SUỐT MẤY THÁNG VỪA Rồi, chú Silas rất bận. Chú rời khỏi nghĩa địa hàng bao nhiêu ngày, thậm chí là hàng tuần liền không về. Vào dịp Giáng sinh, cô Lu- pescu đến ở ba tuần thế chỗ chú, và Bod đã ăn cùng cô trong căn hộ nhỏ của cô ở khu Phố Cổ. Cô còn đưa nó đi xem bóng đá đúng như chú Silas đã hứa, nhưng rồi cô lại quay về cái nơi mà cô gọi là "Cố Hương," sau khi bẹo má Bod và gọi nó là Nimini, cái biệt danh mà cô đã âu yếm đặt cho nó.
Giờ thì chú Silas đã vắng mặt, cả cô Lupescu cũng không còn ở đây nữa. Ông bà Owens đến ngồi ở bên mộ của Josiah Worthington nói chuyện với ngài Nam tước. Cả ba người đều không vui chút nào.
Josiah Worthington hỏi, "Ông bà định nói là anh ta không cho ông bà biết anh ta đi đâu hay là ai sẽ trông nom thằng bé à?"
Hai vợ chồng nhà Owens lắc đầu, và Josiah Worthington kêu lên, "Anh ta đã biến đi đâu mới được chứ?"
Nhà Owens không biết trả lời thế nào. Ông Owens nói, "Anh ấy chưa bao giờ đi lâu đến thế này. Và anh ấy đã hứa, khi chúng tôi nhận nuôi thằng bé, anh ấy đã hứa sẽ có mặt ở đây hoặc sẽ cử ai đó đến thay để giúp chúng tôi chăm sóc nó. Anh ấy đã hứa cơ mà."
Bà Owens thì bảo, "Tôi e có chuyện xảy ra với anh ấy rồi." Bà nom như sắp khóc đến nơi, nhưng rồi những giọt nước mắt của bà chuyển thành nỗi giận dữ, và bà nói, "Anh ấy cư xử thế này thì thật quá lắm! Không có cách nào để tìm anh ấy hay gọi anh ấy về hay sao?"
"Tôi không biết cách nào cả," Josiah Worthington nói. "Nhưng tôi tin anh ta đã để lại tiền trong hầm mộ để mua thức ăn cho thằng bé."
"Tiền ấy à!" bà Owens kêu lên. "Tiền thì có ích gì cơ chứ?"
"Bod sẽ cần có tiền nếu nó định đi ra ngoài mua thức ăn," ông Owens mở miệng, nhưng bà Owens lại quay ngoắt sang trách cứ ông.
"Hai người cũng tồi tệ chẳng kém gì nhau!" bà bảo. Bà rời khỏi mộ của Nam tước Worthington đi tìm con trai. Đúng như đã đoán, bà tìm thấy nó đang ngồi trên đỉnh đồi, nhìn xuống thành phố bên dưới.
"Nếu con cho mẹ biết con đang nghĩ gì mà mê mải thế, thì mẹ sẽ cho con một xu," bà Owens nói.
"Mẹ có một xu đâu," Bod đáp. Nó đã mười bốn tuổi rồi, và cao hơn cả mẹ nó.
"Mẹ có hai xu ở trong áo quan ấy” bà Owens nói. "Có lẽ giờ đã rỉ xanh cả rồi, nhưng chúng vẫn còn đó." ( Theo phong tục thời xưa ở các nước phương Tây, người ta thường đặt haỉ đồng xu lên mắt người chết trước khi chôn, để trả tiền cho người lái đò khi đi vào âm phủ).
"Con đang nghĩ về thế giới” Bod nói. "Làm sao chúng ta có thể biết chắc kẻ đã giết gia đình con vẫn còn sống? Rằng hắn vẫn đang ở đâu đó ngoài kia?"
"Chú Silas nói hắn vẫn đang đi tìm con," bà Owens đáp.
