Bức Thư Bí Mật của cụ Huỳnh Thúc Kháng

Lượt đọc: 8503 | 3 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHÍNH SÁCH THỐNG TRỊ VIỆT NAM
của người pháp cùng thủ đoạn diễn tấn (1854-1942)

Lịch sử cách mạng Việt Nam dưới thời thuộc Pháp, vẫn theo thời thế mà khi ẩn khi hiện, lúc trồi lúc sụt, như bốn thời kỳ đã kể trên, người Pháp biết rằng không trừ diệt giống dân nầy thì không thể nằm gối cao mà yên giấc được, nên chánh sách cai trị của nó cũng theo tình thế mà diễn tới, có thể chia ra 4 bộ sậu như dưới:

BƯỚC THỨ NHẤT

(1854-1864)

 

I.- Phong tỏa bốn mặt tuyệt hẳn đường giao thông với nước ngoài.

 

Đầu tiên bước chân đến chinh phục xứ nầy thì liền chiếm đoạt xứ Nam Kỳ Lục Tỉnh làm nơi căn cứ quân sự, kế đó xâm chiếm Bắc Kỳ, dòm dõi Tỉnh Vân Nam nước Tàu, bức Triều Đình Mãn Thanh thủ tiêu ấn ‘’Việt Nam phiên thuộc’’ đồng thời cùng nước Anh ở Diến Điện ký ước nhận nước Xiêm La làm khu hoãn xung, rồi chiếm đoạt cà Cao Miên và Ai Lao. Bốn mặt phong tỏa, thế là toàn cõi Việt Nam thành như con cá trong nồi, tự ý cất nấu. Đó là bước thứ nhất.

BƯỚC THỨ HAI

II.- Chia rẽ xu vức, phá cái nền nhứt thống sẵn có.

 

Sức đồng hóa của dân tộc Việt Nam rất mạnh. Nam tiến chưa bao lâu mà cả hai xứ Chiêm Thành, Chân Lạp vào bản đồ đất nước nhà, lại đồng hóa cả dân tộc (không chỉ người Chàm, người Tàu sang xứ ta, phần nhiều người Minh Hương thành người Việt Nam không phân biệt). Ngôn ngữ, văn tự, phong tục, lễ giáo như một lò đúc ra, sỗ sáng thành một dân tộc lớn. Người Pháp biết rõ dân tộc ấy không dễ gì cai trị được, nên chia toàn quốc làm ba xu vức và dùng chánh sách giảo quyệt khoa khéo để làm cho phân rẽ nhau.

Nam Kỳ thì nhận ngay làm xứ thuộc địa thực dân, lúc mới chinh phục nhân dân vẫn nhớ mến nước cũ, cho Nam Triều đặt quan lãnh sự. Người nước Việt Nam làm quan tại đất Việt Nam mà, như là đối với xứ nước ngoài (ông Nguyễn Lập và Nguyễn Thánh Ý làm chức lãnh sự đó sau bị đuổi về).

Bắc Kỳ với Trung Kỳ thì vạch làm xu vức Bảo Hộ để tiện việc thao túng, Bắc Kỳ đối với Nam Triều, chỉ lưu mấy việc như ban chức tước, tặng phẩm hàm, (kiểm duyệt thời Nhật thuộc bổ) nhưng quyền chính thì theo lệnh Thống Sứ. Đầu tiên có đặt ‘’Bắc Kỳ Kinh Lược Nha’’ (trước thì Nguyễn Hữu Độ, kế thì Hoàng Cao Khải làm Bắc Kỳ Kinh Lược, quan tối cao của Nam Triều, Nam quan đều thuộc dưới quyền Kinh Lược). Rồi vài năm sau tiệu xong đảng cách mạng Cần Vương thì Kinh Lược Nha bãi bỏ, Bắc Kỳ thuộc dưới quyền Thống Sứ, từ việc dụng nhân hành chính, đến việc binh, việc tài, đều vào tay người Pháp. Nam Triều không được hỏi đến, tên là bảo hộ, thực là chủ nhân.

Khôn khéo và hiểm độc nhất là đối với Trung Kỳ dưới quyền nội chính Nam Triều: Trung Kỳ là Thủ Đô Nhà Nguyễn, trên 300 năm, văn hóa, lễ giáo dầm thấm vào lòng dân không phải một mai một chiều, từ sĩ phu Hán học cho đến bọn nông dân dưới thôn dã, quan niệm ‘’trung quân thủ cựu’’ rất là dầm thấm. Bọn thượng lưu khoa giáp chiếm vị trí có thế lực trong xã hội dân gian quý chuộng đã thành tập quán. Người Pháp biết dân tâm sĩ khí không thể thay đổi chóng được, bèn thi hành chính sách che tai đậy mắt, cố duy trì cái chánh giáo hũ bại cố hữu đó mãi. Triều đình thì trau dồi cái cảnh tượng thái bình thong dong múa hát, sĩ phu thời khoa danh hàm phẩm, chuộng bả phù vinh, đến trong dân gian thì ù ù cạc cạc, ngoài việc cày bừa xâu thuế, tuyệt nhiên không biết chuyện mất nước là gì, chưa nói cả triều đã trên dưới mù với đại cuộc ngoài thế giới là khác nữa.

