NGƯỜI kỵ mã lơ đãng đưa mắt nhìn hai bên lề con đường vắng mà chàng vừa vượt qua và ghì cương cho ngựa đi chậm lại
Vào cuối giờ Tuất của một đêm đông gió lạnh, vùng ngoại ô Tây Đô đã thưa thớt bóng người. Ánh đèn phần nhiều đã tắt hẳn trong những căn nhà cửa đóng kín mít, đang đắm say trong giấc ngủ triền mien.
Một luồng gió bấc lướt qua, rít lên trong các mái tranh, trong kẽ lá, khiến chàng kỵ mã cảm thấy lành lạnh, đưa tay sửa lại chiếc khăn quàn lòa xòa trên cổ.
Đến trước cổng một dinh thự lớn, cách đó chừng mười thước, chàng từ từ rẽ ngựa tiến vào, thì thốt nhiên, nửa chừng, chàng kềm ngựa dừng lại, đưa mắt dáo dác tìm quanh. Người kỵ mã lấy làm lạ không thấy tên lính canh đứng gác trước cổng như thường lệ. Chàng cau mày, đón chừng có lẽ tên lính đã bỏ bê phận sự, và càu nhàu tỏ vẻ bất bình.
Nhưng khi chàng thúc ngựa đi thẳng vào giữa sân thì một sự bất ngờ đã chờ chàng ở đó.
Sau một tiếng hô lớn: “Nó đây rồi!”, tức thì một đám rừng người, nãy giờ nấp sẵn trong bóng tối, vụt nhảy xổ ra, ào ào vây kín lấy chàng.
Người kỵ mã giựt mình, sửng sốt. Chàng ngơ ngác nhìn những bó đuốc nối tiếp nhau bừng cháy, soi tỏ khắp từ bề. Đến lúc ấy, chàng nhận thấy rõ mình đang bị khép chặt giữa một hàng rào binh khí.
Trong nháy mắt, chàng đã thoáng hiểu tình hình: Chàng đang rơi vào trong tay của quân sĩ triều đình. Theo lịnh của Bình an Vương Trịnh Tùng, họ vừa đến đây bắt cha chàng tức Thái quận Công Lê Cập Đệ và mẫu thân chàng để hạ ngục, trong khi chàng vắng mặt. Bây giờ, chúng chờ đến lượt chàng.
Một viên vệ úy to béo, mặt mày hung tợn chỉ huy đoàn quân gồm lối vài trăm người giơ mũi gươm chỉ thẳng vào phía chàng rồi xây lại hỏi một tên gia nhơn trong dinh đang bị trói đứng run cầm cập:
- Có phải đó chính là tiểu chủ của nhà ngươi tên Lê Thế Hùng chăng?
Tên gia nhơn, một nô bộc trung thành của nhà họ Lê tái mặt như gà cắt tiết, ấp úng đáp:
- Bẩm tướng quân, phải, chính đấy là… Lê công tử …
Dứt lời, hắn hướng về phía chàng kỵ mã khóc òa:
- Công tử ơi! Tướng công và phu nhơn vừa bị bắt cách đây hơn nửa giờ!
Người kỵ mã tức Lê Thế Hùng, xua tay lạnh lùng đáp lại:
- Ta biết rồi!
Nhưng tên gia nhơn vẫn còn ôm mặt nức nở. Viên vệ úy tống cho hắn một đạp lăn nhào xuống đất rồi hùng hổ tiến tới bên cạnh Thế Hùng, dõng dạc thét lớn:
- Thừa lịnh của Bình An Vương, ta truyền cho nhà ngươi hãy lập tức hạ mã mà chịu trói.
Thế Hùng vẫn thản nhiên ngồi yên trên lưng ngựa, mắt đăm đăm nhìn thẳng vào trong dinh. Với hai mươi tuổi xuân, nhưng chàng có một hình vóc cao lớn đi đôi với một khuôn mặt quắc thước, khôi ngô, đầy kiêu dõng hiên ngang của con nhà tướng. Không chút bối rối, trước sự hăm dọa của võ khí và của viên vệ úy, chàng bỉu môi, cười gằn
- Các ngươi muốn bắt ta à? Được lắm! Nhưng trước hết ta muốn biết ta phạm tội gì đã chớ?
Thái độ ngạo mạn của chàng làm cho viên vệ úy đùng đùng nổi giận. Hắn trợn cặp mắt tròn xoe và quát vang như sấm:
- Cha! Thằng nhải con nầy giỏi thật, dám to gan bướng bỉnh và lý sự với bản tướng quân? Nhà ngươi muốn biết nhà ngươi phạm tội gì à? Lát nữa nhà ngươi sẽ rõ tại phủ Chúa. Bây giờ phải nạp mình mau lên! Nếu chậm trễ, ắt sẽ không còn tánh mạng.
Lê thế Hùng liếc mắt nhìn cái rừng gươm đao tua tủa dựng xung quanh và nhíu mày suy nghĩ. Chàng tự hỏi thầm: “Ta chỉ có hai tay không, thì phải làm sao đối phó lại với bọn nầy?”
Thình lình, chàng đổi ra vẻ mặt tươi cười, day về phía viên vệ úy, thong thả đưa hai tay ra và ôn tồn bảo:
- Đây! Nhà ngươi cứ việc trói đi!
Viên tướng thuộc hạ của Trịnh Tùng thở ra, nhẹ nhõm. Hắn đương lo ngại rằng chàng kỵ mã ngang tang kia sắp sửa kháng cự và gây cuộc xung đột hỗn loạn, thì không ngờ Thế Hùng lại chịu tuân lời, ngoan ngoãn hiến mình. Mừng thầm, hắn vênh mặt nhìn kẻ đối thoại thốt ra một câu đầy tự phụ và thỏa mãn:
- Ừ, có thế chớ! Trước sau gì rồi thì cũng bị bắt. Phản kháng làm chi cho mất công!
Vừa nói, hắn vừa rút chiếc còng ở trong túi ra, giơ lên toan khóa hai tay chàng trai trẻ. Để khỏi phí thì giờ, hắn không buộc chàng phải xuống ngựa như trước nữa.
Với vẻ mặt nhẫn nhục, Thế Hùng hơi nghiêng mình qua một bên, ung dung và sẵn sàng chờ trói. Song, khi hai bàn tay của viên vệ úy vừa nâng chiếc còng lên ngang tầm tay chàng, thì đột nhiên, lanh như cắt, chàng chụp lấy cánh tay mặt của hắn vặn ngược trở lại.
Viên tướng rú lên một tiếng thất thanh, buông rơi cây gươm, Thế Hùng đã vội vàng đoạt lấy. Thuận tiện, chàng đâm luôn cho hắn một mũi trúng vai, rồi xách bổng hắn lên, đặt nằm ngang trên mình ngựa.
Việc xẩy ra đột ngột và lẹ như chớp nhoáng. Trước cảnh tượng ấy, bao nhiêu binh sĩ đều kinh hoảng, run run áp đến và tri hô lên inh ỏi.
Nhưng, đã dự định sẵn, Thế Hùng không có ra vẻ gì nao núng. Chàng nắm chặt lấy một chân của viên vệ úy đang vùng vẫy, nhắc bổng hắn lên, rồi quay tít như người ta xử dụng một môn võ khí.
Mưu mẹo ấy đã đem lại cái kết quả cấp tốc mà chàng mong mỏi: Quân lính của Trịnh Tùng lính quýnh và khủng khiếp, sợ làm nguy hại đến tánh mạng viên chủ tướng của mình, nên không dám xông vào xáp chiến. Chúng xô nhau dang ra, mặc tình cho chàng kỵ mã tung hoành.
Thế là, với món khí giới bằng xương và bằng thịt múa men không ngớt nơi tay, Lê Thế Hùng tiến tới đâu là phe địch lui dần tới đó.
Không gặp một trở lực nào, chàng thanh niên phóng ngựa ra cổng dinh, giữa những tiếng hò hét vang trời dậy đất.
Thấy toán binh sĩ ùn ùn toan rượt theo mình, chàng giơ cao viên vệ úy, ném tung vào đám rừng người, rồi phi ngựa biến mất vào trong đêm tối…!
Thế Hùng phóng ngựa như bay, không còn phân biệt rõ phương hướng nào nữa. Sau lưng chàng, xa xa vẫn còn văng vẳng tiếng reo hò inh ỏi của đoàn truy binh.
Mặc dầu vừa thoát hiểm, chàng thanh niên không khỏi phập phồng lo ngại. Vì chàng dư hiểu rằng chàng vừa làm kinh động cả một vùng Tây đô lặng lẽ và lát nữa, quân của chúa Trịnh trùng trùng điệp điệp, sẽ bủa giăng ra khắp tứ bề để đón chận chàng.
Nhìn lại quãng đường hẻo lánh vừa vượt qua, Thế Hùng bắt đầu hơi vững dạ. Đây là con đường đưa tới vùng ngoại ô, nơi chàng định tìm đến để từ biệt cậu ruột chàng là quan Ngự Sử Đặng Phương và hỏi thăm vài điều quan trọng.
Thật ra thì chàng thanh niên chưa hiểu rõ lắm về nguyên do sự tai biến bất ngờ vừa xẩy đến cho gia đình mình. Từ trước tới nay, chàng chỉ lưu ý nhận xét, nghe ngóng, để tìm hiểu lấy chớ tuyệt nhiên, bình nhựt phụ thân chàng không hề tiết lộ với chàng một lời nào. Có lẽ ông nghĩ rằng tuổi chàng còn non trẻ lại ham đua chơi phóng túng với bạn bè, sợ e khó lòng giữ vẹn những chuyện mật nhiệm tối ư quan hệ.
Nhưng những chuyện mật nhiệm trọng đại ấy là gì? Đã hơn một tháng nay, Thế Hùng mang máng nhận thấy cha chàng đang sắp đặt một công cuộc âm mưu to tát: ấy là âm thầm giúp đỡ hoàng đế Lê Anh Tôn để lật đổ và diệt trừ oai quyền hống hách ghê gớm của chúa Trịnh-Tùng. Vì đã nhiều lần, biệt dinh của phụ thân chàng biến thành nơi hội hiệp bí mật của các nhân vật thuộc phe đảng Cần Vương. Và để tránh sự tò mò của con trẻ mỗi khi có cuộc nhóm họp như thế, Thái quận Công Lê Cập Đệ đều cho chàng được phép đi chơi xa.
Tuy nhiên trong khi nhứt nhứt tuân theo lời cha, Thế Hùng chẳng phải vì đó mà không quan tâm đến đại sự. Trái lại, chàng rất để ý lo lắng và đã tiên liệu tất cả kết quả khốc hại của công cuộc đương đầu với một thế lực vô cùng nguy hiểm là chúa Trịnh-Tùng.
Rốt cuộc, đúng như chàng dự đoán, kết quả ấy đã xảy ra. Vì có những tay do thám đắc lực của Trịnh tùng, nên âm mưu nói trên đã bị phát giác. Phụ thân chàng bị bắt và có lẽ sẽ bị xử tử nay mai. Chính chàng vừa đi thăm bạn trở về, suýt nữa cũng sa vào tay đối phương và khó thoát khỏi bỏ thân trong ngục thất.
Đang bâng khuâng suy nghĩ, say sưa vì tốc độ ghê hồn của con ngựa ô phi thân vùn vụt trong đêm tối, chỉ chốt lát, Thế Hùng đã thấy hiện ra trước mắt cảnh ngoại ô phía nam của Tây Đô, đìu hiu, vắng lạnh và liền đó tư dinh của quan Ngự sử Đặng Phương, khiêm tốn nhô lên khỏi rặng hàng rào dâm bụt cao gần tới đầu người.
Chàng thanh niên gò cương, dừng lại trước cổng dinh đang hé mở, rồi dè dặt tiến vào. Đến giữa sân, chàng êm ái xuống ngựa, cột con vật vào một thân cây gần đấy, đoạn thoăn thoắt bước tới trước dinh, toan kêu cửa.
Cửa dinh đóng bịt bùng, kín mít. Thế Hùng tưởng cậu ruột chàng và cả gia đình đang ngủ say. Nhưng chàng rất lấy làm lạ. Thế Hùng thoáng nghe thấy những tiếng xì xào rất nhỏ, nhìn như nhiều người nói, từ bên trong văng vẳng đến tai chàng.
Chàng nhíu mày tự nhủ thầm: “Phải chăng đây cũng là một cuộc nhóm họp bí mật?”
