngôn thô mộc về tính khôn ngoan thế tục.” Nhưng Franklin thản nhiên thừa nhận các quan điểm tôn giáo và đạo đức của mình không dựa trên việc phân tích sâu xa hoặc tư duy siêu hình. Sau này, anh từng tuyên bố với một người bạn: “Tính thiếu vững chắc rất rõ rệt mà tôi nhận thấy trong các lập luận siêu hình khiến tôi chán ghét và tôi từ bỏ việc đọc hay học vì người khác hơn là để thỏa mãn chính mình.”
Điều làm anh thấy thỏa mãn hơn cả tư duy siêu hình, thơ ca hay các cảm xúc lãng mạn cao cả là việc nhìn nhận sự vật một cách thực dụng và thực tế. Liệu chúng có dẫn đến những hệ quả có lợi? Đối với anh, có mối liên hệ giữa đạo đức công dân và đạo đức tôn giáo, giữa việc phục vụ đồng loại và tôn vinh Thiên Chúa. Franklin không xấu hổ về sự giản dị của tín ngưỡng mà anh theo đuổi, như anh giải thích trong một bức thư ngọt ngào gửi vợ. “Chúa rất đỗi nhân từ với chúng ta”, anh viết. “Chúng ta hãy... bày tỏ sự hiểu thấu lòng nhân từ của Ngài bằng cách tiếp tục làm điều tốt đẹp cho các tạo vật đồng loại.”50
RICHARD NGHÈO KHỔ VÀ CON ĐƯỜNG ĐẾN GIÀU SANG
Được Franklin bắt đầu phát hành vào cuối năm 1732, Niên giám Richard Nghèo Khổ đã kết hợp hai mục tiêu của triết lý “làm giàu nhờ làm việc tốt”: kiếm tiền và khuyến khích đạo đức. Trong 25 năm tồn tại, nó đã trở thành kinh điển trào phúng vĩ đại đầu tiên của nước Mỹ. Nhân vật hư cấu Richard Saunders Nghèo Khổ và người vợ hay kêu ca của anh, Bridget - cũng giống các nhân vật trước đó như Silence Dogood, Anthony Afterwit và Alice Addertongue - đã góp phần định ra thứ về sau trở thành truyền thống chủ đạo trong tinh thần hài hước bình dân kiểu Mỹ: sự hóm hỉnh tinh nghịch theo lối ngây ngô và trí khôn ngoan giản đơn của các nhân vật bình dân. Họ tỏ vẻ ngậy thơ một cách duyên dáng nhưng lại biết châm biếm một cách sắc sảo các yêu sách của tầng lớp tinh hoa và sự nực cười trong cuộc sống hằng ngày. Richard Nghèo Khổ cùng các nhân vật khác “xuất hiện như những người bình dân mộc mạc tay không tấc sắt, đó là một cách tốt hơn để truyền tải các ý nghĩ tinh quái” - nhà sử học Alan Taylor nhận định. “Một loạt nhà văn khôi hài, từ Davy Crockett và Mark Twain cho đến Garrison, vẫn tiếp tục làm mới các nguyên mẫu do Franklin sáng tạo ra.”51Các niên giám đem lại nguồn doanh thu lớn cho nhà in. Chúng dễ dàng bán chạy hơn Kinh Thánh (vì mỗi năm người ta đều phải mua số mới). Hai trong sáu niên giám được xuất bản ở Philadelphia lúc đó do Franklin in: niên giám của Thomas Godfrey và John Jerman. Sau khi mâu thuẫn với Godfrey về vụ mai mối bất thành và hợp đồng với Jerman về tay đối thủ Andrew Bradford, vào mùa thu năm 1732, Franklin ở trong tình trạng không có niên giám nào để kiếm lợi nhuận từ việc in ấn.
