Bút ký Người đi săn

Lượt đọc: 586 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
ERMÔLAI VÀ VỢ NGƯỜI CHỦ CỐI XAY

Một buổi chiều, tôi và anh thợ săn Ermôlai đi "chyaga"... Nhưng có lẽ không phải tất cả các độc giả của tôi đều hiểu thế nào là chyaga. Vậy thì tôi xin kể các bạn nghe.

Mùa xuân, mười lăm phút trước khi mặt trời lặn, bạn ung dung vào rừng, không đem theo chó.

Bạn chọn lấy một chỗ gần bìa rừng, bạn đưa mắt quan sát khắp xung quanh, xem xét kỹ mồi thuốc súng, nháy mắt trao đổi với người cùng đi săn.

Mười lăm phút đã qua. Mặt trời lặn hẳn, nhưng trong rừng còn sáng. Không khí tinh khiết và trong trẻo chim chóc ríu rít, cỏ non lấp lánh màu ngọc bích tươi vui... bạn chờ đợi. Trong rừng tối dần.

Ánh hoàng hôn đỏ thắm từ từ lướt trên những rễ cây và thân cây, mỗi lúc một lên cao, chuyển từ những cành thấp hầu như trơ trụi với những ngọn cây im lìm đang thiêm thiếp ngủ... Kìa, những ngọn cây cao nhất đã mò tối. Bầu trời ửng hồng chuyển sang màu xanh lam. Mùi cây cỏ trong rừng bốc lên mạnh hơn; làn hơi ẩm ấm áp nhẹ nhàng lan tỏa ra; cơn gió ùa vào rừng lặng dần đi bên cạnh bạn. Chim chóc bắt đầu ngủ, không phải cùng một lúc mà tùy từng giống: chim mai hoa im lặng trước tiên, lát sau đến chim bông lau, rồi đến chim yến mạch. Trong rừng mỗi lúc một tối. Cây cối hòa vào nhau thành những khối lớn thẫm đen dần. Trên bầu trời xanh, những đốm sao đầu tiên rụt rè xuất hiện. Chim chóc đã ngủ cả. Chỉ còn những con chim đỏ đuôi những chú gõ kiến nhỏ bé thỉnh thoảng vẫn huýt lên mấy tiếng mơ ngủ. . . Nhưng rồi chúng cũng im bặt. Phía trên đầu bạn, tiếng hót lanh lảnh của chú chích xanh vang lên lần nữa, đâu đó vàng anh cất tiếng kêu buồn bã, hoạ mi thử khúc nhạc đầu, phát ra một âm thanh vang giòn như tiếng gõ phách... Bạn cảm thấy chán nản vì phải chờ đợi lâu, và bỗng nhiên - nhưng chỉ những người đi săn mới hiểu được tôi - bỗng nhiên, trong bầu không khí tịch mịch vang lên thứ tiếng kêu đặc biệt xen lẫn tiếng rít, bạn nghe thấy tiếng vỗ nhịp nhàng của đôi cánh khéo léo, và con dẽ gà nghiêng cái mỏ dài một cách duyên dáng, nhẹ nhàng bay lướt ra từ sau cây phong tối thẫm để đón lấy phát súng của bạn.

Đấy "đi chyaga" là như vậy.

Vậy là, tôi cùng với Ermôlai đi chyaga. Nhưng, xin lỗi bạn đọc, tôi phải giới thiệu Ermôlai với các bạn đã.

