
Có hai điều tồi tệ đã xảy ra vào cuối tuần Lễ Lao động. Một chuyện thì ngu ngốc và đáng báo động, chuyện còn lại để lộ con người khá khó chịu mà Billy không bao giờ có ý định trở thành. Kết hợp hai chuyện này lại, chúng khiến anh nhận ra anh cần thoát khỏi Red Bluff càng sớm càng tốt. Đáng lý anh không bao giờ nên nhận một công việc với thời gian chờ lâu như vậy, anh nghĩ vậy khi cuối tuần qua đi, nhưng không có cách nào biết được.
Biết cái gì mới được chứ? Rằng gia đình Ackerman và các nhà khác trên đường Evergreen sẽ quý anh như vậy, vì một điều. Rằng anh cũng quý họ, vì điều khác.
Có một cuộc diễu hành ở trung tâm thành phố vào thứ Bảy của kỳ nghỉ cuối tuần. Billy và gia đình Ackerman cùng ngồi trên chiếc xe van mà Jamal mượn từ Excellent Tire. Shanice một tay nắm tay mẹ, tay kia nắm tay Billy khi họ đi qua đám đông và tìm một vị trí ở góc đường Holland giao với đường Main. Khi đoàn diễu hành tiến đến, Jamal nhấc bổng cô con gái của mình lên vai và Billy đảm nhận việc đó với Derek. Hai đứa trẻ vô cùng thích thú khi được ở trên cao.
Cuộc diễu hành ổn, thậm chí việc công kênh một đứa trẻ sau này phát hiện ra mình từng ngồi trên vai một sát thủ cũng ổn... nói chung là thế. Nhưng điều ngu ngốc và đáng báo động, sự nhầm lẫn, đến vào Chủ nhật. Bên cạnh khu ngoại ô Midwood của Red Bluff là thị trấn bán nông thôn Cody, ở đó diễn ra một lễ hội hóa trang nhỏ kéo dài hai tuần cuối cùng của mùa hè, muốn kiếm thêm khoản thu nhập cuối cùng trước khi bọn trẻ đi học trở lại.
Bởi Jamal vẫn còn mượn được chiếc xe và thời tiết ngày Chủ nhật vô cùng đẹp nên không còn gì tuyệt hơn một chuyến đi đến lễ hội hóa trang với lũ trẻ. Paul và Denise Ragland ở cuối phố cũng đi cùng. Bảy người bọn họ cùng tản bộ, ăn xúc xích ngọt và uống soda. Derek và Shanice cưỡi vòng quay ngựa gỗ, lái xe điện Trolley và Wild Cup. Hai người lớn nhà Ragland chơi Bingo. Corrie Ackerman thì chọn trò ném phi tiêu vào bóng nước và giành được chiếc băng đô có trang kim in dòng chữ NGƯỜI MẸ TUYỆT VỜI NHẤT THẾ GIỚI. Shanice thốt lên mẹ trông rất dễ thương, y như một nàng công chúa vậy.
Jamal cố gắng làm đổ các chai sữa bằng gỗ nhưng không thu được chiến thắng nào, thay vào đó anh đã ghi được điểm số cao nhất trong trò nắm đấm Test Your Strength (Kiểm tra sức mạnh của bạn) khiến chuông rung lên. Corrie vỗ tay và thốt lên, “Người hùng của em”. Như để công nhận sức mạnh kỳ diệu này, Jamal nhận được một chiếc mũ bằng bìa cứng có đính một bông hoa giấy ở dây đeo. Khi anh đội nó lên, Derek cười đến nỗi phải bắt chéo chân lại và chạy đến nhà vệ sinh gần nhất để không són ra quần.
Những đứa trẻ chơi thêm vài lần nữa, nhưng Derek không chịu tham gia trò Wonky Caterpillar vì cậu nhóc nói trò đó chỉ dành cho các em bé mà thôi. Billy đi cùng Shan và hai người hợp nhau đến mức Jamal phải kéo anh ra như thể giật một nút chai sau chuyến đi. Điều đó khiến mọi người cười rộ lên.
Họ đang đi bộ trở lại để tìm gia đình Ragland thì trông thấy Triển lãm Bắn súng của Dick chột. Có nửa tá những người đàn ông đang di chuyển với súng BB, ngắm bắn vào năm hàng mục tiêu di chuyển ngược chiều, cộng với những con thỏ thiếc hết nhô lên lại hạ xuống. Shanice chỉ tay vào một con chim hồng hạc khổng lồ màu hồng trên đỉnh tháp giải thưởng và nói, “Con muốn có nó trong phòng ngủ của mình. Con có thể mua nó bằng tiền tiêu vặt của mình không ạ?”
Bố cô bé giải thích rằng người ta không bán cái đó mà đó là phần thưởng dành cho người chiến thắng.
Thế là cô bé reo lên: “Vậy bố giành nó cho con đi ạ!”
Người đàn ông vận hành trò bắn súng mặc một chiếc sơ mi sọc, đội mũ cói hơi lệch về một bên và đeo một bộ ria mép xoăn giả. Trông anh ta như thể một thành viên trong Bộ tứ hớt tóc vậy. Anh ta nghe thấy lời của Shanice và vẫy tay với Jamal. “Hãy khiến cô con gái nhỏ của mình hạnh phúc đi nào, anh bạn, hạ gục ba con thỏ hoặc bốn con chim ở hàng trên cùng và con chim hồng hạc Freddy sẽ theo cô bé về nhà thôi.”
Jamal cười và trả năm đô cho hai mươi lần bắn. “Cứ chuẩn bị sẵn tinh thần thất vọng nhé, con yêu,” anh nói, “nhưng bố sẽ giành được cho con một trong những giải thưởng nhỏ hơn.”
“Bố có thể làm được mà.” Derek kiên quyết nói.
Billy nhìn Jamal đeo súng trường và biết anh ấy sẽ may mắn giành được một chú rùa nhồi bông là giải khuyến khích cho hai lần bắn trúng mục tiêu.
“Hãy bắn những con chim,” Billy nói. “Tôi biết những con thỏ lớn hơn, nhưng anh chỉ có thể bắn nhanh khi chúng bật lên.”
“Vì anh đã nói vậy, Dave.”
Jamal bắn mười phát súng vào những con chim ở hàng trên cùng và không trúng phát nào. Anh hạ thấp trọng tâm, bắn trúng một con nai sừng tấm thiếc đang ì ạch ở hàng dưới cùng và chấp nhận lấy một con rùa nhồi bông. Shanice nhìn món đồ chơi với vẻ thiếu nhiệt tình nhưng vẫn nói cảm ơn bố.
“Còn anh thì sao, anh bạn?” Anh chàng Bộ tứ hớt tóc hỏi Billy. Hầu hết khách hàng khác đã rời đi. “Anh có muốn thử không? Năm đô-la cho hai mươi lần bắn và anh chỉ cần bắn trúng bốn chú chim để biến người bạn nhỏ xinh xắn này trở thành chủ nhân hạnh phúc của chú hồng hạc Frankie.”
“Tôi nghĩ tên của nó là Freddy,” Billy nói.
Anh chàng nhượng bộ mỉm cười và chỉnh chiếc mũ cói nghiêng về hướng bên kia. “Frankie, Freddy, hay Felicia, hãy làm cô gái nhỏ này hạnh phúc nào.”
Shanice nhìn anh đầy hy vọng nhưng không nói gì. Derek chính là người thuyết phục anh làm điều ngu ngốc đó khi nói, “Bác Ragland bảo mấy trò chơi kiểu này toàn gian lận và không ai giành được giải thưởng lớn cả.”
“Chà, vậy chúng ta hãy kiểm chứng điều đó xem nào,” Billy nói và trả năm đô. Ông chủ Bộ tứ hớt tóc nạp một loạt đạn BB và đưa cho Billy một khẩu súng trường. Có vài người đàn ông và hai phụ nữ khác đang đứng ở quầy. Billy di chuyển xuống một chút để nhường chỗ cho họ, nhưng cũng vì anh nhận thấy những con chim thiếc – cộng với các mục tiêu ở bốn cấp độ khác – hơi chậm lại trước khi chúng biến mất. Có lẽ bộ truyền động xích cần được tra dầu. Nhưng người ta lười làm việc đó. Ông chủ nên trả tiền cho việc đó mới phải.