Vì thế anh vội vàng lập ra niên giám của riêng mình. Về bố cục và phong cách, nó tương tự các niên giám kia, nhất là của Titan Leeds - người đang nối nghiệp cha xuất bản niên giám được ưa chuộng nhất tại Philadelphia. Cái tên Richard Nghèo Khổ, với một chút chơi chữ theo phép nghịch hợp, gợi lại Niên giám Robin Nghèo Khổ, vốn được James, anh trai Franklin, xuất bản trước đó. Còn Richard Saunders hóa ra là tên thật của một nhà viết niên giám có tên tuổi ở nước Anh vào cuối thế kỷ 17.52
Tuy vậy, Franklin đã thêm vào đó sự tinh tế đặc biệt của anh. Anh dùng tên giả để tạo cho mình một thái cách biệt đầy mỉa mai. Anh cũng tạo ra một mối thù hiện hữu với đối thủ Titan Leeds bằng cách dự đoán và sau đó bịa đặt về cái chết của ông ta. Một mẩu quảng cáo trên Nhật báo Pennsylvania Gazette đã hứa hẹn một cách thiếu khiêm tốn như sau:
Chỉ xuất bản cho năm 1733: Niên giám Richard Nghèo Khổ có thông tin về tuần trăng, nhật thực, phương hướng và sự chuyển động của các hành tinh, thời tiết, thời gian mặt trời, mặt trăng mọc và lặn, thủy triểu lên,... Ngoài ra còn có nhiều bài thơ, truyện cười và câu nói vui tươi, dí dỏm, động cơ viết của tác giả và dự đoán về cái chết của người bạn Titan Leeds... Soạn bởi Richard Saunders, một người yêu toán học, do B. Franklin in ấn và phát hành, giá 3 shilling 6 xu một tá.53
Nhiều năm sau này, Franklin nhớ lại anh đã coi niên giám của mình như “một phương tiện chuyên chở lời chỉ dẫn giữa những người bình dân” và vì thế đã đưa vào đó rất nhiều câu tục ngữ “khắc sâu tính cần cù và căn cơ như phương cách để mưu cầu sự sung túc và nhờ đó đảm bảo phẩm hạnh.” Tuy nhiên, khi đó, anh cũng có một động cơ khác và anh khá thẳng thắn khi nói về nó. Việc sáng tạo ra một tác giả hư cấu giúp anh có thể chế nhạo bản thân qua việc thừa nhận (dù dưới ngòi bút của Richard Nghèo Khổ, nó có phần đùa cợt) tiền bạc là động lực chủ yếu của anh. “Tôi có thể nhân đây gắng giành lấy sự quý mến của quý vị bằng cách tuyên bố tôi soạn niên giám không vì lý do nào khác ngoài lợi ích chung; nhưng nếu nói thế là tôi không thành thật”, Richard Nghèo Khổ đã mở đầu lời tựa đầu tiên của mình như vậy. “Sự thật trần trụi là tôi cực kỳ nghèo và vợ tôi đã hơn một lần đe dọa đốt tất cả sách vở của tôi và những chiếc Bẫy Chuột (cách cô ta gọi các công cụ của tôi) nếu tôi không biến chúng thành thứ gì có ích lợi cho gia đình.”54
Richard Nghèo Khổ tiếp tục dự đoán “cái chết không lay chuyển được” của đối thủ Titan Leeds với ngày giờ chính xác. Đây là một chiêu trò anh học được từ Jonathan Swift. Leeds sập bẫy - trong niên giám năm 1734 (viết sau ngày mất được dự đoán), ông ta gọi Franklin là “gã văn sĩ tồi mà tự cao”, “tự bộc lộ bản thân là một kẻ ngu dốt và dối trá”. Franklin, với xưởng in riêng, được hân hạnh đọc niên giám của Leeds trước khi phát hành niên giám năm 1734 của chính mình. Trong đó, Richard Nghèo Khổ đáp lại rằng, tất cả những lời phản đối có tính phỉ báng đó cho thấy Leeds thật chắc chắn đã chết và cuốn niên giám mới của ông ta chỉ là trò lừa đảo do một người khác chắp bút. “Ông Leeds được nuôi dạy rất tử tế nên không thể nào cư xử khiếm nhã và lỗ mãng như thế với bất cứ ai. Hơn nữa, sự quý trọng và thiện chí mà ông ta dành cho với tôi quả là bất thường.”