Chánh sách ‘’chia rẽ ba kỳ để dễ cai trị’’, khiến cho một nước mà chính thể khác nhau, đồng một dân tộc mà nặng bên nầy lên, dân bên kia xuống, làm chia rẽ lìa tan rất dễ dàng. Chỉ trong vài ba năm, người Nam Kỳ gọi người Trung Kỳ là ‘’ghe bầu’’, gọi người Bắc Kỳ là ‘’dân cộc kệch’’, còn người Trung-Bắc gọi dân Nam Kỳ là ‘’người Đồng Nai’’. Người một nước mà đối với nhau như người nước ngoài. Cái thủ đoạn tiêu diệt lòng ái quốc cùng phá hoạicơ cuộc thống nhất của nước Việt Nam, công xảo đến thế là cùng.

Mà đã thôi đâu! Xứ Cao Miên trước thuộc dưới quyền bảo hộ Việt Nam, vùng Thượng Hạ Ai Lao dời Đô đã dùng làm nơi căn cứ dựng lại cơ nghiệp trùng hưng, sau Pháp đã đoạt được Miên-Lào hai xứ rồi, cho rằng dân hai xứ ấy không làm hại lại dễ sai khiến, vừa dễ nuôi nấng, dễ lòng giúp giùm đặng tùng trung ly dán, khiến cho dân Miên-Lào trở lại cừu thị người Việt Nam. Sao vậy ? Vì người Việt Nam trong cõi Đông Dương cũng như cái đinh trước con mắt người Pháp, không cào thấp đè nặng dân Việt Nam làm giống nô lệ, không thể ngồi yên được.

Than ôi! Chánh sách người Pháp rõ khốc hại thật! Mà những bọn vì người Pháp ra tay gắng sức, tiêu trừ giống cách mạng Việt Nam, như Đốc Phủ Nam Kỳ, Tiệu Phủ Sứ, Kinh Lược Nha (Nguyễn Thân, Hoàng Cao Khải) người Trung Bắc Kỳ là tay gộc đấy. Trương Hoằng Phạm khắc bia ở núi Kỳ Thạch ghi công ‘’diệt nước Tống là con người Hán, đâu phải con người Hồ’’ (Huề công kỳ thạch Trương Hoẵng Phạm, bất thị Hồ nhi, thị Hán nhi) Câu thi chua xót đau đớn của Trần Bạch Sa đề núi Nhai Sơn, nào chỉ khóc cho con người Tống mà thôi đâu (1). Đó là chính sách thống trị của người Pháp bước thứ hai.

Chú Thích:

1.- Trương Hoằng Phạm, người nước Tống, làm tôi quân Hồ-Nguyên, đem quân đuổi diệt vua tôi nước Tống, lúc chạy núp ở Nhai Sơn. miền biển Tỉnh Quảng Đông, có khắc bia chạm mấy chữ ‘’Trương Hoằng Phạm diệt Tống ở đây’’. Trần Bạch Sa danh nhân đời Minh, đề bài thi có câu trên tỏ lòng đau đớn cho cái thảm kịch ‘’giống nòi hại nhau’’.

BƯỚC THỨ BA

 

III.- Mở kinh thông nước lụt, xoay chuyển thị tuyến của dân chúng, phá chìu xu thế ‘’Hoàng chủng nhất trí Á Đông’’

Chánh sách ‘’tỏa bế’’ cùng ‘’phân ly’’, vẫn có thu được hiệu quả trong một khoảng thời gian, hơn nữa dư đảng Cần Vương trong nước, tiêu trừ gần hết, không còn làm mối lo cho nó nữa, những tay gộc có công to trong vụ trừ diệt cách mạng đảng, người Pháp bèn thu cả bính quyền ban cho cái địa vị tối cao trong Nam triều ở trong quyền chỉ huy của mình (Nguyễn Thân thăng Cần Chánh, Hoàng Cao Khải thăng Võ Hiền, hai chức cự phẩm triều đình), tự lấy làm đắc kế, gối cao ngủ yên, không lo ngại gì nữa, mới bắt đầu cải cách thuế lệ ở Trung Kỳ, ưu cấp lương bổng cho bọn quan lại, thực hành cái chánh sách ‘’phò thực thiểu số, đảo áp đa số’’. Không dè ngọn triều Tây Âu tràn sang phương Đông. Ba Đảo Phù Tang lanh chân bước trước, có trận Trung-Nhật Chiến Tranh (1894), tiếp đó Trung Hoa có cuộc Mậu Tuất Chính Biến (1898), Canh Tý Liên Binh (1906), phong triều duy tân cải cáchlọt vào nước Việt Nam ta, mà trận Nhật Bản thắng Nga (1904) khêu dục người nước ta nảy ra cái tư tưởng ‘’tháo củi sổ lồng’’ Tức thời ở trong thùng kia bọc sắt, đột nhiên mở ra một đường huyết lộ ‘’Đông học’’, ba kỳ hưởng ứng, cả nước như sôi, có cái khí thếtràn khắp như nước lụt vỡ đê, làm cho cái chính sách ‘’ngăn lấp’’ cùng ‘’chia rẽ’’ của người Pháp mất cả hiệu lực...Tuy xảo quyệt tối cao của nhà chính trị quân buôn, trương mắt ngồi nhìn, lo tính kế sách để đối phó.