“Chú có nhắm vào những con chim không ạ, chú Dave?” Derek hỏi. Họ đã ngừng gọi tên anh là Lockridge khá lâu rồi. “Giống như chú đã nói với bố cháu?”
“Chắc chắn rồi,” Billy đáp. Anh hít vào một hơi rồi thở ra, hít vào rồi thở ra, hít vào một chút rồi nín thở. Anh cố gắng không sử dụng ống ngắm của khẩu súng trường nhỏ, điều này hoàn toàn không đúng. Anh chỉ cúi đầu xuống báng của khẩu súng và bắn liên tiếp pop-pop-pop-pop- pop . Viên đạn đầu tiên không trúng mục tiêu, nhưng bốn viên tiếp theo đập vào bốn con chim thiếc. Anh biết mình đang làm một điều vô cùng ngu ngốc và nên dừng lại, nhưng anh không thể cưỡng lại ham muốn muốn xô ngã một con thỏ sau khi nó chui lên khỏi lỗ.
Gia đình Ackerman vỗ tay. Những người tham gia bắn súng khác cũng vậy. Và, để ghi nhận chiến thắng, ông chủ Bộ tứ hớt tóc cũng hoan hô rồi chộp lấy con chim hồng hạc màu hồng và trao nó cho Shanice, con bé khoái chí nhận lấy và cười rạng rỡ.
“Chà, chú Dave!” Derek thốt lên cùng đôi mắt sáng rực. “Chú đúng là số dzách!”
Giờ là lúc Jamal hỏi mình học bắn súng ở đâu, Billy nghĩ. Và sau đó, Làm sao bạn biết mình là một thằng ngốc chứ? Bởi nếu mọi người nhìn bạn, như họ đang nhìn lúc này, thì bạn chính là một tên ngốc.
Thực ra Corinne mới là người hỏi anh khi họ tiếp tục chuyển sang gian trò chơi Bingo. Billy trả lời cô rằng đó là từ Quân đoàn Huấn luyện Sĩ quan Dự bị. Rằng anh cứ tự nhiên mà bắn được như vậy thôi. Tiết lộ với cô việc chính anh đã hạ được ít nhất 25 tên nổi dậy ở Fallujah, ngắm bắn từ các mái nhà trong chín ngày của Chiến dịch Phantom Fury, sẽ là một ý tưởng tồi tệ.
Ồ, mày nghĩ như vậy sao? Anh tự vấn một cách mỉa mai, điều này không hề giống với anh – dù là trong suy nghĩ hay phát ra thành lời.
Một chuyện khác – kiểm tra danh tính – xảy ra vào thứ Hai, một ngày trong đợt nghỉ. Bởi anh là một nhà văn tự do làm việc theo giờ giấc của riêng mình, anh có thể nghỉ việc khi muốn và cũng có thể làm việc khi những người khác đang tận hưởng một ngày nghỉ theo quy định của liên bang. Tháp Gerard hoàn toàn vắng vẻ. Cửa sảnh không khóa và không có ai trực ở quầy bảo vệ. Khi thang máy đi qua tầng hai, anh không nghe thấy tiếng quát tháo nào vì nhân viên của Các giải pháp Kinh doanh cũng được nghỉ và không có tiếng chuông điện thoại. Rõ ràng những con nợ cũng đang có một ngày nghỉ, và điều đó đối với họ thật tuyệt.
Billy dành hai giờ để viết. Bây giờ anh đã gần đến đoạn ở Fallujah và tự hỏi mình nên viết gì - chỉ viết một chút, viết nhiều hoặc có thể không viết gì cả. Anh tắt máy và quyết định quay trở lại đường Pearson, thiết lập lại sự hiện diện của mình với Beverly Jensen và chồng cô, anh ta chắc hẳn cũng đang được nghỉ. Anh lái chiếc xe thuê, đội tóc giả, đeo ria mép và bụng bầu giả. Don đang cắt cỏ. Beverly thì ngồi trên bậu cửa, bận chiếc quần đùi màu vàng cỏ úa. Ba người họ ngồi hóng gió một lúc, nói về thời tiết mùa hè này nóng nực ra sao, họ vui mừng thế nào khi mùa hè cuối cùng cũng kết thúc, và chuyến đi sắp tới của Dalton Smith đến Huntsville, Alabama, nơi anh sẽ lắp đặt một hệ thống máy tính hiện đại nhất cho Trụ sở Bảo hiểm Vốn chủ sở hữu mới thành lập. Không mất quá nhiều thời gian. Sau đó, anh nói anh hy vọng mình sẽ trở lại đây.
“Họ chắc chắn sẽ khiến anh bận rộn,” Don nói.
Billy đồng ý và đoạn hỏi Beverly về mẹ của cô, hiện bà đang sống ở Missouri và sức khỏe không tốt lắm. Beverly thở dài và nói rằng cô cũng vậy. Billy nói rằng anh hy vọng cô sẽ chóng khỏe lại và Beverly đáp cô cũng rất mong là thế. Khi cô nói với anh điều này, Billy nhìn qua vai cô và thấy Don đang chậm rãi lắc đầu. Rằng anh ấy không muốn vợ mình biết anh nghĩ gì về tình hình của mẹ vợ khiến Billy yêu quý anh. Anh nghĩ Don Jensen sẽ không bao giờ nói với vợ mình rằng chiếc quần đùi màu vàng cỏ úa khiến cô trông béo hơn.
Anh đi xuống tầng hầm mát mẻ và dễ chịu của mình. Nếu David Lockridge có sách thì Dalton Smith có máy tính xách tay. Công việc của Smith có thể không quan trọng, nhưng vì nó có thể trở nên rất quan trọng ở đâu đó trong bất cứ trường hợp nào nên anh làm việc một cách cẩn thận (dù sau khi viết câu chuyện của Benjy Compson, nó có vẻ nhàm chán và máy móc). Anh kết thúc với việc xem qua ba màn hình. 10 NGƯỜI NỔI TIẾNG NHẤT ĐÃ QUA ĐỜI; 7 LOẠI THỰC PHẨM NÀY CÓ THỂ CỨU RỖI ĐỜI BẠN; 10 CHÚ CHÓ THÔNG MINH NHẤT. Những tiêu đề mồi nhử. Anh đăng chúng trên facebook.com/ads. Anh thực sự có thể làm thế này để kiếm sống, nhưng ai muốn làm điều đó cơ chứ.
Anh tắt máy, đọc vài trang sách (gần đây anh đang say mê Ian McEwan), sau đó kiểm tra tủ lạnh. Kem thì còn nhưng sữa hết sạch. Anh quyết định đến Zoney's Go-Mart để mua thêm. Khi nhìn thấy Don và Beverly vẫn đang ngồi ở hiên nhà, đang uống chung một lon bia, anh hỏi họ có cần mua gì không.
Beverly nhờ anh mua giùm bắp rang bơ Pop Secret nếu có. “Chúng tôi sẽ xem phim trên Netflix vào tối nay. Anh có thể tham gia, nếu muốn.”
Anh suýt thì đồng ý, nếu thế thì thật kinh khủng. Thay vào đó, anh bảo mình sẽ đi ngủ sớm vì sẽ phải lái xe đến Alabama vào sáng sớm mai.
Anh sải bước hướng về các cửa hàng tập hợp thành trung tâm mua sắm dải nhỏ và hiu quạnh. Chiếc SUV màu xanh của Merton Richter với phần bên hông bị trầy xước không thấy đâu và văn phòng thì đóng cửa. Cửa tiệm thuộc da Nu You, Hot Nails và tiệm xăm Jolly Roger cũng vậy. Phía trên tiệm Hot Nails là một tiệm giặt là nhỏ bị bỏ hoang và Cửa hàng Đô-la với tấm biển treo trên cửa sổ để HÃY ĐẾN THĂM ĐỊA ĐIỂM MỚI CỦA CHÚNG TÔI Ở PINE PLAZA.
Cửa hàng Zoney's nằm ở cuối lối. Billy lấy sữa ra khỏi tủ lạnh, không có bắp rang bơ Pop Secret mà thay vào đó là của hãng Act II, anh cũng nhặt một hộp. Nhân viên bán hàng là một phụ nữ trung niên với mái tóc hung đỏ, trông bà ta như thể đã phải sống túng thiếu một thời gian dài, có thể là hai mươi năm hoặc lâu hơn. Bà đưa túi cho Billy nhưng anh nói không, cảm ơn. Zoney's sử dụng túi ni lông và điều này không tốt cho môi trường lắm.
