Về phía bắc khu rừng bên kia sông, ngọn tháp Ma Thiên Lãnh đứng sừng sững từ hàng mấy trăm năm nay như bóng hình một con ác quỷ. Ngọn tháp đã hơi nghiêng vì dãi dầu nắng gió; những hòn gạch xanh rêu sụt xuống dần, nằm ngổn ngang trên đống cành lá mục.
Xưa kia, có một lão phù thủy già bị một lũ âm binh đuổi lạc đến rừng này, tới chân ngọn tháp thì vừa vặn tối. Lão xuống ngựa, vào ngồi nghỉ trong tháp. Chẳng may mệt mỏi ngủ chợp đi, rời tay bắt quyết, lão bị bọn âm binh vật chết tươi liền. Hồn lão phù thủy linh thiêng thường hiện lên tác quái. Bộ xương con ngựa và bộ xương lão dù đã lâu năm nhưng vẫn còn nguyên trong tháp. Nước mưa trên mái dột xuống đọng thành vũng lớn. Rắn rết độc bò lúc nhúc. Nhưng bên trong tháp không chỉ có bộ xương lão phù thủy và con ngựa mà còn bộ xương của một bà hoàng hậu.
Tục truyền có một bà hoàng hậu đời nhà Lý phạm tội tư thông với một viên quan. Để hành hình, nhà vua sai xây cái tháp ấy chôn sống hoàng hậu. Một toán lính canh giữ ngoài tháp đủ trăm ngày, chờ khi không còn nghe thấy tiếng hoàng hậu than khóc nữa chúng mới về tâu với vua rằng hoàng hậu đã tắt thở. Toán quân nhà vua vừa ra khỏi rừng sâu thì trong tháp đưa ra tiếng khóc vô cùng ai oán. Nhưng đó chỉ là tiếng khóc của một oan hồn. Tháp Ma Thiên Lãnh, những đêm trăng, có bóng một người đàn bà xõa tóc mặc xiêm y trắng ngồi quay về phía cung thành nhà vua, vái hai vái rồi ri rỉ khóc. Cái bóng ấy tan đi kể từ buổi tối lão phù thủy bị âm binh đánh chết. Hồn lão chỉ tác quái được ít lâu, cho tới một đêm giông tố, một tiếng sét đánh bật nóc ngôi tháp cổ. Oan hồn của người không còn nữa, tháp Ma Thiên Lãnh lại trở thành nơi tụ họp của những loài vật hóa thành tinh.
Giữa đêm vua và Hồ Quý Ly uống rượu trên sông Đà thì ở tháp Ma Thiên Lãnh, những loài tinh kia tụ tập nhau để bàn về sống chết. Trong bọn, có con cáo và con vượn là hai con tinh già ghê gớm, phép thuật cao cường có thể biến hoá ra người hoặc vật gì cũng được. Cáo và Vượn cho gọi các bạn tinh khác ở rải rác khắp núi rừng quanh đó. Một lát, bọn tinh đều đủ mặt.
Trên một tầng cao ngọn tháp Ma, các cú tinh vừa đập đá lấy lửa đốt cháy những cành nhựa thông sáng rực, khiến bóng những con gấu tinh lông cổ trắng như bông, con trăn tinh cuộn tròn nom rất hiền từ nhưng hai con mắt nhìn ranh mãnh và ở miệng nó lúc nào cũng tia ra một dòng lửa xanh lè in chập chờn lên bức tường rêu
Vượn tinh và Cáo tinh ngồi trên hòn đá cao, trên cả những con hổ tinh, báo tinh lông đỏ như nhuộm máu và mắt quắc lên như bó đuốc, bởi vì trong loài vật hóa tinh ở khu rừng này, kể về tuổi thọ thì chỉ có Cáo và Vượn là bậc già và khôn ngoan nhất mà thôi.
Chúng nói được tiếng người rất sõi, nguyên là do một hôm có một chàng nho sĩ qua rừng vào kinh thi, theo sau có một tên đầy tớ gánh hai hòm sách lớn. Vượn, Cáo đón đầu, bắt được chàng nho sĩ. Chúng ép chàng ở lại rừng, dạy chúng nói tiếng người, rồi dạy học cả chữ thánh hiền.
Người học trò ấy vốn bạo gan nên vui lòng ở trong rừng dạy chúng. Hơn mười năm dòng dã, bọn học trò tinh của chàng đã thông sử sách lầu lầu. Bọn trò đối với thầy rất là kính cẩn. Ngày thì chúng vẫn là hình vật cho khỏi trái lẽ trời; đêm chúng biến ra người, đốt lửa xúm quanh thầy nghe giảng sách như một trường học vậy.
