Thỉnh thoảng, người ta vẫn bảo rằng một thứ to lớn và hiển nhiên cũng dễ có khả năng bị bỏ qua y như một thứ nhỏ bé vặt vãnh, và rằng những thứ to lớn bị ta bỏ qua đó lại chính là thứ có thể thường xuyên gây rắc rối.
Tristran Thorn tiến lại gần lỗ hổng trên bức tường, từ phía Xứ Tiên, lần thứ hai kể từ khi anh được chào đời mười tám năm trước, cùng với ngôi sao đang khập khiễng đi bên cạnh. Tâm trí anh đang quay mòng mòng trước những mùi vị và âm thanh của ngôi làng quê hương, và trái tim anh chỉ chực bắn ra khỏi lồng ngực. Vừa tiến tới trước, anh vừa lịch sự gật đầu chào hai người canh gác ở lỗ hổng, nhận ra cả hai người họ.
Chàng thanh niên đang uể oải chuyển chân trụ từ bên này sang bên kia trong lúc nhấm nháp một cốc mà Tristran đoán chừng là bia thượng hạng của ông Bromios, đó chính là Wystan Pippin, bạn học ngày xưa của Tristran, mặc dù chẳng bao giờ được xem là bạn bè của anh; còn người già hơn, đang cáu kỉnh hút ống tẩu có vẻ đã chẳng còn chút thuốc nào, không phải ai khác ngoài ông chủ cũ của Tristran ở cửa hàng Monday & Brown, ông Jerome Ambrose Brown.
Hai người này đều xoay lưng về phía Tristran và Yvaine, kiên quyết quay mặt về phía ngôi làng như thể họ cho rằng thật tội lỗi nếu quan sát các công cuộc chuẩn bị đang được tiến hành trong đồng cỏ đằng sau họ.
“Xin chào,” Tristran lịch sự nói, “Wystan. Ông Brown."
Hai người đàn ông giật bắn cả người. Wystan làm đổ bia xuống mặt trước chiếc áo khoác ngoài. Ông Brown giơ cây ba toong lên, chĩa đầu gậy về phía ngực Tristran, vẻ lo lắng. Wystan Pippin bỏ ly bia xuống, nhấc cây gậy của mình lên chắn ngang lỗ hổng.
“Ở nguyên tại chỗ!” ông Brown nói, vung vẩy cây gậy ra hiệu, như thể Tristran là một con thú hoang sẵn sàng lao bổ vào ông ta bất cứ lúc nào.
Tristran cười phá lên. “Hai người không nhận ra cháu à?” anh hỏi. “Cháu đây mà, Tristran Thorn.”
Nhưng ông Brown, Tristran biết là người có quyền hơn trong số hai người canh gác, không hề hạ thấp cây gậy. Ông ta nhìn Tristran từ trên xuống dưới, từ đôi bốt nâu tả tơi cho tới mái tóc rối bù của anh. Rồi ông ta nhìn không chớp mắt vào khuôn mặt rám nắng của Tristran và khịt mũi, chẳng hề xúc động. “Cho dù cậu có là anh chàng Thorn vô tích sự đó đi chăng nữa,” ông ta nói, “tôi cũng chẳng thấy có lý do gì để phải cho ai trong số hai người bước qua đây. Xét cho cùng, chúng tôi đang canh gác bức tường mà.”
Tristran chớp mắt. “Cháu cũng từng canh gác bức tường rồi,” anh chỉ ra vấn đề. “Và chẳng có quy định nào nói rằng không được cho người từ hướng này đi qua. Chỉ cấm từ phía làng thôi.”
Ông Brown từ tốn gật đầu. Rồi ông ta nói, như thể đang nói với một kẻ ngốc. “Và nếu cậu là Tristran Thorn - tôi chỉ thừa nhận điều này do không muốn tranh cãi gì ở đây, vì cậu trông chẳng giống cậu ta gì cả, và nói năng cũng không giống cậu ta mấy - thì hãy nói xem, trong suốt những năm cậu sống ở đây, đã có bao nhiêu người từ phía cánh đồng đi qua bức tường?”
“Dào ôi, theo cháu biết thì chẳng có ai,” Tristran nói.
Ông Brown nở nụ cười quen thuộc ông ta vẫn thường dùng những khi trừ tiền công buổi sáng của Tristran vì anh can tội đi muộn năm phút. “Chính xác,” ông ta nói. “Không có quy định nào ngăn cản việc đó bởi vì nó chẳng xảy ra bao giờ. Không ai đi qua đây từ phía bên kia hết. Một khi tôi đang làm nhiệm vụ thì không có chuyện đó đâu, dù bằng phương thức nào cũng vậy. Giờ thì đi chỗ khác đi, trước khi tôi cho cậu một gậy vào đầu.”
Tristran chết điếng. “Nếu bác tưởng rằng cháu đã trải qua, chậc, tất cả những gì cháu đã trải qua, chỉ để rồi phải bỏ đi vào phút cuối bởi một ông chủ cửa hàng tạp hóa ngạo mạn, bủn xỉn và bởi một người vẫn thường xuyên quay cóp bài của cháu trong môn lịch sử..” anh bắt đầu, nhưng Yvaine đã chạm vào cánh tay anh và bảo, “Tristran, tạm thời bỏ qua đi. Anh không nên gây chuyện với đồng loại của mình.”
Tristran không nói gì. Rồi anh quay người, không thốt ra lời nào, và họ cùng nhau quay ngược trở lại con dốc trên đồng cỏ. Xung quanh họ, đủ mọi loại người cùng các loại sinh vật đang dựng quầy hàng, treo cờ và đẩy các xe cút kít. Và đúng lúc đó, Tristran bất chợt cảm thấy, trong một cơn sóng cảm xúc nào đó tựa như nỗi nhớ nhà, nhưng là một nỗi nhớ nhà hòa trộn đồng đều giữa niềm khát khao và nỗi thất vọng, rằng rất có thể những người này mới là đồng loại của anh, vì anh cảm thấy có nhiều điểm chung với họ hơn là với những cư dân Bức Tường xanh xao vàng vọt, mặc áo khoác vải len xe và đi bốt đóng đinh đầu to ở đế.
Họ dừng lại, nhìn một người phụ nữ thấp lùn, bề ngang cũng chẳng khác mấy chiều cao, đang chật vật hì hục dựng quầy hàng. Chẳng cần được nhờ vả, Tristran vẫn đi tới bắt tay vào giúp đỡ bà, mang những hộp đồ nặng từ xe ngựa tới quầy hàng, trèo lên cái thang gấp cao để treo lên cành cây các lá cờ đuôi nheo đã được phân chia theo từng loại, lôi ra các bình đựng nước bằng thủy tinh nặng trịch, đủ loại không tay cầm lẫn có tay cầm (mỗi bình đều được bịt nút bằng một cái nút bần đen to tướng và được bít kín bằng sáp bạc, đựng đầy thứ khói màu đang chậm rãi xoay thành các vòng xoáy) và đặt chúng lên trên các giá.
Trong lúc anh và người bán hàng làm việc, Yvaine ngồi trên một gốc cây cụt gần đó, cất giọng trong trẻo, êm ái hát cho họ nghe những khúc ca của các ngôi sao trên cao vời vợi, cả những khúc ca quen thuộc hơn cô đã nghe và học được từ những người dân họ gặp trên đường phiêu lưu.
Đến lúc Tristran và người phụ nữ thấp lùn xong xuôi mọi việc, gian hàng đã được bày biện sẵn sàng cho ngày mai, họ đã làm việc dưới ánh đèn được một lúc lâu. Người phụ nữ khăng khăng mời họ ăn tối; Yvaine chật vật mãi mới thuyết phục được bà rằng cô không đói, nhưng Tristran thì hăm hở ăn hết những gì được mời, và khác hẳn bình thường, anh còn uống quá nửa bình rượu vang canary ngọt ngào, nhất quyết cho rằng nó chẳng hề mạnh hơn thứ nước nho mới ép và không ảnh hưởng gì đến anh hết. Dẫu vậy, khi người phụ nữ thấp lùn mập mạp mời họ ra khoảng đất trống đằng sau xe ngựa của bà để ngủ, Tristran đã say rượu ngủ được một lúc rồi.
Tối đó, trời trong và mát lạnh. Ngôi sao ngồi bên cạnh chàng trai đang ngủ, người từng bắt giữ cô làm tù binh và rồi đã trở thành bạn đồng hành của cô trên suốt chặng đường, và cô thầm hỏi lòng mình không biết nỗi căm ghét của cô đã biến đi đâu rồi. Cô không hề buồn ngủ.
