Nỗi vui vẻ «thân tình» của một đêm thức khuya nói chuyện miền Nam, hả hê chuyện miền Bắc xã hội chủ nghĩa vẫn không ảnh hưởng chút nào đến cái định kiến của Ban Chỉ huy B2 về tôi.
Chiều hôm sau, sau khi tắm rửa ăn cơm xong, tất cả về văn phòng. Ba Biếu, Tám Chi uống vội vã mấy ngụm nước trà đoạn bỏ đi mất. Bảy Cảnh khệnh khạng, khề khà nhấp nháp từng chung trà nóng bốc khói, chấp tay sau đít, đi đi, lại lại quanh bàn. Còn tôi, leo lên võng nằm nhìn Bảy Cảnh đi quanh.
Có đến hai mươi phút nhạt nhẽo, im lặng như vậy trôi qua, Bảy Cảnh mới ngồi vào bàn vấn thuốc rê châm lửa hút và gọi tôi :
– Anh Hùng nè ! Lại đây ngồi uống nước chơi !
Tôi uể oải ngồi dậy, tuột xuống đất đi lại bàn. Bảy Cảnh vừa rót nước đẩy về phía tôi, vừa hỏi :
– Hôm nay anh khá rồi chớ ? Làm việc nổi chớ ?
Tôi hiểu. Và tôi mỉm cười :
– Tôi đang mong được làm việc, anh Bảy!
– Tốt lắm ! Hôm rồi, anh Ba chắc cũng đã trao đổi ý kiến với anh về quyết định của Cục Chính Trị Rờ (R) chớ?
Tôi muốn được nghe chính cửa miệng Bảy Cảnh lần nữa, dù Ba Biếu đã nói cho tôi nghe rồi. Cái kiểu nói của Ba Biếu nó ngọt ngào quá, không sỗ sàng, sắc cạnh, «đốp chát» như Bảy Cảnh. Giờ, ở tại đây, tôi thích được nghe giọng nói đầy ác cảm, «đốp chát» của Bảy Cảnh vì tôi hiểu đó là những lời nói thật. Không màu mè, thủ đoạn chính trị.
Tôi trả lời:
– Sao anh ? Xin anh cho tôi được biết.
– Ý kiến đó là sẽ nghiên cứu và quyết định về cấp bực, chức vụ cũng như sắp xếp công tác thích hợp cho anh. vì gia nhập vào bộ đội thì phải được xác nhận rõ ràng mới dễ làm việc.
– Anh nói đúng.
– Nhưng trường hợp anh thì khó đó. Vì anh là cán bộ 9 năm. Coi anh như tân binh, ngang hàng với chiến sĩ, cái đó không tiện, thiệt thòi cho anh. Mà coi anh như cán bộ cấp nào, cỡ nào cho hợp tình hợp lý. Ví dụ như cán bộ a, cán bộ b, cán bộ c chẳng hạn. Việc đó còn tùy thuộc vào sự thẩm tra lý lịch, xác định của cấp Ủy đảng địa phương, cộng với sự nhận xét về tư tưởng, lập trường, công tác của anh. Nghĩa là còn phải mất nhiều thời gian, không thể một ngày một buổi xong được. Anh hiểu chớ ?
– Tôi hiểu.
– Nhưng tôi cũng cần đả thông tư tưởng anh mấy điều này. Thứ nhất, cuộc cách mạng hiện nay là cuộc cách mạng vô sản, do Đảng lãnh đạo. Quân đội là cánh tay phải của Đảng, bảo vệ Đảng cũng như thực hiện đường lối chính sách Đảng. Quân đội quan trọng như vậy cho nên Đảng phải nắm chặt, lãnh đạo tuyệt đối. Quân đội không có một chính sách đặc biệt, một chế độ đặc biệt nào khác như phía bên Mặt Trận Giải phóng. Ở đây, chỉ có mỗi chế độ độc nhất, Đảng không chấp nhận một tư tưởng nào khác ngoài tư tưởng vô sản, vô sản chuyên chính. Nó thuần nhất, bắt buộc phải thuần nhất, có vậy nó mới là sức mạnh vô địch. Anh đồng ý chớ ?.
Tôi hiểu, tôi đồng ý tự lâu rồi. Nó thuộc về vấn đề nguyên tắc. Ít ra tôi cũng đã hiểu từ 9 năm kháng chiến trước đây.
Uống thêm một ngụm nước trà, mặt Bảy Cảnh nhăn lại.
