Bí Mật Quân Cờ

Lượt đọc: 1343 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
V

Ngồi trước bàn trà, nhìn căn phòng trống trải, ông Ngô Duy Khiên cứ trầm ngâm suy nghĩ. Đã rất lâu rồi, ông không gặp một ai ở

Sứ quan Việt Nam tại Anh quốc cả. Lần này, sau khi gặp Duy Thành trở về, ông Khiên bỗng thấy trong lòng trống trải. Cuộc đời đã hơn 50 tuổi của ông thì mất gần ba mươi năm sống tha hương, xa Tổ quốc.

Nhớ lại những ngày tuổi trẻ, ông thật mạnh mẽ. Ông là một học sinh giỏi của trường trung học Phú Nhuận. Lúc đó ông hoạt động sôi nổi, từng là một học sinh xuất sắc. Khi ông bước vào tuổi 18

cũng là lúc miền Nam hoàn toàn giải phóng. Ông không di tản đi Mỹ theo những người thân trong gia đình, mà ở lại cùng người cha kinh doanh ở Chợ Lớn Sài Gòn. Ông cũng không tiếp tục đi học dưới chính quyền mới, mà tham gia vào hội những nhà buôn lớn ở thành phố. Sau cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư

doanh, những nhà buôn ở Chợ Lớn một phần là tiểu thương, nên vẫn tiếp tục được kinh doanh như trước. Gia đình ông cũng là tiểu thương, có cửa hàng ăn uống khá nổi tiếng ở khu vực Chợ Lớn.

Lúc đó ông xin được vào làm ở nghiệp đoàn kinh doanh khách sạn và nhà hàng ăn uống thành phố. Vì công ty này sau có liên quan tới một số tư bản đi Mỹ, bảo kê cho các hoạt động có tính chính trị, chống chính quyền, nên đã bị giải thể. Khiên trở về tiếp tục kinh doanh ăn uống. Năm 1979 tình hình người Hoa rộ lên, Khiên và vợ đều dính dáng đến người Việt gốc Hoa nên đã bị cuốn theo trào lưu di tản lúc đó. Những người bạn của Khiên như Kiên, Hậu đều cùng ra đi. Trong khi đó anh đồng hao của Khiên lúc đó là thiếu tá Nguyễn Bảo thường gặp gỡ và khuyên Khiên ở lại. Nhưng Khiên không nghe. Sau đó khi Khiên đã ra nước ngoài, thì Bảo mới giới thiệu một người bạn đã ở Anh quốc từ nhiều năm trước để hai người gặp gỡ, liên lạc và giúp đỡ nhau. Từ đó Khiên đã có thêm những mối quan hệ mới.

Ngôi nhà Khiên đang ở thuộc phố Prince Albert, gần Vườn thú Luân Đôn, ở phía Tây Bắc trung tâm Thủ đô nước Anh. Đây là nơi ông được chính quyền thành phố cấp. Ông Khiên hồi tưởng lại, những ngày mới di tản ông đã vất vả như thế nào. Đó là vào năm 1979, khi cuộc vận động trong giới người Hoa rời khỏi Việt Nam về Trung Quốc rầm rộ dâng lên. Lúc đầu ở khu vực biên giới phía Bắc, nhất là tỉnh Quảng Ninh. Người Việt gốc Hoa không rõ tin tức từ đâu, cứ ùn ùn nối nhau vượt biên sang Trung Quốc. Khi phong trào lên cao thì các con đường di tản lên phía Bắc cũng bắt đầu tắc nghẽn. Người Hoa vẫn tiếp tục ra đi. Các lối vượt biên mới cũng được mở ra bằng đủ phương tiện khác nhau. Từ đường bộ, đường sắt, đường biển, đến cả đường không nữa. Phong trào lan rộng trong toàn quốc. Khi các con đường qua biên giới phía Bắc bị

ách tắc thì các đường biển, đường không càng đông hơn. Những người Việt gốc Hoa, rồi cả những người Việt giàu có cũng đua nhau di tản. Ông Khiên cùng với vợ con cũng lập cập ra đi. Trong chuyến di tản vượt biên ấy, đoàn thuyền của ông có cả gia đình Kiên, Hậu... Khi họ sang đến Hồng Kông thì số người này phải tập kết trong một trại tị nạn. Ở đó họ được phân ra các thành phần khác nhau. Đầu tiên là vào Trung Hoa lục địa. Trong số người đi đợt này hầu như không có ai đạt tiêu chuẩn do các nhà chức trách ở trại tị nạn phân bố. Hơn nữa cũng rất ít người muốn trở