Tiếng sột soạt vang lên trong đám cỏ sau lưng cô. Một phụ nữ tóc đen ngồi xuống cạnh cô, và cả hai cùng chăm chăm nhìn xuống Tristran.
“Trong người cậu ấy vẫn còn rơi rớt chất chuột sóc" người phụ nữ tóc đen nói. Tai bà nhọn, trông như tai mèo, và bà tựa như một phiên bản lớn tuổi hơn của chính Tristran. “Đôi lúc cô vẫn thầm hỏi không biết bà ta đã biến con người thành con vật hay chỉ là bà ta đã tìm thấy con vật đang náu bên trong chúng ta và thả tự do cho nó. Có lẽ xét về bản chất, trong con người cô có gì đó thuộc về một con chim sặc sỡ sắc màu. Cô vẫn thường suy nghĩ rất nhiều về chuyện này, nhưng vẫn chưa rút ra được kết luận gì hết”
Tristran lầm bầm gì đó không hiểu nổi và cựa mình trong giấc ngủ. Rồi anh khe khẽ bắt đầu ngáy thành tiếng.
Người phụ nữ bước vòng qua Tristran, ngồi xuống cạnh anh. “Cậu ấy có vẻ là người tốt bụng,” bà nói.
“Vâng,” ngôi sao thừa nhận. “Cháu cho là thế.”
“Có lẽ cô nên cảnh báo cháu,” người phụ nữ nói, “nếu cháu rời khỏi mảnh đất này để... đến đằng kia...” và bà giơ một cánh tay mảnh khảnh lên ra hiệu về phía làng Bức Tường, trên cổ tay bà, một sợi xích bạc sáng lấp lánh, “... vậy thì, theo như cô biết, cháu sẽ bị biến thành đúng bản chất cháu ở trong thế giới đó: một vật chết, lạnh lẽo, rơi từ trên trời xuống.”
Ngôi sao rùng mình, nhưng không nói gì. Thay vào đó, cô vươn qua cơ thể đang say ngủ của Tristran để chạm tay vào sợi xích bạc đang quấn quanh cổ tay cùng mắt cá chân của người phụ nữ, dẫn vào các bụi rậm và còn chạy ra xa nữa.
“Đến lúc thì rồi cũng quen với nó thôi” người phụ nữ nói.
"Cô quen rồi ạ? Thật sao?”
Đôi mắt tím nhìn thẳng vào đôi mắt xanh, và rồi tránh đi chỗ khác. “Không”
Ngôi sao thả sợi xích ra. “Anh ấy cũng từng trói cháu bằng một sợi xích giống y hệt như của cô. Sau đó, anh ấy thả cháu ra, và cháu đã chạy trốn anh ấy. Nhưng rồi anh ấy lại tìm thấy cháu và ràng buộc cháu bằng một bổn phận, một bổn phận trói buộc giống loài của cháu một cách bền vững hơn bất kỳ sợi xích nào.”
Một cơn gió nhẹ tháng Tư thổi ngang qua đồng cỏ, khuấy động những bụi rậm và cây cối trong một tiếng thở dài thườn thượt lạnh giá. Người phụ nữ có đôi tai mèo hất mái tóc xoăn để nó không chờm vào mặt, rồi nói, “Trước đó, cháu đã bị ràng buộc bởi một bổn phận khác rồi, phải không? Cháu đang giữ một thứ không thuộc về cháu, và cháu phải chuyển giao nó cho người chủ đích thực của nó.”
Hai phiến môi của ngôi sao căng ra. “Cô là ai?” cô hỏi.
“Cô đã bảo cháu rồi đấy thôi. Cô là con chim trong xe moóc,” người phụ nữ nói. “Cô biết cháu là gì, và cô biết tại sao mụ phù thủy không bao giờ biết cháu có mặt ở đó. Cô biết ai đang săn lùng cháu và tại sao mụ ta lại cần cháu. Thêm nữa, cô còn biết cả lai lịch của viên đá hoàng ngọc cháu đang mang trên sợi xích bạc quấn quanh eo. Biết được chuyện này, cộng với nguồn gốc của cháu, vậy nên cô thấy rõ cháu ắt hẳn phải đang gánh bổn phận gì.”
Người phụ nữ cúi người xuống, và bằng những ngón tay thanh mảnh, bà dịu dàng gạt tóc ra khỏi mặt Tristran. Chàng thanh niên say ngủ không cựa mình cũng không phản ứng lại.
“Cháu không nghĩ là cháu tin lời cô, hoặc tin tưởng cô,” ngôi sao nói. Một con chim đêm kêu lên giữa một cái cây phía trên họ. Âm thanh vang trong bóng tối nghe cô đơn xiết bao.
“Cô đã nhìn thấy viên đá hoàng ngọc trên eo cháu lúc cô còn ở lốt chim,” người phụ nữ nói, lại đứng thẳng dậy. “Cô đã quan sát khi cháu tắm ở sông, và nhận ra nó thực chất là gì.”
“Bằng cách nào?” ngôi sao hỏi. “Làm sao cô nhận ra nó?”
Nhưng người phụ nữ tóc đen chỉ lắc đầu và đi ngược trở lại con đường bà vừa đến lúc nãy, chỉ liếc nhìn lần cuối chàng thanh niên đang ngủ trên bãi cỏ. Và rồi bà đã bị bóng đêm nuốt chửng.
Mái tóc bất trị của Tristran lại xõa xuống che mặt anh lần nữa. Ngôi sao cúi xuống, dịu dàng gạt món tóc sang một bên, để các ngón tay nấn ná trên má anh. Anh vẫn ngủ say.
Tristran tỉnh dậy sau khi mặt trời mọc được một lát, bị đánh thức bởi một con lửng to lớn đang đi trên hai chân sau và khoác chiếc áo choàng lụa xác xơ màu đỏ ánh xanh, khụt khịt vào tai Tristran cho đến khi anh ngái ngủ mở mắt, rồi nó nói với anh bằng giọng trịch thượng, “Họ Thorn hả? Tên Tristran?”
“Ừm?” Tristran nói. Miệng anh có vị gì đó ghê ghê, cảm giác khô khốc và ran rát lưỡi. Anh có thể ngủ thêm vài tiếng nữa cũng được. “Người ta đang hỏi cậu kia kìa,” con lửng nói. “Dưới chỗ lỗ hổng ấy. Có vẻ như có một cô gái muốn nói chuyện với cậu.”
Tristran ngồi dậy, cười toe toét. Anh chạm tay lên vai ngôi sao đang ngủ. Cô mở đôi mắt xanh ngái ngủ, hỏi anh, “Sao vậy?”
“Tin tốt đây,” anh bảo cô. “Cô còn nhớ Victoria Forester không? Chắc tôi đã nhắc đến cô ấy đôi lần trong các chuyến đi của chúng ta.”
“Có,” cô nói. “Anh có nhắc.”
“Chà,” anh nói, “tôi đi gặp cô ấy đây. Cô ấy ở dưới chỗ lỗ tường.” Anh dừng lại. “Nghe này. Chậc. Có lẽ cô cứ ở lại đây thì hơn. Tôi không muốn làm cô ấy bối rối hay làm sao.”
Ngôi sao lăn người lại, đưa cánh tay lên che đầu, không nói năng gì hết. Tristran quyết định rằng ắt hẳn cô đã ngủ lại rồi. Anh xỏ bốt, rửa mặt xúc miệng bằng nước suối giữa đồng, rồi chạy hùng hục băng qua đồng cỏ, về phía ngôi làng.
Hai người canh gác ở bức tường sáng nay là Cha Myles, cha sở của làng Bức Tường, và ông Bromios, chủ quán trọ. Một cô thiếu nữ đứng giữa họ, quay lưng về phía đồng cỏ.
“Victoria!” Tristran la lên mừng rỡ; nhưng đúng lúc đó, cô thiếu nữ quay lại, và anh nhận ra đó không phải là Victoria Forester (anh đột nhiên nhớ ra, lòng vui mừng nhẹ nhõm, rằng cô có đôi mắt màu xám. Đúng là thế đấy: màu xám. Sao anh lại có thể cho phép mình quên được điều đó nhỉ?). Nhưng còn có thiếu nữ quàng khăn và đội mũ bon nê đẹp đẽ này là ai thì Tristran chẳng thể nói chắc được; tuy nhiên vừa nhìn thấy anh, cô gái đã giàn giụa nước mắt.