‘’Nhật Báo Hải Phòng’’ Chủ Bút là người Pháp, có bài đại luận đầu đề ‘’Hiện Tượng Xứ Đông Dương’’, trong nói việc binh sự chính trị rất tường, sau kết luận:

‘’ Ngày nay xem dân xứ nầy như dân dã man hay sao ? Chúng nó dẫu không tròng cái gương duy tâm thành hiệu của Nhật Bản, ít nữa cũng trông cái gương sắp thành chưa thành của Trung Hoa. Văn minh Âu Châu tràn sang phương Đông, nay đến lần tới nước Việt Nam đây. Nhà đương cuộc cần phải xem xét thẩm thận...’’

Đọc đoạn trên, dầu là một phái dư luận của người Pháp, song cũng chứng rõ cái trạng thái thương hoảng lúng túng của nhà chính trị đối với thời cuộc.

Thuế mới thi hành, (công sưu, ngân sưu, điền thổ, tái đạc), cái đau cắt dạ, quân dân dần dần tỉnh giấc, người Pháp bèn bỏ chánh sách ngăn che như trước, mở ra nẻo đường mới. Bề ngoài thì trương cái bảng quảng cáo ‘’khai hóa’’, bề trong thì thi hành cái chánh thuật ‘’dối dân’’, nào đổi phép thi, thay giáo khoa, nào mở trường học, bỏ Hán học, du nhập Âu học, mở báo quán v.v...cho đến du học bên Pháp cũng mở cửa hoan nghinh, các sách danh nhân Pháp như ‘’Dân Ước Luận’’ của Lư Thoa, ‘’Vạn Pháp Tinh Lý’’ của Mạnh Đức Tư Cưu cũng cho người Việt Nam xem đọc tha hồ. Nói tóm lại là công việc khai hóa giả dối đều hãm cái thuốc độc ‘’nhồi sô thay lòng’’ rời văn hóa phương Đông mà xoay tai mắt chú trọng về Âu Tây:

a.- Diệt trừ giống Hán học làm cho lịch sử văn hóa cố hữu Việt Nam có quan hệ với Nhật Bản, Trung Hoa, một lưỡi dao cắt dứt.

b.- Nâng cao văn hóa Âu Tây, phô rằng Nhật Bản bắt chước mô phỏng theo người Âu, chỉ học được ngành ngọn Âu học, còn nước Pháp là đất tổ đẻ ra văn minh rực rỡ..., đặng người Việt Nam xu vào một con đường say mê vật chất, sùng bái người Âu đến cực điểm (Báo Nam Phong là bảng chiêu bài, còn nhiều báo khác làm quảng cáo cho đường Âu học đó).

c.- Lợi dụng môn học Quốc ngữ mà người Việt Nam mới xu hướng, túng dũng phái Tây học vô thức dịch những tiểu thuyết lãng mạng và cực lực biểu dương truyện Túy Kiều là thứ thổ sản ‘’hồi dâm đạo dục’’.

d.- Mở trường Hậu Bổ đào tạo thứ nhân tài ‘’đầy tớ tay sai’’ thả khắp trong quan trường cả trong lẫn ngoài, lần lần thay cả ban cựu Hán học, thành ra một giống nhân vật ‘’không Á không Âu, giở mới giở cũ’’,

(bị kiểm duyệt thời Nhật thuộc bỏ một hàng).

Trên là những việc dễ nhìn thấy. Trong thời kỳ ấy đối với nhà lãnh tụ cách mạng Sào Nam và Tây Hồ, dò xét tìm tòi theo hành động từng tý, ngoài thì rõ hiệp, trong thì thảm du, khêu bát chia rẽ đủ cách, song cái nghề sơn quỷ có hạn mà nhà thầy tu núi không nghe không thấy, không biết đâu mà hờ, không làm sao chuyển động được cái lòng sắt đá của hai nhà ái quốc đó. Điều nầy không chỉ bọn bàng quan bị nó che đậy mà hiểu sai cho đến người trong đảng cũng bị nó phỉnh gạt mà nhận lầm.

Từ có tiếng bom nổ ở Bắc Kỳ (Thái Bình), Cụ Sào Nam nhịp ấy bị giam ở Quảng Đông (Long Tế Quang bắt giam). Kế đến cuộc Âu chiến, Cụ Tây Hồ bị giam ở Paris, mà trong nước còn có tấn kịch hoạt động ‘’Duy Tân’’, ‘’Thái Nguyên’’ (1916), người Pháp biết rằng phần tử cách mạng Việt Nam chưa dứt giống, sau Cụ Sào Nam được ra khỏi ngục (Long Tế Quang bị Hộ Quốc Quân Vân Nam đuổi chạy mới tha Cụ),người Pháp thả bọn trành hồ rinh theo dò thám, xem xét hành động thế nào. Đồng thời trong phái Đông học có mấy cậu về thú, nó mới lợi dụng bọn ấy để dẫn dụ, đem cái mồi thơm ‘’ngôi cao lương nhiều’’ cùng ‘’tiền bạc ưu cấp’’ câu nhà cách mạng, chúng đến bị Cụ Sào bác khước (chuyện nầy do người Pháp...mang thơ Toàn Quyền Sarraut sang Tàu nhờ bọn Đông học đã ra thú làm môi giới, cùng Cụ Sào Nam mở cuộc hội đàm, trong bản Tự Phán của Cụ thuận rõ đầu đuôi câu chuyện).