Trên đường trở ra, anh đi ngang qua hai thanh niên đang đứng bên ngoài cửa tiệm giặt là nhỏ bỏ hoang. Một người da trắng và một người da đen. Cả hai đều mặc áo hoodie, loại có túi ở phía trước. Phần túi áo chùng xuống vì trọng lượng của đồ đạc được nhét bên trong. Họ ghé sát đầu vào nhau thì thầm gì đó. Cả hai nhìn Billy dò xét khi anh đi qua. Anh không nhìn thẳng vào họ nhưng có thể thấy điều đó qua khóe mắt. Khi anh không đi chậm lại, cả hai quay lại thì thầm với nhau. Họ cũng có thể đeo những tấm biển quanh cổ với nội dung CHÚNG TÔI ĐỊNH KỶ NIỆM LỄ LAO ĐỘNG BẰNG CÁCH ĂN TRỘM ĐỒ Ở CỬA TIỆM ZONEY’S ĐỊA PHƯƠNG.
Billy rời khu vực hàng quán và trở ra phố. Anh có thể cảm nhận được ánh mắt của hai chàng thanh niên nọ đang dõi theo mình. Chẳng cần thần giao cách cảm mới biết được điều này, thay vào đó chỉ cần sự nhạy bén thông thường của một người từng lăn lộn ở vùng chiến sự với chỉ một ngón chân cái bị cụt một phần và hai Trái tim Tím [*] (đã vứt bỏ từ lâu) mà thôi.
Anh nghĩ về nữ nhân viên bán hàng, ánh mắt của bà ta cho thấy bà ta là một người kém may mắn. May mắn của bà cũng không thay đổi vào dịp lễ này. Billy không bao giờ định quay lại để xử lý chúng, dựa trên những biểu hiện cáu kỉnh của hai chàng thanh niên mà nếu manh động xen vào người ta có thể bị giết, nhưng anh nghĩ đến việc gọi 911. Chỉ có điều là không có điện thoại trả tiền ở quanh đó, thực ra là không còn nữa, và điện thoại anh mang theo bên mình là của Dalton Smith. Nếu gọi cảnh sát, chẳng khác nào anh đã tự châm lửa. Phần còn lại trong danh tính của anh sẽ bén lửa, bởi nó được làm bằng gì? Bằng giấy.
Thay vào đó, anh quay trở lại căn hộ và bảo Beverly rằng không có Pop Secret. Cô ấy nói Act II cũng được. Bình thường thì đường Pearson cũng thưa thớt người qua lại, và vào những ngày lễ như thế này thì vắng như chùa bà đanh. Anh lắng tai để nghe ngóng tiếng súng nhưng không nghe thấy gì. Có nghĩa là không có chuyện gì xảy ra.
02
Billy đã tải xuống một ứng dụng đọc báo địa phương ngay sau khi đến thành phố này, anh nóng lòng dùng nó và ngay ngày hôm sau anh tìm kiếm vụ cướp liên quan đến cửa hàng Zoney’s. Anh tìm thấy câu chuyện trên trang ngay sau Trang chủ, chỉ là một tin vắn trong loạt mục tin nhỏ. Tin này cho hay hai tên cướp có trang bị súng ngắn đã cướp gần một trăm đô-la ( trong số đó có tiền của mình và của Beverly, Bill nghĩ). Nhân viên bán hàng, bà Wanda Stubbs, chỉ có một mình ở cửa hàng lúc đó. Bà được đưa đến Rockland Memorial, nơi bà được điều trị vết thương ở đầu và sau đó được thả. Điều này có nghĩa là một trong hai tên ngu ngốc đó đã tấn công bà, có thể là bằng báng súng, và cũng có thể bởi bà đã không vét tiền từ máy tính tiền đủ nhanh để đưa cho hắn.
Billy có thể tự nhủ rằng mọi chuyện có thể còn tồi tệ hơn rất nhiều (và đúng là như thế). Anh có thể tự nhủ rằng vụ cướp có thể đã không xảy ra nếu anh gọi 911 (và đúng là như thế). Điều này không thay đổi thực tế rằng anh cảm thấy như thể Thầy Tư tế và thầy Lê-vi vừa băng qua bên kia đường thì người Samaritano nhân hậu xuất hiện và cứu rỗi ngày hôm đó. (Câu này dựa trên câu chuyện trong Kinh Thánh, dụ ngôn người Samria nhân hậu được trong Phúc Âm Luca 10:25-37. Có một người đàn ông đến gần Chúa Giê-su và hỏi: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được hưởng sự sống đời đời?” Chúa Giê-su hỏi ngược lại ( theo anh thì chúng ta phải làm gì để thừa hưởng cuộc sống đời đời? ) và anh ta đã trả lời chính xác rằng: Chúng ta phải yêu mến Chúa và tha nhân. Rồi anh ta hỏi Chúa Giê-su, “nhưng ai là cận thân của tôi?” Chúa Giê-su trả lời anh bằng cách kể dụ ngôn người Samaria nhân hậu.)
Thầy Tư tế: Trách nhiệm hàng đầu của Thầy Tư tế là dâng của lễ trong đền thờ để xin ơn tha tội cho dân chúng.
Thầy Lê-vi: Những Thầy Lê-vi thuộc chi tộc tư tế trong dân Do Thái – Họ phục vụ đền thờ thay cho dân Do Thái. Xem chừng vì lý do chức phận thánh thiện này mà Thầy Tư Tế và Thầy Lê-vi không dám đến gần và chạm vào thân thể của nạn nhân, vì hành động đó buộc phải trải qua nghi thức thanh tẩy.
Người Samaritanô: Dân Samaria nguyên là dòng giống của những bộ tộc phía Bắc Do Thái. Thay vì phải đi lưu đày với số người Do Thái còn lại, thì tổ tiên của người Samaria lưu lại trên đất Do Thái và kết hôn với dân ngoại. Do đó, người Do Thái chính gốc không nghĩ dân Samaria là người ngoại hay người Do Thái. Thời Chúa Giê-su, người Do Thái không chơi với người Samaria.
Trong số ba nhân vật nêu trên, chính người Samaritanô lại tỏ ra lòng thương xót nạn nhân bị cướp, và nạn nhân chính là người cận thân, người hàng xóm. [*]
Billy đọc Kinh Thánh từ đầu tới cuối không sót một trang nào hồi còn ở trường, mỗi lính Thủy quân lục chiến đều nhận được nhiệm vụ. Anh thường xuyên hối hận về điều đó và đây là một trong những lần như vậy. Kinh Thánh có một câu chuyện để đâm thủng mọi suy đoán và phủ nhận. Kinh Thánh – Tân Ước cũng như Cựu Ước – đều không tha thứ.
03
Tôi và ông Speck đến Chattanooga, nơi tôi đăng ký tham gia Thủy quân lục chiến. Tôi cứ nghĩ mình sẽ đến căn cứ của Thủy quân lục chiến để làm đơn đăng ký, nhưng thực chất đó chỉ là một văn phòng thuộc một khu mua sắm, ở giữa một cửa hàng bán máy hút bụi và một địa điểm nhận thuế. Có một lá cờ treo trên cửa với dòng chữ NOOGA [*] KIÊN CƯỜNG được in trên một trong những phù hiệu. Cửa sổ dán ảnh của lính thủy đánh bộ hô vang HÃY TỰ HÀO và BẠN CÓ DÁM BẤT CHẤP TẤT CẢ KHÔNG.
Ông Speck hỏi cháu có chắc mình muốn làm điều này không Benjy? Và tôi đã nói có, nhưng thực sự thì không. Tôi không cho rằng ai đó có thể chắc chắn về bất cứ điều gì khi 17 tuổi rưỡi dù có thể giả vờ để trông không có vẻ lóng ngóng.
Dù sao thì chúng tôi cũng bước vào và tôi nói chuyện với Trung sĩ Walton Fleck. Chú ấy hỏi tôi tại sao muốn trở thành lính thủy đánh bộ và tôi nói rằng tôi muốn phục vụ đất nước, dù lý do thật sự là tôi muốn rời khỏi Nhà Speck và ra khỏi Tennessee để bắt đầu một cuộc sống không còn buồn bã. Glen và Ronnie đã đi rồi và Donnie đã đúng khi nói rằng ngôi nhà chẳng còn gì ngoài lớp sơn.