“Tristran!” cô nói. “Đúng là anh rồi! Họ đã bảo là anh mà! Ôi Tristran! Sao anh có thể? Ôi, sao anh có thể?” Và anh nhận ra cô thiếu nữ đang trách móc anh này ắt hẳn là ai.
“Louisa?” anh nói với cô em gái. Và rồi, “Em đã lớn hẳn lên trong thời gian anh đi vắng rồi này, từ một cô bé đã trở thành một cô thiếu nữ xinh đẹp rồi.”
Cô sụt sịt, hỉ mũi vào trong chiếc khăn tay vải lanh viền ren cô vừa lôi ra từ trong ống tay áo. “Còn anh,” cô vừa bảo anh vừa chấm nhẹ chiếc khăn tay lên hai bên má, “chặng đường du hành đã biến anh thành một anh chàng du mục lôi thôi lếch thếch tóc tai bù xù rồi. Nhưng chắc là trông anh vẫn ổn cả, và thế là tốt rồi. Nào, lại đây đi,” và cô sốt ruột ra dấu cho anh đi xuyên qua lỗ hổng trên bức tường, đến bên cạnh cô.
“Nhưng bức tường...” anh nói, có phần lo lắng nhìn ông chủ quán trọ và cha sở.
“À, về chuyện đó, sau khi Wystan và ông Brown xong ca trực tối qua, họ bèn đến xả hơi ở quầy rượu trong quán Chim Ác Là Thứ Bảy, rồi Wystan vui miệng kể lại là họ đã gặp một gã ăn mặc rách rưới nhếch nhác nhất quyết nhận là anh, rồi kể là họ đã chặn đường anh ta như thế nào. Chặn đường của anh. Ngay khi nghe được tin này, cha đã xồng xộc đến thẳng quán Ác Là và mắng cho cả hai người họ một trận xa xả như tát nước vào mặt, đến mức em suýt nữa chẳng còn nhận ra cha nữa.”
“Một số người cho là nên để con quay lại vào sáng nay,” cha sở nói, “còn một số người muốn giữ con ở đó cho đến trưa.”
“Nhưng trong số những người làm nhiệm vụ tại Bức Tường sáng nay, không ai thuộc nhóm đòi cháu phải đợi hết,” ông Bromios nói. “Phải tốn kha khá trò lừa phỉnh thì mới sắp xếp được đấy - và lại đúng ngày lẽ ra bác phải trông coi quầy giải khát nữa. Dẫu sao thì, rất mừng khi thấy cháu trở về. Đi qua đây đi” Nói xong, ông bèn chìa tay ra, và Tristran nồng nhiệt bắt tay ông. Sau đó, Tristran bắt tay cha sở.
“Tristran này,” cha sở nói, “ta đoán chắc là con đã nhìn thấy nhiều điều kỳ lạ trên đường du hành.”
Tristran ngẫm nghĩ một hồi. “Hẳn là thế rồi ạ,” anh nói.
“Vậy thì tuần sau con phải ghé văn phòng ta mới được” cha sở nói. “Chúng ta sẽ dùng trà, và con phải kể hết mọi chuyện cho ta nghe nhé. Khi nào con ổn định lại cuộc sống rồi ấy. Nhé?” Và Tristran, vốn luôn ấp ủ trong lòng một nỗi kính sợ dành cho cha sở, chẳng thể làm gì khác ngoài cách gật đầu.
Louisa thở dài, vẻ hơi cường điệu, và nhanh nhẹn cất bước về phía quán Chim Ác Là Thứ Bảy. Tristran chạy trên con đường đá cuội để bắt kịp cô, rồi sánh bước đi cạnh cô.
“Anh rất mừng vì được gặp lại em, em gái ạ” anh nói.
“Cứ như thể cả nhà không lo cho anh đến phát ốm lên vì cái trò lang thang của anh ấy,” cô nói, giọng cáu kỉnh. “Và anh thậm chí còn chẳng thèm gọi em dậy để mà tạm biệt nữa. Cha lo cho anh đến mất hồn mất vía, và đợt Giáng sinh, vì anh không ở đấy, sau khi cả nhà đã ăn thịt ngỗng và bánh pudding, cha bèn lấy chai rượu vang ra và nâng ly uống mừng những người bạn vắng mặt, còn mẹ khóc nức nở như đứa bé, vậy nên tất nhiên em cũng khóc, rồi cha bắt đầu hỉ mũi vào chiếc khăn tay xịn nhất của cha, ông bà ngoại Hempstock nhất quyết đòi kéo pháo Giáng sinh và đọc các truyện cười giấu trong pháo, nhưng chẳng hiểu sao chuyện đó chỉ khiến cho tình hình trở nên tệ hơn và, nói thẳng toẹt ra nhé, Tristran, anh đã phá hỏng lễ Giáng sinh của cả nhà đấy.”
“Xin lỗi,” Tristran nói. “Giờ chúng ta đang làm gì đây? Chúng ta đang đi đâu vậy?”
“Chúng ta sẽ đến Chim Ác Là Thứ Bảy,” Louisa đáp “Em tưởng chuyện này quá hiển nhiên rồi chứ. Bác Bromios bảo anh có thể sử dụng phòng khách của bác ấy. Có người ở đó cần nói chuyện với anh đấy.”
Và cô không nói gì thêm cho đến tận khi họ tới quán trọ. Khi Tristran, với Louisa đi bên cạnh, len qua đám đông tìm đường leo lên cầu thang hẹp nằm phía sau quầy rượu để tới chỗ đầu cầu thang, anh nhận ra một cơ số những gương mặt quen thuộc, và mọi người gật đầu chào anh, hoặc mỉm cười, hoặc không mỉm cười. Những tấm ván gỗ kêu cót két dưới chân họ.
Louisa nhìn Tristran không chớp mắt. Rồi môi cô run lên, và trước sự ngạc nhiên của Tristran, cô vung tay ôm chầm lấy anh, siết chặt đến nỗi anh suýt nghẹt thở. Rồi sau đó, không nói thêm một lời, cô chạy biến xuống dưới cầu thang gỗ.
Anh gõ cửa phòng khách rồi bước vào trong. Căn phòng được trang hoàng bởi kha khá thứ lạ mắt, với những món đồ lặt vặt như tượng cổ và bình gốm. Một cành cây khô treo trên tường, quấn kín lá thường xuân, hoặc nói cho đúng hơn là quấn một thứ kim loại tối màu được gò đập khéo kéo để trông na ná lá thường xuân. Ngoại trừ phong cách trang trí ra, căn phòng hoàn toàn phù hợp để làm phòng khách cho bất kỳ chàng trai độc thân bận rộn nào không có nhiều thời gian để ngồi lại. Đồ nội thất trong phòng gồm có một cái ghế dài nhỏ, một cái bàn thấp đặt một cuốn sách bìa da đã sờn tập hợp các bài thuyết giảng của Laurence Sterne, một cây đàn dương cầm, vài cái ghế bành bọc da, và ngồi trên một trong những cái ghế đó chính là Victoria Forester.
Tristran bước tới chỗ cô, chậm rãi và điềm tĩnh, rồi anh quỳ một gối xuống trước mặt cô, y như anh đã từng làm giữa bãi bùn trên con đường làng.
“Ôi, xin đừng làm thế,” Victoria Forester nói, không mấy thoải mái. “Xin hãy đứng lên đi. Anh ngồi xuống đằng kia nhé. Trên cái ghế kia kìa? Phải rồi. Thế tốt hơn rồi đấy.” Ánh sáng buổi sớm mai chiếu xuyên qua những tấm rèm đăng ten treo trên cao, rơi xuống đậu lên mái tóc màu hạt dẻ phía sau đầu cô, bao bọc khuôn mặt cô trong một khung hình vàng rực. “Nhìn anh xem,” cô nói. “Anh đã trở thành một người đàn ông rồi. Và tay anh kìa. Tay anh bị làm sao vậy?”
“Anh thiêu nó đấy,” anh nói. “Trong bếp lửa.”