Về Trung Quốc vì họ cứ nơm nớp sợ chiến tranh sắp nổ ra, người di tản lại muốn sang Mỹ vì sau năm 1975 nhiều người có người thân, họ hàng đã di tản từ trước. Thế nhưng, danh sách này thì quá đông mà phương tiện lại rất ít, do đó họ phải sống tập trung ở trại tị nạn này khá lâu. Giữa lúc đó thì một số nước phương Tây, đặc biệt là Anh quốc đang rộ lên trào lưu bảo vệ nhân quyền, họ

đã có chính sách mở cửa đónngười tị nạn. Đặc biệt là người Việt di tản, được vào nước Anh tị nạn. Song, số người muốn đi Anh lúc đó cũng không nhiều. Cho tới vài năm sau, chính sách này của nước Anh mới đóng lại. Đến năm 1986 khi Nhà nước ta mở lại quan hệ ngoại giao với Anh quốc thì vấn đề di tản bất hợp pháp sang Anh hoàn toàn khép lại.

Năm đó ông Khiên và hơn hai mươi gia đình khác đi cùng đã được sang Anh. Lúc đầu gia đình ông được đưa đến một làng quê ở

ngoại ô Luân Đôn, sống chung với nhiều người Anh. Ở đây họ bố

trí cho gia đình ông một ngôi nhà từ thiện. Những người dân Anh rất nhiệt tình, đã mang đến cho gia đình ông đủ thứ. Người thì chăn đệm, người thì xoong chảo, bát đĩa. Người thì đồ dùng trong nhà. Tình cảm của họ đối với người tị nạn rất nhân đạo. Lúc đầu

ông Khiên chỉ có vài câu tiếng Anh bập bẹ, nhưng như thế cũng tốt lắm rồi. Ông được họ đùm bọc, cho đăng ký nhân khẩu, cho các con ông đến lớp học, cấp tiền trợ cấp hàng tháng và nhập quốc tịch. Mọi chuyện diễn ra hết sức tốt đẹp. Ông bắt đầu quen dần với cuộc sống ở nơi được coi là văn minh nhất thế giới này.

Con cái học không mất tiền. Nhà cửa được cấp, tiền trợ cấp hằng tháng đủ chi tiêu, nếu không nói là dư dật. Cuộc sống khá ổn định. Cứ như vậy được mấy năm thì gia đình ông đã có nhiều chuyển biến tốt lên trông thấy.

Ông bắt đầu có liên lạc được với những người bà con đang ở Mỹ.

Và, khi biết cuộc sống của họ ở nơi ấy cũng chẳng hơn gì, thậm chí những người Việt sang Mỹ còn phải ở chung trong cùng một chung cư dành riêng cho dân di tản, lại cùng khu với người da đen, cuộc sống còn chán chường hơn. Thế là mộng ước đi Mỹ của ông cũng nhạt dần. Ông đã yên bề với cuộc sống ở nơi đây. Đến lúc ấy thì đứa con gái lớn của ông đi lấy chồng. Cô ta được một người Anh làm công nhân trong nhà máy chế biến thực phẩm ở

gần Luân Đôn xin cưới. Thế là gia đình có thêm một người thân là dân bản xứ. Con trai ông lại được vào học ở một trường trung cấp tại Luân Đôn.

Đúng lúc ấy thì chính quyền thành phố Luân Đôn chuyển ông vào nơi ở mới này. Ông được sử dụng tầng trệt và một buồng ở tầng hai. Hai ông bà và người con trai ở đó ba năm thì cậu con trai ông đã cưới một cô gái con một Việt kiều đã sang Anh từ trước năm 1975. Gia đình này có họ hàng với Đại sứ Trần Văn Chương ngày trước. Họ đã ở Anh khá lâu, đã có tới ba đời con cháu. Nhiều người làm việc cho các công ty của Anh, nên cuộc sống rất khá giả.