Các bạn hãy hình dung một người trạc bốn mươi lăm tuổi, cao, gầy, mũi dài thon nhỏ, trán hẹp, mắt ti hí màu xám, tóc rễ tre, môi dày lúc nào cũng như nhếch một nụ cười giễu cợt. Đông cũng như hè, người đó mặc chiếc áo dài bằng vải Nam Kinh màu vàng nhạt, may kiểu Đức, nhưng thắt tấm dây lưng rộng bản, đánh chiếc quần chèn ống màu xanh, đội chiếc mũ da cừu non mà một địa chủ phá sản đã cho anh ta trong lúc cao hứng. Ở dây lưng có buộc hai cái túi, một cái ở đằng trước được xoắn lại một cách khéo léo thành hai nửa, một nửa đựng thuốc súng, một nửa đựng chì, cái túi ở đằng sau đựng thú vật săn được; còn lông nhồi đạn súng thì Ermôlai lấy ở cái mũ dường như không bao giờ trụi của mình. Với số tiền bán những thú vật săn được Ermôlai có thể dễ dàng mua một cái túi đựng đạn và cái đẫy của người đi săn, nhưng chưa bao giờ anh ta nghĩ tới chuyện mua những thứ đó và vẫn tiếp tục nhồi lấy đạn súng, làm cho những người được xem anh làm phải ngạc nhiên vì tài khéo léo của anh: anh không để thuốc súng và chì rơi vãi hay lẫn với nhau. Súng của anh ta là súng một nòng, mồi bằng đá lửa, khẩu súng này có cái dở là giật cực dữ, vì thế má phải của Ermôlai bao giờ cũng bầu bĩnh hơn má trái. Với khẩu súng như thế, làm thế nào anh ta bắn súng được, điều đó người tinh ranh đến đâu cũng không thể hiểu nổi, thế mà anh ta vẫn bắn rất trúng đấy. Trước kia, anh ta còn có cả con chó săn biệt hiệu là Valetka, một con vật kỳ diệu. Ermôlai không bao giờ cho nó ăn. "Tôi mà lại cho chó ăn nữa thì vừa - Ermôlai lý sự - Vả lại chó là con vật tinh khôn, tự nó sẽ tìm được cái ăn". Và thực vậy, tuy Valetka khiến cho ngay cả một người qua đường dửng dưng cũng phải sửng sốt vì cái vẻ gầy guộc quá đáng của nó, nhưng nó vẫn sống, và sống lâu. Hơn thế nữa, dù sống cực khổ, nó chưa bỏ đi lần nào và không tỏ ra có ý định bỏ chủ. Chỉ có một lần, thời trai trẻ, nó vắng nhà hai ngày vì mải mê về đường tình ái. Nhưng cái thói ngông cuồng ấy mau chóng rời bỏ nó. Valetka có một đặc điểm rất khác thường: đó là thái độ dửng dưng khó hiểu của nó đối với mọi sự đời. . .Nếu không phải là nói về chó thì tôi sẽ dùng tiếng: chán đời. Nó thường hay ngồi, cái đuôi cộc quặp lại, mặt nhăn nhó, thỉnh thoảng lại rung người, nhưng không bao giờ mỉm cười. (Ta biết rằng chó có thể mỉm cười, thậm chí mỉm cười rất dễ thương). Nó xấu xí nhất trần đời, và không một kẻ đầy tớ nhàn rỗi nào lại bỏ lỡ dịp chế nhạo hình dạng nó một cách cay độc. Nhưng Valetka thản nhiên chịu đựng tất cả những trò nhạo báng ấy và thậm chí cả sự đánh đập nữa, tỏ ra có thái độ phớt lờ kỳ lạ. Nó thường làm cho những người nấu bếp đặc biệt thích thú, ấy là khi, do một nhược điểm không phải chỉ giống chó mới có, nó thò cái mõm đói của nó vào cánh cửa hé mở của căn nhà bếp ấm áp đầy sức cám dỗ và thơm điếc mũ những người nấu bếp lập tức ngừng việc, quát tháo và chửi mắng đuổi theo nó. Khi đi săn, nó không hề biết mệt mỏi và đánh hơi rất tinh. Nhưng nếu tình cờ đuổi kịp một con thỏ bị trúng thương thì nó tha con vật vào một chỗ nào rợp mát dưới bụi cây, cách Ermôlai thật xa và chén hết sạch, không chừa lại một mẩu xương nào cả, mặc cho chủ chửi rủa bằng tất cả những thổ ngữ quen biết và lạ tai.