Thoạt đầu, cô không nói gì đáp lại. Cô chỉ cứ thế nhìn anh chăm chăm. Rồi cô ngả lưng trên ghế, nhìn thẳng trước mặt về phía cái cành cây trên tường, hoặc cũng có thể là về phía những bức tượng cổ trông là lạ của ông Bromios, rồi nói, “Em cần phải kể cho anh nghe một số chuyện, Tristran ạ, và chẳng có gì trong số chúng là dễ nói cả. Em sẽ rất lấy làm cảm kích nếu anh không nói gì cho tới khi em đã có cơ hội nói xong những gì cần nói. Thế này đây: trước hết, và có lẽ quan trọng nhất, em phải xin lỗi anh. Chính sự dại dột của em, sự ngu ngốc của em đã đẩy anh phải dấn thân vào những cuộc hành trình anh đã thực hiện. Em cứ tưởng anh chỉ đùa thôi... không, không phải đùa. Em cứ tưởng anh quá hèn nhát, quá non nớt, chẳng bao giờ có thể làm theo bất cứ lời gì trong số những lời lẽ ngu ngốc, bùi tai của anh. Chỉ đến khi anh đã lên đường, rồi nhiều ngày trôi anh vẫn chưa trở lại, em mới nhận ra anh hoàn toàn nghiêm túc, nhưng đến lúc đó thì đã quá muộn rồi.”
“Em đã phải sống... từng ngày... với cái khả năng rằng rất có thể chính em đã đẩy anh vào chỗ chết.”
Cô chăm chăm nhìn thẳng về phía trước trong khi nói, và Tristran có cảm giác, càng lúc càng chắc chắn, rằng cô đã luyện tập cuộc đối thoại này trong đầu hàng trăm lần lúc vắng mặt anh. Chính bởi vậy nên anh không được phép nói bất cứ điều gì; riêng chuyện này cũng đã đủ khó khăn với Victoria Forester rồi, và cô sẽ chẳng thể kiên trì được nếu anh khiến cô sao nhãng khỏi kịch bản cô đã lên sẵn.
“Và em đã không đối xử công bằng với anh, anh chàng bán hàng tội nghiệp... nhưng anh đâu còn là anh chàng bán hàng nữa, phải không?... vì em cứ tưởng hành trình kiếm tìm của anh chỉ là trò xuẩn ngốc, xét trên mọi phương diện...” Cô dừng lại, hai bàn tay cô bấu chặt lấy tay ghế gỗ, siết chúng chặt đến nỗi các khớp ngón tay đầu tiên đỏ ửng lên, rồi sau trở nên trắng bệch. “Hãy hỏi em tại sao tối đó em không hôn anh đi, Tristran Thorn.”
“Em có quyền không hôn anh mà,” Tristran nói. “Anh đến đây không phải để gieo buồn cho em, Vicky. Anh không tìm ngôi sao về cho em để khiến em thấy khổ sở.”
Cô nghiêng đầu sang một bên. “Vậy anh đã tìm được ngôi sao chúng ta nhìn thấy tối đó chứ?”
“Ồ, được chứ,” Tristran nói. “Nhưng ngay bây giờ, ngôi sao đang ở trên đồng cỏ cơ. Tuy nhiên, anh đã thực hiện được điều em yêu cầu.”
“Vậy thì bây giờ hãy làm cho em một việc nữa. Hãy hỏi em tại sao tối đó em không hôn anh. Xét cho cùng, trước đấy, hồi còn bé hơn, em đã từng hôn anh rồi đấy thôi.”
“Được thôi, Vicky. Tại sao tối đó em không hôn anh?”
“Bởi vì,” cô nói, và giọng nói của cô toát lên vẻ nhẹ nhõm, một sự nhẹ nhõm vô cùng, như thể câu nói đang thoát ra khỏi cô, “hôm trước ngày chúng ta nhìn thấy ngôi sao băng, Robert đã cầu hôn em. Tối đó, khi em gặp anh, em đã tới cửa hàng những mong được gặp anh ấy, để nói chuyện với anh ấy, bảo với anh ấy rằng em đồng ý, và anh ấy nên đến gặp cha em xin hỏi cưới em đi thôi.”
“Robert?” Tristran hỏi, đầu anh quay mòng mòng.
“Robert Monday. Anh làm việc ở cửa hàng của anh ấy mà.”
“Ông Monday?” Tristran nhắc lại. “Em và ông Monday?”
“Chính xác.” Giờ cô đang nhìn thẳng vào anh. “Và sau đó anh lại nghiêm túc để tâm đến lời em nói nên đã bỏ đi định mang về cho em một ngôi sao, và kể từ đó, không một ngày nào trôi qua mà em lại không cảm thấy mình đã gây ra một việc ngu ngốc và tệ hại. Vì em đã hứa sẽ trao tay mình vào tay anh, nếu anh quay về cùng với ngôi sao. Và có những ngày, Tristran ạ, em thật lòng không biết đâu mới là suy nghĩ tệ hại hơn, suy nghĩ rằng anh sẽ chết giữa Vùng Đất Bên Kia, chỉ vì tình yêu dành cho em, hay cái ý nghĩ rằng anh sẽ hoàn thành được ý định điên rồ của mình và dẫn theo ngôi sao quay về, đòi em phải trở thành cô dâu của anh. Tất nhiên, nhiều người vẫn bảo em không cần nặng lòng quá, rằng chắc chắn chẳng chóng thì chầy, anh cũng sẽ rời khỏi làng để đến Vùng Đất Bên Kia thôi, nó chính là bản tính của anh, và ngay từ đầu, anh đã thuộc về nơi ấy rồi, nhưng, chẳng hiểu sao, tận trong thâm tâm, em biết em đã phạm phải sai lầm, và rằng, một ngày nào đó, anh sẽ quay về hỏi tội em.”
“Em yêu ông Monday à?” Tristran hỏi, bám chặt vào điều duy nhất trong toàn bộ chuyện này mà anh dám chắc rằng mình hiểu.
Cô gật đầu, và ngẩng đầu lên, cái cằm xinh đẹp chĩa về phía Tristran. “Nhưng em đã hứa với anh, Tristran. Và em sẽ giữ lời hứa, em cũng đã nói với Robert chuyện này rồi. Em phải chịu trách nhiệm cho hết thảy những gì anh đã trải qua - thậm chí cho cả bàn tay bị bỏng tội nghiệp của anh. Và nếu anh muốn có em, vậy thì em chính là của anh.”
“Thật lòng mà nói,” anh đáp, “anh nghĩ anh mới là người phải chịu trách nhiệm cho hết thảy những gì anh đã làm, chứ không phải em. Và thật khó có thể hối tiếc về bất kỳ khoảnh khắc nào trong suốt hành trình ấy, mặc dù thỉnh thoảng anh vẫn thấy nhớ những chiếc giường êm ái, và anh sẽ không bao giờ có thể nhìn một con chuột sóc nào bằng ánh mắt như xưa được nữa. Nhưng em không hứa sẽ trao tay em vào tay anh nếu anh dẫn theo ngôi sao trở về, Vicky ạ.”
“Không ư?”
“Không. Em hứa sẽ đáp ứng bất kỳ mong muốn nào của anh.”
Đến lúc này, Victoria Forester bèn ngồi thẳng dậy, nhìn xuống sàn nhà. Hai đốm đỏ bùng cháy trên hai gò má nhợt nhạt, như thể cô vừa ăn tát. “Em có nghe nhầm không...” cô bắt đầu, nhưng Tristran đã ngắt lời cô.
“Không đâu,” anh nói. “Em không nghe nhầm đâu, thật đấy. Em đã nói là em sẽ đáp ứng bất kỳ mong muốn nào của anh.”
"Vâng."
“Vậy thì...” Anh dừng lại. “Vậy thì anh mong muốn rằng em sẽ lấy ông Monday. Anh mong muốn rằng em sẽ làm đám cưới càng sớm càng tốt - thế nào nhỉ, ngay trong tuần này đi, nếu chuyện này có thể thu xếp được. Và anh mong muốn rằng vợ chồng em sẽ sống hạnh phúc tột cùng bên nhau.”
Cô khẽ thở hắt ra một hơi run run nhẹ nhõm. Rồi cô nhìn anh. “Anh nói thật lòng chứ?” cô hỏi.
“Hãy lấy ông ấy trong sự chúc phúc của anh, và mọi chuyện giữa chúng ta thế là xong” Tristran nói. “Có lẽ ngôi sao cũng sẽ nghĩ thế.”
Tiếng gõ cửa vang lên. “Tình hình trong đấy ổn cả chứ?” một giọng đàn ông hỏi.
“Mọi chuyện ổn cả,” Victoria đáp. “Vào đi, anh Robert. Anh còn nhớ anh Tristran Thorn không nhỉ?”
“Chào ông Monday,” Tristran nói và bắt tay ông Monday, bàn tay ông ta ẩm ướt, dấp dính mồ hôi. “Theo tôi được biết, hai người sắp làm đám cưới rồi. Xin được phép gửi ông lời chúc mừng của tôi.”
Ông Monday toét miệng cười, mặc dù nó làm cho ông ta trông như thể đang lên cơn đau răng. Rồi ông ta chìa một bàn tay ra cho Victoria, và cô đứng dậy khỏi ghế.