Tự nhiên, Thế Hùng chợt nhớ ra rằng vị Ngự sử họ Đặng cũng là một nhơn vật thuộc phe đảng của chàng, song nhờ tình quyến thuộc đi lại giữa đôi bên và nhứt là nhờ xử trí rất thận trọng và khôn khéo, cậu chàng bấy lâu nay ít bị bọn tay sai của chúa Trịnh để ý và ngờ vực. Tuy vật mới rồi, cuộc âm mưu đã bị đổ bể. Tất nhiên, chẳng chóng thì chầy, Ngự sử Đặng Phương cũng sẽ bị chung số phận với phụ thân chàng.
Ý nghĩ ấy khiến chàng nhận thấy phải cần kíp phi báo ngay hung tin vừa xẩy ra cho cậu chàng biết mà liệu đề phòng.
Thế Hùng đưa tay gõ khẽ vào cánh cửa. Ba tiếng gõ vừa dứt thì lạ thay, những tiếng xì xào bên trong thình lình im bặt. Rồi một lát sau, ngọn đèn ở chính giữa nhà được thấp sáng lên.
Chàng thanh niên sốt ruột vì phải chờ đợi hơi lâu. Nhưng kìa, có tiếng chân người nặng nề chậm rải, mỗi lúc mỗi tiến đến gần. Sau cùng, qua khe cửa, một câu hỏi nghiêm nghị và dõng dạc đưa ra:
- Ai đấy? Ai kêu cửa giữa đêm hôm khuya khoắt thế? Có việc gì?
Thế Hùng nhận ra đó là tiếng của cậu mình, chàng vội hạ giọng đáp, vừa đủ cho bên trong nghe rõ:
- Thưa cậu, cháu Thế Hùng đây.
Cánh cửa từ từ hé mở và một cánh tay gầy gò thò ra nắm lấy tay chàng, lôi tuốt chàng vào trong.
Khi cửa đóng ập lại sau lưng mình thì Thế Hùng đã đứng đối diện với Đặng Ngự sử, một văn quan nho nhã, ốm yếu, lụng thụng trong một bộ thường phục bằng vải trắng, hơi làm cho chàng lạ mắt.
Mừng rỡ và ngạc nhiên, Đặng Phương ôm chầm lấy cháu. Cảm động, chàng thanh niên vội lên tiếng trước để báo tin:
- Thưa cậu, phụ thân cháu vừa bị bắt.
Vị Ngự Sử gật đầu:
- Ta đã biết việc ấy rồi. Suốt tối nay, ta sai gia nhơn đi tìm cháu khắp nơi mà không gặp. Chẳng hay cháu làm sao thoát hiểm được mà tới đây?
Thế Hùng vắn tắt thuật lại cho cậu mình nghe đầu đuôi mọi việc vừa xảy ra. Chàng nói xong, viên Ngự sử thân ái đập lên vai chàng và bảo:
- Hay quá, cháu đến đây thật là một dịp may. Cậu muốn cháu giúp cậu một tay trong việc hộ giá thánh thương ra khỏi Tây đô nội đêm nay.
Chàng thanh niên kinh ngạc, chòng chọc nhìn cậu:
- Hoàng thượng bí mật xuất ngoại à?
- Phải – Đặng Phương đáp – Hoàng thượng xuất ngoại để trốn tránh sự ám hại của Chúa Trịnh Tùng. Hiện ngài và các vị hoàng tử đang tạm trú trong nhà sau của ta. Để ta dẫn cháu xuống đó bệ kiến thánh thượng, trước khi chuẩn bị lên đường.
Một lát sau, tại nội dinh Đặng Ngự sử, lần thứ nhứt trong đời mình, Lê thế Hùng, được hân hạnh làm lễ bái yết Lê Anh Tôn Hoàng đế. Chàng vừa dập đầu quỳ mọp xuống, tung hô vạn tuế, thì nhà vua cho chàng đứng dậy và phán báo
- Khanh hãy bình thân. Vừa thoạt thấy Khanh, trẫm rất đau lòng nhớ tới lịnh nghiêm một vị trung thần đã vì trẫm mà phải sa vào tay kẻ địch…
Thế Hùng từ từ đứng dậy, liếc trộm nhìn lên. Chàng bắt chợt nơi khóe mắt của nhà vua, long lanh đôi ngấn lệ.
Vị Hoàng đế chỉ trạc lối tư tuần, dáng người tầm thước, mảnh khảnh trong lớp áo lương đen dài phủ trên mặt chiếc quần vải trắng. Tuy nhiên bộ y phục đơn giản mộc mạc dùng để cải trang khi xuất ngoại ấy cũng không giấu giếm nỗi chơn tướng của một bực đế vương.
Chơn tướng ấy để lộ ra rõ rệt trên gương mặt xương đầy vẻ cao quý oai nghi, với hai lổ tai to vuông vắn và nhứt là với đôi mắt sáng bén như gươm, lõm vào giữa hai quầng thâm, chứng tỏ như đêm trường không ngủ đầy lo âu và toan tính.
Bên cạnh nhà vua là hai vị hoàng tử hay nói đúng hơn hai cậu bé trắng trẻo, mủm mỉm xấp xỉ trạc tuổi nhau. Đứa lớn hơn chưa đầy mười hai và đứa bé nhất cũng không trên mười tuổi. Chúng lẳng lặng ngồi dựa vào nhau, nhìn khắp mọi người với một vẻ ngơ ngác và sợ sệt đáng thương.
Thế Hùng chắp hai tay trước ngực, kính cẩn và yên lặng đứng chờ. Chàng chợt thấy nhà vua day lại nói nhỏ với Đặng Phương:
- Dung mạo của lịnh diệt trông giống hệt Lê Quận Công như khuôn đúc. Thật là “hổ phụ sanh hổ tử”; Cũng cặp mắt ấy, cái miệng ấy cùng những vẻ hào hùng hiên ngang ấy của khách trượng phu, Khanh tin chắc rằng chúng ta có thể trông cậy vào sự giúp đỡ của lịnh điệt chứ?
Đặng Ngự sử gật đầu:
- Tâu bệ hạ, kẻ hạ thần tin chắc rằng Thế Hùng có thừa tài sức để bảo giá. Và nếu cần, có thể đương đầu với lực lượng hùng hậu của Trịnh Tùng.
Dứt lời, ông đem chuyện thoát hiểm vừa rồi của Thế Hùng vắn tắt thuật lại cho nhà vua nghe. Vị hoàng đế không ngớt ngắm nghía chàng thanh niên từ đầu chí chân tấm tắc ngợi khen:
- Hay lắm! Như vậy trẫm đã yên dạ được một phần rồi.
Đoạn, ông xây sang phía Đặng Ngự Sử:
- Thôi bây giờ chúng ta nên cấp tốc sửa soạn lên đường.
Chúng ta chỉ vừa bí mật rời khỏi hoàng thành cách đây một giờ đồng hồ. Nếu chậm trễ, bọn dọ thám của Trịnh Tùng sẽ khám phá ra sự vắng mặt của trẫm tại nội cung và sẽ đổ xô đi truy nã thì e khó tránh được sự trở ngại hiểm nghèo.
- Bệ hạ dạy chí phải – họ Đặng đáp – Kẻ hạ thần đã cho chuẩn bị xe ngựa sẵn sàng rồi, chỉ còn đợi lịnh bệ hạ.
Viên ngự sử nói chưa hết câu, bỗng nhiên ngừng lại và nín lặng. Ông vừa thoáng nghe tiếng ngói chuyển răng rắc trên đầu mình. Ông ngước mắt nhìn lên mái nhà. Hoàng đế Anh Tôn và Thế Hùng cũng giựt mình nhìn theo. Cả ba đều hồi hộp, phập phồng lo sợ.
Tiếng chuyển động càng rõ rệt hơn trong không khí tịch mịch và vắng lặng. Đích thị rồi, quả có người đang di chuyển trên mái nhà, và kẻ bí mật nào đó không thể là ai khác hơn gián điệp của chúa Trịnh.
Không kịp nghĩ đến việc xin phép nhà vua và cậu ruột mình, Thế Hùng tuốt thanh kiếm ra khỏi vỏ, và lanh như cắt, nhảy tót ra khỏi phòng. Vì đã quen thuộc đường lối tại dinh này, chàng đâm đầu chạy thẳng một mạch xuống nhà bếp, rồi nhẹ nhàng mở cửa, lẻn ra ngoài.
Đêm tối, lại càng tối hơn vì khu vườn gồm toàn cây cối rườm rà, sầm uất bao quanh ngôi nhà của viên ngự sử.
Chàng thanh niên êm ái cất mình nhảy phóc lên trên một cành cây khế, rồi như con vượn, chuyền từ cành nọ đến cành kia. Đến một mức khá cao ngang tầm với nóc nhà, chàng ngừng lại đưa mắt tìm tòi, bới móc qua bức màn đêm âm u, dày đặc.
Bỗng chàng thoáng thấy trước mặt mình, một bóng người đang đang lom khom bò trên mái nhà với hai tay, hai chân tương tợ như con vật đi bằng bốn cẳng. Cái bóng ấy tiến về phía chính giữa mái ngói, rồi nằm sát xuống, giống hệt một con thằn lằn trong điệu bộ rình mồi, đang để ý dò xét và nghe ngóng.
Không để mất thì giờ, từ trên cành cây, Thế Hùng đu mình phóng sang mái ngói.
Hai chân chàng vừa chấm xuống mái, tuy rất nhẹ nhàng, những cũng đủ cho cái bóng đen nghe được tiếng động.
Tức thì hắn vùng dậy, xây mặt trở lại, và trong chớp mắt hai võ khí trong tay hai đối thủ, bắt đầu va chạm nhau, chát chúa, loảng xoảng, trong sự im lặng giá lạnh của không gian.
Thế Hùng cương quyết lột mặt nạ tên do thám bí mật của Trịnh Tùng nên hăm hở tấn công như mưa bão. Vả lại tài nghệ lỗi lạc và nhứt là sức mạnh tích ứ trong người thiếu niên, khiến chàng đưa ra những miếng đòn cực kỳ ác liệt ngay lúc đầu đã khiến đối phương phải kinh khiếp rụng rời.
Thật vậy, chưa đầy một phút giao tranh, cái bóng đen kia đã tê buốt cả cánh tay và đấu pháp trở nên rối loạn. Một lát gươm của Thế Hùng vụt chém xả xuống bả vai hắn giữa lúc đang lúng túng, khiến hắn không đỡ nổi và không né kịp.
Bóng đen khẽ rú lên một tiếng kêu đau đớn và lăn nhào từ trên nóc nhà xuống đất.
Tức thì Thế Hùng cũng buông mình xuống nhảy theo bén gót.
Vốn chỉ muốn bắt sống đối thủ, đễ tìm xem nó là ai, nên chàng thanh niên không xuống tay liền, sau khi hai chân chàng vừa chấm đất.
Trước mặt chàng, kẻ lạ mặt đang lăn lộn trên bãi cỏ, một tay ôm chặt lấy vết thương. Thanh gươm của hắn văng ra xa, cách đó chừng năm thước.
Thế Hùng bước tới, một chân đạp lên bụng hắn, một tay dí mũi kiếm vào cổ hắn thét lên:
- Mi tên gì? Ở đâu? Ai sai mi đến đây dọ thám? Nói mau! Nếu chậm trễ, ắt làm quỷ không đầu dưới lưỡi kiếm này!
Kẻ lạ mặt ú ớ, thốt không ra tiếng, chẳng rõ vì hắn quá đau hay vì cố ý muốn lặng thinh. Ngay lúc ấy, một vùng ánh sáng chập chờn, từ phía sau chiếu tới, mỗi lúc mỗi gần. Thế Hùng xây lại thì thấy Đặng Ngự Sử, tay xách một ngọn đèn lồng từ nhà bếp, rón rén bước ra với vẻ hoảng hốt hiện rõ trên dung mạo.
Chàng thanh niên giơ tay vẫy cậu đến nhanh và ra hiệu cho ông biết rằng kẻ địch đã bị chàng đánh ngã. Vị lão quan khi ấy mới hơi vững bụng. Ông tới sát bên cạnh cháu mình, giơ cao ngọn đèn, soi tỏ xuống người lạ mặt đang nằm yên hai mắt nhắm nghiền trên thảm cỏ. Từ vết thương bên vai hữu hắn máu tuôn ra linh láng, đẫm ướt gần hết thân trước của bộ nhung phục màu xám tro mà hắn đang mặc trên mình.
Đặng Ngự Sử bỗng buột miệng kêu lớn:
- Ô kìa! Trương Hổ, tay bộ hạ lợi hại của chúa Trịnh.
Thế Hùng nhíu mày, ngạc nhiên hỏi lại:
- Thưa cậu, có phải Trương Hổ nổi danh là Tiểu Võ Tòng, đã từng bí mật sát hại nhiều vị trung thần, theo lịnh của Trịnh Tùng?