Trong niên giám của năm 1735, Franklin một lần nữa chế nhạo lời đáp trả sắc bén của đối thủ ‘quá cố’ - “Titan Leeds sẽ không cư xử với tôi như thế nếu còn sống!” - và bắt lỗi Leeds vì sự hớ hênh trong từ ngữ. Leeds tuyên bố thông tin cho biết chính ông ta tự tiên đoán mình sẽ sống đến ngày được đồn đại là điều “sai sự thật”. Franklin liền bắt bẻ rằng, nếu ông ta không sống đến ngày đó, như thế nghĩa là ông ta “không còn nữa hoặc đã chết thật”. “Điều đó là rõ ràng với tất cả những ai đã đọc hai niên giám sau cùng của ông ấy, không người nào còn tại thế lại có thể viết những thứ như vậy”, Richard Nghèo Khổ nói thêm.55
Ngay cả sau khi Leeds thực sự qua đời vào năm 1738, Franklin cũng không mủi lòng. Anh đăng một lá thư viết bởi hồn ma của Leeds thừa nhận: “Tôi đã thật sự chết vào lúc đó, đúng giờ mà anh đề cập, chỉ sai lệch 5 phút và 53 giây.” Sau đó, Franklin để con ma đưa ra dự đoán về một đối thủ khác của Richard: năm sau John Jerman sẽ cải đạo sang Công giáo. Franklin tiếp diễn trò đùa này suốt bốn năm, ngay cả khi một lần nữa anh giành được hợp đồng in niên giám của Jerman. Tính hài hước Jerman cuối cùng cũng cạn: năm 1743 ông giao lại việc in ấn cho Bradford. “Bạn đọc có thể kỳ vọng một lời hồi đáp của tôi với cách R —— s —— rs, bí danh của B —— F —— ns, chứng minh tôi không phải tín hữu Kháng cách”, ông viết rồi nói thêm, “chính bởi trò tinh quái đó, anh ta sẽ không được hưởng lợi từ niên giám năm nay của tôi.”
Franklin thích thú ẩn sau tấm mạng che mặt Richard Nghèo Khổ song đôi lúc cũng muốn chọc qua tấm mạng đó. Vào năm 1736, anh để Richard Nghèo Khổ chối bỏ lời đồn đại rằng tác giả này chỉ là sản phẩm hư cấu. Richard nói: “Tôi sẽ không thèm để tâm đến một tin đồn thất thiệt như thế nếu không vì lợi ích của vị chủ nhà in - người bị các kẻ thù của tôi vui sướng gán cho các tác phẩm do tôi viết. Có lẽ anh ta không hề muốn làm cha của các con tôi, cũng như tôi chẳng hề muốn mất đi quyền đó.” Năm sau, Richard Nghèo Khổ phê bình vị chủ nhà in (Franklin) vì một số sai sót trong phần dự báo thời tiết do dịch chuyển chúng cho khớp với các ngày lễ. Năm 1739, Richard than vãn rằng Franklin đang thâu tóm hết lợi nhuận của mình, nhưng nói thêm: “Tôi không vì thế mà có ác cảm với anh ta; đó là một người tôi rất coi trọng.”