Ermôlai là nông nô của một trong những người láng giềng của tôi, một địa chủ kiểu cũ. Những địa chủ kiểu cũ không thích chim rừng và chuyên dùng gia cầm. Chỉ trừ một số dịp đặc biệt, như: ngày sinh nhật, ngày lễ đặt tên thánh, ngày bầu cử thì đầu bếp của các địa chủ cũ mới làm thịt những con chim mỏ dài. Và đôi khi đã hăng tiết lên - đúng với bản tính của người Nga khi người đó không biết rõ mình đang làm gì, - họ sáng chế ra những thứ gia vị kỳ quặc để tra vào các món họ làm, đến nỗi khách khứa phần lớn chỉ tò mò và chăm chú ngắm nhìn những món ăn được bưng lên nhưng tuyệt nhiên không dám nếm thử. Ermôlai được lệnh mỗi tháng một lần đem nộp cho nhà bếp của chủ hai đôi gà lôi và gà gô, nhưng anh ta được phép muốn ở đâu thì ở và sống bằng cách nào tùy ý Người ta không đếm xỉa đến anh, coi anh ta là người không dùng được vào việc gì cả - "một người thừa", như ở Oriôn người ta thường nói. Tất nhiên người ta không cấp thuốc súng và chì cho anh, theo đúng những nguyên tắc đã khiến anh không cho con chó của mình ăn. Ermôlai thuộc loại người hết sức lạ: vô tư lự như chim, khá lắm lời, lơ đãng và bề ngoài nom vụng về. Anh ta rất ham uống rượu, không ở đâu lâu một chỗ, đi thì chuệnh choạng, nghiêng bên nọ ngả bên kia, thế nhưng cứ chuệnh choạng và nghiêng ngả như vậy mà anh ta cuốc bộ năm mươi dặm một ngày đấy. Anh ta đã nếm đủ mùi phiêu lưu: ngủ đêm trong đầm lầy, trên cây, trên mái nhà, dưới gậm cầu, đã nhiều phen bị nhốt trên gác mái ấp, trong hầm nhà và trong nhà kho, bị tước mất súng, mất chó, mất những thứ che thân cần thiết nhất, nhiều lần bị đánh đau và đánh lâu. Ấy vậy mà ít lâu sau, anh ta trở về nhà có đủ cả quần áo, súng và chó.

Không thể nói anh ta là người vui tính tuy hầu như bao giờ anh ta cũng khá tươi tỉnh. Nói chung anh ta có vẻ là một người kỳ quặc. Ermôlai thích nói chuyện với một người tử tế, đặc biệt là lúc khề khà bên chai rượu, nhưng cũng không lâu: đột nhiên anh ta đứng dậy và đi. - "Này, đồ quỷ, anh đi đâu đấy? Đêm hôm rồi".

- Tôi đến Tsaplinô.

- Nhưng anh lần mò đến Tsaplinô làm gì, cách đây những mười dặm đường.

- Tôi đến ngủ ở nhà tay mujich Xôfrôn.

- Ngủ ở đây.

- Không, không được.

Và Ermôlai cùng với Valetka của mình xông vào đêm tối, vượt qua các bụi cây và các vũng nước, nhưng gã mujich Xôfrôn của anh có thể sẽ không cho anh vào nhà, mà chưa biết chừng còn cho anh mấy quả tống vào cổ và quát tháo: "Đừng có quấy rầy những người lương thiện". Nhưng không ai có thể bì kịp Ermôlai về tài bắt cá trong kỳ nước lũ mùa xuân, tài dùng tay không bắt tôm, tài đánh hơi tìm ra thú săn, tài nhử chim cun cút, tài tập rượt diều hâu, tài bắt chim họa mi bằng cách bắt chước in hệt một số âm điệu hay nhất trong điệu nhạc của nó... Duy có một việc anh ta không làm được: luyện chó. Anh không đủ kiên nhẫn. Anh đã từng có vợ. Mỗi tuần anh ta đến với vợ một lần. Vợ anh ở một túp nhà tồi tàn, đổ nát, sống lần qua ngày, không bao giờ biết trước ngày mai mình có được no bụng không, nói chung số phận của chị thật là cay đắng. Ermôlai, con người vô tư và tốt bụng ấy, đối với vợ lại tàn nhẫn và hung bạo. Ở nhà, anh ta luôn có vẻ dậm dọa và nghiêm khắc, và người vợ khốn khổ của anh ta không biết làm thế nào cho vừa ý chồng, chị run sợ trước luồng mắt của anh ta, vét từng đồng xu cuối cùng mua rượu nho cho chồng và khi anh ta nằm ngả lên bếp lò với vẻ oai vệ, đánh một giấc ngủ say lì thì chị lấy áo khoác của mình len lén đắp cho chồng.

Chính tôi đã nhiều lần có dịp nhận thấy những biểu hiện vô tình của một tính nết hung dữ: tôi không ưa vẻ mặt của anh ta khi anh ta nhấm nháp con chim bắn được. Nhưng Ermôlai không bao giờ ở nhà quá một ngày. Và ở nơi khác, anh lại biến thành "Ermôlka" - khắp trăm dặm xung quanh người- ta gọi anh bằng cái tên ấy và đôi khi chính anh tự gọi mình như vậy. Một gia nhân hèn kém nhất cũng cảm thấy mình hơn hẳn gã lang thang này, và có lẽ chính vì thế họ đối xử thân thiện với anh. Còn cánh mujich thì lúc đầu lùng bắt anh một cách thích thú như lùng bắt con thỏ giữa cánh đồng, nhưng sau họ lại thả anh ra cho Chúa định đoạt và khi đã biết rõ con người kì quặc thì họ không động đến anh nữa, thậm chí còn cho anh bánh mì và chuyện trò với anh... Tôi đã chọn chính người ấy làm bạn đi săn, và cùng với anh ta, tôi đã đi "chyaga" trong một khu rừng phong lớn, trên bờ sông Ixta.