Kế đó bọn ra thú trên, dùng thuyết ‘’Binh pháp dụng giàn’’ trong ngoài nên câu thông nhau, lừa phỉnh khuyên Cụ viết bản ‘’Pháp-Việt Đề Huề Chính Kiến Thơ’’ (1918). Trong lúc cùng sầu buồn bã, Cụ có bản đề huề đó, chỉ cốt bán văn lấy tiền, như Hàn Dũ soạn bia dua lấy tiền nhuận bút thế thôi. Vì bình sinh Cụ có chỗ sở đoản là ‘’cốt mục đích không cần thủ đoạn’’.

(Bị kiểm duyệt thời Nhật thuộc bỏ 2 hàng)

Không ngờ cái thơ‘’đề huề’’ đó, người Pháp trở lợi dụng làm món lợi khí xoay chuyển tư tưởng ‘’bài Pháp’’ của quân dân sang hướng khác. Nhưng còn chưa lấy làm vừa lòng, sau cùng nó bèn dùng đến thủ đoạn hèn mạt ‘’bắt người giữa ban ngày’’. Cụ ăn năn đã không kịp. Song sau Cụ về nước mà được tha, thơ ‘’đề huề’’ trên vẫn có chút hiệu lực.

Cụ Tây Hồ ở bên Pháp, nó cũng hăm dọa, dụ dỗ đủ cách mà không lay chuyển được, bèn vu cho cái án ‘’tiền thông với người Đức’’, bắt giam vào ngục...Sau ra ngục lại tước đoạt cả sanh kế, làm cho cùng vô sở xuất. Bức thơ ‘’7 điều’’ gửi cho Vua Khải Định lúc sang Pháp, càng làm cho phái nghịch nghi kỵ thêm lên. Đến ngày Cụ về, trong túi không có một xu, nhờ có 5, 3 đồng bào bên ấy giúp cho nhiều ít, không thì đã làm cá khô dưới vũng bánh xe rồi. Người Pháp biết có về trong nước cũng không hành động gì được nữa nên cho về, lại có ác ý là mượn tay khác làm hại cũng nên. (Cụ với phái quan trường Việt Nam là kẻ thù độc nhất kia).

Đó là bước thứ ba chính sách ly dán đảng cách mạng Việt Nam cả trong lẫn ngoài, tấn triển một bước rất dài.

BƯỚC THỨ TƯ

IV.- Bủa dăng lưới bẩy, thiệt hành chính sách tỉa giống tốt để giống xấu

 

(khứ lương lưu sữu)

Hán học tiêu diệt như thế kia, Âu học trẻ non như thế nầy, lại thêm phương thuật ‘’rán dầu ép mỡ, nhồi so đổi lòng’’ rất mực châu đáo. Sau trận thắng Đức, 2 nhà lãnh tụ cách mạng Việt Nam về nước, rủi Cụ Tây Hồ qua đời, Cụ Sào Nam lại như chim vào lồng, ngoài ra các bọn cách mạng cũ, hoặc ra ngoài, hoặc bị tù tội, có bọn được ân xá, thay mặt đổi lời, đua hót đặng kiếm một chút quan...Kiêu khí người Pháp đã vụt cao lên đến chín tầng trời, có thể vuốt râu cả cười: ‘’anh hùng đều vào khuôn ta cả’’ (thiên hạ anh hùng tận nhập ngô câu trung hỷ).

Nhưng nào có biết việc trên đời thường hay lọt ra ngoài ý liệu thông thường, con nhà thầy thuốc giỏi hay chết vì bệnh, con nhà đồng bóng hay chết vì ma quỷ, hình như bác trời già kia có ý làm trò giỡn để trêu người.

Đứng giữa bầu trời đất vui mừng, trường hát như rừng, tiệc rượu như mày tuôn, tiếng ca tụng như sấm dậy, cùng nhau vỗ tay hò reo, mà ngấm ngầm trong khoảng không vô tình, nào nước ‘’Ô thác’’ của lý tưởng Mã Khắc Tư, nào chính phủ lao nông thực hiện của Lê Ninh, đất bằng vụt dậy, thừa chỗ chóng hở mà xông vào. Phần tử Âu hóa nước ta cả trong lẫn ngoài, bị tấn kịch mới khích thích một cách khá mạnh, gồm thêm một vài bọn cựu đảng cùng bọn công nhân lao động hợp thành một khối, tạo ra cái phong triều biến tướng to tác. Trên mười lăm năm lại đây nào giai cấp đấu tranh, nào lao tư xung đột, nào đình công, nào biểu tình, hầu như gió cuốn khắp trong nước, làm chính sách của người Pháp từ trước đến nay, toàn không chút hiệu quả gì cả. Cách đối phó đã cùng, không biết làm thế nào, bèn thẳng tay thì cào dẫy đi mà phù thực giống xấu, không còn khiêng kỵ gì cả.