"Nhưng chú Silas chẳng cho chúng ta biết thêm gì."
Bà Owens nói, "Chú ấy chỉ muốn điều tốt nhất cho con thôi. Con biết thế mà."
"Con biết ạ," Bod dửng dưng trả lời. "Thế chú ấy đi đâu rồi?"
Bà Owens không đáp.
Bod hỏi, "Mẹ đã nhìn thấy người giết gia đình con phải không? Vào cái hôm mẹ nhận nuôi con ấy."
Bà Owens gật đầu.
"Trông hắn như thế nào ạ?"
"Mẹ chỉ để mắt đến con thôi. Để mẹ nhớ xem nào... hắn có mái tóc sẫm màu, gần như đen. Và mẹ thấy rất sợ hắn. Hắn có bộ mặt sắc sảo. Hắn có vẻ vừa giận dữ vừa thèm khát. Chú Silas đã đuổi hắn đi."
"Tại sao chú Silas không giết hắn luôn?" Bod dữ dằn hỏi. "Lẽ ra chú ấy nên giết hắn luôn lúc ấy mới phải."
Bà Owens đặt bàn tay lạnh ngắt lên tay Bod. Bà nói, "Chú ấy không phải quỷ dữ, Bod à."
"Nếu lúc ấy chú Silas giết hắn thì giờ con đã được an toàn rồi. Con có thể đi khắp nơi tùy thích."
"Chú Silas biết về những chuyện ấy rõ hơn con, rõ hơn tất cả chúng ta nhiều. Và chú Silas biết cả về cuộc sống cũng như cái chết nữa” bà Owens nói. "Mọi việc không đơn giản như vậy đâu”
Bod hỏi, 'Tên hắn là gì? Kẻ đã giết gia đình con ấy."
"Lúc ấy hắn không nói."
Bod nghiêng đầu sang một bên và nhìn bà bằng cặp mắt xám dữ dội như một đám mây giông. "Nhưng mẹ biết tên hắn, phải không ạ?"
Bà Owens bảo, "Con không thể làm gì được đâu, Bod à."
"Có chứ ạ. Con có thể học tập. Con có thể học tất cả mọi thứ con cần biết, tất cả mọi thứ con có thể học. Con đã học về cánh cổng của quỷ nhập tràng. Con đã học cách Mộng du. Cô Lupescu đã dạy con quan sát các vì sao. Chú Silas đã dạy con cách im lặng. Con biết phép Ám ảnh. Con biết phép Tàng hình. Con biết rõ từng xen ti mét trong cái nghĩa địa này."
Bà Owens đưa tay ra chạm vào vai đứa con trai. "Một ngày kia," bà nói... rồi bà ngập ngừng. Một ngày kia bà sẽ không thể chạm vào nó được nữa. Một ngày kia nó sẽ rời bỏ họ. Một ngày kia. Và bà nói, "Chú Silas bảo với mẹ rằng kẻ đã giết gia đình con tên là Jack."
Bod không nói gì. Rồi nó gật đầu. "Mẹ ơi?"
"Gì thế, con trai?"
"Khi nào chú Silas mới quay về ạ?"
Một làn gió đêm lạnh buốt thổi từ phương Bắc tới.
Bà Owens không còn thấy giận dữ nữa. Bà thấy lo sợ cho con trai. Bà chỉ nói, "Giá mà mẹ biết được, cưng à, giá mà mẹ biết được."
º º º
Scarlett Amber Perkins đã mười lăm tuổi, và lúc này đây, khi đang ngồi ở tầng trên của chiếc xe buýt hai tầng cổ lỗ, trong lòng cô bé tràn ngập một nỗi căm ghét phẫn nộ. Cô ghét bố mẹ vì đã bỏ nhau. Cô ghét mẹ mình vì đã rời khỏi Scotland, ghét bố mình vì dường như ông chẳng thèm bận tâm đến việc cô không còn ở đó nữa.
