M
ờ sáng ngày rằm tháng mười. Tiết trờilạnh, nhưng như lệ thường, bác Phúc đã dậy,đang đun nước uống. Thằng cháu Tín với một anh bạn của nó còn đang ngủ ở nhà trên. Bỗng có một tiếng nổ lớn, rồi đì đẹt những tiếng nổ nhỏ tiếp theo, bác vội dập lửa lại, chạy ra sân lắng tai nghe. Tín cũng ở trên nhà chạy xuống sân sau gọi hốt hoảng:
− Chú ơi! Đánh nhau rồi! Chú ạ!
Bác không nói gì, vẫn đứng im nghe. Xa xa vẳng tiếng ồn ào, thỉnh thoảng lại xen tiếng súng nổ, ngoài đường Hàng Khay, tiếng chân người chạy thình thịch. Anh Tín nói ngay:
− Nó đánh rồi! Cháu về đây!
Thế là anh dụi mắt chạy vào gọi bạn rồi mở cửa chạy vụt ra. Bác chạy theo ra cửa gọi với:
− Khoan đã nào! Xem có thực không đã! Mấy hôm nay chả vẫn đì đẹt như thế đấy à!
Nhưng làm như không nghe thấy gì cả. Tín và bạn cứ chạy miết trên đường Hàng Bài rồi khuất hẳn. Ngoài phố vắng vẻ. Lâu lâu mới lại thấy có người hớt hải từ phía trên Vũ Thạch chạy xuống, Bác hỏi:
− Gì vậy?
− Tây nó đánh thành rồi! Người ấy nói nhát gừng rồi vượt qua.
Các nhà bên phố Hàng Khay vẫn đóng im ỉm. Bác Phúc có một mình cũng đành đóng chặt cửa, trở vào bếp, thổi lửa bùng lên đun nước, trong bụng cũng nóng bừng như lửa đốt, bối rối, bực tức lo buồn lẫn lộn. Sao mình lại không đánh nó trước? Sao lại không ngăn cản từ khi nó mới đến? Sao lại để nó kéo quân được vào tận thành nó đánh? Liệu trong thành, quân lính có giữ được không? Các văn thân, văn hội đâu? Sao không đem quân ra cùng đánh? Nó mà vào được thành, có thể cố thủ, thì rầy rà, thêm khó khăn ra, như nó đóng đinh vào giữa trái tim, các quan chạy đi đâu? Bác mải suy nghĩ tự hỏi lan man, không nhìn đến bếp, nước đã sôi sùng sục dào tắt lửa. Bác cời gọn bếp lại đứng lên, đi lên trên nhà lấy cái bình tích sứ đem xuống, rót lấy một bình đem lên ủ kỹ cho nóng. Bác loay hoay một mình dọn dẹp ở trong nhà, xếp gọn đồ đạc, rồi đi đi lại lại một mình, đợi chờ, nghe ngóng. Bẵng đi một lúc đã lâu lâu không thấy thêm tiếng động gì nữa, ngoài đường hình như có tiếng chân người đi và văng vẳng có tiếng người láo quáo vẳng tới. Bác Hai bỗng tự hỏi:
− Quái? Không phải đánh nhau à? Sao đã im thế?
Bác vội hé cửa, lách ra ngoài ngó trông. Phía đầu hồ bên trên làng Trừng Thanh, từ lối ô Hàng Cau đi vào, một toán người trông như một toán lính đang bước đều đặn đi vào đường Cầu Gỗ. Ở dưới này, trên đường làng Cựu Lâu bên trước khu Tràng Tiền cũng thấp thoáng bóng người đi lại. Trong sân đình Bà Chúa, thôn Yên Trường, hình như cũng có người đang thập thò, nấp rình cái gì. Lạ nhỉ! Bác đương cố ức đoán tình hình xem sao, mắt còn mải nhìn về phía Yên Trường, thì ba người lính, đội nón dấu chóp đồng hẳn hoi, xịch đến làm bác giật nẩy mình. Ba người lính, nhưng mặc quần áo dạ vàng, giống như quân lính của Tây đóng ở trường thi, khoác súng và cầm dao mã tấu ra vẻ oai vệ. Tên khoác súng hỏi ra vẻ hách dịch bằng tiếng giọng Bắc rõ ràng:
− Không mở cửa bán hàng, còn thập thò nhìn cái gì?
Một tên giở một cuộn giấy ra lấy một tờ cầm căng cho tên thứ ba quệt hồ vào, rồi đem dán lên vách cửa nhà bác Phúc. Bác hỏi:
− Giấy gì vậy, các ông? Tên khoác súng nói:
− Đọc đấy thì biết, giấy quan Tây chiêu an 1 đấy!
1 . Gọi dân về làm ăn yên ổn.
− Sao? Các quan lấy thành rồi à? Bác hỏi tỏ vẻ sửng sốt, sợ sệt.
− Mất mẹ nó thành rồi còn gì, đánh có dập bã giầu bắt gọn cả một lô, một lốc quan lớn, quan nhỏ…
Tên lính dán xong tờ giấy, ba đứa kéo đi ngay. Bác cũng không dám hỏi gì thêm, trong khi thằng khoác súng còn ngoái lại dọa:
− Phải trông coi tờ giấy đấy, hễ rách hay kẻ nào xé đi là cứ anh mà truy là ra tất!
Căm tức, bác chạy vụt vào đóng sập cửa lại, không thèm nhìn theo. Bác đi lục soát khắp trong buồng ngoài nhà xem có thứ gì gòn gọn, bỏ vào khăn gói gói lại một gói, để đem về dưới làng một thể, định khóa cửa hàng lại, bỏ mặc đấy ít lâu. Gói xong, bác lại mở cửa bước ra hè, mới nhớ đến tờ yết thị, bác đến gần ngắm nghía và cố đọc. Cái tờ giấy này cũng kiểu như hai tờ trước đây, nhưng hơi khác là một bên có chữ Tây viết ngang có dấu tròn màu xanh, một bên là chữ nho viết dọc có dấu vuông in son đỏ. Bác đương tần ngần lẩm nhẩm đọc thì một người trong thôn Vũ Thạch cũng vừa đi ra, xúm vào giục bác:
− Nó dán cái gì đấy? Đọc lên cho nghe một tí xem nào.
Một người ở trên thông Yên Trường vừa bị ba tên lính lúc nãy đuổi chạy xuống, thấy hai người đang đứng bên tờ giấy, mắng ngay:
− Ngu thế! Đọc làm chó gì chữ nghĩa của chúng nó!
Người đàn ông ở thôn Vũ Thạch cứ điềm nhiên:
− Cứ đọc chứ. Đọc xem nó nói gì, giọng lưỡi nó thế nào, mà nó viết chữ “bố cáo” to tướng thế kia.
Bác Phúc không nói gì, ề à đọc:
“Bản quan ra đây cốt ý mở việc buôn bán.
Nguyễn Tri Phương và Phó vương Bùi Thức Kiên làm sai thiện ý của bản quan, không chịu hợp tác. Họ đào hào, xây pháo đài, đầu độc, gọi quân Cờ đen về quấy rối.
Vì vậy, bản quan phải đánh thành, bắt bọn quan ấy giải về Sài Gòn.
Hỡi sỹ, nông, công, thương, các người đều phải yên ổn làm ăn!
Các hành động cứng rắn đối với Nguyễn Tri Phương là sự vạn bất đắc dĩ, là nghĩa vụ đối với dân, là phận sự bảo vệ dân.
Các quan chức khác sẽ được cử ra cai trị dân. Vậy bố cáo cho mọi người biết: Ai trái lệnh, quấy rối trật tự sẽ bị trị theo quân luật. Kẻ nào ám sát, đốt nhà, hay phụ họa theo, đều bị kết án tử hình!
Nay bố cáo.
Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm giáng sinh 1873.
Đại úy Hải quân
Đặc phái viên toàn quyền nước Đại Phú Lãng Sa
An Nghiệp ký”.
Bác đọc xong, quay lại hỏi ông bạn trong xóm.
− Nghe rõ chửa?
− Rõ rồi, tên ký là gì? Là An Nghiệp à? Ông kia hỏi và ghé sát mắt vào nhìn.
− Phải! Bác đáp, An Nghiệp là ý mong cho dân an cư lạc nghiệp. Bác đã hiểu giọng lưỡi người ta chưa?
− Thưa hiểu lắm rồi ạ!
Ông kia vừa nói vừa đứng lại gần, đưa tay xé soạt tờ giấy, chụm hai tay xé vụn ra, vứt tung xuống đất, rứt nốt mấy đầu giấy còn bám trên vách, rồi ung dung bước xuống đường, đi thanh thả, từ tốn như người đi chơi. Bác Hai sửng sốt cuống lên, nửa thích, nửa sợ, vội bước vào nhà, đóng sập cửa lại, đi tìm chìa khóa và gói chặt khăn gói, rồi đứng thừ suy nghĩ, nên đi ra lúc này, rồi phó mặc cái cơ nghiệp này với giời, hay là hãy cứ ở đây, đi ra nhặt nhạnh những mảnh giấy ngoài kia đem đốt cho phi tang, rồi nằm lì đây nghe ngóng tình hình. Bác đương ngổn ngang trăm mối bên lòng, chưa tìm được lối nào ổn thỏa, chợt có tiếng đập cửa sầm sầm gọi:
− Ông chủ ôi! Có nhà không? Trốn rồi à? Bác cứ ngồi im. Hình như có người nhìn ngó vào, rồi lại có tiếng đập, tiếng gọi và xưng tên:
− Ông chủ ơi! Út đây! Võ Văn Út đây!
À! Ông con Út Gia Định, bác yên trí mở cửa ra nhìn, reo lên chào. Võ Văn Út hỏi rối rít:
− Sợ à? Ông không dám mở cửa bán hàng à? Tôi đã tưởng ông chạy đâu rồi. Xong cả rồi, chả việc gì mà sợ…
Bác vẫn chưa nói gì. Thấy ở ngoài có tiếng xôn xao xa xa, anh lính người Sài Gòn dắt bác ra ngoài cửa và bảo:
− Ra mà xem họ đưa các quan xuống tàu, đi qua đây kia kìa.
− Bắt hết cả à? Bác hỏi.
− Ừ, trừ có ông gì to lắm bị đạn còn để ở trong ấy.
− Thế định đưa các ông ấy đi đâu?
− Giải các ông ấy vào Sài Gòn, giao cho Súy phủ.
Anh lính thấy bác vẫn có vẻ băn khoăn lo lắng, cứ đưa mắt nhìn quanh, anh ngơ ngác trông theo, thấy có mảnh giấy ở dưới hè, anh chợt hiểu, vội chỉ lên phía trường thi bảo bác và mấy anh lính bạn:
− Kia kìa cả đoàn đang đi đến đấy.
Rồi anh cúi xuống nhặt nhanh hết những mảnh giấy vụn, vê viên bỏ vào túi. Anh ngẩng lên nói với tất cả:
− Toàn quan to cả, nên phải mời các ngài xuống tàu cho nó yên ổn hơn ở trên cạn. Chúng tôi phải ra đây canh dẹp đường đấy. Kìa kìa, sắp đến kia kìa!
Bác Hai thấy anh Út đã nhặt hết mảnh tờ yết thị, càng vững tâm tin cậy ở anh, định tâm sẽ hỏi anh nhiều chuyện, và yên trí nhìn theo tay anh chỉ. Từ phía ngã tư Vũ Thạch đi xuống một đạo quân xếp hàng hai, đội mũ cát trắng, quần áo dạ xám, chân quấn sà cạp đen đi giầy gót đinh sắt, cồm cộp hùng hổ đi xuống, đều đặn nghiêm trang, súng cắm lưỡi lê vác trên vai tua tủa nhấp nhô loang loáng lên xuống theo nhịp bước. Đạo quân đã tiến tới gần, sắp qua ngã tư Hàng Khay và con đường Thập Lý. Ở giữa đoàn quân lẫn vào mấy người Nam búi tó củ hành chít khăn nhiễu chữ nhân, quần trắng ngà ngà, mặc áo kép dài nền nhiễu, có người mặc áo the cặp, đi giầy vải Tàu, lộn xộn lên xuống không ra hàng lối gì; sau đó lại một toán lính đi hàng đôi nữa. Bác Hai buột miệng nói:
− Trông thiểu não quá! Có lẽ chưa bao giờ các ông ấy đi bộ xa như thế!