Tiếp theo, Trung sĩ Fleck hỏi liệu tôi có nghĩ mình đủ cứng rắn để trở thành một lính thủy đánh bộ hay không và tôi nói có dù không chắc chắn lắm. Sau đó chú ấy hỏi liệu tôi có nghĩ mình có thể giết một người trong khi chiến đấu không và tôi trả lời rằng có.
Ông Speck nói tôi có thể nói chuyện với ngài một chút không, Trung sĩ, và Trung sĩ Fleck nói rằng tất nhiên rồi. Họ bảo tôi ra ngoài và ông Speck ngồi xuống bàn và hai người họ bắt đầu nói chuyện. Thực ra tôi có thể nói với trung sĩ những gì đã xảy ra với gã bạn trai xấu xa của mẹ tôi, nhưng tôi đoán sẽ tốt hơn nếu chuyện đó được kể bởi một “người lớn có trách nhiệm”. Sau tất cả những chuyện tôi đã trải qua, từ trước đến giờ, tôi phải tự hỏi mình liệu có chuyện nào thực sự như vậy không.
Một lúc sau họ gọi tôi trở lại bên trong và tôi viết những gì đã xảy ra vào khoảng trống được đánh dấu ở mục Thông tin Cá nhân. Sau đó tôi kí vào bốn chỗ, lần lượt như trung sĩ bảo. Đoạn chú ấy nói tôi phải có mặt vào thứ Hai. Chú ấy còn nói đôi khi những chàng trai trẻ phải đợi hàng tháng mới được xử lý nhưng tôi đã đến rất đúng lúc. Chú ấy nói vào thứ Hai tôi sẽ thực hiện bài kiểm tra ASVAB và khám sức khỏe với “một chú cá mới” khác. ASVAB là một bài kiểm tra năng khiếu giúp họ (những người lính Thủy quân lục chiến) xem năng lực của bạn ở mức nào và bạn thông minh ra sao.
Trung sĩ hỏi liệu tôi có hình xăm nào không và tôi nói không. Chú ấy hỏi liệu tôi có cận không và tôi cũng trả lời rằng không. Chú ấy còn nhắc đến những chuyện khác, chẳng hạn như nhớ đem theo thẻ An sinh Xã hội và nếu cháu có đeo bông tai thì nhớ phải tháo ra. Sau đó chú ấy dặn (tôi nghĩ điều này khá hài hước nhưng vẫn cố giữ một khuôn mặt lạnh) nhớ mặc quần lót. Tôi đáp vâng ạ. Chú ấy nói nếu có gì đó không ổn lắm mà cháu chưa viết ra thì tốt hơn hết là cháu nên nói với chú ngay bây giờ và để đỡ phải đi lại. Và tôi trả lời rằng không.
Trung sĩ Fleck bắt tay tôi và nói nếu cháu định làm gì thì tốt hơn hết là hãy làm luôn vào cuối tuần này bởi thứ Hai tới khi cháu thực hiện bài kiểm tra đó, thì cháu sẽ trở thành Người phụ trách công chuyện rồi. Tôi nói vâng. Chú nói đừng trả lời như thế, hãy để chú nghe thấy cháu nói tuân lệnh thưa Trung sĩ Fleck. Tôi làm vậy và chú ấy bắt tay tôi và nói rằng rất vui khi được gặp tôi. “Và cả ngài cũng vậy,” trung sĩ nói với ông Speck.
Trên đường về nhà, ông Speck nói rằng anh ta nói chuyện có vẻ cứng rắn nhưng bác không tin anh ta từng giết ai như cháu, Benjy. Ánh mắt anh ta cũng không cho thấy điều đó.
Lúc đó Ronnie đã rời đi (trong đôi bốt bảy lý) được khoảng 4 hay 5 tháng gì đó, nhưng trước khi đi cô ấy đã rủ tôi hò hẹn ở Demo Derby. Điều đó thật tuyệt, nhưng khi tôi muốn dấn thêm, cô ấy đã cười và đẩy tôi ra và nói rằng em vẫn còn quá trẻ nhưng chị muốn đưa cho em thứ gì đó để em nhớ đến chị. Tôi nói em sẽ rất nhớ chị, và đúng là vậy thật. Tôi không nghĩ có ai lại quên cô gái đầu tiên mà mình đã trao nụ hôn đầu. Cô ấy bảo tôi
04
Billy dừng ở đó, nhìn lại máy tính xách tay và nhìn ra ngoài cửa sổ. Robin nói với anh rằng chừng nào cô ấy tỏa sáng ở một nơi nào đó, cô ấy sẽ viết thư về nhà Stepenek để bạn bè ở Nhà Sơn Vĩnh cửu có thể gửi thư lại cho cô. Cô ấy bảo Billy nhớ làm vậy khi rời đi. “Chị đoán không lâu nữa đâu em cũng sẽ rời đi thôi,” cô ấy nói vào cái ngày họ cùng ngồi trên chiếc Mercedes đã bị phá nát. Cô để anh tháo nút cúc áo mình và cô tự mình cài lại khi nói, giấu tất cả vẻ đẹp rực rỡ đó vào bên trong, “Nhưng ý tưởng dâng thân mình cho cỗ máy chiến tranh... em nên suy nghĩ lại, Billy. Em còn quá trẻ để chết.” Cô hôn vào chóp mũi anh. “Và quá tuyệt.”
Billy bắt đầu viết điều này, chỉ bỏ qua phần anh đã trải qua quá trình dựng đứng cột cờ khó khăn nhất, đau đớn nhất và cũng tuyệt vời nhất trong cuộc đời mình trong suốt khoảng thời gian quá-ngắn- ngủi ấy, thì điện thoại của David Lockridge nhấp nháy báo có tin nhắn. Từ Ken Hoff.
Tôi có thứ này cho anh. Có lẽ đã đến lúc anh nhận nó rồi .
Và bởi có lẽ anh ta đã đúng khi nói vậy, Billy nhắn lại Được .
Hoff phản hồi, Tôi sẽ ghé qua nhà anh.
Không, không, không! Hoff đến nhà anh ư? Bên cạnh gia đình Ackerman, nơi có những đứa trẻ mà Billy chơi cờ tỷ phú cùng vào mỗi cuối tuần? Hoff sẽ mang theo một khẩu súng trường được bọc trong một cái chăn, như thể bất cứ ai chỉ có nửa não và một bên mắt sẽ không biết bên trong có gì vậy.
Không được, anh nhắn lại. Walmart. Bãi đậu xe Garden Center. 7:30 tối nay.
Anh chờ đợi, quan sát những dấu chấm khi Hoff soạn tin nhắn trả lời. Nếu anh ta nghĩ địa điểm gặp mặt có thể thương lượng được thì hẳn sẽ ngạc nhiên lắm cho mà xem. Nhưng khi tin nhắn xuất hiện, nó chỉ vẻn vẹn: OK.
Billy tắt máy tính xách tay mà không hoàn thành câu văn còn dang dở. Anh đã viết đủ cho ngày hôm nay rồi. Hoff đã qua cầu rút ván , anh nghĩ. Nhưng anh biết rõ hơn nhiều. Hoff chỉ là Hoff thôi và không thể tự giúp bản thân mình. Khẩu súng mới là mồi lửa. Và lửa đang bén rồi.
05
Lúc 7 giờ 25 phút, Billy đậu chiếc Toyota mà David Lockridge sử dụng ở khu Garden Center trong bãi đậu xe khổng lồ của Walmart. Năm phút sau, đúng 7 giờ 30 phút, anh nhận được một tin nhắn.
Tôi không thể nhìn thấy anh, xe cộ chật như nêm, hãy bước ra ngoài và vẫy tay nhé.
Billy bước ra ngoài và vẫy tay, như thể với một người bạn của mình. Một chiếc Mustang mui trần màu đỏ anh đào cổ điển – hẳn là xe của Ken Hoff nếu anh ta sở hữu một chiếc – lái vào một trong các làn và dừng lại bên cạnh chiếc xe khiêm tốn của Billy. Hoff bước ra ngoài. Trông hắn ta ổn hơn so với lần gần đây nhất anh gặp, và hơi thở cũng không có mùi cồn. Thật là một điều tốt, xét về món hàng mà hắn mang theo. Hoff mặc một chiếc áo polo (đương nhiên là có logo của hãng), quần chinos ép kim và đi giày lười. Hắn ta cũng có tóc mới. Nhưng bản chất Ken Hoff thì không mất đi đâu cả, Billy nghĩ. Nước hoa đắt tiền của hắn cũng không che giấu được sự lo lắng. Hắn ta không phải típ người phù hợp với những trọng trách đao to búa lớn, và việc mang một khẩu súng tới cho tay sát thủ được thuê khá nặng nề.