Thứ chánh sách nầy, nhiều như lông trâu, dày như lưới nhặc, không sao kể xiết, xin nói đại khái:

a.- Số dinh mỗi năm mỗi tăng, điền thổ dạc di dạc lại, khai khế, họa bản đồ, phát giấy trích lục, tăng số sào mẫu, bắt buộc nạp tiền không biết mấy lần, lại gia số tỷ lệ, trên số tỷ lệ lại gia thuế tỵ lệ chồng thêm lên. Bọn công nhân mỗi tháng 10 đồng, 12 đồng, dân nghèo có sào ruộng cũng không tránh khỏi nạn ‘’lửa thành ao cá’’ (thành món thất hỏa ươn cập tri ngư).

b.- Trồng thuốc, dồn của đều bị hạn chế, điều lệ thương chánh kiểm lâm, mù như khói biển, dân quê không biết đâu mà tuân theo, động chút là tịch thu, phạt tiền (trồng thuốc, đất trồng bao nhiêu sào mẫu, hái vào số thuốc được bao nhiêu, toàn thuốc lá bán được bao nhiêu, thuốc xắt bao nhiêu, Tòa Thượng Chánh phát một quyển sổ nhỏ, nhà trồng thuốc buộc phải mua gạo đổi muối, bị phạt luôn luôn).

c.- Luật vi cảnh thi hành trong hương thôn, Phủ, Huyện như Tòa Cảnh Sát ở thành phố. Bọn hào mục bất lương, mượn cớ làm rối dân quê, bất luật việc gì, đều dùng điều luật ‘’vi cảnh’’ làm lưới bủa dân, giải quan trình phạt, nha Phủ Huyện có quyền được thâu khoản phạt từ ba đồng trở xuống, đồng niên Phủ Huyện nào thu được số bạc phạt ‘’vi cảnh’’ nhiều, ấy là vị quan tốt. Luật buộc lãnh rượu, bắt dân mua rượu ty càng gắt hơn.

d.- Luật mời đặt những khoản phạt như cái cân không ‘’chi’’, ‘’sao’’, đồng một cái án mà phạt từ 80 đến 800 đồng, hoặc từ 100 đồng đến 500 đồng, giam từ ba tháng đến một năm, hoặc một năm đến năm sáu năm, quan tòa tự ý muốn kết án nặng nhẹ, cao, thấp tự tay, dân không chỗ kêu van gì được.

e.- Thuế môn bài các nhà buôn cả lớn và nhỏ ở thành phố, mỗi năm mỗi tăng, thuế chợ cũng thế, cái đó cố nhiên phải chịu. Đến như nông dân cùng túng trong thôn quê, lúc mùa nông rảnh, có món thổ vật chè cau rau quả v.v...buôn bưng bán xách, cùng tấm lều bán nước chè củ khoai, cũng buộc phải lãnh môn bài chịu thuế, như bữa nay bán con gà trứng vịt, ngày mai bán nhắm rau, nghề vụn vặt không chuyên nghiệp cũng phải nộp thuế môn bài.

g.- Qui điều hạn chế trẻ con vào trường học, rất là nghiêm mật hơn tù tội nhà ngục, học sinh con con mỗi năm mỗi đổi giấy khai sinh, giấy khai sinh do lý trưởng làng sinh đóng dấu ký nhận, lại buộc phải có chữ ký và áp triệu của Công Sứ Tỉnh, lại buộc có giấy khai tinh hạnh, ở ngụ nhà nào, người nào bảo lãnh, các món giấy ấy đều phải dán con tem, tuổi học trò theo niên hạn đã định, nếu trồi sụt một hai tháng cũng cho là bất hợp lệ, bác khước đi không được vào học.

Ngoài ra có chút sanh kế gì gì trong dân gian đều can thiệp đến bắt từng đầu ngườithu từng thùng lúa, thậm chí cày ruộng nhà mà không biết số lúa thu hoạch mình có được ăn hay không. Bất luận món sản nghiệp gì đền hiện cái tình trạng khủng bố như thế. Trong khoảng ‘’Lao tư xung đột’’ (1936-1937), báo chí khỏi kiểm duyệt hơn một năm, những tiếng kêu oan gọi khuất trong dân gian, còn cáo tố được một hai điều trong phần trăm, gần mấy năm nay thì không biết kêu gào cửa nào, toàn trong nước đều thành như ‘’đứa câm ăn Hoàng liên’’ (á tử ngật Hoàng liên).

Trong thời kỳ ấy, chánh thuật thống trị thay đổi diễn tấn có vài tấn kịch, khiến người ta không sao quên được.

1.- Hai Cụ Sào Nam, Tây Hồ về nước, quốc dân đương ôm lòng quan vọng, đồng thời Vua Khải Định thăng hà (1925), Đức Bảo Đại lên ngôi mà tuổi nhỏ, còn du học bên Pháp, nhà chính trị Pháp lo ngại e dân gian có sự tác động rắc rối, bèn bức Quan Cơ Mật Nam Triều (tức Nội Các Thượng Thơ) cùng ký một hiệp ước, tước cả cái chủ quyền cỏn con còn sót của Nam Triều, đổi cuộc ‘’Tư phỏng’’ làm Nhân Dân Đại Biểu Viện, giã phó cái tiếng đẹp. Trong hiệp ước có điều:

‘’Cho nhân dân có quyền tham gia chính trị’’. Hiệp ước mới (1925) ban bố, bọn thanh niên Âu học tỏ tình hoan nghinh, phái cựu học có tri thức cũng nhận rằng có cái cơ quan nghị chánh cỏn con hoặc giả có thể giám đốc bọn quan lại, nhân dân đỡ phần nào hay phần ấy. Không dè dân biểu mở hội đồng 1, 2 lần toàn lộ cái chân tướng ‘’phỉnh giới trẻ con’’, người có danh vọng, phủi áo bỏ ra, không bao lâu Viện Dân Biểu trở thuộc dưới quyền Bộ Lại, không còn ý nghĩa gì cả mà mỗi lần đến khóa tuyển cử, chia bè lập đảng, vận động tranh cử, nhứt là tranh chức nghị trưởng cùng ban trị sự, mấy cái ghế có xu diễn ra lắm điều xấu xa. Rán ép dầu mỡ nhân dân, một năm không dưới vài chục vạn để cung vào món trang sức phẩm ‘’giả mạo dân ý’’, gần đây đã thành vật bỏ đi.

Đó là bài hịch ngu lộng nhân dân.

2.- Nội Các Nguyễn Hữu Bài gần hai mươi năm, Thượng Thơ sáu Bộ, có cả người Hán học cựu và Tây học, vẫn tay tầm thường dung tục, không thi thố ra câu gì, song còn duy trì chút thể diện bên ngoài của Triều Đình cũ, chút quyền đối nội, gặp việc còn dám thương lượng lại một đôi điều. Từ ngày 2 tháng 5 năm 1933, có tấn kịch‘’Năm Cụ không ngã cái inh’’, chỉ để một người Tây học trẻ tuổi (thông dịch xuất thân), còn năm Cụ bị về đổi năm người mới, Bộ cũ mà đổi tên mới (trước gọi Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công 6 Bộ, nay đổi Nội Vụ, Giáo Dục, Tư Pháp, Công Tác, Tài Chính, Lễ Nghi), lại thêm Bộ Kinh Tế.

(Kiểm duyệt thời Nhật bỏ 2 hàng)

Hội Đồng Thượng Thơ do Khâm Sứ chủ tọa, lại thêm chức Thượng Thơ dân biểu, mỗi tháng cấp bổng 400$ (hai năm sau mới bãi), từ đó chính phủ Nam Triều còn mỏng manh như một sợi tơ, thành ra phòng giấy phụ thuộc Tòa Khâm Sứ, việc gì cũng có Tòa Khâm đưa sang, Nam Triều chỉ ký tên.

Đấy là ác kịch ngu lộng Nam Triều.

3.- Trước kia các Tỉnh, Đạo, Phủ, Huyện, còn có cựu ban Hán học, bọn nầy vô tài ít học, thảy ngồi ăn lộc không làm được việc gì hay giỏi, nhưng còn có người không dám làm điều ác, vì chữ Pháp chỉ học hiểu chút ít việc gì giao thiệp còn nhờ bọn thông dịch khó trực tiếp được nên có chỗ kiêng sợ. Nay bọn mới Phủ, Huyện từ trong lò nô lệ đào tạo ra (có khoa thi tri huyện), đã luyện thành tánh cách thứ hai, thù phụng ứng đối giao thiệp là ngọn sở trường, lại thêm mặt nạ văn minh để giúp che bề ngoài, bọn ấy thả khắp châu quận, như thả hùm beo vào trong bầy dê, chọn con nào mập béo là ăn thịt, không việc gì là không làm được.

Đó là kịch mới trong nô trường.

4.- Dân Tộc Việt Nam có một ngôn ngữ, đồng một phong tục lễ giáo, không có gì khác nhau, người Pháp chia ra Nam, Trung, Bắc 3 xu vức, thi hành cái chính sách so le để chia rẽ ra, thuật ấy đã xảo quyệt lắm rồi, mà đã đủ đâu! lại lập ra chính sách ‘’liên bang’’ ba xứ Trung, Nam và Bắc Kỳ Việt Nam cùng Ai Lao, Cao Miên, sắp hàng ngang nhau làm 5 xứ (bang) thuộc dưới quyền Hội Đồng Chính Phủ Bảo Hộ Pháp. ‘’Dưới chia rẽ nhau thì trên được an’’, người Pháp quen dùng thuật ấy đã lâu mà rõ rệt là chính sách ‘’liên bang’’ đó. (Người Pháp đối với lính tập Việt Nam, có việc gì làm ra đối ngoại như hai cuộc Âu chiến v.v...lại phó thực lính Miên, Lào để phòng ngự người Việt Nam, ngày nay còn thế. Vì chuyện đầu độc Hà Nội cùng phá ngục Thái Nguyên, vụ bạo động ở Yên Bái, các hoạt kịch trên, người Pháp rất ghét lính Việt Nam).

Đó là tấn kịch việc thống trị.

5.- Mấy năm trên, phong triều công sản từ xứ ngoài tràn vào, mà mạnh nhất là trong có người Pháp cổ động và biểu đồng tình như đệ tam đệ tứ quốc tế, bọn thiếu niên Âu học cùng phái lao động nhận làm đồng chí. Chân tướ            ng trong ấy không rõ từ đâu đưa đến mà phần tử ưu tú cũng có người hùa theo, một lần bị bắt giam tra khảo, thôi thì khai vu chừng bầy liên lụy vô số. Trong có bọn được tha và án tình nghi, gia cho cái giây buộc ‘’quản thúc’’, không có quan trên cho phép thì không được ra khỏi làng một bước. Trong làng có dạy con em học a, b, c cũng bị truy tố ‘’dạy học lậu’’ ngày kỵ dỗ cúng chạp, cùng đám cưới gả có 5, 3 người bà con nhóm họp lại, nếu không trình với quan địa phương cũng bị bắt giam cứu. Trong gia đình của mình thành ra nhà ngục. Đó là chưa kể bao nhiêu kẻ làm ăn đều phải bỏ cả (kịch nầy ở Tỉnh Quảng Ngãi năm trước rất khổ).

Đó là thảm kịch trói buộc hạng bình dân.

6.- Xã hội phương Đông lấy gia tộc làm bản vị, triều thì thay đổi mà nền móng hạ tầng, trước sau không bị lay động, đó là đặc sắc sẵn có ở các nước phương Đông không như xã hội Âu Tây lấy cá nhân làm bản vị. Người Pháp thi hành cái xảo thuật phá hoại nền hương tộc cố hữu nói trên, phó cái tên tốt là ‘’cải lương hương chính’’, một làng đặt một hội đồng cùng hương biểu, tộc biểu, các sắc mạc mới mà cái gì cũng can thiệp vào, trong làng có thu xuất một đồng tiều một hột lúa cũng phải do quan chuẩn thừa, một năm khai trích số mục như là bị tịch thu vậy.

Đó là xảo kịch phá hoại nền hương tộc.

Trên là kê đại lược, đến như nông đoàn thương đoàn cùng các đoàn khác, thường dùng quân bất lương sung vào các đoàn dạo khắp dân trong hương thôn, lục soát hăm dọa, người nhà dân quê nơm nớp lo sợ như bọn trộm cướp sắp đến. Ngày ăn nửa bữa không no, mà đêm lại nằm ngủ không yên giấc, không biết ngày mai sẽ xẩy đến những gì. Than ôi! rõ khốc hại thật!

Tuy thế, chuyện trên còn là chánh thuật có quy hoạch. Đến từ cuộc Âu chiến mở màn, Paris cái ổ nhà bị vỡ, thôi thì người Pháp ở Đông Dương nầy, thần kinh hoảng hốt đã bày ra trạng thái rối loạn. Đối với xứ ‘’Đông dương hoàng kim’’ nầy, công phu kinh doanh khó nhọc 70, 80 năm mới được hưởng như cũng ôm trong nắch, nay muốn giữ mà không giữ được, muốn bỏ lại không khăng bỏ. Vài ba năm lại đây (1929-1931), ngoài thì phô diễn món trang sức phẩm, mua cười trẻ con, trong thời thực hành thủ đoạn cướp đoạt, một nói rằng nghiêm trị bọn đầu cơ buôn bán chợ đen, hai thì nói ‘’cổ lệ dân gian sanh sản’’, thực ra lũng đoạt (tóm thu) tất cả sinh kế trong dân gian, cướp đến bữa cơm hằng ngày cho đến nhà nông có lúa mà không được chứa để phòng ngừa năm đói, kẻ không gạo có tiền mà không biết mua ở đâu, sanh mạng mỗi người tại trong buổi mai buổi chiều, dân tình rất là xôn xao. Hành vi như thế, không gọi là chính sách, chỉ là hành động rối loạn, như con chim cùng thì mổ bậy, con thú cùng thì cắn bậy.

Song le, thế lực sở hữu của chúng ở đây như trên đã nói, đúng ra việc đối ngoại phòng thủ thì không đủ, mà dùng để tiểu trừ người Việt Nam tay trắng chưn không thì có thừa. Bởi vậy, hiện người Việt Nam ngày nay, trừ đám quan trường được chúng nó phù thực, giá áo túi cơm làm như bầy sẻ ở nhà, tự phô đắc kế. Ngoài ra phần đông như cá ởtrong nồi nước sôi, như chim ở rừng cháy, trong cái thảm ách lửa hồng nước ngập, lòng trông mong có người đếncứu vớt, không hẹn nhau mà ai nấy vẫn đồng một mối chân tình. Đó là việc không cần dấu diếm gì nữa.

Vả lại trên kia tôi đã nói ‘’tễ thuốc hồi sanh’’ đó, không chỉ phương thuốc kinh nghiệm cứu giúp dân tộc Việt Nam trong thời cấp bức không thể chờ đợi lâu được, mà đối với con đường trật tự mới Đại Đông Á đương tấn hành, cũng là việc cần cấp ‘’trừ cái ác phải tận gốc’’ (trừ ác vụ tận) cũng là bài thuốc không thể thiếu được.

