Sau khi Trương Vĩnh Ký rời khỏi Hà Nội, cố Phước thân sang trường thi gặp Lãnh sự Kê- la-đích bàn việc đối xử với tình thế. Lão mở đầu câu chuyện:
− Ông Lãnh sự ạ. Ta khoe khoang Trương Vĩnh Ký, mà dân ở đây, họ lại thờ ơ lãnh đạm và có chỗ họ còn chế giễu xỏ xiên, như thế là họ có ý hoài nghi mai mỉa cả ta nữa và như thế, coi như là ta bất lợi trong cuộc đi chơi này của con cưng ngoan đạo của chúng ta. Vậy ta cần phải làm một việc gì khác để cứu vớt lại chứ?
Kê-la-đích nói:
− Thưa đức cha, tôi đã cũng nghĩ đến. Tôi đang muốn nhân dịp ta vừa làm xong khu nhà ở Đồn Thủy, lại gặp đúng khoa thi, giao trả trường thi cho họ thi…
− Thế các dẫy nhà đã làm xong cả chưa? Cố Phước hỏi.
− Cũng chưa xong hẳn, công việc còn nhiều, Kê-la-đích nói, vì ở đấy là bãi phù sa đất xốp lại gần sông nên cần làm móng cẩn thận, phải đợi thời gian…
Cố Phước gắt:
− Ấy tôi hỏi thế để biết thêm, để bàn với ông cho rõ. Như tôi đã nói với ông khi ông mới đến, ta cứ đóng giữ trường thi, khi nào họ đòi ta mới giả. Nay họ chưa đòi, chỉ nghe đồn họ mới rục rịch bàn nhau đòi. Nhưng tôi muốn ta đi trước, tỏ ra ban ơn cho họ, mà cũng là nâng cao tiếng tăm cho quan Tuần phủ mới Nguyễn Tăng Doãn là bạn thân của ta. Vậy ông cứ nói thẳng ngay là vì có quan Tuần mới khéo giao thiệp, chúng ta mới giả, chứ cứ như quan Tuần cũ nhất định chúng ta không giả, vì công việc làm nhà lập trại ở nơi nhượng địa đã làm xong đâu và kỳ hạn quan Tuần trước ký đã hết đâu…
Lão đưa mấy ngón tay luồn qua những sợi râu xồm vân vê những sợi loăn xoăn vuốt xuống, cười một cách đắc ý và nói:
− Ấy mỗi việc làm ở đấy, chúng ta cần nghĩ đến ít ra là phải được lợi hai ba đường.
Kê-la-đích gật gù khen phải và nói:
− Đức cha nghĩ rất đúng. Được đức cha khôn ngoan thấu suốt cả phần đạo, phần đời, lại nhìn rõ đại cục giúp đỡ cho, thế nào sự có mặt của nước Đại Phú ở xứ này cũng sẽ ngày càng vững chắc và mở rộng. Chúng tôi xin tuân theo lời đức cha dạy.
Cố Phước vui vẻ nói:
− Giá ông Phi-lát khôn khéo, thì chúng ta đã chả phải bận tâm nghĩ đến những việc vặt như thế này! Bây giờ chúng ta phải đi lại đoạn đường lỡ bước, nên ta phải đi gấp, thấy việc gì lợi ta cần làm ngay.
Cuối mùa thu năm ấy, Kê-la-đích đã dọn dẹp về ở bên dẫy nhà gạch mới ở Đồn Thủy xong đâu đấy, nhân một buổi chiều mát mẻ tươi đẹp, hắn mở tiệc mời quan Tổng đốc, quan Tuần phủ, các quan chức và thân hào Hà Nội, các bang trưởng và chủ hiệu Khách lớn đến ăn mừng khánh thành khu nhà mới. Trong bữa tiệc, hắn cám ơn quan khách đến dự và trịnh trọng tuyên bố:
− Thưa quan Tổng đốc, thưa quan Tuần phủ, thưa các vị, đáng lẽ theo như điều khoản mà quan Tuần cũ đã ký với chúng tôi, thì đến năm 1877 mới là hẹn giao giả trường thi và nếu việc xây dựng chưa xong, còn có thể kéo dài thêm nữa, mà nay thì công việc vẫn còn bề bộn như các vị đã trông thấy ngoài kia. Nhưng thưa các vị, chúng tôi cảm kích vì tấm lòng hữu ái chân thành của cụ lớn Tổng đốc Trần đại nhân và nhất là của quan lớn Tuần phủ Nguyễn đại nhân đối với chúng tôi và để cho nước Đại Phú Lãng Sa tỏ tình hữu hảo góp phần vào sự nghiệp đào tạo nhân tài của nước Đại Nam, tôi xin tuyên bố trao giả lại trường thi cho các quan tỉnh Hà Nội, từ ngày mai, để mở khoa thi, kén chọn nhân tài. Nước Đại Phú Lãng Sa xin chịu mọi tiền chi phí về việc tu bổ.
Các quan tỉnh Hà Nội hết sức vui mừng và càng thêm khen Kê-la-đích tử tế, biết điều, thật tâm muốn hòa hảo với người mình. Ngay hôm sau họ cử người ra nhận trường thi và thu dọn sửa chữa lại theo đúng quy cách trường hương thi để mở khoa thi thường lệ năm ấy là khoa Bính Tý năm Tự Đức thứ 29. Công việc sửa chữa lại giao cho quan chức sở tại trông coi đốc thúc, nên Bá hộ Kim lại được cử ra làm hưng công 1 , giao thiệp thẳng với bọn Phú để lấy tiền gạo và nguyên vật liệu, mà chúng đã mua dự trữ rất nhiều. Từ quân đến dân phu, ai nấy đều vui vẻ miệt mài làm việc, nên không đầy nửa tháng, trường thi đã được sửa sang xong khang trang đẹp đẽ hơn trước. Nhà thập đạo, nhà quan cư, đều làm lại mới tinh. Ở cổng trường, hai miếu ân, miếu oán được xây mới quét vôi trắng toát. Công việc xong đâu vào đấy rồi, cuối tháng mười, hai quan chánh chủ khảo Lễ bộ Tả thị lang Hoàng giáp Phan Sỹ Thục và phó chủ khảo Binh bộ biện lý, Phó bảng Hà Văn Quan cùng các quan trường đã làm lễ tiến trường rất long trọng, cờ quạt cắm suốt từ cổng thành ra đến trường thi, uy nghi có vẻ linh đình hơn các khoa trước. Và đến nửa đêm ngày mồng một tháng mười một, mấy cây đình liệu 1 lớn soi tỏ cả bốn vi Tả, Hữu, Giáp, Ất, cho các thí sinh vào trường, tỏa ánh sáng rầng rậc khắp khu Hồ Gươm đang cuồn cuộn những dòng người đi lại. Quân đội phòng thành hôm nay nai nịt gọn gàng, gươm giáo, súng ống sáng loáng, đi tuần diễu quanh khu trường thi. Dân chúng cũng nô nức phấn khởi với các thầy khóa lều chõng nô nức đến trường. Toàn thành phố, nhất là những nơi gần trường thi và những nơi có nhiều học trò trọ, đều như tỏa lên một làn không khí vui vẻ, tưng bừng, tấp nập như đêm giao thừa đi hái lộc. Ở khu Đồn Thủy gần đấy, quân lính của bọn Phú Lãng Sa suốt đêm ấy phải thức canh phòng, sẵn sàng khí giới trong tay đợi đối phó với sự khích nộ của sỹ tử có thể đẩy đến hành động chống lại chúng chăng. Suốt đêm, bọn chúng không được đi đâu cả, chỉ tranh nhau leo lên chòi canh nhìn bốn ngọn lửa bốc cao soi tỏ đám dân chúng tụ tập đông đảo ồn ào và trật tự ở quanh trường thi. Chúng được chứng kiến khoa thi quả là một ngày hội lớn. Cố Phước và lãnh sự Kê-la-đích cũng mừng đã trả được trường thi đúng dịp, giữ được thiện cảm của dân ở đấy. Còn các quan tỉnh càng mừng hơn, mừng có được một khoa thi đúng kỳ mà long trọng và êm đẹp được như thế, đủ hãnh diện với bọn Phú, bọn ngoại bang di địch chúng sẽ phải kính phục sự thi cử bề thế ở một nơi cố đô văn vật của một nước văn hiến nghìn thu. Bá hộ Kim lại càng vui mừng thỏa thích hơn, lão đứng ở trong nhà phố Hàng Khay nhìn bọn học trò tấp nập đi lại, càng thấy tự hào đã làm lại khu trường thi nhanh chóng kịp kỳ hạn mà lại rộng rãi đẹp đẽ hơn trước. Lão thường nói với bọn học trò quen biết vào mua giấy bút ở cửa hiệu của nhà lão:
1 . Đem một nhóm thợ làm một công trình xây dựng gì.
1 . Ở đây nghĩa là hai cây đuốc lớn. Lệ đời xưa nhà Chu, khi đầu canh năm, vua sắp ra thị triều, thì ở trước điện đình, bày hai hàng đèn hoặc đuốc để soi đường cho bách quan vào triều.
− Không có cánh này đổ mồ hôi, sôi nước mắt, vội đến nổ con ngươi, dễ các cậu có được một nơi thi khang trang như thế đấy!
Sỹ tử vào thi rồi kỳ đệ nhất qua êm thấm, vui vẻ. Các thí sinh, kẻ về quê, người đi chơi thăm bè bạn, kẻ vui chơi ở phố phường đợi chờ kỳ đệ thi, đúng ngày mồng tám đều lại tụ tập cả ở những nơi trọ cũ, đợi xem bảng đỗ. Ngày mồng chín sau khi bảng đã treo ra các cửa vi, những thí sinh được vào kỳ đệ nhị vui vẻ rủ nhau đi mua thêm giấy cánh quyển 1 . Đường phố Hàng Khay, phố Hàng Hài, phố Hàng Bài tấp nập những người đi lại, nhiều người hỏi han nhau, bàn tán về văn bài kỳ đệ nhất về kẻ được vào, kẻ tìm tên ở sau bảng. Một số đứng dồn lại ở cửa hàng bán giấy đầu phố Hàng Khay trong đó hai cô con gái đang bán hàng. Hai cô ăn mặc diêm dúa, vấn khăn nhung tròn tuôn tóc đuôi gà chấm vai đung đưa phe phẩy mỗi khi cử động, áo nhiễu hoa năm mình khép tà dài quá bắp chân, quần lĩnh chấm gót, nét mặt vui tươi như đón chào các thầy Cử tương lại, càng thêm lôi cuốn các thí sinh. Mọi người đang vui vẻ bông đùa trêu chòng nhau như thường lệ trong mỗi kỳ thi. Bỗng mấy người đứng gần nghe rõ tiếng qua lại giữa nhà hàng với một thầy khóa, trước còn bông lơn, sau nặng dần. Thầy khóa nói nửa đùa, nửa thực:
1 . Đổi quyển, phòng viết hỏng, đóng quyển khác thay, đem lên lấy dấu son công nhận.
− Ấy phải chọn cho khéo đấy, đúng một chục tờ giấy tốt, phi một tờ nào là bất thành nội trợ…
Một cô cười hỏi:
− Sao kỳ đệ nhị mà thầy lấy nhiều thế?
− Được cứ kệ tôi, anh này cũng vui tươi nói, phi tờ nào là tôi bắt cô đền đấy!
Cô khác bữu môi nói:
− Gớm! Kỳ đệ nhị thơ phú mà giữ nhiều giấy thế không sợ ngồi cắn bút đũn ra quần cũng không rặn ra đủ chữ kín hai tờ giấy à? Còn thi để mà đùm...
Anh kia nói nạt nộ:
− Này mồm miệng đàn bà đừng có mà nói nhảm. Nhỡ mất khoa này của ông thì cho ế ở nhà làm bà cô tổ bóp cổ con cháu…
Cô lớn tuổi hơn nói đáp lại chanh chua:
− Nói dễ nghe nhỉ! Cái ngữ nhà anh đỗ hay trượt mặc xác nhà anh! Đồ nhà quê đi thi nhờ mà chực đũa mốc muốn chòi mâm son! Ai người ta thèm…
Cô trẻ cũng nói thêm:
− Thi cử của các anh bây giờ tưởng người ta báu lắm ấy! Thời buổi Tây Tàu này, không có ở đây, người ta vất vả khó nhọc, Tây nó cứ ì ra đóng ở đấy, thì rồi có chán vạn chỗ ra mà thi với cử.
Mấy người ở ngoài thấy bạn bị nói mỉa, sấn vào hàng hùng hổ:
− Các bạn tỉnh Sơn đâu? Để nó nói xấu anh em tỉnh ta như thế mà chịu à?
Ở ngoài nhao nhao lên, mỗi người một lời:
− Sao? Cái gì? Nó nói xấu ai?
− Nói xấu học trò à?
− Nói xấu anh em mình à?
− Nó nói láo…
− Láo à?
− Nó nói láo mà lại kể công!