Rồi bác lẩm bẩm đếm khi đạo quân đã đi qua trước mặt:
− Một, hai ba, bốn, năm, sáu… À có cả một vị đội mũ cánh chuồn nữa! Các quan không đi lọng à?
Bác Hai hỏi. Anh lính Sài Gòn đáp:
− Đã đánh mất mẹ nó thành rồi, đã bị bắt làm tù binh, còn tàn lọng gì nữa. Đi bộ thế là còn tốt, đáng lẽ còn phải trói tay, lột giầy, bắt đi chân không kia đấy! Ai bảo các ông dại, các ông chết!... Kêu mà ai thương, ông chủ nhỉ.
− Thế còn lính trong thành đâu? Chết hết hay đầu hàng, bác Hai hỏi.
− Họ tản mát lẩn vào với dân cả. Còn một ít ở lại hàng phục.
Đạo quân đi qua ngã tư tiến hết vào làng Cựu Lâu rồi, anh lính quay lại bảo bác Hai:
− Thôi xong rồi! Các quan Nam được đưa xuống tàu hết rồi, mọi việc đều trở lại bình tĩnh như thường rồi, ông chủ vào mở cửa ra, đi tìm kiếm xem có quà cáp gì bán cho chúng tôi…
Bác Hai quay trở vào, cầm tay anh Út và mời hai người lính kia:
− Mời ba ông vào xơi nước. Nước nóng và còn mấy nải chuối chín hôm qua còn để lại. Các ông xơi tạm. Rồi đợi im im xem sao, tôi mới mò đi mua được chứ.
Bác mở to cửa, kéo anh Út vào. Hai người kia vẫn khoác súng đứng ngoài hiên nói chõ vào:
− Chả uống nước, thôi, đi đi, để đợi ông có mua được gì ăn, chúng tôi mới vào.
Bác Hai ghé tai anh Út hỏi khẽ:
− Quân lính triều đình không đánh à? Sao mà nhanh thế?
Anh Út không kịp nói, lắc đầu, rồi khoác lại súng chạy theo hai người bạn. Bác bước ra cửa đứng bần thần trông theo ba người nhấp nhô đi lên phía đình Yên Trường. Một sự biến xảy ra nhanh chóng quá, ngoài vòng liệu định của bác. Không ngờ bọn quan tỉnh lại đớn hèn đến thế! Có bao nhiêu là quân lính, khí giới ở trong thành, thế mà lại thua mau nhục nhã đến như thế. Có lẽ họ không đánh chác gì chăng! Họ mở cửa đón Tây vào, rồi bị Tây nó lừa à? Hay là họ nộp thành cho Tây, rồi giả vờ là bị giải đi, để được đưa vào Sài Gòn sống ung dung với số tiền bán nước. Hay là bị bọn Tây lừa dối, họ cả tin, mở cửa cho chúng nó vào họp bàn, rồi chúng nó xuất kỳ bất ý đánh bắt gọn! Dù sao đi nữa thì cũng đáng giận! Lại nữa, các ông văn thân giờ đâu cả, không thấy bóng một ông nào mò về đây mà nhìn tận mắt, mó tận tay, chứ chạy ra tít mãi ngoài xa, rồi trông gà ra cuốc cả, thì rồi đến mất hết cả nước, có lẽ các ông cũng chưa biết. Bác đang ngồi ở ngoài hiên đăm đăm nhìn ra đằng trước mặt như ngồi thiền định, đắm đuối theo đuổi ý nghĩ vào tận cõi hư vô, như không biết gì đến mọi việc ở đời này nữa, đến nỗi một đoàn lính Tây vừa đi áp giải các quan Nam xuống tàu trở về, qua ngã tư vượt lên, bác đều không biết. Một anh thông ngôn với ba người lính Tây vẫn vào hàng bác mấy hôm trước, dừng lại ngay trước mặt làm bác giật mình trở về hiện tại, bác luống cuống ngập ngừng, chân trong cửa, chân ngoài cửa, không dám bước hẳn vào. Tên thông ngôn hỏi dồn:
− Sao không mở cửa? Sao không bán hàng? Sao lại đứng ì ra ở đây? Sao không ra chào đón các quan?
Bác điềm nhiên trả lời:
− Vì phố xá vắng cả, không mua được gì bán, nên không mở cửa.
− Bác cứ mở cửa bán hàng như thường, không sợ gì cả. Đi vào, mở toang cửa ra, có trái bánh chi đem đây bán cho các quan.
Hắn đẩy bác vào, kéo cả mấy tên lính Tây vào nhà, hắn tự đi mở rộng cửa ra, rồi ngồi xuống cái chõng đối diện với bọn lính, nói cười xì xồ vui vẻ lắm. Bác Hai xách cái khăn gói để vào buồng, lấy ra một nải chuối tiêu lớn đặt lên cái đĩa bưng ra, tên thông ngôn đắc ý nói với bác:
− Bác quán ạ! Bác đã thấy rõ chưa! Tôi nói có sai đâu. Bác cứ sửa soạn mở cửa hàng cho to ra. Quân lính Phú Lãng Sa sẽ còn đến đây nhiều nữa. Bác tha hồ mà buôn bán phát tài! Rồi phải làm nhà tây bằng gạch kia chứ!
Thấy bác đứng im tựa cột, hắn kéo bác ngồi xuống chõng giảng thêm:
− Đấy bác xem, bọn Phú nó đánh có một lúc mà cái thành kiên cố là thế đã tơi bời, tan tác! Bọn quan tỉnh bị bắt đem xuống tàu hết. Nguyễn Tri Phương bị thương nặng. Riêng Tổng đốc Bùi Thức Kiên chạy trốn, còn đang cho đi lùng, thế nào rồi cũng tóm cổ được. Chỉ trong một tiếng đồng hồ đã xong đâu vào đấy cả. Đã có đội lính tuần cảnh người Bắc kỳ, người tông ki noa 1 này, đi tuần khắp phố, dân chúng làm ăn yên ổn, người người đi lại lại sắp đông nườm nượp bây giờ. Đấy có phải là người Phú đến là cốt bảo hộ dân bình an vô sự không?
1 . Tonkinois: người Bắc kỳ.
Bác tò mò hỏi:
− Lính ở đâu mà biên thúc 2 nhanh thế? Có phải lính của triều đình ở trong thành?
2 . Tổ chức biên chế thành đội ngũ.
− Lính mới chứ! Hắn hùng hổ nói. Bọn kia chạy tan tác cả, còn một số hẳn bị giam ở trong trại ấy chứ. Đây là lính người Bắc kỳ. Các quan Phú giúp cho lập riêng một nước Bắc kỳ. Các quan còn đương cắt cử đủ quan chức mới của nước Bắc kỳ để cai trị dân. Rõ ràng ngoài sức mạnh của Phú, còn có giời giúp cho dân ở đây, mọi người nghe theo, mới nhanh được như thế chứ!
Bác hỏi thêm rụt rè:
− Có đủ các quan Tổng đốc, Tuần phủ, Án sát à? Ai bổ? Người Sài Gòn, Gia Định ra à?
Tên thông ngôn gắt:
− Bác ngu bỏ mẹ đi ấy! Người ở đây, người của Bắc kỳ mới làm quan của nước Bắc kỳ chứ. Ở Sài Gòn chúng tôi có người nào ra đây cũng chỉ là giúp đỡ giao thiệp lúc đầu thôi.
Bác Hai hỏi hóm hỉnh để biết rõ những ai đã làm cho giặc:
− Thế sao chưa công bố cho dân biết? Ông có nhớ tên những vị nào xin nói rõ tính danh quan tước để tôi đi biến báo bà con thêm phần tin cậy.
Tên thông ngôn xì xồ nói với mấy tên Tây, rồi quay ra gật gù nói:
− Toàn người Hà Nội cả. Tôi không biết hết. Đâu cũng mới có Bố chánh, Án sát, Đề đốc, Lãnh binh. Còn Tổng đốc, Tuần phủ phải đợi mời những vị nào có danh vọng lớn xứng đáng nhất. Nhưng rồi ngày một ngày hai, các quan trọng nhậm có việc phân xử cho dân, dân khắc biết hết… Toàn là những bậc có chức sắc, danh vọng cả…
− Vậy bây giờ mọi quyền vẫn thuộc các quan Tây chứ?
− Tây người ta chỉ nắm đại cương buôn bán thôi. Về dân sự đã giao cả cho quan Nam, có quan Đề đốc Phạm Quang Diệu đảm nhiệm…
Bác hỏi thêm:
− Thế huyện Thọ này vị quan nào trọng nhậm?
− Đâu cũng vẫn giao cho một vị nào cũ ở đây ấy.
Hắn đứng lên, cùng với mấy tên Phú đi ra, còn nói thêm:
− Thôi chúng tôi vội đi. Yên ổn cả rồi. Cứ mở cửa bán hàng, rồi chúng tôi giúp đỡ, tha hồ mà có lợi!
− Vâng, đợi im ắng hẳn đã chứ. Còn phải có hàng họ, mới bán chứ. Mai, mời các ông ra chơi.
Bác chào, đợi cho bọn kia đi khỏi, lại đóng cửa cẩn thận, đi vào buộc lại khăn gói, định đi về dưới làng. Bác vào bếp hâm nóng ấm nước chè, rót một bát nước nóng uống, ngồi vê viên điếu thuốc lào to hút một hơi sòng sọc, rồi há mồm nhả khói cuồn cuộn, tựa lưng vào cột bếp suy nghĩ. Tính bác nghiện thuốc lào, nhưng mỗi ngày chỉ hút độ dăm bẩy điếu. Khi buồn thì đến cả ngày bác không hút điếu nào. Và khi nào có việc gì suy nghĩ, bác thường vê những điếu to bằng quả táo đặt vào điếu cầy, kéo một hơi dài cho say đứ đừ, rồi sau tỉnh ra mới nghĩ ngợi. Lần này tỉnh thuốc rồi, bác tự hỏi ngay:
− Quái nhỉ, người Hà Nội. Diệu nào nhỉ? Quan Đề đốc Phạm Quang Diệu… Toàn là những người có chức sắc danh vọng cả. Những ai thế nhỉ? Hay là lại chính là bọn các quan ngăn cấm không cho dân đánh Tây? Hay là các ông quan nhỏ? Có lẽ vì thế mà họ không đánh. À Phạm Quang Diệu, có lẽ là Đội Diệu ở trạm Hà Nội do các quan tỉnh sai đi tìm lão cố Phước ở dưới Sở kiện lên làm thông ngôn cho các quan chăng? Đúng rồi chỉ có thằng ấy đi đạo thì chúng nó mới tin, cho nắm hết mọi quyền tuần phòng ở cái nước Bắc kỳ này để chống lại triều đình.
Bác bỗng bật lên thành tiếng chửi:
− Mẹ kiếp! Đi cướp nước mà còn ngu! Nó tưởng tôn người ta lên là cái nước Bắc kỳ là người ta theo nó đấy! Cùng một ông cha, cùng một tiếng nói dễ thường người ta chịu đi theo bọn khác giống ngôn ngữ bất đồng để đi cướp bóc phản dân hại nước à?
Bác đứng lên đi đến chạn bát lục xem có còn cơm nguội không ăn cào quấy mấy miếng định rồi khóa chặt cửa đi về dưới làng. Nhưng đang vét nồi thì nghe thấy tiếng con gái gọi cửa, bác vội chạy ra mở. Cô Hiền lách vào, đóng sập ngay cửa lại và khẽ nói:
− Bu con bảo thầy đi về! Rồi cô vừa thở, vừa nói:
− Thấy anh Tín chạy về, con sốt ruột quá, nghe im im một cái, con chạy đi ngay. Mấy lại ngoài đường cũng có người đi…
Bác Phúc nói:
− Tao cũng đang định khóa cửa về đây. Rồi bác lại đắn đo nói tiếp:
− Nhưng này, con lên hiệu Dụ Hưng hỏi xem chú Chí thế nào? À, hay là để tao cùng đi một thể. Phải đấy, rồi tí nữa cùng về.