Xin nói lý do:

Hiện trạng Việt Nam đối với xu thế tân trật tự Đại Đông Á lợi hại thế nào ?

 

Theo chỗ tôi suy trắc mà không lầm, thời Đại Nhật Bản đối với xứ Đông Dương, không dùng võ lực mà chỉ dùng thủ đoạn ngoại giao với chiến cuộc hiện thời, có những điều lợi, trước tai mắt mọi người, không phải nói vu:

1.- Lục quân viễn chinh Đại Nhật Bản, chỉ dùng cái chiến thuật mượn đường nước Ngu đặng dành nước Quắc (giả đạo ư Ngu dĩ phật Quắc) thắng xong mấy xứ thuộc địa Anh: Mã Lai, Tân Gia Ba, mau lẹ không gì sánh bằng, khiến cho quân địch vội vàng sảng sốt, không kịp phòng bị. Hoàng quân thu hoạch những chiến thắng rất vẻ vang. Một điều lợi.

2.- Paris bỏ ngõ cùng ký đình chiến với Đức, nước Pháp không còn làcái nước nữa. Miền biên giới Thái Lan-Đông Dương có cuộc xung đột, người Pháp đã bày tỏ cái tướng hèn yếu, không đủ thực lực chống với Thái Lan, huống là đối với Hoàng quân. Hơn nữa cảm tình đồng chủng da vàng giữa Nhật Bản và Việt Nam đã sẵn khăn khít nhau. Việt Nam sẽ là một phần tử trong vùng thịnh vượng chung Đông Nam Á, nếu dùng binh lực đối với người Pháp như người đã té giếng mà vác đá đè lên trên, có hơn cũng bất võ, lại phòng hại đến cảm tình người Việt Nam, sao cho bằng dùng cách ‘’Tiếng trời không giết’’ (thiên thanh bất sát), ngồi thu cái thắng trước dành phục lòng người. Hai điều lợi.

3.- Theo thăng toán ‘’giao nước xa đánh nước gần’’ (viễn giao cận công), trước cùng nước Đức nước Ý bên Âu Châu cùng ký trục ‘’Tam giác đồng minh’’, nay Pháp đã hàng phục nước Đức vội nói bài Pháp có quan ngại với nước ‘’Trục’’ và khêu mối ác cảm với các nước trung lập bên ÂuMỹ. Người Pháp lại ưa thích trang sức thể diện bề ngoài, nên gác chuyện chủng tộc màu gia trắng vàng ra sau, và tách riêng nước Pháp ra ngoài phái Anh-Mỹ, lưu một sợi tơ ‘’quốc tế’’ thể diện trên trường ngoại giao, mượn cái chính phủ Vichy ‘’có xác không hồn’’ đặng thao túng các nhà đương cuộc Pháp ở Đông Dương tự nhận trung thành với tổ quốc, muốn yêu sách việc gì cũng dễ dàng, khỏi tốn mất nhiều công phu. Ba điều lợi.

4.- Thế lực Anh-Mỹ ở Á Đông cùng các căn cứ quân sự đã bị quét sạch thì Đông Dương của Pháp, cõi đất hòn đạn đó như vật ở trong tay, da đã không còn thì lòng dựa vào đâu ? Đuổi chúng nó bằng cách không đuổi, chỉ là vần đề thời gian, không cần phải hy sinh quân lính vào những nơi không đáng hy sinh. Vả lại bao nhiêu thuộc địa của Pháp lần lượt đổi chủ mới, mà một giải Đông Dương nhờ có Hoàng quân nhận làm địa điểm phòng thủ chung, chủ quyền bảo hộ của chúngnó còn đứng được vững, người Pháp dầu bạc bẽo, cũng phải mang cái ơn Hoàng quân, lấy ngay Đông Dương được mà không nỡ làm. Bốn điều lợi.

5.- Việc binhlà đạo quỷ quyệt, kẻ tham kẻ trả đều sai khiến được trong lúc cần dùng, và nhà lương thực bên địch là chiến lượcnhà binh xưa nay thường dùng. Đương giữa thời kỳ phạm vi chiến cuộc mở rộng, ngày tháng lại kéo dài, quân địch chưa tiêu diệt, hai bên còn tương tri nhau, điều cần cấp nhất là ‘’quân sự hợp tác’’ và ‘’kinh tế hỗ trợ’’ mà toàn cõi Đông Dương, việc binh và tài chính còn ở trong tay người Pháp, thủ tư có phần tiên lợi. Hơn nữa, khoa binh tài chúng nó sẵn có nhà chuyên môn, được tay giúp đỡ rất đắc lực không phải như người Việt Nam tay không chán rồi, thiếu môn khoa học. ‘’Được kẻ thù khôn, hơn được người bạn dại’’. Năm điều lợi.

Đầy duy trì hiện trạng xứ nầy trong thời kỳ chiến tranh, có năm điều lợi nói trên (như Ngụy đảng nước Tần đời Xuân Thu, chủ trương hòa với mọi có năm điều lợi), thực sự hiển nhiên không chỗi cãi được. Tuy vậy, dưới trời không có việc gì tuyệt đối toàn lợi mà không có điều hại cùng đi cặp kè một bên.

« Lùi
Tiến »