Rốt cuộc, khẩu súng trường không được bọc trong chăn và Billy sẵn sàng cho hắn ta thêm điểm vì điều đó. Thứ mà Hoff lấy ra từ cốp chiếc xe Mustang là một chiếc túi chơi gôn kẻ ô vuông thò ra bốn đầu gậy. Chúng ánh lên trong ánh chiều tà.
Billy nhận lấy và cất nó vào cốp xe của mình. “Còn gì nữa không?”
Hoff nhúc nhắc chân. Đoạn hắn lên tiếng, “Có lẽ là có. Chúng ta có thể nói chuyện ít phút không?”
Bởi có vẻ sẽ khôn ngoan hơn khi biết Hoff nghĩ gì nên Billy mở cánh cửa hành khách của chiếc Toyota và ra hiệu cho Hoff bước vào. Hoff làm theo. Billy đi vòng về phía bên kia và ngồi xuống sau bánh lái.
“Tôi chỉ muốn nhờ anh nói với Nick rằng tôi ổn. Anh có thể làm vậy không?”
“Ổn về điều gì mới được?”
“Về mọi thứ. Đó.” Hắn chĩa ngón tay cái về phía sau, tức chiếc túi chơi gôn đang nằm gọn trong cốp xe anh. “Chỉ để chắc chắn rằng anh ta biết tôi là người đáng tin cậy.”
Xem phim vừa thôi, Billy nhủ thầm trong bụng.
“Nói với anh ta rằng mọi chuyện đều ổn. Vài người tôi nợ tiền vẫn tỏ ra khá vui vẻ. Chừng nào anh làm việc của mình, tất cả họ đều vui vẻ. Nói với anh ta rằng chúng ta là bạn bè và ai cũng có lối đi riêng. Nếu được hỏi thì tôi sẽ trả lời rằng tôi chẳng biết cái cóc khô gì cả. Anh chỉ là một nhà văn thuê một căn hộ trống trong tòa nhà của tôi mà thôi.”
Không đúng , Billy nghĩ, tôi không phải là người thuê mà là đại diện của tôi, và George Russo thực chất là Giorgio Piglielli, hay còn gọi là Georgie Pigs, được biết đến như một cộng sự của Nick Majarian. Anh là người móc nối và anh biết điều đó, đó là lý do tại sao chúng ta có cuộc trò chuyện này. Anh vẫn nghĩ anh có thể đi trượt băng sau khi vụ việc diễn ra ư. Anh có quyền nghĩ như vậy, tôi đoán thế, bởi trượt băng là những gì anh làm. Nhưng vấn đề là, tôi không nghĩ anh có thể trượt băng sau mười giờ trong phòng thẩm vấn với cảnh sát. Có thể không đến năm giờ nếu họ treo một thỏa thuận trước mặt anh. Tôi nghĩ anh sẽ vỡ ra như một quả trứng thôi.
“Nghe này.” Billy cố gắng để giọng mình nghe có vẻ tử tế, nhưng hy vọng đủ thẳng thắn: chỉ là hai gã đàn ông ngồi trong chiếc Toyota nói những chuyện không hề nhảm nhí. Công việc của Billy Summers có thực sự là kiềm chế sự bồn chồn, khó chịu mang hình hài người đàn ông này không? Chẳng phải anh được cho là một thợ máy, người có khả năng biến hóa khôn lường như Houdini sau khi mọi việc xong xuôi ư? Thỏa thuận trước đây là vậy, nhưng còn hai triệu...
Trong khi đó, Hoff đang nhìn anh một cách háo hức. Rất cần sự trấn an đó, thứ si-rô xoa dịu. George có lẽ là người sẽ trao điều đó, George khá giỏi mấy chuyện này, nhưng Georgio Pigs không có mặt ở đây.
“Tôi biết đây không phải việc thường ngày của anh...”
“Không! Không hề!”
“... và tôi biết anh đang rất lo lắng, nhưng chúng ta không phải đang nói về một ngôi sao điện ảnh hay một chính trị gia hay Giáo hoàng của Rome. Mà là một kẻ xấu.”
Giống như anh chứ gì , khuôn mặt của Hoff thể hiện điều đó, và tại sao không chứ? Việc Billy đã giành được con chim hồng hạc màu hồng cho một cô nhóc dễ thương cột những dải ruy băng trên tóc không phải vấn đề. Đây không được coi là tình tiết giảm nhẹ.
Billy quay sang đối mặt với gã đàn ông kia. “Ken, tôi cần hỏi anh vài điều. Đừng cảm thấy bị xúc phạm nhé.”
“Được, chắc chắn rồi.”
“Anh không đeo dây [*] hay gì đó phải không?”
Biểu cảm kinh ngạc của Hoff là tất cả những gì Billy cần cho câu hỏi của mình và anh tiếp tục lên tiếng cắt đứt những tiếng ú ớ bối rối của người đàn ông này.
“Được rồi, ổn thôi, tôi tin anh. Chỉ là tôi cần phải hỏi. Giờ thì nghe này. Sẽ chẳng có ai thành lập nguyên một đội đặc nhiệm cho vụ này. Sẽ không có một cuộc điều tra lớn nào diễn ra. Họ sẽ hỏi anh vài câu, tìm đến người đại diện của tôi và phát hiện ra anh ta lừa anh bằng đống giấy tờ giả, và chỉ có thế.” Chuyện rồi sẽ qua. “Anh biết cảnh sát sẽ nói thế nào không? Không phải trước giới báo giới và truyền thông, mà giữa họ với nhau?”
Ken Hoff lắc đầu. Ánh mắt hắn chưa từng rời khỏi mắt của Billy.
“Chúng sẽ nói đây là một vụ trả thù hoặc băng đảng triệt hạ nhau và kẻ ra tay đã giúp thành phố tiết kiệm chi phí xét xử. Chúng sẽ truy lùng tôi nhưng không thấy và vụ việc sẽ bị ném vào đống hồ sơ chưa được giải quyết. Chúng sẽ nói vậy là tống khứ được mớ rắc rối. Hiểu chứ?”
“Chà, khi anh trình bày theo cách đó...”
“Đúng thế. Bây giờ thì về nhà thôi. Mọi việc còn lại cứ để tôi liệu.”
Ken Hoff đột ngột dịch người về phía anh, và trong một khoảnh khắc, Billy nghĩ gã này chuẩn bị hạ anh. Thay vào đó, Hoff trao cho anh một cái ôm. Tối nay hắn trông có vẻ khá hơn, nhưng hơi thở lại kể một câu chuyện khác. Nó không phả ra mùi rượu mà bốc mùi.
Billy cắn răng chịu đựng cái ôm, hơi thở bốc mùi và mọi thứ. Anh thậm chí còn hơi ôm lại hắn. Đoạn anh nói Hoff cố gắng, vì Chúa. Hoff bước ra khỏi xe, thật là một sự nhẹ nhõm (vô cùng nhẹ nhõm), nhưng sau đó lại quay vào trong. Hắn nở nụ cười trông rất chân thành, như thể đến từ chính người đàn ông bên trong. Rõ ràng là vậy.
“Tôi biết vài điều về anh.”
“Đó là gì thế, Ken?”
“Tin nhắn anh gửi cho tôi. Anh đã không viết garden center, với g và c là chữ thường. Anh viết hoa G , viết hoa C . Vừa rồi anh cũng không nói giữa hai , mà anh nói giữa họ . Anh vốn không ngờ nghệch như cách anh thể hiện, phải không?”
“Tôi đủ thông minh để biết rằng anh sẽ ổn nếu nghĩ đơn giản về chuyện đó. Anh không biết gì về nơi tôi lấy súng cũng như kế hoạch của tôi. Chấm hết.”
“Được rồi. Còn một việc nữa. Anh có biết Cody không?”