Có người ở ngoài lách vội vàng đến nơi, nghe được hai tiếng cuối cùng, không cần biết đầu đuôi, quát lớn ngay:
− Nó kể công à? Đánh bỏ mẹ nó đi! Nhà thằng Bá hộ Kim đấy. Nó mà dám kể công, khinh anh em mình à?
Tức thì cuộc đấu khẩu chuyển sang hướng gay go quyết liệt. Lớp sóng người chuyển động ồn ào. Một tiếng người đứng trên hè hô lớn:
− Phá nhà nó ra! Không đánh người! Bắt lấy cái thằng già theo giặc ra đây tùng xẻo!
Người nữa quát:
− Nó theo Tây đấy, kể công cái gì!
Như làn sóng vỡ bờ, từng lớp người xông vào nhà, sầm sầm, soảng, choang! Cửa đổ, đồ đạc vỡ gẫy, tiếng đập phá vọng ra. Tin bay đi rất nhanh, sỹ tử các ngả kéo về cuồn cuộn như sóng dữ. Họ vớ được cái gì là dùng ngay cái ấy làm khí giới: dao, gậy, cọc tre, cuốc, tất cả đều xông vào đập phá như thể nước lũ, không thể ai cản được.
− Nó theo Tây khinh sỹ tử à! Đánh.
Câu ấy cứ lan truyền đi mãi như dầu tưới vào lửa. Ai nấy đều bừng bừng nộ khí. Các cửa buồng nhà Bá Kim đều bị bật tung ra. Mọi người xông xáo đi tìm chủ nhân tội phạm.
Bỗng có tin quan Đề đốc đem quân đến giải tán, cứu Bá hộ Kim. Nhưng học trò bao vây đông quá, quân lính không đủ giải ra khắp được, Đề đốc Tôn Thất Hàm cho lính bắn súng chỉ thiên dọa nạt cũng không sao nhúc nhích được đám đông. Nhanh trí, hắn cho lính chặn giữ cổng sau, về phía xóm đông Vũ Thạch, cứu thoát Bá Kim và gia đình chạy lẻn về nhà thờ Vũ Thạch; rồi lão cho đưa Bá Kim đi lối làng Phúc Lâm quanh lên Nam Ngư chạy thoát vào thành. Quân lính đến nơi mà việc phá phách vẫn không giảm, nộ khí của sỹ tử càng hung hăng cuồn cuộn mỗi lúc một nguy kịch thêm, quan Tổng đốc phải sai quan Tuần phủ Nguyễn Tăng Doãn và quan Đốc học Khiếu Năng Tĩnh đi với quân lính ra gọi loa hiểu dụ trấn tĩnh học trò. Các quan tới nơi dàn lính chung quanh, hiểu dụ ôn tồn, vừa ân, vừa uy, học trò nghe đã dìu dịu, dãn ra thành lối nhường các quan vào trong nhà Bá hộ Kim khám xét. Vào đến nơi, có quân lính canh giữ rồi, bọn quan trở mặt ngay, căn cứ theo lời khai của Bá Kim lúc chạy vào thành và cứ trông dáng điệu ai hò hét hung hăng nhất, chúng bắt một số người giải vào trong thành, trong số đó có thầy khóa Nguyễn Cầu, tức cậu ấm Vẽ, con quan Nghè Nguyễn Tạo, và thầy Tú Nhồi bị buộc là đứng đầu khích nộ thí sinh gây ra cuộc biến động. Học sinh bị đánh lừa, bảo nhau không vào thi kỳ đệ nhị nữa, đêm hôm ấy kéo đến vây kín nhà Bá Kim, đòi đem nó ra xử tội và đòi thả những người bị bắt. Ngay từ buổi chiều hôm ấy, sau khi một số thí sinh bị bắt, các ngả đường đã thấy dán những lời cổ động:
Chẳng thi, chẳng đỗ, chẳng sao!
Anh em không được người nào bỏ nhau.
Phải đòi cho được thầy Cầu,
Phải đào hết đất nhà giầu bỏ đi!
Phải trừ hết bọn đô tùy 1 ,
Hại nhân ích kỷ nghĩ gì đến ai!
1 . Bọn tay chân tôi tớ.
Và những câu chữ Hán: “Thấy việc nghĩa không làm là vô dũng” “Thi mà bị coi như chó ngựa không thi” “Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ, huống chi một bạn cùng thi!”. Anh em chia nhau đi các ngả rủ mọi người cùng tụ tập ở phố Hàng Khay, chứ không lều chõng vào trường. Dân chúng cũng căm giận sự bắt bớ phi lý của các quan tỉnh, cùng kéo đến góp sức với học trò bao vây đông đặc nhà tên Kim suốt đêm hôm ấy. Quan tỉnh cho lính ra đến nơi lấy cớ là giữ trật tự trị an, toan lập mưu giải tán mấy lần, nhưng thấy lực lượng đông và có trật tự quá, lính không dám làm gì cả.
Buổi chiều hôm ấy, gia đình nhà Bá Kim chạy thoát cả, không ai bị đánh, vì anh em không có ý gì hành hung ai chỉ cốt tìm Bá Kim, không thấy thì phá phách cho bõ tức. Cô Xuyến ở đằng nhà thờ Vũ Thạch vội cuống cuồng chạy đến tìm ông cử Kim Cổ, nhờ ông che chở và cứu thoát cho gia đình cô. Ông Cử liền cho người đi gọi cậu ấm Phách Tự Tháp và những học trò ông cùng đi thi khoa ấy đến để ông hỏi lại cho rõ mọi tình tiết. Ông bảo cô Xuyến thuật lại đầu đuôi việc xảy ra ở nhà như thế nào. Cô Xuyến kể:
− Lúc ấy ở ngoài cửa hàng có chị cả Trường và chị Dung. Mấy anh kia vào mua giấy cánh quyển. Xưa nay họ vẫn nói chòng ghẹo là thường. Chả biết lúc ấy chị cả nói sao đấy, đâu ở ngoài còn có người chữa hộ:
“Con ấy nó có chồng rồi nên nó nói sỗ thế đấy chấp nó làm gì!” Thế rồi là ầm lên, mọi người xô vào phá phách… May cả nhà con chạy thoát, không ai việc gì!
Ông Cử suy nghĩ, nói thong thả:
− Có lẽ đấy chỉ là một cớ thôi. Họ vin vào lời nói ấy để bùng ra đấy thôi. Cho nên họ mới không đánh đập người nhà. Cũng là do phẫn khí với thằng Tây cả. Kể ông Bá nhà cô cũng là kẻ có lỗi thật. Nhưng còn chán vạn đứa nặng hơn, mà bây giờ đổ dồn cả chỗ ông Bá ghé đầu chịu báng cũng chả ra làm sao cả. Vả bây giờ đang thi cử mà gây ra thù hằn không đâu, bọn Phú chúng nó cười cho. Chúng nó đang mong muốn cho mình cứ lộn xộn đánh nhau, để nó xui bẩy cho đâm chém chí mạng!
Ngồi im một lúc đắn đo, ông lại nói:
− Thôi được, cô cứ yên tâm vì cô có lòng mộ nghĩa trước đây, chúng tôi sẽ cố tìm cách dàn xếp giúp. Cô có thông tin tức được với ông Bá thì bảo cứ ra mà xin nhận lỗi tạ tội với sỹ tử. Ở đây, chúng tôi cố giảng giải cho họ nguôi đi…
Cậu ấm Phách ở ngoài về, bước vào vừa hầm hầm nói:
− Chúng nó bắt ấm Vẽ, tú Nhân Nhuế và một số anh em nữa đem đi rồi! Thế này chỉ còn có vây chặt, đòi bắt được tên Kim ra mới chịu được!
Ông Cử vẫn điềm tĩnh hỏi:
− Làm gì mà đùng đùng lên, thế nào? Ai bắt?
− Bọn quan tỉnh bắt chứ ai, cậu Ba nói vội, rồi rằn thêm mấy tiếng sau: mà lại chính tên Kim tố cáo chứ ai!
Cô Xuyến vừa khóc, vừa nói như để thanh minh:
− Thầy tôi lẩn trốn như chuột ngay từ đầu còn biết đâu mà tố cáo.
Cậu ấm Phách lúc ấy mới nhìn thấy cô Xuyến ngồi khuất ở phía sau yên thư, cứ nói thêm:
− Nhưng mà ấm Vẽ và Tú Nhồi trong bọn chúng tôi tự dưng bị vạ, là chúng tôi cứ diệt vào cho lão Bá đấy, cứ bắt đền lão, muốn ra sao thì ra.
Ông Cử phải đấu dịu dàn hòa:
− Cậu Ba tức vì mấy bạn thân bị bắt cả, nên cậu hung hăng vậy, chứ cũng không phải ông Bá tố cáo đâu. Tính ông ấm Vẽ y hệt quan Bố Sơn trước, bộc trực, thấy việc nghĩa là làm, việc gì cũng hăng hái xông lên trước, nên họ thấy như là người dẫn đầu, họ bắt đấy chứ… Nhưng bắt rồi thì cũng phải thả thôi…, buộc tội lúc này là thất sách. Để tôi nói với bác cử Vũ Thạch lên trình với quan Đốc.
Cậu ấm Phách vẫn còn có vẻ tức nói:
− Phải làm ra môn, ra khoai, cho rõ trắng đen, cho ông Bá rõ cái tội tầy đình của ông ta. Và cho các cô con ông ta bớt cái thói kiêu kỳ, đài các rởm đi!
Cô Xuyến cũng ấm ức cãi:
− Không nhận ra thầy em có lỗi, thì dễ thường em báu các anh lắm đấy mà dốc một lòng không sợ nguy hiểm đi theo giúp đỡ các anh. Các anh bảo em kiêu kỳ những gì nào? Có chính học trò các anh cũng hiếu sự bỏ mẹ đi ấy! Ai chả biết bây giờ các anh đắc thời, đắc thế! Thầy tôi nông nổi nhẹ dạ nên mới khổ!
Ông Cử phải khuyên giải rành rọt:
− Đừng có đâm ra cắn quẩn nhau. Chính ra vụ này đã có mầm từ trước kia. Nếu Tây nó không giả trường thi mà phải thi nơi khác thì sẽ có cuộc náo trường chống Tây thật đấy. Lòng phẫn nộ của mọi người vít được lối này nó lại phì ra lối khác, khéo ngăn ngừa lắm mới được. Sở dĩ hôm nay, tự nhiên lại nảy ra vụ này là vì có dịp để người ta xướng xuất lên, giận cá băm thớt, tự nhiên nó bùng ra đấy. Hai nữa là có một số người không đỗ kỳ đệ nhất, nhân tiện muốn phá kỳ đệ nhị luôn một thể để thi lại cả. Trong việc chung, xưa nay vẫn có nhiều kẻ giấu ý tình riêng của mình vào. Nhưng theo tôi xét ra, cứ để thế này mãi không lợi gì cả. Tìm cớ mà trị bọn thí sinh thì dễ đấy, song nhất định không được rồi, chỉ lại khích nộ thêm. Mà theo hùa với học trò trị tội Bá Cựu Lâu 1 cũng vô lý nữa. Muốn dựa theo pháp luật triều đình thì phải có lý chứ. Mà chúng mình xâu xé nhau, bọn ngoại quốc nó ngồi nó xem, nó vừa cười, vừa mừng chỉ có lợi cho nó thôi. Cho nên tôi thiết nghĩ các quan nên thả ngay các thí sinh bị bắt và hiểu dụ các thí sinh lại trở vào thi kỳ đệ nhị ngay, là êm thắm hơn cả. Các anh nên đi tìm gặp anh em, bàn với anh em như ý tôi vừa nói, bàn bạc kỹ cho anh em nghe. Tôi xin vào gặp quan Đốc ngay bây giờ đây. Tôi đi rủ bác cử Vũ Thạch cùng đi, để nói lên cho các quan rõ, chứ cứ xử theo một chiều thì rồi hỏng cả.
1 . Bá Cựu Lâu tức là Bá Kim ở làng Cựu Lâu.
Mọi người thấy có lý, liền theo lệnh ông, trở ra đi mỗi người vào một đám đông thí sinh để cùng bàn bạc, hẹn hễ các các bạn được thả ra cả, thì lại cùng vào thi. Ông Cử cũng vội đi tìm ông cử Vũ Thạch đi đến nhà học chính đường trình bày mọi lẽ như trên với quan Đốc học Khiếu Năng Tĩnh. Ông này cũng đang suy nghĩ giống như thế, có thêm ý kiến của hai ông Cử, như thêm sức mạnh, ông vội vàng vào thành bàn với quan Tổng đốc và quan Tuần phủ. Đương lúc trong nước lắm việc, hai quan trọng thần sợ sinh ra to chuyện, trách cứ đến mình, liền y theo ý kiến trên, sai thả thết những người bị bắt ngay đêm hôm ấy. Nhưng cũng đã quá muộn, thí sinh vẫn không vào thi cứ ở lại vây nhà và đòi xử tội Bá Kim.