– Thứ hai là cái này.. cái này… thuộc về nguyên tắc tổ chức. Quân đội của Đảng, bất kỳ ai mới vào cũng đều phải kinh qua một sự thử thách. Sự thử thách đó đánh giá trị tư tưởng, đánh giá trị phẩm chất cách mạng của chiến sĩ để dựa vào đó quyết định tương lai chính trị cho mỗi người. Đảng không chấp nhận tư tưởng công thần chủ nghĩa. Kháng chiến 9 năm, kháng chiến 10 năm hay kháng chiến 30 năm mà đã đứt đoạn, không có sự liên tục, như trường hợp anh, kháng chiến 9 năm.. nhưng 1954 anh bỏ về thành không sinh hoạt liên tục, không nhận một công tác nào, tức anh đã xa rời cách mạng. Quá trình không liên tục đó, Đảng không thể kiểm soát được. Cũng không.. ai dám bảo đảm trong thời gian đó mình hoàn toàn trong sạch với Đảng, cho nên những thành tích cũ, dù công lao có đến thế nào đi nữa, nó… nó… nó cũng không phải là hiện tại, là bây giờ. Không nên vịn vào đó mà kể công, mà đòi hỏi, bất mãn này nọ. Tôi nói như vậy không phải là tôi bảo anh có tư tưởng đó, tôi chỉ lập lại một nguyên tắc chung. Tôi tin là anh không buồn, không cho là tôi đề cập đến riêng anh. Anh đồng ý chớ ? Anh thông cảm chớ?
– Tôi hoàn toàn thông cảm. Xin anh cứ yên tâm.
– Thứ ba là, trên phương diện tư tưởng, anh cứ xem như bây giờ, ta mới bắt đầu cho cách mạng. Đảng sẽ nâng đỡ, dang tay ra dìu dắt. Anh sẽ tiến bộ, anh sẽ được hưởng mọi quyền lợi, đặc ân mà Đảng dành cho. Hôm nay, tôi nhân danh Đảng ủy U.50, nói cho anh biết những điều đó. Tuy nhiên, tôi cũng xác nhận với anh, dẫu sao trường hợp của anh cũng là một trường hợp đặc biệt, ngoại lệ. Chúng tôi sẽ cố gắng giúp đỡ anh trong việc nhận xét gởi về Cục Chính Trị để Cục Chính trị quyết định sớm hơn. Có như vậy anh mới làm việc dễ dàng, thuận lợi, danh chính ngôn thuận, phát huy được sáng kiến và khả năng của anh . Cái gì chớ lính không ra lính, quan không ra quan, kể cũng khó khăn cho anh lắm. Chúng tôi thông cảm và ghi nhận điều đó. Anh đồng ý chớ ?
– Dà !
– Vì vậy, trong khi chờ quyết định của Cục Chính Trị R, chúng tôi nghĩ công tác nào cũng là công tác cách mạng. Nhiệm vụ nào cũng là nhiệm vụ của Đảng giao cho… Kể từ ngày mnai, anh sẽ được U.50 ký quyết định thuyên chuyển về công tác ở B195. Ở đó vui, có nhiều phương tiện bồi dưỡng cơ thể để có sức chịu đựng với sốt rét ở thời kỳ đầu, chưa quen khí hậu của anh.
Tôi không thể không hỏi :
– Mà B195 làm nhiệm vụ gì vậy anh ?
– Phá rừng làm rẫy, sản xuất tự túc !
Tôi chớp mắt, uống nhanh chung nước trà và cố gắng mỉm miệng cười cho được tự nhiên…
Như mọi bữa, sáng nay tôi dậy sớm, thu dọn đồ đạc quần áo cho vào bồng. Tối qua, Bảy Cảnh cho biết sáng nay, sau khi ăn sáng, một cảnh vệ B2 sẽ dẫn đường đưa tôi đến B195. B195 là trung đội, nhưng hiện tại quân số của B195 chỉ có 18 người : 4 nam; 14 nữ.
Nghe Bảy Cảnh nói, tôi hơi ngạc nhiên về đơn vị đó. 18 người mà chỉ có 4 nam thì mần ăn ra làm sao ? Phá rừng đốn cây, cây nào cây nấy hàng ba bốn người ôm, phải đốn bằng rựa, liệu cái đơn vị đó mấy năm mới dọn xong một mẫu rẫy ? Mà lạ, đàn bà con gái sao không cho họ làm công việc nhẹ nhàng phù hợp với sức khoẻ và quán tính tình cảm công việc của họ ? Quân y, quân trang, thu mua, quản lý, giữ kho v.v… thiếu gì công việc kia !
Tôi muốn hỏi nhưng đi hỏi Bảy Cảnh thì câm còn sướng hơn. Sao tôi ghét y một cách lạ kỳ. Không hiểu y thuộc thành phần gì nhỉ ? Gia đình, nghề ngỗng, học hành y ra làm sao mà đã tạo nên y, một mẫu người trông lúc nào cũng như muốn gây gỗ, đánh lộn với người khác.
Tôi xách ca, muỗng và bình ton xuống nhà ăn. Mấy thau khoai mì luộc trắng nõn, ngao ngán nằm im lặng trên bàn. Công thức sớm mai khoai mì luộc, trưa luộc khoai mì, chiều mì khoai luộc là công thức cổ điển từ ngày tôi đến đây. Thịt nai, thịt giộc cũng đã hết chiều hôm qua. Thay vào đó là mắm ruốc xào đậu phộng. Cái không khí sống đã làm cho tôi thấy ngạt thở, muốn chạy trốn nó, muốn rời xa nó. Hôm nay, cái hôm tôi lên đường đi ra khỏi B2, được đưa tiễn bằng món ruốc xào đậu phộng ăn với khoai mì luộc càng làm cho tôi hăng hái lên đường hơn nữa. Dẫu B195 có thế nào đi nữa, tôi cũng sẽ được yên thân, thoải mái hơn ở đây.