“Nếu em muốn gặp ngôi sao, tiểu thu Forester...” Tristran nói, nhưng Victoria đã lắc đầu.
“Em rất mừng vì anh đã về nhà an toàn, anh Thorn. Chắc chắn em sẽ được gặp lại anh ở đám cưới của bọn em chứ nhỉ?”
“Anh dám chắc không gì có thể khiến anh vui lòng hơn việc được có mặt tại đó,” Tristran nói, mặc dù anh chẳng chắc chắn gì về chuyện đó hết.
Vào ngày bình thường, chẳng đời nào có chuyện quán Chim Ác Là Thứ Bảy đông nghịt thế này trước bữa sáng, nhưng hôm nay là ngày chợ phiên, và dân làng Bức Tường cùng các vị khách lạ đã ùn ùn kéo đến quầy rượu, đánh chén hàng chồng đĩa sườn cừu, thịt lợn xông khói, nấm và trứng chiên cùng bánh pudding đen.
Ông Dunstan Thorn đang đợi Tristran ở quầy rượu. Ông đứng dậy khi nhìn thấy người con trai, bước tới gần vỗ vào vai anh, không nói năng gì. “Vậy là con đã trở về nguyên vẹn,” ông nói, và giọng ông nồng đượm ý vị tự hào.
Tristran không biết trong thời gian rời nhà, có phải anh đã trở nên to lớn hơn không; trong trí nhớ của anh, cha anh to cao hơn nhiều. “Con chào cha” anh nói. “Con bị thương một chút ở tay.”
“Mẹ con đã làm sẵn bữa sáng ở trang trại để chờ con về đấy,” ông Dunstan nói.
“Có bữa sáng thì tuyệt quá,” Tristran thú nhận. “Và tất nhiên, cả gặp lại mẹ nữa. Cha con ta cũng cần nói chuyện đấy ạ.” Vì tâm trí anh vẫn canh cánh một điều Victoria Forester đã nói.
“Con có vẻ cao lên đấy,” cha anh nói. “Và con nhất thiết phải đến chỗ thợ cắt tóc mới được.” Ông uống nốt cốc bia rồi hai cha con cùng nhau rời khỏi Chim Ác Là Thứ Bảy, bước ra ngoài, tiến vào bầu không khí buổi sáng.
Hai cha con nhà Thorn trèo lên bậc thang dẫn vào một trong những cánh đồng của ông Dunstan, và trên đường họ đi xuyên qua đồng cỏ nơi anh vẫn thường chơi hồi còn nhỏ, Tristran khơi ra vấn đề vẫn đang khiến anh bứt rứt không yên, chính là câu hỏi về sự ra đời của anh. Cha anh trả lời với sự trung thực hết mức có thể, trên quãng đường đi bộ dài dằng dặc dẫn về ngôi nhà trang trại, thuật lại câu chuyện cuộc đời ông như thể đang kể về một câu chuyện đã xảy ra từ rất lâu trước đây, với một người nào đó khác. Một câu chuyện tình.
Và sau đó, họ đã có mặt ở mái nhà xưa của Tristran, nơi em gái anh đang đợi sẵn, và bữa sáng nóng hổi đang được đặt trên bếp lò và trên bàn, sẵn sàng để được phục vụ anh cùng tình cảm trìu mến của người phụ nữ anh vẫn luôn tin là mẹ ruột của mình.
Phu nhân Semele chỉnh lại bông hoa pha lê cuối cùng trên quầy và đánh mắt nhìn phiên chợ với vẻ ghét bỏ. Trời vừa ngả sang chiều, khách khứa vừa bắt đầu tha thẩn đi loanh quanh. Tuy nhiên, chưa có ai trong số họ dừng lại bên quầy hàng của bà ta.
“Cứ sau chín năm, người đã thưa lại càng thưa,” bà ta nói. “Để tao nói cho mà nghe, chẳng mấy nữa, cái chợ phiên này cũng sẽ chỉ còn là ký ức thôi. Rồi sẽ có những chợ phiên khác, những địa điểm họp chợ khác, tao nghĩ thế đấy. Chợ phiên này đã sắp hết thời rồi. Tối đa là bốn mươi, năm mươi hay sáu mươi năm nữa thôi, sau đó thì nó sẽ biến mất vĩnh viễn.”
“Có lẽ vậy,” người hầu mắt tím của bà ta đáp, “nhưng chuyện đó chẳng can hệ gì đến tôi. Đây sẽ là phiên chợ cuối cùng tôi tham dự.”
Phu nhân Semele trừng mắt nhìn bà. “Tao cứ tưởng tao đã nện cho mày văng sạch cái thói xấc láo ra khỏi người từ lâu rồi chứ.”
“Chẳng có gì là xấc láo cả,” nô lệ của bà ta đáp. “Nhìn đây này.” Bà giơ cái sợi xích bạc vẫn trói buộc bà lên. Nó sáng lấp lánh dưới ánh mặt trời, dẫu vậy, nó đã mỏng manh hơn, trong suốt hơn bao giờ hết; có nhiều chỗ trông như được làm từ khói chứ không phải bằng bạc.
“Mày đã làm gì?” Bọt mép sùi ra trên môi bà già.
“Tôi chẳng làm gì cả; chẳng làm gì khác với những gì tôi đã làm mười tám năm trước. Tôi buộc phải làm nô lệ của bà cho tới ngày mặt trăng mất đi con gái, nếu như chuyện đó xảy ra đúng trong tuần có hai Thứ Hai cùng xuất hiện. Và thời gian tôi bị ràng buộc với bà đã sắp hết rồi.”
Lúc này đang là ba giờ chiều. Ngôi sao ngồi trên bãi cỏ trên đồng, cạnh quầy rượu bia và thức ăn của ông Bromios, nhìn không chớp mắt sang tận phía bên kia đồng, về phía lỗ hổng trên tường cùng ngôi làng phía sau nó.
Thỉnh thoảng, các vị khách của quầy hàng sẽ mời cô rượu, bia hay xúc xích béo ngậy ngon lành, nhưng lần nào cô cũng từ chối.
“Cậu đang đợi ai à, bạn thân mến?” một cô gái với dáng vẻ dễ thương hỏi, khi buổi chiều chậm chạp trôi qua.
“Tớ không biết nữa,” ngôi sao nói. “Có lẽ vậy.”
“Nếu tớ đoán không nhầm thì chắc là một chàng trai rồi, một anh chàng dễ mến giống như cậu.”
Ngôi sao gật đầu. “Theo một cách nào đó,” cô nói.
“Tớ là Victoria,” cô gái nói. “Victoria Forester.”
“Tớ là Yvaine” ngôi sao đáp. Cô nhìn Victoria Forester từ trên xuống dưới rồi lại từ dưới lên trên “Vậy ra,” cô nói, “cậu là Victoria Forester. Tớ đã nghe danh cậu từ trước rồi.”
“Ý cậu là về đám cưới hả?” Victoria nói, và đôi mắt cô sáng lên niềm vui cùng sự tự hào.
“Đám cưới à?” Yvaine hỏi. Một bàn tay lẳng lặng với lên eo cô, sờ vào viên đá hoàng ngọc bên trên sợi xích bạc. Rồi cô nhìn chằm chằm về phía lỗ hổng trên tường, cắn môi.
“Ôi tội nghiệp quá! Anh ta đúng là đồ tồi, lại đi bắt cậu đợi thế này!” Victoria Forester nói. “Sao cậu không đi qua rồi tìm anh ta?”
“Bởi vì...” ngôi sao nói, rồi cô dừng lại. “Phải đấy,” cô nói. “Có lẽ tớ sẽ làm thế.” Bầu trời phía trên đầu họ đã bị xé thành những dải mây xám trắng, lấp ló những mảng mây màu xanh dương. “Tớ ước gì mẹ tớ đã ra,” ngôi sao nói. “Trước hết, tớ phải tạm biệt mẹ đã.” Và, một cách vụng về, cô đứng dậy.
Nhưng Victoria không sẵn lòng để người bạn mới bỏ đi dễ dàng như thế, vậy là cô huyên thuyên đủ chuyện, nào là công bố hôn nhân ở nhà thờ, giấy chứng nhận kết hôn, giấy chứng nhận đặc biệt chỉ được cấp bởi tổng giám mục, nào là cô ấy may mắn đến nhường nào vì Robert có quen biết ngài tổng giám mục. Có vẻ như đám cưới đã được ấn định vào sáu ngày sau, vào buổi trưa.