Sáng sớm hôm sau trống giong cờ mở từ trong thành đưa quan Tuần phủ và quan Đốc học thẳng ra đầu phố Hàng Khay, đội lính phòng thành gươm mác sáng loáng đi dàn trước và vít sau tiếng loa tiền hô hậu ủng vang dậy cả buổi sớm tinh sương. Đến ngã tư Hàng Khay Vũ Thạch, tiếng loa tiến vượt lên trước gọi tất cả học trò đứng dồn tụ tập, trước nhà Bá Kim để nghe quan Đốc hiểu dụ. Hai hàng lính dài do quan Phó lĩnh binh dẫn đến, đứng canh dọc hai bên. Trên một án thư cao ngang ngực vừa mới đặt ra đấy, quan Tuần phủ Nguyễn Tăng Doãn, có ba lọng xanh rủ quả bông ngũ sắc che trên đầu, ngồi xếp bằng ngay ngắn, nghiêm nghị nhìn đám đông đang chen chúc đứng im lặng ngóng đợi lời hiểu dụ, trong khi quan Đốc học, một lọng che, đứng trên chiếc án thư ở bên phải thấp hơn, lên tiếng dõng dạc:
− Hôm qua đã nói rõ điều hơn lẽ thiệt rồi. Thế mà sao vẫn còn ngang ngạnh cố đứng ở lại đây làm gì? Có phải là bất tuân thượng lệnh không? Nho phong sỹ khí lại như thế à? Nhưng mà nghĩ rằng triều đình nuôi kẻ sỹ chú trọng đến khoa danh, nên giơ cao đánh khẽ, không nỡ xử tội gia hình, đã thả tất cả những kẻ bị bắt rồi cho về bảo nhau mà trở lại kỳ thi đệ nhị, không rồi uổng lỡ mất công phu đèn sách. Hôm nay các quan lại thân ra đây bảo rõ cho các thầy biết con đường họa phúc. Và nhân thể muốn làm cho nguôi bớt cái hách khí thiếu niên của các thầy, để các thầy yên tâm thi cử, các quan lại cho đưa cả Bá hộ Kim về đây nhận lỗi sơ suất đối với anh em. Đó chính là ý tốt của các quan trên muốn chín bỏ làm mười, cố tìm mọi cách làm trọn cái nghĩa tác nhân và thành nhân chi mỹ 1 các thầy phải nghe!
1 . Tác thành người, làm nên tiếng tốt cho người.
Ở dưới mọi người reo hò nhảy múa, nói:
− Phải bắt Bá Kim ra nhận tội!
− Phải kết tội tên Kim trước đã.
Tiếng loa của thầy Đội phòng thành vội vung lên:
− Tất cả im lặng lắng nghe cụ lớn Tuần ban dụ!
Quan Tuần đứng lên trên án thư cao lênh khênh, vểnh mũ cánh chuồn lên nói như quát:
− Sỹ tử không được mạn thượng! Trước hết phải biết rằng chính bọn học trò đã có tội phá rối khoa thi và phá hoại nhà ở tư nhân. Bá hộ Kim có tội chăng? Thì tội đó phải do các quan trên xét xử, chứ không phải quyền của học trò, tụ tập đông mà hung hăng thế là làm loạn. Vả Bá hộ Kim đã mẫn cán làm lại trường thi để kịp cho học trò có chỗ thi. Có thất thố vì lời nói gì chăng, thì đây, hôm nay, quan trên cho phép tên ấy ra nói rõ cho tất cả học trò biết.
Ở mọi chỗ tiếng reo mừng như cùng tung lên một lượt chấm ngắt lời quan Tuần và đón Bá hộ Kim ra nhận lỗi. Lão này lo sọm hẳn người đi, không còn vẻ nghênh ngang hách dịch hằng ngày nữa, run run đứng nép bên quan Phó lãnh binh. Tiếng loa gọi tiếp:
− Mọi người im lặng, để nghe Bá hộ Kim giãi bầy lầm lỗi!
Bá Kim đứng tách hẳn ra ngoài giữa vời, bên cạnh án thư của quan Tuần, bắt đầu nói hơi run run:
− Bẩm các cụ lớn, thưa các sỹ tử. Tôi là Bá hộ Nguyễn Ngọc Kim xin nhận lỗi trước các cụ lớn và ba ngàn sỹ tử trường Hà khoa thi Bính Tý này, vì tôi đã để các con tôi trót dại nói những lời vô lễ với mấy thầy khóa tỉnh Sơn. Thôi thì con dại cái mang, tôi xin nhận tội đã không dạy bảo được con cái và xin nhớ mãi tội lỗi…
Ở dưới có người hét lớn:
− Tội khác kia! Không ai chấp chi đàn bà, con gái.
Tiếng loa lại nói vang:
− Mọi người im lặng để đương sự nói tiếp.
Bá Kim đâm ra luống cuống nói lắp:
− Còn tôi, tội tôi có nhỡ nhời nói đổng. Và tội tôi có làm nhà cửa cho bọn Phú Lãng Sa. Nhưng đều là do quan trên giao cho phải làm ngay, khi An Nghiệp đến đây cũng như khi lãnh sự Kê-la- đích mới đến đây, quan trên đều sức bắt tôi phải làm cho mau xong để có chỗ cho họ ở, được việc cho triều đình. Mọi việc các quan trên đều đổ dồn xuống đầu tôi chịu cả. Cũng như khi tu bổ lại trường thi cũng vậy. Có một điều lỗi là tôi coi mọi việc tôi làm đều tự nhiên như nhau cả, khi làm cho bọn Phú cũng vậy, khi làm cho ta cũng vậy. Đó là do tôi ngu dại không nhận ra, từ nay tôi xin chừa.
Ở đám đông có người nói lớn vọng lên:
− Thế thì từ nay phải sáng mắt ra, đừng ngu dại ăn người nữa. Và việc này làm gương cho những đứa nào còn có ngu dại như thế mở mắt ra mà trông!
Quan Đốc học vội xua tay nói:
− Im lặng, không được hỗn. Nói leo! Như thế là thầy Bá hộ Kim đã xin lỗi và quan trên cũng tha lỗi cho các thầy khóa đã làm náo động cả tỉnh thành. Tha cho là cốt để theo ý tốt của triều đình để các thầy giữ được đúng khoa khỏi lỡ đợi ba năm đằng đẵng. Vậy các thầy phải nghe, về sửa soạn lều chõng vào thi ngay! Nghe!
Mọi người reo mừng nhẩy lên, hô lớn:
− Xin tuân!
Rồi nhiều người tỏa ra ồn ào bảo nhau:
− Thôi dĩ hòa vi quý! Thế là được cả.
− Về sửa soạn vào thi đi!
Sau khi tiếng loa dẹp đường rẽ lối đưa các quan trở về thành đi đã xa, chỉ còn văng vẳng lại, đám đông tan dần. Đoàn người tỏa ra khắp các nẻo đường quanh Hồ Gươm, còn để trơ lại ngôi nhà Bá hộ Kim bị phá tan hoang, gạch gỗ ngổn ngang, đồ đạc gẫy vụn lổng chổng. Hôm ấy các thí sinh lều chõng vào thi kỳ đệ nhị. Và rồi khoa thi đã kết thúc tốt đẹp, sau bốn kỳ đỗ được hai mươi tám Cử nhân. Cảm nghĩ sâu sắc về khoa thi này, có người đã ghi lại việc trên bằng những vần truyền miệng:
Cho hay nhất quỷ nhì ma,
Bây giờ mới biết thứ ba thế nào!
Giận quân phản quốc từ bao,
Đất bằng nổi sóng ào ào như sôi!
Đứng đầu ấm Vẽ, Tú Nhồi,
Gợi lòng công phẫn, người người cùng theo.
Tứ bề đập phá hò reo,
Mấy tòa nhà gạch đổ siêu tan tành.
Tên Kim tội ác rành rành,
Quyết tâm bắt sống hành hình mới cam.
Giận thay tên Đề đốc Hàm,
Cửa sau cứu thoát vội đem vào thành
Những quân phản nước cầu vinh
Từ đây cũng phải hồn kinh phách rời!
***
Sau vụ phá nhà này, Bá Kim bỏ hẳn ngôi nhà phố Hàng Khay, dọn về ở ngôi nhà riêng trong làng Cựu Lâu, bên cạnh Tràng Tiền. Và cuối năm ấy, lão xin từ dịch, thôi việc quan về ở nhà. Lão thường nói với những người quen:
− Chả già cũng lấy làm già rồi, tôi làm việc quan ngót ba chục năm rồi, ân oán đã nhiều, về nghỉ di dưỡng cho nó sướng tuổi già một tí. Xin mãi không được. May mà có việc các ông học trò thi cử, các ông ấy hung hăng phá phách, mình mới được thôi đấy; thôi thì bây giờ “quan bất cần, dân bất nhiễu”, tha hồ mà tiêu dao tuế nguyệt, ngày tháng ở nhà trông coi con trẻ cần cù làm ăn cho toại lòng già.
Thực ra, đối với vụ này, lão tức nhiều hơn là nhận thấy mình có lỗi, lão vẫn tự cho là đã có công làm lại trường thi nhanh chóng cho kịp ngày tiến trường. Thế mà bị bọn hủ nho xui bẩy đổ lỗi đâu đâu vào ngay đầu lão, làm cho bọn học trò ngông cuồng, hách khí, nông nổi tức sằng, đã gây ra cơ sự như thế. Mặt khác, lão cũng đâm gờm cái sức lớn lao của dân chúng, thì có ngày đầu chẳng phải, phải tai, quan trên dùng mình làm được việc cho họ, đến khi gặp sự trắc trở, thì họ lại tìm cách đổ dồn vào cho mình chịu cả. Cho nên từ nay được nghỉ việc rỗi rãi, lão đóng cửa tạ khách, không tiếp ai cả, chỉ thỉnh thoảng đi lên phố, vào chơi mấy hiệu khách buôn quen mua mấy thứ lặt vặt. Lão tự nghĩ lấy làm đắc ý, tự nhủ một mình:
− Cứ thế này mà hay, vừa để cho họ tưởng mình sợ, họ khỏi ngờ, tránh voi chẳng hổ mặt nào, được yên thân; vừa náu mình đợi thời cơ, có dịp tốt, thì thì… lại chúng mày sẽ biết tay ông!
Nghĩ thế, lão đóng cửa nhà khách ở lì trong nhà riêng, không đón tiếp ai nữa. Khách khứa đến thăm rất ít được vào.
Nhưng chợt một hôm, vào đầu năm sau, đã ngoài rằm tháng giêng, có một người khách đứng tuổi, quần áo chững chạc, nón lông đen, chóp bạc chạm nổi bóng nhoáng, đi giầy vải Tàu, sồng sộc bước vào hẳn trong sân, đòi vào chơi thăm ông chủ. Lão Bá sai người nhà ra nói dối là đi vắng và xin đưa thiếp lại để khi ông chủ về sẽ biết chỗ mà tìm đến chơi sau. Người khách bước lên nhà ngang mượn giấy bút mấy chữ:
“Cựu thức, dã phu Đào Trọng Kỳ 1 ”
1 . Người quen cũ, lão quê Đào Trọng Kỳ
Người khách viết xong giao tờ giấy lại, bước xuống sân, lững thững đi ra, đủng đỉnh nhìn ngắm cá dinh cơ to tát. Tên người nhà cầm tờ giấy đưa vào. Bá Kim nhìn tên sực nhớ ra quan Phủ Đào Trọng Kỳ cũng vừa mới bị cách dịch, vội chạy bổ theo ra đến cổng chắp tay vái chào, nói:
− Bẩm lạy quan lớn, hạ dân ngỡ khách nào lạ, không dám ra tiếp.
Đào Trọng Kỳ cười hỏi:
− Ông anh sợ đến thế kia à? Bá Kim cũng cười đáp:
− Bẩm qua lớn, kinh cung chi điểu 2 và cũng muốn nghỉ ngơi cho yên thân!
2 . Bị nạn hụt một lần thì e ngại, sợ hãi, hoảng hốt. (BT)
Bá Kim liền mời Đào Trọng Kỳ vào chơi nhà khách, mời ngồi lên sập gụ chân quỳ, còn lão ngồi hầu chuyện ở ghế bành bên cạnh. Đào Trọng Kỳ thân mật nói:
− Thấy ông anh vừa bị một vố đau, nhân tiện lên chơi trên này, tôi xin đến thăm ông anh, gọi là cái nghĩa quen biết cũ và đồng bệnh tương liên…
− Bẩm quan lớn, Bá Kim nói, xin đa tạ quan lớn có lòng hạ cố…
Đào Trọng Kỳ gạt đi ngay:
− Thôi đừng kiểu cách quan lớn, quan bé nữa, tôi cũng vừa bị cách chức giả về dân tịch 1 rồi, ông anh chưa biết à?
1 . Giả về sổ dân thường.
− Dạ, bẩm có nghe thấy nói, nhưng chưa rõ sự thể thế nào?