Cô ghét cái thành phố này vì nó khác biệt quá thể - chẳng có gì giống với Glasgow, nơi cô đã lớn lên - và cô ghét nó vì thỉnh thoảng, khi vòng qua một ngả rẽ, cô lại trông thấy một cái gì đó khiến cho khung cảnh xung quanh mình trở nên quen thuộc đến se lòng, quen thuộc đến đáng sợ.
Sáng hôm đó, Scarlett không còn chịu nổi nữa và đã nổi giận với mẹ mình. "ít ra thì ở Glasgow con cũng có bạn!" cô bé nói, không hẳn là hét lên mà cũng không hẳn là nức nở. "Con sẽ không bao giờ được gặp lại các bạn ấy nữa!" Mẹ cô đã chỉ đáp lại thế này, "ít ra thì con cũng chuyển đến một nơi con đã biết từ trước. Ý mẹ là, nhà mình đã từng sống ở đây khi con còn nhỏ mà."
"Nhưng con có nhớ gì đâu” Scarlett nói. "Con chẳng quen ai ở đây cả. Mẹ có muốn con đi tìm lại những người bạn cũ từ hồi con lên năm không? Mẹ
muốn thế phải không?"
Và mẹ cô trả lời, "Mẹ có círn COÍÌ dflu«##
Cả ngày hôm ấy ở trường, Perkins đã tức giận vô cùng, và giờ cô bé vẫn còn tức giận, cô ghét trường mới, cô ghét thế giới này, và lúc này đây cô đặc biệt ghét dịch vụ xe buýt của thành phố.
Hàng ngày, sau khi tan trường, chiếc xe buýt số 97 đi về Trung tâm Thành phố sẽ đưa cô từ cổng trương về đến tận cuối con phố nơi mẹ cô đã thuê một căn hộ nhỏ. Nhưng vào cái ngày tháng Tư lồng lộng gió ấy, cô bé đã đợi ở bến xe buýt suốt gần nửa tiếng đồng hồ mà chẳng có chiếc xe số 97 nào hiện ra ả, vì thế khi trông thấy một chiếc xe số 121 với chữ Trung tâm Thành phố đề trên điểm dừng cuối cùng, cô trèo lên ngay. Nhưng ở chỗ chiếc xe buýt của cô thường rẽ phải thì chiếc này lại rẽ trái, đi vào khu Phố cổ, ngang qua công viên ở quảng trường Phố Cổ, ngang qua bức tượng Nam tước Josirth Worthington, rồi đi ngược Iên một con đường đồi uốn lượn, hai bên là những ngôi nhà hẹp cao tầng, trong khi tim Scarlett thót lại và nỗi giận dữ trong trong cô được thay thế bởi một cảm giác khó thở.
Cô đi xuống tầng dưới, cẩn thận tiến về phía trước, liếc mắt nhìn tấm biển báo rằng không được phép nói chuyện với người lái xe trong khi xe đang chạy, rồi lên tiếng, "Xin lỗi bà. Cháu muốn đi về đại lộ Acacia ạ."
Bà lái xe, một phụ nữ to béo, da còn nâu sẫm hơn cả Scarlett, nói, "Thế thì cháu phải lên xe số 97 chứ."
"Nhưng xe này đi về Trung tâm Thành phố mà."
"Đúng thế. Nhưng đến đó rồi cháu vẫn phải đi ngược trở lại." Bà ta thở dài. "Tốt hơn hết là cháu nên xuống ở đây, đi xuống chân đồi, ở trước tòa thị chính có một bến đỗ đấy. Từ đó cháu lên xe số 4 hoặc số 58, cả hai xe đó đều đưa cháu đến gần đại lộ Acacia. Cháu có thể xuống ở chỗ trung tâm thể thao, rồi đi bộ ngược lên.
Cháu nhớ được không?"