Bác cùng với con gái đi cài chặt các cửa ngõ, khóa cửa buồng rồi cùng bước ra ngoài hè, bác khép cửa, móc khóa sắt vào đanh khuy khóa lại. Hai bố con bước xuống đường, đi ung dung như người đi chơi, tay bác cầm cái dây buộc chìa khóa vung lên thành cái vòng tròn quay tít ra vẻ người vô tư lự. Đường vắng vẻ, trên thôn Yên Trường, mấy người đang vo gạo rửa rau ở cái cầu tre bắc ra hồ. Một người đứng lên hai tay vẩy rổ rau, rồi bước lên bờ hỏi:
− Hai bố con đi đâu liều thế?
− Sợ bây giờ mới dám đi làm bữa kia à? Bác Phúc hỏi.
− Làm bữa trưa đấy chứ, người đàn ông đang vo gạo nói. Ngồi ru rú ở nhà sốt ruột, từ sáng đến giờ đã sắp nốc hai bữa đấy chứ. Sửa soạn cơm trưa đây. Đi đâu đấy?
− Lên chợ trên xem có cá mú gì không? Bác Hai nói.
− Có quạ ở chợ ấy!
− Có chúng nó canh ở ngã tư cửa ô vào kia kìa, ông cầm rổ rau vừa rửa đã đi được mấy bước còn đứng lại nói. Đừng lên nữa! Ở đâu ra toàn bọn lính người mình cả, mà nó khám xét đểu giả lắm đấy.
Cái ông đang vo gạo nói thêm vào:
− Ở phía dưới nó canh ở cửa ô Long Tường Tràng Tiền đấy. Về đi, xem có còn gì lục ra mà ăn vậy. Rồi đóng chặt cửa ngồi trong nhà mà nghe ngóng. Con gái mà đi lên mạn trên ấy bây giờ không tiện đâu!
Hai bố con đành đứng lại đắn đo chực gợi nói mấy câu nữa, nhưng hai người kia đã ba chân, bốn cẳng đi tót về rồi, bố con cũng phải vội vàng trở về. Qua nhà nhìn ngắm thấy đóng khóa có vẻ cẩn thận, bác Hai nghĩ bụng có thể yên trí về dưới làng được, liền mở khóa vào lấy khăn gói và xếp một gánh những thứ lặt vặt cho con gánh về một thể. Đóng khóa lại đâu vào đấy cẩn thận rồi, hai bố con lại ung dung như người đi chợ về qua phố Hàng Bài vắng vẻ. Nhưng vừa đến đầu chợ Hàng Bài một toán năm người đã đứng lố nhố ngang đường quát:
− Đứng lại! Ăn cắp phải?
Một tên giữ lấy gánh của cô Hiền, một tên giằng lấy khăn gói, mặc cho bác nói:
− Của tôi! Nhà tôi ở chỗ góc hồ kia, tôi về dưới làng!
Một thằng khoác súng nghênh ngang, cầm lưỡi lê chỉ vào mặt bác nói:
− Im ngay! Để tất cả đấy! Đi trở lại!
Trong khi một thằng khác xách ngay nải chuối tiêu ra bẻ luôn một quả ăn, nhồm nhoàm nói:
− Có tiền, có quần áo, chúng mày ạ! Bác Hai tức tối cãi:
− Của tôi, các ông không được lấy của tôi như vậy!
Một thằng phá ra cười rũ rượi:
− Của mày à? Các quan, các lính của mày còn vào nhà người ta mà bạch đoạt ấy nghe không! Đây là chúng tao chỉ giữ lại những của khả nghi ở ngoài đường. Ai làm chứng cho mày đây là của mày?
− Cút ngay trở lại, không có lôi thôi!
Một bà thập thò ở trong một cái nhà gianh gần đấy nhận ra bố con bác Phúc, chạy ra nói khẩn khoản:
− Xin các ông, ông Phúc bán hàng ở đầu phố kia kìa đấy mà, các ông để cho bố con ông ấy đi.
Tên khoác súng bỏ lưỡi lê xuống, vỗ tay đánh đét một cái vào báng súng, nói sừng sộ với bà kia:
− Cút ngay! Không ông bắn bỏ mẹ bây giờ!
− Bắn ngay đi xem nào! Bà kia sấn lại nói. Bà con láng giềng lương thiện cả, tôi ra tôi nhận, có mọi người ở đây đều biết.
Năm đứa cùng xúm lại dọa:
− Xéo tất đi! Thế này còn là tử tế đấy. Đáng lẽ chúng ông còn bắt giữ con bé này nữa! Tây nó mà vớ được thì phải biết!
Bà kia liền gào tướng lên:
− Ôi các ông, các bà ơi! Đồ mặt dày! Quân theo đóm bọn Đồ Phổ Nghĩa!
Một ông ở trong nhà gần đấy vụt vác dao chạy ra hét:
− Đánh bỏ mẹ chúng nó đi!
Tức thì quanh chợ và nửa dưới phố Hàng Bè, lố nhố những người chạy ùa ra, mang gậy gộc, gạch đá xông tới. Ba tên lính kia vội vàng ôm lấy khăn gói của bác Hai chạy ngược trở lại phía bờ hồ. Tên vác súng đi sau bắn bừa đoành một tiếng để tự vệ. Dân chúng cũng không đuổi theo, đứng xúm quanh lại hỏi thăm bác Phúc. Một ông cụ hỏi:
− Sao? Mất khăn gói à? Mất tiền? Quân chó đểu, người mình cả mà chúng nó muối mặt như vậy!
− Bọn đầu trâu mặt ngựa đi theo Đồ Phổ Nghĩa đấy mà! Ta phải tụ họp lại để mà bảo vệ lấy nhau mà trị bọn chúng mới được. Một ông ở đầu phố nói.
Bác Hai Phúc đứng lên nói:
− Xin đa tạ các ông, các bà có lòng chạy ra cứu bố con tôi. Xin các cụ về đi không nhỡ bọn chó ấy nó về nó mách bọn Tây, bọn Tây lại kéo đến đánh báo thù, thì thật là mang tiếng vì bố con tôi mà dân làng thiệt lây.
Ông cụ nói:
− Bố con nhà bác về đi, còn kệ bọn nó với chúng tôi. Tây mà đến đây bắng nhắng chúng cũng đánh.
Bác Phúc chào mọi người, cùng với con gái gánh một gánh đồ đạc về dưới làng Phúc Lâm, quê bác, thuộc tổng Kim Liên. Ở trên phố còn nhốn nháo, chứ ở đây xa vắng và nhất là không thấy đánh nhau dai dẳng nên yên tĩnh hơn nhiều. Một số nhà đã xếp gồng gánh chạy loạn, cũng không đi nữa. Bác Hai về đến nhà, chạy ngay đi gặp các người chức dịch và kỳ lão trong xóm bàn cách họp dân làng lại chia thành từng toán cùng với tuần phu trong làng xóm canh phòng chống đánh những kẻ vào cướp hiếp làng xóm. Sáng hôm sau, sốt ruột vì cửa hàng và nhất là muốn tìm cách gặp Ả Chí, bác Phúc lại cố dùng mọi lời lẽ khuyên dỗ và khích lệ anh Tín theo bác lên giúp bác dọn cửa hàng về. Hai chú cháu ăn cơm sáng xong, kề cà chạy đi chạy lại dặn dò bà con ở nhà chia cắt người vào từng toán canh giữ, đến lúc ra đi mặt giời đã chiếu xiên ngang đầu, đi thong thả gặp ai quen biết cũng hỏi thăm trò chuyện, đến đầu phố Hàng Khay, đã nửa buổi non trưa. Bọn lính đóng ở trường thi trước canh ở góc phố, thấy bác về, reo lên chạy ra xúm lấy bác đẩy về tận bên nhà, đợi cho bác mở cửa rồi, ùa cả vào nhà. Anh lính Võ Văn Út nói:
− Chúng tôi canh giữ cho nhà ông nguyên vẹn không suy suyển. Tôi thấy nhà khóa cửa vắng người, nên tôi mới xin với ngài đội ra đây canh đấy. Tối hôm qua, chúng tôi đóng ở cái đình kia, và ngồi ở hiên nhà ông đây.
Bác Hai vừa mở to cửa vừa hỏi:
− Thế các ông không ở trong trường thi à?
− Không! Một anh lính khác nói, đội quân chúng tôi vào cả trong thành rồi. Trường thi giao cho lính của Đức cha ở ngoài này. Chúng tôi chỉ còn phải canh giữ con đường từ bờ sông qua đấy vào cửa Nam.
− Các ông không đi tuần giữ các phố à?
− Không, đấy là lính của Đức cha đấy! Đức cha ngài mới mộ được bốn trăm người ngoài Bắc kỳ này cả, đóng ở trường thi ấy. Ông ra mở cửa bán hàng cho chúng tôi đấy chứ?
− Không các ông ạ, tôi ra dọn xếp cho cháu nó gánh bớt về dưới làng đây, bác nói thong thả đăm chiêu…
Anh Võ Văn Út hỏi ngay:
− Sao? Sao lại dọn về làng, yên ổn rồi mà!
− Tôi sợ các ông lính đi tuần lắm. Bác Phúc đứng ngay người lên trông ra ngoài đường nói với vẻ sợ sệt. Hôm qua các ông ấy lấy mất khăn gói của tôi đấy.
− Đù mẹ chúng nó chứ − anh lính hỏi trước giận dữ nói. Dân Sài Gòn Gia Định chúng tôi không thế đâu. Ông cứ mở cửa hàng bán quà cho chúng tôi. Chúng tôi đóng canh ở đây, đứa nào động đến ông là chúng tôi xé xác nó ra ngay…
Anh Võ Văn Út nói có vẻ ôn tồn hơn:
− Không sợ ông ạ, quân lính của Đức cha toàn vơ những dân tứ chiếng côn đồ, lại hấp tấp ô hợp, nên không có kỷ luật, vả lúc đầu, chưa có mệnh lệnh gì, chúng nó mới làm xằng như thế chứ. Sau này yên tĩnh rồi, chúng nó chả dám thế nữa đâu. Vả còn có chúng tôi nữa chứ, chúng tôi vẫn còn đi lại lối này.
Vừa lúc ấy, Bá hộ Kim cũng vừa đi với hai người lính cơ ở huyện có mang khí giới hẳn hoi, bước vào gật đầu chào bọn lính Sài Gòn, và bảo riêng bác Phúc:
− Bác cứ mở cửa hàng mà bán chứ?
Anh Út đứng lên kéo cả bọn đi ra và nói với Bá Kim:
− Ấy chúng tôi cũng bảo ông ấy như thế, nhưng ông lại đang xếp dọn đem về đấy. Cụ nên khuyên ông ở lại đây cho vui.
− Vâng để tôi bàn với bác ấy.
Bọn lính kéo nhau lên cả đình Hàng Khay rồi, Bá Kim nói rành rọt:
− Bác Phúc ạ, mình là người dân chỉ cốt yên thân thôi. Vả lại họ đã ở gần đây ít lâu, quen hơi bén tiếng rồi, họ đang cần có chỗ đi lại chơi bời, không việc gì mà sợ, có người có ta, mình không làm điều gì trái đạo, mình không sợ ai cả, không sợ tội với trên.
Bác Hai vớ được dịp, hỏi vặn ngay:
− Thưa cụ, giấy quan sức. Và hôm nọ cũng chính cụ đến hẳn đây bảo là Tây họ ra dàn xếp đền mọi thiệt hại cho ta. Thế mà họ ra mới chưa đầy nửa tháng, chưa thấy nói gì đến đền, lại đánh chiếm ngay lấy thành, cho lính đi cướp phá của dân. Thế có phải là lừa dối, lấy sức đè người không? Như thế còn vỗ về được ai? Nói ai nghe?
Bá hộ Kim biện bạch:
− Chỉ tại các quan mình hèn yếu quá, thương thuyết chẳng ra thế nào, lại cứ đòi đuổi người ta đi thì đuổi làm sao được kia chứ! Thôi sự thể đã lỡ ra như thế rồi, mình ở đây cứ tạm thời giữ cho yên dân, đợi xem triều đình xử trí ra sao!
− Thưa cụ, thiết tưởng chỉ vì không cho dân đánh mới hóa ra nông nỗi này! Bác Phúc nói chua chát.