Nhiều con sông Nga, cũng giống như sông Vonga, có một bờ cao sát chân núi và một bờ thấp là đồng cỏ. Sông Ixta cũng thế. Con sông nhỏ này chảy uốn éo lạ thường, lượn khúc như rắn, không có quãng nào dòng sông thẳng được đến nửa dặm, và có chỗ, đứng trên bờ dốc cao, có thể nhìn thấy đoạn sông trong tầm mười dặm, với những đê đập, ao chuôm, cối xay, những vườn rau xung quanh có bụi cây bao bọc, và những khu vườn cây um tùm.

Cá sông Ixta nhiều vô tận, đặc biệt là cá rói (vào những ngày nóng nực, nông dân tay không bắt cá rói dưới bụi cây ven sông). Những con chim hô triều huýt lên như tiếng còi, bay lượn dọc mé bờ cao lởm chởm đá có những mạch nước nguồn mát lạnh trong suốt chảy ngang dọc khắp nơi. Vịt trời bơi ra giữa ao và thận trọng nhìn quanh. Những con diệc đứng ngất nghểu trong bóng rợp, ở chỗ nước lấn sâu vào đất dưới bờ dốc dựng ngược... Chúng tôi đứng rình ngót một giờ, hạ được hai cặp dẽ gà, và muốn thử lại lần nữa, cái lạc thú của mình trước khi mặt trời mọc (cũng có thể đi chyaga vào buổi sáng), chúng tôi quyết định nghỉ đêm ở chỗ cối xay gần nhất. Chúng tôi ra khỏi rừng, đi xuống chân đồi. Trên mặt sông, những con sóng xanh thẫm xô đuổi nhau. Không khí dày đặc lại, trĩu nặng hơi ẩm ban đêm. Chúng tôi gõ cổng. Mấy con chó sủa inh lên.

- Ai đấy? - Một giọng khàn khàn, ngái ngủ vang lên.

- Chúng tôi đi săn, muốn xin ngủ nhờ.

Không thấy trả lời.

- Chúng tôi sẽ trả tiền trọ.

- Để tôi vào thưa ông chủ. . . khẽ chứ, đồ trời đánh thánh vật... Trời chu đất diệt các người đi!

Chúng tôi nghe thấy tiếng chân người làm đi vào trong nhà. Lát sau, gã trở ra.

- Không - Gã nói - ông chủ bảo không cho vào.

- Tại sao?

- Ông ấy sợ. Các người là dân đi săn, không khéo các người lại đốt cối xay của người ta thì khốn. Đấy kìa, đạn, thuốc súng...

- Nói nhăng nhít gì thế?

- Thì năm kia cối xay nhà chúng tôi bị cháy rồi đấy: những người đi bán thịt và cá đã trọ đêm ở đây, và chẳng biết họ làm thế nào mà cháy ráo cả.

- Thôi thế thì cho chúng tôi ngủ nhờ ở sân vậy, người anh em ạ!

- Mặc các anh...

Gã bỏ đi, giậm ủng thình thịch.

Ermôlai dậm dọa đủ điều, hứa sẽ cho gã biết tay.

- Ta vào làng vậy - Cuối cùng, anh ta thở dài, thốt lên. Nhưng làng cách đây hai dặm đường...

- Ta nghỉ ở đây, ngay ngoài sân này - Tôi nói - Đêm nay trời ấm. Bỏ ra ít tiền thì lão chủ cối xay sẽ để cho chúng ta ít rơm.

Ermôlai ưng thuận ngay. Chúng tôi lại gõ cổng.

- Các người cần gì. - Tiếng nói của gã người làm - Đã bảo là không được đâu mà.

Chúng tôi nói rõ cho gã biết chúng tôi muốn gì.

Gã vào hỏi chủ và cùng trở ra với chủ. Cánh cửa bờ rào két lên. Gã chủ cối xay xuất hiện, người cao lớn, mặt béo phị, cổ như cổ bò, bụng to tròn. Ông ta đồng ý với đề nghị của tôi. Cách cối xay khoảng trăm bước có một cái mái che nhỏ, bốn bề lồng lộng.