Mỗi kỳ thi, thể nào chúng cũng cắt một vài con tinh hóa thành học trò vác lều chõng đi dự thí. Kỳ thi đầu tiên, Vượn tinh đỗ tú tài, Cáo tinh thì giật bảng nhỡn. Xem tên xong, Vượn và Cáo chờ đêm xuống tìm đến quán trọ của viên quan giám khảo, hiện thành học trò vái tạ ơn rồi biến đi ngay lúc đó. Viên quan trường thấy vậy sợ hết vía. Kỳ thi nào cũng vậy, không bao giờ không có cái trò ghê gớm ấy khiến cho các viên giám khảo ai nấy đều kinh hồn bạt vía.
Thấm thoát, chàng nho sĩ nọ đã phải ở rừng hai mươi năm có lẻ, râu mọc xồm xoàm, áo quần thì may bằng da ác thú. Ông chết vì bệnh mà cũng vì nhớ nhà. Chúng chôn cất cho thầy tử tế, và ấp mộ thầy, giữ lễ đủ một năm.
Giờ hãy kể tiếp cuộc họp hội đồng của loài tinh ở tháp Ma đêm ấy. Cáo tinh lên tiếng rằng:
- Vua tôi nhà Trần đem quân vào săn chỗ rừng này là chỉ chăm hại bọn ta, ví không có gió mưa thì chúng ta chẳng mắc đạn cũng bị tên rồi. Chúng ta phải tìm cách ra kêu với vua để vua đừng vào đây săn nữa. Chúng ta có thể hại nhà vua, nhưng thế là trái mệnh trời. Còn Hồ Quý Ly tuy bạo nghịch nhưng chưa tới ngày tận số.
Trăn tinh bàn:
- Mình ra, lỡ vua biết mình chăng?
Cáo tinh đáp:
- Ở đấy chỉ có Quý Ly là giỏi, nhưng sự học cũng chưa rộng, tất chưa thể nào biết được ta.
Vượn tinh chịu là phải, bèn hỏi ai dám đi chầu vua.
Hùm và báo tinh lên tiếng:
- Chúng tôi tuy mang tiếng là dũng mãnh, nhưng lý lẽ và khôn ngoan thì đâu bằng bác Cáo và bác Vượn. Vậy xin hai bác đi cho.
Cáo và Vượn tinh không từ chối, hóa ngay ra hai người nho sĩ khôi ngô tuấn tú. Con Vượn giả làm tú tài họ Viên, con cáo giả làm sử sĩ họ Hồ. Hai người xúng xính trong bộ áo thư sinh ra khỏi tháp Ma Thiên Lãnh. Bọn tinh kia dập tắt lửa, tiễn Cáo, Vượn đến cửa rừng rồi chúng nấp vào các gốc cây chờ tin tức. Hồ sử sĩ và Viên tú tài đội mưa gió đi lướt trên sóng nước sông Đà thoắt đã sang bên kia bờ, nhẹ như hai chiếc bóng.
Hai người đứng trên bờ, nghe ngóng. Bấy giờ quân lính đã ngủ yên, duy trong trướng lớn vua và Hồ Quý Ly còn đang dở tiệc. Viên tú tài nói với một tên lính trên bờ, bảo xuống mảng tâu với nhà vua có hai kẻ thư sinh muốn vào bái yiết. Vua cho gọi xuống mảng. Vào tới trướng, Hồ sử sĩ tâu:
- Chúng tôi là học trò cùng với một mẹ già trú ở túp lều bên kia núi, thấy nói nhà vua đi săn, vội bỏ đèn sách, đang đêm lặn lội đến đây để tâu với vua một vài câu. Trộm nghe, nhà vua có đức tốt thì những loài muông thú được thuận hòa. Bây giờ đương lúc thái bình, sao nhà vua chẳng kén kẻ hiền tài giúp nước trị dân, mà lại chăm việc săn bắn?
Vua đã quá say, muốn đi nghỉ, để Quý Ly ngồi tiếp.
Quý Ly mời hai người sang mảng của mình, nhưng đã bí mật dặn quân lính tuốt gươm phục sẵn bên ngoài trướng.
Quý Ly mời hai người ngồi, rồi nói rằng:
- Việc săn bắn cũng là phép đời xưa, rất chi thường, sao nên bỏ.
Viên tú tài đáp:
- Trình quan lớn, đời xưa vua đi săn là lúc dân làm ruộng xong rồi, trước là đuổi những con tê, con tượng khỏi làm hại dân, sau thì tập võ. Nay đương mùa dân có dịch hạch mà để dân thêm sợ sệt là không phải thì; giẫm nát lúa để bắt loài vật là không phải chốn; tát cạn đầm, đốt cháy núi là không phải lễ. Sao quan lớn chẳng can vua trở về, để người vật cùng được bình yên?
Quý Ly ngẫm nghĩ một lát, bèn rằng:
- Ta nghe nói trong rừng kia có một ngọn tháp cổ, trên nóc tháp đêm đêm có yêu khí bốc lên trời. Có kẻ đạo sĩ lại nói chắc rằng trong tháp ấy có con Cáo và con Vượn già thành tinh, cho nên muốn săn trừ nó đi, để nó khỏi quấy dân, chứ không cốt gì săn bắn.