Tôi đâu phải mẫu người chính trị, sống trong Ban Chính Trị làm sao nổi. Chưa về được Sàigòn, đi khỏi Ban Chính Trị ít ra cũng là một điều may.
Tôi ngồi vào bàn ăn với sự bình thản thường ngày. Tôi không ngờ mình có thể bình thản được đến như vậy. Gần như từ cái lúc tôi chọn thái độ dứt khoát, quay mặt lại, thì tất cả gần như vô nghĩa. Có lẽ thái độ bình thản quá độ của tôi cũng gây nên một sự ngạc nhiện nào đó, nên Ba Biếu đã hỏi tôi trong bữa ăn :
– Anh Bảy đã có nói chuyện về công tác với anh chưa, anh Hùng ?
– Có ! Có rồi anh ! Anh Bảy nói khi hôm.
– Anh…Anh… có thấy khó khăn trở ngại gì không?
– Không!
– Anh vui,… chớ ?
– Vui!
– Thật chớ ?
– Thật ! Sao lại không thật, anh Ba ?
Và tôi cười, vui vẻ thật sự. Ba Biếu cũng cười, nhưng cái cười nó «lạc điệu» làm sao ! Nhìn vào miệng, đôi mắt đó tôi đọc thấy ….«Ơ, cái thằng này nó nói thiệt hay chơi cà? Hiểu nó không nổi ! Ai đời đi phá rừng làm rẫy lao động nặng nhọc, trong khi nó chỉ quen chơi, quen sung sướng thì lạ thiệt. Lạ lắm! Rõ ràng gương mặt nó vui thật, không có một chút gì là không an tâm công tác. Chả lẽ nó giác ngộ cách mạng cao độ rồi sao?»
Bất ngờ Ba Biếu hạ một câu :
– Tôi khen anh, tôi phục anh, anh Hùng !
Tôi cúi đầu mỉm cười, không nói.
Ăn xong, tôi lấy theo hai củ khoai mì luộc và một ít ruốc xào. Ba Biếu đưa tay ngăn lại :
– Thôi, anh ! Đừng mang ruốc theo ! Để tôi biếu anh một ít đường thẻ, mang theo đường ăn khoai mì uống trà, dễ chịu lắm. Tôi biếu anh một gói trà Con Cọp số 1 nữa.
Tôi hiểu lần này mới chính là lần đầu Ba Biếu thật tình, không đóng kịch, biếu tôi đường, trà vì xúc cảm, vì chân thành. Trà, đường vốn những vật hiếm và quý giữa rừng Đông Bắc, khu A.
Về văn phòng, cậu cảnh vệ đưa tôi đi đã chuẩn bị xong, súng lên vai, bồng bị sẵn sàng đứng chờ ở bậc thềm. Ba Biếu hấp tấp đi lấy đường và trà gói lại trong một bọc vải cao su, đoạn tự tay mở bồng của tôi ra, bỏ vào cột lại. Đồng thời, Ba Biếu cũng đưa cho tôi một mảnh giấy pelure đánh máy quyết định thuyên chuyển do Hai Cà ký tên. Hai Cà là thủ trưởng U.50, cũng là bí thư Đảng ủy khu A.
Tờ quyết định chỉ bằng phân nửa tờ pelure thường, không chiếu điều này, điều nọ, không viện dẫn lý do lôi thôi. Vắn tắt. Quyết định cũng không đóng mộc, đóng đấu.
Ba Biếu vỗ vai tôi thân mật :
– Dù sao, đây cũng chỉ là tạm thời. Một hình thức thử thách lòng trung kiên của anh. Với anh, nó là thừa nhưng nguyên tắc là vậy. Chúc anh thượng lộ bình an. Tôi sẽ hết sức theo dõi, giúp đỡ anh.
Tôi bước ra sân. Tôi quay đầu lại gật nhẹ rồi rảo bước theo cậu cảnh vệ. Cậu ta tên Du. Tôi hỏi :
– Du à! Từ đây đến B195 xa lắm không Du ?
– Xa, anh ! Sớm thì lối ba giờ chiều tới. Trễ thì tối mò cũng chưa biết chừng.
– Chà !
– Anh coi, từ 195 ra đến bờ sông Đồng Nai có hai tiếng đồng hồ.
– Ủa ! Nói vậy mình đi ngược lên ngọn sông Đồng Nai Thượng. Trên đường đi ra Bắc ?
– Từ Bắc vào Nam chớ, anh ! – Du cãi lại- Ra Khu 6 cũng di đường đó đó !
– Biết chừng nào mới có dịp xuống được đồng bằng ?
Du không hiểu tôi muốn nói gì, nên trả lời theo ý nghĩ của cậu ta :
– Đi hoài chớ gì anh ! Đi tải gạo, tải thực phẩm về ăn. Tháng nào lại không đi ? Bây giờ không mua được gạo, chớ khi mua được gạo rồi, chuyện gì chớ chuyện đi tải là cơm bữa đó ! Anh coi, đường đi tải thì xa, dọc đường ăn dần về tới đơn vị hết gần phân nửa rồi. Loay hoay mấy ngày lại phải lo đi tải nữa.