Họ đem rơm, cỏ khô vào đấy cho chúng tôi. Gã người làm đặt ấm xamôva trên bãi cỏ gần sông và ngồi xổm xuống, ra sức thổi ống lửa... Than cháy bừng lên, soi tỏ khuôn mặt trẻ của anh ta. Ông chủ cối xay chạy đi đánh thức vợ dậy, và rốt cuộc mời tôi vào ngủ trong nhà. Nhưng tôi thích ở ngoài trời hơn. Bà chủ mang ra cho chúng tôi sữa trứng, khoai, bánh mì. Lát sau, ấm nước sôi, và chúng tôi uống trà. Mặt sông bốc hơi, không có gió. Gà nước kêu rộn rã xung quanh. Gần bánh xe cối xay, có những âm thanh yếu ớt vang ra. Nước rỏ giọt từ những cánh quạt, nước vọt qua những then cửa ngăn. Chúng tôi nhóm một đống lửa nhỏ. Trong lúc Emôlai nướng khoai, tôi đã thiu thiu ngủ... Tiếng rì rầm khe khẽ làm tôi tỉnh dậy. Tôi nhỏm đầu lên: vợ người chủ cối xay ngồi trên cái thùng gỗ lật úp, trước đống lửa và nói chuyện với người bạn săn của tôi. Ngay từ đầu, nhìn y phục, cử chỉ và lối nói của chị ta, tôi đã biết trước chị trước kia là người hầu gái chứ không phải là nông dân hay tiểu thị dân.

Nhưng đến lúc này tôi mới ngắm kỹ những đường nét trên mặt chị. Chị nom trạc ba mươi tuổi, khuôn mặt gầy và tái nhợt vẫn còn giữ được dấu vết của một vẻ đẹp yêu kiều. Đặc biệt, tôi thích đôi mắt to đượm buồn của chị. Chị chống khuỷu tay lên đầu gối, áp mặt vào hai bàn tay. Ermôlai ngồi quay lưng về phía tôi và tiếp thêm những mảnh củi vụn vào lửa.

- Ở Jentukhina lại có dịch gia súc - Chị ta nói - Hai con bò cái của cha Ivan đều chết cả... Cầu Chúa ban ơn cho chúng ta!

- Thế còn con nhà cô thì thế nào? - Ermôlai im lặng một lát, rồi hỏi.

- Vẫn chưa làm sao.

- Giá cô cho tôi lấy một chú lợn con nhỉ.

Chị ta im lặng, rồi thở dài.

- Anh đi với ai thế - Chị hỏi.

- Với một ông quý tộc, một ông Kôxtômarôpxki.

Ermôlai ném mấy cành thông vào lửa, cành cây lập tức lách tách nổ ran lên, một làn khói trắng dày đặc táp thẳng vào mặt anh ta.

- Sao chồng cô không cho chúng tôi vào nhà.

- Anh ấy sợ.

- Chà, cái gã béo bụng phệ ấy... Này, Arina Timôfêepna thân mến, cô cho tôi một cốc rượu nho nhé! Người vợ chủ cối xay đứng lên và biến vào bóng tối Ermôlai cất tiếng hát khe khẽ:

Công anh lặn lội đón tìm

Bao nhiêu ủng, chỉ vì em, tan tành.

Arina trở lại, mang theo cái bình nhỏ và cái cốc. Ermôlai nhổm dậy, làm dấu chữ thập và uống thẳng một hơi. "Tôi yêu!" - Anh ta thêm.

Chị chủ nhà lại ngồi xuống chiếc thùng gỗ.

- Này, Arina Timôfêepna, hình như cô vẫn ốm thì phải.

- Tôi vẫn ốm đấy.

- Ốm thế nào?

- Đêm đến là ho khổ ho sở - Hình như ông khách ngủ rồi - Ermôlai thốt lên sau một lúc im lặng - Cô đừng tìm thầy thuốc, Arina ạ, bọn lang băm sẽ làm cho bệnh tình của cô trầm trọng hơn.

- Thì tôi có đi chữa thuốc bao giờ đâu.

- Nhưng cô nên đến thăm tôi thì hơn.

Arina cúi đầu.

- Hôm ấy tôi sẽ đuổi mụ vợ tôi đi nơi khác - Ermôlai nói tiếp... - Nói thật đấy.

- Anh nên đánh thức ông khách dậy thì hơn, Ermôlai Pêtơrơvits ạ: anh thấy không, khoai nướng chín rồi đấy.

-Cứ để ông ấy ngủ - Người giúp việc trung thành của tôi nói với vẻ thản nhiên, ông ấy đi bộ nhiều, vì thế nên ngủ mệt.