Rồi Victoria gọi với về phía một quý ông đáng kính, hai bên thái dương đã ngả màu muối tiêu, đang hút điếu xì gà màu đen và mỗi khi toét miệng cười thì trông chẳng khác gì đang bị đau răng. “Và đây là Robert,” cô nói. “Robert ơi, đây là Yvaine. Cô ấy đang đợi chàng trai của cô ấy. Yvaine này, đây là Robert Monday. Và trưa thứ Sáu tới, tớ sẽ trở thành Victoria Monday. Có lẽ anh có thể nhắc đến điều đó, anh yêu, trong bài phát biểu của anh ở bữa sáng hôm đám cưới – rằng vào ngày thứ Sáu, hai Thứ Hai sẽ ở bên nhau!”
Và ngài Monday bập bập điếu xì gà, nói với cô dâu tương lai của ông rằng chắc chắn ông sẽ cân nhắc đến ý tưởng này. “Vậy,” Yvaine hỏi, cẩn thận chọn lựa từ ngữ, “cậu sẽ không cưới Tristran Thorn à?”
“Không,” Victoria nói.
“Ồ” ngôi sao nói. “Tốt.” Và cô lại ngồi xuống.
Cô vẫn đang ngồi ở đó khi Tristran quay trở lại qua lỗ hổng trên tường, vài tiếng đồng hồ sau đó. Anh có vẻ thất thần, nhưng lúc nhìn thấy cô thì tươi tỉnh hẳn lên. “Chào cô,” anh nói, giúp cô đứng dậy. “Trong lúc đợi tôi, cô vẫn được vui vẻ đấy chứ?”
“Không hẳn,” cô đáp.
“Xin lỗi nhé,” Tristran nói. “Lẽ ra tôi nên đưa cô theo, cùng đi vào làng.”
“Không đâu,” ngôi sao nói. “Anh không nên làm thế. Chừng nào còn ở Xứ Tiên thì tôi vẫn sống. Nhưng nếu đặt chân sang thế giới của anh, tôi sẽ chẳng là gì ngoài một quặng sắt lạnh ngắt rơi từ trên trời xuống, lỗ chỗ vết rỗ.”
“Vậy mà suýt nữa tôi đã dẫn cô đi cùng!” Tristran hoảng hốt nói. “Tôi đã thử làm thế, tối hôm qua.”
“Phải,” cô nói. “Điều đó chỉ chứng tỏ rằng anh đúng là một gã ngờ nghệch, thiếu não, và một... một thằng ngốc.”
“Tên đầu đất,” Tristran gợi ý. “Cô vẫn luôn thích gọi tôi là tên đầu đất mà. Và một kẻ đần độn.”
“Chậc,” cô nói, “tất cả những tên gọi đó đều đúng với anh, và thậm chí còn hơn cả thế nữa. Sao anh cứ bắt tôi phải đợi như thế? Tôi cứ tưởng anh đã gặp chuyện khủng khiếp nào đó.”
“Tôi xin lỗi,” anh bảo cô. “Tôi sẽ không bỏ cô lại một mình nữa đâu.”
“Đúng vậy,” cô nói, giọng nghiêm túc và chắc chắn, “anh sẽ không làm thế.”
Rồi sau đó, bàn tay anh tìm đến tay cô. Họ bước đi, tay trong tay, qua chợ phiên. Gió bắt đầu nổi lên, quật phần phật, giật tung các lá cờ và vải lều, rồi một cơn mưa lạnh lất phất rơi xuống người họ. Họ tránh vào bên dưới tấm vải bạt ở một quầy sách, cùng với vài người và vài sinh vật khác. Chủ quầy hàng lôi xềnh xệch một thùng sách đầy ắp vào sâu hơn bên dưới tấm vải bạt để đảm bảo nó sẽ không bị ướt.
“Bầu trời lốm đốm mây bông, bầu trời lốm đốm mây bông, ướt không được bao lâu, tạnh ráo cũng chẳng mấy hồi,” một người đàn ông đội mũ lụa đen chóp cao nói với Tristran và Yvaine. Ông ta đang mua của người bán sách một cuốn sách nhỏ bọc da đỏ.
Tristran mỉm cười gật đầu, và xét thấy cơn mưa rõ ràng là đang ngớt, anh và Yvaine lại đi tiếp.
“Tôi dám cá đó là tất tật sự cảm ơn tôi nhận được từ họ đấy,” người đàn ông dáng cao đội mũ chóp cao nói với người bán sách, nhưng ông này chẳng mảy may hiểu được ông khách đang nhắc đến chuyện gì và cũng chẳng thèm quan tâm.
“Tôi đã tạm biệt gia đình,” Tristran nói với ngôi sao trên đường đi. “Với cha tôi, và mẹ tôi - có lẽ tôi nên nói là vợ của cha tôi mới đúng - và em gái tôi, Louisa. Tôi không cho là tôi sẽ quay lại đó lần nào nữa. Giờ vấn đề duy nhất chúng ta cần giải quyết là làm sao đưa cô quay trở lại bầu trời. Có lẽ tôi sẽ đi cùng cô.”
“Anh sẽ không thích thế đâu, ở trên trời cao ấy,” ngôi sao cam đoan với anh. “Vậy... theo tôi hiểu thì anh sẽ không cưới Victoria Forester.”
Tristran gật đầu. “Không,” anh nói.
“Tôi đã gặp cô ấy rồi,” ngôi sao nói. “Anh có biết là cô ấy đang mang bầu không?”
“Sao?” Tristran hỏi, sửng sốt, ngạc nhiên.
“Tôi không chắc là cô ấy biết. Cô ấy mang bầu được một, hoặc có lẽ là hai kỳ trăng rồi.”
“Trời đất ơi. Sao cô biết?”
Đến lượt ngôi sao nhún vai. “Anh biết không,” cô nói, “tôi rất mừng khi phát hiện ra anh không cưới Victoria Forester."
“Tôi cũng vậy,” anh thú nhận.
Mưa lại bắt đầu rơi lần nữa, nhưng họ chẳng có bất kỳ động thái trốn tránh nào. Anh siết chặt bàn tay cô. “Anh biết không” cô nói, “một ngôi sao và một người phàm...”
“Thật ra, chỉ là một nửa người phàm thôi,” Tristran nói, cung cấp thêm thông tin. “Tất cả mọi điều anh từng nghĩ về bản thân - anh là ai, anh như thế nào - đều là dối trá. Hoặc đại loại thế. Em không biết điều đó mang lại cảm giác nhẹ nhõm đến mức đáng ngạc nhiên như thế nào đâu.”
“Cho dù anh là gì đi nữa,” cô nói, “em chỉ muốn nói rõ cho anh biết rằng rất có thể chúng ta sẽ không bao giờ có con. Chỉ thế thôi.”
Vậy là, Tristran nhìn ngôi sao, rồi anh bắt đầu mỉm cười, và anh không nói năng gì. Hai bàn tay anh phủ lên trên hai bắp tay cô. Anh đứng trước mặt cô, nhìn xuống cô.
“Chỉ muốn cho anh biết thế thôi,” ngôi sao nói, và cô ngả người về phía trước.
Họ trao cho nhau nụ hôn đầu tiên trong cơn mưa xuân mát lạnh, mặc dù cả hai người chẳng ai biết trời đang mưa. Tim Tristran nện thình thịch trong lồng ngực ; như thế nó không đủ lớn để cất chứa tất cả niềm vui đang ở trong lòng. Anh vẫn mở mắt lúc hôn ngôi sao. Đôi mắt xanh da trời của cô nhìn sâu vào mắt anh, và trong đôi mắt cô, anh có thể nhìn thấy một sự gắn bó không rời.
Sợi xích bạc giờ chỉ còn là khói và hơi nước. Trong một thoáng, nó treo lơ lửng giữa không trung, rồi một cơn gió cuốn theo mưa ùa đến, và nó hoàn toàn tan biến vào hư không
“Đấy,” người phụ nữ tóc xoăn đen vươn người như một nàng mèo nói, rồi mỉm cười. “Tôi đã hoàn thành mọi điều kiện để kết thúc thời kỳ nô lệ của tôi, bây giờ tôi và bà chẳng còn dính dáng gì đến nhau nữa”
Bà già bất lực nhìn người phụ nữ. “Nhưng tao biết làm gì đây? Tao già rồi. Tao đâu có coi sóc quầy hàng một mình được. Mày là một con đàn bà nhếch nhác, xấu xa, ngu ngốc, lại còn ruồng bỏ tao như thế này”
“Những vấn đề của bà chẳng dính líu gì đến tôi hết,” người cựu nô lệ của bà ta nói, “nhưng đừng có bao giờ gọi tôi là con đàn bà nhếch nhác, cũng đừng có gọi tôi là nô lệ, hay bất cứ cách gọi nào khác ngoài tên thật của tôi. Tôi là công chúa Una, con gái đầu và cũng là con gái duy nhất của Đức vua Stormhold đời thứ tám mươi mốt, và các bùa phép cùng các giao ước bà dùng để trói buộc tôi giờ đã chấm dứt hết rồi. Còn bây giờ, hãy xin lỗi tôi và gọi tôi theo đúng tên của tôi, nếu không tôi sẽ vô cùng hân hoan mà dành suốt phần đời còn lại săn lùng bà và phá hủy tất thảy những gì bà quan tâm cũng như tất thảy những gì thuộc về bà.”