- Chính nó – Vị lão quan đáp.
Chàng thanh niên nghiến răng, cười gay gắt:
- Nếu thế thì quả đã đến lúc tận số của tên nầy rồi. Chúng ta còn do dự gì mà chưa kết liễu tánh mạng nó để trả thù cho bao nhiêu trang trung liệt.
Dứt lời, chàng thọc mạnh mũi kiếm vào cổ tên do thám. Những tiếng rên rỉ cuối cùng đưa ra đồng một lúc với tia máu vọt phun lên, kẻ lạ mặt đã thành một thây ma không cử động.
Thế Hùng cảm thấy khoan khoái và hả dạ vì chính tay mình đã diệt trừ được kẻ thù lợi hại phe đảng của phụ thân chàng.
Trái lại Đặng Ngự Sử rất lấy làm bối rối lo ngại trước vụ án mạng vừa xảy ra tại tư dinh của ông.
Ông đưa mắt nhìn khắp tứ bề, rồi nắm lấy tay chàng thanh niên kéo vào nhà vừa đi vừa bảo:
- Chúng ta phải lo hộ giá khởi hành ngay từ bây giờ vì Trịnh Tùng đã theo dõi và biết rõ dấu vết của nhà vua. Vả chăng cháu vừa hạ thủ một tay tùy tướng đắc lực của nó, chắc chắn là họ Trịnh sẽ không để yên chúng ta đâu.
Thế Hùng gật đầu tán thành điều nhận xét của cậu mình. Hai người bước vào nhà. Vị lão quan vắn tắt thuật lại cho Hoàng đến Lê Anh Tôn nghe việc tên dọ thám Trương Hổ bị giết. Nhà vua hết sức kinh dị, càng thúc giục rối rít:
- Chúng ta lên đường chớ! Các khanh còn chờ gì nữa. Nếu chúng ta chậm trễ, quân của Trịnh Phủ sẽ kéo đến bao vây dinh nầy trong chốc lát.
Đặng Ngự sử nghiêng mình kính cẩn:
- Xin bệ hạ cứ yên tâm kẻ hạ thần đã lo liệu đâu đấy sẵn sàng rồi. Dứt lời, ông lên tiếng nói tên lão bộc đang đứng chực sẵn ở phòng bên cạnh, ra lệnh khiêng mấy bao hành lý bỏ lên xe.
Thế Hùng rất lấy làm lạ thấy trong dinh vắng vẻ, ít người. Chàng tò mò hỏi:
- Thưa cậu, chẳng hay mợ, các em và gia nhơn trong nhà đi đâu vắng hết?
Vị lão quan thản nhiên đáp:
- Ta đã cho mợ cháu và các em về quê, từ ba hôm nay. Còn gia nhơn thì ta đuổi hết vì chúng không thể tin cậy được. Chỉ trừ ra tên lão bộc trung thành nầy được ta giữ lại, vì hắn đã thề quyết rằng thà chết chớ sẽ không bao giờ tiết lộ sự bí mật.
Chàng thanh niên rất thán phục hành vi và sự thận trọng của cậu mình. Trước kia chàng không hề ngờ rằng một vị văn quan già yếu, mảnh khảnh như thế lại có thể dám đương đầu với oai quyền hống hách táo bạo, tầy trời.
Đương đêm, một mình lẻn vào tận hoàng cung, bí mật đưa rước nhà vua và các hoàng tử về tư thất mình trú ngụ, rồi đồ mưu thiết kế đưa vua xuất ngoại để tránh khỏi nanh vuốt của lũ gian thần. Hành động gan dạ ấy quả thật là phi thường, hiếm có.
Tên lão bộc vừa sắp xong các bao hành lý rồi trở vào, thì Đặng Ngự sử xây lại mời vua Anh Tôn và các vị hoàng tử ra xe.
Lê thế Hùng được lịnh tiến lên trước để quan sát dọn đường và phòng ngừa mọi sự bất trắc.
Một lần nữa vị Hoàng đế thấy cần phải căn dặn kỹ hai người bạn đồng hành:
- Các khanh nên nhớ rằng trong lúc hoạn nạn, và kể từ giờ phút nầy, mọi sự xưng hô và lễ nghi phiền phức nên bãi bỏ để tránh sự nghi kỵ của người ngoài. Các khanh cứ tự do xưng hô với ta như là bạn thân và coi ta như thế. Vả chăng, sự thật thì chẳng những các khanh xứng đáng là bạn của ta và hơn thế, là ân nhân của ta nữa.
Vị lão quan và chàng thanh niên rất cảm động, đồng cúi đầu phụng mạng.
Đám người lướt xuống thềm rẽ sang phía tả đi quanh co trong khu vườn rậm rạp để rồi cuối cùng đến một lối đi nhỏ hẹp, khúc khuỷu ở phía sau dinh. Lối đi này ăn thông ra con đường quan lộ.
Đầu lối đi, ngay ở cổng sau, Thế Hùng lấy làm lạ chỉ thấy vỏn vẹn có một chiếc xe ngựa chất đầy rơm rạ, cao nghều nghệu.
Một lát sau khi Đặng Ngự Sử ra hiệu cho chàng tới phụ lực với ông, đỡ nhà vua và bồng hai hoàng tử lên xe, rồi giúp họ khỏa lấp rơm rạ kín mít trên mình họ, chàng thanh niên mới hiểu ra mưu mô thần diệu của cậu ruột mình.
Giờ khởi hành đã đến. Đặng Ngự Sử vội cởi bỏ chiếc áo dài lượt thượt, chỉ còn khoác trên mình một manh áo rách màu nâu mà ông đã mượn của tên lão bộc. Ông cũng không quên chụp lên đầu mình một chiếc nón lá rách tơi tả để cho sự trá hình được thiệt hoàn thành.
Lanh lẹ không kém một thanh niên còn trai tráng, vị lão quan nhảy thót lên xe, ngồi phía trước cầm cương, trong khi Thế Hùng cũng phóc lên yên ngựa.
Dưới ánh sáng mơ hồ của muôn sao lấp lánh, một lần chót, Đặng Ngự Sử quay đầu nhìn lại để vĩnh biệt trong luyến tiếc, nếp nhà thân yêu cả người lão bộc trung thành.
Đoạn ông ra roi quất mạnh. Bốn bánh xe từ từ lăn và những vó ngựa vỗ dồn dập trên con đường mòn khúc khuỷu. Đến đường cái, các con vật khởi sự tăng gia tốc lực, chỉ trong nháy mắt, chàng kỵ mã và chiếc xe chở những người tị nạn đã biến mất vào trong bóng tối mịt mù.
Ra đến ngoại ô, họ rẽ về phía nam, thẳng nhắm hướng Nghệ An trực chỉ. Thình lình trên con đường vắng vẻ hiu quạnh, Thế Hùng chợt thấy một đám binh sĩ lố nhố gồm chừng mười mấy người. Đó là một trong những đoàn tuần quân của Chúa Trịnh có phận sự đi canh phòng mỗi đêm khắp trong vùng ngoại ô của Tây Thành.
Đặng Ngự sử tuy hơi hồi hộp lo lắng, nhưng cũng bình tĩnh cho xe tiếp tục tiến lên.
Ông cẩn thận xây lại dặn khẽ nhà vua ngồi nấp dưới đống rơm:
- Quân canh sắp đến nơi. Xin nằm sát xuống và nhớ đừng cựa quậy.
Từ dưới đống rơm có tiếng văng vẳng đáp lại:
- Được rồi!
Thế Hùng như tiên cảm thấy chuyện chẳng lành. Chàng thúc ngựa đi song song và khít bên cạnh chiếc xe, bàn tay mặt để sẵn nơi chuôi kiếm.
Chỉ còn vài chục thước nữa, khi khoảng cách biệt phân chia đôi bên đang được thâu ngắn lại rất nhanh thì một ngọn đèn lồng bỗng dơ cao lên giữa lộ. Bọn tuần quân của Trịnh Tùng, lẹ như chớp, đã giăng ngang trên đường cái thành một dãy hàng rào để cản lối đi.
Ngự sử Đặng Phương vội ghì cương ngựa lại. Đồng thời Lê Thế Hùng cũng bắt chước cậu mình.
Trước mặt họ là một tốp người võ trang bằng đoản đao, bận nhung phục vải màu xanh, đầu đội nón nhỏ vành. Rời khỏi hàng ngũ của chúng, viên đội chỉ huy cao lớn và vạm vỡ bệ vệ bước ra, dõng dạc thét hỏi:
- Ê, xe chở gì đó? Cớ sao chạy giữa đêm hôm khuya khoắt như vậy?
Lê Thế Hùng rất bực tức trước sự cản trở bất ngờ nầy, và nhứt là trước điệu bộ kiêu căng, hợm hĩnh của viên đội. Trái lại, Đặng Ngự sử vẫn giữ vẻ mặt điềm nhiên. Ông dịu giọng và thong thả đáp
- Thưa đội trưởng, xe nầy chở rơm rạ đưa về tàu ngựa. Chúng tôi là gia nhơn của quan Thái phó Nguyễn hữu Liên.
Năm tiếng “Thái phó Nguyễn Hữu Liên” làm cho viên đội trưởng hơi giựt mình. Nguyễn Hữu Liên là một bực thượng tướng tay chơn của chúa Trịnh Tùng, có oai quyền hống hách “chém trước tâu sau” khiến khắp Tây đô đều phải khiếp sợ. Ngự sử Đặng Phương vốn rành tâm lý, nên đã khéo lựa cái tên ấy để gạt và dọa bọn lính tuần.
Viên đội đưa tay mân mê bộ râu cá chốt của mình, nhe răng mỉm cười, để làm quen và chữa lỗi về bộ tịch hách dịch vừa rồi của mình:
- À, té ra là xe của người nhà quan Thái phó mà chúng tôi không hay! Thôi mấy anh đừng phiền nhé! Chúng tôi là lính tráng chỉ biết thi hành phận sự. Vả chăng, tối nay vừa xẩy ra vụ con trai của Thái quận Công Lê Cập Đệ, đại náo kinh thành, giết tướng sĩ của triều đình nên theo lịnh trên, chúng tôi buộc lòng phải tra xét nghiêm nhặt.
Dứt lời, hắn liếc nhìn qua Đặng Ngự sử, Lê thế Hùng, liếc nhìn đống rơm, và giơ tay toan ra lịnh cho phép chiếc xe tiếp tục đi.
Thốt nhiên từ dưới đống rạ, một tiếng ho nhẹ nổi lên, tiếng ho không cầm giữ được của một đứa bé đang bối rối vì ngạt thở. Rồi nối theo đó là một chuổi ho dài sù sụ.
Vị lão quan và chàng thiếu niên giựt mình vì thấy cơ mưu bại lộ, trong khi viên đội rất đổi ngạc nhiên. Đoán chắc trong xe có sự bí mật, hắn bèn leo lên, thò một tay vào bới móc đống rơm để tìm kiếm nguyên do các tiếng động mới rồi.
Thế Hùng thấy cần phải hành động gấp để sớm thoát khỏi cơn nguy biến đột ngột do sự rủi ro của một hoàng tử nhỏ tuổi gây ra. Lanh như cắt chàng tuốt gươm chém phăng viên đội đứt làm hai đoạn.
Bọn lính thấy kẻ chỉ huy của mình bị hạ sát bất ngờ và ghê gớm như thế, bèn cả giận rút đoản đao ra, áp lại quyết vây đánh Thế Hùng.
Khinh thường chúng, chàng thanh niên không tỏ chút vẻ gì quan tâm, nao núng. Chàng xây lại bảo nhỏ Đặng Ngự sử:
- Thật là một việc vạn bất đắc dĩ. Cháu phải giết sạch lũ nầy, vì nếu để một tên sống sót thì hắn sẽ phi báo cho Trịnh Tùng truy ra dấu vết của chúng ta.
Nói xong, từ trên lưng ngựa, chàng nhảy xổ vào đám đông như một con diều hâu đáp xuống giữa đàn gà con táng đởm. Thế rồi, lưỡi kiếm của chàng bắt đầu quay tít, vù vù bổ xuống hàng chục ngọn đoản đao, kêu chan chát.
Lưỡi kiếm ấy xê động đến đâu, quân địch ngã rạp ra tới đó. Chỉ trong khoảnh khắc, con đường thiên lý đã chan hòa dưới máu đào linh láng, và xa gần, lăn lóc vài thủ cấp bị đứt lìa rải rác bên cạnh mười mấy các xác chết nằm ngổn ngang của đám tuần quân.