Du dẫn tôi lội qua suối, đi dần ra đường thống nhất, ngược về hướng Bắc..
Từ khu vực sông Mã Đà, tôi theo anh cảnh vệ của B2 đi ngược lên đồi Trà Be, Suối Đá, đồi Bù Cháp của Đồng Nai Thượng.
Rừng buổi sáng, sương dày như khói phủ. Tôi và Du vừa đi vừa nói chuyện về những giống chim lạ của rừng. Du có vẻ rành quá, biết nhiều quá, nói không ngừng. Còn tôi đúng là một anh «nhà quê», dù tôi đã sống ở nơi được coi là văn minh nhất : Thủ đô Sàigòn, chỉ biết hỏi và nghe.
Nhân lúc vượt qua khỏi suối ở bếp B2, tôi nghe xa xa về phía ngọn suối có tiếng gõ mõ «cốc, cốc» rất đều, rất trong. Tôi buột miệng nói với Du :
– Chà, ai làm gì như gõ mõ…
Du quay đầu nhìn tôi, cười hóm hỉnh :
– Đâu có ai, anh ! Con chim thầy chùa mà! Nó kêu giống tiếng gõ mõ nên người ta mới đặt tên cho nó là chim thầy chùa.
– Cậu có thấy con chim đó không?
– Sao không? Nó mốc mốc, đuôi dài. Đầu lại có mồng như mồng gà trống. Nhỏ con bằng cườm tay vậy chớ rộng họng lớn tiếng. Ở xa mấy trăm thước, nó kêu mình nghe như kế bên. Thường thường nó chỉ kêu ban ngày, nhưng có khi ban đêm cũng gõ mõ liên tục, không chịu ngủ. Còn con chim chuông nữa. Anh có nghe nó kêu bao giờ chưa ?
– Có, tôi có nghe nó kêu rồi. Dường như nó chỉ kêu ban đêm.
– Nói nó kêu ban đêm không thì không đúng. Nó thường kêu vào lúc trời chạng vạng tối và lúc hừng đông. Hồi cái lúc tôi mới đến khu A, đêm đầu tiên ngủ ở bờ sông Mã Đà, nghe nó kêu tôi tưởng đâu ở gần đấy có cái chùa nào, nên họ đánh chuông. Anh nghĩ coi, nó kêu giống hệt như đánh đại đồng chung. Lúc đầu chậm chậm rồi lẹ lần như chuông đổ hồi. Tiếng nó trong, rền rền như tiếng chuông, lần đầu tiên mà nghe, ai không lầm cho được.
– Ở rừng, nhiều giống chim lạ thiệt.
– Mấy con chim đó chưa có gì là lạ đâu. Có nhiều con nó kêu còn lạ nữa kia, giống y như tiếng người nói vậy. Còn thứ chim «Bóp em bóp», thứ này chỉ sống về ban đêm. Nó kêu sáng đêm, không nghỉ chút nào. Anh coi, hồi đầu hôm, anh nghe ở góc này như có tiếng người nói «Bóp, Bóp, Bóp em Bóp» thì ở góc kia, cách xa chừng năm ba trăm thước có tiếng trả lời : «Thôi, thôi, thôi chị thôi». Trăm lần không sai một, hễ đàng này «bóp em bóp» thì đàng kia, «thôi chị thôi». Đó là hai con chim, một con trống một con mái. Hồi đầu hôm ở xa nhau, kêu sáng đêm, càng gần về sáng thì tụi nó cùng xích lại gần. Đến chừng anh nghe hai con kêu gom lại một chỗ, sáng rồi đó.
Theo đồng bào Thượng ở buôn Lý Lịch, họ nói thì tích hai con chim đó là do người ta đầu thai. Con chim «bóp em bóp» là chim trống. «Thôi chị thôi» là con chim mái. Hồi xưa, gia đình đó có hai anh em. Người anh cưới được cô vợ đẹp lắm. Chính vì cái đẹp đó làm mờ mắt người em nên một hôm người anh đi vắng, người em động lòng không dằn được nên ôm đại chị dâu mà bóp. Đúng lúc đó, người anh về nhà bắt gặp nên cô vợ xấu hổ, không minh oan được với chồng bèn chạy ra rừng thắt cổ chết. Người em trai cũng hối hận, xấu hổ với anh tự vẫn chết theo.
Trời thấy vậy, phạt hai người cho đầu thai làm hai con chim. Hễ đêm đến, gia đinh tề tựu đủ mặt, yên nghỉ thì hai con chim đó có bổn phận kêu lên cho mọi người biết hành động xấu xa của mình lúc còn sống để răn người đời.
Du cười. Tôi cũng cười và lấy làm ngộ nghĩnh về cái sự tích của đồng bào Tlượng đặt ra.
Du nói tiếp :
– Chưa đâu ! Nếu chiều nay tụi mình may mắn thì leo đồi Tam Cấp, hay đồi Trà Be sẽ gặp con chim «chính trị viên» nó kêu cho anh nghẹ.
Tôi hỏi lại :
– Chim gì mà chính trị viên ?
– Tụi này đặt tên mà! Tại nó nói chính trị, nó làm công tác động viên chính trị y như mấy ông chính trị viên nên gọi nó là chim chính trị viên.
– Nó nói chính trị như thế nào ?
– Anh coi, leo đồi, thứ nhứt là đồi Tam Cấp, mang nặng thở chẳng ra hơi, mồ hôi ra như tắm, hả họng rướn lên từng bước thì con chim đó, nó đậu ở trên cây nhìn xuống, cúi đầu gục gặc lia liạ. Vừa gục gặc vừa nói y như tiếng người ta nói : «Khó khăn khắc phục ! Khó khăn khắc phục». Nó làm như sợ mình thối chí, sợ mình ngại khó, ngại khổ, không biết khắc phục khó khăn. Mình mệt thấy mẹ mà nó làm như cha mình, chịu nổi hông?
Vui chuyện trên đường, tôi quên khuấy những phiền muộn, băn khoăn đã qua. Chỉ non hai tháng trời, kể từ ngày rời Sàigòn, biết bao nhiêu biến chuyển đã đồn dập xảy đến không ngừng.
Bây giờ tôi không còn là quân số của B2 mà là của B195 một đơn vị lạ hoắc, một B chuyên phá rừng trồng rẫy, sản xuất khoai mì, bắp và lúa dùng làm thực phẩm dự trữ chiến lược sau này.
Đang đi, tôi chợt nghe có tiếng người nói chuyện ở trong rừng phía trước, bên tay phải. Có lẽ có một con đường mòn ra vào một đơn vị nào đó. Đi lần tới, đúng là con đường mòn và có ba người, 2 nam, 1 nữ cũng vừa ra đến.
Du chợt reo lên :
– Ủa, Từ ! Tụi bây đi đâu mà giờ này lang thang ở đây sớm vậy ?
Cậu thanh niên đi đầu khật khưỡng, nhướng nhìn lên :
– Ờ !Du ! Tao với hai chư vị này ở văn phòng U.50 trở về B5 đây ! Quá mạng mậy !
– Gì mà quá mạng ?
– Bị bắt ! Từ chiều hôm qua tới giờ nhịn đói, cho muỗi cắn, thức sáng đêm nay ở tại cảnh vệ B1.
Du và tôi dừng lại, đứng đối diện với ba anh chị em chiến sĩ của B5. B5 tức Ban Quân Y, B1 là Ban Tham Mưu. Du xốc lại cây súng, ngạc nhiên :
– Sao lạ vậy ? Khó tin quá hạn?
Cô gái đội nón vải xanh, mập thù lù đứng cạnh lanh miệng nói hớt :
– Thiệt đó ! Anh Từ nói thiệt đó chớ hổng chơi đâu !
– Ai bắt ? Làm gì đến nỗi cả ba người cùng bị bắt?
– Ăn trộm mì! Mì ở rẫy 15 mẫu, ông Hai Cà ổng bắt chớ còn ai !
Từ giải thích thêm :
– Số là mấy ngày nay đám rẫy cấp cho B5, đào hết trơn mì rồi. Mót đi mót lại chẳng còn cái rễ con. Xin miếng rẫy khác, anh Ba Vinh B1 bảo chờ ông Hai đi công tác ở C101 về đã! Mầy coi, đói nhăn răng ra chờ ổng về, biết chừng nào ? Đi đào củ chụp, vùng này kiếm đỏ con mắt cũng không ra. Túng quá, tụi tao a thần phù nhảy dù vô rẫy mười lăm mẫu đào trộm.
– Hèn chi ! – Du nói- Nghe nói rẫy mười lăm mẫu thuộc thành phần dự trữ chiến lược, đã phổ biến lịnh cấm đào trộm rồi. Ông Hai Cà gặp hả ?
– Ừ! tại bà này nè !
Cô gái xì một tiếng :
– Xì ! Đổ thừa cho người ta hoài ! Tại anh chớ lại tui hả ! Tại anh nói chuyện om sòm. Đi ăn trộm phải im lặng, kín đáo chớ đâu lại la lối om sòm, có khác gì kêu người ta tới bắt.
– Nữa ! Coi ! Tại chị chớ tại tui ! Làm được ba bao bố đầy nhóc, phải thảy lên lưng cõng về thì êm rồi. Đằng này chị hổng chịu về, bảo ngồi nghỉ một lát. Bị nghỉ một lát nên đút đầu ra tới đường mòn thì gặp ông Hai Cà với hai chư vị bảo vệ ngồi một đống, chờ sẵn ở đám rau mui bên kia đường.
– Hứ ! Anh nói vậy mà nghe được ! Mệt thì nghỉ. Nếu anh không kể chuyện Tây du, Tôn Hành Giã đi ăn trộm đào, om sòm như cái ống loa thì còn khuya ông Hai Cà mới biết, rồi ngồi chờ tụi mình ra để nắm đầu. Ở giữa đám mì, còn khuya ổng mới biết.
Du cười :
– Căng ! Căng ha ! Mấy chư vị gặp thủ trưởng khu A có chạy đằng trời. Thế nào mực pa-ke cũng chảy tùm lum trên lý lịch cho mà coi. Ổng gặp rồi làm sao ?
– Tụi này xanh mặt quay đầu chạy chớ làm sao ! Nhưng ổng hét lên : «Ê ! Chạy đâu ? Đứng lại, mấy chú đứng lại! Chạy bắn gãy giò hết bây giờ» ! Tụi nay xanh máu mặt đành đứng chết trân, có dám cục cựa, nhúc nhích gì! Ổng xôm tới hỏi : «Ăn trộm cái gì đó ? Đâu bỏ xuống mở ra coi !»
– Chà cái mặt mấy chư vị lúc đó tốt dữ ! Rồi ổng dẫn về văn phòng hả ?
– Chớ còn gì nữa ! Dẫn về tới văn phòng, ổng bỏ ngồi chong ngóc ngoài hè, không thèm nói năng gì tới. Ổng đi ăn cơm. Trong khi tụi này không có cháo khoai mì mà ăn, đói nhăn răng ra, thấy ổng ăn cơm với cá trê nấu lá bứa thèm đứt ruột.
– Thôi đi cha non ! Cho xin đi cha ! Cha nói cái kiểu đó, đi giữ kho muối đa! Cha mà đi phân bì với Đảng ủy. Đảng có chính sách cán bộ, đãi ngộ khác nhau chớ. Bộ cá mè một lứa sao ?
Từ văng tục, cộc lốc :
– Phân bì cái mẹ gì! Mày hỏi, tao thấy sao nói vậy chớ phân bì gì ! Ăn rồi ổng ra lên lớp tui này nửa tiếng đồng hồ, nào là vô tổ chức, vô kỷ luật, không tuân hành triệt để chỉ thị của Đảng đề ra, làm nhục truyền thống giải phóng quân… Toàn là tội chết chém không hè ! Nói thiệt, lúc đó tao cũng run thiệt. Nhưng tao nghĩ dầu gì, mình cũng không ăn trộm cho cá nhân mình, cả đơn vị cùng hưởng, chắc ổng giáo dục, rầy la một hồi, bất quá cảnh cáo, ghi lý lịch rồi cho mình về. Ai dè, ổng ra lịnh «Mấy chú ngồi đó ! Chừng nào Thủ trưởng đơn vị mấy chú đến nhận khuyết điểm, lãnh mấy chú, chừng đó mới được về! Khoai mì thì trút bao ra giao cho cảnh vệ B1 xử dụng».
Cô gái cười :
– May! Trưa hôm qua, nhờ cảnh vệ B1 khi không được hưởng ba bao kloai mì nên họ đãi tụi này ; tha hồ ăn, bi nhiêu cũng được. Nếu không giờ này làm sao đi nổi.
Du le lưỡi, ngao ngán :
– Từ hồi trưa hôm qua tới giờ mắc kẹt ở cảnh vệ B1 ? Có vậy, từ rày thất kinh chưa ? Chư vị nào còn léo quéo vô rẫy mười lăm mẫu họa là gan trời.
Coi bộ Từ còn ấm ức :
– Cho tới chiều hôm qua, tụi này mắc kẹt ở cảnh vệ B1. Nhưng tới bữa ăn thì được lịnh cho về. Mà trước khi về bảo phải đi ra phòng thường trực ở đó, mỗi đứa phải viết cho xong bản tự kiểm đem nạp mới được. Ra tới phòng thường trực tối mò. Tụi thằng Bo ở phòng thường trực nó ăn chiều hết rồi. Làm tụi này nhịn đói chịu trận từ hôm qua tới nay. Ngồi viết bản tự kiểm nữa chớ ! Mười hai giờ đêm mới xong đó. Không mùng, không võng…
– Thôi, cha nội! Khuyết điểm cứ nhận. Cha ăn nói lang bang, cái đầu cha nó trùng xuống, tóc mọc không nổi đa ! Thôi, tụi tôi đi đây cha. Đi, lên B195 mà cứ đứng giữa đường nghe cha tố khổ, nửa đêm cũng chưa tới.
Du cười, tiếp tục bước đi. Tôi lẽo đẽo theo sau.
Leo lên dốc Trà Be rồi đồi Tam Cấp. Chà ! Dốc sao dài thế ? Hai chân tôi mỏi rụng. Mồ hôi tuôn ra như tắm, thở chẳng ra hơi. Dù vậy, nhớ tời chuyện Du kể ban sáng, tôi đưa mắt nhìn quanh xem coi có con chim «chính trị viên» nào «khó khăn khắc phục» hay không. Nhưng chẳng thấy bóng dáng nó đâu. Chỉ có những con mối càng to tướng, dàn thành bầy đông vô số kể, nghiến lá khô răng rắc, đều đều hai bên vệ đường.
Chiều tối thì chúng tôi đến căn cứ B195. Nói là căn cứ cho oai, thực ra chỉ mấy cái nhà con cất bên triền dốc cạnh con suối nhỏ. Du dẫn tôi vào đến nhà bếp, mắt đảo tới, đảo lui nhìn quanh như kiếm người.
– Nhà bếp, nhà ăn của B195 đây. Đâu mất hết rồi cà ? Bộ ở đây thiên hạ đặc ruột hết rồi sao, giờ này mà bếp lạnh tanh.
Đoạn Du chỉ mấy cái băng ngồi bằng những đoạn lồ ô ken lại :
– Ngồi xuống đó nghỉ một chút đi anh Hùng ! Khát nước quá, anh có khát không ?
Tôi gật đầu, ngồi thở dốc. Du chạy lại lên lò Hoàng Cầm giở nắp từng nồi nhôm, xem nồi nhôm nào chứa nước sôi. Nhìn theo Du tôi mỉm miệng cười và tôi cũng thấy đói một cách lạ lùng. Buổi trưa, có gì đâu ! Chỉ hai củ khoai mì luộc to bằng ngón chân cái, thay buổi cơm trưa cho đến giờ, trách sao chả đói.
Nhà bếp lạnh tanh. Du đem lại cho tôi một ca nước để nguội :
– Anh uống nước đi. Anh ngồi đây nghỉ chờ tôi một lát !
– Cậu đi đâu ?
– Tôi đi kiếm Hai Minh một chút. Chắc giờ này còn ngoài rẫy, chưa về quá ! Hai Minh là thủ trưởng B195 đó.
Có hơn 5 phút sau, Du quay trở lại với một cô gái quần xăn đến gối, rựa vác vai, khăn rằn cột đầu rìu. Cô ta nhìn tôi như một bà chủ nhà nhìn kẻ đến xin việc. Kiểu cách, kiêu kỳ dễ ghét làm sao. Cô ta nhìn tôi một lúc, chợt hỏi :
– Anh là tân binh mới tới hả?
Đúng là một câu hỏi trịch thượng vào hàng chị cả.
Tôi nghĩ thầm trong bụng, cô em có vẻ «địa chủ» lắm. Mặt mày sáng sủa, đẹp như nữ sinh Sàigòn sao em ăn nói nghe khó thương quá hay em cũng lại đang «ấm ức» như tôi nên «ngổ» cho đỡ ức ? Dù sao, tôi cũng lớn hơn cô em ít nhứt là nửa con giáp. Đừng vô phép thế chứ !
Tự dưng, tôi muốn phá lên cười nhưng tôi không dám cười, sợ họ ngỡ mình khùng, nên cái miệng tôi như mếu là cái chắc:
– Vâng!
– Anh tên gì ? Từ đâu đến đây ? Người tỉnh nào vậy ?
Tôi cười thật sự. Du cũng phá lên cười :
– Trời đất ! Đồng chí hỏi gì dữ vậy, người ta làm sao trả lời cho kịp ! Làm gì như… bà chằng lửa. Lính cũ ăn hiếp lính mới hả?
Cô ta cũng cười theo, cười thật thoải mái, tự nhiên :
– Ừ, đó ! Thôi thì… anh tên gì ?
Đầu óc tôi theo cái đà nghịch ngợm. Cái miệng có duyên thiệt, nụ cười đáng giá ngàn vàng chớ chẳng chơi. Cái mũi dọc dừa thanh và cao. Đôi mắt lá răm đẹp lắm cô em ạ! Giữa rừng núi… ừ nhất định là đẹp hơn Phà Ca sơn nữ giữa rừng sim của soạn giả Hà Huy Hà rồi. Nhưng cô em du côn quá…
-Ơ !Anh tên gì ? Hổng nghe tôi hỏi hả ?
– Dạ! Dạ tên Hùng. Vũ Hùng !
– Từ đâu đến đây ?
– Dạ, Sàigòn!
Đột nhiên mắt cô ta tròn xoe, sửng sốt. Tiếng nói cô ta thấp xuống, lạc đi :
– Anh ở Sàigòn ?
– Sàigòn ! – Tôi lập lại, gật đầu.
– Quê quán Sàigòn ?
– Không ! Quê quán tôi ở Mỹ Tho
Du dường như không nhận biết sự khác lạ và nét biến đổi nghịch thường đó, tiếp tục sự vui vẻ của cậu ta :
– Còn hết, hả đồng chí ? Sao không hỏi luôn coi năm nay bao nhiều tuổi, vợ con chưa, cha mẹ tên gì, anh em mấy người, nhà cửa làm ăn ra sao, cho nó đủ bộ ! Quả là công an đế quốc !
Trong một thoáng, cô ta như kẻ mất hồn, ngơ ngác, trở nên tư lự :
– Bậy hoài! Hỏi chi hỏi kỳ vậy. Bộ khùng sao anh Du!
Du ngon miệng tiếp theo
– Nè, anh Hùng ! Giới thiệu trước cho anh biết, 195… hì hì… cả hai tiểu đội nữ đó ! Nam chỉ có 4 chư vị thôi. Coi chừng… anh chết ngộp đó ! Ơ, anh Hai Minh đâu rồi chị ?
– Ảnh dẫn anh chị em đi xẻ thịt bò rừng ngoài rẫy lúa.
Mắt Du sáng rở :
– Ủa ! Bắn được bò rừng hả ? Sướng ! Phen này «quất» một bữa thịt bò cho đã! Trừ cái khoảng khoai mì luộc ra mới được.
– Làm gì có khoai mì mà trừ với không trừ ?