Tất nhiên là anh biết. Đó là thị trấn nơi họ từng đến tham gia lễ hội hóa trang nọ. Lúc đầu, Billy cứ tưởng Hoff sẽ nói với anh rằng anh đã gây ra sự chú ý ở đó, vì hành động bắn súng của mình. Thật đa nghi, nhưng trước một vụ việc thì đa nghi là chuyện thường thôi.
“Có. Không xa nơi tôi sống lắm.”
“Đúng thế. Vào ngày chuyện này diễn ra, sẽ có một sự đánh lạc hướng ở Cody.”
Thứ đánh lạc hướng duy nhất mà Billy biết là những cục pháo nổ, đặt ở con hẻm phía sau quán cà phê Sunspot Café và nơi nào đó gần tòa án. Cody cách tòa hàng dặm , và Nick sẽ không đời nào nói về những cục pháo nổ với gã này, dù thế nào đi chăng nữa.
“Đánh lạc hướng thế nào?”
“Một vụ hỏa hoạn. Có thể là nhà kho, có rất nhiều nhà kho ở đó. Nó sẽ xảy ra trước khi anh chàng của anh... mục tiêu của anh... đến tòa. Tôi không biết bao lâu. Tôi chỉ nghĩ rằng anh muốn biết, trong trường hợp anh nhận được một bản tin trên điện thoại của mình hoặc máy tính xách tay hay bất cứ thứ gì đại loại vậy.”
“Được rồi, cảm ơn anh nhé. Và giờ thì đã đến lúc anh nên rời đi rồi.”
Hoff giơ tay thành hình nắm đấm với ngón trỏ chĩa thẳng lên trên và quay trở lại chiếc xe ô tô phô diễn sự giàu có của mình. Billy đợi hắn đi khuất, sau đó quay trở lại đường Evergreen, lái xe cẩn thận, ý thức được việc mình có mang theo một khẩu súng trường trong cốp xe.
Một vụ cháy nhà kho ở Cody? Liệu có thật không? Nick biết điều này chứ? Billy không nghĩ vậy, Nick sẽ nói với anh bất cứ điều gì có thể khiến anh trật nhịp. Nhưng Hoff lại biết. Câu hỏi đặt ra là có hay không việc anh, Billy, sẽ nói cho Nick và Giorgio về bí mật không mong đợi này. Anh nghĩ chắc anh sẽ giữ điều này cho riêng mình. Suy ngẫm về nó, giống như Thánh nữ Mary suy ngẫm về sự ra đời của Giê-su.
Anh bảo Hoff nghĩ chuyện này đơn giản thôi. Ngoại trừ việc đơn giản ở mức nào khi, sau ba hay bốn giờ trong phòng thẩm vấn, cảnh sát bắt đầu hỏi hắn làm thế nào để trả hết nợ? Lúc đó, cảnh sát sẽ gọi hắn là Ken thay vì anh Hoff, bởi đó là những gì họ làm khi ngửi thấy mùi máu. Tiền từ đâu ra vậy, Ken? Một ông chú giàu có vừa qua đời sao, Ken? Vẫn còn thời gian để thoát khỏi vấn đề này. Anh có còn điều gì muốn nói với chúng tôi không, Ken? Ken?
Billy băn khoăn về túi đựng gậy gôn cùng khẩu súng bên trong. Đó có phải túi của Hoff không? Nếu đúng, hắn có nghĩ đến việc lau sạch đầu gậy không, phòng trường hợp dấu vân tay của hắn còn lưu lại trên đó? Tốt hơn hết là đừng nghĩ về nó nữa. Hoff đã tự lo thân rồi.
Nhưng điều đó chẳng phải cũng đúng với Billy sao? Anh không thể ngừng suy nghĩ về kế hoạch trốn thoát của Nick. Nó nghe hoàn hảo đến mức khó tin, đó là lý do tại sao Billy quyết định không dùng đến nó, và cũng không để Nick biết. Bởi vì, nghe này – nếu bạn muốn loại bỏ người môi giới thỏa thuận và cung cấp súng thì tại sao không loại bỏ luôn kẻ dùng súng? Billy không muốn tin Nick sẽ làm vậy, nhưng anh nhận ra một thực tế không thể chối cãi: không muốn tin điều gì đó là cách mà Ken Hoff rơi vào cái hố mà hắn chắc chắn sẽ không bao giờ có thể thoát ra.
Và ý tưởng về vụ hỏa hoạn xảy ra ở một nhà kho ở Cody vào ngày ám sát là của ai? Không phải của Nick, Hoff cũng không. Vậy thì là ai?
Mọi sự đều đáng lo ngại, nhưng khi đánh vô lăng vào đường lái, anh nhận thấy một điều tốt đẹp: bãi cỏ của anh trông rất tuyệt.
06
Suốt những đêm tháng Tám, Billy gần như đều ngủ ngon giấc. Anh cứ thế chìm vào giấc ngủ mà không nghĩ gì ngoại trừ những điều mà anh sẽ viết vào ngày hôm sau. Có vài lần anh mơ về Fallujah và những căn nhà với những túi đựng rác màu xanh lá cây phất phơ trên những cây cọ ở các khoảnh sân. ( Làm sao chúng bay lên đó được nhỉ? Tại sao chúng lại ở trên đó?) Đó không phải là câu chuyện của anh nữa, giờ đã là câu chuyện của Benjy rồi. Hai danh tính này đã bắt đầu chầm chậm trôi xa khỏi nhau, nhưng không sao cả. Anh từng xem một cuộc phỏng vấn của Tim O’Brien trên YouTube về cuốn sách The Things They Carried (tạm dịch: Những thứ họ mang). Ông nói hư cấu không phải là sự thật mà là con đường dẫn đến sự thật, và giờ thì Billy hiểu điều đó rồi. Đặc biệt là khi anh viết đến phần về chiến tranh, và chẳng phải câu chuyện của anh hầu hết là như vậy sao? Trao môi hôn trong chiếc Mercedes đổ nát cùng Robin Maguire, hay Ronnie Givens, chỉ là một khoảng thời gian ngừng chiến. Hầu hết phần còn lại là chiến đấu.
Đêm nay, khi mùa hạ đã qua và mùa thu đang chờn tới, Billy nằm thao thức, trăn trở. Không phải vì khẩu súng được cất trong chiếc túi chơi gôn. Anh nghĩ về việc mà anh đồng ý làm bằng khẩu súng đó. Như một luật lệ, anh không bao giờ vượt quá hai điều căn bản: bóp cò rồi rời khỏi đó ngay lập tức. Lần này khác, không phải chỉ vì đây là lần cuối cùng anh đoạt mạng kiếm tiền. Nó khác vì nó có mùi, hơi thở có mùi của Hoff khi hắn cuốn lấy Billy trong cái ôm vụng về và bất ngờ đó.
Có kẻ nào đó đã liên lạc với Hoff , anh nghĩ, sau đó anh nhận ra rằng không phải vậy. Không một ai liên lạc với Hoff cả, bởi hắn chẳng là ai. Có thể hắn nghĩ mình là một ai đó, với các dự án phát triển bất động sản, rạp chiếu phim cùng chiếc Mustang mui trần màu đỏ, nhưng hắn chỉ là một con cá lớn trong cái ao nhỏ mà thôi, và thực sự thì con cá đó cũng chẳng lớn lắm. Và đây mới là một thỏa thuận lớn. Rất nhiều người được trả tiền. Bản thân Hoff cũng vậy. Vài khoản nợ của hắn đã được trả xong xuôi, và anh nghĩ số còn lại cũng sẽ được xóa sạch sau khi Joel Allen gục xuống. Tiếp đến là Nick, và người của anh ta cho vụ này. Chưa đủ để tạo thành đội, nhưng cũng gần như vậy. Và có lẽ đó cũng là một đội thật. Có thể có nhiều hơn những điều mà Nick không nói với anh.
Không một ai liên lạc với Hoff. Ai đó đã liên lạc với Nick, và bảo anh ta kéo Hoff về chung thuyền. Billy nhớ rằng anh đã nghĩ, vào lần đầu tiên anh gặp Hoff ở Sunspot Café, rằng Nick và Hoff phải có mối liên hệ gì đó với nhau. Bây giờ anh đã tiến thêm một bước để xác thực rằng điều đó không đúng. Hoff muốn có giấy phép kinh doanh casino nhưng không được. Điều đó có xảy ra nếu hắn thân thiết hơn với Nick, người biết cách lừa bịp để lấy được những thứ như vậy không? Xét cho cùng, casino là một kế hoạch vô cùng tốn kém, và Hoff thì lại rất cần tiền.