Trận chém đâm kết thúc. Thế Hùng lại lên ngựa. Đoàn người sau một hồi gián đoạn đầy nguy ngập, lại gấp rút tiếp tục cuộc viễn trình.
Viên cai ngục kính cẩn cúi rạp mình xuống trước một người to béo phục phịch mặc áo gấm xanh, đầu bịt khăn đen, đang vượt qua khung cửa của đề lao hấp tấp bước ra ngoài.
Như sực nhớ điều gì quan hệ, người ấy dừng chơn nghiêm nghị bảo nhỏ anh cai ngục:
- Nhà ngươi phải nhớ kỹ, đừng hờ hỏng để tiết lộ sự bí mật nầy. Do lịnh của Bình An Vương, hễ ai bất tuân thì sẽ bị chém đầu tức khắc.
Hai tay chấp trước ngựa, viên ngục quan khúm núm gật đầu lia lịa:
- Dạ, quan lớn cứ tin cậy ở kẻ hèn mọn nầy. Từ trước đến nay, luôn luôn kẻ tiện nhơn vẫn hết sức lo tròn phận sự.
Lặng thinh không đáp, người to béo đi thẳng về phía một tên quân giữ ngựa đứng chực sẵn kế đó chừng 10 thước. Ông giơ tay tiếp lấy dây cương của tên lính lễ phép dâng trao, rồi nhảy thót lên yên. Con ngựa bắt đầu phi nước đại, băng mình qua một khu vườn rậm rạp để ra đường cái, rồi vùn vụt tiến về cửa hoàng thành.
Như đã quen thuộc và nhận biết rõ người đang ngồi trên lưng ngựa, bọn lính gác lập tức dang ra hai bên để nhường lối đi. Người cao lớn vượt qua rất nhanh, rẽ qua phía trái tức là ngõ vào phủ Chúa.
Trong nháy mắt, con vật đã ngừng lại trước một tòa biệt điện nguy nga rộng lớn, với lối kiến trúc cổ kính tráng lệ và kỳ xảo nhứt của thời bấy giờ.
Người to béo vội vàng xuống ngựa và hất hàm hỏi một tên lính thị vệ đang khoanh tay đứng nghinh đón mình ở trước sân:
- Đức Bình an Vương đã đi nghỉ chưa?
- Bẩm đại nhơn, chưa – tên thị vệ đáp – Ngài còn thức và ngồi chờ đại nhơn trong điện. Để tiểu tốt vào phi báo có đại nhơn đến yết kiến.
Người to béo xua tay:
- Không cần. Nhà ngươi cứ để mặc ta!
Dứt lời, ông tất tả bước lên thềm và xăm xăm một mạch tiến thẳng vào trong phủ. Đến trước gian phòng khách sáng trưng dưới hàng chục ngọn đèn bạch lạp, người to béo chưa kịp dừng chân thì một chuỗi cười lanh lảnh dòn tan nổi lên, khiến ông hơi giựt mình, đứng sựng lại cúi đầu thi lễ.
Chuỗi cười đó là của chúa Trịnh Toàn đang ngồi xem các công văn và những giấy tờ bí mật sau một chiếc án thư:
- Hà hà hà… quan thái phó đấy à? Mời ông vào đây. Tôi chờ ông từ nãy đến giờ…
Người to béo không ai khác hơn là Thái phó Nguyễn Hữu Liên, cánh tay mặt của chúa Trịnh, rón rén bước vào và thong thả ngồi lên trên mặt chiếc ghế bành trước án thư mà Bình an Vương vừa chỉ. Trịnh Tùng vẫn cười ha hả tiếp:
- Thế nào? Về nhiệm vụ mà ta ủy thác, quan Thái phó đã làm xong rồi chứ?
Nguyễn Hữu Liên chỉ đợi hỏi đến câu ấy là nhanh nhẩu đáp:
- Bẩm thiên tuế, kẻ ty chức đã thi hành lịnh trên một cách kín nhẹm hoàn toàn. Sau khi bị ty chức ép uống phải uống thuốc độc, hai vợ chồng lão Thái quận công Lê Cập Đệ đã trút linh hồn trong ngục thất. Liền đó, ty chức rời khỏi đề lao phi ngựa đến đây, và không quên dặn dò viên ngục quan phải hết sức cẩn thận đừng để tiết lộ sự bí mật.
Trịnh Tùng đưa tay mân mê bộ râu mép lơ thơ mỉm cười đắc ý:
- Được lắm, thế là rồi đây dự luận sẽ tưởng rằng lão già ấy tự tử mà thác. Có ai dám ngờ la do bàn tay của chúng ta đâu.
Ngừng một lát, họ Trịnh bỗng nhìn thẳng vào mặt của kẻ đối thoại và hỏi:
- À, nầy quan Thái phó có hay tin vua Anh Tôn vừa lén lút trốn khỏi hoàng cung để xuất ngoại rồi chăng?
Nguyễn hữu Liên sửng sốt:
- Quả thật vậy ư? Chẳng hay thiên tuế đã cho người đi theo bắt lại nhà vua chưa?
Bình an Vương ngả người ra cười khanh khách:
- Bắt y làm gì? Y tự ý bỏ ngai vàng ra đi, tức là trúng kế của ta đó. Nếu y còn tại vị mãi, ta không thể truất ngôi y hay ám hại y mà không làm xao xuyến nhân tâm. Tuy nhiên, dầu Lê Anh Tôn đi tới đâu, luôn luôn đều có thám tử của ta theo dõi y từng bước, và rồi đây, đến lúc thuận tiện ta sẽ kết liễu tánh mạng y không muộn.
Nguyễn Hữu Liên gục gặt đầu, tỏ vẻ thán phục cao kiến của Trịnh Tùng. Ông toan lên tiếng hỏi, thì bỗng tên lính thị vệ từ ngoài xồng xộc chạy vào phi báo:
- Bẩm thiên tuế, có một nhơn viên trong ban trinh sát xin vào hầu thiên tuế để phúc trình việc quan hệ.
Bình an Vương dõng dạc phán:
- Cho vào!
Một lát sau, một viên vệ úy, dáng người tầm thước, nước da ngăm ngăm đen, bước vào phòng, khép nép vái chào Chúa Trịnh và Thái phó Nguyễn Hữu Liên, rồi khoanh tay lặng yên chờ lịnh.
Trịnh Tùng ngước nhìn lên, quắc mắt hỏi:
- Vua Anh Tôn và hai hoàng tử đã lìa khỏi dinh của lão Ngự sử Đặng Phương chưa?
- Bẩm rồi ạ - Viên thám tử đáp. – Họ dùng một chiếc xe ngựa chất đầy rơm để tỵ nạn. Nhà vua và hai hoàng tử núp dưới đống rơm. Nhưng trước đó đã xẩy ra một việc đáng tiếc. Phó tướng quân Trương Hổ đã bị một người trong bọn họ đâm chết, trong khi đang núp trên mái nhà của Đặng Phương để thám thính.
Mặt Trịnh Tùng đỏ phừng vì cơn thịnh nộ lên tới cực điểm. Ông đấm thình xuống án thư và thét:
- Ái chà! Té ra bọn chúng lộng thật! Vậy nhà ngươi có biết kẻ đã sát hại Trương Hổ là đứa nào không?
- Dạ có – viên vệ úy thưa – thủ phạm đã giết chết Trương tướng quân là Lê Thế Hùng cháu ruột gọi Ngự sử Đặng Phương bằng cậu. Vào phút chót, Thế Hùng đến nhập bọn với họ Đặng và tình nguyện đi theo hộ giá cho vua Anh Tôn.
Nguyễn Hữu Liên xen vô:
- Có phải Thế Hùng là con trai Lê Cập Đệ, cách đây chừng một giờ, đã đánh tan đám binh sĩ triều đình có phận sự đến vây bắt hắn và làm kinh động cả một vùng phụ cận kinh thành đó chăng?
Trịnh Tùng nghiến răng:
- Phải rồi, chính thằng ranh con khốn kiếp ấy đó; chỉ vì ta sơ ý, khinh thường không thộp cổ nó trước nên mới nẩy sanh ra những vụ rắc rối, bất ngờ nầy!
Viên thám tử nối lời:
- Nhưng thưa thiên tuế, rắc rối hơn nữa là khi chiếc xe rơm bí mật vừa ra khỏi ngoại ô, nhắm Nghệ An thẳng tiến thì gặp một tốp lính tuần chận lại xét hỏi. Chính Lê Thế Hùng đã múa gươm giết sạch đám tuần quân, luôn một hơi mười bốn mạng…
Trịnh Tùng đứng phắt dậy, cặp mắt tròn xoe, đôi lông mày dựng ngược:
- Cha chả! Thằng con trai của Lê cập Đệ, miệng còn hơi sữa, mà dám to gan coi thường uy thế của ta à?
Được rồi! Đã đến lúc nó phải đền tội xứng đáng cùng một lượt với tên hôn quân và thằng giặc già họ Đặng kia.
Dứt lời, chúa Trịnh xua tay ra dấu cho viên thám tử lui ra, rồi nghiên mình về phía trước, ghé sát bên tai của Nguyễn Hữu LIên, nói thì thầm những gì, không ai nghe rõ, chỉ thấy vị thái phó luôn gật đầu vâng, dạ.
Một lát sau, tiễn đưa Hữu Liên ra khỏi cửa phòng, Trịnh Tùng còn dặn dò thêm:
- Ông phải thi hành xong nhiệm vụ gấp rút nội trong ngày mai. Đừng quên rằng chúng ta cần sớm rảnh tay về việc nội bộ để lo đối phó với một mối hiểm họa, càng ngày càng bành trướng là Mạc Mậu Hiệp.
Trời vừa tờ mờ sáng thì chiếc xe rơm vượt qua ranh giới, chia đôi Tây đô và tỉnh Nghệ An.
Hoàng đế Lê Anh Tôn và Ngự sử Đặng Phương đều không khỏi mừng thầm vì họ vừa thoát khỏi Thanh Hóa, một khu vực cực kỳ nguy hiểm.
Nãy giờ, trên con đường thiên lý, nhờ có bóng đêm dày bao phủ, nên nhà vua không sợ ai chú ý nữa. Ông và hai hoàng tử đều trồi đầu ra khỏi đống rơm, để được hít thở không khí tự do.
Đến một khoảng lộ gồ ghề, lổm chổm đầy sạn đá, giữa lúc nhà vua và Đặng Ngự sử đang âm thầm bàn bạc với nhau về cách xử trí khi tới Nghệ An, thì thình lình chiếc xe vấp phải một hòn đá và lật nhào sang một bên, sau một tiếng “rắc” dữ dội.
Anh Tôn hoàng đế và hai cậu bé rú lên, kinh hãi. Vị lão quan thất sắc, cố sức ghì dây cương lại nhưng vì sẵn trớn quá mạnh, con ngựa cứ lôi trân chiếc xe trên mười mấy thước.
Thế Hùng giữ phận sự hộ tống bèn lập tức can thiệp phụ lực với ông để bắt con vật phải ngừng lại.
Trừ Đặng ngự sử ra, ba cha con nhà vua ngồi trên xe đều văng xuống đất và bị trầy trụa sơ sài. Công việc thứ nhứt của Thế Hùng là lo đỡ những người bị thương dậy và lấy bùi nhùi châm lửa đốt lên để quan sát cho rõ ràng tai nạn bất ngờ nầy.
Thì ra đây là một sự rủi ro: Bánh xe bên tả vì đã cũ và hơi lỏng lẻo, nên thình lình tung ra, gãy làm hai đoạn.
Mọi cố gắng sửa chữa đều vô ích, vì giữa đường tìm đâu ra gỗ và những dụng cụ cần thiết.
Sau khi loay hoay xem xét một hồi lâu, đám người bị nạn đành lắc đầu thất vọng trước chiếc xe, đột nhiên trở nên vô dụng.
Anh Tôn hoàng đế thở dài, bảo Ngự sự Đặng Phương và chàng thanh niên dõng sĩ:
- Thôi, bây giờ chúng ta chỉ còn có cách là lên hết trên lưng ngựa để thong thả vào địa phận Nghệ An. Tới đây chúng ta không còn sợ bọn tay sai của Trịnh Tùng đuổi nữa.
Đặng Ngự sử tỏ vẻ lo ngại:
- Nhưng đến Nghệ An, phải hết sức đề phòng mới được
Nhà vua gạt đi:
- Khanh khỏi phải lo điều đó, vì viên trấn thủ Nghệ An tên là Võ Tuyển vốn là một kẻ trung thần thuộc vây cánh của chúng ta. Y sẽ tiếp rước chúng ta nồng hậu. Và sẽ đắc lực giúp chúng ta một tay trong việc mưu đồ đại sự.