Tôi trở mình trên cỏ khô. Ermôlai đứng lên và tới gần tôi.

- Khoai được rồi đấy ạ, mời ông dậy xơi.

Tôi ra khỏi chỗ mái che. Chị chủ cối xay rời chiếc thùng đứng lên và định đi. Tôi hỏi chị ta:

- Nhà ta cho chạy cái cối xay này lâu chưa?

- Mới được hơn một năm, từ ngày lễ Tam vị đấy ạ - Thế chồng cô người ở đâu?

Arina không nghe rõ câu hỏi của tôi.

- Chồng cô người đâu ta? - Ermôlai cao giọng nhắc lại.

- Người Bêlep. Anh ấy là tiểu thị dân Bêlep.

- Thế cô cũng ở Bêlep ạ.

- Thưa không, tôi là người hầu nhà địa chủ...trước kia là người hầu..

- Nhà ai vậy?

- Nhà ông Zverkôp ạ . Bây giờ tôi là người tự do.

- Zverkôp nào?

- Alêcxanđrơ Xilưts.

- Cô là hầu phòng của vợ ông ta phải không?

- Tại sao ông biết ạ? Vâng, đúng thế.

Tôi càng nhìn Arina với vẻ tò mò và thương cảm nhiều hơn.

- Tôi biết ông chủ của cô. - Tôi tiếp lời.

- Ông biết ạ? - Chị ta đáp khẽ giọng và cúi gằm xuống.

Cần phải nói cho bạn đọc rõ vì sao tôi lại nhìn Arina với con mắt thương xót như vậy. Trong thời gian tôi ở Pêtecxbua tình cờ tôi quen ông Zverkôp.

Ông ta giữ một địa vị khá quan trọng, nổi tiếng là người hiểu biết và thạo việc. Ông ta có một bà vợ mũm mĩm, đa cảm, mau nước mắt và độc ác: một người đàn bà tầm thường và khó tính khó nết. Họ có một gã con trai, một chú quý tộc con thực sự, được nuông chiều và đần độn. Vẻ ngoài của ông Zverkôp ít gây được thiện cảm: trên khuôn mặt rộng, gần như vuông vức, đôi mắt chuột nhắt nom đến quỷ quyệt, mũi to và nhọn, hai lỗ mũi tênh hếch; mái tóc bạc cắt ngắn chởm lên như rễ tre trên vừng trán nhăn nheo, cặp môi mỏng dính luôn luôn mấp máy và mỉm một nụ cười đường mật. Ông Zverkôp thường đứng chàng rộng đôi chân ngắn và thọc hai tay to trần trận vào túi. Tôi đã có lần cùng ngồi xe ngựa đi với ông ra ngoài thành phố. Chúng tôi nói chuyện với nhau. Tự cho mình là người có kinh nghiệm, thạo đời ông Zverkôp bắt đầu răn bảo tôi theo "con đường chính đạo".

Ông ta nói như rít lên:

- Cho phép tôi nêu lên với ông một nhận xét là bọn thanh niên các ông nhận định và giải thích mọi cái đều bộp chộp. Các ông ít biết tổ quốc mình. Các ông không biết nước Nga, thế đấy!...Các ông chỉ luôn luôn đọc sách Đức. Chẳng hạn, ông vừa nói với tôi về... về cái... à, vâng, về bọn gia nhân. Được, tôi không cãi, tất cả những ý kiến ấy đều hay thôi. Nhưng ông không biết chúng, ông không biết chúng là hạng người thế nào (ông Zverkôp chốc chốc lại hỉ mũi và ngửi thuốc lá). Chẳng hạn, xin cho phép tôi kể với ông một chuyện tiếu lâm nhỏ. Chuyện đó có thể làm cho ông hứng thú đấy (ông Zverkôp hắng giọng). Ông cũng biết vợ tôi là người thế nào rồi: có lẽ khó tìm được người đàn bà nào nhân đức hơn vợ tôi, hẳn ông cũng đồng ý. Những đứa hầu gái của vợ tôi không phải chỉ là sung sướng, mà quả thực là sống trong thiên đường dưới cõi trần. . . Nhưng vợ tôi tự đặt ra cho mình một nguyên tắc: không nuôi những ả hầu gái có chồng. Mà đúng là không thể như thế được: có chồng rồi sẽ có con, lắm chuyện lắm, lúc ấy thì còn bụng dạ đâu mà chăm sóc bà chủ cho chu đáo, bụng dạ đâu mà chiều chuộng những thói quen của bà chủ được: bấy giờ thì nó thiết gì nữa, đầu óc nó còn để đâu đâu ấy chứ. Cần phải nhìn nhận sự việc theo quan điểm nhân đạo.