− Ấy đấy, như thế còn đâu là quan lớn nữa mà cứ gọi. Đào Trọng Kỳ đỡ lời. Ông anh biết đấy chứ. Khi tôi ở đây đổi đi quyền Tri phủ Kiến Xương, rồi thăng Tri phủ ở đấy, năm Hợi đã lại đổi vào Bang biện tỉnh vụ ở Nghệ An, rồi đi dẹp loạn ở Diễn Châu, Tương Dương. Công việc đang yên thắm như thế thì quan chức tỉnh Nam Định có khám phá ra việc tôi có viết giấy cho quân đội Phú, khi chúng nó đánh chiếm Nam Định. Vua Tự Đức truy xét các án thất thủ Hà Nội, Nam Định, Ninh Bình, xử tội cách chức trả về làm dân thường, chịu sưu sai tạp dịch và tước tên trong sổ Cử nhân. Nhà vua phê là… “có tội với danh giáo”. Tôi vừa đi tạp dịch về đây, còn đâu là quan quách nữa mà cứ gọi cho thêm thẹn!
− Thế bẩm quan lớn có oan không ạ? Bá Kim hỏi.
Đào Trọng Kỳ ngồi lặng một lúc, rồi thủng thẳng đáp:
− Kể oan thì cũng không oan, nhưng có tức. Thực ra mình có quen biết Đồ Phổ Nghĩa hồi ở huyện Thọ này. Nay thấy quân lính nó đã lấy Hưng Yên êm thắm, quan Tuần phủ Nguyễn Đức Đạt sai quan Bố ra mời nó vào nhận thành chịu quyền bảo hộ, rồi nó sang lấy thành Nam Định, mình có viết một bức thư kể lại ân tình cũ và khen lòng nhân từ của quân lính nó, xin nó để cho dân yên, đừng dẫn quân đến phủ này nữa. Bức thư ấy đã đưa đến tay quân Phú hẳn hỏi. Ấy thế mà lúc rút lui. Ông ấy hoảng sợ thế nào quẳng mẹ nó lại, lớ ngớ làm sao lại rơi vào tay quan Hộ đốc Nguyễn Trọng Hợp – Thế là án lên đến triều. Mình có viết thư, mình chịu tội, chỉ ức cái công việc chưa ra đâu vào đâu cả mà mình bị cách, còn quan Tuần Hưng Yên nộp thành nhận sáu điều khoản bảo hộ hẳn hoi thì lại được triều đình khen thưởng thăng hai cấp!
Bá Kim cười, nói góp:
− Vì quan tuần Nguyễn Đức Đạt đỗ Đình nguyên Thám hoa, danh lừng thiên hạ, lại làm Tuần phủ, nên các quan nể, còn quan lớn chỉ đỗ có Cử nhân trường Nam, làm quan Tri phủ thôi, nên ít người vị nể.
Đào Trọng Kỳ nói, vẫn thong thả từ tốn:
− Cũng có lẽ vậy. Cũng như ông anh bị học trò phá nhà ấy nhỉ. Truy nguyên ra chính là mình có vệ thằng Tây thật, nhưng do việc con trẻ lỡ lời nói xấu đến học trò thi mà thành ra vụ học sinh phá nhà, ấy thế rồi quan trên bắt mình phải nhận lỗi thì ức chứ!
Bá Kim thấy nói chạm nọc đến mình, liền nói xỏ:
− Bẩm quan lớn vâng, xét ra hạ dân có phần vệ Tây thật. Nhưng cũng chỉ vì ở vào tình thế bó buộc phải tùy thời hai bên cùng ép cả lại, nên phải tìm lấy con đường sống đấy chứ. Kể ra cũng còn ức hơn cả cái việc tứ tri 1 , tư thông với giặc ngoài ngay từ đầu, thấy điều lợi giữ kín không bảo nhau biết. Chính hạ dân cố học đòi làm theo như vậy mà không được đấy.
1 . Nhắc lại cái việc ăn tiền. Xin xem lại đoạn Tú Tích cắt nghĩa tứ tri cho Bá Kim.
Phủ Kỳ cũng thấy nói động đến mình, liền cũng xỏ lại:
− Thì chính là cũng có giao thiệp với bọn Du Long, Huỳnh Lục Ký, rồi nhân đấy khi Ngạc Nhi đến, ông anh mới được bọn chúng cử lên quyền Biện huyện vụ chứ.
Bá Kim cười khẩy nói:
− Đấy là vì nhân đang làm việc cũ, phải ra giữ việc che đỡ cho dân, cho yên dân, nên về sau các quan ta đến, hạ dân mới lại vẫn được yên ổn, vẫn được giữ chức cũ. Bá hộ Kim lại vẫn cứ là Bá hộ Kim, cho đến bây giờ cũng vẫn được là Bá hộ Kim.
Phủ Kỳ ngồi ngẫm nghĩ một lúc, cố tìm xem có được cái gì để vạch cho Bá Kim đớ người ra mới thích, trông thấy đôi câu đối khắc gỗ mới sơn treo ở bên chỗ ngồi, liền hỏi:
− Ô hay! Sao ông anh lại treo câu này?
− Quan lớn bảo sao? Mới thửa đấy chứ!
− Câu đối nó chửi ông anh keo kiết chỉ biết ăn người, thế mà cũng treo!
− Câu đối hay vậy thế mà quan lớn đã vội nghĩ sai rồi. Nhân cái vụ lộn xộn vừa rồi, thấy cái câu này có ý nghĩa hay hay nên mới đem treo ngay nơi ngồi chơi cho nó di dưỡng tính tình: Lương nhân đảo trí sa vô thủy , người dân lành mà treo ngược lên, ức hiếp người ta, thì đúng như cát không có nước, nóng bỏng chân, mà văn tử an bài mộc hữu nhân , người văn tự, người học trò được an bài yên ổn thì thực là như gỗ có người, cây cỏ cũng có linh hồn. Suy rộng ra, mọi sự đều như thế cả. Hễ cứ bắt ức người ta tức là làm cho người ta phải oán hận. Cho nên câu này nó an ủi mình mà cũng là dùng để tự khuyên nữa. Kể từ trước tới nay, nhiều khi bị các bề trên ức hiếp, mình đâm ra hống hách nạt nộ người khác để bù lại, nên nay thấy câu này nó có ý khuyên răn như thế, treo chơi cho nó hợp tình, hợp cảnh, sao quan lớn lại bảo là chửi?
Phủ Kỳ mỉm cười ranh mãnh, đủng đỉnh nói:
− Thế ra định từ nay tu tỉnh, đã tri quá cải hối 1 rồi đã sao? Có thật không? Nhưng mà này, nó chửi cho là như thế này nhé: chữ lương , chữ nhân , hai chữ ấy đảo trí là đặt ngược chữ dưới lên trên thành chữ thực , đúng không nào? Sa vô thủy chữ sa không có chấm thủy bên, chỉ còn là chữ thiểu mà thực thiểu nghĩa là ăn ít . Còn bên vế này, chữ văn với chữ tử an bài xếp liền nhau thành chữ học , mộc hữu nhân chữ mộc có chữ nhân đứng bên thành chữ hưu có đúng không nào? Mà học hưu nghĩa là học nghỉ, thôi đi đừng học nữa. Như vậy tức là nó chửi có ca, có cách, nó bảo rằng bắt người ta ăn đói, ăn ít thì thôi đi đừng học nữa. Nghĩa là cái người làm ra đôi câu đối này tố cáo ông anh ăn chặn cả cơm chim, ăn bòn cả mồ hôi nước mắt của người ta, thì không nên học nữa, không nên cho con đi học nữa. Nói rộng ra là mọi việc đều nên gác lại cả. Vì đều là nhân nghĩa ngoài miệng thôi. Nên im hết đi là hơn… Nhưng ai làm ra câu đối này nhỉ? Chắc là thầy đồ ngồi dạy học ở nhà này chứ gì?
1 . Biết lỗi, hối cải.
Bá Kim ngồi ngẩn chăm chú nghe, hiểu rõ đầu đuôi, tức tối quên cả giữ lễ, vội chửi:
− Cha tiên sư đồ vong ân bạc nghĩa. Nó thi trượt kiết xác đói nhăn răng, nghĩ thương tình, tôi rước nó về nuôi, mà nó lại làm láo thế à?
Phủ Kỳ đắc ý ngắt ngay:
− Đúng là ông đồ nhà này chứ gì? Lão ta mới làm, hay làm đã lâu? Giờ lão ta đâu rồi?
− Nó mới làm năm ngoái. Bá Kim đáp uể oải. Nhân dịp ông Trương Vĩnh Ký ở Sài Gòn ra, hẹn vào chơi đây, nó mới dán đôi câu đối này ở nhà học. Ông Trương và quan khách đều khen hay. Ra nó vừa chửi mình vừa chửi khách mà không biết, làm mình cứ khen lấy khen để, tôn trọng nó mãi.
Phủ Kỳ cười, nói tiếp:
− Thì lão ta giỏi đấy chứ, làm được một đôi câu đối rất hay đối chọi từng chữ một, thế mà lại ngụ được ý chửi chua cay.
Bá Kim nói chữa thẹn:
− Không phải tự lão ta đâu. Chính là do văn hội gà đấy! Dịp Trương Vĩnh Ký ra đây, họ làm nhiều câu đối xỏ xiên để thử ông ta. Nhưng người Sài Gòn người ta thật thà, người ta cứ theo nghĩa thẳng mà khen. Tôi cho là chẳng làm quái gì cái lối úp mở xỏ xiên ấy. Người ta có biết, người ta cũng cười cho.
Đào Trọng Kỳ cười lớn:
− Trương Vĩnh Ký theo Tây, làm việc đắc lực cho Tây mà còn là thật thà, thế thì bọn chúng mình Tây nó không dùng, phải thật thà hơn nhiều chứ!
Bá Kim thấy nói xỏ mình lại phải nói lảng:
− Nhưng sao quan lớn tài thế? Câu đối treo gần một năm nay mà có ai biết đâu.
Đào Trọng Kỳ nói có vẻ chân thành:
− Người ta có biết, ai người ta bảo! Còn tôi thì có giỏi giang gì đâu! Nằm khoèo mấy tháng với một cụ đồ già, cụ ấy bảo cách xem câu đối và cụ đọc cho biết một sô một sốc những câu đối chửi. Nên thấy câu đối hay là mình đâm ngờ, đọc đảo đi đảo lại mãi tự nhiên nó tòi ra. Nhưng kể ra cũng tài thật, họ viết cũng đúng môn đấy chứ. Keo kiết và hống hách, kiệt với người dưới, chi li từng tí một, nhưng lại khéo hào phóng thù phụng người trên, đó là cái thói quen thông thường của bọn mình. Đồng bệnh tương liên thanh khí lẽ hằng, ông anh bất tất phải che đậy nữa. Thế hiện nay lão ấy có còn ở đây không?
− Tống khứ ngay từ khoa thi năm ngoái rồi. Nó không đỗ, nhưng nó lại về hùa với bọn học trò nên tôi đuổi đi cho khuất mắt.
− Thế bây giờ các lệnh lang học đâu?
− Hẳn còn cho chơi cả. Cùng lắm sẽ định mời bác Tú Tích cũng bị cữu năm nọ, quan lớn nhớ Tú Tích Đông Thành chứ? Nhưng tôi còn lưỡng lự chưa dám quyết.
− Không nên. Đào Trọng Kỳ nói thân mật. Lúc này, dù sao cũng cần giữ tiếng, bọn họ đã có án theo giặc hẳn hoi, không nên rây vào, dân chúng đã bàn tán về mình, nay lại gắn bó với kẻ can án không tốt, người ta càng có cớ mà bàn tán thêm, sau này khó làm ăn. Nếu cần thì lúc này tôi đang rỗi rãi, ông anh cứ mở trường tôi dạy cho cũng được. Nói gần, nói xa, chẳng qua nói thật, tôi đến thăm ông anh lúc này cũng là có ý dựa vào ông anh, ta cùng mưu chung một việc gì đó sau này. Vì tôi thấy cái khu ông anh ở đây, nó có hai điều lợi, một là nếu thời thế có thể thay đổi, thì ở đây ta lại có thể phất cờ vùng vẫy một phen nữa. Tôi đã xuống dưới Ninh Hải làm tài công cho bọn Khách và có giao thiệp với bọn Tây dương, tôi thấy rằng lúc này phi thương bất phú, phải dựa vào Tây và Khách mà buôn thì mới có lợi, nhưng ở dưới ấy lộ quá, tôi không muốn ở, làm đĩ chín phương còn phải để một phương lấy chồng chứ. Hai là nếu thời cơ vẫn cứ bất lợi cho ta, ta cứ phải chịu mang cái án và cái tiếng xấu này mãi, thì khu vực Hàng Khay – Đồn Thủy này, giữa Tây, ta, Khách quần cư, tôi thấy rằng Cựu Lâu nhất đái có thể vạn đại dung thân đấy! Mà ở đây buôn bán được với Tây, Tàu rộng rãi, triều đình ở xa, các quan tỉnh khó bề mà trấn áp được. Bá Kim gật gù, nhưng nghe xong cũng còn giữ vẻ khách sáo nói:
− Bẩm quan lớn dạy có vẻ đúng. Nhưng thứ nhất, nhà hạ dân không biết có đủ sức hầu hạ quan lớn, hai là quan lớn ở đây e rằng dân chúng biết ra, họ sẽ chê cười quan lớn chăng?