“Xe số 4 hoặc số 58 ạ."
'Ta sẽ cho cháu xuống đây." Đó là một bến nơi xe buýt chỉ đỗ lại nếu có khách, nằm gần một chiếc cổng với hai cánh cổng sắt mở toang, trông tiêu điều và thê lương vô cùng. Scarlett đứng chần chừ ở cửa xe cho đến khi bà lái xe phải giục, "Nào. Xuống đi, cháu” Cô bé bước xuống vỉa hè, và chiếc xe nhả khói đen xì rồi gầm rú lao đi.
Gió thổi xào xạc giữa những cành cây ở phía bên kia bức tường.
Scarlett bắt đầu xuống đồi - đây chính là lý do mình cần có điện thoại di động, cô tự nhủ. Chỉ cần cô bé về muộn năm phút thôi là mẹ cô đã phát hoảng lên rồi, nhưng mẹ vẫn không chịu mua cho cô một chiếc điện thoại riêng. Thôi, biết làm sao được. Cô sẽ phải chịu một trận la mắng nữa vậy. Đây đâu phải lần đầu tiên, và cũng chẳng phải là lần cuối cùng.
Giờ thì cô bé đã ở ngang tầm với hai cánh cổng để ngỏ kia. Cô liếc mắt nhìn vào, và rồi...
"Lạ thật” cô bé buột miệng nói.
Có một từ trong tiếng Pháp, déja vu , được dùng để miêu tả cái cảm giác là ta đã từng đến một nơi nào đó, bằng một cách nào đó ta đã mơ thấy nơi này, hoặc nhìn thấy ở trong tâm trí. Scarlett rất hay có cái cảm giác ấy, cảm giác khi biết rằng cô giáo sắp sửa nói với cả lớp là cô sẽ đi nghỉ ở Invernoss, hay nhận ra rằng người vừa đánh rơi cái thìa nọ trước kia đã từng đánh rơi thìa y hệt như thế, nhưng cái này lại khác hẳn. Nó không phải cảm giác trước kia cô bé đã từng đến đây. Cô đã từng đến đáy thật
Scarlett bưức qua hai cánh cổng để ngỏ, tiến vào nghĩa địa.
Một con chim ác là bay vụt lên khi cô bé bước vào, bộ lông trắng đen có ánh xanh vụt qua như một tia chớp, rồi nó đậu xuống một cành thủy tùng để quan sát cô bé.
Đằng sau góc quanh kia , cô nghĩ thầm, có một nhà thờ ; với một chiếc ghế dài đặt ở đằng tr ư ớc , rồi cô vòng qua góc quanh, và trông thấy một nhà thờ thật - nhỏ hơn nhiều so với cái nhà thờ trong trí tưởng tượng của cô, một tòa nhà nhỏ vuông vắn bằng đá xám xây theo kiến trúc Gô tích, trông rờn rợn, với một cái mái nhọn nhô lên. Đằng trước nhà thờ là một chiếc ghế băng đã cũ vì dầm mưa dãi nắng. Scarlett đi đến đó, ngồi xuống ghế và đu đưa chân như mội cô bé con.
"Xin chào. Ờ, xin lỗi cháu?" một giọng nói vang lên sau lưng cô. "Tôi biết hỏi thế này thì thật đường đột, nhưng chảu có thể giúp tôi giữ cái này được không, ờ, chỉ cần thêm một đôi tay nữa thôi, nếu không quá phiền đến cháu."
Scarlett quay lại, và nhìn thấy một người đàn ông mặc áo mưa màu vàng nâu đang quỳ lom khom trước một tấm bia mộ. Ông ta đang giữ một tờ giấy khổ rộng, bị gió thổi bạt đi. Cô bé vội chạy đến chỗ ông ta.
"Cháu giữ chắc chỗ này nhé” người đàn ông nói. "Một tay để đây, một tay để đây, đúng rồi. Tôi thật là hay đòi hