Bức Thư Bí Mật của cụ Huỳnh Thúc Kháng

Lượt đọc: 8505 | 3 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
TỔNG KẾT

Nói đã quá dài, rơm rác đầy trên mặt giấy, thảy là điều trên và mươi năm nay, tai nghe mắt thấy, ghi nhớ trong não, cùng do hoàn cảnh tiếp xúc, suy nghiệm và trực giác mà góp lặt, tạp nhạplộn xộn, không có mảy may tính chất khoa học, càng kéo càng dài mà tơ tằm còn nhiều mối chưa nhả hết. Cầm bút đến đây sực nhớ Cụ Sào Nam lúc mới đáp chân trên đất Nhật Bản (1906), có một ít văn kiện quan yếu, lược trích vài câu, thay lời tổng kết:

1.- ‘’Rời đất một tiếng khóc đã từng biết nhau, mắt đọc sách mười năm thành nhà thông gia’’ (lạc địa nhất thanh khốc tiện dĩ tương trị, độc thư thập niên nhãn toại thành thông gia).

Lúc mới đến Hoành Tân, đưa danh thiếp cùng bức thư cho Lương Khái Siêu Ẩm Băng Tiên Sinh (danh nhân Trung Hoa, sau cuộc ‘’Mậu Tuất Chính Biến’’ sang Nhật Bản làm chủ Tân Dân Tùng Bác), nhờ Lương giới thiệuvới các nhà yếu nhân dương đạo Nhật Bản, trên là một câu thống thiết trong bức thư đưa cho Lương.

2.- ‘’Chim con mất ổ, khách qua đường thấy mà nâng niu, trẻ con té giếng, người trông thấy ra tay cứu với, huống 20 triệu đồng giốngđương khát khao chờ trông kia’’ (số điểu thất sào, hàn giả vị chi noãn dực, nhủ tử nhập tỉnh, kiến giả vị chi thủ viên, huống nhị thập triệu ngao ngao đãi bô chi đồng chủng tai!).

Trên là câu mở đầu bức thơ dâng lên Bá Tước Đại Ôi Trùng Tín thủ lãnh chính đảng và nguyên huân Nhật Bản. Câu ấy tỏ tình cấp bức, cả tiếng kêu cứu vội gấp không chờ đợi lâu được và nước mắt cũng tuôn theo tiếng kêu...

3.- ‘’Qua rồi có lại, đạo đời dương giữa bỉ hết thái sang, có mãi không buông, lòng người cầm cả quyền thời trời lợi đất’’ (vô năng bất phục, thế đạo đương bi chung hái thỉ chi xung, hữu khuất tất thản, nhân tâm ống địa lợi thiên thời chi binh).

Câu mở đầu nói đại cuộc thời thế.

4.- ‘’Thịt đút miệng tham, quả hùm beo kia nào chán, lửa lan nhà lớn, e bầy sẻ hầu bị thiêu’’ (nhục hạm hung hào, quả sài langchỉ nan yểm, hỏa diên dại hạ, bi yếu tước chi tương phán).

Câu nầy tả tình trạng nguy khốn trong nước.

5.- ‘’Rửa cái nhục năm mươi năm nô lệ, đừng để nhớp trên sử xanh, dựng cái nền muôn ức thuở thăng bình, chỉ tin cậy nhau nơi lòng đỏ’’ (tẩy ngũ thập niên nô lệ chi tu, vô ô thanh sử, tạo ức vạn thế thăng bình chi nghiệp, sở thị xích tâm).

Trên là câu kết khuyên người trong nước.

Trên trích trong bài ‘’Kính cáo quốc dân’’ (năm 1906), câu giữa và câu kết 3 câu.

Ba buổi mai ngày xuân xin chúc lành (Tam triêu cốc dân, kỉnh chúc hường hy)

Thơ nầy viết xong và gởi vào ngày 1 tháng 1 năm Quý Vị (5 tháng 2 dương lịch năm 1943), ngày ấy người xưa gọi là ba cái buổi mai sớm,: Buổi sớm ngày, buổi sớm tháng và buổi sớm năm, nghĩa là ngày mới tháng mới năm mới.

LỜI BẠT

Bức thơ nầy nguyên thảo bằng chữ Hán, viết xong và gởi tại ngày 1 tháng 1 năm Quý Vị Âm lịch (5.2.1943) trước Tiếng Dân bị đình bản gần 3 tháng (28.4.43) và trước cuộc đảo chính (9.3.45) trên hai năm.

Trong hai năm đó, đối với thời cuộc, tôi có cái nghĩa cụ nghiêm giữ bí mật, chưa tiện công bố. Nay thời cuộc thay đổi mau chóng (1), tháng khác mà năm cũng không đồng. Đồng nhân nhà in Tiếng Dân cùng một và bạn tương tri, khuyên tôi dịch bức thơ nầy ra Quốc văn đặng ấn hành, lưu tấm ảnh phản chiến về thời kỳ ấy và cung một món tài liệu cho nhà sử ngày sau.

Nể ý các bạnnói trên, tôi tự xét đời sống sót sau vận kiếp nầy, không làm gì bổ ích cho đời, chỉ lưa cái trách nhiệm cỏn con là nhà học giả đối với quốc dân, không dám không gắng. Vả chăng, có bức thơ nầy với trạng thái trầm muộn trong thời kỳ hai năm trước cuộc đảo chính, có thể bỏ một vài chỗ thiếu cho bức thơ trả lời chung (2) mới công bố đây.

Vì cớ nói trên nên tôi cho phép nhà in Tiếng Dân ấn hành (3).

Biết tôi chăng ? Hay lại tôi chăng ? Người sau tự có tâm nhân, tôi không thể biết chỗ đó. Chỉ mong bạn đọc xác nhận bức thơ nầy thuộc về thời dĩ vãng, không phải chỉ vào hiện tại và tương lai, thế là đủ.

Thuận Hóa ngày 16 tháng 6 năm 1945

Minh Viên lai ghi

Chú Thích:

1.- Tức cuộc đảo chính 9.3.45.

2.- Sau cuộc đảo chính Nhật ở Đông Dương ngày 9.3.45, Cụ Huỳnh Minh Viên vẫn giữ thái độ bình tĩnh, lại không nhận lời mời của người Nhật và chánh phủ đương thời ra tổ chức Nội Các, nên anh em xa gần khó hiểu thái độ Cụ đối với thời cuộc, hằng ngày có không biết bao người tới nhà riêng Cụ hỏi dò ý kiến, khiến Cụ không thể trả lời riêng từng người một, phải có ‘’Bức thơ trả lời chung’’ hay là ‘’ý kiến tôi đối với thời cuộc’’. Sau đó nhà in Tiếng Dân có xuất bản đề là ‘’Ý kiến Cụ Huỳnh Thúc Kháng đối với thời cuộc’’.

3.- Năm 1946, nhà in Tiếng Dân có lấy một đoạn trong bức thơ nầy in thành sách.

Nguồn:

Sách do Bác Sĩ Hà Ngọc Thuần

QY13HD, Úc Châu 17 Feb 2015

biếu Quán Ven Đường

http://ndclnh-mytho-usa.org/KhoSachCu/Buc%20Thu%20Bi%20Mat%20cua%20Cu%20Huynh%20Thuc%20Khang_.pdf

« Lùi
Tiến »