Phủ Kỳ nói sát nút hơn, với vẻ chân thành:
− Từ nẫy đến giờ, chúng ta còn chèo chống với nhau có câu thực, có câu khách sáo và cũng có câu xỏ xiên, chính là để đọ sức dò la nhau. Nay ngã ngũ ra, ta đã rõ nhau cả rồi, mọi miếng kín của nhau ta đều biết cả, thì bây giờ ta nên nói thực với nhau thì hơn. Chẳng quan quách gì lúc này, ông anh còn được tiếng là Cai tổng Bá hộ từ dịch, chứ tôi là thằng dân trơn. Thế thì bỏ lối gọi nhau khách sáo đi, tôi chỉ là anh đồ tỉnh Đông đến ngồi dạy học ở nhà ông anh. Hai con đò nát cần cùng tìm về một bến kín mà che gió cho nhau, không nên để đụng nhau vô ích, thiệt thân, chúng ta cùng một cảnh ngộ, đã rõ nhau, cùng nương tựa nhau đợi thời. Vì ở đây tôi xem ra vừa là nơi lui về có thể yên thân, tiến ra có thể dụng võ mà tiến lên. Tuấn kiệt, phải biết thời cơ. Thời cơ bây giờ là dân thì rời rạc, đói khổ, quan trên thì tham quyền, cố vị, gió chiều nào che chiều ấy, nếu mình cứ thẳng ruột ngựa thì sẽ chẳng ma nào thương mình.
Bá Kim ngồi một lúc, cuối cùng mới lên tiếng:
− Quan lớn dạy đúng.
− Lại quan lớn rồi, Phủ Kỳ nói vui vẻ, tuổi tôi với tuổi ông anh sắp sỉ nhau, anh hơn tôi độ dăm sáu tuổi, ta kết ngãi anh em, chả ai dám nói gì đâu. Không có vườn đào trên núi thì ta kết nghĩa bên Tràng Tiền vậy, tiền chả quý hơn đào à? Phàm kim chi nhân, duy tiền nhi dĩ hỹ 1 ! Ấy thấy anh cũng mới gặp hoạn nạn, nên tôi mới dám đến và nói thật như thế với anh. Trước kia, tôi thấy anh khôn khéo hơn tôi nhiều, tự dưng tôi mà có đến nói với anh như thế, anh đã lấy giọng trung nghĩa mà truật lại tôi ngay, chứ chẳng chơi đâu!
1 . Phàm người đời nay chỉ có tiền mà thôi.
Bá Kim thấy người muốn kết bạn với mình đã nhìn rõ tâm can mình, bấy giờ nói một cách thành thật:
− Xin chịu quan anh soi thấu tâm can đệ, đệ đâu còn dám hách khí giấu giếm quan anh nữa. Quan anh đã nghĩ đến tình đồng cảnh ngộ, hạ cố đến đây, đệ rất lấy làm hân hạnh được đón quan anh làm gia sư để dạy bảo. Đệ cũng nghĩ rằng làm tài trai cứ nước hai mà giữ, mà lại không trái với đạo trung dung của đức thánh Khổng, có phải không quan anh? Đúng đấy, bây giờ ta tránh không làm điều gì phạm tới những điều cấm của triều đình, bọn quan lại và tụi nhà nho cố chấp không có cớ gì làm hại được ta. Mà ở đây, ta lại vẫn có thể giao du buôn bán với Tây với Khách, buôn bán với họ vừa có lợi, vừa rộng đường kiến thức ra, mới biết mở mắt ra mà nhìn người ta giầu có, người ta hùng cường…
Phủ Kỳ vội ngăn:
− Ấy chớ vội hăng đi xa quá như vậy, hẵng thủ thân vi đại 1 đã.
1 . Giữ mình là điều lớn hơn cả.
Bá Kim đang cởi mở hăng hái hơn, nói:
− Không sợ! Ở đây đến tội lỗi như Phạm Quang Diệu, làm đến Đề đốc cho An Nghiệp, lại quyền Biện tỉnh vụ mà bây giờ hắn vẫn nhởn nhơ ra vào dinh ông Kê đấy, vẫn đi lại trong thành phố như thường, các quan ta lại có phần nể hắn nữa kia đấy! Ấy mà là kẻ trọng tội, nhà vua xử cho đi đầy xa những ba nghìn dặm! Xa quá thôi mất, trước ở trường thi, bây giờ ở đảo trường Tây Đồn Thủy, ha ha!
Ngừng lại một lát, Bá Kim vui vẻ nói tiếp:
− Chả là khu vực này bây giờ kể từ Nhà chung có bọn cố Phước qua ô Lang Tường đến Đồn Thủy có ông Kê, rồi từ Hàng Buồm ra tòa Thương chính rồi thẳng lại đông đúc, nhiều hiệu Khách buôn giầu có, mình ở lẫn vào đấy tứ chiếng giang hồ, có bề thế, có vây cánh, muốn gây chuyện với mình cũng còn khó.
Hai người đã cùng một ý nghĩ như nhau, dễ trở thành ngay đôi bạn thân tâm đầu ý hợp, liền dắt nhau vào phòng riêng nằm dài hút thuốc phiện cùng tâm đắc với nhau, cùng nhìn nhận thời thế, cùng bàn mưu định kế. Rồi từ đấy quan Phủ Đào Trọng Kỳ nghiễm nhiên đóng vai tân gia sư nhà Bá hộ Kim. Thỉnh thoảng hai người lại cùng nhau đi dạo chơi thăm những hiệu buôn lớn Hàng Ngang, Hàng Buồm và đôi khi cả hai người cùng lui tới tòa Thương chính. Ít lâu sau, được mấy người Tư vụ và Hành nhân 1 trong tòa Thương chính giúp đỡ, Đào Trọng Kỳ bàn với Bá Kim ra mở một cửa hiệu riêng ở cửa ô Ưu Nghĩa tức cửa ô Hàng Mắm để làm giấy tờ giao dịch giúp những lái buôn có việc phải giao thiệp với tòa Thương chính của ta và phòng Thương chính của Phú ở Đồn Thủy. Trong cuộc di chuyển kinh doanh đổi mới này, ngoài những người làm việc trong tòa Thương chính, Đào Trọng Kỳ con kết bạn thêm được Lương Huy Phác, con cả Cử nhân Tuần phủ Lương Huy Ý và Tú tài Lương Huy Cẩn, cả hai đều là người sở tại, người làng Gia Ngư, Nam Phố, bên trong chợ Hàng Bè, hai người có đất, có nhà cho mở hiệu và cùng vui góp công góp sức vào kinh doanh, mở to cửa hiệu. Cái biển tên hiệu “Giai huynh” treo ngoài cửa, rất khiêm tốn nói rõ cái ý nghĩa “tứ hải giai huynh đệ”, mọi người trong bốn bể đều là anh em, rất hợp cảnh với cửa hàng cần giao thiệp với các nhà buôn ta, Tây, Khách, mà lại còn có vẻ văn chương chứa chan tình cảm nữa; nó lại còn có ý tôn tất cả mọi người trong thiên hạ đều là bậc đàn anh của những người trong hiệu này. Và ai đến đây cũng đều được tôn trọng và phục dịch như nhau, như là anh của cả hiệu. Cái cửa hiệu chỉ chuyên giúp việc giao dịch bằng giấy tờ ấy rất tiện lợi cho nhiều tư nhân, cho nên ông chủ hiệu rất chóng được nhiều người quen biết, người ta không còn nhớ quan huyện Thọ Đào Trọng Kỳ nữa, mà bây giờ, người ta quen gọi là “ông Cử Đào gần Thương chính”, hay có khi gọi đùa là “ông Cử em ở ô Ưu Nghĩa”. Cái cửa hiệu không phải là hiệu, tự nhiên đã trở thành một cơ quan giao dịch mới mà những người chủ của nó có quyền ra vào thông thống mọi nơi cửa quyền cao quý. Và Bá Kim, con người ốc sạo hoạt bát, tự nhiên cũng thành một nhân viên có thế lực. Đôi bạn cựu thức tâm giao kia vẫn gắn bó chặt với nhau như là hai người chủ công ty, đã dần dần trở thành hai tay giao thiệp rộng rãi trong thương trường, được mọi người buôn ngoại quốc biết mặt, biết tên. Con đường làm ăn và danh vọng đã mở ra trước mặt theo một hướng mới, mà tình hình giao thiệp với người Phú cũng mỗi ngày một mở rộng thêm. Hai người đã định nhờ hẳn người Phú làm trung gian mở thêm cả cửa hiệu ở Sài Gòn nữa. Những mơ ước thầm kín giấu kỹ trong đáy lòng của hai người cứ dần dần được hiện ra thành sự thật.
1 . Chức thông ngôn.
Rồi một hôm, từ trong huyện Thọ đi ra, hai người đi qua thôn Tự Tháp ra bờ hồ, vòng đường Hàng Khay để về thôn Cựu Lâu. Họ lững thững đi trên con đường Hàng Khay rộng rãi, mải nhìn ra mặt hồ nước trong xanh phẳng lặng, xa xa đền Ngọc Sơn lấp ló trong một lùm cây xanh rì cành lá xòe kín mặt nước như mâm xôi; gần đấy cái đình Tả Vọng trên Gò Rùa đã sạt mất mái, chỉ còn trơ lại cái tầng trên, vôi vữa gạch lở trút xuống thành đống. Bá Kim kéo Đào Trọng Kỳ đứng dừng lại trên cái nền đình Hàng Khay cũ còn lại cây si và cây sanh nghiêng tỏa xuống hồ, Bá Kim ghé tai hỏi nhỏ bạn:
− Bác có thấy hồ này có kiểu đất đẹp không? Kỳ trả lời ngay:
− Đẹp chứ, không đẹp sao lại có tên là Ngọc.
− Nhưng kiểu đất ở đâu nào? Bá Kim hỏi.
− Ở hòn Ngọc Sơn kia chứ ở đâu, Phủ Kỳ đáp.
− Không phải, trước tôi cũng nghĩ thế. Nhưng mà lại chính là ở hòn rùa này này. Bá Kim vừa chỉ vừa giảng. Năm nọ nhân có ông Cử gì ở Tam Sơn ngồi chuyện phiếm trong hàng Hai Phúc ông ấy giảng rõ kiểu đất như thế nào, ông ấy lại đọc cả kiểu đất Cao vương, mình dốt thành ra nghe lõm bõm, nhớ câu được câu chăng. Nhưng xét kỹ đúng là ở đấy, vì nếu ở hòn Ngọc kia thì dễ bị bắc phong xuy và không hợp với kiểu. Và tôi đã đi hỏi kỹ, bọn chúa Trịnh lấn quyền vua Lê, từ cái anh chúa đặt giường ngồi bên giường vua, chiếm cái hồ này làm hồ riêng và xây cái tả Vọng đình để ngồi chơi trên cái Gò Rùa này, các chúa Trịnh ngồi ở trên đình ấy chơi mát ngắm phong cảnh và xem tập thủy trận. Từ đấy chúa Trịnh quyền vượt đế vương. Ấy chỉ mới hưởng cái kiểu đất ấy làm dương cơ mà đã quyền khuynh thiên hạ như thế. Nay mà táng được mả vào đúng huyệt ấy thì oanh liệt đúng như lời kiểu:
Tiếng nức đế đô
Công hầu muôn thuở
Phúc lộc nghìn thu!
Cho nên nhân lúc cái đình kia đang hủy liệt, các quan tỉnh không có lợi lộc gì vào đấy, không thiết chữa, tôi muốn đứng ra tu bổ lại rồi táng luôn hài cốt ông cụ nhà tôi vào đấy. Ông cụ tôi trước ở bãi Đồng Nhân và bến Hà Khẩu là tay sông nước giỏi nay được ký vào đấy rất hợp. Như thế vừa được tiếng công đức, vừa được dân bỏ tiền ra góp cho mà làm, có phải là lưỡng lợi không, thưa bác? Thật là thiên hành, thiên táng!
Phủ Kỳ vốn không mê say địa lý, trông qua quang cảnh hồ thấy muốn tán rộng ra thế nào cũng được, cũng là đẹp mắt cả, đã muốn nói toạc ngay ý kiến chống ngược lại, nhưng ngẫm nghĩ thấy có sửa chữa một nơi di tích đẹp ở giữa hồ, tất được tiếng khen ngay có thể gây được nhiều thiện cảm với bà con xa gần, vả cũng không muốn làm phật lòng ông bạn đã giúp đỡ mình nhiều và tính tình xử thế có nhiều điểm giống như mình nên cuối cùng, lão cũng gật gù khen:
− Ừ! Trông đẹp đấy chứ! Nếu có thể làm êm thắm, ta nên làm ngay. Cũng nên nhân dịp này mà gây công đức với bà con làng mạc, hàng phố… cho người ta trông thấy.
Bá Kim đắc ý hỏi:
− Nhưng quan bác có chịu là kiểu đất đẹp không nào?
“Như viên ngọc to… Nước lên thì ngập, nước xuống lại thò. Huyệt đúng chỗ ấy, danh nức đế đô…”
Như thế chả là Gò Rùa thì còn ở đâu nữa kia chứ!