Có phải người đứng sau vụ này đã báo trước cho Hoff về vụ cháy nhà kho được giả định ở Cody không? Có thể là như vậy.
Còn về Joel Allen, hiện đang bị giam giữ ở Los Angeles thì sao. Hắn bị biệt giam một cách có thể đoán chừng là vô cùng thoải mái. Hắn có một luật sư để chống lại việc dẫn độ. Vậy tại sao Allen chắc hẳn biết mình sẽ bị đưa trở lại đây? Không chỉ vì đồ ăn thức uống nơi đây ngon hơn ở LA. Hắn đang câu giờ chăng? Đang cố gắng thỏa thuận với kẻ nào đó khiến chuyện bất ổn này xảy ra, sử dụng luật sư như là người trung gian.
Ai đó hẳn phải biết Allen sẽ được đưa đến đây, và khi hắn đến đây, Billy Summers sẽ hạ gục hắn trước khi hắn có thể đánh đổi những thông tin mình đã biết. Ai đó hẳn phải biết sẽ là một mối nguy hại nếu Allen mua hợp đồng bảo hiểm – ảnh chụp, ghi âm, lời thú nhận bằng văn bản về một thứ gì đó (Billy không thể hình dung thứ đó là gì). Chỉ ai đó hẳn phải cảm thấy cần phải chấp nhận rủi ro và đó là rủi ro có thể chấp nhận được. Ai đó có thể đúng. Có lẽ vậy. Những người như Allen thường không mua bảo hiểm, những người như Allen cảm thấy bất khả xâm phạm. Có lẽ anh ta giỏi mấy việc đổi đồ lấy tiền, nhưng những tội ác khiến anh ta rơi vào hoàn cảnh hiện tại là tội ác của sự bốc đồng.
Hơn nữa, ai-đó có thể cảm thấy mình không còn lựa chọn nào khác. Dù bí mật là gì, nó đều thật tệ. Allen không chịu để mình bị xét xử trong tình trạng bị kết án tử hình. Không phải khi hắn sở hữu thứ gì đó nóng rẫy mà hắn có thể trao đổi.
Billy bắt đầu chìm vào giấc ngủ. Trước đó, anh mơ màng nghĩ về cờ tỷ phú, về việc làm sao để không phá sản bằng cách bán từng tài sản của mình. Nó hiếm khi hiệu quả.
07
Sáng hôm sau, lúc anh vừa bước vào xe, Corrie Ackerman vội vàng băng qua bãi cỏ nhà cô và bước sang bãi cỏ của anh. Cô cầm trên tay một chiếc túi giấy màu nâu và thứ gì đó ở bên trong tỏa hương thơm nức mũi.
“Tôi làm bánh xốp nam việt quất. Cả Shan và Derek đều ăn trưa ở trường, nhưng chúng thích có thêm món gì đó. Còn lại hai cái đây, mời anh.”
“Tuyệt quá,” anh đáp, nhận lấy túi bánh. “Sao cô không phần Jamal một cái?”
“Tôi đã để phần một cái cho anh ấy, nhưng tôi muốn mời anh cả hai chiếc đó.”
“Cảm ơn cô nhiều,” Billy nhoẻn cười.
“Trông anh có vẻ ốm hơn.” Nói đoạn cô dừng lại. “Anh vẫn ổn chứ?”
Billy nhìn xuống chính mình, tỏ vẻ ngạc nhiên. Anh ốm hơn ư? Có vẻ thế. Cái lỗ trên thắt lưng mà anh chẳng bao giờ cài tới giờ đang được dùng. Anh nhìn lại cô. “Tôi vẫn ổn, Corrie.”
“Trông anh vẫn khỏe khoắn, nhưng ý tôi không phải vậy. Hoặc không phải tất cả những gì tôi muốn nói. Cuốn sách của anh vẫn tiến triển tốt chứ?”
“Vẫn đang chạy ro ro.”
“Vậy thì có lẽ anh cần ăn uống nhiều hơn. Những thực phẩm lành mạnh. Những loại rau củ có màu xanh và vàng, đừng ăn pizza và đồ ăn nhanh Taco Bell. Về lâu dài, chúng còn tệ hơn cả rượu. Tối nay sang ăn với chúng tôi nhé. 6 giờ. Tôi đang làm bánh shepherd. Có cả cà rốt và đậu Hà Lan đấy.”
“Nghe tuyệt quá,” Billy nói. “Hy vọng tôi không thêm việc cho cô.”
“Tất nhiên là không rồi, và tôi phải cảm ơn anh mới đúng. Anh đã rất tốt với hai đứa trẻ nhà tôi. Shanice còn mê anh hơn khi anh giành được con chim hồng hạc cho con bé.” Cô nhỏ giọng, như thể sắp tiết lộ một bí mật. “Con bé đã đổi tên nó từ Frankie thành Dave đấy.”
Trên đường vào trung tâm thành phố, Billy nghĩ đến việc Shan đổi tên chú chim hồng hạc của con bé và cảm thấy vô cùng vui vì điều đó nhưng cũng xấu hổ vì dù sao cái tên đó chỉ là một lời nói dối.
08
Chiều hôm đó, Gerard dạo qua vài khối nhà về phía đường Pearson. Anh dừng lại một chút trước con hẻm nhỏ đặt vài thùng rác to tướng. Anh thầm nghĩ rằng chuyện đó có thể. Đoạn anh quay một vòng chữ U về phía ga-ra đậu xe.
Sau đó, trên đường trở về Midwood, anh dừng lại ở Walmart. Có vẻ như kể từ khi đến đây, anh luôn dừng lại ở đó mỗi lần đi qua. Đứng xếp hàng ở quầy thanh toán cùng giỏ hàng của mình, anh nghĩ về lúc vụ việc kết thúc. Chỉ đơn giản là biến mất. Nick sẽ truy lùng anh, và không chỉ tìm kiếm khoản hoàn trả cho số tiền lớn đã được trả trước vào tài khoản. Billy rất giỏi biến mất, nhưng Nick sẽ không ngừng săn lùng. Anh ta sẽ bắt đầu bằng cách cử chân tay của mình đến để ép Bucky Hanson cung khai, và việc đó có lẽ sẽ rất khủng khiếp, bởi Nick sẽ tính toán rằng nếu có ai đó biết được nơi ở của Billy Summers thì ắt hắn đó phải là lão môi giới ở New York. Và Bucky chắc sẽ kết thúc với cảnh bàn tay không còn móng. Bucky có thể sẽ chết. Ông ấy không xứng bị như vậy.
Nick cũng sẽ cử Frankie Elvis hoặc Paul Logan đến những khu vực lân cận. Hai gia đình Fazio và Ragland sẽ bị tra hỏi. Jamal và Corrie cũng thế. Những đứa trẻ thì sao? Điều đó khó xảy ra, đàn ông trưởng thành mà nói chuyện với bọn trẻ chỉ tổ thu hút sự chú ý không mong muốn, nhưng nội việc nghĩ đến cảnh Shan và Derek bị gặng hỏi cũng khiến anh cảm thấy nôn nao.
Có hai điều khác nữa. Một là anh không bao giờ bỏ ngang việc, hai là Joel Allen đang đến. Và hắn ta là một kẻ xấu.
“Thưa ngài? Đến lượt ngài rồi ạ.”
Billy bước đến quầy thu ngân, “Xin lỗi, tôi hơi lơ đễnh.”
“Không sao, tôi cũng thường như vậy suốt,” nữ thu ngân trả lời.
Anh nhấc những món đồ từ giỏ mua hàng ra ngoài. Bao gồm vài miếng vải bọc đầu gậy chơi gôn màu xanh sáng được in chữ POW! và WHAM! ở trên đó, một bộ dụng cụ lau súng, một bộ thìa gỗ, một chiếc nơ hình bướm màu đỏ lớn với chữ CHÚC MỪNG SINH NHẬT lấp lánh, một chiếc áo khoác có biểu tượng Rolling Stones ở sau lưng và một hộp đựng đồ ăn trưa dành cho trẻ em. Cô nhân viên thu ngân bíp mã hộp đựng đồ ăn cuối cùng, sau đó giơ nó lên cao để nhìn rõ hơn.