Richard và Bridget Saunders khá giống với Benjamin và Deborah Franklin xét trên nhiều khía cạnh. Trong niên giám của năm 1738, tới lượt nhân vật hư cấu Bridget được Franklin để cho viết lời tựa của Richard Nghèo Khổ. Sự việc diễn ra không lâu sau khi Deborah mua cho anh chiếc bát sứ để dùng bữa sáng - cùng lúc với loạt bài báo trong đó Franklin chế nhạo đòi hỏi của các bà vợ mới học được thị hiếu thưởng thức trà. Bridget Saunders tuyên bố với độc giả: cô đã đọc lời tựa mà chồng cô viết cho niên giám năm nay và phát hiện anh ta đã “ném mấy lời mỉa mai cũ rích vào tôi”, vì thế đã quẳng nó đi. “Có thể tôi sẽ mắc chút lỗi này hay lỗi khác nhưng cả nước phải thấy nó bằng bản in. Một lúc nào đó, họ được kể rằng, tôi tự cao, lúc khác rằng tôi lòe loẹt, tôi có một chiếc váy lót mới và đủ thứ đại loại như thế. Còn bây giờ, không còn ngờ vực gì! Cả thế giới cần biết rằng vợ của Dick Nghèo Khổ gần đây có thêm sở thích thỉnh thoảng dùng chút trà.” Để mối liên hệ không bị mất, cô nhấn mạnh rằng trà là “quà của vị chủ nhà in”.57
Lời tựa tươi vui hàng năm của Richard Nghèo Khổ đã trở nên nổi tiếng không kém gì những câu châm ngôn và tục ngữ mà Franklin in rải rác bên lề các trang niên giám. Trong số đó, nổi tiếng nhất là: “Lên giường sớm và thức dậy sớm khiến một người đàn ông khỏe mạnh, giàu có và khôn ngoan.” Franklin chắc chắn sẽ thích thú khi biết lời khuyên này về sau nhận được sự ca tụng nhiệt thành của những người ủng hộ việc tự hoàn thiện bản thân. Và anh chắc hẳn còn thích thú hơn khi thấy các nhà văn khôi hài thế hệ sau chế giễu nó. Trong một bản thảo với nhan đề hơi mỉa mai “Benjamin Franklin Quá Cố”, Mark Twain* viết: “Như thể tất cả mục tiêu đối với một cậu bé là phải khỏe mạnh và giàu có với các điều kiện trên. Nỗi đau khổ mà câu châm ngôn đó gây ra cho tôi, thông qua cha mẹ tôi - những người đem tôi ra làm thí nghiệm - thật không lời nào tả xiết. Kết quả hợp lý là tình trạng hiện nay của tôi: yếu đuối, bần cùng nói chung và lầm lạc về tinh thần. Cha mẹ tôi từng có lúc bắt tôi dậy trước 9 giờ sáng khi tôi còn nhỏ. Nếu họ để yên cho tôi nghỉ ngơi bình thường không biết giờ này tôi đang ở đâu? Không còn nghi ngờ gì nữa, có thể tôi là một chủ cửa hàng và được mọi người kính trọng.” Groucho Marx* cũng chọn chủ đề này trong hồi ký của mình: “‘Lên giường sớm và thức dậy sớm là bí quyết của những người đàn ông thuộc kiểu bạn-biết-đấy.’ Thật ra, nó may rủi như trò chơi ném vòng. Đa số những người giàu có tôi biết đều thích ngủ muộn và họ sẽ sa thải người hầu nếu bị quấy rầy trước 3 giờ chiều... Chẳng có bao giờ bạn thấy Marilyn Monroe* thức giấc lúc 6 giờ sáng. Sự thật là tôi không thấy Marilyn Monroe thức dậy vào bất cứ lúc nào, điều đó còn đáng tiếc hơn.”58