− Vâng, đẹp quá, chả đẹp mà chúa Trịnh đã cắm lấy chỗ ấy, các chúa Trịnh có tiếng là tin địa lý, bắt các thầy địa Hòa Chính cắm đất Cổ Bi, Tả Ao cắm đất Ba Sao đấy, nhưng vì bắt ép, nên các thầy địa không tận tình, có khi họ còn phản nữa.
− Quan bác ạ, tôi chủ tâm chỗ đất này đã lâu, trước cũng cứ tưởng nó ở hòn Ngọc, thần chiếm mất rồi. Đến khi nghe ông Cử ông ấy giảng rõ, mình càng nhìn càng thấy đúng. Tay chu du lịch lãm, nghiên cứu kỹ có khác, nói đâu ra đấy, mà càng ngắm càng đẹp như in, đẹp quá. Giá như lúc còn làm việc thì không dám làm đâu, sợ thiên hạ họ ngờ, nhưng bây giờ nằm nhà thất thế, rỗi rãi, lại có cớ đình đổ nát để xin sửa chữa, nên mới đem ra bàn với bác, hỏi ý bác xem có nên làm không? Có hại gì không? Có phạm gì không? Có động hệ gì không?
Phủ Kỳ đáp thủng thỉnh:
− Đứng ra mà làm được thì chỉ có lợi thôi, mà nếu làm được sớm càng tốt, mả táng càng chóng phát, chứ chả động hệ gì!
Bá Kim hớn hở nói theo:
− Làm thì làm được ngay. Thế tôi với bác cùng đứng tên chung, ta xin làm nhá. Chung cho nó có thanh thế.
Thấy Phủ Kỳ đứng im ra vẻ lưỡng lự, Bá Kim hỏi ngay:
− Hay ta hợp táng cả tôn nghiêm đằng bác, cha mẹ chung cả mà.
Phủ Kỳ nói thong thả, vừa nói vừa nghĩ:
− Không phải tôi định bụng đòi phải chia phần với bác đâu. Mấy lại tiên nghiêm bác cũng là tiên nghiêm tôi, cha mẹ chung cả, tôi có quản gì. Tôi chỉ nghĩ nên làm thế nào cho nó có lợi. Tôi nghĩ rằng riêng bác đứng xin thôi, xin trùng tu cả cái đình này và chùa Liên Trì, bác đứng ra cùng với dân làng xin phép quan trên trùng tu, rồi làm giấy quyên giáo tứ phương, để tôi là con công đệ tử nhà thánh, tôi cúng tiền vào và đứng ra cùng làm hưng công. Như thế vừa được tiếng cả đôi bên, cả bác với tôi sẽ đều có lợi. Được phép rồi ta sẽ bắt đầu làm ngay.
Bá Kim vội khen:
− Hay đấy! Bác cao kiến thật. Thế mai, tôi làm đơn xin nhá.
Hai người đắc ý cùng cười, cùng khen diệu kế của nhau, cùng dắt nhau đi vòng quanh bờ hồ một lượt, ngắm lại kiểu đất cho tinh tường và càng nhìn càng thấy kiểu đất đẹp, gồm đủ cả sơn thủy hữu tình, tay long tay hổ ôm nhau kín đáo, án trước gối sau rất chỉnh tề. Rồi nghĩ rộng, Bá Kim tự cười thầm một mình, càng nghĩ càng thấy mưu kế của “ông Cử em” thật là kỳ diệu.
Hôm sau, Bá Kim làm đơn xin trùng tu đình Tả Vọng và chùa Liên Trì. Vì những nơi này là danh thắng của cả Hà Nội, nên đơn xin trùng tu phải đệ lên các quan Tổng đốc và Tuần phủ. Nhận được đơn, Tổng đốc Trần Đình Túc nhớ ngay đến lời Trương Vĩnh Ký hỏi sao ngôi chùa Liên Trì đẹp thế để hủy liệt như vậy, lão đã phải trả lời liều:
− Vì việc quan Thượng Giai xây chùa này bị triều đình và các bậc nho sỹ chê là mê Phật, nên bây giờ tỉnh đường không bỏ của công ra chữa, mà dân sở tại không có tiền, đành cứ để hủy liệt.
Thực tình các quan tỉnh không hề và cũng không dám nghĩ đến việc tu bổ ngôi chùa kiến trúc cầu kỳ tinh vi ấy, sợ hụt đến công khố còn đương phải dốc tất cả vào công việc tiêu phí và cung cấp nguyên vật liệu cho bọn Phú xây dựng sửa sang khu nhượng địa. Nay tự nhiên có người đứng ra xin đảm đương công việc ấy mà không động gì đến gạo tiền công của tỉnh, thì thật là một nghĩa cử đáng khen, quan Tổng đốc liền phê ngay một chữ “Y” to tướng, kèm theo một dòng chữ nhỏ: “Giao cho nguyên Chánh tổng bát phẩm Bá hộ Nguyễn Ngọc Kim khẩn cấp thi hành và được mọi tiện lợi tiến hành công việc”.
Được giấy rồi, Bá Kim họp ngay các kỳ lão và dân làng Cựu Lâu lại, lập tờ quyên gửi đi các tổng Đông Thọ, Thuận Mỹ, Đồng Xuân, rồi cùng với Đào Trọng Kỳ đứng ra làm hưng công trông coi dỡ Tả Vọng đình xuống xây lại. Cái đình này làm từ đời Trịnh Căn (chúa thứ tư trong dòng họ Trịnh) là một lầu hai tầng, tầng trên là một cái lầu vuông bốn mái cong có đắp bốn con rồng bò quay đầu lại, trên ngồi nhìn ngắm ra bốn chung quanh. Lầu quay hướng nam theo ý nghĩa làm vua quay mặt về phương nam, không chầu lại cung vua, không thần phục vua Lê, vì vậy bên trên cửa có đề ba chữ “Tả Vọng đình” ; hai đầu đông tây bỏ trống thành hai cái sân con là nơi để cho các cung nữ và các quan phủ liêu theo hầu có thể lên đấy cùng ngắm cảnh. Chung quanh là tường hoa lan can ghép những mảnh sứ óng ánh. Tầng dưới hình chữ nhật, chạy dài chiều đông tây làm thành ba cái cửa như kiểu tam quan ở cửa Đoạn Môn. Cái vật kiến trúc thanh thấu ấy từ sau khi chúa Trịnh thất thế, không còn ai trông coi đến nữa, nên nay đã hủy liệt, tầng trên đã sụt xuống từng mảng, lại một phần bị bọn quân xâm lược của Ngạc Nhi đã nã súng bắn rơi gạch ngói vôi vữa tả tơi bề bộn. Chỉ còn trơ lại tầng dưới chắc chắn với một tường hoa vây lấy tầng trên. Bá Kim và ĐàoTrọng Kỳ đi thuyền ra tận nơi, trèo lên tầng trên, ngồi lên tường hoa nhìn ra tứ phía, càng thấy cái gò như độc lập ở giữa bầu giời mà bốn phương cây cỏ đều quay đầu chầu lại. Xem xét xong, hai người trở vào bờ, cho thợ nề ra dỡ hết gạch ngói vôi vữa xuống, đào hết móng lên. Hôm sau, hai người lại ra vạch kích thước cho thợ xây móng lên, Bá Kim cho xây nhỏ hơn trước và xoay lại hướng khác. Móng đào đổi lại, chiều dài chạy theo Nam Bắc, mặt quay trông ra hướng đông. Lão bảo những người làm rằng:
− Chúa Trịnh là quyền thần lấn ngôi vua nên mới làm hướng đình trông trái đi, trông xuống nam, thành ra trái cả kiểu đất của hồ, nay ta phải đổi lại cho đúng, đổi trông theo hướng đông, vừa nhìn được hướng mặt giời, vừa giữ được cả hai bên tay long, tay hổ, đối xứng với nhau. Vạn vật tương ứng như thế, mới mong có được nhân khang vật phú, làng ta và những làng quanh hồ mới được nhờ chứ.
Nhưng thực tình, lão quay hướng lại theo chiều dài Nam Bắc là để tiện mai táng mả bố lão.
Lão cắt nghĩa cho Đào Trọng Kỳ hiểu rằng mả sẽ táng theo chiều ấy, đầu gối xuống gò Nam Giao, chân đạp qua hòn Ngọc Sơn đến cái gò chùa Hòa Giai rồi trông thẳng ra sông Hồng. Lão hí hửng khoe:
− Nằm ngồi như thế co duỗi, vươn vai đều rất vững vàng.
Phủ Kỳ bật cười khen:
− Tôi không ngờ anh lại thánh địa lý đến thế.
Nhưng thích nhất là môn địa lý của anh hơn hẳn lão Cử gì nhỉ, cử Tam Sơn là vừa được danh ngay, vừa được lợi ngay. Nhân dân bốn tổng và ba mươi sáu phố phường đều nức lòng khen ngợi “cụ Bá” về già lại biết tu tỉnh. Nhân việc này rồi ta có thể “phát sồi” thêm nhiều việc.
Bá Kim cười đắc ý:
− Không đến nỗi phát sốt là được rồi!
Công việc vẫn tiến hành đều. Hai tay hưng công hằng ngày vẫn ra trông nom, rất vui mừng thấy được mọi người dân quanh hồ khen ngợi, vì công việc sửa chữa này và rồi cả chùa Liên Trì nữa sẽ làm đẹp thêm cho hồ và tăng vẻ tôn nghiêm nơi thờ phụng. Nhưng có một người lấy làm lại, có vẻ nghi ngại thực tâm của những người đứng ra tu bổ đình chùa, luôn luôn để ý theo dõi công việc làm này, cứ đêm đêm vắng vẻ lại lẻn bơi thuyền ra xem xét Gò Rùa. Người ấy là cậu ấm Ba Tự Tháp. Cậu đi tìm ông ấm Vẽ nói rõ hiện tình đã xem xét được, tỏ ý ngờ vực và bàn cách đối phó. Cậu nhắc lại cái vẻ vồn vã xoắn quýt như muốn vồ ngay lấy Gò Rùa của lão Bá khi nghe ông cử Tam Sơn nói đến kiểu đất của hồ năm Thân trước, hồi còn hàng bác Phúc. Cậu kết luận:
− Tất nhiên bây giờ, nó đứng ra làm cái công việc này chẳng phải công tâm gì đâu, chính là nó muốn táng mả bố nó vào đấy để mong vạn đại công hầu, khanh tướng, đè đầu cưỡi cổ người ta, để lấy thế mà đi theo giặc ngoài. Nếu nó chôn được thật, ta nên đào đổ quách nó đi, cho nó biết giời đất, thần phật chẳng ai giúp Kiệt 1 làm ác, để yên cho mả nhà nó kết phát.
1 . Kiệt Trụ, hai tên vua tàn bạo cuối đời Hạ và đời Thương nước Tàu. Người ta lấy tên Kiệt Trụ để chỉ những bọn vua chúa tàn bạo.
Ông ấm Vẽ lầm lỳ hỏi:
− Tao tưởng chú mày sợ con Xuyến?
Bị hỏi một câu không ngờ đến, cậu ấm Ba ngơ ngác hỏi lại:
− Sao anh lại hỏi lạ thế?
Ông ấm Vẽ thủng thẳng nói:
− Việc phá nhà tên Kim, mày không dám dự, tao bị bắt, mày còn mải đi lo giải thoát cho nhà nó, thì nay mày rủ tao đi làm việc này thật hay là giả? Hay là muốn đùn cho người khác làm rồi để về bảo nó để kể công với nó.
Bị ngờ vô lý ức quá, cậu Ba cáu hỏi:
− Sao anh để ý dai thế? Hay là ghen à? Mỗi việc một khác chứ, sao anh lại đem chằng cái nọ vào cái kia như thế? Việc phá nhà tên Kim, tôi không xông xáo, vì tôi cho là thất sách còn khi anh bị bắt rồi, tôi chạy ngược với chạy xuôi bàn bạc thế nào có bác cử biết đấy. Tôi với con Xuyến cãi nhau thế nào mọi người cũng biết. Hay tính tình anh lâu nay đổi khác rồi, hồn vía lại bị con nào bắt mất rồi?
Ông ấm Vẽ cười dàn hòa:
− Trêu thử xem chí cậu có thực quyết không? Hay là còn có phần nào nể nang con người tài hoa ấy thì đó cũng là sự thường thôi. Nhưng mà này, cái đất ấy nó có ra cái kiểu cách quái gì đâu mà giữ. Nó có để mả ông mả cha nó vào đấy thì cũng hóa ra đất cả thôi chứ gì. Việc gì mà phải đi làm cái việc thất đức ấy.