Bá Kim gạt ngay đi:
− Bác này nông nổi quá! Đám dân ô hợp chọi thế nào nổi với súng ống đạn lửa. Đến như quân lính triều đình trong thành kiên cố như thế mà cũng chỉ đánh được từ Dần sang Mão thôi, rồi thành vỡ các quan lớn nhỏ bị bắt gọn, nữa là dân, giở giói ra chỉ tổ chết thôi! Vả người mình lại không cùng chung một dạ kia. Cụ thượng Bùi Thức Kiên và quan đề Tôn Thất Trắc chạy thoát về nhà ông thư lại Tô Phái ở Mọc bị ngay ông cai tổng Đức bắt đem nộp cho quan Phú lấy thưởng hai trăm quan tiền và được bổ quyền Biện huyện vụ huyện Thanh Trì đấy…
Thấy bác vẫn ngồi im, lão kể lể thêm như để khuyên nhủ:
− Đến như tôi mới rày chứ, cái số nó chẳng ra làm sao, đương ở nhà quê với cháu, tự nhiên lại đâm bổ ra từ chiều hôm trước, sáng hôm sau nó đánh thành, nó cho người vào bắt đến nhận chức cũ, có khổ không? Tôi cũng nghĩ chán ra rồi, bác ạ, mình đã vậy, còn bọn dân trú ngụ ở đây, nào Khách, nào đạo, họ ở lẫn với mình, hơi một tí gì khác là họ báo cho Tây ngay, không khéo thì sẽ khổ cả nút. Nên tôi cũng đành cứ giữ công việc như cũ để cho bà con được yên ổn. Tôi chắc bác cũng đã tàm tạm nghĩ như vậy.
Bác Phúc cũng đổi giọng nói ướm ý, lấy lòng:
− Bây giờ đương lúc nhiễu nhương khó khăn, trăm sự trông nhờ vào cụ cả. Cụ lại có lòng đứng mũi chịu sào che chở cho dân. Thật là quý hóa quá…
Bá Kim cũng vui mừng đổi giọng nói sắc sảo hơn:
− Bác nghĩ được thế là tốt lắm. Thế mới là thức thời, đạt lý. Bác cứ mở to cửa hàng ra mà bán quà bánh cơm rượu cho lính Tây, lính ta, có lợi vô số. Nhân tiện để ý xem kẻ nào có ý phá rối trật tự thì ngăn cản đi, nếu bảo không nghe, cứ bảo tôi, hay trình lên các quan mới trừng trị để giữ cho dân yên ổn. Rồi sau có muốn bỏ cái nghề bụi đầu nhọ tay mà bước sang con đường công danh thì cũng dễ…
Bác Hai nghĩ bụng, toan nói:
− Thôi cám ơn cái tử tế của ông, ông chỉ hơn cái lão cai tổng Đức ở làng Mọc một nước, ông không bắt quan, thì ông bắt dân chứ gì? Nghe ông có ngày đào cả mả tổ đổ đi!
Nhưng muốn biết rõ tình hình hơn và dò la xem lão có được bọn Tây nó tin không, bác Hai thủng thẳng hỏi:
− Bẩm cụ, thấy nói có đủ các quan Bố, Án, Đề, Lãnh ở tỉnh, thế có phải là quan của triều đình cũ hay triều đình mới?
Bá Kim gắt ngọt:
− Bác này ngu quá, mà sao lại cứ hỏi oái oăm thế. Còn triều đình nào nữa kia chứ! Mà đã là quan sở tại có quyền hành ở đây thì rồi triều đình nào mà chả phải nhận.
Bác Hai làm ra vẻ chân thật, nói một cách lơ đãng:
− À ra thế. Thấy bảo toàn người Hà Nội cả, không biết có phải không? Thưa cụ, chắc cụ đã biết những vị quan ấy?
− Có, Bá Kim vui vẻ đáp. Đã có giấy sức về huyện rồi đấy: quan Bố chính sứ 1 là ông Tú Nguyễn Tích ở phố chợ Đông Thành, quan Án sát sứ 2 là ông Tú Lê Văn Tốn, phố Hàng Quạt, quan Lãnh binh Đỗ Đình Huyên; quan Đề đốc 3 Phạm Quang Diệu… đều là người Hà Nội cả đấy, đều là đã đỗ đạt và có chức tước.
1 . Quan coi về việc hộ và thuế má trong tỉnh.
2 . Chức quan coi về pháp luật trong tỉnh.
3 . Võ quan coi đạo binh của tỉnh.
− Thưa cụ, thấy mấy anh lính người Gia Định nói quan Đề đốc Phạm Quang Diệu nắm tất cả quyền tuần phòng, trừng trị, giữ trật tự, có phải không ạ?
− Phải, vì ông ấy còn là Thương biện tỉnhvụ.
− Bẩm cụ, ông ấy đâu chứ ở đây chưa thấy nổi tiếng.
− Ông ấy chính người ở Tâng tức cái làng Yên Phú có cái trạm Hà Phú, ông ấy làm Dịch thừa ở trạm Hà Hồi, rồi cùng đi với cố Phước để làm trung gian cho triều đình thương thuyết với quan Phú, tỏ ra mẫn cán, có tài xếp đặt, nên người Phú thích ông ấy lắm, cần có ông ấy thì mới giao thiệp với người Phú được.
− Vậy ra những quân đi canh phòng các phố đều là quân của quan Đề đây cả?
− Phải! Có quan thì phải có quân, chứ còn lấy quân ở đâu nữa. Thôi bác liệu mà mở cửa sơm sớm!
Lão nói xong, rồi quay trở ra, bác Hai cũng bước ra cửa hỏi theo:
− Bẩm cụ, cô Xuyến có ra không ạ?
− Yên rồi tôi cũng định cho người về rước nó ra đấy bác cần hỏi gì nó à?
− Dạ không. Xin chào cụ ạ.
Bác Hai đứng tần ngần nhìn theo Bá Kim đi về làng Cựu Lâu. Bác nghĩ:
− Thế này ra chúng nó đi theo Tây cả rồi. Thằng Tú Tích Đông Thành, thằng Tú Tốn Hàng Quạt, thằng Cai Huyên, thằng Đội Diệu đều là những kẻ có chức tước của triều đình hẳn hoi, mà thay lòng đổi dạ đi theo giặc, chỉ là vì đang chức nhỏ được làm nên chức to hơn, có quyền hành nạt nộ dân. Thì ra bọn quan nào cũng thế, cũng đều tham sinh úy tử một phường. Chỉ lạ chúng nó lén lút thì thụt thông đồng với nhau từ lúc nào. À phải rồi, phải có thằng cố Phước, thằng cha Bằng… Phải, chính bọn ấy! Bảo người ta không ghét đạo sao được!...
Càng nghĩ càng rối, càng thêm tức, bác quay vào đóng cửa và giục:
− Cài cả cửa bếp lại, chú cháu ta đi lại chơi chú Sìn tí đã đi!
Tín đang dử bắt mấy con gà, nói vọng ra:
− Dọn mau mà về chứ, chú còn đi đâu?
− Để đấy, cứ cho nó ăn đã. Ta đi lên thăm chú Sìn xem binh tình ra sao, đi cho nó biết, rồi hãy về cũng được.
− Thôi mình chú đi, chú ạ, cháu ở nhà cháu dọn.
− Mình anh ở nhà, ngộ nhỡ chúng nó vào, chúng nó không thấy tôi, chúng nó thấy anh trẻ, chúng nó sinh chuyện lôi thôi thì sao? Cứ bỏ đấy đi đã! Nhất là cái bọn lính mới.
Anh Tín càng sợ gây chuyện, nên nghe ra ngay, đóng cửa lại theo chú đi chơi. Hai chú cháu đi thông thống lên Hà Thanh qua ngã tư vào làng Nam Phố lên chợ Hàng Bè, không gặp quân lính mới, cũng ít gặp người qua lại, chỉ thấy ở mỗi đầu làng, đầu đường ngã ba, ngã tư đều có một vài người đứng hoặc ngồi như kiểu ra chơi hóng mát. Nhiều người quen biết bác chào hỏi vồn vã và bảo rõ tình hình phía đường ở trên. Bác Hai vui vẻ bảo Tín:
− Ra ở đâu, họ cũng đã bảo nhau canh giữ như ở ta cả. Đi lại mình cũng thấy đỡ sợ…
Hai người qua chợ Hàng Bè vắng vẻ, vào hiệu Dụ Hưng Lâu gặp cả nhà chú Sìn ngồi quây quần quanh nồi cháo gà đang sôi sùng sục trên bếp lò. Ả Chí trông thấy hai người đến vội reo lên:
− A ha may quá, hôm nay mới làm bữa cháo thật ngon thết cho gia đình, lại được ông con nhà ông đến chơi! Vào đây ăn một thể cho vui. Bán mãi cho người phải bán cho mình chứ lị.
Ả Sìn nói thêm:
− Yên rồi đấy, ông bang đã giục làm hàng bán. Nhưng hãy nghỉ ăn một bữa hôm nay cho sướng cái đã. Mai hẵng hay. Dưới ông thế nào?
− Chúng tôi lên chơi thăm chú thím và chú Chí, bác Phúc nói, rồi dọn về dưới làng đây.
− Sao? Dọn về làng à? Ả Chí hỏi vội.
− Phải, bác Hai đáp, ở đây tình hình nhố nhăng này khó chịu lắm. Bá Kim cũng vừa đến giục tôi, nhưng tôi nghĩ chán chán là…
Ả Chí múc ra hai bát cháo bỏ đầy thịt, và thêm một đĩa thịt gà xé rời bưng đưa cho bác Hai và anh Tín, rồi mời:
− Ăn đi cho vui đã. Rồi thì nghĩ kỹ đi. Nên ở đây mà bán hàng với chúng tôi có bạn bè đi lại nó vui. Hai nữa, ở đây rồi yên hơn ở làng ấy chứ. Ngoài kia đời nào người ta chịu, người ta còn đem quân vào đánh nhau chứ. Vả lại, ông già dạo nọ dặn thế nào kia mà.
Ả Chí ghé vào tai bác Phúc nói nhỏ mấy câu nữa, rồi lại quay sang bảo riêng anh Tín:
− Còn anh này nữa, cứ ở đây giúp ông Hai, rồi lên đây tôi dạy tiếng Khách cho. Làm giai phải đi đây đi đó, chứ cứ ro ró ở làng làm gì. Giai thời loạn này phải tung hoành, vùng vẫy chứ.
Thím Sìn đi lấy thêm rau thơm ở ngoài vườn về, cũng ân cần thái thêm thịt đem đến mời hai người. Cả nhà ăn uống vui vẻ, chuyện trò bàn bạc đến mọi vấn đề. Cuối cùng ăn xong, bác Phúc quyết định ở lại ngày mai mở cửa bán hàng như thường, và anh Tín được Ả Chí và vợ chồng Ả Sìn khuyên nhủ, cũng bằng lòng theo chú. Ả Chí nói thêm:
− Nếu yên tĩnh và chạy hàng thì cứ cho cả cô Hiền lên nữa, sợ gì.
Hai chú cháu ăn cháo, uống rượu no nê rồi lại cùng Ả Chí và Ả Sìn đi chơi qua phố Hàng Buồm, Hàng Giầy, chơi thăm mấy bạn hàng quen thuộc; đến chiều mới trở về, Ả Chí còn đi theo xuống mãi đến ngã tư, dặn thêm:
− Hễ đông đông khách, cố làm quen thân với bọn lính ta, rủ chúng đi chợ để có cớ mà tạt xuống đây luôn nhé.
Từ hôm sau, hàng bác Hai Phúc ở bờ hồ lại mở cửa bán quà bánh và cả cơm rượu. Bọn lính Sài Gòn và cả lính cố Phước ở trường thi hằng ngày thường rủ nhau lui tới hàng bác nghỉ ngơi ăn quà uống rượu. Bác cố làm quen thân thêm được mấy anh lính Sài Gòn và một số lính của cố Phước. Bọn này thích la cà ra hàng bác và đi chợ theo bác vì bọn chúng nhờ bác mua được cho nhiều thứ, những thứ ở trên này không có, dân vùng quê, không mang vào bán, bác Hai đều cho anh Tín về dưới làng bảo cô Hiền đi lùng mua được đem lên cho. Nên bọn lính nào được rồi cũng thích ra chơi ở hàng của bác. Một hôm bác vừa dẫn một tên lính bước vào hiệu Dụ Hưng Lâu, chợt trông thấy một ông già Khách quắc thước mặt quần áo đen toàn, bác ngờ ngợ reo lên một tiếng như vui mừng: A! Thì ông già nói luôn một tràng tiếng Khách. Ả Chí chạy ra thông ngôn lại bảo bác:
− Ông cụ đây ở Quảng Đông mới sang, là gia khách của quan phủ Lý Ngọc Trì, cụ muốn ăn món thịt chó hầm hạnh nhân, phụ tử. Ông bang Huỳnh Lục Ký cho người đưa cụ ra đây bảo đi mua về làm cho cụ, nhờ bác đi vào các xóm xem có kiếm được con chó nào đem về đây, chứ như hiệu chúng tôi đây thì chịu.