Thế này nhé, một lần chúng tôi đi qua làng quê nhà, bấy giờ là . . . nói với ông thế nào đây. . . tôi không nói dối đâu, cách đây mười lăm năm rồi. Chúng tôi gặp ở nhà trưởng thôn một con bé tuyệt kháu, con gái ông ta. Ông biết không, trong cử chỉ của nó có mội vẻ gì nịnh nọt. Vợ tôi bảo tôi: "Kôkô - ông hiểu không, vợ tôi thường hay gọi tôi bằng cái tên thân mật như thế -, chúng ta lấy con bé này về Pêtecxbua đi; em ưa nó lắm, Kôkô ạ Tôi bảo:

Thì đem nó về, rất sẵn lòng!. Trưởng thôn tất nhiên là sụp xuống lạy tạ chúng tôi. Ông hiểu không, y không thể ngờ có được hạnh phúc như thế. Còn con bé thì đương nhiên là nó khóc, cái trò con trẻ ngu dại ấy mà. Nhưng kể ra thì lúc đầu cũng hơi đáng sợ thật: rời bỏ nhà cha mẹ... nói chung thì... cũng chẳng có gì là lạ. Nhưng nó quen rất mau với chúng tôi. Thoạt tiên chúng tôi đưa nó vào khu dành cho bọn hầu gái, và cố nhiên là nó được dạy dỗ bảo ban. Ông có biết thế nào không?... Con bé tấn tới kỳ lạ. Vợ tôi thực sự là mê nó, thương nó, và cuối cùng, đã ban cho nó một đặc ân vượt qua cả các ả hầu gái khác: lấy nó vào hầu hạ chính bản thân mình... xin ông chú ý cho!... Và cũng phải công bằng mà nói rằng nhà tôi chưa từng có một cô hầu nào như thế, đúng là chưa từng có: tận tụy, nhũn nhặn, ngoan ngoãn, tóm lại là có đủ mọi đức tính cần thiết. Nhưng thú thực là vợ tôi cũng nuông nó quá: mặc thì cho mặc những thứ đẹp, ăn cùng với chủ, cùng ngồi uống trà... không còn nuông chiều cách nào hơn được nữa! Nó hầu hạ nhà tôi được mươi năm không có điều tiếng gì. Thế rồi, một buổi sáng kia, ông thử tưởng tượng xem, Arina - tên nó là Arina - xộc vào phòng làm việc của tôi, không hề xin phép trước gì cả, và sụp xuống dưới chân tôi... Nói thực với ông, tôi không thể chịu nổi cái cung cách đó. Con người không bao giờ được quên phẩm giá của mình, phải thế không?

- Cô cần gì?

- Thưa ông Alêcxanđr Xilưts, ông là bậc cha, xin ông ban cho con một ân huệ.

- Gì thế?

- Xin ông cho con đi lấy chồng.

Thú thực là tôi kinh ngạc.

- Này, đồ ngốc ạ, cô cũng biết là bà nhà ta không còn người hầu gái nào khác chứ?

- Con sẽ hầu hạ bà như trước.

- Nói nhảm! Nói nhảm? Bà không bao giờ dùng người hầu có chồng.

- Malanhya có thể thay chân con.

- Thôi đừng biện bạch nữa.

- Con đâu dám trái ý ông. . .

Thực tình là tôi sửng sốt quá. Nói để ông biết, tính tôi như thế này: tôi dám nói rằng không cái gì xúc phạm đến tôi ghê gớm hơn lòng vô ơn... Chẳng nói ông cũng thừa rõ vợ tôi là người thế nào: một thiên thần bằng xương bằng thịt, một tấm lòng vàng không thể nào cắt nghĩa được... Có lẽ một kẻ tàn ác nhất cũng phải mềm lòng trước con người nhân đức ấy. Tôi đuổi Arina ra. Tôi cho rằng nó sẽ tỉnh ngộ. Ông biết không, tôi không muốn tin rằng con người ta lại có thể độc ác, vong ân bội nghĩa. Ông nghĩ sao? Thế rồi nửa năm sau, nó lại đến cầu xin tôi vẫn về chuyện ấy. Lần này thì tôi nổi giận đuổi nó ra và dọa sẽ nói cho vợ tôi biết. Tôi phẫn nộ. . . Nhưng ông thử tưởng tượng xem tôi ngạc nhiên đến thế nào: ít lâu sau, vợ tôi đến gặp tôi, nước mắt chan hoà, xúc động đến nỗi tôi sợ hãi. "Có chuyện gì xảy ra thế?"