Cậu ấm Ba trở lại vui vẻ cãi:
− Cái sự kết phát là việc huyền bí, không biết đấy vào đâu, không cần bàn đến. Chỉ biết rằng nó mà chôn được yên thắm mả nhà nó vào đấy, tự nhiên là nó tin mả nhà nó táng được vào đất kiểu, nó cho là kết ngay, hoạnh phát đến nơi rồi, tha hồ nó hoành hành, làm ác, vô thiên vô địa, nó không sợ gì cả, nó cậy vào hòn đất cả. Cái hại là ở đấy. Rồi nó tự gây ra tội mà không biết, mà cứ vin vào đất cho là phải, thấy có lợi cho là phát, thấy được nắm quyền hành thì cho là đúng vào kiểu đất công hầu, khanh tướng, chứ nó vô học có biết đâu là hại dân, hại nước. Cho nên nay đào mả này chôn đi nơi khác tức là bảo cho nó liệu thần hồn đấy, tức là làm phúc cho nó đấy chứ. Nếu cứ để không, mặc cho nó dương dương tự đắc, thì có khác nào thêm chân vào cho rắn, dạy cho hổ biết leo cây!
Ông ấm Vẽ ngồi ngẫm nghĩ một lúc, thấy bạn nói có lý, liền tỏ vẻ đồng ý và hỏi lại:
− Vậy thì ta giữ không cho nó chôn mả nhà nó xuống đất, hay để nó chôn xuống rồi thì đào đi?
Cậu Ba Tự Tháp nói:
− Nó đã chôn vụng giấu mình, mình giữ nó sẽ không chôn nữa, mà còn cho là mình muốn tranh kiểu đất ấy, nó lại để ý hiềm thù thêm phiền, chi bằng ta cứ rình xem hễ nó chôn…
− Không được! Ông ấm Vẽ gạt đi. Ta cứ cùng ra trông coi xem thợ làm mà giữ không cho nó chôn.
− Nó chôn trộm lúc đêm hôm, đằng nào ta cũng phải rình, ban ngày bảo nó nghe, nhưng ban đêm nó mới lén lút đến chôn, ta bắt được, lại sinh ra đánh nhau thù oán thì sao! Làm toang hoang ra, mọi người cùng biết, là không tốt, không được lợi gì cho ai cả.
Ông ấm Vẽ lại hỏi:
− Vậy thì nếu nó chôn, thì tôi với cậu đào lên đem đi được à? Hay lại lóng ngóng để nó tóm cổ cho cả nút! Hay cậu định quăng mẹ nó xuống hồ?
− Quẳng xuống hồ là không nên rồi. Cậu ấm Ba trả lời quả quyết. Mình sẽ nhờ người di đi nơi khác. Anh chỉ việc canh rình giúp chúng tôi, chúng tôi sẽ đưa cái tiểu hài cốt đi chôn cất ở nơi khác tử tế, anh không sợ thất đức đâu. Anh có bằng lòng không thì nói đi xem nào?
Ông ấm Vẽ cười nói:
− Chú mình làm tớ như trẻ con không bằng. Nhưng thôi được, tớ bằng lòng ở lại dưới này luôn mấy hôm dò xét canh rình với cậu. Hễ có thật thì ta đào đi, và hễ lộ thì tớ cùng chịu tội với cậu. Thế là đủ chứ gì. Vậy chú mình đi tìm người khác đi. Tìm ai, hay lại tìm cô Xuyến đấy?
− Tìm ai cũng được, miễn là được việc.
Cậu Ba đắc ý, vui vẻ trả lời thế, rồi để bạn ở nhà ra đi ngay. Cậu đã nghĩ ngay đến những người giúp vào công việc này từ khi mới được tin Bá Kim rục rịch tu bổ lại đình Tả Vọng. Ông ấm Vẽ sẽ là người cùng chí hướng, cùng bàn mưu định kế, cùng liều mạng với mình trong những lúc hiểm nghèo. Còn đào bới, khiêng vác, cậu sẽ nhờ hai anh trai tráng khỏe mạnh; anh Hải, thợ thêu ở Hàng Nón và anh Thạch ở Hà Thanh là hai người cậu được quen từ cái đêm về toan lấy xác mấy liệt sỹ bị bọn Phú hành hình và sau này cậu còn gặp nhiều lần trong dịp tuyên truyền vận động mộ nghĩa ở trong thành. Cậu quen thân anh Hải hơn, vả lại anh này vốn tức Bá Kim có lần đã đánh anh ở đình Thuận Mỹ, nên có phần dễ thuyết phục hơn. Cậu đi tìm anh Hải trước. Nhà anh ở trong xóm, bên trong đình Thuận Mỹ phố Hàng Quạt, đi qua cái ao rộng trước cửa đình, rẽ vào sau đình lần theo cái ngõ chật hẹp, cậu lần tìm mấy cái nhà gianh xiêu vẹo, đến một cái nhà nhỏ khói đang bốc um cả trong nhà ngoài sân, cậu nhận ra là nhà anh Hải mà cậu đã đến đây từ mấy năm trước. Cậu đứng ngoài la lên:
− Ông tướng Hải có nhà không? Làm gì mà hun khói um lên thế? Đánh bẫy khách lạ à?
Một thanh niên ở trong nhà mở tung cánh cửa liếp nhẩy bổ ra reo lên:
− A ha cậu Ba! Mời cậu vào chơi. Ấy thưa cậu rấm đống trấu hun muỗi, vừa hun mình một thể, nó có cháy nhà cháy béng mình đi cũng được, khỏi phải làm cái kiếp người!
Cậu Ba cười bảo:
− Sao mà phẫn thế? Gần đình, gần phủ có khác, đã lây tính ông Hoàng Ba rồi.
Anh thanh niên Hải nói rất nghiêm trang:
− Không đồng bóng đâu cậu ạ! Tức lắm kia, muốn đốt phăng cả cái xóm nghèo lụp xụp này rồi đi đâu thì đi. Cậu tính sức dài, vai rộng như tôi, học được nghề ngỗng ông cha hẳn hoi, thế mà nay ngồi không ở nhà, bầy trò ra hun muỗi cho đỡ buồn, ăn nhờ vào bà mẹ già lọm cọm đi bán từng mớ rau, thế tính có nhục không. Mời cậu vào chơi trong này, phía trong hết khói rồi, nó theo gió tạt cả ra đây.
Cậu Ba không vào, đứng yên ở ngoài ngõ và hỏi:
− Thế nào? Lâu nay vẫn không có việc gì à?
− Cậu tính còn ai thêu thùa gì lúc này nữa, anh Hải đăm chiêu nói. Các phường Khách cũng thế mà thôi, chả nhẽ mình là người tỉnh thành, lại bỏ về quê đi học cày, ngồi không, buồn quá, cậu ạ, lắm lúc nghĩ chỉ muốn đánh nhau với thằng Tây một mẻ như hồi cậu còn ở trên này, cho nó sướng…
Cậu ấm liền nói ngay:
− Thế tôi rủ anh đi làm việc này nhé, vui, nhưng anh có gan dám làm không đã!
Anh Hải mắt sáng hẳn lên hỏi:
− Việc gì cậu phải nói ra đã, có biết đầu cua tai nheo thế nào, rồi mới lượng sức mình xem có làm được không chứ.
Cậu Ba liền kéo anh thanh niên ra góc ngõ hẻo lánh ghé tai nói rõ ý định của mình và phần công việc cần nhờ anh làm, anh vừa nghe vừa gật gù, cuối cùng múa lên:
− Được! Tôi làm được, ngay từ tối nay tôi đi với cậu.
- Nhưng này phải kín mới được, nhỡ ra là cả tôi, cả anh, chết cả nút đấy!
− Được rồi! Anh kia càng vui vẻ nói quả quyết. Xin cậu cứ tin ở tôi, kín hơn thóc đổ bồ, cậu ạ!
Cậu ấm Ba yên trí trở về báo cho ông ấm Vẽ biết, và cùng với ông ấm bàn nhau đi rình xem bọn chúng nó tu bổ thế nào. Thấy Phủ Kỳ và Bá Kim luôn luôn đi xem xét công việc cẩn thận, và cứ tối đến, chúng lại bắt đem cất hết mọi thuyền mãi tận cái lạch đằng sau nhà tổ chùa Quan Thượng, hai cậu ấm càng tin dự đoán của mình và càng hăng hái kiên tâm theo dõi. Đến tối thứ ba, thấy Bá Kim cho thợ nề nghỉ sớm hơn mọi lần và chính lão còn ở lại ngắm nghía hồi lâu, cậu Ba đoán là nó sẽ đem trộm hài cốt vào đêm nay, liền về bảo ông ấm Vẽ đi nấp rình, còn mình đi tìm anh Hải sửa soạn dây thừng đòn khiêng để đợi sẵn ở đình Yên Trường và đem thuổng đi đào sẵn huyệt ở đằng sau chùa Tàu. Cậu lại thân đi tìm người có thuyền giúp vào một tay. Người ấy là anh Thạch ở thôn Hà Thanh, anh là phu tuần trước kia, hiện nay là Trương tuần và cũng đang đi lại giúp vào việc xây đình Tả Vọng. Sở dĩ mãi đến lúc này, cậu mới tìm đến anh là cốt đến khích lòng nghĩa phẫn của anh, thúc anh làm ngay mà không để cho anh có thì giờ suy nghĩ rồi đâm ra sợ sệt mà lưỡng lự chăng. Cậu tìm hẳn đến nhà gặp anh, và theo như thói quen trong dịp làm việc mộ nghĩa trước, cậu không rào đón đắn đo, nói rõ ngay âm mưu của Bá Kim cho anh biết rồi nói ngay đến công việc làm đêm nay. Anh Thạch nghe xong cười hỏi ngay:
− Cậu không sợ, không nể cô Xuyến à? Con người vui vẻ nhẹ nhõm mà lại dốc lòng mộ nghĩa kia mà!
Cậu Ba cười hỏi:
− Anh nói sao? Cô ấy thì có liên can gì đến tôi!
− Tôi tưởng cô ấy vừa đẹp, vừa giầu, vừa giúp nhiều công vào việc mộ nghĩa năm nọ, hình như cô ấy lại quý cậu, mê cậu, tôi tưởng cậu sẽ lấy cô ấy. Lấy con thì phải be vào cho bố chứ!
− Anh này nói bậy nào! Cậu Ba trừng mắt nói nghiêm nghị. Cô Xuyến là cô Xuyến mà tôi là tôi, có liên can gì đâu. Việc ông Bá làm có hại đến dân làng thì tôi phá. Đất Gò Rùa là đất thiêng chung của đế đô cũ. Ông ấy đem để mả vào đấy rồi động đến cả các làng Cựu Lâu, Yên Trường, Hà Thanh, Yên Trung, Phục Cổ, Tự Tháp, Bảo Khánh…, quanh hồ và động đến cả tỉnh ấy chứ, chuyện chơi à?
− Nếu thế thì thấy ông ta chôn, cứ ngăn lại không cho chôn, việc gì lại đào lên cho mình phạm tội thất đức.
− Nói như anh mới dễ nghe chứ. Nó đã chôn trộm, rình nó, nó biết, nó sẽ không chôn nữa, rồi nó sẽ tìm cách báo thù cho phải biết. Mà mình giữ được lúc này, nó chôn lúc khác, công đâu mà ngồi suốt đêm này sang tháng khác để mà canh. Chỉ cốt làm sao cho nhanh gọn nó không biết được ai và vừa cho nó cạch về sau. Mình sẽ đem chôn đi nơi khác kia mà, làm gì mà thất đức?
Anh Thạch ngẫm nghĩ thấy có lý, liền đứng lên đi theo cậu ấm Ba ra bờ hồ để cùng rình xem thế nào. Vừa đi, cậu ấm vừa dặn:
− Anh đi kiếm cái thuyền đã, để hễ đúng thì khi họ chôn xong trở về, là ta ra ngay. Sở dĩ phải nhờ đến anh là thấy anh biết nơi lấy thuyền.
− Được, cứ ra đã, hễ đúng, lúc nào trở về lấy là có ngay. Thạch trả lời cả quyết và cứ đi ra bờ hồ. Hai người ra đến nơi, cậu ấm Ba để anh Thạch ngồi nấp rình ở gốc cây bên đền Bà Chúa, còn cậu đi qua đình Yên Trường tìm dặn qua anh Hải, rồi lẻn về đường phố Hàng Khay tìm ông ấm Vẽ, bảo rõ cách xếp đặt có thêm anh Hải và anh Thạch tham dự và bàn bạc cách tiến hành công việc. Đợi mãi. Bốn bề đã yên lặng như tờ, vẫn không thấy gì. Đã gần nửa đêm, sương xuống nặng, tĩnh mịch, lặng lẽ, không còn cả đến tiếng cho sủa, dế kiêu. Bỗng có một bóng người đi khẽ lướt quanh nửa hồ từ phía làng Hà Thanh vòng đến Tự Tháp. Sau đó có hai bóng từ phía đầu làng Vũ Thạch đi lại góc hồ, rồi cả ba bóng cùng xuống chiếc thuyền con nhẹ nhàng bơi lướt ra gò. Đúng rồi! Không còn sai nữa. Đợi cho bọn kia ra hẳn đến gò, cậu ấm mới quanh trở lại bảo anh Thạch trở về lấy thuyền. Một lúc sau chiếc thuyền con lách qua cái ngòi phía nam làng Hà Thanh ra đến hồ, cậu Ba bước xuống thuyền bảo anh Thạch lượn bờ hồ sang thôn Tự Tháp. Thuyền vẫn đủng đỉnh đi, cậu ghé tai khẽ bảo Thạch:
− Đi như thế này, cho nó khỏi ngờ, nó có biết, nó cũng tưởng là thuyền đánh cá. Cứ đủng đỉnh đã có người rình ở đấy rồi. Cho nó về lâu lâu, rồi ta xuống cũng vừa.
Về đến bên Tự Tháp, cậu bảo đỗ thuyền lại đợi, rồi lên bờ trở về nhà đem ra một cái thuổng và một con chó mực con bịt mõm trói chân bỏ xuống thuyền. Thạch hỏi ngay:
− Cậu định làm gì thế?
− Đem chôn thay vào đây cho lão bá nó tức hộc máu mồm ra!
Thạch gạt ngay đi:
− Sao cậu dại thế? Của ngọc thực, cậu để đấy cho tôi. Rõ vừa phí của giời, vừa phải tội!
Ngừng một lát, không thấy cậu Ba nói gì, anh nói thêm:
− Mà chôn chó vào đấy, ngộ nhỡ nó không đào lên rồi lại cũng động thì chết? Cậu để đấy, tôi đem về hóa kiếp làm bữa chén. Cứ lấy thân cây chuối là tiện nhất. Đây có không? Không thì để tôi về bên tôi, tôi phạt một lúc có mà hàng chục cây cũng có.
Cậu ấm nghe ra, liền đem con chó về và chặt một khúc cây chuối đem ra, rồi xuống thuyền bảo anh Thạch lái đủng đỉnh ra phía đình Tô Mộc bên Phục Cổ, ngóng đợi. Cậu Ba đi bộ vòng về Hàng Khay tìm ấm Vẽ cùng bàn bạc. Đợi độ cuối canh ba, cái thuyền chở ba người kia trở vào bờ, ghé bên tháp Hòa Phong, ba người lên bờ, rồi thuyền lách qua ngòi vào bên phía trong chùa Liên Trì. Họ đi khỏi lâu rồi, ấm Vẽ vẫn lẻn đi theo để dò la, đã trở về chỗ cũ bảo cậu Ba:
− Đúng chúng nó đem mả ra chôn rồi, tôi trông rõ cả ba đứa, lão Bá, Cử Kỳ và thằng cả Trường. Bây giờ chúng nó chắc đang yên trí chè chén, cả thằng chở đò nữa. Vậy các cậu ra làm đi thì vừa. Tớ lại cứ ngồi đây canh cho. Không sợ gì cả. Chúng nó còn mải vui say.
Cậu Ba thích chí liền chạy đến giục anh Thạch đẩy thuyền vào gò. Thuyền đi vút như lao đến nơi. Đêm lạnh. Ánh sao lờ mờ soi rõ một hàng tường gạch ở phía bắc và phía tây đã lên cao quá mặt đất đến gần một thước; còn phía nam và phía đông, tường mới vượt lên khỏi móng mấy hàng hòn gạch. Nền đất bên trong đã san phẳng và nện nhẵn, nhưng đất còn xốp. Cậu ấm cho lưỡi thuổng bẩy giữa nền lên, đào bới một lúc tung hết đất ra, quả nhiên bới được một cái tiểu sành con trong đựng hài cốt. Cậu Ba mím môi dùng hết sức lôi cái tiểu lên đưa cho anh Thạch đỡ chuyển ra ngoài. Rồi cậu đặt khúc cây chuối vào hố đào và gài lên thân cây ấy một tờ giấy trắng viết dòng chữ chân phương: “Tên Kim chịu tội ở đây”. Hai người lấp đất qua loa, san phẳng lại như cũ, rồi cùng nhau xuống thuyền ra về. Anh Thạch bê cái tiểu để xuống giữa thuyền, cậu Ba ngồi xuống đỡ lấy, vừa nói:
– Anh đẩy ra giữa hồ, tôi quăng cái của nợ này xuống nhá.
– Ứ ừ, không được! Cậu làm tôi kêu tướng lên bây giờ!
– Kêu lên thì cả tôi với anh cùng chịu tội.
– Chịu tội cũng được, chịu tội dương còn hơn chịu tội âm!
– Xin chịu anh là giỏi, nhưng đem chôn ở đâu bây giờ?
– Chôn ở đâu tùy cậu, cậu đã chủ mưu tất phải có cách…
Cậu Ba cười có vẻ trêu.
– Cách của tôi là quẳng mẹ nó xuống hồ, không thì chở vào đây quàn vào cái đình này vậy.
Thuyền đã đến bờ trước cửa đình Yên Trường, anh Thạch thấy nói thế, cắm lửng ngay thuyền ở ngoài nói:
– Cũng không được, vì quàn vào đây động cả làng này nó chửi cho thối óc ra!
– Vậy thì anh muốn tôi để mả xuống đáy hồ à?
Anh Thạch còn đương cắm sào ngập ngừng, chợt ở trong sân đình chạy vút ra cái bóng đen và tiếng hỏi:
– Thuyền nào? Lúng túng cái gì?
Giọng hỏi hách dịch khiến cho anh Thạch giật nẩy mình luống cuống suýt nữa rơi cả sào, cậu Ba vội đứng dậy đỡ lấy sào, giữ cho thuyền khỏi chòng chành và vội nói ngay:
– Hải trên đình Thuận Mỹ nó chòng anh đấy. Cánh ta cả đấy mà!
Anh Thạch định thần lại, nhìn chăm chăm và nghe tiếng nói, nhận ra người quen và tức tối nói:
– Rõ con nỡm! Làm người ta hết cả hồn, cả vía! Cứ chất chưởng thế lộ ra, chúng nó lại chả bắt cả nút à?
– Bắt thì chúng ta cùng chịu tội cả chứ sao! Thế mà đã cuống lên, sợ cụ Bá đến thế kia à?
Cậu ấm vội dàn hòa cho được việc:
– Thôi xin cả hai bên, tôi và anh Hải xin rước hài cốt ra táng ở cái bãi mả vắng đằng sau chùa Tàu kia, anh về cất thuyền đi, rồi nếu không tin mời anh cứ ra đấy xem tôi có đắp điếm tử tế không nào?
Cậu ấm vừa nói, vừa đẩy thuyền vào sát bờ cắm sào ép vào. Hải đã nắm lấy cạp thuyền bước chân xuống, đỡ cái tiểu sành lên vai, rồi nhảy tọt lên bờ, cậu ấm cũng nhảy lên theo còn ngoái lại khẽ nói, ghé vào tai anh Thạch:
– Ta chôn đây thành ngôi mả mới, nếu họ biết họ chạy đi nơi khác, hay để đấy cũng được, nhưng nhất định không thể ai biết là chúng ta đã làm phúc mà chạy ra đấy hộ. Công của anh đấy nhé!
Hai người kẻ vác tiểu, người vác thuổng, chạy biến vào đường làng Yên Trường đi ra phía chùa Tàu vắng vẻ trong đêm khuya lạnh lẽo.
Anh Thạch trông theo mất hút bóng hai người, mới đứng lên đủng đỉnh đẩy thuyền về.
***
Mờ sáng hôm sau, Bá Kim và Phủ Kỳ đã thân đi trước cả các người làm, để ra sớm trông coi công việc làm lại Tả Vọng đình cho cẩn thận đâu vào đấy. Bọn họ thường vẫn nói với những người quen biết:
– Hưng công mà không đi sớm về tối xem xét, cứ chỉ tay năm ngón qua loa thì rồi công việc sai bét cả!
Hôm nay, ra đến bờ hồ, lão vội xuống thuyền một mình tự đẩy thuyền ra gò trước cả Phủ Kỳ. Đến nơi, thấy sai dấu, lão vội thuồn gậy, không thấy tiểu rắn, cúi xuống cố moi đất lên, chỉ thấy trơ khúc cây chuối với tờ giấy trắng có dòng chữ nguyền rủa lão. Lão vội vớ lấy mảnh giấy vê viên vò nát bỏ vào túi, rồi tức quá uất lên, nằm vật xuống đất, bất tỉnh nhân sự! Thuyền của dân phu và thuyền chở Phủ Kỳ cũng vừa ra đến nơi. Dân phu trông thấy Bá Kim nằm sùi bọt mép, vội kêu lên:
– Cụ Bá ra sớm quá, bị cảm lạnh ngất đi kìa!
Phủ Kỳ vội chạy lên cho vực ngay bạn xuống thuyền, cũng không quên nhìn qua chỗ đất bới và lấy chân san vội lấp phẳng lại. Mọi người xúm lại gọi lay được Bá Kim tỉnh dậy. Phủ Kỳ đưa lão lên bờ, rồi sai người đem võng ra khiêng lão về nhà. Phủ Kỳ về theo, ngồi trên giường xoa bóp và an ủi. Bá Kim đã tỉnh hẳn, tức tối nói:
– Quân tệ thật! Phải dò cho ra kẻ thù thủ mưu mới được.
Nằm thừ một lúc, lão nói tiếp:
– Cũng là tại giời chưa chiều mình, quan bác ạ! Thôi bỏ mẹ nó đấy, không cần tu bổ gì cả.
Phủ Kỳ cố tươi cười dịu dàng, an ủi:
– Cũng còn may đấy. Nó mà bới ra đem đi kiện thì còn là ê mặt với bà con hàng phố. Hiện nay tiếng tăm vẫn chưa việc gì kia mà, phải xây cho nó xong đi chứ, giấy má đơn từ, quyên cúng còn sờ sờ đấy, bỏ bễ thế nào được!
Bá Kim ngẫm nghĩ mãi mới nói:
– Được! Nhờ bác trông nom hộ, cứ cho xây qua quít thôi, chẳng hoa lá gì cả, xây làm ba tầng mà thấp tẹt cũng được, chỉ bằng độ cái tháp Hòa Phong thôi, chẳng cho đứa nào có thể đứng ngồi ở đấy được. Còn thừa vôi gạch đem tất cả về cho tôi.
– Thế phải theo như cũ, hay kiểu gì đã chứ?
Suy nghĩ mãi, Bá Kim lại nói:
– Chẳng theo kiểu nào cả. Tầng trên là Thái cực, bác cứ làm hai cửa tròn cho tôi, mỗi tầng dưới làm mười cửa tò vò là mười phương chư Phật, ba tầng là tam thế đấy. Như thế là của chung của thiên hạ, chẳng thằng nào tọa hưởng vào đấy được nữa. Còn thừa vôi gạch đem cả về đây.
Phủ Kỳ cười, tán thêm:
– Ghê nhỉ! Không được ăn thả ra làm phúc! Mà lại còn được tiếng xây lại di tích, theo một kiểu đơn sơ thanh thấu, lại bao hàm ý vui chung với trăm họ! Giỏi thật! Thế không sửa chữa chùa Liên Trì à?
– Không? Hẵng xếp vôi gạch đấy, đợi xem sao đã, chưa đi đâu mà vội!
Ngồi ngẫm nghĩ một lúc lâu, Phủ Kỳ nói như kết luận:
– Bác Bá ạ, một điều rất quý báu nữa là, việc này nó còn bảo cho chúng ta phải thận trọng hơn nữa. Mọi cử động của ta dân chúng người ta đều biết cả, phải kín đáo lắm mới được và liệu vừa vừa chứ. Không thì có ngày tan xác!
Ngẫm nghĩ một lúc, sau cùng lão Phủ lại nói thêm:
– Này, tôi cho có lẽ có mưu mô của cánh văn hội đấy. Mình phải làm thế nào nắm vững lấy một vài anh nào trong số ấy. Tôi xem ra cái cậu gì con quan nghè Tự Tháp suýt soát tuổi cháu Xuyến đấy, hay là…
Bá Kim không để cho nói hết câu ngắt ngay:
– Ấy cũng định rắp ranh như thế. Vả ở ngoài người ta cứ nói ra nói vào cũng thấy xứng đôi. Tôi chỉ ghét cái thằng ấy nó ngổ ngáo, khó giá ngự, khó bắt nó theo như ý mình…
– Ngựa bất kham mới quý chứ. Khéo dắt là tự mình. Tôi bàn với bác Cử nên bắn tiếng gọi cho nó đi. Rồi ta tìm cách mà lung lạc nó chứ. Cháu Xuyến cũng tài hoa biết chữ, thằng kia, cậu ấy con quan Nghè, lại hay chữ, thế là xứng đôi lắm đấy chứ! Thua keo này ta bầy keo khác, cứ nắm được cậu con rể như thế ít ra ta cũng biết trong văn hội, bọn họ làm gì. Bác cứ tĩnh dưỡng cho nó khỏe lên. Rồi ta sẽ lại vui với mưu kế của chúng ta, chứ việc gì mà buồn…
Bá Kim nằm thiêm thiếp, nguôi nguôi trong bụng, mơ mơ màng màng nghĩ đến mưu kế đối phó lại và vừa hay khớp với ý anh bạn cố tri đang khuyên giải, lão bâng khuâng tưởng tượng ra một keo nữa, một keo thú vị mà nhất định, nhất định phải thắng lợi sau này.
HẾT TẬP 1 1
1 . Về tên đất tên làng trong tập này, xin xem bản chú thích chung cho cả bộ ở cuối tập 2.