Và chú giục thêm:
− Bác đi với các ông lính này càng dễ. Đi ngay đi xem có được hay không, về báo cho cụ khỏi đợi.
− Phải đấy! Tên lính cũng nói. Đi tìm món “mộc tồn” cho cánh này chén với. Đang thèm nhớ đây!
Bác Hai đưa tên lính ra khỏi chợ, xuống đến ngã tư quặt sang làng Trang Lâu. Tên lính đứng lại, cuống lên nói:
− Thôi mình bác đi thôi, tôi không dám vào xóm đâu. Ông đánh lừa tôi, thì tôi chết bỏ mẹ! Tôi về đây.
Bác Hai rảo cẳng vào làng Trang Lâu, chờ cho tên lính đi khỏi mới quay trở lại hàng Dụ Hưng Lâu. Ả Chí trông thấy bác đến vội vẫy vào trong sân rồi dẫn qua cổng sau, qua phố Hàng Bạc luồn sang một nhà chú khách làm bánh bao ở phố Hàng Giầy. Đến nơi, Ả Chí đưa bác vào một căn nhà nhỏ lụp xụp, rồi khép ngay cửa lại và dặn với:
− Ông cụ đang đợi đấy, nói chuyện xong rồi về ngay đằng tôi, nhớ khi ra đem cả rổ bánh ngoài này về nhé.
Bác Hai vừa kịp vâng một tiếng, đã trông thấy ông già Tam Sơn đứng sững trước mặt, giơ hai tay đỡ lấy bác đang loạng choạng tranh tối tranh sáng. Bác mừng quá khẽ reo lên:
− Lão huynh vào bao giờ thế?
− Khẽ chứ! Ông Cử nói nhỏ. Đừng cuống lên. Tôi vào tối hôm qua, cũng là nhờ bà con ta và Khách che chở cho cả. Tôi đã gặp bác Cử và cậu Ba cùng các bạn bè ở ngoài ấy. Ai vào thì cũng sợ lộ, nên tôi phải vào để biết tình hình ở trong này và báo tin cho bà con trong này vững tâm. Dân chúng ở ngoài ấy cả Bắc lẫn Đoài, miền Hưng Yên, Phú Xuyên, Thường Tín đều sẵn sàng tiến vào cùng với bà con trong này nổi lên giết giặc…
Bác Phúc ngồi ghé vào cái chõng nói vội:
− Trong này nó lập xong tất cả quan quách rồi, Tú Tích chợ Đông Thành, Tú Tốn phố Hàng Quạt đều đã ra làm Án sát, Bố chánh cả rồi, Bá Kim coi huyện Thọ, thằng Cai tổng Đức ở Mọc bắt quan Thượng và quan Đề đem nộp cho Tây được thưởng tiền và được bổ coi huyện Thanh Trì. Thật những đồ phản phúc chó má…
Ông cử Tam Sơn ôn tồn nói:
− Cũng một phần tại mình không biết khéo giữ để bọn Tây nó dỗ được. Đáng sợ nhất là lão cố Phước. Nó đương ở Sở kiện mà nó vội lên trên này từ nửa tháng nay là nó mưu mô sắp xếp mọi việc đấy. Nó khéo lừa phỉnh lôi kéo được đủ người xếp quan đặt chức đâu vào đấy cả rồi, có đủ cả ấn triện khắc rồi. Ở Hải Dương, nó đặt một tên thợ lò rèn đi đạo làm Tổng đốc đấy.
− Ấy ở đây cũng vậy, bác Hai nói tiếp. Nó để tên Đội trạm Diệu quyền giữ mọi công việc cả tỉnh. Tên này đâu ở làng Tâng dưới huyện Thanh Liêm mới đi theo đạo rồi lên làm Đội trạm ở Hà Hồi, thế mà nay làm Đề đốc, Bang biện tỉnh vụ.
− Tên ấy mới thật là nguy hiểm hơn mấy lão Tú kia. Hai lão Tú và Bá Kim chính ra là do các quan ta khinh miệt họ và cánh nhà nho ta cũng coi thường họ, không khéo giữ kéo họ, nên mới xảy ra như thế. Chứ thằng Đội Diệu mới chính là tay chân của cố Phước. Nó được lên giữ trạm Hà Hồi là do lão Phước khéo xin xỏ các quan ta cho nó đấy. Công việc chính của nó là dò xét, dụ dỗ những người nông nổi về với nhà xứ chợ Bằng, được tin gì quan trọng cũng ngầm đưa về đấy chuyển cho lão Phước. Đấy chính là một nơi ổ tội ác chống nước hại dân, che đậy bề ngoài bằng nghi thức thờ Chúa truyền giáo để đánh lừa dân ngay lành tin theo Chúa. Thằng Diệu là đầu mối cho cái ổ ấy đấy.
− À ra thế, nên nó mới sắp đặt nhanh chóng đâu vào đấy như vậy. Nhưng mà cũng vì thế, nói đến lương giáo một lòng vẫn khó nghe.
Ông Cử nói rành rẽ:
− Khó, nhưng vẫn phải tránh. Chỉ đã rối, ta phải gỡ, không nên làm cho rối thêm. Ở đây chúng ta cũng đã có gỡ đấy. Văn hội và nhân dân ở đây đã không để xảy ra xích mích giữa lương và giáo, nên đấy bác xem, ít có người ở đây đi lính cho địch. Ta càng phải tiếp tục làm việc ấy. Cho nên cửa hàng của bác ở chỗ ấy rất lợi, vừa là chỗ dò được tin tức của địch, vừa là nơi thông tin được với bên ngoài. Nhất là nghe đâu lão Phước đã chuyên chở tre gỗ sắp dựng một cái nhà thờ và nhà xứ ngay trước cửa trường thi. Cho nên bác phải hết sức khéo chiều bọn lính Sài Gòn và lính đạo rủ họ đi chợ rất tốt. Người năm bẩy đấng, của chín mười loài, họ phần đông cũng là những người biết nghĩ, nếu ta khéo léo, họ cũng có thể giúp đỡ ra từ việc nhỏ, dần dần có thể đến việc lớn. Vậy cửa hàng này cần thiết lắm đấy, bà con ngoài kia trông cậy vào đấy nhiều lắm. Bác phải khôn khéo, không có lọt vào tay kẻ khác thì phí quá. Phải bám rịt lấy Bá Kim nữa. Cứ luồn lọt lão ta chẳng sao, cốt sao được việc cho mình…
Bác Hai đang ngồi lặng nghe, bỗng phì cười nói:
− Vâng! Suýt nữa đệ đã dại dột vặc lại Bá Kim, lão bảo mở hàng, đệ định không mở, muốn mắng lão một trận cho hả.
− May đấy! Ông Cử nói dịu dàng. Chửa nổi nóng phát khùng với lão, chứ nổi nóng rồi thì chắc chả còn được ngồi ở đây nữa nhỉ. Vậy từ nay, mọi công việc càng phải suy nghĩ chín chắn, không nên nóng nảy nữa nhé. À còn cô con gái lão dạo này ra sao?
Bác Hai cười, đáp:
− Cô ấy về quê ngoại, mãi hôm qua mới trở ra.
− Liệu cô ấy có còn giúp được việc nữa không?
− Để còn phải dò hỏi lại xem.
Ông cử Tam Sơn nói giọng nghiêm nghị thấm thía hơn:
− Bây giờ còn một việc hệ trọng. Tình thế lúc này khó khăn hơn trước nhiều. Hôm nay mới là ngày thứ năm. Mọi việc chúng nó đã dần dần thắt chặt, nhất là rục rịch có tin các nơi đánh về, chúng nó sẽ càng điên cuồng tàn ác, nghi ngờ bắt giữ. Nên những người quen mặt không còn ai ở được trong này nữa, và cũng khó mà vào được một lần nữa. Vì thế bác và chú Chí là tai mắt của bà con ngoài kia đấy. Hằng ngày, bác có thể đi chợ tạt qua vào gặp chú Chí. Còn khi nào cần thiết thì bác gặp một người nữa của ta. Mai bác đến đền Xuân Yên tìm ông từ. Hễ đến nơi, thấy trên cột có dán cái chữ thế này, thì đưa mảnh giấy con này ra, ông từ sẽ dẫn bác đi.
Ông Cử đưa một mảnh giấy bồi vuông cứng cho bác Phúc, bác cầm lấy, nhìn nét chữ trên giấy và hỏi:
− Chữ “đồng” à?
− Phải chữ “đồng”. Chả quanh quẩn đây là phường Đồng Xuân mà. Nhưng “đồng” của chúng ta còn có nghĩa là cùng một chí, cùng một lòng. Hễ chỗ nào có chữ ấy là có người của ta. Phải nhận kỹ chữ đồng này, chữ viết cân đối và hai cánh hơi cong lên trông giống như chữ “hợp”, còn có nghĩa là hợp sức, và cốt để ngộ nhỡ địch có biết đến thì cũng không biết là chữ đồng hay chữ hợp . Bác sẽ thấy ở khắp trong băm sáu phố phường này, rồi chỗ nào cũng gặp được một hai chữ như thế. Trăm họ vốn một lòng, chỉ cần thu xếp cho khéo. Rồi ở ngoài kia, quan quân và dân chúng tiến vào đánh chứ. Đâu phải cứ mãi như thế này!
Cuối cùng, ông Cử đứng lên, đi đi lại lại quanh gian nhà hẹp rồi đứng phắt lại, thân mật dặn bác Hai:
− Bác cứ vững tâm vui vẻ mà làm, nếu có lộ mất người này vẫn có người khác thay. Thiên hạ không thiếu gì Bái công. Tôi phải ra ngay hôm nay để anh em ngoài ấy biết rõ tình hình, anh em mừng. Trong ngoài phải biết tin nhau luôn, bác nhớ nhé. Thôi bác về nhé. Liệu bảo cả cháu gì nó lên giúp đỡ và cố giữ lấy cô gì con gái Bá Kim. Mọi việc sau này cứ theo như sự sẽ bàn bạc ở hiệu Dụ Hưng hay đình Xuân Yên.