Hồ sử sĩ và Viên tú vài nghe nói thì trông nhau mủm mỉm cười.
Quý Ly hỏi:
- Cớ sao mà cười vậy?
Hồ sử sĩ mới đáp bóng gió:
- Trình quan lớn, con sài, con lang đứng chắn đường, sao chẳng hỏi, mà lại đi hỏi con cáo, con vượn làm gì?
Quý Ly lại hỏi:
- Nhà ngươi nói thế là nghĩa làm sao?
Hồ sử sĩ đáp:
- Kìa! Quan lớn thử nhìn mà xem, giặc Bồng Nga như chó dại, cắn ở cõi đông nam; giặc Lý Anh bên Tàu đòi mượn đất ta để kéo quân diệt Chiêm Thành, như hổ đói kêu ở phương tây bắc, vậy mà nhà vua chẳng xét đến, cứ chăm chăm những việc săn bắn mãi ru. Dẫu được cầm thú chất cao bằng núi thì chúng tôi thực cũng không dám khen!
Giọng lưỡi của hai người rất hoạt bát, và lý thì rất thuận. Quý Ly cười, thét quân bày tiệc rượu mời. Lại hứa can vua bỏ cuộc săn.
Hai người uống sau rồi từ tạ xin về.
Lúc đứng dậy, Quý Ly thoáng nhận thấy những nạm lông trắng ở cổ áo hai người thò ra, và ở dưới gấu áo có cái đuôi dài lê thê, ve vẩy, Quý Ly trước còn ngờ mình say rượu, sau thấy tình nghi bèn mật sai một tên lính lặn dưới nước đi thăm dò xem.
Tên lính lặn dưới nước nghe thấy tiếng chân hai người ấy bước trên đầu mình, đã lấy làm lạ. Lặn được sang bờ bên kia sông Đà, vừa ngoi đầu lên khỏi sóng, thấy hai người ấy hóa ra một con cáo, một con vượn, chạy vun vút vào rừng thì hắn kinh hồn thất đảm. Hắn tức tốc chạy về trình, Quý Ly nghe sợ lắm. Hôm sau họ Hồ tâu vua, xin đem quân về Hoàng thành ngay.
Sau cuộc đi săn đó trở về, nhà vua càng thêm buồn rầu, chán nản. Thượng hoàng Nghệ Tôn thì u mê, mỗi ngày thêm tin dùng Quý Ly. Vua tính mưu giết kẻ gian nghịch. Hồ biết bèn tâu với Thượng hoàng truất bỏ và giết nhà vua đi, rồi lập Thuận Tôn lên. Hồ đem con gái là Thánh Bảo tiến làm hoàng hậu.
Nghệ Tôn lúc sắp chết, nghĩ đến việc giết vua con thì lấy làm hối hận và bấy giờ mới biết Hồ nguy hiểm, nhưng đã muộn, bèn khuyên Hồ nên hết lòng giúp nước.
Đợi sau khi Nghệ Tôn băng hà, Hồ bèn ép Thuận Tôn dời đô vào Thanh Hóa, bức phải truyền ngôi cho con nhỏ. Hồ tự xưng là Quốc tổ Chương Hoàng. Được hai năm, Hồ cướp ngôi vua. Ở ngôi một năm, lại truyền cho con đẻ là Hồ Hán Thương. Sau đó, bảy năm trời trong triều thì các quan sợ sệt, bên ngoài thì muôn dân nhao nhác lầm than.
Bấy giờ bên Tàu, nhà Minh thấy tình thế nước ta nát bét rối bời như vậy bèn cất quân sang cướp. Tướng nhà Minh là Trương Phụ, Liễu Thăng muốn cho lòng dân quy phục mới lập kế thảo một bài hịch dán khắp nơi. Lại viết lên những chiếc thẻ gỗ thả xuống các dòng sông cho trôi về tới kinh thành, trong hịch giả mượn danh nghĩa giúp nhà Trần, lấy lại ngôi báu. Bởi vậy, mọi người mới dần dần chán ghét họ Hồ, quay về hàng phục quân Minh cả.
Cha con Hồ yếu thế, chạy mãi vào đất Nghệ An. Tướng Minh theo đuổi riết. Tàn quân của Hồ chết dần mòn, sau cùng bỏ chơ vơ hai cha con Hồ, chúng kéo nhau đi trốn. Đằng sau thì giặc đuổi, cha con Hồ cùng quá, dắt nhau chui vào một bụi lau sậy um tùm trên một lạch nước bùn lầy. Lúc đó trời tối nhá nhem, quân Tàu chia nhau đi sục sạo tìm các bụi cây mà không thấy. Trương Phụ suỵt chó tìm. Chó chạy đến bờ lau sậy đánh hơi. Một toán quân xăm xăm ùa tới…