Họ nhìn nhau, và rồi, chính bà già là người phải rời mắt đi chỗ khác trước.
“Vậy thì tôi phải xin lỗi vì đã gọi cô là con đàn bà nhếch nhác, thưa công chúa Una,” bà ta nói, phun từng từ ra khỏi miệng như thể đang phun mạt cưa đắng ngắt.
Công chúa Una gật đầu. “Tốt. Còn bây giờ, thời gian của tôi với bà đã hết, tôi tin rằng bà vẫn còn nợ tôi công phục vụ đấy,” bà nói. Vì những chuyện này đều có các quy tắc riêng. Mọi thứ đều có quy tắc.
Mưa vẫn rơi rào rào, rồi tạnh được một hồi lâu, đủ để dụ dỗ người ta rời khỏi những chỗ trú tạm thời, nhưng sau đó lại trút xuống người họ thêm lần nữa. Tristran và Yvaine ngồi đó, ướt sũng và hạnh phúc, bên cạnh một đống lửa trại, cùng với đủ các thể loại người và sinh vật.
Tristran đã hỏi xem có ai quen biết gì người đàn ông bé nhỏ lông lá anh đã gặp trên đường du hành không, và cố gắng miêu tả ông ta một cách rõ ràng hết mức. Vài người cho biết họ đã từng gặp ông ta trước đây, tuy nhiên chẳng ai từng thấy ông ta xuất hiện trong phiên chợ này.
Anh nhận ra hai bàn tay anh, gần như vô thức, cứ dính chặt vào mái tóc ướt của ngôi sao. Anh thầm hỏi lòng vì sao phải mất đến bằng đấy thời gian anh mới nhận ra anh quan tâm đến cô biết nhường nào, rồi anh nói với cô điều đó, và cô gọi anh là anh ngốc, thế là anh tuyên bố rằng đây là cách gọi tuyệt vời nhất một người đàn ông từng được gọi.
“Vậy, sau khi chợ tàn, chúng mình sẽ đi đâu đây?" Tristran hỏi ngôi sao.
“Em không biết,” cô nói. “Nhưng em vẫn còn một nhiệm vụ phải hoàn thành.”
"Thật à?"
“Vâng” cô nói. “Viên đá hoàng ngọc em chỉ cho anh xem ấy. Em phải trao nó cho người phù hợp. Lần gần đây nhất người phù hợp xuất hiện, chính mụ chủ quán trọ đã cắt cổ y, vậy nên em vẫn đang giữ nó. Nhưng em chỉ ước gì nó biến đi cho xong”
Một giọng phụ nữ vang lên trên vai anh, “Đề nghị cô ấy đưa cho con thứ cô ấy cầm đi, Tristran Thorn."
Anh quay người lại, nhìn thẳng vào đôi mắt mang màu tím của đồng cỏ, “Cô chính là con chim trên xe moóc của bà phù thủy,” anh nói với người phụ nữ.
“Hồi con bị biến thành chuột sóc, con trai ạ,” người phụ nữ nói. “Hồi đó ta là chim. Nhưng giờ ta đã lấy lại được hình dạng thật của mình, thời gian nô lệ của ta đã hết. Đề nghị Yvaine đưa cho con thứ cô ấy cầm đi. Con có quyền đấy.”
Anh quay lại phía ngôi sao. “Yvaine?”
Cô gật đầu, chờ đợi.
“Yvaine, em đưa cho anh thứ em đang mang được chứ?”
Cô có vẻ nghĩ ngợi; rồi cô thò tay vào trong váy, dè dặt khua khoắng, sau đó mang ra một viên đá hoàng ngọc to đính kèm sợi xích bạc đã bị đứt.
“Nó từng thuộc về ông ngoại con,” người phụ nữ nói với Tristran. “Con là người đàn ông cuối cùng của dòng họ Stormhold. Đeo nó lên cổ đi.”
Tristran làm theo; khi anh đồng thời chạm vào hai đầu sợi xích bạc, chúng gắn chặt vào nhau và liền lại như thể chưa từng bị đứt. “Nó đẹp quá,” Tristran nói, giọng hồ nghi.
“Nó là Sức mạnh Stormhold,” mẹ anh đáp. “Không ai có thể tranh cãi về điều này. Con thuộc dòng dõi này, và tất cả các chú bác của con đều đã qua đời. Con sẽ trở thành một Đức vua Stormhold sáng suốt”
Tristran nhìn bà, thực sự hoang mang. “Nhưng con chẳng muốn làm Đức vua của bất kỳ nơi nào” anh bảo bà, “hoặc của bất cứ cái gì, có lẽ chỉ trừ với trái tim người phụ nữ của con.” Và anh nắm tay ngôi sao, áp nó lên ngực anh, miệng nở nụ cười.
Người phụ nữ sốt ruột giật giật hai tai. “Gần mười tám năm, Tristran Thorn, mẹ chưa từng đòi hỏi con bất cứ điều gì. Còn bây giờ, với yêu cầu nhỏ nhặt đầu tiên mẹ đưa ra - sự nhờ vả vặt vãnh nhất mẹ đòi hỏi ở con - con lại nói không với mẹ. Nào, mẹ hỏi con, Tristran, đó có phải cách con đối xử với mẹ của mình không?”
“Không, mẹ ạ,” Tristran nói.
“Thế đấy,” bà nói tiếp, dịu giọng hơn một chút, “và mẹ cho rằng cũng là chuyện tốt nếu đám thanh niên các con có một tổ ấm riêng, và con có một công việc. Mà nếu nó không phù hợp với con, con có thể từ bỏ, con biết đấy. Chẳng có sợi xích bạc nào trói buộc con vào ngai vàng Stormhold đâu.”
Tristran thấy tương đối xuôi lòng. Yvaine ít hài lòng hơn vì cô biết sợi xích bạc có thể xuất hiện với đủ mọi hình dạng và kích cỡ; nhưng cô cũng biết đúng lúc bắt đầu cuộc sống với Tristran mà lại đi tranh cãi với mẹ anh thì chẳng phải chuyện khôn ngoan gì.
“Không biết cháu có vinh dự được biết danh tính của cô không ạ?” Yvaine hỏi, băn khoăn không biết có phải cô đang tỏ ra nịnh nọt quá lố không. Mẹ Tristran làm duyên, và Yvaine biết cô không hề quá lố.
“Cô là công chúa Una xứ Stormhold,” bà nói. Rồi bà thò tay vào trong một cái túi nhỏ đeo bên hông, lôi ra một bông hồng thủy tinh màu đỏ sẫm đến độ gần như biến thành màu đen trong ánh lửa chập chờn. “Đây là tiền công của mẹ,” bà nói. “Cho hơn sáu mươi năm nô lệ. Bà ta thấy đắng lòng lắm vì phải đưa cho mẹ cái này, nhưng quy tắc là quy tắc, và nếu không tuân thủ, bà ta sẽ mất hết phép thuật và còn hơn thế nữa. Này, mẹ đang định đổi nó lấy một cái kiệu để đưa chúng ta về Stormhold, vì chúng ta phải xuất hiện thật phong cách mới được. Ôi, mẹ nhớ Stormhold đến chết đi được. Chúng ta phải có người khiêng kiệu, người hầu mở đường và có lẽ là cả một con voi nữa - như thế sẽ gây ấn tượng mạnh lắm đấy, sao mà sánh được với khi hô ‘Tránh đường’ mà có một con voi ở trước…”
“Không” Tristran nói.
“Không?” mẹ anh hỏi.
“Không” Tristran nhắc lại. “Mẹ có thể đi bằng kiệu và voi, lạc đà hay gì gì cũng được, nếu mẹ muốn, mẹ ạ. Nhưng Yvaine và con sẽ tự đi đến đó, và đi theo tốc độ của bọn con.”
