Carmen & Colomba

Lượt đọc: 1577 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2
hai sự hiểu lầm

Hỡi cô gái tóc vàng, mắt biếc

Và làn da trắng muốt hơn hoa

Khi đã quyết trước ái tình quy phục

Thì hãy hy sinh đến cùng, vì cô sẽ chết(22).

I

Giuyli Đơ Saverni lấy chồng đã được gần sáu năm, và từ gần năm năm sáu tháng nay nàng nhận thấy không những không thể yêu chồng mà còn khó lòng coi trọng chồng đôi chút.

Chồng nàng không phải là một người bất lương, không phải thằng ngu ngốc cũng chẳng phải thằng rồ. Tuy vậy ở chàng hình như rõ ràng có cái gì thuộc về tất cả những thứ đó. Tìm trong ký ức nàng có thể nhớ lại rằng xưa kia nàng đã thấy chàng cũng dễ thương; nhưng bây giờ thì chàng làm cho nàng chán ngấy. Mọi cái ở chàng, nàng đều thấy ghê tởm. Cách chàng ăn, cách chàng uống cà phê, cách chàng nói năng đều làm cho thần kinh nàng bực bội khó chịu. Hai người hầu như chỉ trông thấy nhau và nói chuyện với nhau vào giờ ăn; nhưng mỗi tuần lễ họ ăn với nhau nhiều lần, và thế cũng đủ để nuôi dưỡng mối ác cảm của Giuyli.

Còn Saverni là một người đàn ông khá đẹp trai, hơi béo quá so với tuổi, da dẻ tươi tốt hồng hào, tính tình không có những cái thắc mắc vẩn vơ thường ray rứt những kẻ giàu trí tưởng tượng. Chàng tin tưởng một cách sùng kính rằng vợ chàng có một mối tình thân yêu dịu dàng đối với chàng. (Chàng thì quá là hiền triết nên đâu có tưởng mình được yêu như ngày mới cưới). Và sự tin chắc ấy làm cho chàng chẳng vui mà cũng chẳng buồn; ví bằng tình hình trái ngược, thì chàng cũng vui lòng chịu. Chàng đã phục vụ nhiều năm trong một trung đoàn kỵ binh; nhưng sau khi được thừa hưởng một gia tài kếch sù, chàng chán cuộc đời doanh trại, bèn xin giải ngũ và cưới vợ. Cắt nghĩa cuộc hôn nhân của hai nhân vật không có một ý nghĩ giống nhau xem chừng khá khó khăn đây. Một mặt, có những bà con danh giá và những người sốt sắng giúp đỡ, như Frôđinơ (23) sẵn sàng gả nước Cộng hòa Vơnidơ cho Hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ, những người đó đã bỏ nhiều công sức vận động để giải quyết những vấn đề lợi ích. Mặt khác, Saverni là con nhà giòng giõi; hồi đó chàng chưa béo quá; chàng vui vẻ và là một người dễ tính dễ nết như người ta thường nói với đầy đủ cái nghĩa của danh từ đó. Giuyli vui thích thấy chàng tới nhà mẹ mình, vì chàng làm cho nàng cười về những câu chuyện trong trung đoàn của chàng, với một cách khôi hài không phải bao giờ cũng tao nhã. Nàng thấy chàng dễ thương, vì chàng nhảy với nàng trong mọi cuộc khiêu vũ, và chàng không bao giờ thiếu những lý do chính đáng để thuyết phục mẹ nàng ở lại khiêu vũ đến khuya, đi xem hát hoặc đi chơi trong rừng Bulônhơ. Sau hết, Giuyli tin rằng chàng là một người anh hùng, vì chàng đã đôi ba lần đấu súng một cách vinh dự. Nhưng Saverni đạt được thắng lợi hoàn toàn khi chàng miêu tả một chiếc xe ngựa nào đó mà chàng sẽ thuê đóng theo kiểu riêng của chàng, và sẽ đích thân cầm cương cho Giuyli đi khi nào nàng nhận lời lấy chàng.

Sau lễ cưới được vài tháng, tất cả những nết tốt của Saverni đã mất phần lớn giá trị của nó. Chàng không khiêu vũ với vợ nữa - cái đó là dĩ nhiên. Các chuyện vui, chàng đã kể hết tới ba bốn lần. Bây giờ chàng kêu các cuộc khiêu vũ kéo dài quá khuya. Đi xem hát thì chàng ngáp và thấy tục lệ phải mặc lễ phục buổi tối là một sự bó buộc không tài nào chịu nổi. Khuyết điểm chủ yếu của chàng là bệnh lười; nếu chàng muốn làm đẹp lòng người khác, có lẽ chàng sẽ thành công; nhưng sự gò bó phiền toái là một hình phạt đối với chàng: về điểm này chàng giống phần lớn những người to béo. Xã hội thượng lưu làm cho chàng chán, vì ở đó người ta chỉ được tiếp đón tử tế tùy theo mức cố gắng của mình để làm đẹp lòng kẻ khác. Đối với chàng, cái vui thô lỗ đáng ưa gấp mấy lần tất cả mọi thú vui tao nhã hơn; vì rằng muốn nổi bật lên giữa đám người hợp sở thích của chàng, chàng không phải tốn công sức nào khác ngoài việc kêu to hơn người khác, điều này đối với chàng không khó khăn gì nhờ có bộ phổi rất khỏe khoắn. Ngoài ra, chàng còn tự phụ có tài uống sâm banh hơn người thường, và phóng ngựa nhảy qua một bức rào cao bốn pi-ê một cách hoàn hảo. Do đó chàng thu phục được sự kính nể chính đáng trong bọn người khó định nghĩa mà người ta gọi là những người trẻ trung, đầy rẫy trong các đại lộ của ta vào quãng năm giờ chiều. Săn bắn, những cuộc vui ở nông thôn, đua ngựa, tiệc trưa và tiệc tối của bọn trai trẻ, những cái đó được chàng sốt sắng tìm kiếm. Mỗi ngày có đến hai mươi lần chàng nói rằng chàng là người đàn ông sung sướng nhất; và mỗi lần Giuyli nghe thấy thế, nàng lại ngước mắt nhìn trời và cái miệng xinh xắn của nàng biểu lộ một vẻ khinh khi khôn tả.

Đẹp, trẻ và lấy một người mà nàng không ưa, người ta có thể hiểu rằng có nhiều kẻ ngưỡng mộ để cầu lợi vây quanh nàng. Nhưng, ngoài sự bảo hộ của mẹ nàng, một người đàn bà rất khôn ngoan, thì tính tự kiêu - đó là khuyến điểm của nàng - cho tới bây giờ vẫn che chở nàng khỏi bị những sự cám dỗ của xã hội thượng lưu. Vả lại, sự thất vọng nẩy ra sau ngày cưới đem lại cho nàng một thứ kinh nghiệm đã khiến lòng nàng khó có sự phấn hứng bồng bột. Nàng tự kiêu thấy trong xã hội người ta tỏ ý thương hại nàng và coi nàng như một kiểu mẫu về nhẫn nhục. Xét cho cùng, nàng hầu như sung sướng, vì nàng không yêu ai và chồng nàng để cho nàng hoàn toàn tự do về hành động. Tính làm dáng của nàng (và phải thú nhận rằng nàng hơi thích chứng minh rằng chồng nàng không biết đánh giá cái báu vật mà chàng sở hữu) - hoàn toàn do bản năng như tính làm dáng của trẻ em - hòa hợp một cách tuyệt diệu với đôi chút dè dặt cao kỳ nhưng không phải là điệu bộ quá đoan trang. Sau hết, nàng biết cách tỏ ra đáng yêu với tất cả mọi người, nhưng là với tất cả mọi người, ngang nhau. Miệng lưỡi gièm pha không tìm nổi một lời chê bai nhỏ nào để nói nàng.

II

Hai vợ chồng vừa ăn tối ở nhà Luýtxăng phu nhân, mẹ của Giyuli, bà này sắp đi Nixơ. Saverni tuy đến nhà mẹ vợ là thấy chán ngán cũng buộc phải ở đó cả buổi tối mặc dầu chàng rất thèm được đến với bè bạn của chàng ở đại lộ. Ăn xong chàng đặt mình vào một cái tràng kỷ dễ chịu, và ngồi ở đấy trong hai giờ không nói một tiếng. Lý do cũng giản dị thôi: chàng ngủ, nhưng mà ngủ một cách lịch sự, vẫn ngồi, đầu ngả về một bên và làm ra vẻ chăm chú nghe chuyện; thỉnh thoảng chàng còn thức giấc nữa, và nói chen vào một tiếng.

Sau đó, chàng lại ngồi vào bàn huýt(24), một thứ bài mà chàng ghét vì nó đòi hỏi phải tập trung tư tưởng ít nhiều. Tất cả những cái đó làm cho chàng phải ngồi lại đến khuya. Đồng hồ vừa mới điểm mười giờ rưỡi. Saverni không hẹn với ai tối nay: chàng hoàn toàn không biết làm gì. Trong khi chàng đang phân vân như thế, người ta báo tin xe ngựa của chàng đã tới. Nếu chàng về nhà, chàng sẽ phải đưa vợ về. Viễn tưởng phải ngồi cùng với vợ những hai mươi phút đồng hồ có cái gì làm cho chàng kinh hãi; nhưng chàng không có xì gà trong túi, và chàng hết sức thèm khát mở một hộp mà chàng nhận được từ Lơ Havrơ chính vào lúc chàng ở nhà bước ra để đi dự tiệc. Chàng đành nhẫn nhục.

Trong khi chàng quấn khăn quàng cho vợ, chàng không thể nhịn cười khi nhìn thấy bóng mình trong gương đang làm nhiệm vụ của một tân lang. Chàng cũng ngắm cả vợ chàng mà trước đó hầu như chàng không ngó tới. Chàng thấy vợ mình tối nay có vẽ đẹp hơn ngày thường; do đó chàng sửa sang chiếc khăn quàng trên vai vợ hơi lâu một chút. Giuyli cũng miễn cưỡng như chàng về việc hai vợ chồng sắp phải ngồi riêng với nhau. Đôi môi nàng hơi bĩu ra có vẻ dỗi, và cặp lông mày cong bất giác nhíu lại. Tất cả những cái đó làm cho khuôn mặt của nàng lộ vẻ đáng yêu đến nỗi ngay một người chồng cũng không thể không xúc động. Hai cặp mắt gặp nhau ở trong gương, khi diễn ra cái công việc mà tôi vừa nói. Cả hai người đều lúng túng. Để thoát khỏi tình trạng đó, Saverni mỉm cười hôn bày tay vợ chàng đang giơ lên để sửa sang chiếc khăn quàng, - Chúng yêu nhau thật! Luytxăng phu nhân nói rất khẽ, bà không nhận ra cả sự khinh khỉnh lạnh lùng của người vợ lẫn vẻ thờ ơ của người chồng.

Ngồi chung trong xe gần chạm vào nhau, lúc đầu hai người không nói với nhau. Saverni cảm thấy rõ ràng chàng nên nói một câu gì, nhưng đầu óc chàng không nghĩ ra cái gì cả. Ngồi bên chàng, Giuyli cũng im như tượng. Chàng ngáp ba bốn lần đến nỗi tự thấy ngượng, và khi ngáp lần cuối cùng, chàng thấy mình cần phải xin lỗi vợ. - Bữa tối kéo dài quá, chàng nói thêm để thanh minh.

Giuyli chỉ thấy trong câu đó ý định của chồng chê bai những bữa tối ở nhà mẹ nàng và nói với nàng một điều gì khó chịu. Đã từ lâu, nàng có thói quen tránh mọi cuộc tranh luận với chồng, cho nên nàng tiếp tục ngồi im.

Tối nay, Saverni cảm thấy một cách bất đắc dĩ cái thích nói chuyện, nên hai phút sau chàng nói tiếp:

- Hôm nay anh ăn ngon; nhưng anh rất muốn nói với em rằng sâm-banh của mẹ em ngọt quá.

- Sao? Giuyli hỏi, đầu quay sang phía chồng rất uể oải và làm ra vẻ không nghe rõ.

- Anh nói rằng sâm-banh của mẹ em ngọt quá. Anh quên không nói để mẹ em biết. Thật lạ lùng, nhưng người ta cứ tưởng dễ chọn rượu sâm-banh. Này! không có gì khó hơn đâu. Có hàng hai chục thứ tồi mà chỉ có mỗi một thứ ngon thôi.

- Thế à! Sau khi đệm một tiếng như thế cho phải phép lịch sự, Giuyli quay đầu đi và nhìn qua cửa xe bên phía nàng. Saverni ngả người ra đằng sau và đặt đôi chân lên tấm đệm phía trước xe, hơi ức vì thấy mình cố tìm đủ mọi cách để bắt chuyện mà vợ cứ dửng dưng.

Tuy vậy, sau khi ngáp thêm hai ba lần nữa, chàng xích lại gần Giuyli và nói tiếp: Giuyli, em mặc chiếc áo này ăn với người em quá! Em mua ở đâu thế?

"Chắc anh ta muốn mua một chiếc giống thế cho tình nhân, Giuyli nghĩ". - Ở hàng Buyti, nàng hơi mỉm cười trả lời.

- Sao em lại cười? Saverni vừa hỏi vừa rút chân ra khỏi tấm đệm và xích lại gần vợ hơn. Đồng thời chàng cầm lấy một tay áo của vợ và sờ nó hơi theo kiểu Táctuýp(25).

- Em cười, Giuyli nói, vì anh chú ý đến phục sức của em. Cẩn thận, không anh làm nhầu áo của em. Và nàng rút tay áo khỏi bàn tay của Saverni.

- Anh cam đoan với em rằng anh rất chú ý đến phục sức của em, và anh đặc biệt khâm phục khiếu thẩm mỹ của em. Thật đấy, anh xin lấy danh dự mà nói rằng hôm nọ anh có nói chuyện về cái đó với... một phụ nữ ăn mặc lúc nào cũng dở.. mặc dầu người ấy chi tiêu kinh khủng về phục sức... Bà sẽ phá sản... anh nói với người ấy... Anh kể em ra...

Giuyli thích thú về sự lúng túng của anh chàng và không tìm cách ngắt lời để chấm dứt nó.

- Những con ngựa của em tồi quá! chúng nó không bước đi được! Anh phải thay ngựa khác cho em mới được, Saverni nói hoàn toàn luống cuống.

Trên quãng đường còn lại, câu chuyện cũng không linh hoạt hơn, cả hai người đều không vượt quá mức đáp lại câu hỏi.

Cuối cùng hai vợ chồng về tới phố... chia tay nhau sau khi chúc nhau ngủ ngon.

Giuyli đang cởi quần áo và người hầu gái của nàng vừa mới bước ra không rõ để làm gì thì cánh cửa phòng ngủ của nàng mở ra khá đột ngột và Saverni bước vào. Giuyli hấp tấp trùm áo lên vai. - Xin lỗi, chàng nói, anh rất muốn xem cuốn truyện cuối cùng của Xcốt(26) để dễ ngủ... Có phải là cuốn Quentin Durward không nhỉ?

- Nhất định là nó ở bên anh, Giuyli đáp; ở đây không có sách nào cả.

Saverni ngắm vợ trong cách ăn mặc khá trễ nải làm tôn sắc đẹp lên rất nhiều. Chàng thấy nàng đẹp như gai đâm vào mắt - đó là tôi dùng một thành ngữ mà tôi ghét. "Quả thật là một người đàn bà rất đẹp!?, chàng nghĩ. Và nàng đứng im trước mặt nàng, không nói một tiếng, tay vẫn cầm cây đèn nến. Giuyli cũng đứng trước mặt chàng, vò nhầu cái mũ ngủ của mình và hình như sốt ruột chờ chàng ra để cho nàng ở lại một mình.

- Chao ôi! tối nay em kiều diễm quá! cuối cùng Saverni vừa kêu lên vừa tiến một bước và đặt cây đèn nến xuống.

Anh yêu vô cùng những người đàn bà xõa tóc. Vừa nói, chàng vừa giơ tay nắm lấy những bím tóc dài lòa xòa trên vai Giuyli và đưa một cánh tay gần như âu yếm quàng lấy người nàng.

- Trời ơi! anh sặc mùi thuốc lá đến kinh khủng! Giuyli vừa quay đi vừa kêu lên. Anh đừng động đến tóc em, anh sắp làm nó dây phải cái mùi ấy và em sẽ không còn biết làm thế nào để tẩy sạch.

- Ôi chào! em nói thế là nói bừa đấy thôi và vì em biết đôi khi anh cũng có hút thuốc. Thôi đừng làm ra vẻ khó khăn đến thế, cô vợ bé nhỏ của anh ạ. Và nàng không kịp gỡ mình ra khỏi đôi cánh tay của chàng để tránh một cái hôn lên vai nàng.

May thay cho Giuyli, người hầu gái của nàng trở vào, vì đối với một phụ nữ, không có gì ghê tởm hơn những cái vuốt ve mà mình tránh cũng dở mà nhận cũng dở.

- Mari này, Saverni phu nhân nói, cái áo lót trong chiếc áo dài xanh của tôi dài quá thể. Hôm nay tôi gặp Bêgi phu nhân, người bao giờ cũng có con mắt thẩm mỹ tuyệt diệu; áo lót của phu nhân nhất định là ngắn hơn hai đốt ngón tay. Này, chị hãy lấy ghim gấp nó lên ngay xem thử ra sao.

Thế là giữa hầu gái và bà chủ bắt đầu một câu chuyện tay đôi thú vị nhất về kích thước chính xác cần có của áo lót. Giuyli biết rõ rằng Saverni không ghét gì bằng phải nghe chuyện thời trang và nàng sẽ làm Saverni bỏ đi. Cho nên, sau dăm phút đi đi lại lại, thấy Giuyli để hết tâm trí vào chiếc áo lót của mình, Saverni ngáp một cái kinh khủng, rồi lại cầm lấy cây đèn nến và lần này thì ra hẳn.

III

Thiếu tá Peranh đang ngồi trước một chiếc bàn nhỏ và chăm chú đọc. Chiếc áo rơ-đanh-gốt chải rất kỹ, cái mũ chào mào và nhất là cái dáng cứng đờ của bộ ngực chàng làm cho chúng ta hiểu rằng chàng là một quân nhân kỳ cựu. Trong phòng chàng, cái gì cũng sạch sẽ nhưng hết sức giản dị. Một lọ mực và hai ngòi bút gọt kỹ đặt trên bàn cạnh một tập giấy viết thư chưa được dùng đến một tờ ít nhất từ một năm nay. Tuy thiếu tá Peranh không viết, bù lại chàng đọc nhiều. Lúc đó chàng vừa đọc Những bức thư Ba-tu(27) vừa hút thuốc bằng cái tẩu bọt biển, và hai công việc đó thu hút tâm trí của chàng đến nỗi lúc đầu chàng không thấy thiếu tá Satôfo bước vào phòng. Đó là một sĩ quan trẻ tuổi cùng ở một trung đoàn với chàng, mặt mũi đẹp đẽ, rất dễ thương, hơi hợm mình và rất được viên bộ trưởng chiến tranh che chở; nói tóm lại, đó là một người trái ngược với thiếu tá Peranh về hầu hết mọi phương diện. Tuy vậy hai người là bạn thân với nhau, cũng không biết vì sao, và ngày nào cũng gặp nhau.

Satôfo vỗ vai thiếu tá Peranh. Peranh quay đầu lại, miệng vẫn không rời cái tẩu. Biểu hiện tình cảm đầu tiên của chàng là vui mừng khi trông thấy bạn; thứ hai là tiếc - con người quý hóa làm sao! - vì chàng sắp phải rời cuốn sách; thứ ba là quyết định tiếp đãi bạn một cách long trọng nhất trong căn phòng của chàng. Chàng lục túi áo để tìm chìa khóa cái tủ đựng một hộp xì gà quý mà bản thân thiếu tá không hút và thường lấy từng điếu một để biếu bạn; nhưng Satôfo đã hàng trăm lần thấy Peranh có cử chỉ ấy, nên kêu lên: - Thôi thôi, bố Peranh ơi, giữ lấy xì gà; tôi cũng có đấy! Rồi, rút trong một cái bao lịch sự bằng rơm Mêchxích một điếu xì gà màu quế, hai đầu rất nhọn, Satôfo châm điếu thuốc và nằm duỗi mình trên một đi-văng nhỏ mà thiếu tá Peranh không bao giờ sử dụng, đầu đặt lên gối, chân đặt lên lưng ghế đối diện. Satôfo bắt đầu nhả khói bao kín lấy mình, rồi nhắm mắt lại, gã có vẻ suy nghĩ sâu xa về điều gã định nói. Mặt gã vui hớn hở, và hình như khó khăn lắm gã mới giữ được trong lòng một hạnh phúc bí mật mà gã rất muốn người ta đoán ra. Còn thiếu tá Peranh sau khi kéo ghế đến trước đi-văng, yên lặng ngồi hút thuốc một lúc; rồi vì Satôfo không vội nói, Peranh hỏi: Urika có khỏe không?

Đó là tên một con ngựa ô cái mà Satôfo bắt làm việc hơi quá sức nên có nguy cơ mắc bệnh thở dốc. - Tốt lắm, Satôfo nói, không nghe câu hỏi, Peranh, Satôfo vừa kêu lên vừa duỗi về phía bạn cái chân tựa lên lưng đi-văng, anh có biết rằng anh sung sướng có một người bạn như tôi không?

Viên thiếu tá nhiều tuổi cố moi trong đầu óc xem quen Satôfo đã có lợi ích gì, nhưng chẳng thấy gì cả ngoài vài cuốn sách của Kanaxte do Satôfo cho và vài ngày quản chế mà chàng đã phải chịu vì dính líu vào một vụ đấu súng trong đó Satôfo đóng vai chính. Nói đúng ra, bạn chàng có nhiều dấu hiệu tỏ ra tin cậy chàng. Lần nào Satôfo cũng tìm đến chàng để nhờ thay gã khi gã đến buổi phải đi công tác hoặc cần có người trợ thủ.