Bác Hai Phúc đứng lên chào ông bạn già ra về, trong lòng phấn khởi và càng thêm kính phục ông bạn quý lúc nào cũng giản dị bình tĩnh, và nhất là can tràng, len lỏi như xuất quỷ nhập thần. Bác nguyện noi gương ông bạn và cố gắng làm theo như lời ông dặn. Bác càng thấy sung sướng nghĩ đến ông cử Kim Cổ và cậu Ba Phách ở ngoài kia sẽ thông tin tức được luôn luôn với trong này và biết được công việc bác đang làm ở trong này. Càng nghĩ càng thêm vững lòng tin, bác vui vẻ cắp rổ bánh về qua hiệu Dụ Hưng gặp Ả Chí, rồi đi thẳng vào các làng Trang Lâu, Trừng Thanh, ra mãi làng Thất Thi gần ngoài bờ sông mới mua được một con chó đem về làm thịt sửa soạn thành mấy món ăn ngon, hẹn bọn lính đóng ở trường thi ra nhắm rượu. Sáng hôm sau, theo đúng lời dặn, bác lên chợ Đồng Xuân mua mấy thứ vặt vãnh buộc thành một buộc, rồi xuôi trở về vào đình Xuân Yên, tìm gặp được người bạn mới, một ông thợ may đang ngồi khâu áo ở phố Hàng Quạt. Ông bạn xếp kéo vạch lại, mời bác ra thăm cái vườn con ở bên trong sân trong, nói chuyện qua loa với bác, hẹn những ngày giờ gặp lại sau rồi tiễn chân bác ra cửa, lại ngồi vào giường lấy quần áo ra khâu. Từ đấy đêm nào cũng nghe thấy có tiếng tù và, tiếng trống ngũ liên nổi lên lẻ tẻ ở nhiều nơi, tiếng súng nổ ở các đồn trại của giặc. Bọn lính ngụy không dám đi tuần lẻ tẻ như mấy hôm đầu. Thỉnh thoảng có lửa bốc cháy ở ngay đồn địch. Cuộc vui của bọn Đồ Phổ Nghĩa mở ra để khao thưởng bọn quan Tây ở nhà hội quán Hàng Buồm bị tan nửa chừng, vì ngoài phố có tù và báo động, có đám cháy ở phường Hà Khẩu, kế đến một đêm, trại quân Khách của tên Tri phủ Hồ Quảng Lý Ngọc Trì ở ngoài cửa ô Thanh Hà tự nhiên bốc cháy dữ dội, thiêu hủy tan tành cả trại, cháy lan ra cả chung quanh, bọn lính phải chạy cả về nhà hội quán. Rồi kho hàng của Đồ Phổ Nghĩa mới làm thêm cũng bị bốc cháy. Ban ngày mệnh lệnh của các “quan tỉnh” đưa xuống không được tuân hành. Dân chúng lấy cớ bà con còn đi lánh nạn chưa về, không góp phu, không làm hàng, không bán hàng. Bọn “quan tỉnh” phải cho lính đi từng nhà bắt phu đi vận tải, sửa chữa nhà cửa, dọn dẹp dinh cơ. Bọn Pháp thấy tình hình mỗi ngày một rối thêm, bèn quyết định nghiêm trị những kẻ nào bị tình nghi, để triệt hết mọi mầm chống đối của dân chúng. Đồ Phổ Nghĩa bàn với cố Phước nên triệu tập một cuộc họp bí mật giữa những người đã cộng tác với Tây và có chức quyền trong tay để tìm cách đối phó với tình thế. Cố Phước mà bọn lính Sài Gòn thường quen gọi là đức giám mục Puy-gi-ni-ê (Puginier ) là người đã đến đất này từ gần hai chục năm nay, đi lại đất Hà Nội này nhiều lần, nói sõi tiếng Việt Nam, biết rõ phong tục và tính tình nhân dân. Lão đã đóng tòa giám mục ở Kẻ Sở thuộc huyện Thanh Liêm trên bờ sông Đáy. Từ khi Gác Nhi Ê ra đến đây, các quan tỉnh Hà Nội sai một viên tu vụ đi với Đội Diệu ở trạm Hà Hồi về tận Kẻ Sở tìm lão lên làm thông ngôn phiên dịch cho quan ta. Lão được công nhiên đi lại bàn bạc với bọn Tây, và xin dựng một cái nhà thờ nhỏ ở ngay trước cửa trường thi, trên cánh đồng làng Tiên Thị, cái nhà gianh ba gian có rào nứa chung quanh để làm nơi cầu nguyện cho bọn lính Tây và những dân đi đạo ở phố. Khi quân Pháp đánh chiếm thành Hà Nội, quân lính của Pháp rút vào đóng cả ở trong thành, trường thi thành nơi đóng quân của cố Phước, một đội hơn năm trăm quân lính đi đạo do Đội Diệu và Cai đội Huyên đã mộ từ trước. Sẵn người, sẵn của, lão lại cho đi lấy gỗ, gạch ở các nơi về xây một cái nhà thờ mới tường gạch lợp lá gồi năm gian như kiểu đình, thượng thực hạ hư. Chỉ làm trong ba hôm là xong, khu nhà thờ đã nghiễm nhiên sừng sững bề thế, tường vôi trắng toát trước cửa trường thi. Hai bên lại dựng thêm hai dẫy nhà gianh cho lính đóng canh và cho những gia đình đi theo đạo đến ở. Nơi nhà thờ này đã thành nơi trung tâm nối liền An Nghiệp, Đồ Phổ Nghĩa với bọn ngụy quan ngụy quân, rồi do đấy mà tỏa đi những mệnh lệnh. Trước tình hình mỗi ngày một lộn xộn thêm mà quân lính của lão phối hợp với quân lính của Pháp cũng không ngăn cản lại được, chỉ càng làm cho quân của lão thêm sợ hãi đóng cố thủ ở trong trại, trong đồn, không dám xông xáo ra đi tuần nữa, lão cố Phước đã phải triệu tập Đội Diệu, Tú Tích, Bá Kim, Huỳnh Lục Ký là những người đang giữ chức phận cai trị ở đây đến họp bí mật ở ngôi nhà thờ mới này để bàn cách đàn áp dân hàng phố. Cao lớn, nét mặt hồng hào, hai gò má hơi cao bên hai mắt sâu mà sáng ánh, lão ngồi nghiêm trang bệ vệ trên một ghế bành mộc đơn sơ, hai tay tì lên hai tay vịn, cái áo dài thâm may theo lối Việt Nam phủ kín hai đầu gối đến gần cổ chân. Khi ba người kia đã ngồi ngay ngắn trên ba cái ghế đẩu ở bên một cái bàn vuông trước mặt, lão giơ tay lên làm dấu phép, rồi nói thong thả một cách rầu rầu ỏn thót, là lối lão thường dùng nói với con chiên mộ đạo mỗi khi hành lễ. Lão nói:
− Lạy Chúa ban phước lành bằng an cho dân con ngu tối đang bị bọn quỷ sa tăng cướp đoạt giam hãm mất phần linh hồn. Chúng ta phải thể theo ý Chúa mà cứu lấy những linh hồn ấy. Các con nghĩ thế nào?
Đội Diệu thưa trước:
− Bẩm lậy đức cha, phải tìm cách nào bắt cho hết và trừng trị những tên xúi loạn…
Cố Phước bỗng ngồi thẳng lên, gật gật đầu, đôi mắt sâu tròn sáng ngời lên lóng lánh, đưa tay vuốt bộ râu sồm dài phủ lên cả cây thánh giá bạc đeo óng ánh trên ngực, mấy ngón tay luồn vào, rẽ từng sợi, vê vê những sợi râu loăn xoăn, lão cười rung rung và nói dõng dạc:
− Chúa thánh thần sẽ ban phước lành cho các con, vì các con đã biết nghĩ đúng theo đường của Chúa: muốn cứu người dân ngay lành phải trừ hết bọn quỷ dữ. Xử tội thật nặng bọn côn đồ làm loạn gây ra đói khổ là làm điều phước theo tiếng gọi của Chúa. Dân chúng được sống yên ổn sẽ đời đời nhớ ơn các con. Vậy bây giờ ta phải bắt ngay những đứa tình nghi là cầm nọc xúi dân…
Ngừng một lát, lão đưa mắt trừng trừng nghiêm nghị nhìn mọi người như dò xét, rồi hỏi đột ngột:
− Các con có thể đoán được những đứa nào không? Đồng môn Tự Tháp còn có tên nào ở nhà không? Bọn học trò trường Vũ Thạch, trường Kim Cổ có tên nào ở nhà mà đáng nghi không? Học trò Đốc Mọc có tên nào ở trong này không? Có đứa nào người nơi khác mà bây giờ lẻn vào ở trà trộn trong này không?
Lão hỏi luôn một thôi, một hồi, rồi ngừng lại như chờ đợi. Tú Tích suy nghĩ một lát, trả lời trước:
− Trình đức cha, cánh đồng môn Tự Tháp có dăm ba người, họ chạy ra ngoài kia. Chỉ còn Hai Phúc ở hàng cơm góc Hàng Khay là đày tớ hầu hạ cụ Nghè trước. Còn học trò trường cụ cử Vũ Thạch thì có bác Án Tốn đấy. Cụ cử Nguyễn Huy Đức xưa nay chỉ biết dạy học thôi, không muốn can dự đến việc đời, mũ ni che tai, việc ai chẳng biết, nên học trò cũng ít theo đòi. Còn học trò ông cử Kim Cổ chạy theo thầy cả.
Bá Kim cũng nói chen vào:
− Học trò quan Đốc ở đây thì còn nhiều, quan Bố, quan Án đấy cũng là môn sinh cả. Còn Hai Phúc ở bờ hồ, tuy là môn sinh cụ Nghè, nhưng phận hèn, có học hành gì đâu, vả hắn biết điều hầu hạ quan quân ta đắc lực lắm. Con thiết nghĩ, phải xét cho kỹ, chứ nếu cứ tình nghi không đúng càng dễ làm cho nhiều người lo sợ, thành thử lại đẩy họ đến chỗ liều lĩnh tìm cách chống lại ta.
Cố Phước cười gằn, tỏ ý bác bỏ lời Bá Kim, nói rõ hơn:
− Các quan Bố, Án, Phủ, Huyện của ta đây cũng là nhà nho môn sinh cả, nhưng đã đi hẳn ra một chiều, một con đường thẳng. Các quan là những người công minh chính trực. Nói xô bồ như quan huyện thế là không được. Nguy hiểm là bọn đồng môn. Thằng Hai Phúc càng cần phải để ý, nếu hơi có vẻ gì khang khác là cứ bắt.
Quay sang phía Đội Diệu, lão nói như ra lệnh:
− Mà cái ngôi hàng ấy ta cần tìm cách chiếm lấy mở to thêm ra để riêng cho quân lính ta lui tới, quan Bang biện ạ: Phải tìm sẵn người trông coi quán xuyến.
Lão lại nói riêng với Huỳnh Lục Ký:
− Còn về phía Khách trú thì dễ, có phải không quan bang trưởng? Ta cứ xét những tên nào mới đến gần đây mà không phải là lính của ông Đồ Phổ Nghĩa là cứ bắt giam, cứ buộc cho là quân Cờ đen, đem ra xử tất. Có ra uy như thế, chúng nó mới sợ, có phải?
− Vâng, cũng đến phải làm như thế mới xong, Huỳnh Lục Ký đáp.
Cuối cùng, cố Phước quyết định công việc phải làm và dặn dò chung cả:
− Bây giờ các con về phải đi khám xét ngay. Về phía dân Nam, các quan tỉnh, huyện chia nhau thân đi từng xóm, từng phố, từng phường xét hỏi rất bất ngờ và chóng vánh. Quan bang cắt lính đi vây giữ các nơi trước khi khám. Hễ thấy ai không phải là người ở đây cứ bắt, đứa nào khả nghi, bắt tất. Khẩn cấp lắm, phải làm nhanh mới cứu vớt được dân. Và các con cũng nên nhớ rằng, nếu để sổng mất những loại quỷ dữ ấy, tất nhiên chúng nó sẽ tìm cách ám hại các con trước. Còn như cha đây, vâng theo mạng của đức Chúa Trời, lại có quân lính của nước Đại Phú Lãng Sa hùng cường và nhân đạo giúp đỡ, cha lúc nào cũng nghĩ đến cứu vớt linh hồn đau khổ và mở rộng nước Chúa, đem lại bằng an cho con chiên, nên rồi thì đằng nào cũng vậy, với đức tin ở Chúa Trời và lòng trinh khiết trong Đức Mẹ, cuối cùng cha cũng làm trọn phần việc cao quý ấy. Các con nghe theo lời cha, hãy cố làm như những điều cha dặn. Cha luôn luôn cầu nguyện Đức Chúa thánh thần ban phước lành bằng an cho các con về cả phần xác lẫn phần hồn. Các con nhớ rõ chưa?
Tú Tích nói nịnh khen mưu trí lão cố:
− Thưa đức cha, có quyền bính trong tay rồi mà muốn vỗ về cho dân được yên ngay, cũng phải nghĩ đến mưu kế như đức cha là thượng sách. Nói riêng về phần đời thôi, cũng đến phải làm như thế mới được.
Cố Phước gật đầu, nở nụ cười tươi trong những sợi râu mép lưa thưa, đôi mắt nheo lại rồi mở to sáng ngời lên dịu dàng tỏ ý bằng lòng, lão đứng lên nói riêng với Đội Diệu mà như dặn tất cả:
− Thôi, công việc có thế, quan Đề ạ. Về bảo nhau làm ngay đi.