Franklin thoải mái thừa nhận đa số châm ngôn trong niên giám thực chất không hoàn toàn là nguyên bản. Như anh đã viết trong tự truyện, chúng “chứa đựng trí tuệ của nhiều thời đại và quốc gia”, đồng thời nhấn mạnh trong ấn bản cuối cùng rằng “chưa đầy một phần mười số đó là trí tuệ của tôi”. Kể cả câu châm ngôn “lên giường sớm và thức dậy sớm” cũng có một phiên bản gần gũi xuất hiện trong một tuyển tập tục ngữ Anh trước đó một thế kỷ.59
Tài năng của Franklin thể hiện ở chỗ anh sáng tạo ra một số câu châm ngôn mới và gọt giũa nhiều câu cũ, làm chúng súc tích hơn. Chẳng hạn, câu tục ngữ Anh “Cả cá tươi và khách mới đến đều bốc mùi sau khi qua ba ngày” được Franklin sửa lại: “Cả cá lẫn khách khứa đều thối sau ba ngày”. Tương tự, “Con mèo được bao bọc không phải con mèo có tài bắt chuột giỏi” đã trở thành “Con mèo đeo găng không biết bắt chuột”. Anh đem lại cho câu tục ngữ cũ “Nhiều cú đánh làm đổ những cây sồi lớn” khía cạnh đạo đức sắc nét hơn: “Nhiều đòn nhỏ làm đổ cây sồi lớn”. Anh cũng biến câu “Ba người có thể giữ được bí mật nếu hai người vắng mặt” trở nên sắc sảo hơn: “Ba người có thể giữ được bí mật nếu hai người đã chết”. Và câu châm ngôn Scotand “Một thiếu nữ biết nghe và một lâu đài biết nói sẽ không bao giờ kết thúc trong danh dự” biến thành “Cả pháo đài lẫn sự trinh tiết đều không thể giữ được lâu một khi chúng bắt đầu thương lượng”.60
Dù phần lớn các châm ngôn đều do Franklin học hỏi từ người khác, chúng giúp làm rõ hơn quan niệm của anh về sự hữu ích và thú vị. Một số câu hay nhất bao gồm:
Kẻ ngốc biến bác sĩ thành người thừa kế... Ăn để sống, đừng sống để ăn... Kẻ nằm xuống với chó sẽ đứng lên với bọ chét... Ở đâu có hôn nhân không tình yêu, ở đó sẽ có tình yêu không hôn nhân... Người ở thế quẫn bách không bao giờ giỏi mặc cả... Có nhiều kẻ nát rượu già hơn bác sĩ già... Một ví dụ tốt là bài giảng tốt nhất... Không ai thuyết giáo hay hơn một con kiến vì nó không nói gì... Một xu tiết kiệm bằng hai xu chắc ăn... Khi giếng cạn mới biết giá trị của nước... Một con cáo đang ngủ không thể bắt được gà... Chiếc chìa khóa nào được sử dụng đều sáng hơn... Một kẻ sống dựa vào hy vọng sẽ chết khi đang nhịn đói... Cần cù là mẹ của may mắn... Kẻ nào cùng lúc đuổi theo hai con thỏ sẽ không bắt được một con và để sổng con kia... Hãy tìm ra tính tốt của người khác và tìm ra thói xấu của bản thân... Vua và lũ gấu luôn làm những kẻ canh gác lo sợ... Vội vàng sinh ra lãng phí... Hãy vội vàng một cách chậm chạp... Tài sản sinh sôi thì lo âu cũng sinh sôi... Kẻ ngốc không thể giấu được sự thông minh... Không có gì đạt được mà không khổ sở... Sự xấu xa biết nó xấu xí nên luôn đeo mặt nạ... Hãy yêu mến kẻ thù vì chính họ chỉ ra sai lầm của bạn... Sự cay đắng của lời chỉ trách là sự thật về nó... Có lúc nháy mắt và cũng có lúc để nhìn... Thiên tài không qua học hành cũng như bạc trong mỏ quặng... Không bao giờ có một con dao tốt làm từ thứ thép tồi... Một nửa sự thật thường là lời nói dối vĩ đại... Chúa giúp những ai tự giúp mình.
Điều tạo ra sự khác biệt cho niên giám của Franklin là sự dí dỏm ranh mãnh. Khi đang hoàn tất bản năm 1738, anh gửi một lá thư cho tờ Nhật báo dưới bút danh “Người yêu toán học” để giễu cợt các đối thủ của mình bằng cách đưa ra những lời khuyên mỉa mai về việc viết niên giám. Anh nói, tài năng họ cần có là “lối nghiêm nghị luôn nằm chính giữa sự nhạt nhẽo và sự vô nghĩa”. Lý do là “người nghiêm nghị được người bình thường xem là người khôn ngoan”. Ngoài ra, tác giả “nên viết câu và tung ra các ngụ ý mà cả ông ta lẫn người đọc đều không thể hiểu nổi”. Để minh họa, anh trích ra một vài đoạn của Titan Leeds.61
Trong bản niên giám cuối cùng, được hoàn thiện trên đường sang Anh năm 1757, Franklin đã tổng kết mọi thứ qua một bài phát biểu hư cấu của một ông già có tên Cha Abraham. Ông đã xâu chuỗi tất cả những câu châm ngôn về sự cần thiết của tính căn cơ và phẩm hạnh của Richard Nghèo Khổ lại với nhau. Song ngay cả khi đó, giọng điệu khôi hài của Franklin vẫn không thay đổi. Richard Nghèo Khổ, người đứng phía sau đám đông, cuối cùng đã thuật lại: “Họ lắng nghe và ủng hộ học thuyết này, rồi lập tức thực hành điều ngược lại.”62
Tất cả những điều này khiến Richard Nghèo Khổ thành công và người lập ra nó trở nên giàu có. Niên giám bán được mười ngàn bản mỗi năm, vượt xa các đối thủ của nó ở Philadelphia. John Peter Zenger, người nổi tiếng với vụ kiện về tội phỉ báng* năm 1735 được tờ báo của Franklin tường thuật, mua 36 tá mỗi năm. Quả phụ của James bán được 80 tá mỗi năm. Bài phát biểu của Cha Abraham tập hợp các châm ngôn của Richard Nghèo Khổ đã được xuất bản dưới nhan đề Đường đến sự giàu có và có lúc từng là cuốn sách phổ biến nhất ra đời ở xứ thuộc địa Mỹ. Trong vòng 40 năm, nó đã được tái bản 145 lần dưới bảy ngôn ngữ, trong đó bản tiếng Pháp có tựa đề La Science du Bonhomme Richard (Khoa Học Của Anh Chàng Richard). Cho đến nay, nó đã được tái bản hơn 1.300 lần.
Giống như kế hoạch hoàn thiện đạo đức của và cuốn tự truyện của Franklin, các châm ngôn của Richard Nghèo Khổ bị phê phán vì nó hé lộ tư duy của một kẻ hợm hĩnh chắt bóp từng xu. “Tôi mất nhiều năm và vô số chất xám để thoát khỏi thứ đạo đức vây quanh bởi dây thép gai mà Richard Nghèo Khổ dựng lên”, D. H. Lawrence viết. Song nhận định này bỏ sót sự hài hước và mỉa mai, cũng như sự pha trộn giữa sự lanh lợi và tính đạo đức mà Franklin khéo léo kết hợp. Nó cũng nhầm lẫn Franklin và các nhân vật do anh sáng tạo ra. Franklin thực tế không phải một người thích làm bộ đạo đức và anh không bỏ cả cuộc đời để tích lũy tiền của. “Điểm yếu chung của nhân loại”, anh nói với một người bạn, là “theo đuổi sự giàu có đến vô hạn”. Mục tiêu của anh là giúp các thương gia trở nên cần mẫn hơn và nhờ đó có thể trở thành những công dân có đạo đức và hữu ích hơn.
Niên giám Richard Nghèo Khổ giúp chúng ta hiểu thêm về Franklin, nhất là trí tuệ và quan điểm của anh. Nhưng với việc ẩn giấu một nửa sau nhân vật trung gian hư cấu, Franklin đã một lần nữa tuân thủ quy tắc của Hội Kín: chỉ tiết lộ suy nghĩ một cách gián tiếp. Về điều này, anh hành xử thống nhất với lời khuyên anh đã nhờ Richard Nghèo Khổ nói: “Cứ cho là mọi người đều biết bạn nhưng không ai hiểu hết về bạn: Chỉ người lội qua mới biết nước nông.”63*