“Thủy thủ Mặt trăng! Mấy bé gái sẽ rất thích nó!”
Shan Ackerman cũng sẽ thích mê, Billy nghĩ, nhưng cái này không dành cho cô nhóc. Trong một thế giới tốt đẹp thì sẽ là như vậy.
09
Đêm đó, sau bữa tối với nhà Ackerman (món bánh mà Corrie làm rất ngon), anh đến căn phòng ở tầng hầm và lôi khẩu súng ra khỏi túi chơi gôn. Đó là một khẩu M24, như được chỉ định và có vẻ ổn. Anh tháo rời từng bộ phận rồi đặt chúng lên mặt bàn bóng bàn, lau sạch sẽ từng chi tiết (có tổng cộng sáu mươi bộ phận cả thảy). Anh tìm thấy ống ngắm ở một bên túi có khóa kéo. Bên túi còn lại là một băng đạn gồm năm viên.
Anh sẽ chỉ cần một viên là đủ.
10
Lúc anh bước vào sảnh đợi của Tháp Gerard vào sáng hôm sau thì đồng hồ đã chỉ 10 giờ 15 phút sáng. Túi chơi gôn đeo chéo qua vai. Anh cố tình đến muộn để hầu hết các doanh nghiệp đều đang trong guồng làm việc của họ. Irv Dean, người bảo vệ đã luống tuổi, ngước mắt nhìn lên từ tạp chí Motor Trend và cười tươi với anh. “Tham gia giới gôn à, Dave? Ô, đúng là đời văn sĩ!”
“Không phải tôi,” Billy đáp. “Đó là môn thể thao nhàm chán nhất hành tinh này. Của người đại diện của tôi đấy.” Anh dịch chuyển chiếc túi chơi gôn để Irv có thể nhìn thấy chiếc nơ bướm lớn ở bên cạnh với những chữ cái CHÚC MỪNG SINH NHẬT lấp lánh. Nó thò ra ngoài một bên túi mà bây giờ chứa một cuốn tạp chí phong cách sống dành cho nam thay vì giá đặt bóng.
“Ối chà, tuyệt cú mèo. Một món quà đắt tiền!”
“Anh ấy đã giúp đỡ tôi rất nhiều.”
“Ừm hửm, tôi biết. Chỉ có điều cậu Russo trông không giống típ người thích chơi gôn cho lắm.” Irv đưa hai tay về phía trước, ám chỉ thân hình và cái bụng đồ sộ của Giorgio.
Billy đã chuẩn bị trước cho tình huống này. “Anh ấy có thể sẽ mất mạng vì lên cơn đau tim ở lỗ thứ ba nếu đi bộ, nhưng anh ấy có xe. Anh ấy kể với tôi đã học chơi từ hồi học cao đẳng, thời thân hình thon thả hơn nhiều. Và ông biết đấy, có lần đưa tôi đến sân, anh ấy đã thực hiện một cú vung gậy mà ông không tin nổi đâu.”
Irv đứng dậy và trong một khoảnh khắc lạnh sống lưng, Billy nghĩ những phản xạ nhạy bén của viên cựu cảnh sát luống tuổi này như bùng trở lại và ông định xem xét kỹ các đầu gậy chơi gôn, một hành động có thể cứu đời Joel Allen nhưng lại đặt dấu chấm hết cho Billy. Thế nhưng thay vào đó, ông vặn người rồi vỗ cả hai tay vào bàn tọa của mình. “Sức mạnh đến từ đây.” Irv vỗ thêm một lần nữa như để nhấn mạnh. “Ngay chỗ này. Cậu cứ hỏi bất kỳ cầu thủ hàng công nào của tuyển bóng đá quốc gia hay các cầu thủ đánh bóng mà xem. Như José Altuve [*] ấy. Thấp tè nhưng hông chắc như bàn thạch vậy.”
“Chắc chắn là vậy rồi. George thì chắc như đá ấy.” Billy vuốt thẳng một trong những vỏ bọc đầu gậy màu xanh. “Irv, chúc ông một ngày tốt lành.”
“Anh cũng vậy. Này, sinh nhật anh ta khi nào thế? Tôi sẽ gửi cho anh ta một tấm thiệp hay gì đó.”
“Tuần tới, nhưng có lẽ anh ấy không ở đây đâu. Anh ấy đang ở bờ Tây.”
“Vùng đất của những rặng cọ và những cô gái xinh đẹp bên bể bơi,” Irv nói đoạn ngồi xuống. “Tuyệt đấy. Tối nay anh có ở lại muộn không?”
“Tôi chưa biết. Phải xem tình hình đã.”
“Đúng là đời văn sĩ,” Irv lặp lại một lần nữa và mở tạp chí của mình.
11
Khi đã yên vị trong văn phòng của mình, Billy tháo một trong những vỏ bọc đầu gậy màu xanh ra – cái có chữ SLAM!. Thò ra phía đầu mũi ngoài khẩu súng trường Remington là một thanh rèm mà anh đã cưa sao cho có độ dài phù hợp. Buộc ở cuối thanh rèm là một chiếc thìa gỗ. Với vỏ bọc đầu gậy ôm sát, trông nó chẳng khác gì một cây gậy đánh gôn. Anh lấy ra báng, thân súng và khóa nòng. Sau đó, anh đẩy hai đầu gậy sang một bên để lấy ra hộp đựng đồ ăn trưa, nó được bọc cẩn thận trong một chiếc áo len để ngăn mọi tiếng lách cách. Bên trong đó là các bộ phận nhỏ hơn – chốt khóa nòng, chốt bắn, thoi đẩy, bộ phận đẩy về và tất cả những bộ phận còn lại. Anh đặt khẩu súng đã tháo rời cùng băng đạn năm viên, ống ngắm Leupold và một chiếc máy cắt kính vào hộc trên cao giữa văn phòng và căn bếp nhỏ. Anh khóa nó lại và cất chìa khóa vào túi.
Anh thậm chí không cố gắng viết lách. Viết lách để sau khi chuyện chết tiệt này êm thấm đã. Anh gạt chiếc MacBook sang một bên và mở máy riêng của mình. Anh nhập mật khẩu, một nhúm số và chữ cái xen kẽ lộn xộn mà anh nằm lòng (không bao giờ có mẩu giấy ghi chú mật khẩu nào được giấu ở đâu đó) và mở một file có tên GÃ GAY. Tất nhiên là anh chàng gay Colin White của Các giải pháp Kinh doanh. Tệp này ghi chú lại mười mẫu trang phục rực rỡ mà Billy đã quan sát được khi Colin vận đi làm.
Không thể đoán Colin sẽ mặc bộ nào vào ngày Joel Allen được đưa đến tòa án, và Billy đã cho rằng điều đó không quan trọng. Không chỉ vì mọi người đều tin vào mắt mình ngay cả khi chúng đang nói dối, mà vì chiếc quần vải dù. Có lúc Colin kết hợp nó với áo sơ mi hoa với cầu vai phồng, khi lại là với chiếc áo phông in dòng chữ QUEERS FOR TRUMP (LGBT ỦNG HỘ TRUMP), khi thì với một trong nhiều chiếc áo sơ mi kiểu ban nhạc. Điều đó không thành vấn đề vì Colin mà mọi người nhìn thấy sẽ mặc một chiếc áo khoác in biểu tượng đôi môi của Rolling Stones ở sau lưng. Anh chưa bao giờ nhìn thấy Colin mặc một chiếc áo khoác nào, không phải trong mùa hè nóng nực vừa qua, nhưng kiểu trang phục đó chắc chắn có trong nhà của anh ta. Và nếu ngày diễn ra vụ việc nắng nóng, vì tiết trời thu ở đây có thể thế lắm, thì áo khoác cũng vẫn ổn. Đó là một tuyên bố thời trang.
Khi người của Nick trên chiếc xe tải DPW giả thấy có người chạy ngang qua mà không dừng lại để vào xe, họ sẽ không nghĩ Billy Summers đang cao chạy xa bay ; họ sẽ nhìn thoáng qua chiếc quần vải dù và mái tóc đen dài ngang vai và nghĩ rằng có một tên ngốc đồng bóng nào đó đang vội vã rời đi.
Anh mong là thế.
Vẫn sử dụng máy tính xách tay của mình, Billy dạo một lượt trên Amazon, chỉ định giao hàng vào ngày hôm sau.