Satôfo không để cho chàng tìm kiếm lâu và chìa cho chàng xem một lá thư nhỏ viết trên giấy láng Anh bằng một nét chữ li ti. Thiếu tá Peranh nhăn mặt lại; đối với chàng, cái đó tương đương với một nụ cười. Chàng đã thường thấy những bức thư viết trên giấy láng và bằng những nét nhỏ như thế gửi cho bạn chàng.

- Này, Satôfo nói, anh đọc đi. Chính tôi là người mà anh phải hàm ơn về cái đó nhé. Peranh đọc bức thư như sau:

"Thưa ông thân mến. Chúng tôi rất mong ông vui lòng đến dùng bữa tối với chúng tôi. Đáng lẽ nhà tôi đến mời ông, nhưng nhà tôi phải đi dự một cuộc đi săn. Tôi không rõ địa chỉ của thiếu tá Peranh, nên không thể viết thư để mời thiếu tá cùng đến với ông được. Ông đã khiến tôi rất ao ước được làm quen với thiếu tá, và tôi sẽ cảm ơn ông gấp bội, nếu ông đưa được thiếu tá đến nhà chúng tôi.

Giuyli Đơ Saverni.

T.B. - Tôi rất cảm ơn ông đã bỏ công chép cho tôi bản nhạc. Bản nhạc đó mê ly quá, và bao giờ người ta cũng phải khâm phục khiếu thẩm mỹ của ông. Không thấy ông đến chơi nhà chúng tôi những hôm thứ năm nữa đấy nhé! Ông cũng biết rằng được gặp ông thì chúng tôi vui sướng biết bao".

- Một nét chữ xinh, nhưng nhỏ thật, Peranh nói khi đọc xong. Nhưng mà trời đất ơi! ăn tối ở nhà bà ta làm tôi khổ đến chết mất; vì sẽ phải mang bít tất lụa và không được hút thuốc khi ăn xong.

- Thật là một tai họa hay ghê! Thích người phụ nữ xinh nhất Pari hơn cái tẩu!... Điều mà tôi khâm phục là sự vô ơn của anh. Anh không cảm ơn tôi về cái hạnh phúc mà tôi mang lại cho anh.

- Cảm ơn anh à? Nhưng không phải anh mà tôi phải chịu ơn về bữa ăn này... nếu có phải chịu ơn.

- Vậy thì ai?

- Saverni, hắn ta trước làm đại úy trong đơn vị tôi. Chắc hắn đã bảo vợ: Mời Peranh đi, lão ấy thế mà cũng dễ chịu đấy. Làm sao mà một phụ nữ xinh đẹp mới gặp tôi có một lần đã có thể nghĩ đến chuyện mời một thằng lính già cốc đế như tôi?

Satôfo mỉm cười, soi mình trong chiếc gương hẹp bầy ở gian phòng của thiếu tá.

- Hôm nay bố không tinh tí nào cả, bố Peranh ạ. Bố hãy đọc lại cho tôi mảnh giấy này, có lẽ bố sẽ thấy điều mà bố chưa thấy.

Thiếu tá lật đi lật lại lá thư mà không thấy gì cả.

- Thế nào hở anh ngốc già! Satôfo kêu lên, anh không thấy rằng nàng mời anh để làm vui lòng tôi à, chỉ vì nàng muốn tỏ ra rằng coi trọng các bạn tôi, vì nàng muốn tỏ cho tôi thấy rằng.. là...

- Là làm sao? Peranh ngắt lời.

- Là... anh thừa biết là làm sao.

- Là nàng yêu anh phải không?

Thiếu tá hỏi vẻ nghi ngờ.

Satôfo huýt sáo không trả lời.

- Vậy ra nàng mê anh?

Satôfo vẫn huýt sáo.

- Nàng đã nói với anh như thế?

- Ồ... điều đó đã quá rõ, tôi thấy như vậy.

- Thấy thế nào?... trong lá thư này?

- Hẳn vậy.

Bây giờ đến lượt Peranh huýt sáo. Tiếng sáo của chàng cũng có ý nghĩa như khúc Lilibulơrô trứ danh của chú Tôbi(28).

- Sao! Satôfo vừa kêu lên vừa giật lá thư trong tay Peranh, anh không nhìn thấy tất cả những gì... ấu yếm... phải, âu yếm trong đó à? Anh bảo sao về mấy tiếng này: Thưa ông thân mến? Xin anh chú ý kỹ rằng trong một lá thư khác nàng chỉ viết cho tôi thưa ông, cụt lủn thế thôi. Tôi sẽ cảm ơn ông gấp bội chỗ này đích xác rồi. Anh thấy không, sau đó có một chữ bị xóa, đó là chữ nghìn; nàng đã định viết nghìn lời thân mến, nhưng nàng không dám. Nghìn câu chúc lại không đủ... Nàng chưa viết xong bức thư... Ồ! ông anh của tôi ơi! hay là anh muốn một phụ nữ thế phiệt như Saverni phu nhân nhẩy ngay vào lòng thằng em anh như một cô thợ lẳng lơ hạ lưu hay sao? Tôi, tôi xin nói với anh rằng bức thư của nàng rất đáng yêu, và phải là mù mới không nhận ra mối tình say đắm trong đó... Lại còn những lời trách ở cuối thư, vì tôi vắng mặt có mỗi một hôm thứ năm, thì anh bảo sao?

- Tội nghiệp người đàn bà bé bỏng! Peranh kêu lên, cô em đừng nên phải lòng cái thằng cha ấy. Cô em sẽ hối hận ngay đấy thôi!

Satôfo không lưu ý đến câu hoạt dụ của ông bạn, nhưng lấy giọng nói nhỏ và bóng gió, gã nói: Anh bạn thân yêu ạ, anh có biết rằng anh có thể giúp tôi một việc quan trong không?

- Sao?

- Anh phải giúp tôi trong việc này. Tôi biết rằng chồng nàng đối xử với nàng rất tồi tệ, đó là một con vật làm cho nàng khổ sở... anh, Peranh, anh quen hắn, anh hãy nói rõ cho vợ hắn biết rằng hắn là một kẻ vũ phu, một người có tiếng xấu nhất...

- Ồ...!

- Một kẻ phóng đãng... anh cũng biết đấy. Hắn có bao nhiêu là tình nhân khi hắn còn ở trung đoàn; và những loại tình nhân thế nào! Anh hãy nói tất cả những cái đó với vợ hắn.

- Ồ! làm thế nào mà nói được? Chuyện gia đình nhà người ta...

- Trời ơi! Cái gì chả có cách nói! Nhất là anh phải nói tốt cho tôi.

- Về điều đó thì dễ hơn. Tuy nhiên...

- Không phải dễ lắm đâu, xin anh nghe tôi nói; vì nếu tôi để anh nói tự do, anh sẽ bốc tôi lên đến nỗi hỏng cả việc của tôi... Anh hãy nói với nàng rằng ít lâu nay anh nhận thấy tôi buồn, tôi không nói năng nữa, tôi bỏ ăn...

- Ối chà chà! Peranh vừa kêu vừa cười ầm lên làm cho cái tẩu của chàng nẩy lên nẩy xuống rất buồn cười, không bao giờ tôi có thể nói như thế trước mặt bà Saverni đâu. Mới hôm qua, tí nữa người ta phải khiêng anh về sau bữa tiệc mà các bạn thết chúng ta.

- Phải rồi, nhưng kể cái đó ra cho nàng nghe làm gì vô ích. Cần làm cho nàng biết rằng tôi mê nàng; và những tay đặt tiểu thuyết đã thuyết phục bọn phụ nữ rằng một anh đàn ông vẫn ăn vẫn uống thì không thể là người đang si mê.

- Còn tôi, tôi thấy không có gì có thể làm cho tôi bỏ ăn bỏ uống.

- Vậy là, anh Peranh thân mến, Satôfo vừa nói vừa đội mũ và sửa sang những món tóc của mình, vậy là đã thỏa thuận rồi nhé; thứ năm sau tôi sẽ đến đây tìm anh; giầy không cổ và tất lụa, lễ phục bắt buộc đấy! Nhất là anh đừng quên kể những cái đáng ghê sợ của người chồng, và nói tốt hết sức cho tôi đấy.

Gã vừa bước ra vừa vung vẩy cây can của mình một cách duyên dáng, để Peranh ngồi bận tâm mãi về lời mời mà chàng vừa nhận được và càng phàn nàn khi nghĩ đến tất lụa và lễ phục bắt buộc.

IV

Vì có nhiều người được Saverni phu nhân mời đã xin kiếu, nên bữa tiệc hơi tẻ. Satôfo ngồi cạnh Giuyli rất sốt sắng phục vụ nàng, lịch sự và nhã nhặn như thường lệ. Còn Saverni vì sáng nay vừa cưỡi ngựa đi chơi nên ăn hết sức ngon miệng. Cách chàng ăn uống làm cho những người đau ốm nhất cũng phải thèm.

Thiếu tá Peranh ngồi tiếp chàng, luôn luôn rót rượu cho chàng uống, và cười đến vỡ nhà mỗi khi cái vui thô lỗ của chủ nhà tạo dịp cho thiếu tá cười. Được gặp lại những quân nhân, Saverni tức khắc phục hồi sự vui tính và phong cách khi còn ở trung đoàn; vả lại, chàng có bao giờ quá khó tính trong việc lựa chọn những câu bông phèng. Vợ chàng tỏ vẻ lạnh lùng khinh khỉnh trước mỗi lời nói đùa lỗ mãng của chồng. Những lúc đó nàng quay về phía Satôfo, và bắt đầu nói chuyện riêng với gã, để khỏi có vẻ nghe thấy những lời nói làm cho nàng hết sức phật ý.

Đây là một ví dụ về kiểu lịch sự của người chồng kiểu mẫu đó. Vào cuối bữa tiệc, câu chuyện nhằm vào rạp Ô-pê-ra, người ta so sánh giá trị của nhiều cô vũ nữ và trong các cô đó người ta đặc biệt ca tụng cô... Thế là Satôfo tâng bốc thêm và đặc biệt ca ngợi cái sắc đẹp, dáng điệu và vẻ người tao nhã của cô ấy.

Peranh, mà Satôfo đã dẫn đi xem Ô-pê-ra cách đó vài hôm và chỉ đi đến đó có một lần ấy, còn nhớ rất rõ cô...

- Có phải chàng nói, cái cô bé mặc màu hồng, nhẩy như dê non không? Có phải cái cô có cặp đùi mà anh vẫn nói đến không, Satôfo?

- A! cặp đùi của cô ta thì còn phải nói, Saverni kêu lên; nhưng ông có biết rằng nếu ông nói quá nhiều đến nó, thì ông sẽ lôi thôi với vị tướng của ông là công tước Đơ G... không? Xin ông hãy coi chừng ông bạn ạ!

- Nhưng tôi nghĩ ông ta đâu có tính cả ghen đến mức cấm người ta nhìn cặp đùi đó qua ống nhòm xem hát.

- Trái lại, vì ông ta lấy làm hãnh diện về cặp đùi ấy, y như ông ta là kẻ đã phát hiện ra nó. Này thiếu tá Peranh, thế ông bảo sao về cặp đùi đó?

- Tôi chỉ thạo có đùi ngựa, người quân nhân nhiều tuổi nhũn nhặn đáp.

- Quả thực cặp đùi ấy tuyệt đẹp, Saverni nói, và ở Pari không có cặp đùi của ai đẹp hơn, trừ phi của... chàng ngừng lại và vừa vê râu mép ra vẻ chớt nhả vừa nhìn vợ, khiến nàng lập tức đỏ đến tận vai.

- Trừ cặp đùi của cô D... có phải không? Satôfo ngắt lời, kể tên một vũ nữ khác.

- Không phải, Saverni đáp với giọng bi kịch của Hămlét:

Nhưng xin hãy nhìn vợ tôi.

Giuyli giận đỏ mặt tía tai. Nàng lườm chồng một cái nhanh như chớp, nhưng cái lườm đó đủ biểu lộ cả sự khinh bỉ lẫn sự phẫn nộ. Rồi cố tự kiềm chế, nàng quay ngoắt sang phía Satôfo: Chúng ta phải, nàng nói giọng hơi run run, chúng ta phải nghiên cứu khúc song tấu Maôméttô(29) mới được. Chắc là khúc đó rất hợp với giọng của ông.

Saverni không dễ bị bối rối. - Satôfo, chàng nói tiếp, ông có biết rằng xưa kia tôi đã định đúc khuôn cặp đùi mà tôi vừa nói không? Nhưng người ta không bao giờ cho phép tôi làm như thế cả.

Satôfo rất vui thích trước sự tiết lộ liều lĩnh đó, nhưng làm ra vẻ không nghe thấy và nói về bản Maôméttô với Saverni phu nhân.

- Cái người mà tôi muốn nói, người chồng tàn nhẫn nói tiếp, thường thường phẫn nộ khi người ta đánh giá đúng mình về cái mục đó, nhưng trong thâm tâm thì không giận đâu. Ông có biết rằng người đó bảo ông hàng bít-tất đo cho mình không?... Mình ạ, mình đừng giận nhé... Chị hàng bít-tất, tôi nói nhầm đấy. Và khi tôi đi Brúcxen, tôi mang theo ba trang giấy của người ấy viết để chỉ dẫn cặn kẽ về vấn đề mua bít-tất.

Nhưng tha hồ cho chàng nói, Giuyli quyết không nghe nữa. Nàng nói chuyện với Satôfo, giả bộ vui vẻ và nụ cười có duyên của nàng cố làm cho gã tin tưởng rằng nàng chỉ nghe mỗi lời gã nói. Về phần mình, Satôfo ra vẻ để hết tâm trí vào khúc Maôméttô; nhưng gã không bỏ sót một lời nói liều lĩnh nào của Saverni.

Sau bữa tiệc, người ta chơi âm nhạc và Giuyli hát theo tiếng dương cầm cùng với Satôfo, còn Saverni biến mất khi cây đàn dương cầm vừa mở nắp ra. Có nhiều khách chợt đến, nhưng điều đó vẫn không ngăn được Satôfo nói thầm với Giuyli rất nhiều lần. Khi ra về gã tuyên bố với Peranh rằng gã đã không phí mất buổi tối và công việc của gã đang tiến triển.

Peranh cho rằng một người chồng nói đến cặp đùi của vợ mình là một việc hoàn toàn bình thường: cho nên khi còn lại có một mình ở ngoài phố với Satôfo, chàng bảo bạn với một giọng thấm thía:

- Sao anh lại đang tâm phá rối một gia đình yên ấm như thế! Hắn yêu quý cô vợ nhỏ của hắn quá!

V

Từ một tháng nay, Saverni rất bận tâm về vấn đề xin làm nội thần của nhà vua.

Có lẽ người ta lấy làm lạ rằng một người to béo, lười nhác thích thoải mái tùy ý, lại có thể có một tham vọng trong đầu óc; nhưng chàng không thiếu gì lý do xác đáng để biện hộ cho tham vọng của chàng. Trước nhất, chàng nói với các bạn: "Tôi tiêu quá nhiều để mua vé lô xem hát tặng phụ nữ. Khi nào được một chức vị trong triều thì muốn có bao nhiêu vé lô trong rạp hát cũng được mà không tốn một xu. Và ai cũng biết rằng người ta có thể được những gì nhờ các lô. Ngoài ra, tôi rất thích đi săn: những cuộc đi săn của Nhà Vua sẽ là của tôi. Sau hết, bây giờ tôi không còn binh phục nữa nên tôi không biết ăn mặc thế nào để đi dự những cuộc khiêu vũ của Lệnh Bà(30); tôi không thích quần áo hầu tước; bộ quần áo nội thần ấy rất hợp với vẻ người của tôi." Do đó, chàng đi cầu cạnh. Đáng lẽ chàng muốn cả vợ chàng cũng đi. Nhưng nàng cương quyết từ chối, mặc dầu nàng có nhiều bà bạn rất thần thế. Sau khi giúp vài việc cỏn con cho công tước Đơ H..., một người rất có thanh thế ở triều đình lúc bấy giờ, chàng rất trông đợi vào thế lực của ông bạn này. Bạn chàng là Satôfo cũng quen biết nhiều nhân vật quan trọng, gã giúp đỡ chàng một cách nhiệt tình và tận tâm mà có lẽ chúng ta sẽ thấy nếu chúng ta là chồng của một mỹ nhân.

Một cơ hội làm cho câu chuyện của Saverni tiến bộ nhiều, mặc dầu nó có thể gây ra những hậu quả khá bi thảm cho chàng. Saverni phu nhân đã kiếm được, không phải là không mất công, một vé lô ở rạp Ô-pê-ra diễn buổi đầu của một vở kịch. Lô đó có sáu chỗ ngồi. Sau khi phản đối kịch liệt, chồng nàng bằng lòng đi với nàng một cách bất thường. Thực ra Giuyli muốn biếu Satôfo một chỗ ngồi, nhưng nàng cảm thấy không thể đi Ô-pê-ra một mình với gã, nên nàng đã buộc chồng phải tới xem buổi biểu diễn đó.

Ngay khi hết hồi thứ nhất, Saverni bước ra, để vợ ngồi một mình với bạn. Lúc đầu cả hai người đều yên lặng, mất vẻ tự nhiên: về phần Giuyli, vì từ ít lâu nay nàng cảm thấy lúng túng mỗi khi ngồi một mình với Satôfo; về phần Satôfo, vì gã có dự định của gã và thấy mình nên làm ra vẻ cảm động. Liếc trộm các khán giả, gã vui sướng thấy nhiều ống nhòm quen thuộc hướng vào lô của gã. Gã rất thỏa mãn khi nghĩ rằng có nhiều bạn gã thèm muốn hạnh phúc của gã, và xem ra họ tưởng rằng gã oai hơn thực tế rất nhiều.

Sau nhiều lần ngửi bính hương và bó hoa của mình, Giuyli nói chuyện về thời tiết oi bức, về buổi biểu diễn, về các trang phục, còn Satôfo thì nghe một cách lơ đãng, thở dài, cựa quậy trên ghế, nhìn Giuyli rồi lại thở dài. Giuyli bắt đầu lo ngại. Bỗng chốc gã kêu lên:

- Tôi thật tiếc cái thời hiệp sĩ!

- Thời hiệp sĩ à? Tại sao thế? Giuyli hỏi. Chắc vì bộ quần áo thời Trung cổ sẽ hợp với ông lắm?

- Chắc bà cho tôi là một kẻ rất hợm mình, gã nói với giọng chua chát và buồn bã. Không, tôi tiếc cái thời đó... vì người nào cảm thấy mình có lòng dũng cảm... người ấy có thể mong ước... được nhiều cái... Nói tóm lại, chỉ có vấn đề chẻ đôi đầu một tên khổng lồ là có thể làm vừa lòng một mỹ nhân... Đây này, bà có trông thấy cái tên cao lớn ở ban công kia không? Tôi mong rằng bà ra lệnh cho tôi đến lấy bộ râu của hắn... để rồi bà cho phép tôi được nói với bà ba tiếng nhỏ mà không làm bà giận.

- Ông điên thật! Giuyli kêu lên, mặt đỏ rừ, vì nàng đã đoán được ba tiếng nhỏ ấy là gì - Nhưng này ông hãy trông Xanh Hermin phu nhân: ở tuổi bà ta mà mặc quần áo khiêu vũ và hở cổ?

- Tôi chỉ trông thấy có một điều, là bà không muốn nghe tôi nói, và đã từ lâu tôi nhận thấy điều đó... Nếu bà muốn, tôi xin ngậm miệng; nhưng... gã vừa nói rất khẽ vừa thở dài, bà đã hiểu lòng tôi...

- Không, quả thực thế, Giuyli nói cộc lốc. Mà nhà tôi đi đâu rồi nhỉ?

Một người khách đến rất đúng lúc giúp nàng thoát khỏi lúng túng. Satôfo không mở miệng nữa. Gã nhợt nhạt và có vẻ đau khổ. Khi người khách bước ra, gã nói vài câu nhận xét không có nghĩa lý gì về buổi biểu diễn. Giữa hai người có những khoảng thời gian im lặng dài.

Hồi thứ hai sắp sửa bắt đầu thì cửa lô mở ra và Saverni xuất hiện, dẫn một người đàn bà rất xinh và rất diện, đầu gài những lông chim màu hồng lộng lẫy. Đi sau Saverni là công tước Đơ H...

- Em thân yêu, hắn nói với vợ, tôi gặp ngài Công tước và phu nhân đây trong một cái lô tồi quá ở phía bên, ngồi ở đó người ta không thể thấy những đồ bài trí. Hai vị đã bằng lòng ngồi trong lô của chúng ta đấy!

Giuyli cúi chào một cách lãnh đạm: nàng không ưa công tước Đơ H... Công tước và bà gài lông hồng xin lỗi rối rít, và sợ làm phiền nàng. Hai bên thi nhau tỏ lòng hào hiệp về vấn đề chỗ ngồi. Trong tình hình lộn xộn diễn ra lúc đó, Satôfo ghé vào tai Giuyli và nói với nàng rất khẽ và rất nhanh: "Lạy Chúa, xin bà đừng ngồi ra phía trước lô". Giuyli rất ngạc nhiên và ngồi nguyên ở chỗ của mình. Khi mọi người đã yên vị, nàng quay sang phía Satôfo và đưa con mắt hơi nghiêm khắc hỏi gã về điều bí ẩn đó. Gã ngồi cổ thẳng đờ, môi mím lại và tất cả điệu bộ của gã tỏ ra rằng gã hết sức khó chịu. Suy nghĩ về điệu bộ đó, Giuyli hiểu khá sai về lời khuyên của Satôfo. Nàng cho rằng gã muốn nói thầm với nàng trong buổi biểu diễn và tiếp tục những câu nói kỳ quái của gã, điều mà gã không thể nào làm được nếu nàng vẫn ngồi ở phía trước. Khi nàng đưa mắt nhìn quanh rạp hát, nàng nhận thấy có nhiều phụ nữ chĩa ống nhòm vào lô của nàng; nhưng tình hình bao giờ chả thế, khi xuất hiện một nhân vật mới: Người ta thì thào, người ta cười nụ; nhưng lạ gì kia chứ? Ô-pê-ra cũng y như ở một thành phố nhỏ ấy mà.

Cái bà lạ mặt cúi xuống bó hoa của Giuyli, mỉm cười rất duyên dáng và nói: - Thưa bà, bà có một bó hoa đẹp quá! Tôi chắc chắn rằng vào mùa này bó hoa phải mua rất đắt: ít nhất mười quan. Nhưng bó hoa này người ta biếu bà chứ? Chắc hẳn là một tặng phẩm? Các bà có bao giờ phải mua hoa.

Giuyli giương to mắt, không hiểu mình đang ngồi với một người dân tỉnh lẽ nào thế. - Công tước ạ, bà kia nói với vẻ rầu rĩ, Công tước không tặng tôi bó hoa nào đấy nhé. Saverni nhẩy bổ ra cửa. Công tước muốn ngăn chàng lại, cả bà kia cũng thế; bà ta không ao ước được bó hoa nữa. Giuyli và Satôfo đưa mắt nhìn nhau. Khóe mắt của Giuyli như muốn nói: Cảm ơn ông, nhưng đã muộn quá rồi. Tuy vậy nàng chưa đoán đúng.

Trong suốt buổi biểu diễn, cái bà gài lông mũ lấy ngón tay gõ nhịp sai và nói năng bừa bãi về âm nhạc. Bà ta hỏi Giuyli về giá mua chiếc áo dài của nàng, những đồ nữ trang và những con ngựa của nàng. Chưa bao giờ Giuyli thấy ai có phong cách như thế. Nàng kết luận rằng người lạ mặt hẳn là một người họ hàng của Công tước, mới ở vùng Hạ Brơtannhơ tới. Lúc Saverni trở lại với một bó hoa cực lớn, đẹp hơn bó hoa của vợ chàng rất nhiều, thế là nào trầm trồ, nào cảm ơn, nào xin lỗi mãi không dứt.

- Thưa ông Saverni, tôi không phải là con người vô ơn, cái bà có vẻ tỉnh lẻ nói sau khi tuôn ra một tràng dài; để chứng tỏ điều đó với ông, xin ông gợi ý cho tôi nên hứa với ông một điều gì, như Phôchiê(31) nói. Thật đấy, tôi sẽ thêu tặng ông một cái túi đựng tiền, khi nào tôi thêu xong cái túi mà tôi đã hứa với Công tước.

Cuối cùng, buổi ca vũ kịch chấm dứt, làm Giuyli rất sung sướng vì nàng thấy khó chịu phải ngồi bên một người kỳ quái. Công tước đưa tay mời nàng vịn còn Saverni đưa tay cho bà kia. Satôfo, vẻ mặt ủ rũ và tức bực, đi sau Giuyli, chào một cách miễn cưỡng những người quen gặp trên cầu thang.

Vài người đàn bà đi gần mấy người. Giuyli quen mặt họ. Một thanh niên vừa nói nhỏ với họ vừa tủm tỉm, lập tức họ quay lại nhìn Saverni và vợ chàng với vẻ tò mò, và một bà nói to: - Sao lại thế nhỉ?

Chiếc xe ngựa của công tước hiện ra; ông vừa chào Saverni phu nhân, vừa nhắc lại tất cả những lời cảm ơn nhiệt liệt về lòng tử tế của nàng. Song Saverni muốn đưa tiễn cái bà lạ mặt đến tận xe của công tước, nên chỉ còn Giuyli và Satôfo đứng lại bên nhau một lúc.

- Người đàn bà ấy là ai vậy? Giuyli hỏi.

- Tôi không nên nói để bà rõ điều đó... vì nó thực là kỳ quái!

- Sao?

- Vả chăng tất cả những người quen bà sẽ biết nên có thái độ như thế nào... Nhưng ông Saverni!... Thật tôi không bao giờ ngờ lại có cái chuyện ấy.

- Nhưng cái gì vậy? Ông nói đi, trời đất ơi! Người đàn bà đó là ai?

Saverni đang trở lại. Satôfo khẽ đáp:

- Tình nhân của công tước Đơ H..., bà Mêlani R...

- Trời ơi! Giuyli vừa kêu lên vừa nhìn Satôfo với vẻ kinh ngạc, không thể như thế được!

Satôfo nhún vai và tiễn nàng ra xe, gã vừa nói thêm: Đó là lời của mấy bà mà chúng ta gặp trên cầu thang nói đấy. Còn đối với ông kia thì bà ta là một người tử tế, trong tầng lớp bà ta. Bà ta cần được chăm sóc, trìu mến... Bà ta cũng có chồng đấy.

- Em thân yêu ạ, Saverni nói giọng vui vẻ, em không cần đến anh để đưa em về nhà. Chúc em ngủ ngon. Anh đi dự tiệc tối ở nhà công tước đây.

Giuyli không đáp.

- Ông Satôfo, Saverni nói tiếp, ông có muốn đi với tôi đến nhà công tước không? Ông được mời đấy, công tước vừa mới bảo tôi như thế. Ông được chú ý đấy. Ông đã làm vừa lòng ngài đấy, con người may mắn ạ!

Satôfo lãnh đạm cảm ơn. Gã chào Saverni phu nhân, còn nàng thì căm tức cắn chiếc mùi xoa khi chiếc xe của nàng chuyển bánh.

- À này, ông bạn thân mến ơi, Saverni nói, ít nhất ông cũng cho tôi đi xe ông đến tận cửa nhà bà công chúa ấy chứ.

- Rất sẵn lòng, Satôfo vui vẻ trả lời, nhưng nhân tiện xin hỏi: ông có biết rằng cuối cùng vợ ông đã biết mình ngồi bên cạnh ai rồi chứ?

- Biết thế nào được.

- Xin ông tin chắc là biết, và ông không nên làm thế.

- Ối chào! phong cách của bà ta được quá đi chứ; vả lại người ta chưa biết bà ta mấy. Công tước dẫn bà ta đi khắp nơi.

VI

Saverni phu nhân ngủ một đêm rất trằn trọc. Thái độ của chồng nàng ở rạp Ô-pê-ra làm cho các tội lỗi của chàng lên tới cực độ và có vẻ bắt buộc nàng phải cắt đứt ngay lập tức. Ngày mai nàng sẽ yêu cầu chồng giải thích thái độ và nàng sẽ nói cho chồng hiểu rằng nàng không còn muốn chung sống với một người làm tổn thương danh dự của nàng một cách độc ác đến thế. Tuy vậy việc yêu cầu giải thích đó làm cho nàng hãi hùng. Chưa bao giờ nàng có một cuộc nói chuyện nghiêm túc với chồng. Từ trước đến nay, nàng chỉ tỏ thái độ bực tức bằng những sự dằn dỗi mà Saverni không hề lưu tâm đến; vì, để cho vợ được hoàn toàn tự do, chàng không bao giờ nghĩ rằng nàng lại có thể khước từ chàng một sự độ lượng mà, nếu cần, chàng sẵn sàng áp dụng đối với nàng. Nàng sợ nhất là khóc lóc trong cuộc yêu cầu giải thích đó, khiến Saverni có thể cho rằng những giọt nước mắt đó là do một mối tình bị thương tổn. Chính vì vậy nàng rất tiếc lúc này mẹ nàng đi vắng, nếu không bà có thể khuyên nàng những điều hay hoặc là bà sẽ nhận tuyên bố bản án chia cắt. Tất cả những ý nghĩ đó làm cho nàng rất phân vân, và khi nhắm mắt ngủ, nàng đã quyết định sẽ hỏi ý kiến một người bạn gái quen nàng từ thuở nhỏ và sẽ trông cậy vào sự khôn ngoan của bạn để định thái độ đối với Saverni.

Trong cơn phẫn uất, nàng không thể không vô tình so sánh chồng nàng với Satôfo. Sự khiếm nhã ghê gớm của người thứ nhất làm nổi bật cái thanh lịch của người thứ hai, và nàng có phần nào thích thú nhưng đồng thời cũng tự trách vì nhận thấy rằng người yêu nàng quan tâm đến thanh danh của nàng hơn chồng nàng. Và dù nàng không muốn, sự so sánh về mặt tinh thần đó khiến cho nàng nhận ra phong cách lịch sự của Satôfo và bộ điệu thô tục của Saverni. Nàng nhìn thấy chồng nàng, với cái bụng hơi phệ, xun xoe bên người tình nhân của công tước Đơ H..., trong khi Satôfo kính cẩn hơn cả mọi ngày, hình như tìm cách bảo tồn cho nàng cái thanh danh mà chồng nàng có thể làm mất. Cuối cùng, vì những suy nghĩ của chúng ta thường lôi cuốn chúng ta đi xa dù chúng ta không muốn, nàng mấy lần tưởng tượng rằng nàng có thể sẽ góa chồng và lúc đó thì với cái tuổi thanh xuân, với sự giàu có, sẽ không có gì ngăn trở nàng ban thưởng một cách chính đáng cho mối tình chung thủy của người thiếu tá trẻ tuổi. Một cuộc thí nghiệm đau khổ không thể đem lại một kết luận nào về vấn đề hôn nhân, và nếu sự luyến ái của Satôfo là thực tâm thì... Nhưng đến đây nàng xua đuổi những ý nghĩ làm cho nàng xấu hổ, và nàng tự hứa sẽ có thái độ dè dặt hơn bao giờ hết trong quan hệ với Satôfo.

Nàng tỉnh dậy trong đầu rất nhức nhối và còn e ngại một cuộc yêu cầu thanh minh hơn cả hôm trước. Nàng không muốn xuống ăn điểm tâm vì sợ gặp chồng, nàng bảo mang trà vào phòng nàng và gọi lấy xe để đi đến nhà bà Lambe, người bạn mà nàng định hỏi ý kiến. Bà này đang ở nông thôn tại P.

Trong lúc ăn sáng, nàng mở một tờ báo ra xem. Bài báo thứ nhất hiện ra trước mắt nàng nói thế này: "Hôm kia, ông Đarxi, bí thư thứ nhất đại sứ quán nước Pháp tại Côngxtăngtinôp đã tới Pari, mang theo một số công văn. Ngay sau khi tới Pari, nhà ngoại giao trẻ tuổi này đã hội đàm một lúc lâu với ngài ngoại trưởng".

- Đarxi ở Pari à! nàng kêu lên. Được gặp lại anh chàng thì ta thích lắm. Không biết anh chàng có thay đổi không? Không biết anh chàng có trở thành cứng nhắc không? Nhà ngoại giao trẻ tuổi! Darxi, nhà ngoại giao trẻ tuổi! Và nàng không thể nhịn cười một mình về mấy tiếng: nhà ngoại giao trẻ tuổi.

Chàng Đarxi này xưa kia năng lui tới những buổi dạ hội ở nhà Luytxăng phu nhân; hồi đó chàng là tùy viên bộ ngoại giao. Trước ngày cưới của Giuyli ít lâu, chàng đã từ giã Pari và từ đó nàng không gặp lại chàng ta nữa. Song nàng biết chàng đã đi nhiều và đã thăng chức nhanh chóng.

Nàng còn đang cầm tờ báo thì chồng nàng bước vào. Chàng có vẻ rất vui. Trông thấy chàng, nàng đứng dậy định bước ra; nhưng vì muốn vào phòng trang điểm của nàng thì phải đi qua sát chồng, nên nàng đứng nguyên tại chỗ, nhưng xúc động đến nỗi bàn tay nàng tựa trên chiếc bàn trà làm bộ đồ sứ rung lên một cách rõ rệt.

- Em thân yêu ạ, Saverni nói, anh đến từ biệt em để đi vắng vài ngày. Anh đi săn ở nhà công tước Đơ H... Anh xin nói với em rằng công tước rất cảm kích về lòng mến khách của em tối qua. Công việc của anh tiến bộ tốt, và công tước đã hứa với anh là sẽ tiến cử anh với Hoàng Thượng một cách tích cực nhất.

Nghe chàng nói, mặt Giuyli hết tái xanh lại đỏ bừng lïn.

- Ngài công tước Đơ H... phải trả ơn anh như thế là đúng... nàng nói giọng run run. Ông ta không thể nào xử sự kém hơn đối với một người làm mất danh giá của vợ mình một cách bêu riếu nhất vì cô nhân ngãi của người che chở cho mình.

Rồi cố gắng một cách tuyệt vọng, nàng đi qua gian phòng một cách oai nghiêm, vào phòng trang điểm và đóng sầm cửa lại.

Saverni đứng yên một lúc, đầu cúi xuống, vẻ sượng sùng.

- Quái thật! Do đâu mà nàng biết cái đó? chàng nghĩ. Xét đến cùng, cũng chẳng quan trọng gì! Cái gì xảy ra thì đã xảy ra rồi! Và, vì chàng không quen bận tâm lâu về một ý nghĩ khó chịu, chàng bèn xoay người một cái, cầm lấy một miếng đường trong bình, và vừa nhai đầy mồm vừa nói to với chị hầu phòng đang bước vào: Chị thưa với bà rằng ta sẽ ở nhà công tước Đơ H... độ bốn năm ngày, và ta sẽ gửi chim muông săn được về cho bà.

Chàng bước ra, chỉ còn nghĩ đến những con trĩ và những con hoẵng mà chàng sắp bắn được.

VII

Giuyli lên đường đi P..., lòng càng tức giận chồng, nhưng lần này vì một nguyên nhân cũng thường thôi. Để đi đến lâu đài của công tước Đơ H..., Saverni đã lấy chiếc xe ngựa mới, để lại cho vợ một chiếc xe khác mà anh đánh xe bảo rằng cần sửa chữa.

Dọc đường, Saverni phu nhân chuẩn bị kể chuyện riêng của mình cho Lambe phu nhân nghe. Mặc dầu đang buồn, nàng không thể không nghĩ đến sự thỏa mãn của bất kỳ người kể chuyện nào khi kể được một chuyện hay, và nàng sửa soạn câu chuyện của nàng bằng cách tìm nhận đề, lúc thì định mở đầu như thế này, lúc thì định mở đầu như thế khác. Kết cục nàng nhìn thấy những cái chướng ách của chồng dưới đủ mọi vẻ, và vì thế lòng uất hận của nàng càng tăng lên.

Chúng ta đều biết rằng con đường từ Pari đi P... dài hơn bốn dặm, và dù bản luận tội của Saverni phu nhân dài đến đâu, chúng ta cũng thấy rằng có căm uất đến điên cuồng cũng không thể trở đi trở lại một ý nghĩ duy nhất trong suốt bốn dặm đường. Cùng với những tình cảm tức bực về tội lỗi của chồng, hiện ra những kỷ niệm êm ái và buồn bã, do khả năng kỳ dị của tư tưởng con người thường kết hợp một hình ảnh tươi vui với một cảm giác nặng nề.

Nắng đẹp, bầu không khí trong lành sảng khoái, nét mặt vô tư lự của những người đi đường cũng góp phần kéo nàng ra khỏi những ý nghĩ oán hờn. Nàng nhớ lại những cảnh tượng hồi thơ ấu và những ngày nàng dạo chơi ở nông thôn với những thiếu nữ cùng lứa tuổi với nàng. Nàng thấy hiện ra trước mắt những cô bạn ở nhà tu(32), nàng dự những trò chơi, những bữa ăn với họ. Nàng tự cắt nghĩa những lời tâm sự bí mật mà hồi đó nàng nghe lỏm được ở những chị lớn tuổi và nàng không thể nhịn cười khi nghĩ tới hàng trăm nét nho nhỏ tiết lộ thật sớm bản năng làm dáng ở người phụ nữ.

Rồi nàng nhớ lại lúc nàng mới ra ngoài xã hội. Nàng lại thấy mình khiêu vũ trong những cuộc dạ hội lộng lẫy nhất trong cái năm đầu sau khi ở nhà tu ra. Những cuộc dạ hội khiêu vũ khác, nàng đã quên rồi, con người thật chóng chán; nhưng những cuộc dạ hội này làm nàng nhớ lại chồng nàng. Mình lúc bấy giờ thật điên! Nàng tự nhủ. Tại sao mình không thấy ngay từ đầu rằng mình sẽ phải khổ sở với anh ta? Tất cả những cái táp nham, tất cả những cái vô vị của một vị hôn phu như cái anh Saverni tệ hại kia tuôn ra với nàng một cách hiên ngang một tháng trước khi lấy nhau, tất cả những cái đó được ghi nhớ cẩn thận trong ký ức của nàng. Đồng thời nàng không thể không nghĩ tới biết bao người ngưỡng mộ đã thất vọng khi nàng đi lấy chồng, nhưng không phải vì thế mà họ không lấy vợ hoặc không khuây khỏa được bằng cách khác vài tháng sau. - Giá ta lấy người khác thì liệu ta có được sung sướng không? nàng tự hỏi. A... dứt khoát là một anh ngu ngốc; nhưng anh ta không hay xúc phạm, và Amêli tha hồ chi phối anh ta. Bao giờ cũng có cách sống với một người chồng biết nghe lời. B... có tình nhân nhưng vợ anh ta có lòng tốt là lấy điều đó làm buồn. Vả chăng anh ta hết sức săn sóc vợ, và... bản thân ta cũng không đòi hỏi gì hơn. Anh bá tước trẻ tuổi Đơ C... lúc nào cũng đọc những bài châm biếm và cố sức thành một nghị sĩ cừ, có lẽ là một người chồng tốt. Đúng, nhưng tất cả những kẻ ấy đều đáng chán, xấu xí, ngu độn... Trong khi nàng điểm lại tất cả những thanh niên quen biết khi nàng còn là một tiểu thư, thì tên của Đarxi lại hiện ra lần thứ hai trong tâm trí nàng.

Xưa kia, trong đám người hay lui tới nhà Luytxăng phu nhân, Đarxi bị coi là một kẻ tầm thường nghĩa là người ta biết rằng... các bà mẹ biết rằng gia sản của chàng không cho phép chàng nghĩ tới con gái của các bà. Đối với các bà, chàng không có gì khả dĩ làm điên đảo cái đầu thanh xuân của con các bà. Vả lại chàng có tiếng là người hay tán gái. Hơi yếu thế và có tính châm chọc, chàng rất thích được một mình là nam giới giữa một đám tiểu thư, để chế giễu những cái rởm và những cái hợm của những chàng thanh niên khác. Khi chàng nói thầm với một cô tiểu thư, thì các bà mẹ không hoảng hốt, vì con gái các bà cười ầm lên, và các bà mẹ của những cô có hàm răng đẹp còn nói rằng ông Đarxi là một người rất dễ thương.

Hợp nhau về sở thích và cùng sợ tài nói xấu của nhau, Giuyli và Đarxi vì thế mà xích lại gần nhau. Sau vài trận giao chiến nhỏ, hai người đã ký hòa ước với nhau, thiết lập với nhau một liên minh tấn công và phòng thủ, nương nhẹ nhau và bao giờ cũng đoàn kết với nhau để thù tiếp những người quen.

Một buổi tối, người ta đề nghị Giuyli hát một bài gì không rõ. Nàng có giọng tốt, và nàng biết như thế. Trong khi bước đến bên cây dương cầm, nàng nhìn các phụ nữ với vẻ hơi kiêu hãnh trước khi hát, như là muốn thách thức họ. Nhưng tối ấy một sự ươn mình nào đó hoặc một rủi ro bất hạnh tước mất hầu hết tài năng của nàng. Thanh âm đầu tiên thoát khỏi cái cổ họng rất du dương lúc bình thường sai một cách rõ ràng. Giuyli bối rối, hát lung tung lạc điệu hết, tóm lại, thất bại hoàn toàn. Rất kinh hoàng, gần phát khóc, nàng Giuyli tội nghiệp rời khỏi dương cầm, và khi về chỗ ngồi, nàng không thể không chú ý đến vẻ hả hê hiểm ác không giấu được của những cô bạn khi thấy tính kiêu hãnh của nàng bị hạ. Ngay bọn nam giới cũng có vẻ khó nén một nụ cười chế giễu. Nàng cúi đầu vừa hổ thẹn vừa tức giận, và hồi lâu không dám nhìn lên. Đến khi nàng ngửng đầu lên, bộ mặt thân ái đầu tiên mà nàng nhìn thấy là của Đarxi. Chàng nhợt nhạt, đôi mắt rưng rưng; chàng có vẻ bị xúc động về chuyện rủi ro của nàng còn hơn cả nàng. Anh ấy yêu mình! nàng nghĩ; anh ấy yêu mình thật sự. Đêm ấy, nàng thao thức và bộ mặt ủ ê của Đarxi vẫn hiện ra trước mắt nàng. Trong hai ngày trời, nàng chỉ nghĩ đến chàng và đến mối tình thầm kín mà nhất định chàng đang ôm ấp vì nàng. Thiên tình sử đã bắt đầu thì bỗng Luytxăng phu nhân nhận được một tấm danh thiếp của ông Đarxi với ba chữ: Chào tạm biệt. Ông Đarxi đi đâu vậy? Giuyli hỏi một chàng thanh niên quen chàng. - Ông ấy đi đâu? Cô không biết à? Đi Côngxtăngtinôp. Ông ấy đi chuyến xe thư tối nay.

- Vậy là anh ấy không yêu mình! nàng nghĩ. Tám hôm sau, Đarxi đã bị quên. Về phần Đarxi, trong tám tháng trời chàng không quên Giuyli vì hồi đó chàng là một con người khá lãng mạn. Để biện bạch cho Giuyli và để cắt nghĩa sự khác nhau ghê gớm về lòng chung thủy, ta phải nghĩ rằng Đarxi sống giữa bọn người man rợ, còn Giuyli thì ở Pari quanh mình là những sự tôn sùng và những thú vui.

Dù sao đi nữa, sáu bảy năm sau khi hai người xa cách nhau, Giuyli ngồi trong xe trên con đường đi P... nhớ tới vẻ mặt ủ ê của Đarxi hôm nàng hát rất dở, và ta phải thú thật rằng nàng nghĩ đến mối tình mà chắc hồi đó chàng ôm ấp đối với nàng, có lẽ cả đến những tình cảm mà chàng có thể còn giữ. Tất cả những cái đó làm bận tâm nàng khá nhiều trên nửa dặm đường. Sau đó ông Đarxi lại bị quên đi lần thứ ba.

VIII

Giuyli không khỏi bực mình khi đến P... thấy trong sân nhà Lambe phu nhân một cỗ xe mà người ta đang tháo ngựa, điều đó chứng tỏ rằng nhà có khách và khách sẽ ở chơi lâu. Như vậy là không thể nào đi vào cuộc đàm luận về những nỗi bất bình của nàng đối với Saverni.

Khi Giuyli bước vào phòng khách, Lambe phu nhân đang ngồi với một người đàn bà mà Giuyli đã gặp trong xã hội thượng lưu, nhưng nàng chỉ hơi biết thôi. Nàng phải cố nén mới giấu được vẻ bực tức vì đã uổng công đi P...

- Ô! Chào em, em xinh đẹp thân yêu! Lambe phu nhân vừa kêu lên vừa ôm hôn nàng; chị rất vui sướng thấy em không quên chị! em đến đúng lúc quá, vì hôm nay chị chờ không biết bao nhiêu người yêu mến em vô cùng.

Giuyli trả lời với vẻ hơi ngượng nghịu rằng nàng tưởng bà Lambe ở nhà có một mình.

- Được gặp lại em thì họ sẽ sung sướng tuyệt trần, bà Lambe nói tiếp. Từ khi cháu nó đi ở riêng, chị ở nhà buồn quá cho nên chị rất vui sướng khi có bạn hữu sẵn lòng đến họp mặt ở đây. Nhưng em thân yêu, em để đâu nước da hồng hào rồi, chị thấy em hôm nay xanh lắm.

Giuyli bịa ra một câu dối trá nhỏ: đường dài... bụi...nắng.

- Đúng hôm nay có một người rất ngưỡng mộ em sẽ ăn cơm ở đây, chị sẽ đem đến cho ông ta một sự bất ngờ sung sướng, ông Satôfo ấy mà, và chắc chắn là có cả chàng Akatơ (33) trung thành của ông ta nữa là thiếu tá Peranh.

Gần đây em đã có hân hạnh được đón tiếp thiếu tá Peranh, Giuyli trả lời hơi đỏ mặt vì nàng nghĩ đến Satôfo.

- Sẽ có cả ông Đô Xanh Lêgiê nữa. Nhất định ta phải tổ chức ở đây một tối diễn kịch phương ngôn(34) vào tháng sau; và em sẽ phải đóng một vai đấy, nàng tiên nga của chị ạ: cách đây hai năm, em vẫn đóng vai chính trong các vở kịch phương ngôn của chúng ta đấy thôi.

- Trời ơi! thưa chị, đã lâu quá em không đóng kịch phương ngôn nữa nên chắc em sẽ đóng không vững như ngày xưa đâu. Em sẽ phải cầu cứu đến câu: "Tôi nghe thấy có tiếng người nào"(35).

- A! Giuyli, em bé của tôi ơi, em thử đoán xem hôm nay chúng tôi còn đợi ai nữa. Nhưng người này thì, em thân yêu ạ, em cần phải có trí nhớ giỏi mới nghĩ ra tên được.

Tên Đarxi lập tức hiện ra trong tâm trí Giuyli. "Anh ta quả thực ám ảnh ta", nàng nghĩ. - Trí nhớ à, thưa chị?... Em nhớ lâu lắm.

- Nhưng đây chị muốn nói rằng phải nhớ lâu tới sáu bảy năm... Em có còn nhớ một người rất chú ý đến em khi em hãy còn là cô gái nhỏ, tóc chải rẽ sang hai bên trán không?

"Quả thật em không đoán ra."

- Ghê chưa! em thân yêu ạ... Quên cả một người rất dễ thương như thế, một người nếu chị không nhầm thì khi xưa vừa ý em đến nỗi mẹ em phát hoảng. Thôi thôi, em xinh đẹp ạ, vì em quên những người ngưỡng mộ em như thế, nên chị phải nhắc lại tên của họ với em. Đó là ông Đarxi mà em sắp gặp.

- Ông Đarxi!

- Phải, cuối cùng ông ấy đã từ Côngxtăngtinốp về mới được vài hôm. Hôm kia ông ấy đến thăm chị, và chị có mời ông ta. Em có biết không, em thật là bạc bẽo, ông ta đã hỏi chị tin tức về em một cách sốt sắng đầy ý nghĩa!

- Ông Đarxi?...Giuyli ngập ngừng nói, với vẻ lơ đãng giả tạo, ông Đarxi?... có phải là một thanh niên cao, tóc hung... làm bí thư sứ quán?

- Ồ! em thân yêu ạ, em sẽ không nhận ra ông ta đâu, ông ta thay đổi nhiều lắm; xanh xao, hay nói cho đúng hơn là da màu ô-liu, mắt lõm; ông ta đã rụng mất khá nhiều tóc vì trời nóng, theo ông ta nói. Trong vài ba năm nữa, nếu cứ như thế, ông ta sẽ hói trán. Tuy vậy ông ta chưa đến ba mươi tuổi.

Đến đây, cái bà nghe câu chuyện chẳng may của Đarxi, nhiệt liệt khuyên nên dùng thuốc Ka-li-đo mà bà ta đã dùng và thấy rất tốt sau một trận ốm làm rụng mất khối tóc. Bà vừa nói vừa đưa ngón tay lên vuốt những vòng tóc dày màu hạt dẻ sẫm đẹp.

- Thế ông Đarxi ở Côngxtăngtinôp suốt từ dạo ấy đến giờ à? Saverni phu nhân hỏi.

- Không hoàn toàn như vậy vì ông ta đã đi nhiều nơi: sang Nga rồi đi khắp Hy Lạp. Em không biết hạnh phúc của ông ta à? Chú ông ta chết đi để lại cho ông ta một gia tài to lớn, Ông ta đã sang cả Tiểu Á, ở xứ... ông ta gọi nó là xứ gì nhỉ?... Caramani. Ông ta rất dễ thương, em thân yêu ạ; ông ta có những chuyện rất hay sẽ làm em say sưa. Hôm qua, ông ta kể cho chị nghe nhiều chuyện hay quá đến nỗi chị phải luôn luôn bảo ông ta: Thôi xin ông dể dành đến ngày mai chứ; ông sẽ kể cho các bà ấy nghe, hơn là kể phí cho một bà già như tôi.

- Ông ta đã kể cho bà nghe chuyện người đàn bà Thổ Nhĩ Kỳ mà ông đã cứu mạng chưa? bà Đuymanoa, người bảo trợ cho thuốc Ka-ly-đo, nói.

- Người đàn bà Thổ Nhĩ Kỳ mà ông ta đã cứu à? Ông ta đã cứu một người đàn bà Thổ Nhĩ Ký à? Ông ta không nói một tiếng nào với tôi về chuyện đó.

- Thế à! đó là một hành động đáng khâm phục, một tiểu thuyết thực sự.

- Ồ! Thế bà kể cho chúng tôi nghe đi.

- Không, không, bà nên bảo chính ông ấy kể. Tôi, tôi chỉ được biết câu chuyện do miệng chị gái tôi mà bà rõ là có chồng làm lãnh sự ở Xmirnơ. Nhưng chị tôi cũng nghe một người Anh kể, người này được chứng kiến câu chuyện ly kỳ từ đầu đến cuối. Thật là tuyệt diệu!

- Thì bà cứ kể cho chúng tôi nghe. Chúng tôi chờ thế nào được đến tận bữa trưa? Không có gì ngao ngán bằng nghe nói đến một câu chuyện mà mình không biết.

- Nếu thế thì tôi sẽ làm hỏng cả câu chuyện của bà đấy; nhưng chuyện thế này này, đúng như người ta đã kể cho tôi nghe:

Một hôm, ông Đarxi đang ở Thổ Nhĩ Kỳ để nghiên cứu những di tích hoang tàn nào tôi không rõ trên bờ biển thì ông thấy tiến lại phía ông một đám rước rất thê thảm. Đó là những người câm mang một cái bao, và cái bao đó, người ta thấy nó động đậy tuồng như trong đó có một vật gì sống...

- Ối trời ơi! bà Lambe kêu lên, vì bà đã đọc bài thơ Giay-e-ao-ơ (36), đó là một người đàn bà mà người ta sắp đem ném xuống biển.

- Đúng thế. Bà Đuymanoa nói tiếp, hơi phật ý vì có người làm mất nét bi tráng nhất trong câu chuyện của bà. Ông Đarxi nhìn cái bao, ông nghe thấy tiếng rên rỉ và đoán ra ngay sự thực khủng khiếp. Ông hỏi bọn người câm xem họ định làm gì: để trả lời, bọn câm rút dao găm ra. May sao ông Đarxi vũ trang rất đầy đủ. Ông làm cho bọn nô lệ kia chạy mất và cuối cùng ông kéo ở trong cái bao khốn nạn ấy ra một người đàn bà đẹp mê hồn, gần ngất đi rồi, và ông lại đưa người đó về thành phố, đến một chỗ ở chắc chắn.

- Tội nghiệp người phụ nữ! Giuyli nói, bắt đầu chú ý đến câu chuyện.

- Các bà tưởng thế là người đó đã được cứu thoát sao? Đâu có! Thằng chồng ghen - vì thằng chồng ấy mới thật ghê - tụ tập tất cả bọn dân chúng hạ lưu lại, mang đuốc kéo đến nhà ông Đarxi định thiêu sống ông ta. Tôi không rõ đoạn sau câu chuyện ra sao; tôi chỉ biết rằng ông ta đã chống lại một cuộc vây hãm và cuối cùng ông ta đem được người đàn bà đến một chỗ chắc chắn. Hình như là, bà Đuymanoa bỗng nhiên đổi nét mặt và lấy giọng mũi rất mộ đạo nói tiếp, hình như là ông Đarxi còn chịu khó cải đạo cho người đàn bà ấy và cô ta đã chịu lễ rửa tội.

- Thế ông Đarxi có lấy người ấy không? Giuyli mỉm cười nói.

- Về điều đó, tôi không thể trả lời bà được. Nhưng người đàn bà Thổ Nhĩ Kỳ ấy... có một cái tên kỳ dị: tên cô ta là Eminê... Cô ta say mê ông Đarxi một cách ghê gớm. Chị tôi nói rằng cô ta luôn luôn gọi ông ấy là Xôtia... Xôtia... nghĩa là cứu tinh của tôi bằng tiếng Thổ hoặc tiếng Hy Lạp gì đó. Olali nói với tôi rằng đó là một trong những phụ nữ đẹp nhất trên đời.

- Chúng ta sẽ khai chiến với ông ta về cô Thổ Nhĩ Kỳ của ông ta! Bà Lambe kêu lên, có phải không, thưa các bà? Ta phải quấy phá ông ấy một chút. Vả lại, cái đặc điểm này của Đarxi không làm tôi ngạc nhiên chút nào: ông ta là một trong những người đàn ông hào hiệp nhất mà tôi từng thấy, và tôi được biết những hành động của ông làm tôi cảm động chảy nước mắt mỗi khi tôi kể lại nó. Chú ông ta chết đi để lại một người con gái riêng mà chú ông ấy không bao giờ công nhận. Vì ông chú không làm chúc thư, nên người con gái kia không có quyền gì về thừa kế. Ông Đarxi, người thừa kế độc nhất, lại muốn cô ta cũng có phần, và nếu chính ông chú có chia phần cho cô ta thì chắc còn kém rất nhiều phần mà ông Đarxi chia cho cô.

- Người con gái riêng ấy có xinh không? Saverni phu nhân hỏi với vẻ khá ác, vì nàng bắt đầu cảm thấy cần nói xấu cái ông Đarxi kia mà nàng không thể gạt khỏi tâm trí.

- Chà! em thân mến ơi, sao em lại có thể đặt giả thiết như thế?... Vả lại, khi người chú chết thì ông Đarxi còn đang ở Côngxtăngtinôp và chắc ông ta chưa trông thấy con người kia.

Satôfo, thiếu tá Peranh và vài người nữa đến làm chấm dứt câu chuyện. Satôfo đến gần Saverni phu nhân, và lợi dụng một lúc người ta đang nói chuyện rất to, gã nói với nàng:

- Thưa bà, bà có vẻ buồn, tôi rất lấy làm khổ sở, nếu đó là vì điều tôi nói với bà hôm qua.

Saverni phu nhân không nghe thấy lời gã nói, hoặc không muốn nghe thì đúng hơn. Cho nên Satôfo cảm thấy ức vì phải nhắc lại câu nói của mình, và càng ức hơn về câu trả lời hơi cộc lốc của Giuyli. Sau đó Giuyli lập tức xen vào câu chuyện chung; và đổi chỗ ngồi, nàng rời xa kẻ hâm mộ bất hạnh của nàng.

Không nản chí, Satôfo cố nói nhiều câu hóm hỉnh nhưng vô hiệu. Gã chỉ muốn làm cho Saverni phu nhân của gã ưa gã, nhưng nàng thì lơ đãng nghe gã nói: nàng vừa nghĩ đến việc Đarxi sắp đến, vừa tự hỏi vì sao nàng bận tâm đến thế về một người đáng lẽ nàng đã quên rồi mới phải và người đó chắc cũng đã quên nàng từ lâu.

Cuối cùng, có tiếng xe ngựa; cánh cửa phòng mở ra. Ồ! Ông ấy đây này! Bà Lambe kêu lên. Giuyli không dám quay đầu lại, nhưng nàng tái hẳn mặt đi. Nàng cảm thấy lạnh người dữ dội và đột ngột, và nàng cần phải tập trung tất cả sức lực để trấn tĩnh và để Satofo khỏi nhận thấy sự thay đổi nét mặt của nàng.

Đarxi hôn tay bà Lambe, đứng nói với bà một lúc rồi ngồi xuống cạnh bà. Lúc đó, trong gian phòng rất im lặng, bà Lambe hình như chờ đợi và chuẩn bị cho một cuộc nhận ra người cũ. Satôfo và bọn đàn ông, trừ thiếu tá Peranh hiền lành, ngắm Đarxi với vẻ tò mò hơi ghen tị. Từ Côngxtăngtinôp tới, Đarxi có những ưu điểm so với họ, và điều ấy cũng đủ là một cái cớ để họ có cái bộ điệu quá ư cứng nhắc mà người ta thường có trước mặt người lạ. Đarxi không chú ý đến ai cả, chàng cất tiếng đầu tiên phá bầu không khí im lặng. Chàng nói về thời tiết hoặc về đường sá, cái đó cũng chẳng quan trọng gì; nhưng giọng nói của chàng dịu dàng và du dương. Saverni phu nhân liền nhìn chàng: nàng trông nghiêng chàng. Nàng thấy chàng có vẻ gầy đi và nét mặt của chàng đã thay đổi... Tóm lại nàng thấy chàng đáng ưa.

- Ông Đarxi thân mến ạ, xin ông hãy nhìn kỹ quanh ông xem có thấy một người quen cũ không. Đarxi quay đầu và nhìn thấy Giuyli từ nãy đến giờ vẫn để mũ che mặt. Chàng vội vàng đứng dậy, kêu lên một tiếng ngạc nhiên, và vừa giơ tay vừa tiến lại phía nàng; rồi bỗng nhiên dừng lại và hình như hối hận về thái độ quá thân mật của mình, chàng cúi đầu chào Giuyli rất kính cẩn và bằng những lời đúng mực chàng bày tỏ tất cả nỗi vui sướng lại được gặp nàng. Giuyli lúng búng mấy câu xã giao, và đỏ rừ mặt khi thấy Đarxi vẫn đứng trước mặt nàng và chăm chú nhìn nàng.

Chẳng bao lâu sự bình tĩnh trở lại với nàng, và đến lượt nàng nhìn chàng với cái nhìn vừa lơ đãng vừa sắc sảo mà những người thượng lưu biết cách dùng khi nào họ muốn. Đó là một thanh niên cao, xanh, nét mặt tỏ ra bình tĩnh, nhưng là một sự bình tĩnh có vẻ do trí não đã đạt tới chỗ làm chủ được nét mặt hơn là do trạng thái bình thường của tâm hồn. Những nét răn sâu rạch ngang vầng trán. Mắt chàng trũng, hai bên mép trễ xuống và thái dương của chàng đã bắt đầu hói. Tuy vậy, chàng chưa quá ba mươi tuổi. Đarxi ăn mặc rất giản dị, với một vẻ thanh lịch chứng tỏ chàng quen giao du với những người đứng đắn và dửng dưng với một vấn đề làm bận tâm biết bao nhiêu thanh niên. Giuyli sung sướng nhận thấy tất cả những cái đó. Nàng còn nhận thấy trán chàng có một vết sẹo khá dài mà chàng giấu không được kỹ dưới mái tóc, vết sẹo đó hình như là một vết kiếm.

Lúc đó Giuyli ngồi gần bà Lambe. Có một cái ghế giữa nàng và Satôfo; nhưng ngay sau khi Đarxi đứng lên, Satôfo đã nắm lấy lưng ghế, để nó đứng nghiêng trên một chân và giữ cho nó thăng bằng. Hiển nhiên gã muốn canh giữ nó như con chó của người làm vườn canh giữ kho lúa mạch. Bà Lambe thấy thương hại cho Đarxi cứ đứng mãi trước mặt bà Saverni. Ba thu dọn được một chỗ ngồi cạnh bà, trên chiếc đi-văng mà bà đang ngồi, và mời Đarxi ngồi xuống, do đó Đarxi ngồi gần Giuyli. Chàng vội vã lợi dụng vị trí thuận tiện đó để bắt đầu nói chuyện liên tục với nàng.

Tuy nhiên chàng phải chịu để bà Lambe và vài người khác mở một cuộc lục vấn ra trò về những chuyến đi của chàng; nhưng chàng đánh tháo một cách khá gọn gàng, và chàng nắm lấy mọi dịp tốt để tiếp tục nói chuyện riêng với Saverni phu nhân.

- Xin ông đỡ tay Saverni phu nhân, bà Lambe bảo Đarxi lúc chuông lâu đài báo tới giờ ăn. Satôfo cắn môi, nhưng gã tìm được cách ngồi ở bàn tiệc khá gần Giuyli để có thể quan sát nàng được kỹ.

IX

Sau bữa tiệc, chiều trời đẹp và nóng, nên mọi người tập họp ở ngoài vườn, quanh một cái bàn mộc mạc để uống cà-phê.

Satôfo mỗi lúc một uất ức thêm vì nhận thấy sự quan tâm của Đarxi đới với Saverni phu nhân. Gã càng quan sát cái vẻ chú ý của nàng đối với câu chuyện của người mới đến, thì bản thân gã càng trở nên kém khả ái, và cái máu ghen nổi lên trong lòng gã chỉ có tác dụng là tước mất của gã những khả năng làm người ta ưa mến. Gã đi đi lại lại trên hiên là nơi mọi người đang ngồi, gã không thể đứng yên một chỗ, theo thói thường của những người đang lo nghĩ, gã hay nhìn những đám mây to đang tụ lại ở chân trời báo hiệu một cơn giông, và càng hay nhìn địch thủ của gã đang nói chuyện thầm với Giuyli. Gã thấy nàng lúc thì mỉm cười, lúc thì ra vẻ nghiêm trang, lúc thì nhìn xuống một cách bẽn lẽn; tóm lại, gã thấy không có lời nào của Đarxi nói với nàng mà không có tác động rõ rệt, và điều làm cho gã ưu phiền nhất là những vẻ mặt thay đổi của Giuyli, hình như chỉ là hình ảnh, là sự phản ánh nét mặt linh động của Đarxi. Cuối cùng, không thể chịu nổi cái thứ hình phạt đó nữa, gã bước lại gần nàng và cúi xuống lưng ghế của nàng trong lúc Đarxi nói cho một người nào đó biết về bộ râu của Hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ Mamút(37): - Thưa bà, gã nói giọng chua chát, ông Đarxi có vẻ là một người đáng mến lắm!

- Vâng, đúng thế! Saverni phu nhân trả lời với một vẻ nhiệt tình mà nàng không nén nổi.

- Hình như thế, vì ông ta làm bà quên các bạn cũ của bà.

- Các bạn cũ của tôi! Giuyli nói với giọng hơi nghiêm khắc. Tôi không hiểu ông định nói gì. Và nàng quay lưng lại phía Satôfo. Rồi, nắm lấy góc một chiếc mùi xoa mà bà Lambe đang cầm trong tay, nàng nói: - Cái mùi xoa này thêu mới mỹ thuật chứ, thật là một kỳ công.

- Thật à, em thân yêu? Đó là tặng phẩm của ông Đarxi đấy, ông ấy mang về cho chị không biết bao nhiêu là mùi xoa thêu ở Côngxtăngtinôp. Nhân tiện, xin hỏi ông Đarxi, có phải cô Thổ Nhĩ Kỳ của ông đã thêu những mùi xoa đó không?

- Cô Thổ Nhĩ Kỳ của tôi! Cô Thổ Nhĩ Kỳ nào?

- Vâng, cái cô hoàng hậu xinh đẹp mà ông đã cứu sống ấy, cái người ông gọi là... ồ! Chúng tôi biết hết, gọi ông là... ân nhân... cứu tinh của cô ta. Hẳn ông phải biết tiếng Thổ gọi thế là gì?

Đarxi vừa cười vừa vỗ tay vào trán mình. - Có lẽ nào, chàng kêu lên, chuyện chẳng may của tôi đã bay tiếng về tận Pari!

- Nhưng làm gì có chuyện chẳng may ở đó; có lẽ chỉ chẳng may cho Ngài Mamasusi đã mất ái thiếp của Ngài.

- Chao ôi! Đarxi đáp, tôi thấy rõ rằng bà chỉ biết có nửa câu chuyện, vì đó là một câu chuyện cũng đáng buồn cho tôi như chuyện cối xay gió đối với Đông Kisốt. Lẽ nào sau khi làm trò cười cho những người Frăng(38), tôi còn bị nhạo báng ở Pari về hành vi hiệp sĩ lang thang độc nhất mà tôi đã phạm từ xưa đến nay.

- Sao thế? Thật chúng tôi không biết gì cả! Xin ông kể cho chúng tôi nghe đi! tất cả các bà đều kêu lên một lượt.

- Lẽ ra, Đarxi nói, tôi nên để các bà chỉ biết cái đoạn mà các bà đã biết, và xin miễn kể đoạn sau, vì kỷ niệm về nó thật không êm ái gì cho tôi! nhưng một người bạn tôi... thưa bà Lambe, tôi xin phép giới thiệu người ấy với bà... Xơ (39) Giôn Tayrơn... một người bạn tôi, cũng là diễn viên trong cái màn bi hài kịch đó, sắp sửa đến Pari. Ông ta rất có thể sẽ tinh quái gán cho tôi một vai trò còn khôi hài hơn vai trò thực sự mà tôi đã đóng trong câu chuyện đó. Sự việc như thế này:

Người đàn bà khốn khổ đó, một khi đã được thu xếp chỗ ở trong lãnh sự quán nước Pháp...

- Ồ! Xin ông bắt đầu từ đầu chứ! bà Lambe kêu lên.

- Nhưng các bà biết đoạn đầu rồi thôi?

- Chúng tôi không biết gì cả, và chúng tôi muốn ông kể toàn bộ câu chuyện từ đầu đến cuối.

- Vậy thì, thưa các bà, hồi đó, vào cuối năm 18... tôi ở Larnaca... Một hôm tôi đi ra ngoài thành phố để vẽ. Đi với tôi là một chàng thanh niên Anh tính nết rất dễ thương, tử tế, thích ăn chơi vui nhộn, tên là Xơ Giôn Tayrơn, một hạng người rất quý cho ta khi đi đường, vì họ nghĩ đến bữa ăn, họ không quên mang theo thức ăn và luôn luôn vui tính. Vả lại, anh ta đi xa không có mục đích, không biết cả địa chất học lẫn thực vật học, là những khoa học rất đáng ngán ở một người bạn đường.

Tôi đang ngồi dưới bóng một cái nhà đổ nát cách mặt biển chừng hai trăm bước nơi đó có những tảng đá dốc đứng vượt cao trên mặt biển. Tôi đang mải vẽ di tích một ngôi mộ cổ trong khi Xơ Giôn, nằm trên cỏ, vừa chế riễu tính say mê mỹ thuật khốn khổ của tôi vừa hút thứ thuốc lá Latakiê tuyệt ngon. Bên cạnh chúng tôi, một người phiên dịch Thổ mà chúng tôi thuê giúp việc, pha cà-phê cho chúng tôi. Anh ta là người pha cà phê khéo nhất nhưng nhút nhát nhất trong tất cả những người Thổ mà tôi biết.

Bỗng nhiên, Xơ Giôn vui vẻ kêu lên: Kìa có những người đang mang tuyết xuống núi; chúng ta sẽ mua tuyết của họ để làm nước cam.

Tôi ngước mắt nhìn và thấy tiến lại phía chúng tôi một con lừa lưng chở một bao lớn; hai tên nô lệ đỡ cái bao đó ở hai bên. Đằng trước là một người cho thuê lừa dắt con lừa, và đằng sau là một người Thổ oai vệ, râu bạc, đi đoạn hậu, cưỡi một con ngựa khá tốt. Tất cả đám rước đó đi từ từ và rất trịnh trọng.

Anh Thổ của chúng tôi vừa thổi lửa vừa liếc ngang nhìn cái bao đặt trên lưng lừa và bảo chúng tôi với một nụ cười kỳ dị: Không phải tuyết. Rồi anh ta lại quay sang pha cà phê với thái độ thản nhiên thường lệ. - Vậy là cái gì thế? Tayrơn hỏi. Có phải để ăn không?

- Để cho cá ăn, anh Thổ đáp.

Lúc đó, người cưỡi ngựa phi nước đại; trong khi tiến về phía biển hắn ta đi ngàng chỗ chúng tôi và không quên ném cho chúng tôi một cái lườm khinh bỉ mà người Hồi giáo lúc nào cũng sẵn sàng tặng người Thiên chúa giáo. Hắn thúc ngựa đến tận những tảng núi đá dốc đứng mà tôi đã nói, rồi dừng phắt ngựa lại ở nơi cheo leo nhất. Hắn nhìn biển và có vẻ tìm kiếm nơi nào tốt nhất để nhẩy xuống.

Lúc đó chúng tôi càng chú ý quan sát cái bao chở trên lưng lừa và chúng tôi giật mình về hình thù kỳ quái của nó. Tất cả những câu chuyện vợ bị chồng ghen quẳng xuống biển trở lại tức khắc trong ký ức của chúng tôi. Chúng tôi trao đổi với nhau ý nghĩ của mình.

- Chú hãy hỏi mấy thằng vô lại kia, Xơ Giôn nói với anh Thổ của chúng tôi, xem có phải chúng mang một người đàn bà không?

Anh Thổ mở to đôi mắt kinh hãi, nhưng không mở mồm. Hiển nhiên là anh cho rằng câu hỏi của chúng tôi bất nhã quá.

Lúc đó, cái bao đã ở gần chúng tôi nên chúng tôi thấy rõ nó động đậy và chúng tôi còn nghe thấy một thứ tiếng rên rỉ hoặc gầm gừ từ trong phát ra.

Tayrơn thích ăn ngon, nhưng rất hiệp sĩ. Anh ta vùng dậy như điên, chạy đến chỗ người dắt lừa và hỏi hắn bằng tiếng Anh, chả là vì anh giận phát cuồng lên, rằng hắn chở gì và định đem cái bao đó đi đâu. Người dắt lừa đâu có trả lời; nhưng cái bao rung động dữ dội và có tiếng kêu của phụ nữ: thế là hai tên nô lệ quật mạnh vào cái bao bằng những roi da mà chúng dùng để thúc lừa. Tayrơn không chịu được nữa. Bằng một quả tống dữ dội và khoa học, anh quật tên dắt lừa ngã xuống đất, nắm lấy cổ họng một tên nô lệ; thế là cái bao, bị xô đẩy dữ tợn trong trận chiến đấu, rơi bịch xuống đất.

Tôi đã chạy lại. Tên nô lệ kia sắp sửa nhặt đá, tên dắt lừa đang đứng dậy. Mặc dầu tôi rất ghét can thiệp vào công việc của người khác, tôi không thể không cứu bạn tôi. Vớ lấy một chiếc gậy nhọn mà tôi dùng để chống cái dù trong khi vẽ, tôi hoa nó lên dọa mấy tên nô lệ và tên dắt lừa với cái vẻ hùng dũng nhất của tôi. Mọi việc đều như ý cả, thì bỗng thằng quỷ Thỗ cưỡi ngựa, sau khi gắm biển xong, quay người lại vì nghe thấy tiếng ầm ĩ do chúng tôi gây ra: hắn phóng ngựa như bay và lao vào người chúng tôi trước khi chúng tôi nghĩ tới việc đó; tay hắn cầm một thứ dao bầu kinh khủng.

- Một con a-ta-găng(40) à? Satôfo, một người ưa màu sắc địa phương, kêu lên.

- Một con a-ta-găng, Đarxi nói tiếp với một nụ cười tán thưởng. Hăn phóng lại sát người tôi và chém vào đầu tôi một nhát a-ta-găng làm tôi nẩy đom đóm mắt, như lời ông bạn tôi là hầu tước Đơ Rôdơvilơ thường nói một cách thanh lịch. Song tôi đánh trả, phóng cho hắn một cây gậy nên thân vào hông, tiếp đó tôi cố hết sức quay tít cây gậy, đánh trả tên dắt ngựa, bọn nô lệ, lẫn con ngựa và cái thằng Thổ, bản thân tôi trở thành điên cuồng gấp mười lần anh bạn Giôn Tayrơn của tôi. Lẽ ra điều bất hạnh nhất định sẽ xẩy đến với chúng tôi. Anh phiên dịch của chúng tôi đứng trung lập và chúng tôi không thể chống cự lâu dài bằng một cái gậy với ba tên bộ binh, một tên kỵ binh và một con a-ta-găng. May sao Tayrơn nhớ tới một cặp súng ngắn mà chúng tôi có mang theo. Anh vớ lấy nó, ném cho tôi một khẩu và cầm khẩu kia chĩa ngay vào tên cưỡi ngựa đang làm cho chúng tôi rất phiền. Vũ khí đó hiện ra và tiếng cò súng kêu răng rắc có một tác động thần diệu đối với kẻ địch của tôi. Chúng bỏ chạy một cách nhục nhã, để chúng tôi ở lại làm chủ chiến trường, cái bao và cả con lừa. Mặc dầu rất tức giận, chúng tôi đã không nổ súng, đó là cái may, vì không phải người ta có thể giết vô tội vạ một tên Hồi giáo ngoan đạo, và ai đánh nó thì phải trả giá đắt.

Khi tôi đã chùi người qua loa, việc làm đầu tiên của tôi, chắc các bà cũng đoán ra, là chạy đến cái bao và mở nó ra. Chúng tôi thấy trong đó có một người đàn bà khá xinh, hơi béo, tóc đen nhánh và chỉ mặc trên người một chiếc sơ mi bằng len xanh kém trong suốt một tí so với cái khăn quàng của bà Saverni.

Cô ta nhanh nhẹn chui ra khỏi bao và không có vẻ lúng túng mấy, thao thao tuôn ra với chúng tôi một bài chắc chắn là rất cảm động, nhưng chúng tôi không hiểu một tiếng nào; sau đó cô ta hôn tay tôi. Thưa các bà, đấy là lần duy nhất mà một người phụ nữ ban cho tôi cái hân hạnh ấy.

Tuy vậy chúng tôi đã bình tĩnh lại. Chúng tôi thấy anh phiên dịch của chúng tôi tự bứt râu như một người tuyệt vọng. Về phần tôi, tôi cố dùng mùi xoa chỉnh đốn lại cái đầu tôi được chừng nào hay chừng nấy. Tayrơn nói: "Chết thật, làm thế nào với người đàn bà này bây giờ? Nếu chúng ta ở lại đây, thằng chồng sắp quay trở lại với người của nó và sẽ giết chết chúng ta. Nếu chúng ta quay về Larnaca cùng với cô gái trong cách phục sức đẹp đẽ như thế này, bọn cùng dân vô lại nhất định sẽ ném đá vào chúng ta. Tayrơn bối rối về tất cả những sự suy nghĩ đó, nhưng sau khi đã lấy lại cái vẻ thản nhiên của người Anh, bèn kêu lên: "Ông nghĩ ra cái chuyện đi vẽ hôm nay, thật là tội nợ!" Lời cảm thán của anh làm tôi phì cười, và người đàn bà tuy không hiểu một tiếng nào cũng cười.

Song cần quyết định một bề. Tôi nghĩ rằng tốt nhất là tất cả chúng tôi nhờ ông lãnh sự Pháp bảo hộ cho; nhưng khó khăn nhất là làm sao về tới Larnaca. Trời đang chập choạng tối và đó là một cơ hội tốt cho chúng tôi. Anh Thổ của chúng tôi dẫn chúng tôi đi vòng rất xa và nhờ có bóng tối và sự cẩn thận đó, chúng tôi bình yên về tới nhà ông lãnh sự ở ngoài thành phố. Tôi quên kể với các bà rằng chúng tôi đã tạo ra cho người đàn bà một bộ quần áo gần chỉnh tề bằng cái túi và cái khăn bịt đầu của anh phiên dịch.

Ông lãnh sự tiếp chúng tôi một cách rất khó chịu, ông bảo chúng tôi là điên, chúng tôi phải tôn trọng phong tục tập quán những xứ mà mình đến, chúng tôi không nên nhúng tay vào chuyện gia đình của người ta... Tóm lại, ông quở chúng tôi ra trò; và ông nói phải, vì chúng ta cũng đã có lần làm như thế đến nỗi xảy ra một cuộc phiến động dữ dội khiến tất cả những người Frăng trên đảo Siprơ bị tàn sát.

Vợ ông lãnh sự có lòng thương người hơn; bà ta đọc nhiều tiểu thuyết và bà cho rằng hành vi của chúng tôi là rất hào hiệp. Thực ra, chúng tôi đã xử sự như những nhân vật tiểu thuyết. Cái bà tuyệt tốt ấy rất mộ đạo; bà nghĩ rằng bà sẽ cải giáo dễ dàng cái cô dị giáo mà chúng tôi đem đến cho bà, rằng việc cải giáo đó sẽ được nêu lên báo Mô-ni-tơ (41) và chồng bà sẽ được thăng chức tổng lãnh sự. Trong chốc lát, tất cả cái kế hoạch đó hiện ra trong đầu óc bà. Bà ôm hôn người đàn bà Thổ, cho cô ta một cái áo dài làm cho ông lãnh sự phải xấu hổ về thái độ độc ác của ông và bảo ông đến nhà ông Pa-sa(42) để dàn xếp câu chuyện.

Ông Pa-sa rất tức giận. Người chồng ghen là một nhân vật thần thế, hắn làm như điên như cuồng. Thật là gớm ghiếc, hắn nói, cái việc bọn chó Thiên chúa giáo dám ngăn một người như hắn ném nô lệ của hắn xuống biển! Viên lãnh sự rất lúng túng; ông ta nói nhiều đến đức vua của ông ta và còn nói nhiều hơn đến một chiến thuyền có sáu mươi khẩu đại bác vừa xuất hiện trong hải phận Larnaca. Nhưng cái lý lẽ có tác dụng nhất là đề nghị trả tiền về cô nô lệ với giá thích đáng mà ông ta nhân danh chúng tôi nêu lên.

Chao ôi! Nếu mà các bà biết cái giá thích đáng của một người Thổ là bao nhiêu! Phải trả tiền cho người chồng, trả tiền cho ông Pa-sa, trả tiền cho tên dắt lừa bị Tayrơn đánh gẫy hai cái răng, trả tiền về chuyện tai tiếng, phải trả tiền tất. Biết bao lần Tayrơn đau khổ kêu lên: "Khỉ thật, sao lại đi vẽ ở bờ biển làm gì!".

- Thật là chuyện ly kỳ, ông Đarxi tội nghiệp của tôi ạ! bà Lambe kêu lên, vậy có phải vì thế mà ông có cái sẹo ghê gớm kia không? Xin ông làm ơn vén tóc lên. Thật là may kỳ lạ nên ông mới không bị nó chém xẻ đôi đầu ra!

Suốt câu chuyện, Giuyli không rời mắt khỏi vầng trán của người kể chuyện; cuối cùng nàng hỏi với giọng rụt rè: - Người đàn bà ấy về sau ra sao?

- Đó đúng là cái đoạn trong câu chuyện mà tôi không thích kể mấy. Đoạn tiếp đáng buồn cho tôi đến nỗi bây giờ người ta vẫn còn nhạo báng cái chuyện anh hùng hảo hán dại dột của chúng tôi.

- Người đàn bà ấy có xinh không? Giuyli hơi đỏ mặthoãi.

- Tên cô ta là gì? Bà Lambe hỏi.

- Cô ấy tên là Eminê. Xinh không? Có, cô ấy khá xinh, nhưng béo quá và mặt trát bự phấn, theo tục xứ ấy. Phải quen lắm mới có thể thưởng thức cái duyên của một mỹ nhân Thổ Nhĩ Kỳ. Thế là Eminê được bố trí ở nhà ông lãnh sự. Cô ta là người xứ Manhgrêli(43) và bảo bà C..., vợ ông lãnh sự, rằng cô ta là con gái một ông hoàng. Ở xứ đó, bất cứ thằng du côn nào chỉ huy được mười thằng du côn khác cũng đều là ông hoàng. Thế là cô ta được đối đãi như một công nương: cô ta ăn cơm ở bàn khách và ăn bằng bốn người khác; rồi khi người ta nói về đạo với cô ta thì thường là cô ta ngủ. Tình hình đó kéo dài một thời gian. Cuối cùng người ta định ngày làm lễ rửa tội. Bà C... nhận làm người đỡ đầu cho cô ta và bà muốn tôi cũng làm như thế với bà. Nào kẹo, nào tặng phẩm và tất cả những thứ khác!... Số mệnh đã định rằng cái con Eminê khốn nạn ấy làm tôi thất cơ lỡ vận. Bà C... nói rằng Eminê yêu tôi hơn Tayrơn vì khi đưa cà-phê cho tôi uống bao giờ cô ta cũng đánh đổ xuống áo tôi. Tôi đang dọn mình dự lễ rửa tội ấy với một tái độ ăn năn rất thành kính thì bỗng trước ngày hành lễ cô nàng Eminê biến mất. Không biết có nên kể hết để các bà nghe không? Ông lãnh sự có một người nấu ăn quê ở Manhgiêli, chắc chắn là một thằng đại ba que, nhưng nấu món cơm chiên thịt thì tuyệt. Tên đó đã vừa ý Eminê, chắc chắn cô này có lòng ái quốc theo kiểu của cô ta. Hắn cuỗm cô ta và cuỗm cả một món tiền khá lớn của ông C..., không bao giờ tìm ra nữa. Thế là ông lãnh sự thì mất tiền, bà vợ ông thì mất mớ quần áo đã cho Eminê, tôi thì mất đôi găng, kẹo bánh, không kể những miếng đòn vào thân mình. Tai hại nhất là tôi phải chịu trách nhiệm về chuyện đó. Người ta bảo rằng chính tôi đã giải thoát cho con đốn mạt kia, rằng tôi muốn cứu nó dù ở tận đáy biển và đã gây ra bao nhiêu tai họa cho các bạn tôi. Tayrơn biết cách thoát thân; anh ta được coi như nạn nhân trong khi chính một mình anh ta là nguyên nhân của tất cả vụ xô xát, còn tôi thì đành mang tiếng là Đông Kisốt và cái sẹo mà các bà thấy làm cho tôi kém thành công đi nhiều ở trong đời.

Câu chuyện kể xong, mọi người lại về phòng khách, Đarxi còn nói chuyện một lúc nữa với Saverni phu nhân rồi chàng buộc phải rời nàng để người ta giới thiệu với chàng một người trẻ tuổi rất thông thái về môn kinh tế, chính trị; người này đang học tập để thành nghị sĩ và muốn biết những số liệu thống kê về đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ.

X

Từ lúc Đarxi rời Giuyli, nàng hay nhìn đồng hồ. Nàng nghe Satôfo nói một cách lơ đãng và đôi mắt nàng bất giác tìm Đarxi lúc đó đang nói chuyện ở đầu kia phòng khách. Thỉnh thoảng Đarxi vừa nhìn nàng vừa nói chuyện với anh chàng ham mê thống kê và nàng không thể chịu đựng cái nhìn sắc sảo tuy bình tĩnh của chàng. Nàng cảm thấy rằng chàng đã có một quyền lực phi thường đối với nàng và nàng không còn nghĩ đến việc thoát khỏi nó.

Cuối cùng nàng bảo đánh xe ngựa của nàng đến và, hoặc cố ý hoặc vì mãi suy nghĩ, nàng vừa gọi xe vừa nhìn Đarxi, với khóe mắt như muốn nói: "Anh đã để mất nửa giờ đáng lẽ chúng ta có thể ngồi gần nhau". Chiếc xe đã sẵn sàng, Đarxi vẫn nói chuyện, nhưng chàng có vẻ mỏi mệt và chán cái người hỏi chuyện không chịu buông chàng ra. Giuyli châm chạp đứng dậy, bắt tay bà Lambe rồi tiến về phía cửa phòng khách, ngạc nhiên và gần như tức mình vì thấy Đarxi vẫn cứ ngồi nguyên tại chỗ. Satôfo đứng gần nàng; đã đưa cánh tay cho nàng vịn và nàng tựa vào như máy, không nghe thấy gã nói gì và hầu như không nhận thấy sự có mặt của gã. Nàng đi qua phòng ngoài, theo chân có bà Lambe và vài người khác tiễn nàng ra tận xe. Đarxi ở lại trong phòng khách. Khi nàng đã ngồi vào trong xe. Satôfo mỉm cười hỏi nàng đi một mình trên đường trong đêm tối có sợ không; gã nói tiếp rằng gã sẽ đi xe của gã theo sát nàng, ngay sau khi thiếu tá Peranh chơi xong ván bài bi-a. Giuyli đang mải mơ mộng, chợt tỉnh vì nghe thấy tiếng nói của gã, nhưng nàng không hiểu gì cả. Nàng bèn làm điều mà bất cứ người phụ nữ nào khác đều làm trong trường hợp như thế: nàng mỉm cười. Rồi nàng ngả đầu từ biệt những người tụ tập ở trên thềm, và những con ngựa của nàng đưa nàng đi một cách mau chóng.

Nhưng đúng vào lúc chiếc xe chuyển bánh, nàng đã nhìn thấy Đarxi bước ra khỏi phòng khách, vẻ mặt nhợt nhạt, buồn bã, cặp mắt chăm chăm nhìn nàng như muốn yêu cầu nàng ngỏ một lời từ biệt riêng. Nàng ra đi, mang theo mối hận không thể ngả đầu chào riêng chàng và nàng còn nghĩ rằng vì thế chàng có thể tức bực. Nàng đã quên đứt rằng chàng đã để cho một người khác làm cái việc đưa nàng ra xe; bây giờ các tội lỗi đều về phần nàng và nàng tự trách như đã phạm một trọng tội. Những tình cảm của nàng đối với Đarxi mấy năm trước, khi nàng từ biệt chàng sau buổi tối nàng hát dở, không sôi nổi bằng những tình cảm mà nàng mang theo lần này. Là vì không những năm tháng đã đem lại sức mạnh cho những cảm xúc của nàng, mà tất cả nỗi căm giận chất chứa đối với chồng còn làm tăng những cảm xúc đó. Có lẽ ngay cả cái thứ lưu luyến của nàng đối với Satôfo - bây giờ thì anh này đã bị quên hoàn toàn - đã chuẩn bị cho nàng đắm mình không quá ư hối hận vào một tình cảm sôi nổi hơn nhiều đối với Đarxi.

Còn về phần Đarxi, những tư tưởng của chàng có tính chất bình tĩnh hơn. Chàng đã vui thích gặp một phụ nữ xinh đẹp gợi lại cho chàng những kỷ niệm êm ái, và việc quen nàng chắc sẽ thú vị cho chàng trong mùa đông mà chàng sắp sống ở Pari. Nhưng một khi nàng không còn ở trước mắt chàng, trong lòng chàng chỉ còn lại nhiều nhất là cái kỷ niệm của mấy giờ vui vẻ, cái kỷ niệm còn kém phần êm ái vì chàng nghĩ đến việc phải ngủ muộn và phải vượt bốn dặm đường mới thấy lại chiếc giường ngủ của mình. Chúng ta hãy mặc chàng đang để hết tâm trí vào những cái tầm thường, trùm kỹ người trong chiếc áo khoác, ngồi nghiêng và yên ổn trong chiếc xe ngựa thuê, tư tưởng bay lan man từ phòng khách nhà bà Lambe đến Côngxtăngtinôp, từ Côngxtăngtinôp đến Corphu(44) từ Corphu đến một giấc ngủ gà.

Mời bạn đọc thân mến hãy cùng tôi đi theo Saverni phu nhân.

XI

Khi Saverni phu nhân rời lâu đài của bà Lambe, trời tối kinh khủng, bầu không khí nặng nề ngột ngạt. Chốc chốc những tia chớp chiếu sáng cảnh vật, vẽ những bóng đen của cây cối lên trên một nền da cam nhợt nhạt. Bóng tối hình như dày thêm sau mỗi tia chớp và người đánh xe không trông thấy đầu những con ngựa của mình. Chẳng bao lâu một cơn dông dữ dội nổ ra. Mưa lúc đầu rơi thành hạt to và thưa, chẳng mấy chốc biến thành một trận hồng thủy thật sự. Tứ phía, không trung rực lên như lửa và đội trọng pháo của nhà trời bắt đầu vang động ầm ĩ. Những con ngựa kinh hãi thở phì phò và nhảy lồng lên chứ không đi, nhưng người đánh xe đã được một bữa ăn rất ngon. Chiếc áo khoác dày của anh và nhất là những cốc rượu vang đã uống khiến anh không sợ nước và đường xấu. Anh quất tới tấp vào mình mấy con vật tội nghiệp, dũng cảm không kém gì Xêda trong cơn bão táp đã nói với người hoa tiêu của mình: "Chú đang chở Xêda và vận mệnh của ngài đấy!"(45).

Saverni phu nhân không sợ sét và hầu như không bận tâm đến cơn giông. Nàng đang ôn lại tất cả những điều Đarxi đã nói với nàng và hối hận đã không nói với chàng biết bao nhiêu điều mà lẽ ra nàng có thể nói. Bỗng nhiên những suy nghĩ của nàng bị cắt đứt vì chiếc xe va mạnh: đồng thời kính xe bay từng mảnh, một tiếng rắc báo điều chẳng lành: chiếc xe ngựa đã lao xuống hố. May sao Giuyli chỉ bị một mẻ sợ. Nhưng mưa vẫn không tạnh; một bánh xe bị gãy; các đèn xe tắt ngấm và nhìn quanh không thấy một cái nhà nào để trú ẩn. Anh đánh xe văng tục, người hầu rủa anh đánh xe và nổi khùng về sự vụng về của y. Giuyli ở lại trong xe, hỏi xem có cách nào quay lại P... hoặc phải làm gì bây giờ; nhưng nàng hỏi câu nào cũng chỉ nghe thấy câu trả lời đáng thất vọng này: Không thể được!".

Trong khi thấy loáng thoáng đằng xa có tiếng một chiếc xe đang tiến lại. Chẳng bao lâu anh đánh xe của Saverni phu nhân rất sung sướng nhận ra một đồng nghiệp đã cùng anh kết nghĩa bạn bè thắm thiết trong bếp nhà bà Lambe; anh gào anh kia dừng lại.

Chiếc xe đứng lại; vừa nghe nói thấy tên Saverni phu nhân, một thanh niên trong xe tự mở cửa và kêu lên: "Bà có bị thương không?" vừa nhảy đến bên xe Giuyli. Nàng đã nhận ra Đarxi và nàng đợi chàng.

Hai bàn tay nắm lấy nhau trong đêm tối và Đarxi như cảm thấy Saverni phu nhân bóp chặt tay chàng; nhưng chắc đấy là do sợ hãi. Sau những câu hỏi đầu tiên, Đarxi tất nhiên mời nàng lên xe của mình. Lúc đầu Giuyli không đáp, vì nàng rất lưỡng lự nên không biết quyết định thế nào. Một mặt, nàng nghĩ đến ba bốn dặm đường sẽ phải ngồi một mình với một chàng trai, nếu nàng muốn đi về Pari; một mặt, nếu quay lại lâu đài để xin trú ở nhà bà Lambe, nàng rùng mình khi nghĩ đến việc phải kể lại câu chuyện có vẻ tiểu thuyết về tai nạn đổ xe và Đarxi cứu nàng. Lại hiện ra ở phòng khách giữa một cuộc đánh bài huýt, được Đarxi cứu như người đàn bà Thổ Nhĩ Kỳ... nàng không thể nào nghĩ đến việc đó được. Nhưng cả ba dặm đường dài cho tới Pari!... Trong khi nàng phân vân lưỡng lự và lúng túng nói một cách khá vụng về mấy câu khách sáo về sự làm phiền của nàng, thì Đarxi có vẻ nhìn rõ thâm tâm của nàng, bèn lạnh lùng bảo nàng: - Thưa bà, xin bà dùng xe của tôi, tôi sẽ ở lại trong xe của bà cho tới khi nào có người về Pari đi qua. Giuyli sợ mang tiếng là quá giữ ý, vội vã nhận đề nghị thứ nhất, chứ không nhận đề nghị thứ hai. Và vì sự quyết định của nàng đột ngột quá, nàng không có thì giờ giải quyết vấn đề quan trọng là hỏi xem đi P... hay đi Pari. Nàng đã ngồi ở trong xe của Đarxi, người trùm chiếc áo khoác của chàng mà chàng vội vã đưa cho nàng, và những con ngựa đã lanh lẹn tiến nước kiệu về phía Pari, trước khi nàng nghĩ đến chuyện tỏ ý mình muốn đi đâu. Người đầy tớ của nàng đã lựa chọn hộ nàng, bằng cách bảo người đánh xe tên và chỗ ở của bà chủ mình.

Cả hai người bắt đầu câu chuyện một cách lúng túng. Giọng nói của Đarxi cụt lủn và có vẻ hơi không vui. Giuyli tưởng sự lưỡng lự của nàng khiến chàng phật ý và cho nàng là một người giữ ý đáng buồn cười. Nàng đã chịu ảnh hưởng của người đàn ông đó đến mức nàng thầm trách mình kịch liệt và chỉ nghĩ cách dẹp tan sự phật ý mà nàng cho là do lỗi của nàng. Áo của Đarxi bị ướt, nàng nhận thấy thế, và lập tức bỏ chiếc áo khoác, buộc chàng phải trùm vào. Thế là bắt đầu một cuộc tranh đấu về lòng hào hiệp mà kết cục là xử hòa, mỗi bên được một nửa chiếc áo khoác. Thật là một sự khinh xuất ghê gớm, mà nàng đã không phạm phải nếu không có lúc do dự mà nàng muốn làm chàng quên đi.

Hai người ngồi sát nhau đến nỗi má của Giuyli có thể cảm thấy hơi thở ấp áp của Đarxi. Những cái xóc của chiếc xe còn làm cho họ xích lại gần nhau hơn nữa.

- Cái áo khoác che cho hai chúng ta, Đarxi nói, làm tôi nhớ lại những câu đố của chúng ta khi xưa. Bà có còn nhớ bà là Virgini(46) của tôi, khi chúng ta khoác chung đến buồn cười cái áo măng tô ngắn của bà không?

- Có, và tôi nhớ cả cái trận bà mắng tôi hồi đó.

- Ồ! Đarxi kêu lên, thời đó thật vui sướng! Biết bao lần tôi vừa buồn rầu vừa sung sướng nghĩ đến những buổi dạ hội thần tiên ở phố Benlơsátxơ! Bà có nhớ đôi cánh Kền Kền xinh đẹp mà người ta buộc vào vai bà bằng những dải lụa hồng, và cái mũi chim bằng giấy trang kim rất mỹ thuật tôi làm cho bà không?

- Có, Giuyli đáp, ông làm Prômêtê(47) còn tôi thì làm chim Kền Kền. Nhưng ông nhớ giỏi thật! Sao ông có thể nhớ được tất cả những chuyện tinh nghịch ấy? Vì đã bao lâu nay chúng ta không gặp nhau!

- Có phải đó là một lời chúc tụng mà bà yêu cầu tôi nói không? Đarxi vừa mỉm cười nói vừa nghển người để nhìn thẳng vào mặt nàng. Rồi, với giọng trang nghiêm hơn, chàng nói: Thật ra tôi mà giữ được kỷ niệm của những phát sung sướng nhất đời thì cũng không lạ gì.

- Hồi đó ông thật có tài về các câu đố!... Giuyli nói thế vì sợ câu chuyện xoay ra tình cảm quá.

- Bà có muốn tôi nêu lên một chứng cớ khác về trí nhớ của tôi không? Đarxi ngắt lời. Bà có nhớ cái hiệp ước liên minh giữa chúng ta tại nhà bà Lambe không? Chúng ta hứa với nhau là sẽ nói xấu khắp thiên hạ; ngược lại, phải bênh vực lẫn nhau trước mặt và chống lại tất cả mọi người... Nhưng hiệp ước của chúng ta cũng chung số phận như hầu hết các hiệp ước khác, nó không được thi hành.

- Sao ông biết như thế? - Chao ôi! tôi nghĩ rằng bà không có nhiều dịp để bênh vực tôi; vì một khi tôi xa Pari thì có ai rỗi hơi mà nghĩ đến tôi...

- Bênh vực ông... thực không... nhưng nói chuyện về ông với các bạn của ông...

- Ồ! Các bạn của tôi! Đarxi thốt lên với một nụ cười hơi buồn bã. Trong thời kỳ đó, ít nhất bà cũng biết tôi làm gì có bạn. Những thanh niên hay lui tới nhà mẹ bà ghét tôi, tôi cũng không biết tại sao; còn phụ nữ thì họ nghĩ mấy tí đến một anh tùy viên bộ ngoại giao.

- Chính là vì ông không săn sóc đến họ.

- Cái đó đúng. Không bao giờ tôi biết làm duyên với những người mà tôi không yêu.

Nếu bóng tối cho phép nhận rõ nét mặt Giuyli, ắt Đarxi sẽ thấy mặt nàng đỏ bừng lên khi nghe câu nói cuối cùng đó, nàng gán cho nó một ý nghĩa mà có lẽ Đarxi không nghĩ tới.

Dù sao, Giuyli gác lại đó những kỷ niệm mà cả hai người đều giữ quá kỹ và nàng muốn đưa chàng trở lại những chuyến đi của chàng một chút, hy vọng rằng nhờ cách đó nàng sẽ được miễn nói năng. Phương pháp đó hầu như bao giờ cũng thành công đối với những lữ khách, nhất là đối với những người nào đã tới thăm một xứ xa xôi.

- Cuộc chu du của ông thật là thú vị! nàng nói, tôi rất tiếc không bao giờ có thể đi được như thế!

Nhưng Đarxi không thích kể chuyện nữa... Chàng đột nhiên hỏi:

- Người thanh niên có râu mép nói chuyện với bà hồi nãy là ai thế?

Lần này, mặt Giuyli càng đỏ dữ. - Đó là một người bạn của nhà tôi, nàng đáp, một sĩ quan trong trung đoàn của nhà tôi... Người ta bảo, nàng nói tiếp không muốn bỏ đề tài Đông phương của mình, rằng những người đã trông thấy bầu trời xanh đẹp ở phương Đông thì không thể sống ở nơi khác được nữa.

- Tôi ghét một cách ghê gớm, tôi cũng không biết tại sao... Đó là tôi nói người bạn của ông nhà, chứ không phải nói bầu trời xanh. Còn như bầu trời xanh thì thưa bà, cầu Chúa tránh cho bà cái đó! vì cứ nhìn thấy nó mãi như thế nên người ta đâm ra ghét nó đến nỗi coi sương mù bẩn thỉu ở Pari là cảnh sắc đẹp nhất. Xin bà tin rằng không có gì làm con người khó chịu bằng bầu trời xanh đó, hôm qua nó cũng xanh và ngày mai nó cũng sẽ xanh. Giá bà biết người ta nóng ruột biết bao và thất vọng biết bao khi chờ đợi, mong mỏi một đám mây!

- Tuy vậy ông đã ở lại rất lâu dưới bầu trời xanh đó.

- Nhưng thưa bà, tôi rất khó lòng làm khác được. Nếu như tôi có thể làm theo sở thích thì tôi đã mau chóng về quanh phố Benlơsátxơ, sau khi thỏa mãn cơn hiếu kỳ nhỏ mà những cái lạ lùng ở phương Đông tất nhiên đã gây ra.

- Tôi nghĩ rằng nhiều du khách sẽ nói như vậy nếu họ cũng thành thực như ông... Thế người ta làm gì cho qua ngày ở Côngxtăngtinôp và những thành phố khác ở phương Đông?

- Ở đó, cũng như ở mọi nơi, có nhiều cách giết thời giờ. Người Anh uống rượu, người Pháp đánh bạc, người Đức hút thuốc, và vài kẻ hóm hỉnh muốn thay đổi thú vui thì ăn đạn súng trường bằng cách trèo lên mái nhà để nhòm phụ nữ trong xứ.

- Chắc ông ưa nhất công việc cuối cùng đó.

- Đâu có. Tôi, tôi học tiếng Thổ và tiếng Hy Lạp, khiến người ta chế nhạo tôi dữ quá. Giải quyết xong công văn của sứ quán thì tôi vẽ, tôi phóng ngựa đến Nước Ngọt(48), rồi tôi ra bờ biển để xem có mặt người nào từ Pháp hoặc từ nơi khác tới không.

- Chắc ông phải thích lắm khi được thấy một người Pháp ở nơi xa cách nước Pháp đến thế?

- Vâng, nhưng có được một người thông minh thì lại có biết bao nhiêu tay lái buôn đồ sắt hoặc vải Catsơmia kéo đến; hoặc tệ hơn nữa là những thi sĩ trẻ tuổi, mới trông thấy từ xa tít một người nào ở sứ quán là đã kêu lên: đưa tôi đi xem các cảnh hoang tàn, đưa tôi đi Xanh Xô phi(49), dẫn tôi lên núi, dẫn tôi xuống biển; tôi muốn xem nơi Hêrô(50) than thở! Rồi đến khi họ đã bị cảm nắng nặng, họ chúi vào phòng và không muốn xem gì nữa ngoài những số báo "Lập hiến"(51) mới nhất. - Ông nhìn cái gì cũng xấu, theo thói cũ của ông.

Ông chưa sửa chữa được, ông có biết không? Vì ngày nay ông vẫn còn tính mỉa mai như thế. - Thưa bà, xin bà bảo cho tôi biết, một kẻ bị đày xuống hỏa ngục, có quyền đùa bỡn các bạn cùng bị đày đôi chút không? Lấy danh dự mà nói: bà không rõ cuộc đời của chúng tôi ở đó khốn khổ như thế nào. Những anh bí thư sứ quán như chúng tôi giống như những con én: không bao giờ đậu cả. Đối với chúng tôi không hề có những quan hệ thân tình, hạnh phúc của cuộc sống... tôi nghĩ hình như thế (chàng nói mấy tiếng cuối cùng với một giọng kỳ dị và xích lại gần Giuyli). Từ sáu năm nay tôi không gặp một người nào mà tôi có thể trao đổi tâm sự. - Vậy ông không có bạn ở đó à? - Tôi vừa mới nói với bà rằng không thể nào tìm ra bạn ở xứ lạ. Tôi đã để lại hai người bạn ở Pháp. Một người chết mất rồi, còn người kia hiện nay ở Mỹ, vài năm nữa mới về nếu bệnh sốt vàng da không giữ anh ta lại. - Vậy là ông cô đơn? - Cô đơn. - Thế còn sự giao thiệp với giới phụ nữ ở phương

Đông thì thế nào? Nó không giúp ông được việc gì à?

- Ồ! Cái đó thì thật là tồi nhất. Về phụ nữ Thổ thì ta không nên nghĩ tới. Ở người phụ nữ Hy Lạp và Armêni, điểm mà ta có thể ca tụng hơn cả là họ rất xinh. Còn các bà vợ của mấy ông lãnh sự và đại sứ, thì tôi xin phép miễn nói. Đó là một vấn đề ngoại giao, và nếu tôi nói ra ý nghĩ của tôi, tôi có thể làm hại cho công tác ngoại giao.

- Ông có vẻ không yêu nghề lắm nhỉ! Xưa kia ông rất hăng hái muốn bước vào ngành ngoại giao kia mà?

- Lúc đó tôi chưa biết nghề mình. Bây giờ tôi chỉ muốn được làm một viên kiểm sát bùn ở Pari.

- Trời ơi! Sao ông lại có thể nói như thế? Pari! Cái nơi âm u nhất thế gian!

- Xin bà đừng báng bổ thế. Tôi muốn được nghe bà nói ngược lại ở Naplơ, sau khi sống hai năm trên đất Ý.

- Đi thăm Naplơ, đó là điều tôi mong ước nhất đời, nàng vừa trả lời vừa thở dài... miễn là có những người bạn đi cùng với tôi.

- Ồ! Với điều kiện ấy, tôi sẵn lòng đi vòng quanh thế giới. Đi xa với bạn! như thế khác nào mình vẫn ngồi ở phòng khách của mình trong khi thế giới diễu qua cửa sổ của mình như một toàn cảnh trải qua.

- Này, nếu như thế thì đòi hỏi quá nhiều thì tôi chỉ muốn đi với một... với hai người bạn thôi.

- Còn tôi, tôi không có tham vọng đến thế; tôi chỉ muốn đi với một người bạn... hoặc một người bạn gái, chàng mỉm cười nói thêm. Nhưng đó là một hạnh phúc chưa bao giờ đến với tôi... Và nó sẽ không đến, chàng thở dài nói tiếp. Rồi với giọng vui vẻ hơn: Thật vậy, tôi bao giờ cũng rủi. Trước nay tôi chỉ khao khát có hai điều, nhưng tôi không đạt được điều nào.

- Điều gì vậy?

- Ồ! Chẳng có gì là quá quẩn. Chẳng hạn, tôi đã ao ước đến say mê được nhảy van-xơ với một người... tôi đã nghiên cứu sâu điệu van-xơ. Tôi đã tập luyện hàng tháng ròng, một mình, với một cái ghế, để thắng cái bệnh chóng mặt không bao giờ quên kéo đến, nhưng khi tôi đã đạt tới chỗ không còn chóng mặt nữa...

- Thế ông muốn nhẩy với ai?

- Nếu như tôi nói với bà thì sao?... Nhưng khi nhờ gắng công tôi đã nhẩy van-xơ thành thạo, thì bà của bà, lúc đó vừa mới kiếm được một ông cố rửa tội thuộc phái Giăng-xênít(52), cấm điệu van-xơ bằng một mệnh lệnh ngày nay vẫn còn làm tôi uất ức trong lòng.

- Thế còn điều ước thư hai của ông?... Giuyli rất xao xuyến hỏi.

- Điều ước thứ hai của tôi, tôi xin để bà đoán hộ. Hồi đó, tôi muốn - thật là quá ư tham vọng đối với một người như tôi - tôi muốn được yêu... Vâng, được yêu... Chính là tôi mong ước như thế trước cả mong ước được nhảy van-xơ và tôi không theo thứ tự thời gian... tôi muốn, đúng thế, được một người đàn bà yêu thương, ưa tôi hơn ưa một cuộc khiêu vũ - địch thủ nguy hiểm nhất của tôi, - một người đàn bà mà tôi có thể tới thăm với đôi ủng vấy bùn khi nàng sắp lên xe đi dự dạ hội. Nàng phục sức trang trọng nhất nhưng nàng bảo tôi: Chúng ta hãy ở lại. Nhưng tôi thật điên. Người ta chỉ nên đòi hỏi những cái có thể có được.

- Ông thật ác! Bao giờ cũng có những câu nói cay độc! Không có gì làm cho ông ưa cả. Bao giờ ông cũng tàn nhẫn đối với phụ nữ.

- Tôi ấy à! Cầu Chúa tránh cho tôi cái đó! Nói cho đúng hơn tôi nói xấu chính tôi. Có phải là xấu phụ nữ khi bảo rằng họ ưa một cuộc dạ hội thú vị... hơn là một cuộc nói chuyện riêng với tôi không?

- Một cuộc khiêu vũ!... Phục sức!... Trời đất ơi!... Ai còn khiêu vũ bây giờ?...

Nàng không hề nghĩ tới việc biện bạch cho toàn thế giới của nàng bị lên án, nàng tưởng mình hiểu rõ tư tưởng của Đarxi và người phụ nữ tội nghiệp ấy chỉ còn nghe tiếng nói của trái tim mình.

- Về chuyện phục sức và khiêu vũ, thật tiếc rằng chúng ta không còn ở vào thời có hội giả trang nữa! Tôi có mang về một bộ quần áo phụ nữ Hy Lạp rất hay và bà mặc nó thì hợp tuyệt.

- Nhờ ông vẽ bộ quần áo đó cho cuốn an-bom của tôi.

- Rất vui lòng. Bà sẽ thấy tôi tiến bộ đến mức nào kể từ khi tôi còn lấy bút chì vẽ những thằng người trên bàn trà của thân mẫu bà. Thưa bà, tiện đây, tôi xin có lời chúc mừng bà: Sáng nay tôi có nghe nói ở bộ rằng ông Saverni nhà ta sắp được cử làm nội thần của Hoàng Thượng. Tin đó làm tôi rất vui sướng.

Giuyli bất giác giật nẩy mình. Đarxi không nhận thấy cử chỉ đó, nói tiếp:

- Xin phép bà cho tôi yêu cầu được bà che chở cho ngay từ bây giờ... Nhưng xét kỹ, tôi không bằng lòng lắm về địa vị mới của bà. Tôi e rằng bà sẽ bắt buộc phải đến Xanh Klu(53) trong dạo hè và khi đó tôi sẽ không hay được hân hạnh gặp bà nữa.

- Không bao giờ tôi đi Xanh Klu đâu, Giuyli nói với giọng rất xúc động.

- Ồ! càng hay, vì Pari, bà thấy không, là thiên đường, mà ta chỉ nên thỉnh thoảng mới rời khỏi để đi dự tiệc ở nông thôn, tại nhà bà Lambe, với điều kiện là quay về buổi tối. Thưa bà, bà được ở Pari thật là sung sướng. Còn tôi là người có lẽ chỉ sống ở đó trong một thời gian ngắn, bà không thể tưởng tượng được rằng tôi vui sướng biết bao khi được ở căn phòng nhỏ mà cô tôi đã để cho tôi. Còn bà, người ta bảo tôi rằng bà ở ngoại ô Xanh Ônôrê. Người ta đã chỉ nhà bà cho tôi. Chắc hẳn bà có một cái vườn tuyệt diệu, nếu cái thói mê xây dựng đã không biến những lối đi của bà thành cửa hàng(54)?

- Không, cái vườn của tôi vẫn còn y nguyên, tạ ơn Chúa.

- Thưa bà, bà tiếp khách vào hôm nào?

- Hầu hết các buổi tối tôi đều ở nhà. Tôi rất sung sướng nếu ông sẵn lòng thỉnh thoảng đến thăm tôi.

- Thưa bà, bà thấy rằng tôi làm như cái liên minh cũ của chúng ta vẫn tồn tại. Tôi tự mời tôi không theo nghi lễ gì cả mà cũng không có sự giới thiệu chính thức. Bà tha lỗi cho tôi chứ? Ở Pari tôi chỉ còn có quen có bà và bà Lambe. Tất cả mọi người đã quên tôi, nhưng nhà của hai bà là những cái nhà duy nhất mà tôi đã nhớ tiếc trong khi lưu lạc. Nhất là phòng khách của bà chắc phải thú vị lắm. Một người biết chọn bạn hữu như bà!... Bà có còn nhớ những dự án mà bà vạch ra khi xưa cho lúc nào bà thành một bà chủ nhà không? Một phòng khách không để cho những kẻ làm người ta chán ngán bước chân tới, đôi lúc có âm nhạc, bao giờ cũng có chuyện trò, và rất khuya; không hề có những kẻ hợm mình, một số ít người biết rõ nhau do đó không hề tìm cách nói dối hoặc làm ra vẻ... Ngoài ra, có đôi ba người phụ nữ có trí tuệ (không lẽ các bạn của bà lại không như vậy...) và nhà bà là nơi thú vị nhất Pari. Phải, bà là người phụ nữ sung sướng nhất và bà làm cho tất cả những người ở gần bà cũng được sung sướng.

Trong khi Đarxi nói, Giuyli nghĩ rằng hạnh phúc mà chàng tả một cách linh hoạt như thế, nàng có thể đạt được nếu như nàng đã lấy một người khác... Lấy Đarxi chẳng hạn. Không phải nàng nghĩ tới cái phòng khách tưởng tượng rất thanh lịch và rất thú vị đó, mà nàng nghĩ tới những kẻ đáng chán ngán mà Saverni đã dẫn đến với nàng... không phải nàng nhớ tới những cuộc chuyện trò rất vui, mà nhớ tới những cảnh vợ chồng như cảnh đã khiến nàng phải đi P...

Nàng thấy mình cuối cùng sẽ khổ sở mãi mãi, cột chặt suốt đời vào cuộc đời của một người mà nàng ghét và khinh; còn cái người mà nàng thấy đáng yêu nhất đời, cái người mà lẽ ra nàng muốn trao trách nhiệm bảo đảm hạnh phúc của nàng thì vẫn phải là một người xa lạ đối với nàng. Bổn phận của nàng là phải tránh người đó... và người đó thì đang ở gần nàng đến nỗi tay áo của nàng bị ve áo của chàng làm nhầu nát.

Đarxi tiếp tục miêu tả một lúc những thú vui trong cuộc sống ở Pari với tất cả tài hùng biện do thiếu thốn lâu mà có. Trong khi ấy, Giuyli cảm thấy nước mắt của mình tuôn trên gò má. Nàng run lên vì sợ Đarxi trông thấy, và nàng càng tự kiềm chế thì sự xúc động của nàng càng thêm mạnh. Nàng nghẹt thở; nàng không dám động đậy. Cuối cùng một tiếng nức nở bật lên, và thế là hỏng cả. Nàng gục đầu trong hai bàn tay gần nghẹn ngào vì nước mắt và xấu hổ.

Đarxi hoàn toàn không ngờ tới chuyện đó, nên rất ngạc nhiên. Trong một lát, sự kinh ngạc làm cho chàng không nói được; nhưng vì những tiếng nức nở mỗi lúc một tăng, chàng nghĩ rằng chàng phải nói và hỏi duyên cớ của những giọt nước mắt đột ngột ấy.

- Thưa bà, bà làm sao thế? Lạy Chúa, thưa bà... xin bà trả lời tôi. Bà có việc gì thế?... Và vì nàng Giuyli tội nghiệp cứ nghe mỗi câu hỏi lại xiết chặt thêm chiếc mùi xoa vào mắt, nên chàng cầm lấy tay nàng và vừa dịu dàng gạt chiếc mùi xoa ra vừa nói với một giọng lạc đi, thấm sâu vào tận đáy lòng Giuyli: - Tôi van bà, bà làm sao thế? Hay là tôi đã vô tình xúc phạm đến bà chăng?...Bà cứ im lặng làm tôi thật khổ tâm.

- Ôi! Giuyli không thể nén được nữa kêu lên, tôi khổ quá và nàng càng nức nở.

- Khổ ư! Như thế nào?... Tại sao?... Ai lại có thể làm cho bà khổ? Xin bà trả lời tôi. Vừa nói chàng vừa xiết tay nàng, đầu chàng gần chạm vào đầu Giuyli còn Giuyli thì chỉ khóc mà không đáp. Đarxi không còn biết nghĩ thế nào, nhưng chàng xúc động vì những giọt nước mắt của nàng. Chàng thấy mình trẻ lại sáu tuổi và chàng bắt đầu nhận ra rằng, trong một tương lai trước kia chưa bao giờ hiện ra trong trí tưởng tượng của chàng, chàng rất có thể từ vai trò người bạn tâm tình chuyển sang một vai trò khác cao hơn.

Do nàng vẫn cứ không chịu trả lời, Đarxi sợ nàng ngất đi nên chàng hạ một cửa kính xe xuống, tháo các dải mũ của Giuyli, bỏ áo khoác và khăn quàng cho nàng. Nam giới vốn vụng về trong những công việc đó. Chàng muốn bảo xe dừng lại ở gần một thôn xóm và chàng đã gọi người đánh xe rồi, thì bỗng Giuyli nắm lấy cánh tay chàng, van chàng đừng bảo dừng xe và nói để chàng yên tâm rằng trong người nàng đã khá hơn nhiều. Người đánh xe không nghe thấy gì cả và tiếp tục cho ngựa tiến về phía Pari.

- Nhưng tôi van bà, thưa Saverni phân nhân thân mến, Đarxi vừa nói vừa cầm lại bàn tay mà chàng đã buông ra một lúc, tôi van bà, xin bà nói cho tôi nghe bà làm sao thế?... Tôi sợ... tôi không hiểu tại sao tôi lại có thể khốn khổ đến nỗi làm bà phải phiền lòng.

- A! Không phải tại ông đâu! Giuyli kêu lên, và nàng hơi xiết bàn tay chàng.

- Vậy thì xin bà bảo tôi, ai có thể làm cho bà khóc như thế? Xin bà hãy tin tôi mà nói đi. Chúng ta chẳng phải là bạn cũ ư? Chàng mỉm cười nói tiếp và đến lượt chàng xiết bàn tay Giuyli.

- Ông có nói với tôi về hạnh phúc mà ông tưởng bao quanh tôi... nhưng hạnh phúc đó ở xa tôi lắm!...

- Sao thế? bà không có đủ mọi yếu tố để hưởng hạnh phúc hay sao?... Bà trẻ, giàu, đẹp... Chồng bà là một địa vị xuất sắc trong xã hội...

- Tôi ghét người ấy! Giuyli xúc động dữ dội kêu lên: tôi khinh người ấy! và nàng chúi đầu vào trong chiếc mùi xoa, càng nức nở hơn bao giờ hết!

- Ồ! Ồ! Đarxi nghĩ thầm, chuyện trở nên nghiêm trọng đây. Và chàng khéo léo lợi dụng tất cả những lúc xe xóc để xích thêm gần nàng Giuyli tội nghiệp. - Vì sao, chàng nói với giọng dịu dàng âu yếm nhất đời, vì sao bà phải buồn phiền như thế? Lẽ nào bà để một con người mà bà ghét có ảnh hưởng đến thế tới cuộc đời của bà? Sao bà lại cho phép người ấy một mình đầu độc cả hạnh phúc của bà? Nhưng vậy ra bà phải cầu xin người ấy cái hạnh phúc đó sao... Và chàng hôn đầu ngón tay nàng; nhưng thấy nàng lập tức kinh hãi rút tay lại, chàng sợ mình đã đi quá xa... Nhưng quyết tâm đi đến cùng, chàng vừa nói vừa thở dài một cách khá giả dối:

- Thật tôi đã lầm! khi nghe tin bà lấy chồng, tôi đã tưởng ông Saverni vừa ý bà thực sự.

- A! Ông Đarxi ạ, ông có bao giờ hiểu tôi đâu! giọng nàng nói lên một cách rõ ràng: bao giờ tôi cũng yêu ông, nhưng ông không muốn nhận thấy thế. Lúc này người phụ nữ tội nghiệp tin tưởng một cách thành thực nhất đời rằng bao giờ nàng cũng yêu Đarxi, trong sáu năm vừa qua, với tất cả niềm yêu thương mà nàng cảm thấy lúc này đối với chàng.

- Còn bà! Đarxi hăng hái lên nói, còn bà, thưa bà, bà có bao giờ hiểu tôi không? Bà có bao giờ biết những tình cảm trong lòng tôi không? Ôi! Nếu như trước kia bà hiểu tôi hơn, chắc chắn bây giờ cả hai chúng ta đều sung sướng.

- Tôi khổ quá! Giuyli càng khóc dữ nhắc lại mấy tiếng đó và nắm chặt bàn tay chàng.

- Nhưng thưa bà dù cho hồi đó bà có hiểu tôi, Đarxi nói tiếp với cái vẻ buồn bã chua chát thường lệ của chàng, thì kết cục sẽ ra sao? Tôi không có gia sản, gia sản của bà thì lớn lắm; thân mẫu bà chắc sẽ khinh bỉ khước từ tôi. Tôi bị kết án ngay từ trước khi ra tòa. Cả bà nữa, vâng, bà, Giuyli ạ, trước khi một cuộc thí nghiệm thảm khốc chỉ cho bà thấy đâu là hạnh phúc thực sự, thì nhất định bà phải cười cái cao vọng của tôi và một chiếc xe bóng loáng với vòng miện bá tước trên cửa xe khi đó nhất định là phương tiện chắc chắn nhất để làm vừa ý bà.

- Trời ơi! Cả ông nữa! Thế ra không còn ai thương tôi hay sao?

- Giuyli thân mến, tha lỗi cho tôi! chàng kêu lên, bản thân cũng rất cảm động; tha lỗi cho tôi, tôi van em. Xim em quên những lời trách móc của tôi; không, tôi, tôi không có quyền trách móc em. Tôi có lỗi hơn em... Tôi đã không biết đánh giá em. Tôi vẫn tưởng em cũng yếu đuối như những phụ nữ trong cái xã hội mà em sống; tôi đã nghi ngờ lòng can đảm của em, Giuyli thân mến ạ, và tôi đã bị trừng phạt độc địa về cái đó! Chàng đặt những cái hôn nóng bỏng lên đôi tay nàng mà nàng không rụt ra nữa, chàng sắp ôm nàng vào trong lòng... nhưng Giuyli đẩy chàng ra với vẻ rất kinh hoàng và xê người ra xa chàng cho đến khi bề ngang của chiếc xe không cho phép lùi hơn được nữa.

Thấy thế Đarxi nói với một giọng mà vẻ dịu dàng còn làm cho đau đớn thêm: - Thưa bà, xin lỗi bà, tôi đã quên Pari. Bây giờ tôi mới nhớ lại rằng ở đó người ta chỉ lấy nhau, chứ không hề yêu.

- Ồ! Có chứ, em yêu anh, nàng vừa thì thầm vừa nức nở và nàng gục đầu vào vai Đarxi. Đarxi siết chặt nàng vào trong tay một cách nồng nàn và tìm cách ngăn dòng lệ bằng những cái hôn. Nàng còn cố gắng gỡ ra khỏi tay anh, nhưng đó là sự cố gắng cuối cùng của nàng.

XII

Đarxi đã lầm về bản chất sự xúc động của chàng: chàng không hề yêu, ta phải nói rõ như thế. Chàng chỉ lợi dụng một dịp may có vẻ đột nhiên đến với chàng và rất đáng để chàng không bỏ lỡ. Vả lại, như tất cả mọi người đàn ông, khi cầu xin chàng hùng hồn hơn nhiều so với khi cảm ơn. Song chàng lễ phép, và sự lễ phép ấy nhiều khi thay cho những tình cảm đáng kính hơn. Vì thế sau phút say sưa đầu tiên, chàng tuôn ra với Giuyli những lời dịu ngọt mà chàng không mất công tìm kiếm lắm, và kèm theo những lời đó là nhiều cái hôn tay nó đỡ cho chàng biết bao lời. Chàng thấy chiếc xe đã tới chỗ rào chắn(55) mà không luyến tiếc và trong ít phút nữa chàng sẽ từ giã người mà chàng đã chinh phục được. Sự im lặng của Saverni phu nhân giữa những lúc chàng tỏ tình, nỗi phiền muộn miên man của nàng làm cho tình thế của người tình nhân mới của nàng thành khó khăn, khó chịu là khác nữa, tôi dám nói như thế.

Nàng ngồi yên, trong một góc xe, thờ ơ ghì chiếc khăn quàng vào ngực. Nàng không khóc nữa; mắt nhìn đăm đăm và khi Đarxi cầm tay nàng để hôn, bàn tay ấy, ngay sau khi được buông ra, rơi thõng xuống đùi nàng như chết. Nàng không nói, nàng chỉ hơi nghe thấy, nhưng một loạt tư tưởng đau như xé hiện ra cùng một lúc trong tâm trí nàng và nếu nàng muốn biểu lộ một ý nghĩ này thì lập tức một ý nghĩ khác tới khóa miệng nàng lại.

Làm sao có thể tả được cái mớ bòng bong ý nghĩ ấy, hoặc nói cho đúng hơn những hình ảnh đang nối tiếp nhau nhanh như những tiếng đập của trái tim nàng? Nàng tưởng chừng nghe thấy hai bên những tiếng nói lơ lửng và không nối tiếp với nhau, nhưng đều có một cái nghĩa ghê gớm. Sáng nay nàng đã lên án chồng, anh ta là một con người đê tiện trong con mắt của nàng; bây giờ nàng còn đáng khinh gấp trăm lần. Nàng thấy ai ai cũng biết chuyện xấu hổ của nàng. Nay sẽ đến lượt cô tình nương của công tước Đơ H... xua đuổi nàng. - Bà Lambe, tất cả các bạn của nàng sẽ không muốn gặp nàng nữa. - Còn Đarxi? - Anh có yêu nàng không? - Anh chỉ hơi biết nàng. - Anh đã quên nàng rồi. - Anh đã không nhận ra nàng ngay lập tức. - Có lẽ anh đã thấy nàng thay đổi nhiều. - Anh lạnh lùng đối với nàng: đó là cái đòn tối hậu. - Sự luyến ái của nàng đối với một người chỉ hơi biết nàng, một người đối với nàng không tỏ ra yêu đương... mà chỉ tỏ ra lễ phép. - Không thể nào anh ấy lại yêu nàng. - Về phần nàng, nàng có yêu anh không? - Không, vì anh ấy vừa mới ra đi là nàng đã lấy chồng.

Khi chiếc xe vào đến Pari, các đồng hồ điểm một giờ. Chính lúc bốn giờ chiều qua là lúc đầu tiên nàng đã gặp Đarxi. - Phải, gặp. Nàng không thể nói gặp lại... Nàng đã quên nét mặt của chàng, tiếng nói của chàng; đó là một người xa lạ đối với nàng... Chín giờ sau, nàng đã thành tình nhân của chàng rồi?... Chỉ cần chín giờ là đủ cho sự mê hoặc kỳ dị đó... đủ để nàng mất phẩm giá trong con mắt của chính nàng, trong con mắt của chính Đarxi; vì chàng nhất định phải nghĩ thế nào về một người đàn bà yếu đuối đến thế? Sao chàng lại không thể khinh nàng?

Đôi lúc tiếng nói dịu dàng của Đarxi, những lời âu yếm mà chàng nói với nàng, làm cho nàng phấn chấn được đôi chút. Lúc đó nàng cố tin rằng mối tình mà chàng đang biểu lộ là thực sự. Không phải nàng đã quy phục một cách quá dễ dàng. - Mối tình giữa hai người kéo dài đã từ lâu thì bỗng chàng xa nàng... Đarxi hẳn biết rằng nàng lấy chồng chỉ tại uất ức về nỗi chàng ra đi. - Các tội lỗi đều về phía Đarxi. - Song chàng bao giờ cũng yêu nàng trong khi vắng mặt lâu dài. - Và đến khi chàng trở về, chàng đã vui sướng thấy nàng cũng chung thủy như chàng. - Sự chân thành thú nhận tình yêu của nàng hẳn làm đẹp lòng Đarxi, một người ghét sự giấu giếm. - Nhưng chẳng mấy chốc nàng nhận ra cái vô lý của những biện luận đó. Những ý nghĩ an ủi biến đi. và nàng lại bị hổ thẹn và thất vọng giày vò.

Có một lúc nàng muốn bộc lộ những cảm nghĩ của mình. Nàng vừa mới tưởng tượng mình bị xã hội khai trừ, gia đình ruồng bỏ. Sau khi đã xúc phạm chồng một cách nặng nề như thế, lòng kiêu hãnh của nàng không cho phép nàng từ nay gặp lại chồng nữa. "Ta được Đarxi yêu, nàng tự nhủ, ta chỉ có thể yêu anh ấy. Không có anh ấy thì ta không thể sung sướng. Ở đâu có anh ấy ta cũng sẽ sung sướng. Ta hãy cùng anh ấy đi đến một nơi nào không bao giờ có thể thấy ai làm ta hổ thẹn được. Anh ấy hãy đưa ta đi Côngxtăngtinôp..."

Đarxi hoàn toàn không đoán ra những ý nghĩ đang diễn ra trong tâm trí của Giuyli. Chàng vừa mới nhận thấy rằng hai người đã về tới phố của Đờ Saverni phu nhân ở và chàng rất thản nhiên xỏ lại đôi găng tay lạnh buốt.

- Nhân đây, chàng nói, anh cần phải được chính thức giới thiệu với ông Đơ Saverni chứ... Anh đoán rằng chẳng bao lâu hai bên sẽ thành bạn thân. Được bà Lambe giới thiệu, anh sẽ có một thế đứng vững trong nhà em. Trong lúc chờ đợi, vì ông ta đang ở nhà quê, anh có thể đến thăm em không?

Tiếng nói của Giuyli ra đến môi thì biến mất. Mỗi lời nói của Đarxi là một nhát dao găm. Làm sao có thể nói chuyện bỏ trốn, ra đi với một người đàn ông bình thản như thế, lạnh lùng như thế, chỉ nghĩ đến việc thu xếp cách đi lại mùa hè thuận tiện nhất? Nàng điên cuồng dứt dứt sợi dây chuyền vàng đeo ở cổ và vặn những mắt của nó trong ngón tay. Chiếc xe dừng lại ở trước cửa ngôi nhà nàng, Đarxi rất ân cần sửa chiếc khăn quàng trên vai nàng, chỉnh đốn lại chiếc mũ nàng cho ngay ngắn. Rồi khi cửa xe mở, chàng đưa tay cho nàng vịn một cách hết sức kính cẩn, nhưng Giuyli nhẩy xuống đất không tựa vào chàng. - Thưa bà, chàng vừa cúi rạp đầu vừa nói, tôi sẽ xin phép lại thăm bà.

- Vĩnh biệt! Giuyli nói giọng nghẹn ngào. Đarxi lại lên chiếc xe của mình và sai đánh xe đưa mình về nhà, miệng huýt sáo ra vẻ rất thỏa mãn về ngày vừa qua.

XIII

Vừa về đến căn phòng trai độc thân của mình, Đarxi mặc chiếc áo trong nhà Thổ Nhĩ Kỳ vào, đi đôi giày vải, rồi sau khi nhồi thuốc lá Latakiê vào một cái tẩu dài nõ bằng gỗ anh đào xứ Bốtni và thân bằng hổ phách trắng, chàng sửa soạn thưởng thức nó, mình ngả trên một chiếc ghế bành lớn bọc da dê và nhồi bông kỹ càng. Với những người lấy làm lạ sao chàng lại làm cái công việc tầm thường ấy vào lúc lẽ ra chàng phải mơ mộng một cách thi vị hơn, tôi xin trả lời rằng một tẩu thuốc ngon rất có ích, nếu không phải là cần, cho sự mơ mộng, và cách tận hưởng thật sự một hạnh phúc là kết hợp nó với một hạnh phúc khác. Một anh bạn tôi, một người ưa thích khoái cảm, không bao giờ mở thư tình nhân ra xem trước khi tháo ca-vát, khêu lửa lên nếu đang mùa rét và nằm lên một cái ghế dựa dài dễ chịu.

- Thực là, Đarxi nghĩ thầm, mình sẽ dại vô cùng nếu mình nghe lời Tayrơn mua một con nô lệ Hy Lạp đem về Pari. May chưa! Giá mà mình làm như thế, thì như cậu bạn Halếch Epphăngđi nói, khác nào chở vả về Đamát(56). Tạ ân Chúa! Nền văn minh đã tiến dữ trong khi mình đi vắng và hình như sự cứng rắn không đi đến chỗ quá quắt lắm... Tội nghiệp cái anh Saverni!... Hà, hà! Tuy vậy, nếu mình giàu có cách đây vài năm, mình đã lấy Giuyli rồi và có lẽ tối nay chính Saverni sẽ là người đưa nàng về. Nếu mình lấy vợ, mình sẽ cho người luôn luôn để ý đến cái xe của vợ mình, để cô ta khỏi cần những tay hiệp sĩ lang thang kéo ra khỏi hố... Nào ta hãy nhẩm tính lại. Nói tóm lại, đó là một người đàn bà rất đẹp, có trí tuệ sắc sảo, và nếu mình không đến nỗi già như thế này, mình tha hồ tin rằng đó là nhờ tài ba phi thường của mình!... Ồ! Tài ba phi thường của mình!...

Chao ôi! Chao ôi! một tháng nữa tài ba phi thường của mình có lẽ sẽ ở vào mức của cái ông có râu mép... Bực quá! mình chỉ muốn cái con bé Naxtaxia mà mình đã yêu ghê gớm kia biết đọc biết viết, và biết nói chuyện với những người phong nhã, vì mình tin rằng nó là người phụ nữ duy nhất đã yêu mình... Tội nghiệp con bé! Cái tẩu thuốc lá tắt và chẳng bao lâu chàng ngủ.

XIV

Về đến phòng mình, Saverni phu nhân thu hết nghị lực để nói với chị hầu phòng rằng nàng không cần đến chị và chị hãy để cho nàng một mình. Người con gái đó vừa ra xong là nàng gieo mình xuống giường và bắt đầu khóc thảm thiết hơn cả lúc Đarxi có mặt làm cho nàng phải tự kiềm chế, vì bây giờ nàng có một mình.

Chắc chắn đêm tối có ảnh hưởng rất lớn đến những nỗi phiền não trong tâm trí cũng như đến những sự đau đớn trong thể xác. Nó tô cho tất cả mọi thứ một màu ảm đạm và những hình ảnh bâng quơ hoặc cả những hình ảnh vui tươi ban ngày, làm chúng ta bồn chồn ray rứt ban đêm y như những bóng ma chỉ thiêng trong đêm tối. Hình như đêm đến thì tư tưởng tăng hoạt động và lý trí mất uy lực. Một thứ ảo đăng thuật trong nội tâm làm chúng ta bối rối kinh hãi, nhưng chúng ta không có sức gạt bỏ nguyên nhân của những nỗi hãi hùng hoặc thản nhiên xem xét thực tế.

Chúng ta hãy tưởng tượng nàng Giuyli tội nghiệp kia nằm sóng soài trên giường, chưa cởi bỏ hết quần áo ngoài, luôn luôn vật vã, lúc thì nóng như thiêu ở trong người, lúc thì rét run đến tận xương tủy, giật nẩy mình mỗi khi giường khẽ cót két và nghe rõ ràng tiếng đập của trái tim mình. Về tình thế của mình, nàng chỉ còn giữ lại một cảm giác hãi hùng mơ hồ mà nàng tìm mãi không ra nguyên nhân. Rồi bỗng nhiên kỷ niệm của buổi tối tai họa hiện ra trong tâm trí nàng, nhanh như một tia chớp, và cùng với kỷ niệm đó một sự đau đớn dữ dội và sâu sắc trở lại như một miếng sắt nung đỏ gây ra trong một vết thương đã hàn gắn.

Lúc thì nàng nhìn cây đèn, ngây người ngắm ngọn lửa đung đưa, mãi đến khi nước mắt ràn rụa trong khóe mắt, nàng cũng không biết tại sao, không cho nàng nhìn thấy ánh sáng nữa. "Sao lại khóc thế nhỉ? nàng tự nhủ. A! ta bị ô nhục rồi!".

Lúc thì nàng đếm những cái thao màn che giường nhưng không sao nhớ được con số. "Tại sao mình lại điên như thế nhỉ? nàng nghĩ thầm. Điên? phải, vì cách đây một giờ mình đã hiến thân như một con đĩ khốn nạn cho một người mà mình không biết".

Rồi nàng theo dõi với con mắt ngây dại chiếc kim đồng hồ treo, lo lắng như một phạm nhân thấy giờ hành tội của mình đang nhích lại gần. Thình lình đồng hồ đánh chuông: "Cách đây ba giờ, nàng giật nẩy mình nói, ta đang ở với người ấy, và ta đã bị ô nhục!".

Suốt đêm nàng quằn quại run rẩy như thế. Khi trời sáng, nàng mở cửa sổ, và gió lạnh thấm thía của buổi sớm làm cho nàng khuây khỏa đôi chút. Cúi mình trên lan can cửa sổ trông ra vườn, nàng thở hít khí lạnh một cách khoan khoái. Sự rối loạn trong tư tưởng của nàng dần dần tiêu tan. Sau những nỗi đau đớn mơ hồ, sau cơn mê loạn dày vò nàng, tiếp đến một tình trạng thất vọng tập trung so với tình trạng kia là một sự nghỉ ngơi.

Cần phải quyết định một bề. Thế là nàng suy nghĩ xem bây giờ nên làm thế nào. Nàng nhất định không nghĩ đến sự gặp lại Đarxi. Nàng cho rằng không thể nào làm như vậy được; trông thấy chàng, nàng sẽ xấu hổ đến chết mất, nàng phải rời Pari. Ở đây hai ngày nữa mọi người sẽ chỉ vào mặt nàng. Mẹ nàng đang ở Nixơ; nàng sẽ đến đó với mẹ, nàng sẽ thú nhận tất cả với mẹ; rồi sau khi dốc bầu tâm sự trong lòng mẹ, nàng chỉ còn mỗi một việc để làm, đó là tìm một nơi nào hẻo lánh ở Ý, một nơi mà các du khách không biết, nàng sẽ đến đó ở một mình và chẳng bao lâu nữa sẽ chết.

Một khi đã quyết định như thế, nàng thấy bình tĩnh trong người. Nàng ngồi xuống bên một cái bàn nhỏ trước cửa sổ và hai tay ôm đầu, nàng khóc, nhưng lần này không cay đắng. Cuối cùng, sự mệt mỏi và chán nản thắng thế và nàng thiếp đi, hay nói cho đúng hơn là nàng ngừng suy nghĩ trong gần một giờ.

Nàng tỉnh giấc, sốt run người. Thời tiết đã thay đổi, bầu trời xám xịt và một trận mưa lâm thâm giá lạnh báo hiệu phần ngày còn lại sẽ rét và ẩm. Giuyli giật chuông gọi chị hầu phòng. Nàng bảo chị ta: Mẹ tôi ốm, tôi phải đi Nixơ ngay lập tức. Chị sửa soạn cho tôi một cái hòm, tôi muốn một giờ nữa là lên đường.

- Nhưng thưa bà, bà làm sao thế? Bà có ốm không?... Bà chưa ngủ! chị hầu phòng kêu lên, ngạc nhiên và hốt hoảng về sự thay đổi mà chị nhận thấy trên nét mặt bà chủ.

- Tôi cần đi, Giuyli nói giọng sốt ruột, nhất định tôi phải đi. Chị sửa soạn cho tôi một cái hòm.

Trong thời buổi văn minh hiện đại của chúng ta, không phải chỉ việc muốn là có thể đi từ nơi này đến nơi khác. Phải có giấy thông hành, phải sửa soạn hành lý, bao gói mang theo, phải làm hàng trăm việc chuẩn bị phiền phức, phải lo trăm thứ khiến cho người ta hết muốn đi. Nhưng sự nóng ruột của Giuyli rút ngắn đi rất nhiều tất cả những cái chậm chạp cần thiết đó. Nàng đi đi lại lại hết buồng này sang buồng khác, đích thân giúp việc sửa soạn hòm xiểng, ấn xếp hỗn độn những cái mũ và những cái áo vốn quen được đối xử một cách nể nang hơn. Song những cử động của nàng chỉ góp phần làm chậm công việc của những người đầy tớ hơn là làm cho nó được mau hơn.

- Chắc bà đã báo tin cho ông nhà biết? Chị hầu phòng rụt rè hỏi.

Không trả lời, Giuyli lấy giấy; nàng viết: "Mẹ tôi ốm ở Nixơ - Tôi đến đó với mẹ". Nàng gập tờ giấy làm tư, nhưng nàng không thể nào viết tên người nhận lên tờ giấy được.

Đang khi sửa soạn đi, một người đầy tớ bước vào. Anh ta nói: - Ông Satôfo muốn xin phép vào gặp bà. Có cả một ông nữa đến cùng một lúc, tôi không biết là ai, nhưng có thiếp của ông ta đây ạ.

Nàng đọc: "E. Đarxi, bí thư đại sứ quán".

Xuýt nữa thì nàng thét lên. - Tôi không tiếp ai cả! nàng nói to; anh ra nói tôi ốm. Đừng nói tôi sắp đi. Nàng không thể tự giải thích tại sao Satôfo và Đarxi lại đến thăm nàng cùng một lúc, và trong cơn bối rối nàng tin rằng Đarxi đã chọn Satôfo làm bạn tâm sự. Song không có gì giản dị hơn sự có mặt đồng thời của họ. Đến do cùng một động cơ, hai người đã gặp nhau ở ngoài cửa; và sau khi chào nhau rất lạnh lùng, hai người rủa thầm nhau kịch liệt.

Nghe người đầy tớ trả lời, hai người cùng nhau xuống thang, lại chào nhau lạnh lùng hơn trước, rồi mỗi người đi một ngả.

Satôfo đã nhận thấy sự lưu ý đặc biệt của Saverni phu nhân đối với Đarxi và ngay từ lúc đó gã căm ghét Đarxi. Về phần Đarxi, một kẻ tự phụ là biết xem tướng, chàng không thể nhận thấy vẻ bối rối bực tức của Satôfo mà không kết luận rằng gã yêu Giuyli; và vì là một nhà ngoại giao nên chàng giả thiết điều chẳng lành trước, kết luận một cách khá vội vã rằng Giuyli không đến nỗi nhẫn tâm đối với Satôfo.

- Cái con lẵng lơ kỳ dị này, chàng tự nhủ khi bước ra, chắc không muốn tiếp cả hai người, vì sợ một màn yêu cầu cắt nghĩa như trong vở kịch Người yếm thế (57)... Nhưng mình thật ngốc nên mới không tìm ra được cớ để ở lại, mặc kệ cái thằng trẻ tuổi hợm mình kia ra về. Nhất định, nếu mình chờ hắn ta quay lưng đi là mình được tiếp, ừ mình dứt khoát hơn hắn ở chỗ mình là của mới.

Nghĩ thế, chàng dừng bước rồi quay lại và trở vào nhà của Saverni phu nhân. Satôfo cũng đã quay đầu lại nhiều lần để quan sát chàng, gã trở gót và theo dõi chàng từ xa.

Người đầy tớ ngạc nhiên lại thấy Đarxi, chàng bảo người đó rằng chàng quên nhắn bà chủ một câu, rằng đó là một việc gấp, một việc mà một bà đã nhờ chàng nói giúp với Saverni phu nhân. Nhớ ra rằng Giuyli biết tiếng Anh, chàng lấy bút chỉ viết trên tấm thiếp của mình: "Xin phép hỏi khi nào tôi có thể trình Saverni phu nhân xem cuốn an-bum Thổ Nhĩ Kỳ của tôi". Chàng trao tấm thiếp cho người đầy tớ và nói rằng chàng chờ trả lời.

Mãi không thấy trả lời. Sau cùng người đầy tớ trở lại, rất bối rối. - Phu nhân, anh ta nói, vừa mới ngất đi và bây giờ phu nhân mệt quá nên không trả lời ông được. - Tất cả đã diễn ra trong mười lăm phút. Đarxi không tin rằng Giuyli đã ngất, nhưng hiển nhiên là nàng không muốn gặp chàng. Chàng quyết định như một nhà hiền triết; và nhớ rằng chàng cần đến thăm mấy người ở trong khu phố này, chàng bước ra không hề bận tâm thêm đến chuyện trắc trở đó nữa.

Satôfo đang chờ chàng, giận dữ lo lắng. Trông thấy chàng đi qua, gã không còn nghi ngờ gì nữa rằng chàng là người tình địch may mắn hơn gã, và gã quyết tâm sẽ nắm lấy cơ hội đầu tiên để báo thù cả con người không trung thành lẫn kẻ đồng lõa của nó. Thiếu tá Peranh mà gã gặp rất đúng lúc, được nghe gã tâm sự, ông cố an ủi gã và còn bảo rằng những điều nghi ngờ của gã không có gì là chắc chắn.

XV

Giuyli đã thực sự ngất đi khi nhận được tấm danh thiếp thứ hai của Đarxi. Sau cơn ngất, nàng khạc ra máu khiến trong người yếu đi nhiều. Chị hầu phòng đã bảo người đi mời thầy thuốc nhưng Giuyli khăng khăng không chịu gặp ông ta. Vào khoảng bốn giờ, những con ngựa trạm tới, hòm xiểng được buộc chặt; mọi thứ đều sẵn sàng để khởi hành. Giuyli bước lên xe, ho dữ dội và ở trong tình trạng thật đáng thương. Suốt buổi tối và cả đêm, nàng chỉ nói với anh đầy tớ ngồi trên ghế đằng trước xe để bảo anh giục mấy người giong xe trạm đi gấp. Nàng vẫn ho và có vẻ rất đau đớn trong ngực; nhưng nàng không kêu rên một tiếng. Sáng ra nàng yếu đến nỗi ngất đi khi người ta mở cửa xe. Người ta vực nàng vào một cái quán tồi tàn và để nàng nằm ở đó. Một người thầy thuốc ở trong làng được mời đến; ông ta thấy nàng sốt dữ dội và cấm nàng tiếp tục cuộc hành trình. Song nàng vẫn cứ muốn đi. Buổi chiều, nàng lên cơn mê sảng và tất cả mọi triệu chứng đều trầm trọng thêm. Nàng luôn luôn nói lảm nhảm nghe rất khó hiểu. Trong những lời nói không đâu vào đâu ấy, tên Đarxi, Satôfo và bà Lambe hay trở đi trở lại. Chị hầu phòng viết thư cho ông Saverni để báo tin nàng ốm; nhưng nàng đang ở cách Pari tới gần ba mươi dặm, Saverni thì đang đi săn ở lâu đài công tước Đơ H... mà bệnh thì tăng nhanh đến nỗi không chắc Saverni đến kịp.

Song người đầy tớ trai đã phóng ngựa đến thành phố cạnh đấy và đưa một ông thầy thuốc tới. Ông này chê đơn thuốc của người đồng nghiệp, tuyên bố rằng người ta gọi ông chậm quá mà bệnh thì rất nặng.

Lúc tảng sáng cơn mê sảng chấm dứt và Giuyli ngủ say. Khi nàng tỉnh dậy, độ hai ba giờ sau, nàng có vẻ khó lòng nhớ ra những chuyện rủi ro khiến nàng đang nằm trong một cái buồng trọ bẩn thỉu. Song chẳng bao lâu trí nhớ hồi phục. Nàng nói rằng nàng cảm thấy dễ chịu và nàng còn nói đến chuyện lại lên đường hôm sau. Rồi sau khi để tay lên trán có vẻ suy nghĩ lâu, nàng bảo lấy giấy mực và muốn viết. Chị hầu phòng thấy nàng bắt đầu viết những bức thư mà nàng đều xé đi sau khi viết mấy chữ đầu. Đồng thời nàng bảo đốt những mảnh giấy ấy. Chị hầu phòng nhận thấy trên nhiều mảnh có chữ này: Thưa ông, khiến chị lấy làm lạ, chị kể lại thế, vì chị cứ tưởng nàng viết thư cho mẹ hoặc cho chồng. Trên một mảnh giấy khác chị ta đọc thấy: "Hẳn ông khinh tôi lắm...".

Trong gần nửa tiếng đồng hồ, nàng cố viết nhưng viết không xong một bức thư có vẻ làm bận tâm nàng lắm. Cuối cùng, sức kiệt, nàng không thể tiếp tục nữa: nàng đẩy ra xa cái giá viết mà người ta đã đặt trên giường nàng và nàng nhớn nhác bảo chị hầu phòng: - Thôi chị viết hộ tôi cho ông Đarxi.

- Thưa bà, viết ra sao? Chị hầu phòng hỏi, tin rằng cơn mê sảng sắp tái diễn.

- Chị viết rằng ông ta không biết tôi... rằng tôi không biết ông ta... Rồi nàng lăn xuống gối, kiệt sức.

Đó là những lời nói liên tục cuối cùng của nàng. Cơn mê sảng lại xâm chiếm nàng và không rời nàng nữa. Hôm sau nàng chết, bề ngoài có vẻ không đau đớn lắm.

XVI

Saverni tới ba ngày sau khi cất đám nàng. Sự đau đớn của chàng có vẻ chân thành và mọi người dân làng đều rơi nước mắt khi thấy chàng đứng trong nghĩa địa ngắm nấm đất mới phủ trên quan tài vợ. Lúc đó chàng muốn cất mộ và đem về Pari; nhưng vì ông xã trưởng phản đối và ông chưởng khế nêu ra những thể thức vô tận, nên chàng đành chịu, đặt làm một tấm bia bằng thứ đá vôi thật mịn và sai xây một ngôi mộ giản dị nhưng tươm tất.

Satôfo rất xúc động về cái chết đột ngột đến thế. Anh ta từ chối không dự nhiều cuộc dạ hội khiêu vũ và trong một thời gian người ta thấy anh ta chỉ bận đồ đen.

XVII

Trong xã hội thượng lưu, người ta kể nhiều về cái chết của Saverni phu nhân. Theo người này thì nàng đã nằm mộng, hoặc có linh cảm cũng được, thấy mẹ nàng ốm. Nàng xúc động đến nỗi nàng lên đường đi Nixơ ngay lập tức mặc dầu đang bị cảm nặng từ khi ở nhà bà Lambe về, và bệnh cảm hàn đó đã biến thành bệnh sưng phổi.

Nhiều người khác, sáng suốt hơn, nói quả quyết với vẻ bí mật rằng Saverni phu nhân, vì không thể ngăn nổi mối tình mà nàng cảm thấy đối với ông Satôfo, nên định đi đến bên mẹ tìm nghị lực để chống cự lại. Chứng cảm và sưng phổi là hậu quả của chuyến đi hấp tấp đó. Về điểm này, người ta đồng ý với nhau.

Đarxi không bao giờ nói đến nàng. Ba bốn tháng sau khi nàng chết, chàng thực hiện một cuộc hôn nhân có lợi. Khi chàng báo tin cưới vợ cho bà Lambe, bà chúc mừng chàng và nói: thực ra vợ ông rất đáng yêu và chỉ có Giuyli tội nghiệp của tôi mới có thể hợp với ông cũng như vậy. Tiếc thay cho nàng, ông lại nghèo quá khi nàng lấy chồng.

Đarxi mỉm nụ cười chua chát thường lệ của chàng, nhưng không trả lời gì cả.

Hai trái tim không hiểu nhau đó, có lẽ sinh ra để hợp với nhau.

« Lùi
Tiến »