– Sao ? Vậy mấy người trên này ăn gạo à ? Sướng thiệt !
– Sướng cho anh chớ ? Ăn đọt kè nấu mười ngày nay, tụi tôi mắt thụt hết đây nè! Ở đó mà sướng.
Qua mấy câu trao đổi cô gái buồn buồn bảo tôi :
– Đơn vị đi vắng hết rồi anh. Chừng nửa giờ nữa thì anh chị em về tới. Anh mang đồ theo tôi lên trên này.
Cô ta bước đi trước. Tôi và Du bước theo sau, rẽ về căn nhà trước mặt chừng trăm thước.
Căn nhà trống trơn như những nhà khác ở khu A. Ở giữa nhà cũng có một chiếc bàn dài làm bằng tre, cột chôn xuống đất. Giữa bàn, một bộ tách trà sứt miệng ngã lăn chiêng. Tôi để bồng đồ đạc xuống băng ngồi.
Cô gái nói :
– Nhà này của anh Hai Minh và mấy anh ở đó. Anh gác bồng lên trên kệ kia.
– Vâng !
– Anh đến Khu A bao lâu rồi ?
– Gần một tháng rồi cô ! ·
– Sao anh xanh dữ vậy ?
– Sốt rét. Tôi vừa mới ở bệnh viện G2 ra chiều hôm kia.
Cô ta nhìn tôi một giây :
– Anh mới ra Viện, sao không nghỉ vài hôm chờ thực khỏe hãy đi ?
– Ai biết! Người ta bảo đi thì tôi đi. Có muốn ở lại cũng không được.
Giọng cô ta buồn buồn :
– Vậy chớ anh còn khá hơn tôi! Cái ngày tôi lên… tới phòng thường trực U.50, lúc đó còn đóng ở suối VênVên. Tôi đang lên cơn sốt rét lập cập, tôi còn phải đi thẳng về đây. Tưởng lần đó tôi đã…
– Cô đến đây năm nào ?
– Năm ngoái ! Tháng tám năm ngoái !
Như vậy cô ta đi trước tôi sáu tháng. Tôi mở bồng ra định lấy quần áo xuống suối rửa sơ qua, thay đồ sạch. Cô ta can ngăn :
– Anh giăng võng nằm nghỉ đi. Nhớ đừng có tắm. Anh mà tắm thì trúng nước, chết liền.
– Cảm ơn cô ! Tôi không tắm đâu ! Tôi chỉ rửa sơ, lau mình, thay đồ sạch thôi. Xin lỗi, cô tên gì nhỉ ?
– Quên, tôi tự giới thiệu anh. Tôi tên Hiền. Tên Hiền nhưng dữ lắm! Còn anh, anh thứ mấy ?
– Thứ tư, nhưng xin cô cứ gọi tên tôi. Vào đây, người ta hay gọi nhau bằng thứ. Nó đã trở thành một tập quán, thói quen theo kiểu ở nông thôn, bà con nông dân xưng hô với nhau.
– Gọi nhau bằng thứ, hay chứ anh? Nó có tính cách thân mật của gia đình. Tôi gọi anh bằng anh Tư. Anh Tư ở đây nghỉ nha! Tôi xuống bếp thổi lửa lên lần. Thịt sắp về tới rồi đó. Bữa nay tôi làm chị nuôi, trực nhật nên tôi ở nhà chớ không thì tôi cũng đi tải thịt rồi. Ở nhà còn một ít gạo, để tôi nấu cho anh một nồi cháo thịt thiệt ngon nhé !
Tôi xua tay lia lịa :
– Đừng ! Đừng cô Hiền ! Tôi…tôi…
– Không ! Bệnh mà ! Anh là bệnh nhân mà ! Gạo đó dự phòng dành cho những anh chị em nào bị bệnh. Tiêu chuẩn ở trên đề ra như vậy mà l
Hiền quay lưng bước đi :
– Nấu cho anh nồi cháo thực ngon, để lo lót anh kể chuyện Sàigòn. Gia đình tôi ở đó… ·
Tôi biết ngay từ lúc Hiền hỏi tôi từ đâu đến đây. Phản ứng sững sờ của Hiền dù chỉ trong một thoáng, tôi cũng đoán được nguyên cớ của nó. Và cũng từ giờ phút đó, thái độ kẻ cả, kiêu kỳ của Hiền biến mất, thay đổi thái độ đối xử với tôi ngay. Hiền không nói, nhưng bấy nhiêu đó đã nói quá nhiều. Sàigòn nhất định liên quan đến Hiền nhiều…
Tôi muốn hỏi thêm Hiền một câu nhưng Hiền đã đi xa. Nàng lầm lũi đi, cúi mặt nhìn xuống đất, rựa vẫn vác trên vai, lắc lư thân người mảnh mai, bé nhỏ, nhẹ nhàng nhịp bước theo lối quanh.
Tôi giăng võng xong, ôm đồ đạc mò xuống suối rửa ráy, thay đồ và giặt giũ. Cái mệt mỏi đến đờ đẫn sau cuộc đi xa, nước suối lạnh làm tan biến đi nhiều. Trong người tôi thấy dễ chịu hơn.