***
Sau cuộc họp riêng ấy, Đội Diệu chia quân cho bọn chúng đi vây lùng khám xét ngay. Huỳnh Lục Ký cố tỏ ra tận lực tìm kiếm khắp cả hai hàng bang Quảng Đông và Phúc Kiến, cũng chỉ bắt được có mỗi mình Ả Chí ở hiệu Dụ Hưng là đáng tình nghi, vì trước kia cũng đã đáng ngờ, đã bị các quan An Nam bắt hỏi mấy lần. Ả Sìn là người đã chứa chấp Ả Chí và bác Hai Phúc, người hay đi lại mua bán ở hiệu Dụ Hưng, cũng bị bắt lây. Bọn ngụy quan vây khám khắp mấy nơi không bắt được người nào tình nghi cả, cuối cùng Tú Tốn vây khám xóm chùa thôn Yên Ninh bên hồ Trúc Bạch, bắt được một ông thầy cúng ở trong chùa Phúc Viên mà Tú Tích nhận diện ra là ông Cử nhân Tạ Văn Đình, đỗ cùng khoa với hắn. Vì thế sư cụ chùa Phúc Viên cũng bị bắt. Đội Diệu cho giải ngay những người ấy sang cho cố Phước và Đồ Phổ Nghĩa tra xét. Bọn chúng cho đem tra tấn, dụ dỗ, nhưng không ai chịu khuất phục, khai nhận gì cả. Thấy cần phải xử tội nặng để khủng bố tinh thần dân chúng, đe nẹt mọi người đang ngấm ngầm chống lại chúng, cố Phước liền xui Đồ Phổ Nghĩa bàn với quân Pháp lập một tòa án công khai đặc biệt để xử tội mấy người bị bắt. Ngạc Nhi mải bận đem quân đi đánh Nam Định đồng ý để cho Đồ Phổ Nghĩa mở phiên tòa đặc biệt ấy ở ngay đình Tô Mộc thôn Phục Cổ trông ra Hồ Gươm, thẳng sang phía nhà hàng của bác Phúc. Vào khoảng đầu giờ Thìn buổi sáng ngày hai mươi chín tháng mười một, giời nắng hanh trong sáng soi tỏa chan hòa mặt hồ im phăng phắc nghiêm như giận, dân chúng trong mấy phố phường thôn xóm bị xua đến dự phiên tòa đã đứng kín đặc ở ngoài sân đình. Trong cái đình ngoài năm gian rộng thông thống, ở giữa, bên ngoài cái hương án vàng son rực rỡ, Đồ Phổ Nghĩa và Tú tài Nguyễn Tích ngồi liền nhau trên hai cái ghế bành quang dầu, đằng trước có cái yên như sơn son thiếp vàng, trên đặt cái đỉnh đồng và một ống bút sứ, ngoài nữa là cái sập gụ chân quỳ giải chiếu cạp điều, trên để hai cái gối xếp, Án sát Lê Văn Tốn và Lê Bá Châm thông ngôn hàm Tri huyện hạng nhất ngạch hành chính Nam kỳ cùng ngồi xử án. Một tên quan Tư vụ ngồi trên một cái ghế tựa kê sát sập, gần bên Lê Văn Tốn. Hai hàng lính Tây tóc quăn mũi lõ quân phục gọn ghẽ, dây lưng da quấn chặt ngang lưng, giầy đinh nện cồm cộp, bồng súng cắm lưỡi lê sáng loáng, đứng thẳng hàng ở hai gian bên, oai vệ hung ác trông dữ tợn như hung thần, đến thành hoàng đình Tô Mộc cũng phải xuất ngoại! Ở sân, một toán lính Sài Gòn đứng làm hàng rào ngăn dân chúng ra hai bên sân. Một số khác cũng nai nịt gọn gàng lăm lăm súng và lưỡi lê trên tay đi lại bao vây mọi lối ra vào. Ở ngoài đường, một cơ lính của tỉnh, tức là lính của Đề đốc Phạm Quang Diệu, dàn ra vây kín canh giữ khắp chung quanh. Đúng chín giờ, Đồ Phổ Nghĩa ra lệnh cho bắn chín phát súng chỉ thiên mở đầu cuộc xử án, chính là để ra oai nạt nộ dân chúng. Trước hết, chúng cho gọi tên và giải năm bị cáo vào sân, bắt quỳ trước cái sập gụ của quan Chánh án và trước mặt dân chúng. Những người này cứ đứng ngang nhiên không chịu quỳ, mặc dù bị bọn lính dúi ngã xuống, họ lại đều đứng ngay dậy, thẳng sừng sững. Bọn chúng liền cho gọi tách riêng Cử nhân Tạ Văn Đình lên trước sập Chánh án. Tên Tư vụ mở quyển văn án ra đọc dõng dạc:
“Tạ Văn Đình, bốn mươi nhăm tuổi, người làng Nga My, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Nội, đỗ Cử nhân khoa Mậu Thìn năm Tự Đức thứ hai mươi mốt, vô hạnh, không được đi làm quan, mới đây đã mộ bọn côn đồ cùng với tên Cử nhân Ngô Văn Dạng ở huyện Thọ Xương mưu giết người Phú Lãng Sa. Hiện nay quân đội hùng cường của nước Đại Phú Lãng Sa đã đem lại an ninh phúc lành cho dân ở phố phường thành Hà Nội, giao quyền chính cho người bản quán ở đây lập lại nước Bắc kỳ, tên Tạ Văn Đình vì lòng ganh ghét, hiềm thù cố tật, không được cất nhắc lên như những người tài đức, vả lại quê ở xa thành phố, ít người biết mặt, nên đã ngầm lẩn lút vào đây tụ tập bọn côn đồ du thủ du thực, xui giục bọn dân đen ngu tối đi đốt nhà, bắt người, cướp của. Chính tên này là thủ phạm gây ra những cuộc đánh phá đốt cháy ở trong thành phố này, phạm vào điều cấm đã được nêu lên rõ ràng trong bản tuyên cáo của quan Hải quân Đại úy, đại diện nước Đại Phú Lãng Sa hùng cường. Nhưng đạo giời chí công, lưới giời lồng lộng, kẻ làm ác phải chịu tội, nên tên này không chạy đâu thoát được, quan quân truy nã ráo riết đã tóm cổ lôi ra đây xử tội, cốt một lần nữa đem lại an ninh trật tự cho trăm họ yên ổn làm ăn”.
Tên Tư vụ đọc xong bản cáo trạng, tên thông ngôn ngoảnh lên nói với Đồ Phổ Nghĩa rồi quay xuống phiên dịch thêm lời buộc tội hống hách của Đồ Phổ Nghĩa sỉ vả sự phá rối trật tự và khoe khoang sức mạnh của nước Đại Phú Lãng Sa, cốt ý tỏa triết tinh thần dân chúng đang bị dồn ở ngoài sân. Sau đó Chánh án Lê Văn Tốn hỏi cung, nhắc lại ý Đồ Phổ Nghĩa:
− Anh là người có học sách thánh hiền, không nhớ cái lẽ nước nhỏ thờ nước lớn hay sao? Vả lại nước Đại Phú Lãng Sa sang đây cốt mong giữ hòa hảo giúp đỡ nước ta, giúp người Bắc kỳ ta, công việc đã làm nhanh chóng như giở bàn tay như thế, không phải là sức người, phải có giời giúp mới được thế, một mình anh chống lại thế nào được mà cứ mê muội ghen tức vô lý? Anh mưu mô những gì? Với ai? Khai ra!
Ông cử Tạ Văn Đình đứng ngay người lên nói lớn:
− Đánh lại bọn cướp nước chiếm thành là làm theo đúng sách thánh hiền. Còn thì trừ mấy đứa chúng mày ra, tao mưu việc đánh Tây với tất cả mọi người dân đứng ở ngoài kia kìa, việc tao làm chính đại quang minh như thế, sao lại bảo có một mình tao?
Đồ Phổ Nghĩa nói một thôi, tên thông ngôn Châm dịch lời buộc tội thêm và hỏi:
− Anh không phải người ở thành phố này, anh lại là một ông Cử, vậy anh lẩn lút ở đây làm gì? Nếu không phải là đem cái danh Cử nhân ra mê hoặc xúi bẩy dân chúng chống lại quan trên?
Ông cử Đình không trả lời câu hỏi, trừng mắt trông cả bọn, hỏi lại:
− Chúng bay có biết đất này của ai không?
Là của Vua và dân nước Đại Nam, tao là người Đại Nam, tao ở trên đất Đại Nam, sao lại bảo là lẩn lút? Tao lại là người tỉnh này. Cướp trộm vào nhà, mọi người trong nhà đều phải đánh, tao bảo người trong nhà đánh bọn kẻ cướp, sao lại bảo là chống quan trên? Quan trên gì lũ chúng mày, bọn ăn cướp và mấy thằng đày tớ? Ở trong này, tao phải giấu họ, giấu tên, giấu cái Cử nhân đi, vì có bọn đỗ đạt cũng đi làm chó ngựa như chúng mày, nên tao lấy làm xấu hổ, sợ người ta ghét lây đến cái Cử của tao, sao lại bảo đem cái danh Cử nhân ra mê hoặc?
Tú Tích, bạn học cũ của ông Cử, dụ ngọt:
− Bác Cử ạ, tuấn kiệt phải thức thời! Thời buổi này, là thời buổi bốn bể một nhà, mình chống họ không thể được rồi, triều đình, các quan, binh nhiều tướng lắm cũng đành chịu bó tay! Vận nước nó thế, hung hăng lúc này vô ích, bác cứ ôn tồn nói cho ra nhẽ, chúng tôi, chỗ bạn bè cũ, có thể nói xin tha cho bác.
Ông Cử quát:
− Tao chẳng bạn bè gì với chúng mày, đồ đi theo giặc hại dân. Đã thấp cơ lỡ bước, tao không thèm nói gì thêm với chúng mày…
Huyện Châm phiên dịch, trao đổi với Đồ Phổ Nghĩa và Tú Tích, rồi ghé tai Tú Tốn nói nhỏ. Tên này đỏ mặt lên hùng hổ tuyên án:
− Tội trạng đã rõ ràng, phạm vào điều cấm của tuyên cáo, tử hình!
Đến lượt Hai Phúc bị dẫn lên. Bác rất bình tĩnh, đi đứng đoàng hoàng. Nhận ra cái người mình đã gặp hai ba lần ở Hàng Quạt, ở đình Xuân Yên, chính là ông cử Tạ Văn Đình, khẳng khái, cứng cỏi, đứng trước mặt đây, bác càng thêm kính trọng ông, và mừng rằng bọn giặc chỉ bắt bâng quơ may mà trúng, chứ chưa biết tí gì về anh em “chữ đồng” cả, bác càng vững tâm nguyện noi gương ông Cử, có chết thì thôi, chứ không để lụy đến ai, làm hại cho việc lớn nước nhà. Lời khai của ông Cử đã nâng bác vượt lên mọi suy nghĩ tầm thường về vợ con ở nhà, bác bình tĩnh vững vàng đứng thẳng người, nhìn thẳng vào bọn địch. Tú Tốn hỏi có vẻ hách dịch hơn lúc nãy:
− Tên Nguyễn Hữu Phúc kia! Cửa hàng mày được các quan trên hạ cố lui tới, buôn bán đang có cơ phát đạt. Các quan đãi mày không bạc. Sao lại cố tình nghe dại, theo bọn đồng môn, chực âm mưu ám hại người của các quan? Thật mày là đồ vô phúc!
Bác Hai nhìn thẳng vào mắt Tú Tốn hỏi lại:
− Ông lấy bằng chứng gì bảo tôi đi theo đồng môn?
Tú Tốn cười gằn nói:
− Hừ! Mày còn vờ không biết à? Lại đòi chứng cớ mới chịu nhận à? Chứng cớ là ở đây chỉ có bọn đồng môn Tự Tháp mới ra mặt ghen ăn, chống lại quan Tây. Và chính mày đã bảo với quan Tây rằng các quân lính Tây phải rút khỏi đất nước này đấy thôi.
Bác Hai cười:
− À ra thế? Ta có nói thế với mấy người Phú thật đấy. Họ hỏi ta, thì ta nói thế. Vậy thì anh buộc ta tội gì?
− Tội âm mưu giết hại quân lính, chống lại quan trên. Mày ăn nói hỗn láo trước mặt các quan như thế cũng đủ tỏ làm bằng chứng cho âm mưu của mày!