Vị lão quan không dấu được nỗi vui mừng:
- Nếu vậy thì hay lắm. Chỉ sợ rằng mới đây Trịnh Tùng đã âm thầm thay thế viên trấn thủ ở xứ nầy mà giấu kín, không phúc bẩm với bệ hạ.
- Không có lẽ
Nhà vua vừa đáp vừa nhìn về phía chân trời, mặt bâng khuâng tư lự. Bất giác ông rùng mình sực nhớ lại cái bánh xe gẫy suýt làm ông và hai hoàng tử bỏ mình. Đối với ông, cái bánh xe gẫy đột ngột là một triệu chứng rất xấu, điềm báo trước một biến cố ghê gớm đang chờ ông.
Tuy nhiên, là người gan gốc, vị hoàng đế xua đuổi liền những ý tưởng đen tối vừa qua đến ám ảnh mình. Ông xây lại mỉm cười, ôn tồn bảo các bạn đồng hành:
- Trời sắp sáng rồi, chúng ta hãy đi tìm một cái quán cơm nào gần đây để ăn lót lòng, rồi sau sẽ liệu.
Hai cậu cháu vị lão quan cúi đầu phụng mạng. Đặng Ngự sử cởi lên lưng con ngựa đã dùng để kéo xe và đưa tay dìu vua Anh Tôn lên ngồi phía sau. Trong lúc ấy, Thế Hùng cẩn thận lấy dây vải đai ngang mình hai vị hoàng tử rồi đem đặt tất cả lên lưng ngựa.
Thế rồi, bỏ lại chiếc xe hư, họ nhắm một thôn xóm, thấp thoáng xa xa sau lũy tre xanh mà tiến tới.
Những nếp nhà tranh lơ thơ, rải rác hai bên con đường làng, bắt đầu lần lượt xuất hiện dưới ánh nắng rực rỡ của bình minh.
Không cần phải lựa cho lâu, vì ai nấy đều đói lả và mỏi mệt sau một cuộc hành trình gần một đêm đầy gian lao, vất vả, nhóm người tỵ nạn, dừng bước trước một tửu quán đầu tiên mà họ gặp.
Quán rượu này tuy không rộng rãi lắm nhưng có vẻ sạch sẽ, gọn gàng, nhứt là với cái mái ngói đỏ ao mới lợp, nổi bật lên giữa đám nhà lá xa gần. Hình như đó là quán rượu đứng vào bực nhứt của vùng này.
Thế Hùng nhảy xuống ngựa rồi đỡ hai vị hoàng tử xuống theo trong khi, ở bên cạnh, Đặng Ngự Sử và vua Anh Tôn cũng vừa đặt chân xuống đất.
Sau khi lên tiếng gọi người giúp việc trong quán để nhờ họ trông nom giùm hai con ngựa, ba người lớn dắt hai cậu bé thong thả bước vào tửu quán.
Trừ chàng thanh niên dũng sĩ ra, nhà vua và vị lão quan hơi có vẻ lo ngại và bỡ ngỡ. Họ đi thẳng vào phía trong để tìm một chỗ kín đáo, đồng ý ngồi xuống xung quanh một chiếc bàn kê góc trái, tận trong cùng.
Chủ quán, một anh chàng trạc ba mươi tuổi, cao lớn vạm vỡ, kính cẩn bước ra chào khách. Đôi mắt luôn luôn láo liên nấp dưới đôi lông mày rậm xếch ngược lên, và đôi vành môi thâm đen hơi mím lại của hắn tố cáo rằng đó không phải là một người lương thiện.
Ngự sử Đặng Phương liếc nhìn hắn và không ngăn được ý tưởng ngờ vực thoáng qua. Nhà vui trái lại, dường như không để ý đến điều ấy vì ông thản nhiên bảo chủ quán:
- Nhà ngươi có món điểm tâm gì ngon hãy đem lên đây.
Chủ quán nhỏ nhẹ đáp:
- Thưa quý vị từ phương xa mới đến nên chưa rõ, chớ ở vùng quê hẻo lánh nầy làm gì có tiệm bán các món điểm tâm. Vì hết thảy dân quê đều ăn lót lòng buổi sáng tại nhà trước khi đi làm hay ra đồng cày cấy.
Đặng Ngự Sử hơi chột dạ về mấy tiếng “quý vị từ phương xa mới đến” do tên chủ quán thốt ra song hoàng đế Lê Anh Tôn thì không hề lấy làm lạ lắm. Ông cho rằng không riêng gì, tên chủ quán mà bất cứ ai cũng có thể đoán được họ là khách viễn phương khi nhận thấy cát bụi của dọc đường đang rành rành phủ đầy trên áo họ.
Riêng Thế Hùng lại nghĩ đến chuyện khác. Chàng đưa mắt lơ đãng nhìn quanh. Quá đúng như lời tên chủ quán vừa nói, trong quán lúc ấy rất vắng vẻ, không có khách khứa nào khác hơn là nhóm người tỵ nạn đang ngồi tại bàn nầy.
Bụng đói như cào, chàng ngẩng mặt hỏi chủ quán:
- Thế ở đây nhà ngươi chuyên bán những gì?
- Dạ, cơm và rượu
Thế Hùng cả mừng cười ha hả:
- Vậy nhà ngươi còn chờ gì mà chưa dọn ra.
Sợ người cháu trẻ tuổi và nông nổi của mình vì vô ý vượt quá giới nghi lễ đối với nhà vua, Đặng Ngự Sử vội xen vào bảo chủ quán:
- Được rồi, nhà ngươi hãy sửa soạn cho chúng ta một bữa ăn với cá thịt cho thật ngon, dầu đắt tiền bao nhiêu cũng được. Miễn là phải dọn gấp, vì chúng ta có việc cần kíp phải đi ngay sau khi dùng cơm xong.
Tên chủ quán nghiêng mình:
- Quí vị sẽ được vừa lòng.
Dứt lời, hắn quay quả xuống bếp ra lịnh cho gia nhơn. Một lát sau, hắn trở lên với một bình rượu và ba chén nhỏ nơi tay. Hắn vừa thong thả đặt các vật lên bàn vừa nói:
- Đây là rượu hâm nóng, thứ nhứt của tiệm tôi, xin tam vị dùng thử một vài chén cho ấm lòng trong khi chờ đợi các món ăn bưng lên.
Với một nụ cười xã giao, tên chủ quán lần lượt rót đầy ba chén rượu rồi từ từ lui xuống nhà sau.
Đôi mắt của Thế Hùng như dán chặt vào cái chén nhỏ màu xanh lợt đang đặt trước mặt mình. Chàng không giấu được sự thèm thuồng trước hơi men thoang thoảng bốc lên.
Chàng thanh niên, mà cơ thể dồn ứ sức mạnh dồi dào và nhựa sống chợt nhớ lại những ngày vui tươi yên ấm vừa qua ở Tây thành, bên cạnh các bạn đồng trang lứa đã cùng chàng rẻn luyện võ nghệ, kiếm cung. Men rượu hôm nay đã nhắc chàng chạnh nhớ lại những buổi biểu diễn quyền thuật sôi nổi, những buổi múa đao ngoạn mục dưới trăng, trong một không khí tưng bừng của tuổi thanh xuân đầy hoan lạc.
Đoán biết ý của Thế Hùng, hoàng đế Anh Tôn mỉm cười bảo chàng:
- Hiền điệt đi đường mệt nhọc nhiều, hãy uống trước đi, không cần phải đợi chúng ta.
Đặng Ngự Sử cũng nối lời:
- “Đại ca” đã cho phép, cháu cứ việc tự tiện.
Chàng thanh niên mừng rỡ, ngỏ lời cám ơn nhà vua và cậu mình, rồi cầm chén đưa lên miệng nốc một hơi.
Chàng vừa uống cạn, thì đến phiên nhà vua và vị lão quan mời nhau nâng chén.
Đột nhiên họ dừng tay lại, biến sắc: Họ thấy Thế Hùng choáng váng, mặt mày phờ phạc, ngã gục xuống trên mặt bàn, mềm nhũn như một cái xác không hồn.
Trong nháy mắt, Đặng Ngự Sử và vị hoàng đế đã thoáng hiểu rõ sự thật, một sự thật kinh khủng ghê hồn: Thế Hùng người bảo vệ đắc lực cho họ đã bị đầu độc, hay bị bỏ thuốc mê, và chủ quán nầy chính là ổ sào huyệt của bọn tay sai Chúa Trịnh.
Hai người sợ hãi, đưa mắt lặng nhìn nhau. Không ai bảo ai, cả hai chúa tôi đồng ném mạnh ly rượu đang cầm trong tay xuống đất, và đưa tay nắm lấy chuôi thanh đoản kiếm giắt sẵn bên mình, che giấu dưới lớp áo ngoài.
Quả thật nhà vua và vị lão quan đoán không lầm, vì, kia kìa! Tên chủ quán đã từ từ bước lên, nhưng lần nầy, với một dáng điệu kiêu căng, ngạo nghễ vô cùng khả ố. Hắn khởi sự vứt bỏ chiếc khăn quê mùa lòng thòng đang bịt trên đầu, như kẻ gian ác để rơi mặt nạ, và mở phanh áo ra như muốn khoe bộ ngực căng phồng với những vết xâm chằng chịt.
Hắn đứng chống nạnh, nhìn thẳng vào mặt vua Anh Tôn và vị Ngự sử mà cười sằng sặc:
- Bệ hạ và quan lớn đây kể ra cũng có tài cải trang và đóng kịch đấy chứ, nhưng không thóat khỏi cặp mặt của chúng ta đâu!
Giọng mai mỉa và đay nghiến trên đây làm cho vị hoàng đế nổi giận trừng trừng nhìn hắn và quát:
- Đồ súc sanh! Mầy là ai mà dám buông ra những lời vô lễ như vậy? Hay là mầy cậy thế là tay sai của Trịnh Tùng?
Bị chạm nặng đến lòng tự ái tên chủ quán mặt đỏ phừng vì câm tức, cũng hầm hầm đáp.
- Ừ, phải đó, ta là tay sai của chúa Trịnh và đang có phận sự thộp cổ tên hôn quân hèn nhát, nửa đêm bỏ kinh thành chạy trốn. Các ngươi đã muốn biết, sẵn đây ta cho biết danh hiệu của ta.
Ta chính là Cẩm vệ tướng quân Trương Báo. Anh ta là Tiểu Võ Tòng Trương Hổ, hồi hôm đã bị cái thằng khốn kiếp Thế Hùng kia sát hại một cách thảm thương. Hôm nay ta muốn ăn tươi nuốt sống hắn lập tức, để trả thù, nhưng tiếc rằng ta không có quyền. Vì ta chỉ được lịnh bỏ thuốc mê cho hắn để rồi nhốt hắn vào cũi, đem áp giải hắn về Tây Đô cho Bình An Vương trị tội.
Được biết rằng Thế Hùng chỉ uống nhằm thuốc mê mà chưa bị đầu độc, Đặng Ngự Sử hơi mừng thầm cho số phận của cháu mình, vì ông nghĩ rằng Hùng chưa chết, tất thế nào rồi đây, chàng cũng còn hy vọng gặp được cơ hội để thoát thân.
Tuy nhiên, riêng về tánh mạng của ông, của nhà vua, ông rất lấy làm lo lắng, vì không có cách gì để tự bảo toàn. Cả hai chúa tôi đều là những nho sĩ văn nhơn già yếu làm sao đối phó nổi một tay chủ tướng vặm vỡ, có sức mạnh muôn người không địch như Trương Bào.
Thấy vị hoàng đế vẫn chưa nguôi giận trước thái độ lỗ mãng và khiêu khích của Trương Báo, Đặng Ngự Sử nắm lấy tay nhà vua kéo đi và dắt luôn hai Hoàng tử, toan bước ra khỏi quán.
Trương Báo không bước tới cản họ lại. Hắn chỉ bỉu môi, khoanh hai tay trước ngực nhìn theo và bảo bằng một giọng thách đố:
- Các người đừng hòng thoát khỏi đây vô ích. Hãy lo nạp mình đi cho rồi, vì ngoài kia, binh sĩ của chúng ta đã bao vây khắp bốn bề.
Vị lão quan và vua Anh Tôn giật mình nhìn ra. Quả đúng như lời hắn, trước cổng quán, vô số quân lính thuộc đội vệ binh của Trịnh Tùng, không rõ xuất hiện từ hồi nào đang giăng ra như dãy hàng rào dày đặc, với một rừng gươm dao, tua tủa, sáng ngời.