Anh con trai ông Khiên chuyển đến ở trong một căn hộ khác cũng tại Luân Đôn. Vậy là vợ chồng ông Khiên sống đùm bọc nhau, thỉnh thoảng con cháu mới về thăm. Họ nói tiếng Anh thành thạo, còn ông bà thì vẫn có cuộc sống buồn tẻ như thế.

Ông Khiên ngồi nghĩ về cuộc đời mình mà cảm thấy cô quạnh.

Hơn ba mươi năm sống ở Anh quốc, đã có nhiều lúc ông cảm thấy cô đơn, lẻ loi. Tiếng Anh nửa vời chỉ đủ để cho ông đi chợ và thăm thú đôi nơi từ khi sang Luân Đôn, nay ông đã nói thành thạo thứ ngôn ngữ tuyệt vời này. Nhiều Chủ nhật khi mới tới Anh quốc ông đã lang thang đây đó, thăm chợ, thăm công viên, vào bảo tàng, rồi đi siêu thị, mua sắm mấy thứ lặt vặt. Dần dần rồi

cũng quen với cuộc sống tha hương. Ông bắt đầu tiếp xúc với những người khác và tìm tới các mối quan hệ mới. Chính từ

những ngày như thế mà Khiên đã quen được với những Việt kiều sang nước Anh từ nhiều năm trước. Trong đó có gia đình ông thông gia là cha mẹ của cô con dâu của ông mấy năm sau đó.

Trong những năm đó, cứ vào mỗi dịp kỷ niệm ngày miền Nam giải phóng 30 tháng 4, thì những người Việt sống dưới thời Mỹ -

Ngụy phải di tản sang Anh từ trước, lại kêu gọi người Việtđến gần Sứ quán nước ta để biểu tình. Đã có lần ông Khiên cũng đi.

Nhưng rồi ông nhìn thấy cảnh mọi người ngồi đó mà kêu gọi dân chủ, đòi tự do hàng tiếng đồng hồ, chẳng nhận được một tín hiệu hay thông tin nào đáng chú trọng, rồi đành giải tán mà về theo quy định của pháp luật nước sở tại. Những việc làm vô bổ đó, theo ông nghĩ, đã quá xưa rồi. Không còn thực tế nữa. Từ đó ông Khiên bắt đầu thấy nản. Rồi nỗi nhớ quê hương, xứ sở, cứ ngấm dần trong ông. Ông bắt đầu thấy nhớ cố hương và cảm thấy như

bị lạc lõng giữa một vùng đất, vùng trời Tây Âu đầy tuyết trắng và sương mù này vậy.

Lúc này ông Khiên mới có thời gian suy ngẫm về cuộc sống và hoàn cảnh của mình. Ông sinh ra trong một gia đình tiểu thương.

Ông nội ông là một người Hoa đã sống và buôn bán ở phố Hàng Buồm Hà Nội từ rất lâu rồi. Trước năm 1954, trong những ngày Hiệp định Giơ-ne-vơ vừa được ký kết, chính quyền Cách mạng đang tiếp quản Thủ đô thì một vị Linh mục xứ đạo kêu gọi con em giáo dân không hợp tác với Cộng sản, đi theo chính phủ của Ngô Đình Diệm vào Sài Gòn làm ăn sung sướng hơn. Là một con chiên ngoan đạo nên ông của Khiên và gia đình đã cùng nhiều giáo dân di cư vào Nam. Ở thành phố Sài Gòn, nơi ở mới, ông nội Khiên đã buôn bán, mở hàng ăn uống, học theo nhà hàng Mỹ Kinh ở Hàng Buồm ngày trước, nên đã nhanh chóng giàu có. Ông mua nhà hàng ở khu vực Chợ Lớn để kinh doanh. Đến đời bố Khiên cũng vẫn mở hàng ăn ở đó. Năm Khiên 18 tuổi thì Sài Gòn giải phóng, Khiên đã bỏ học ở nhà bán hàng. Lúc ấy nhiều gia đình di tản, nhưng bố Khiên không đi được đành cùng vợ con ở lại. Sau đó mẹ

Khiên mất rồi bố cũng qua đời. Khiên xin vào làm cán bộ nghiệp đoàn của những người buôn bán và kinh doanh ăn uống. Được vài năm thì có vụ tị nạn của người Hoa và Khiên đành di tản sang Anh.

« Lùi
Tiến »