Biết cãi lý với bọn chúng cũng chẳng được nào, bác Hai cất tiếng buộc tội chúng một cách nghiêm trang đĩnh đạc:
− Chúng mày nói láo! Tao không có ý gì giết hại quân lính. Mấy hôm trước, quân Tây còn đóng ở trường thi, tao cũng như mọi người dân, tuân theo lệnh của triều đình, cả tin ở cái việc thằng An Nghiệp Ngạc Nhe ra dàn xếp, nên tao không thù ghét bọn lính Tây, còn hầu hạ tử tế nữa, chính bọn họ biết đấy. Ngày nay lính Tây đã vào cả trong thành rồi, ở trường thi, ra vào hàng tao chỉ còn rặt bọn lính đạo của đức cha và thỉnh thoảng mới lại có bọn lính Sài Gòn ở trong thành ra chơi. Bọn lính đạo do cố Phước và thằng Đội Diệu mộ về, họ đều là Nam quốc Nam nhân với nhau cả, đều bị bọn cướp nước mê hoặc, tin ở Đức Chúa, thành ra phản lại dân mà không tự biết, tao không nỡ giết, nếu tao chủ bụng giết, thì chỉ một liều thuốc độc, ít ra chúng bay cũng chết đến quá nửa rồi!
Tú Tốn tức giận quát:
− Thế mày tự xét xem mày tội gì?
Bách Hai cũng tức mình quát lại:
− Cái tội muốn trừ bỏ kẻ cướp cho dân được yên ổn, chứ tội gì nữa? Tao giận là chưa giết được bọn thằng An Nghiệp, Đồ Phổ Nghĩa và đồ đi bám đít theo giặc như mày!
Tú Tốn quay lại hỏi Tú Tích và huyện Châm, rồi tuyên án:
− Thế là rõ tội rồi! Chém bêu đầu! Tịch thu tài sản!
Hắn gọi đến sư cụ chùa Phúc Viên và hỏi vặn sao lại chứa chấp kẻ bạn nghịch ở trong chùa. Sư cụ đã gần bảy mươi tuổi đứng phải chống gậy, nói run run, nhưng đĩnh đạc:
− Hôm ấy ngày tuần, ông ấy là cung văn đến lễ Phật, cửa từ bi rộng mở, ai ở cũng được. Tôi không biết ông ấy là Cử nhân đi mưu việc khác đấy. Nếu tôi biết, có lẽ tôi đã lập cách cho ông ấy khỏi bị bắt.
Mọi người ở ngoài tự nhiên cười reo lên vui vẻ. Tú Tốn tức quá tuyên án ngay cộc lốc:
− Trượng năm chục, tù một năm!
Đến lượt hai người Khách trú cùng bị dẫn lên trước sập quan án. Hai người đều bị buộc về tội phụ họa với người Nam chống lại quân lính Phú Lãng Sa, phạm vào điều cấm trong bản tuyên cáo của An Nghiệp. Tú Tốn hỏi Ả Sìn trước:
− Mày chơi thân với tên Phúc, mày có ý định đánh giết quân đội Phú Lãng Sa và quân lính Quảng Đông, Vân Nam, lại còn âm mưu ám hại những người Khách giúp đỡ quan Phú, có nhận không?
Ả Sìn đáp, giọng hơi run sợ:
− Bẩm các quan, tôi mũ ni che tai việc ai không biết, tôi không chống Nam, không chống Khách, còn tôi với Hai Phúc là bạn hàng nên quen nhau.
− Thế mày có chống các quan Đại Phú Lãng Sa?
− Tôi cũng chưa trông thấy người Phú, chưa nghĩ đến chống người Phú như thế nào?
− Thế mày có chứa chấp tên này trong nhà không?
Chánh án Tốn chỉ vào Ả Chí, Ả Sìn bình tĩnh đáp:
− Có, tôi có nuôi trong nhà, vì là cùng quê hương, cùng cánh áo ngắn với nhau cả.
− Nó là kẻ giết người, đốt nhà đấy, mày biết không?
Tú Tốn quay lại hỏi ý kiến huyện Châm và Tú Tích. Huyện Châm nói lại với Đồ Phổ Nghĩa, mấy người trao đổi với nhau một lúc, rồi Chánh án lên tiếng:
− Chứa người gian phi chống lại nhà nước, trượng 100 gậy, tù lao dịch ba năm.
Hắn hỏi tiếp sang Ả Chí:
− Mày đến đây từ bao giờ? Đã làm những gì? Nhớ không?
Ả Chí điềm tĩnh nói:
− Tôi đến đây đã ba tháng. Tôi bị quan Nam, quan Thanh bắt tất cả ba lần, nhưng rồi họ lại thả tôi ra. Tôi về ở với Ả Sìn, hai anh em lần lữa bán hàng kiếm ăn thôi. Lần này lại bị bắt nữa là bốn.
Tú Tốn lắc đầu nói lớn:
− Mày nói láo! Bang trưởng đã trình rõ lai lịch, mày là người của bọn Cờ đen Lưu Vĩnh Phúc cho về đây để giết hại người Khách và quan Đại Phú. Vụ cháy ở phố Thanh Hà là do chính mày gây ra, vụ các quan Nam xử tử các ông Tống Tài, Sâm Ký, là tại mày vu cáo.
Ả Chí cười nói bác bẻ đi:
− Chúng mày đoán mò, bịa ra tội, đem xử án bọn tao để ra oai với dân chúng. Tao tiếc rằng tao không làm được như lời mày buộc. Nếu tao giết được bọn giặc cướp nước để người Khách, người Nam cùng được sống yên ổn làm ăn, không bị bọn tham tiền vụ lợi, bán nước hại dân, rước giặc ngoài về giầy xéo, thì còn vinh dự gì bằng! Còn việc Tống Tài, Sâm Ký, mày hỏi các quan An Nam ấy, chứ có việc gì đến tao? Tao chỉ biết rằng những thằng ấy chết đi, các Khách trú hàng bang ở đây đều hả dạ cả, vì chính bọn chúng dắt bọn Tây về đây lục lọi ăn quẩn cả dân Nam và dân Khách.
− Thì đấy, tội mày rành rành ra đấy. Tú Tốn nói, mày đã nhận rồi đấy!
− Mày bảo đấy là một tội, Ả Chí nói nghiêm nghị, thì tao cũng mong làm thêm được một tội nữa là muốn trừ được một đứa vô liêm sỉ hại dân, hại nước như mày!
Tú Tốn tức quá, không cần hỏi ý kiến quan thầy, hùng hổ tuyên án ngay:
− Được! Mày muốn thế, tao cho thế! Mày là thủ mưu tất cả mọi vụ, xử chém ngang lưng bỏ chợ!
Thế là xử xong cả năm bị cáo. Vừa lúc ấy, cố Phước ở bên nhà thờ sang, đi qua ngoài sân nhìn chăm chú năm bị cáo, rồi bước lên thềm đình. Tất cả bốn người đều đã đứng lên ra cả ngoài hè đón, lão niềm nở bắt tay, rồi cùng với Đồ Phổ Nghĩa đi thẳng vào bên trong hương án, dưới cửa võng chính tẩm, đứng bàn riêng với nhau. Một lúc sau, tất cả năm người đều ra đứng cả trên hè, bên ngoài cái sập gụ giải chiếu cạp điều. Hai hàng lính Tây đã đứng dàn ngang ra theo hai bên cửa đình, lính Sài Gòn đứng án ngữ ba mặt sân, năm bị cáo bắt buộc phải ngồi ở dưới sân trước mặt dân chúng sau một hàng rào lính bao giữ. Ở ngoài đường, những lính cơ của Đội Diệu đứng xếp hàng thẳng tắp, súng bồng và gươm giơ lên tua tủa. Trong cái quang cảnh trang nghiêm và im lặng vì lính đông hơn dân, Đồ Phổ Nghĩa bắt đầu nói và huyện Châm dịch ra tiếng ta:
− Hỡi dân chúng. Có vụ án này là do lòng thương dân của nước Đại Phú, của quan Đại úy An Nghiệp muốn cho dân được yên ổn làm ăn, an cư lạc nghiệp. Các quan đã bắt được những kẻ gian phi phá hoại, đã lập tòa án xét xử công minh. Nhưng thể theo lòng nhân từ của đức cha giám mục Puy-gi-nhi-ê, người xin chỉ trừng trị nặng những kẻ đầu sỏ thủ mưu mà khoan nhẹ những kẻ tòng phạm, và để tỏ rõ độ lượng khoan hồng của nước Đại Phú, bản án đã tuyên nay đổi lại như sau: Hai án thủ phạm xử tử hình của tên Tạ Văn Đình và tên Lâm Chí vẫn giữ như cũ. Ba án được đổi lại như sau: án tử hình của tên Nguyễn Hữu Phúc giảm đẳng xuống đày viễn châu tức là vào Hà Tiên mười lăm năm; án trượng 100, tù lao dịch ba năm của tên Ả Sìn giảm xuống trượng 60 gậy, tù lao dịch một năm; án trượng 60 gậy tù một năm của sư cụ chùa Phúc Viên vì xét đến tuổi già, giảm xuống đánh 20 roi mây cho nhớ tội. Như thế để tỏ rõ cho dân chúng biết rằng, trừng trị là để cải hóa, chứ không phải là giết chóc để trả thù, càng để tỏ rõ thực tâm của nước Đại Phú Lãng Sa muốn giúp đỡ người Bắc kỳ lập lại nước cũ của mình, nước của vua Lê ngày trước. Quan Đại úy An Nghiệp đang tiến quân đi bình định các tỉnh Hưng Yên, Ninh Bình, Nam Định, Sơn Tây. Quan quân đi đến đâu là thu hồi đất về đến đấy, và quan chức được thiết lập ngay như ở đây. Chỉ trong tuần nhật, toàn cõi Bắc kỳ này sẽ thu hồi và giao trả con cháu vua Lê là Lê Duy Đồng, lập lại nước cũ của người Bắc kỳ. Vậy cái ngày xử án hôm nay, chính là bước đầu để xây dựng cái nước cũ độc lập ấy, giữ gìn trật tự cho thành một nước hùng cường như nước Đại Phú Lãng Sa và là bạn của nước Đại Phú Lãng Sa. Và cái án được giảm nhẹ này cũng là để tỏ rõ cái mục đích lớn lao như các ấn dấu của các quan ở đây đã in rõ: “Đại Phú quốc bảo hộ dân” .
Ngừng lại một lát, hai tên giặc lấn cướp lại lần lượt nói tiếp:
− Bản án này cần phải thi hành ngay để giữ được hiệu quả tốt trong dân chúng, nên đức cha đã thân đến đây làm lễ rửa tội cho hai kẻ tử tội, còn những bị cáo kia cho giải về trại quân để thi hành tội trạng. Phép nước vô tư, tất cả dân chúng hãy coi gương này mà giữ gìn trật tự, góp phần tái lập một nước Bắc kỳ vững mạnh.
Ba phát súng bắn chỉ thiên chấm dứt lời khuyên nhủ của Đồ Phổ Nghĩa. Thế là kết liễu vụ án chống đối, dân chúng lại bị xua ra về giữa hai hàng lính súng gươm tua tủa đứng hai bên đường bờ hồ bên ngoài đình Tô Mộc, mọi người đều lặng lẽ đi bên nhau, không ồn ào, không chen chúc như lúc mới đến, nô nức đi ngó cho biết rõ mặt tên Đồ Phổ Nghĩa mắt sâu râu rậm thế nào, giờ đây ai nấy đều như cố nén một nỗi thổn thức đau thương đượm màu tang tóc mà ngay lúc ấy không có cách nào cứu vớt, vì ngay lúc ấy, sau khi cố Phước hỏi qua loa mấy câu rồi làm lễ rửa tội lấy lệ, cốt là để lừa dối dân chúng và lừa phỉnh bọn lính đạo, hai vị liệt sỹ Cử Đình và Ả Chí đã bị đưa ngay ra vườn dừa ở phía bắc Hồ Gươm trước đền Cổ Vụ để xử quyết. Dân chúng đang xôn xao nháo nhác quanh hồ, ai nấy đều ngậm ngùi, không ai bảo ai, mà chẳng ai đi qua vườn dừa trên đầu hồ nữa, mặc cho cái sọt tre đựng cái đầu ông cử Nga My với một tờ giấy ghi rõ họ tên, quán chỉ, và tội trạng “bạn nghịch chống lại các quan Đại Phú”, cứ treo lủng lẳng dưới tàu lá dừa trơ trọi với trời cao đất dày, chứ không dọa nạt được ai! Còn xác bị chém ngang lưng của Lâm Chí bị vứt ở chợ Hàng Bè cũng cùng một cảnh hoang vắng, quạ xuống trong bóng trời chiều xiên khoai vàng ủng. Cảnh thê lương càng khiến lòng người đối cảnh và nghĩ đến cảnh thêm bội phần thê lương!