Công chúa Una hít một hơi thở sâu, và Yvaine mà quyết định rằng cô nên tránh xa một cuộc tranh cãi như thế này thì hơn, vậy nên cô đứng dậy, bảo với hai mẹ con rằng cô sẽ quay lại sớm thôi, rằng cô cần đi dạo một lát, và rằng cô sẽ không lang thang quá xa. Tristran nhìn cô bằng ánh mắt khẩn nài, nhưng Yvaine lắc đầu: đây là cuộc chiến anh phải tự mình chiến đấu, và anh sẽ chiến đấu hiệu quả hơn nếu cô không có mặt ở đó.
Cô khập khiễng đi xuyên qua khu chợ đang dần chìm trong bóng tối, dừng chân lại bên cạnh một túp lều văng vẳng tiếng nhạc cùng tiếng vỗ tay và đang đổ tràn ra ngoài thứ ánh sáng ấm áp vàng óng như mật ong. Cô vừa nghe nhạc, vừa đắm chìm trong suy nghĩ. Đúng lúc đó, một mụ già tóc bạc trắng, lưng còng, bị lòa một bên mắt tập tễnh bước lại gần ngôi sao, rủ cô đứng lại trò chuyện một lúc.
“Nói chuyện gì cơ?” ngôi sao hỏi.
Mụ già, bị teo tóp bởi tuổi tác và dòng chảy thời gian đến nỗi trông chẳng lớn hơn đứa trẻ là bao, nắm chặt một cây gậy cũng dài và cong queo y như mụ bằng cả hai bàn tay sưng khớp bị ảnh hưởng bởi chứng liệt. Mụ ta chằm chằm ngước nhìn ngôi sao bằng cả con mắt còn tốt lẫn con mắt màu xanh đục, và mụ nói, “Tao đến lấy trái tim của mày.”
“Vậy hả?” ngôi sao hỏi.
“Phải,” mụ già nói. “Tao suýt nữa đã lấy được nó, lúc ở đó, trên đèo núi.” Mụ lục khục tận sâu trong cổ họng khi nhớ đến ký ức đó. “Mày còn nhớ không?” Mụ đeo trên lưng một cái gói to trông y như cái bướu. Một cái sừng ngà xoắn ốc thò ra từ cái gói, và Yvaine nhớ rõ cô đã từng nhìn thấy cái sừng này ở đâu.
“Chính là bà sao?” ngôi sao hỏi mụ đàn bà nhỏ thó. “Bà, với hai con dao đó?”
“Ừm. Chính tao đấy. Nhưng vì hành trình này mà tao đã phung phí toàn bộ tuổi trẻ tao lấy được rồi. Mỗi lần triển khai phép thuật, tao sẽ bị mất một chút tuổi trẻ, và giờ đây, tao đã trở nên già hơn bao giờ hết.”
“Nếu bà chạm vào tôi,” ngôi sao nói, “đặt dù chỉ một ngón tay lên người tôi thôi, bà cũng sẽ hối hận đời đời.”
“Khi mày đã ở vào độ tuổi của tao,” mụ già nói, “mày sẽ biết hết những gì có thể biết về hối hận, và mày cũng sẽ biết rằng, thêm một lần hối hận đâu đó trên cả chặng đường dài cũng sẽ chẳng tạo nên khác biệt gì đâu.” Mụ hít mạnh. Chiếc váy mụ mặc từng mang màu đỏ, nhưng dường như nó đã trở nên loang lổ, tã tượi và bạc màu qua tháng năm. Nó trễ xuống ở một bên vai, để lộ một vết sẹo rúm ró có lẽ đã có hàng trăm năm tuổi đời.
“Chuyện khiến tao băn khoăn là tại sao tao không còn tìm thấy mày trong tâm trí tao nữa. Mày vẫn ở đó, đúng thế, nhưng mày lại hiển hiện như một bóng ma, một con ma trơi. Mới không lâu trước đây, mày vẫn còn cháy sáng - trái tim của mày vẫn cháy sáng - trong tâm trí tao y như ngọn lửa bạc. Nhưng sau buổi tối đó trong quán trọ, nó đã trở nên loang lổ, mờ nhạt, và giờ thì nó chẳng còn xuất hiện ở đó nữa.”
Yvaine nhận ra cô chẳng cảm thấy gì ngoài lòng thương hại dành cho kẻ chỉ mong cô chết đi, vậy nên cô nói, “Có lẽ vì trái tim bà tìm kiếm không còn thuộc về tôi nữa?”
Mụ già bật ho. Cả thân hình mụ run lên và co rúm lại trước nỗ lực bật tiếng ho ra ngoài. Ngôi sao đợi cho bà ta ho xong rồi mới nói, “Tôi đã trao trái tim mình cho người khác rồi.”
“Thằng con trai đó? Thằng con trai trong quán trọ? Đi cùng con kỳ lân?”
“Phải.”
“Lẽ ra lúc trước mày nên để tao lấy lại nó, cho các em gái của tao và tao. Chúng tao đã có thể trẻ trung trở lại, vững vàng tiến vào giai đoạn tiếp theo của thế giới. Thằng con trai của mày thể nào cũng sẽ làm tan vỡ nó, hoặc lãng phí nó, hoặc đánh mất nó. Bọn con trai đều thế cả.”
“Dù sao đi nữa,” ngôi sao nói, “anh ấy cũng đã có trái tim tôi rồi. Hy vọng các em gái của bà sẽ không đối xử với bà quá khắc nghiệt, khi bà quay về với họ mà không mang theo nó.”
Đúng lúc đó, Tristran thả bước về phía Yvaine và nắm tay cô, gật đầu chào mụ già. “Mọi chuyện đã được thu xếp xong xuôi rồi,” anh nói. “Không cần lo gì nữa đâu.”
“Thế cái kiệu thì sao?”
“Ồ, mẹ sẽ đi bằng kiệu. Anh đã phải hứa là không sớm thì muộn chúng ta cũng sẽ tới Stormhold, nhưng chúng ta có thể thư thả mà đi. Anh nghĩ ta nên mua hai con ngựa, rồi thăm thú các cảnh quan.”
“Mẹ anh tán thành chuyện này à?”
“Đến lúc cuối thì cũng thuận theo,” anh hờ hững nói. “Mà anh xin lỗi vì đã xen ngang nhé.”
“Bọn em cũng gần xong rồi,” Yvaine nói, và cô quay lại phía mụ già nhỏ thó.
“Các em gái của ta sẽ không chỉ cay nghiệt đâu, mà còn độc ác nữa,” nữ hoàng phù thủy già nói. “Tuy nhiên, ta rất cảm kích sự cảm thông của cô. Cô có một trái tim đẹp đấy, cô bé. Đáng tiếc nó không thuộc về ta.”
Lúc đó, ngôi sao bèn cúi xuống hôn lên gò má nhăn nheo của mụ già, cảm thấy những sợi lông thô ráp trên má mụ ta cọ vào đôi môi mềm mại của cô.
Rồi ngôi sao và tình yêu đích thực của cô rời đi, tiến về phía bức tường. “Bà già ấy là ai đấy?” Tristran hỏi. “Trông bà ta hơi quen quen. Có chuyện gì à?”
“Chẳng có chuyện gì đâu,” cô bảo anh. “Bà ta chỉ là một người em gặp trên đường thôi.”
Sau lưng họ, các loại đèn đóm từ khu chợ tỏa sáng, nào đèn lồng, nào nến, nào đèn phù thủy và ánh sáng lấp lánh của Xứ Tiên, như thể bầu trời đêm đã hạ xuống mặt đất trong cơn mơ. Trước mặt họ, ngang qua đồng cỏ, ở phía bên kia của lỗ hổng trên bức tường giờ chẳng còn ai canh gác, là làng Bức Tường. Đèn dầu, đèn khí đốt và nến sáng rực trong cửa sổ các ngôi nhà trong làng. Đối với Tristran, tại thời điểm đó, chúng có vẻ xa xăm và lạ lẫm chẳng khác gì thế giới trong Nghìn lẻ một đêm.
Anh dõi nhìn ánh đèn và ánh nến ở Bức Tường vì anh biết (suy nghĩ ấy bất chợt đến với anh cùng một niềm tin chắc chắn) rằng đó chính là lần cuối cùng anh còn làm được thế. Anh chăm chăm nhìn chúng một hồi lâu, không nói năng gì, ngôi sao băng ở ngay bên cạnh. Rồi anh xoay người quay đi, và bên nhau, họ bắt đầu dấn bước về phương Đông.