- Arina... Mình hiểu không... Nói ra phát ngượng lên được...

- Lẽ nào! ... Đứa nào thế?

- Thằng hầu Pêtruska!

Tôi tức điên lên. Tính tôi vốn... tôi không ưa những biện pháp nửa vời!... Pêtruska... hắn không có lỗi. Trừng phạt hắn thì được thôi, nhưng theo tôi thì hắn không có lỗi. Arina, thì... ồ, còn phải nói gì nữa? Tất nhiên tôi lập tức ra lệnh gọt đầu ả, cho mặc xống áo bằng vải gai thô và tống khứ về làng.

Vợ tôi mất một đứa hầu gái tuyệt diệu, nhưng làm thế nào được, không thể dung túng tình trạng hỗn độn trong nhà. Cánh tay đã bị thối thì cứ cắt phăng đi là hơn... Nào, bây giờ thì ông tự xét xem, ông cũng biết vợ tôi đấy, đó là... đó là... xét cho cùng thì là một thiên thần!... Vợ tôi quyến luyến Arina, Arina biết điều đó và không hề lấy làm hổ thẹn...Thế nào? Ồ không, ông nói đi. . . thế nào? Còn phải bàn gì nữa! Đành phải như vậy thôi, không có cách gì hơn. Thái độ vong ân bội nghĩa của đứa con gái đó khiến tôi buồn bực mãi không thôi. Muốn nói gì thì nói... cảm xúc, tình cảm là những thứ ta không thể tìm thấy ở bọn người đó. Cho chó sói ăn như thế nào đi nữa thì nó vẫn ngong ngóng nhìn vào rừng. .. Đấy là một bài học kinh nghiệm! Nhưng tôi chỉ muốn chứng minh với ông rằng...

Và ông Zverkôp không nói hết lời, quay mặt đi, kéo lại chiếc áo khoác cho sát vào người hơn nữa, dũng cảm đè nén nỗi bất bình cuồn cuộn dâng lên trong vòng ông.

Bây giờ thì hẳn là bạn đọc hiểu vì sao tôi lại nhìn Arina với niềm thương cảm như vậy.

- Cô lấy người này đã lâu chưa? - Cuối cùng tôi hỏi.

- Hai năm rồi ạ.

- Vậy ra ông chủ cũng cho phép cô lấy chồng à?

- Em được chuộc ra.

- Ai chuộc?

- Xavêli Alêcxêiêvits.

- Anh ta là ai?

- Chồng em. (Ermôlai cười thầm). Ông chủ nói chuyện với ông về em hay sao? - Arina nói thêm, sau một lúc im lặng.

Tôi không biết trả lời câu hỏi của chị ta ra sao.

"Arina"! - Người chủ cối xay lớn tiếng gọi từ đằng xa. Chị ta đứng lên, đi.

- Chồng cô ta có tốt không?

- Không đến nỗi tồi.

- Họ có con không?

- Có một đứa con trai, nhưng bỏ rồi.

- Cô ta chắc cũng được chồng thương yêu đấy nhỉ?... Tay này chuộc cô ta có tốn nhiều tiền lắm không?

- Con không biết. Cô ta biết chữ. Trong công việc của họ thì... điều đó đôi khi cũng có ích. Hẳn là gã vừa lòng về cô ta.

- Anh quen cô ta lâu chưa?

- Lâu rồi ạ. Trước kia con thường lui tới nhà chủ cô ta. Trang trại của họ cách đây không xa.

- Anh biết Pêtruska chứ?

- Pêtr Vaxiliêvits ấy à? Có chứ.

- Bây giờ hắn ở đâu?

- Hắn đăng lính rồi.

Chúng tôi im lặng.

- Hình như cô ta không được khỏe thì phải? - Cuối cùng tôi hỏi Ermôlai.

- Khỏe cái nỗi gì!... Ngày mai đi chyaga có lẽ tốt lắm đấy. Bây giờ ông ngủ một giấc hẳn là ngon.

Bầy vịt trời bay qua trên đầu chúng tôi, cánh vỗ gió vi vút, và chúng tôi nghe thấy chúng hạ xuống sông cách chúng tôi không xa. Đã tối hẳn và bắt đầu lạnh. Trong rừng hoạ mi hót lên điệu nhạc thánh thót, du dương. Chúng tôi rúc vào đống cỏ khô và ngủ thiếp đi.

« Lùi
Tiến »