Đồng thời, ở phía sau cái “hàng rào” ấy, một viên tướng to béo phục phịch vừa xuống ngựa. Đám dông binh sĩ tức thì dang ra, tách thành một lối đi, để cho viên tướng ấy hách dịch và bệ vệ tiến vào:
- Trời ơi! Nguyễn Hữu Liên!
Vị hoàng đế và Đặng Ngự Sử kinh dị, thốt ra mấy tiếng ngắn ngủi trên đây rồi đứng sửng sờ như hai pho tượng.
Viên tướng to béo và phục phịch ấy chính là Thái phó Nguyễn Hữu Liên, chậm rãi đến trước mặt nhà vua, nghiêng mình thi lễ:
- Tâu bệ hạ, kẻ hạ thần vưng lịnh của Bình An Vương tới đây xin rước thánh giá hồi loan…
Chán rõ mưu mô nham hiểm của viên Thái phó, vua Anh Tôn quay mặt đi, làm thinh không đáp.
Bằng một giọng nghiêm nghị và lạnh lùng, Nguyễn Hữu Liên lại tiếp:
- Tâu bệ hạ, kẻ hạ thần được lịnh của thượng cấp phải thi hành gấp rút, không thể trì hoãn được. Vậy xin bệ hạ miễn chấp.
Dứt lời, ông xây lại phía sau, dõng dạc hô to:
- Quân đâu! Hãy rước thánh thượng và nhị vị hoàng tử lên kiệu…
Không dằn được nỗi căm tức đã lên tới cực độ, Ngự sử Đặng Phương chỉ thẳng mặt Hữu Liên mà mắng rằng:
- Thằng phản tặc, mầy đường đường làm đến chức Thái phó đại thần, vậy mà không biết lo báo đáp giữ dạ trung thành, lại nỡ nhẫn tâm đi theo phò một kẻ đại gian ác để hãm hại quân vương.
Lời nguyền rủa đó có hiệu lực của một gáo nước lạnh dội lên đầu Nguyễn Hữu Liên. Mặt ông ta tái mét, toàn thân run lên vì thạnh nộ, trông ghê gớm như một con thú dữ bị thương.
Xấu hổ với đám sĩ tốt của mình, Hữu Liên tuốt gươm ra, quay về phía Đặng Ngự Sử, xỉa xói và hăm dọa:
- Lão già, gàn dở và hỗn láo kia, hãy câm mồm lại! Nội cái tội mưu đồ phản nghịch và cám dỗ nhà vua cũng đủ cho mi rụng đầu rồi. Này, ta bảo cho mà biết! Ta chỉ còn tạm gởi cái thủ cấp mi trên cái cổ mi chừng vài giờ nữa thôi!
Nói đoạn, ông ta hất hàm hạ lịnh cho Trương Hổ:
- Trương tướng quân, hãy trói Quách Đặng Phương lại và giữ hắn tại đây để chờ bổn chức định đoạt!
Sau một tiếng “dạ”, Trương Hổ đã nhảy sấn đến như một lằn chớp lẹ chân đá trúng cánh tay mặt của vị lão quan. Tức thì, thanh đoản kiếm cầm trong tay ông văng tuốt ra xa.
Đặng Ngự Sử chưa kịp phản ứng lại, thì một vòng xích sắt đã cột lấy hai bàn tay gầy gò, khẳng khiu của ông và siết chắt lại.
Đồng thời, từ phía ngoài, chầm chậm tiến vào một chiếc kiệu sơn son thếp vàng với hai hàng binh sĩ mang giáo dài sáng loáng, oai vệ đi kèm hai bên.
Khi tới trước mặt hoàng đế Anh Tôn, sáu người phu khiêng lực lượng từ từ hạ kiệu xuống, trong khi đám lính có phận sự hộ tống, cúi rạp mình cung kính vái chào.
Nguyễn Hữu Liên chắp hai tay tâu nhà vua, giọng lạnh lùng như một lịnh truyền:
- Kính thỉnh bệ hạ và nhị vị hoàng tử lên kiệu.
Vua Anh Tôn nhíu mày nhìn viên Thái phó một cách khinh bỉ, như muốn phỉ nhổ vào mặt hắn cho đã giận. Thấy mình cô thế giữa một số đông địch thủ hùng mạnh vây kín chung quanh, đã vây lại mất hết kẻ tay chân trung tín, nhà vua không còn hy vọng kháng cự nữa. Ông đành cùng với hai con bước lên kiệu với một niềm uất hận mênh mang…
Chiếc kiệu nhẹ nhàng cất lên và sửa soạn quay đi. Một lần chót, vị hoàng đế còn đưa tay hé mở chiếc màn lụa màu thanh thiên để cố thu lấy hình ảnh cuối cùng hai kẻ tôi trung, hay nói đúng hơn, hai người bạn chân thành, đã vì mình mà lâm nạn: Vị lão thần bị trói nằm trong một xó và chàng thiếu niên dõng sĩ đang gục đầu thiêm thiếp trên bàn.
Hình ảnh cuối cùng này là một kỷ niệm đau đớn, mà lát nữa đây, nhà vua xấu số, sẽ mang luôn xuống dưới tuyền đài…
Vừa chợt tỉnh dậy, Thế Hùng hết sức kinh ngạc thấy mình nằm chèo queo trong một cái cũi, hai tay và hai chân bị trói bằng dây xích sắt.
Chàng đưa mắt nhìn xem tứ bề, suy nghĩ một hồi và sực nhớ ra nơi đây là cái tửu quán ở Phú Diễn mà cậu ruột chàng và nhà vua đã ghé vào để dùng cơm, sau một cuộc hành trình chạy nạn vất vả.
Thoạt đầu, chàng lấy làm lạ về sự giam cầm của mình, sự vắng mặt của hoàng đế Anh Tôn và Đặng Ngự Sử nhưng, lần lần trí thông minh đã giúp chàng hiểu rõ.
Đầu chàng nóng bừng lên dưới sức mạnh của một cơn thịnh nộ dấy lên như bão táp. Vì đây là lần thứ nhứt mà chàng thanh niên dõng sĩ ngang tàng của xứ Tây đô, xưa nay vốn quen tung hoành trong không khí tự do, đột nhiên một sớm phải lâm vào cảnh chim lồng cá chậu.
Khó chịu và bực bội đến tột cùng, Thế Hùng cựa quậy mạnh như muốn phá tan tất cả những vật đang kềm hãm, trói buộc mình. Sự vùng vẫy của chàng đã làm cho xiềng xích khua rổn rảng, và toàn cái cũi kiên cố chuyển kêu răng rắc.
Những tiếng động khiến một toán binh sĩ đứng gác trước cổng quán lật đật chạy ùa vào. Chúng chỉ vào cũi và bảo nhau:
- Kìa, anh em ôi! Thằng Thiên lôi bị thuốc mê đã tỉnh dậy rồi.
Một tên lính tò mò hỏi:
- Tại sao lại gọi nó là Thiên lôi?
- Vì nó chỉ đụng sơ tới ai là người ấy bỏ mạng tức thời, không kém gì bị Thiên lôi đả vậy.
Một tên lính thứ ba đề nghị:
- Chúng ta phải đi phi báo ngay với Nguyễn đại nhơn và Trương tướng Quân biết rằng hắn đã tỉnh dậy rồi.
Tên lính thứ nhứt ngắt lời:
- Không cần. Bây giờ gần đúng ngọ rồi. Nguyễn đại nhơn và Trương tướng quân cũng sắp lên đường về Tây đô và ra lịnh cho chúng ta áp giải cái cũi nầy đi theo về nộp cho chúa Trịnh.
Tên lính thứ hai có vẻ tò mò, hạ thấp giọng xuống hỏi bạn đồng đội:
- Tại sao người ta không giết quách cái thằng nầy (chỉ Thế Hùng) tại đây, mà còn giải hắn đi xa làm gì, cho chúng mình phải nhọc xác? A nầy, nghe đâu hồi sáng nầy vua Anh Tôn đã bị thắt cổ chết tại Vườn Nứa ở Tây bắc Phủ Diễn rồi phải không?
Tên lính thứ nhứt tức thì trợn mắt, đưa ngón tay trỏ lên miệng:
- Suỵt. Đã có lịnh cấm nghiêm nhặt không được tiết lộ các sự bí mật, bộ anh quên rồi sao? Dại mồm dại miệng ắt không khỏi bay đầu một cách oan uổng, nghe chưa?
Những câu nói thì thầm sau cùng giữa hai tên lính nầy tuy rất khẽ, nhưng cũng đủ lọt vào tai chàng thanh niên bị giam trong cũi. Mấy tiếng “Vua Anh Tôn bị thắt cổ chết” làm cho chàng giựt mình, rởn óc. Thì ra trong lúc chàng mê man bất tỉnh, quân địch đã kết liễu tính mạng vua và cậu của chàng rồi. Riêng phận chàng, chúng để chàng còn sống, ấy là do ý muốn của Trịnh Tùng, muốn đích thân hành phạt chàng một cách hết sức nặng nề về tội chàng đã giết thác tướng Trương Hổ, một viên vệ úy, một đội trưởng và ngót năm mươi binh lính của Triều đình.
Uất tức quá, Thế Hùng muốn gầm thét lên hoặc dơ chân đạp tung cái cũi cho đã cơn phẫn nộ, nhưng chàng không làm, vì biết rằng vô ích.
Thình lình chàng nghe có những tiếng bước chân nện thình thịch trên mặt đất và liền đó, thấy hai người mặc võ phục sang trọng từ trong bước ra, một người có tuổi to béo phục phịch, và một thanh niên cao lớn, vạm vỡ. Ấy là Thái phó Nguyễn Hữu Liên và Cẩm vệ tướng quân Trương Báo. Cả hai vừa thi hành xong mạng lịnh của Chúa Trịnh: bí mật hạ sát hoàng đế Anh Tôn và Ngự sử Đặng Phương tại hai địa điểm khác nhau, mà chỉ riêng họ và vài kẻ trung tín biết rõ mà thôi.
Mấy tên lính gác, đứng cạnh chiếc cũi giam chàng dõng sĩ chợt thấy bóng của chủ tướng, đều sợ hãi đứng sang một bên, răm rắp cúi đầu chào.
Trương Báo quắc mắt nhìn chúng, nghiêm nghị hỏi:
- Các người có phận sự canh phòng trước cổng, tại sao lại kéo vào đây làm gì?
- Bẩm tướng quân, chúng tôi vừa nghe có tiếng động khác thường, bèn kéo nhau chạy vào xem thì mới hay là tên tù nầy vừa tỉnh dậy, vùng vẫy và cựa quậy hết sức dữ dội.
Vừa đáp, hắn vừa giơ tay chỉ vào cái cũi.
Nguyễn Hữu Liên và Trương Báo đưa mắt nhìn Thế Hùng đang ngồi trung cũi, mặt ngoảnh về hướng khác.
Trên đôi vành môi thâm đen của họ Trương, thoáng hiện một nụ cười đắc thắng và hiểm ác. Hắn nghinh ngang đi vòng sang phía tả, tiến đến trước mặt Thế Hùng để đối diện với chàng.
Hai tay khoanh trước ngực, hắn hất hàm hỏi người bị cầm tù:
- Thằng khốn kiếp kia, mầy có biết ta là ai đây không?
Thấy chàng dõng sĩ làm thinh không thèm đáp, hắn tiếp:
- Hạng ranh con miệng còn hôi sữa như mầy, hơi biết múa men đôi chút võ nghệ hẳn cũng đã từng nghe oai danh lừng lẫy của Cẩm vệ tướng quân Trương Báo vô địch anh hùng của xứ Tây đô chớ?
Lối xưng danh kiêu căng, tự phụ nầy khiến cho Thế Hùng liếc mắt nhìn kẻ đối thoại với một cái bĩu môi khinh bỉ rồi lại nhìn về phía khác.
Thái độ miệt thị ấy khiến Trương Báo rất căm giận. Hắn nghiếng răng gằn giọng:
- Hồi hôm, trong khi sa cơ thất thế, anh ruột ta đã phải bỏ mạng dưới lưỡi gươm của mi tại Tây thành. Giờ đây ta quyết phanh thây xẻ thịt của mi để phục thù, nhưng ta phải buộc lòng chờ lịnh. Thiệt tức, cha chả là tức!
Vừa nói hắn vừa giậm chưn thình thịch trên nền đất. Chưa hả giận, hắn tuốt gươm ra, luồn tay qua song cũi, dí mũi gươm vào chính giữa trán của Thế Hùng.
Vài giọt máu thấm đỏ trên vừng trán của chàng thiếu niên. Thế Hùng vẫn im lặng thản nhiên, không nhúc nhích.
Sợ Trương Báo lỡ tay trong khi quá nóng, Thái phó Nguyễn Hữu Liên liền sấn tới kéo hắn lùi lại và bảo:
- Ô hay! Tướng quân đã quên mạng lịnh của Bình An Vương rồi à? Ngài đã dạy rằng không ai được đụng chạm tới tánh mạng của con trai Lê Cập Đệ trước khi đem nộp nó tại Phủ Chúa. Nếu tướng quân sơ xuất một tý, thì bao nhiêu công khó của tướng quân sẽ thành công dã tràng, mà trái lại, tướng quân còn phải chịu trọng tội là khác nữa.
Dứt lời, vị Thái phó lôi tuột Trương Bảo bước ra ngoài và cấ ttieesng oang oang hạ lịnh cho đám lính gác:
- Hãy ra bảo toàn thể binh sĩ túc trực ngoài kia lo chuẩn ibj lên đường và kêu thêm mười mấy đứa vào đây phụ lực với chúng bây để áp giải tù xa.
Mấy tên lính vâng mạng, tất cả chạy đi thi hành lời truyền phán.
Một lúc sau, chúng trở vào với mười mấy tên quân nữa, xúm lại hì hục khiêng cái cũi lên vai và đưa thẳng ra ngoài cổng quán.
Tại đó, chúng hiệp sức nâng cũi đặt lên trên một chiếc xe ngựa rộng lớn và trống trải, đã chực sẵn bên lề đường.
Trong cũi, Lê Thế Hùng vẫn ngồi yên như một pho tượng với những giọt máu tươi loang loáng chảy từ vết thương nơi trán xuống sống mũi và hai bên mái. Cơn biến cố đã xảy ra tàn khốc và đột ngột đến nỗi chàng dũng sĩ cảm thấy choáng váng cả đầu óc, không còn biết đau đớn gì. Chàng cũng không hiểu tại sao hôm nay chàng lại có thể đi đến mức chót của sự nhẫn nhục như thế nầy, chịu đựng mọi lời nguyền rủa, khinh miệt của kẻ thù mà không hề mảy may phản động lại.
“Hùm thiêng khi đã sa cơ...”! Trong cảnh bất lực của kẻ bị giam cầm, chàng chỉ đành ngồi thúc thủ lặng thinh, quan sát nghe ngóng và tìm phương gỡ rối.
Chàng thanh niên chú ý nhứt đến những cử chỉ và mọi lời trao đổi giữa hai viên tướng tay sai của chúa Trịnh Nguyễn Hữu Liên và Trương Báo, lúc cả hai chưa khởi hành liền mà còn day mặt về phía nam như ngóng trông ai. Thỉnh thoảng họ lại liếc mắt nhìn về phía cái cũi.
Thình lình, Thế Hùng nghe chung quanh mình có tiếng xì xào: “Kìa, quan trấn thủ Nghệ An đã đến tiễn chào quan Thái phó”
Liền đó, từ sau lưng chàng, một đoàn người thúc ngựa lướt tới trong một đám bụi mù. Đó là một toán lính địa phương với một viên quan mặc trào phục đi đầu. Viên quan nầy, tác người nhỏ thó, mặt xương xương, choắt lại, nước da tai tái chứng tỏ rõ ràng y là một đệ tử của nàng Tiên Nâu.
Viên quan ấy không ai khác hơn là Trịnh tam Miêu, một người thuộc họ hàng vây cánh của Trịnh Tùng vừa được bổ nhậm đến Nghệ An mấy ngày để thay thế cho vị Trấn thủ cũ là Võ Tuyễn bị giáng chức và hạ ngục một cách bí mật.
Vừa tới trước mặt Hữu Liên và Trương Bào, Trịnh Tam Miêu vội lật đật xuống ngựa, cúi đầu thi lễ. Sauk hi hỏi han qua loa vài câu theo phép xã giao, viên Trấn thủ bèn cầu chúc cho hai vị quý khách được thượng lộ bình an.
Thái phó Hữu Liên và tướng Trương Báo vui vẻ ngỏ lời cám ơn va chúc lại bằng vài câu hoa mỹ. Trước khi chia tay, vị đại thần ân cần mấy lượt dặn dò Tam Miêu:
- Quan Trấn thủ phải để ý săn sóc và canh phòng hai hoàng tử mà bổn chức vừa ủy thác. Rồi đây Bình An vương sẽ cho biết quyết định của Ngài về hai thằng nhỏ ấy. Chúng ta phải cần thi hành đúng theo mạng lịnh của chúa, nếu sơ sót ắt sẽ không tránh khỏi bị nghiêm phạt.
Hai tay chắp trước bụng, Trịnh Tam Miêu khúm núm đáp:
- Ty chức đã nhớ kỹ, xin đại nhân cứ yên lòng…
Từ giã viên Trấn thủ, đoàn hộ tống tù xa, gần non một trăm binh mã, đặt dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Hữu Liên và Trương Báo, rộn rã khởi hành dưới mưa phùn của một trưa đông lạnh.
Do ý muốn của vị Thái phó, đoàn người đi vòng qua chợ Phủ Diễn, để dọ nẻo khác vắn tắt hơn, ra khỏi địa hạt nầy, nhắm Tây đô trực chỉ.
Hôm ấy, nhơn gặp buổi chợ phiên, nên trong chợ và ở các đường phố kế cận, công chúng vùng nầy tụ họp mua bán rất đông đảo.
Lẽ tự nhiên, đoàn kỵ binh từ Kinh thành mới tới, dưới lớp nhung trang rực rỡ màu xanh viền đỏ, đang oai nghi hùng hổ vượt qua đó, được mọi người đặc biệt lưu ý, và tấm tắc khen thầm.
Song điều mà thiên hạ lưu ý nhứt chiếc tù xa, do hai con ngựa khỏe mạnh và cao lớn kéo.
Trên xe có một cái cũi nhốt phạm nhơn rất kiên cố với những chấn song bằng sắt to gần bằng cổ tay.
Hiếu kỳ, một số khách qua đường nam nữ, và đông nhất là trẻ con, không chịu bỏ lỡ một cơ hội tốt, xô nhau chạy theo sau toán binh mã, để nhìn cho tận mắt kẻ tù phạm bị giam ngồi trong cũi. Vài cô gái quê mủm mỉm, thoạt thấy Thế Hùng vội buột miệng kêu lên:
- Nè, các chị! Gã tù nhân nầy trông trắng trẻo và khôi ngô quá! Không rõ y phạm tội gì mà bị bắt thế kia! Thật tội nghiệp quá.
- Ừ, rõ tội nghiệp nhỉ? Vài thiếu phụ khác cũng tán đồng và không giấu thiện cảm của họ đối với người tù phạm có dung mạo khả ái mà họ không quen biết.
Như thế, trọn chợ Phủ Diễn đều xôn xao lên. Lần lần, như dưới ảnh hưởng của một chứng bịnh truyền nhiễm, đa số bạn hàng và những người mua, bỏ dở cuộc buôn bán đang tấp nập, rung rung nối gót, những kẻ tò mò, chạy theo đoàn binh sĩ để được mục đích tận mắt nhân vật bị nhốt trong chiếc cũi, bỏ lại một phân nửa ngôi chợ và các đường phố gần trống trơn.
Các vùng kế cận và xung quanh đó cũng vậy. Thậm chí trên một mảnh đất vuông cách chợ lối hai mươi thước hằng trăm khán giả gồm đủ hạng nam, nữ, già trẻ, bé, lớn bao quanh và mê mải theo dõi một chàng thanh niên lực sĩ đang biểu diễn tuyệt hay, cũng đua nhau rút lui khi thấy đoàn quân lính đi qua.
Chàng lực sĩ cau mày, hơi bực mình vì cái hàng rào dày đặc khán giả bỗng nhiên trở nên thưa thớt và tan vỡ trước mặt mình. Nhưng khi chàng hiểu rõ nguyên nhơn thì chàng không còn tức giận và ngạc nhiên nữa. Chàng liền ngừng tay vội vã cho lưỡi kiếm sáng nhoáng của mình vào vỏ. Rồi cũng như mọi người, chàng tất tả phóng mình, rượt theo đám người hiếu kỳ đang lũ lượt kéo nhau đi sau toán quân hộ tống đông đảo như trẩy hội.
Đó là một gã đàn ông trạc ba mươi tuổi, hình vóc tầm thước nhưng lực lưỡng, vừng trán rộng, nét mặt gân guốc, lưỡng quyền cao, cặp mắt sáng long lanh và tóm lại, thoàn thân tiết ra một vẻ gì oai nghi quắc thước.
Từ trước hồi mặt trời còn đứng ở đĩnh đầu ròng rã suốt một giờ đồng hồ, chàng thanh niên nầy đã trổ tài múa kiếm tuyệt vời trước một số công chúng càng đông, đã nhiệt liệt thán phục chàng không ngớt. Bộ võ phục màu xám tro phủ đầy bụi đường và nơi sườn, nơi cổ cũng rách như ở khuỷu tay, tố cáo rõ rệt rằng đó là một thanh niên nghèo. Và một bằng chứng khác nữa về sự thiếu thốn vật chất là chàng đang phải dùng nghề mãi võ hàng ngày để làm kế sanh nhai độ nhựt.
Dân chúng ở vùng nầy không biết tông tích của chàng, tên họ chàng là chi và từ đâu đến. Chỉ biết rằng, từ vài hôm nay, cứ mỗi buổi sáng, vào khoảng giờ Tỵ, nhằm lúc chợ Phú Diễn họp, là chàng đến miếng đất bên cạnh, múa kiếm, hiến công chúng những cuộc biểu diễn vô cùng linh động để đổi lấy những món tiền khiêm tốn. Thoạt đầu, thiên hạ tưởng đó là những tay lực sĩ Trung Hoa mãi võ, vẫn thường đi miền nầy sang miền nọ, chuyên bán những món thuốc Bắc mà họ đưa từ bên Tàu sang. Nhưng sau thấy đó là một tráng sĩ người Việt biểu diễn môn võ Việt thuần túy và tỏ ra có nghệ thuật rất cao cường và nhứt là một sức khỏe tuyệt luân, dân chúng Phủ Diễn rất hoan nghinh, nên đồn đãi với nhau và không bỏ qua một cơ hội hiếm có, khéo đến xem và khen ngợi.
Nên biết rằng trong giai đoạn lịch sử lúc bấy giờ, cảnh loạn ly bao trùm hầu hết giang sơn đang làm mồi cho những cuộc phân tranh, xâu xé đau thương: Chúa Mạc thì ngự trị ở Thăng Long và miền Bắc, chúa Nguyễn làm bác chủ ở miền Nam, trong khi chúa Trịnh và vua Lê mắc kẹt giữa hai khối phải tạm đặt kinh thành tại Tây đô (Thanh Hóa). Cảnh loạn lạc ấy, lẽ tất nhiên, khiến lòng người nơm nớp lo sợ từng giờ từng phút, và thấp thỏm đề phòng cơn bão tố có thể bùng nổ bất cứ lúc nào.
Không còn ai bình tĩnh lo đến việc trau dồi học vấn để thi cử. Mọi thanh niên trai tráng ở thị thành cũng như ở trong các thôn xã, đều đua nhau học võ để tìm một ít bảo đảm cho sự hộ thân khi bất trắc xảy qua. Xu hướng ấy, tâm trạng ấy đã cắt nghĩa vì sao dân chúng có cái tinh thần chuộng võ và ham mê, dự khán những cuộc diễn võ bất cứ là tầm thường hay xuất sắc.
Như trên kia đã nói, chàng lực sĩ, sau khi thấy khán giả đột nhiên bỏ chạy đi xem đoàn truy binh của Nguyễn Hữu Liên đang rầm rộ áp giải chiếc tù xa, chàng cũng phóng mình như bay chạy theo, để được thỏa mãn tánh hiếu kỳ như họ.
Nhờ rất khỏe mạnh và lanh lợi, chàng không phải khó nhọc lắm khi vạch một lối đi giữa đám rừng người. Trong nháy mắt chàng đã vượt tới ngay hàng các xe tù và thoăn thoắt bước đều song song bên cạnh.
Điều chàng chú ý trước nhứt là kẻ tội nhơn trẻ tuổi đang ngồi yên lặng trong chiếc cũi, đôi mắt đăm đăm nhìn về phía trước, mơ màng, xa xôi như chìm đắm trong cõi vô hình.
Gương mặt bình thản và nhẫn nại của tù nhơn có một vẻ gì rất đáng mến và đáng kính nể. Cũng như mọi người hiện diện, chỉ mới thoạt tiên, chàng lực sĩ đã có cảm tình với Lê Thế Hùng ngay, và cảm tình ấy đã làm cho chàng có linh khiếu rằng đây là một vụ bắt bớ bất công hay oan uổng.
Từ lâu, chàng đã từng nghe trong dân gian, những tiếng đồn về chánh sách hà khắc, tàn độc và nham hiểm của Trịnh Tùng. Chính chàng đã từng nghe thuật lại nhiều lần những hành động chuyên quyền của chúa Trịnh để lấn áp vua Lê, và do đó một cuộc xung đột thầm lặng đã diễn ra giữa hai phe, ngay tại kinh thành, cũng như ở các biên trấn xa xôi, và nhứt là tại triều đình, cung cấm. Kết quả: phe trung thần ủng hộ nhà vua tức là phe yếu hơn, đã bị lần lượt diệt trừ, khiến hàng ngã rã rời tan vỡ…
Một số các quan lớn nhỏ, hoặc bị cách chức hoặc bị hạ ngục, hoặc bị ám sát v.v… chỉ vì đeo đuổi mục đích bảo toàn, củng cố ngôi báu cho hoàng đế Lê Anh Tôn và đối lập với chúa Trịnh Tùng.
Vụ bắt bớ, áp giải đang xảy ra trước mặt chàng phải chăng cũng là do một nguyên nhơn tương tợ? Chàng lực sĩ mãi vô tự hỏi như vậy và đã tìm ra câu trả lời một cách lờ mờ. Chàng phỏng đoán rằng kẻ phạm tội bị nhốt kia hẳn không còn ai khác hơn là một bầy tôi trung nghĩa của vua Lê đã rủi ro sa lưới kẻ thù. Tự nhiên, cái ý tưởng can thiệp để cứu nguy cho người thất thế bắt đầu nẩy mầm ra trong trí óc chàng lực sĩ.
Cái ý tưởng ấy càng lúc càng trở nên mạnh mẽ. Khi đoàn binh mã vượt qua chợ chừng một trăm thước và ra khỏi khu phố thì hầu hết đám người hiếu kỳ đều bắt đầu dừng bước và dần dần tản mác. Chỉ còn chàng lực sĩ và lối vài người nữa là vẫn lẽo đẽo đi theo bên cạnh chiếc tù xa. Tánh tò mò hơi thái quá và lòng kiên nhẫn của họ khiến Thế Hùng ngồi trong cũi, cũng phải lấy làm lạ.
Kẻ tù phạm day mặt sang phía hữu, liếc nhìn chàng lực sĩ lần đầu tiên, bốn con mắt chưa hề bao giờ quen biết nhưng dường như, đã âm thầm trao đổi với nhau bao lời tâm sự.
Chàng lực sĩ muốn đánh bạo hỏi nhỏ Thế Hùng một câu hay giơ tay ra hiệu, nhưng chưa dám, vì chàng nhận thấy mấy tên lính đi trước thỉnh thoảng ngoái cổ nhìn lại như để ý dò xét từ cử chỉ của chàng.
Mà thật vậy, thái độ của chàng rất đáng khả nghi vì một lát sau, trên khoảng đường vắng vẻ chỉ một mình chàng là người dong ruỗi theo đoàn kỵ binh, còn mấy người kia chậm bước đành rớt lại.
Sự hiện diện khó hiểu của chàng, bởi vậy, rốt cuộc đã làm cho cả đoàn kỵ binh lưu tâm kể cả hai người chỉ huy là Thái phó Nguyễn Hữu Liên và Cẩm vệ tướng quân Trương Báo.
Biết mình bị chú ý, chàng lực sĩ toan vội vàng cẩn thận tách ra xa và không dám theo sát họ như trước nữa. Nhưng chàng chưa kịp thi hành ý định ấy thì thình lình nghe một tiếng hô dõng dạc của Trương Báo vang lên trong không khí.
- Đứng lại!
Chỉ trong nháy mắt, đoàn binh sĩ răm rắp làm theo lịnh truyền của chủ tướng. Đồng thời, viên Cẩm vệ tướng quân quày ngựa chạy vòng ra phía sau và sấn tới trước mặt chàng lực sĩ.
Ngồi trên lưng ngựa, Trương Báo trợn cặp mắt tròn xoe, quát to như sấm.:
- Thằng thất phu kia, mi tên họ là gì? Tại sao mi cứ lẽo đẽo chạy theo chúng ta từ nãy giờ? Để thám thính phải không? Phải khai rõ cho mau, nếu chậm trễ, ắt phải bay đầu dưới lưỡi gươm nầy.
Tuy bị bắt chợt một cách đột ngột, chàng lực sĩ không có vẻ gì sợ sệt trước thái độ hống hách đầy hăm dọa của họ Trương. Chàng chống nạnh, chòng chọc nhìn hắn và ngang nhiên đáp:
- Nhà ngươi không có quyền hỏi tên họ ta: nhứt là bằng một giọng vô lễ, lỗ mãng của phường thất giáo. Về phần ta, ta có quyền tự do muốn đi đâu thì đi, không ai có thể ngăn cản ta được.
Trương Báo đùng đùng nổi cơn thạnh nộ, tuốt gươm ra khỏi vỏ, chỉ thẳng vào mặt kẻ đối thoại:
- À, thằng nầy to gan thật. Dám kháng cự và xấc láo với bản tướng quân thì mất mạng đừng trách nghe chưa?
Vẫn bình tĩnh, chàng lực sĩ cất tiếng cười khanh khách:
- Hề, hề được lắm, nếu nhà ngươi muốn giở võ lực ra, thì ta đây cũng sẵn sàng cho nhà ngươi một bài học đích đáng. Nầy có giỏi thì xuống đây thử tài với ta một chuyến chơi.
Trước câu nói khiêu khích ấy, Trương Báo thét to lên một tiếng kinh hồn, rồi lẹ như cắt, hùng hổ nhảy phóc xuống ngựa.
Khi chân vừa chấm đất, viên Cẩm vệ tướng quân đã lia gươm chém vụt tới như một tiếng sét từ trên không đánh xuống.
Chàng lực sĩ né sang một bên tránh khỏi rồi tuốt kiếm ra nghinh địch. Thế là một trận đấu kiếm vô cùng sôi nổi bùng nổ trước hàng trăm cặp mắt của binh sĩ vừa kinh ngạc mà cũng vừa ham thích say mê.
Kẻ kinh ngạc hơn hết là Lê Thế Hùng bị xích ngồi trong cũi và luôn cả Nguyễn Hữu Liên nữa.
Trước một việc bất ngờ như thế, vị Thái phó không nghĩ đến sự can thiệp. Ông yên trí rằng với tài nghệ quán chúng mà nhiều người đã biết, rồi đây, chỉ trong khoảnh khắc, viên danh tướng đắc lực của chúa Trịnh, sẽ đánh ngã đối thủ như trở bàn tay. Vả chăng không lý một tay anh hùng cái thế, vô địch của xứ Tây đô mà lại không hạ nổi một kẻ tầm thường lạ mặt.
Chẳng riêng gì Nguyễn Hữu Liên, toàn thể binh sĩ hiện diện ở đó cũng đều nghĩ như vậy. Nhưng những ý tưởng ấy, chỉ một lát sau, là phải thay đổi. Hiệp thứ nhứt đã gần dứt mà trận giao phong tỏ ra bất phân thắng bại.
Vị Thái phó hơi bắt đầu lo lắng khi chợt thấy mồ hôi toát ra ướt đầm trên trán của Trương Báo. Viên Cẩm vệ tướng quân có vẻ mệt nhọc vì đã phải vận dụng rất nhiều sức mạnh và nhiều miếng hiểm độc để tấn công không hở tay nhưng rốt cuộc, đều bị đối phương phá hỏng. Trong lúc ấy chàng lực sĩ chỉ giữ thế thủ, thoăn thoắt tới lui xoay trở, né, gạt một cách rất êm ái, nhẹ nhàng, nét mặt chàng hết sức tự nhiên và bình thản.
Thái độ khinh thường ấy, khiến Trương Báo nổi giận vô cùng. Nên, khi hiệp thứ hai vừa khởi sự, hắn gầm lên một tiếng rồi nhảy chồm tới, vung kiếm chém ngang từ tả sang hữu, với ý định quyết lấy cho được đầu kẻ nghịch.
Chàng lực sĩ lùi lại một bước, ngồi thụp xuống tránh khỏi lát kiếm, đoạn lẹ như chớp, vụt đứng dậy phóng ngay mũi gươm vào cánh tay trái của họ Trương. Viên tướng của Trịnh Tùng, hốt hoảng vội nghiên mình né, nhưng một mảnh nhung phục đã bị hớt đứt tung bay xuống đất.
Nguyễn Hữu Liên thấy trận đấu đã sắp đến hồi bất lợi, không dằn được sự hồi hộp, nôn nao khó chịu, ông cất tiếng hô lớn, truyền lịnh cho binh sĩ:
- Quân đâu! Hãy bũa vây khắp bốn mặt yểm hộ cho Trương tướng quân, để hạ thủ tên giặc khốn kiếp này, mau lên!
Lịnh nầy không chờ chạm phải lòng tự ái của Trương Bảo và làm cho hắn đang câm giận lại càng điên tiết thêm. Bị mất thể diện trước ba quân, hắn quên cả tôn ty trật tự đối với một bực đại thần.
Mặt đỏ phừng, hắn vừa đánh với đối thủ vừa thét lớn để phản đối lại ý muốn của Nguyễn Hữu Liên:
- Quan Thái phó cứ để mặc tôi, tôi không cần quân lính yểm hộ, chỉ một mình cũng đủ giết được tên nầy.
Chàng lực sĩ không khỏi bật cười, trước sự kiêu căng của một kẻ không tự biết mình. Lợi dụng sự mất bình tĩnh của Trương Báo, chàng nhứt quyết kết thúc mau lẹ trận hỗn chiến để còn lo đối phó với Hữu Liên và đám quan quân.
Nghĩ thế, chờ cho lưỡi kiếm của họ Trương gần giáng xuống đỉnh đầu mình, chàng lực sĩ dùng hết sức bình sanh đưa gươm lên gạt phăng ra.
Sau một tiếng “keng” chát óc, thanh kiếm của viên tướng Trương Báo thình lình bị hất tung lên trên không khí.
Những tiếng la thất thanh buột vọt ra từ cửa miệng của mọi người. Chính cả Trương Báo cũng rất kinh dị, nắm chặt lấy bàn tay tê buốt và bủn rủn của mình, bàn tay vô địch vừa bị tước mất khí giới một cách cay chua, nhục nhã.
Việc kế liền đó xảy ra nhanh chóng quá, nên không ai đề phòng hay phản động lại kịp. Như tên bắn, mũi gươm của chàng lực sĩ, cắm phập vào giữa ngực của viên Cẩm vệ tướng quân và xuyên ra tới sau lưng. Một tia máu phun lên. Họ Trương ngã vật xuống, như một khối nặng trên bãi cỏ.
Nguyễn Hữu Liên cả kinh hô quân xông vào giáp chiến. Binh sĩ triều đình tuy đông đảo có đến hằng trăm, nhưng ai nấy, kể cả vị Thái phó đại thần vừa được mục kích rõ rệt tận mắt sức mạnh phi thường và tài nghệ tột chúng của chàng lực sĩ, nên không ai dám tận tình hăng hái xông vào để rước lấy cái chết như viên dõng tướng họ Trương. Vì vậy, một vòng vây miễn cưỡng đã được giăng ra, để rồi tan rã mau lẹ dưới lưỡi gươm của chàng tráng sĩ. Mặc dầu những lời hò hét thúc giục, truyền lịnh của Hữu Liên, đoàn binh sĩ táng đởm, vừa bị mẻ đầu, sứt tai, gãy tay, què giò v.v. cứ đạp bừa lên nhau mà chạy.
Chúng bỏ cả phận sự, ném cả võ khí, để lại chiếc xe tù, mạnh người nào nấy cắm đầu cắm cổ chạy tán loạn để thoát thân. Bỏ đám quan quân, chàng lực sĩ xây qua tìm giao chiến với Nguyễn Hữu Liên.
Vị Thái phó, thấy chàng đến gần, hoảng sợ không dám cự địch, quay ngựa phóng như bay về hướng Bắc.
Chàng lực sĩ không thèm rượt theo mà lật đật quày phắt trở về với chiếc tù xa đang nằm chơ vơ giữa lộ.
Tại đây, chàng được tiếp đón bằng một nụ cười khả ái, nụ cười tri ân của người tù phạm trẻ tuổi đối với một vị cứu tinh xuất hiện bất ngờ.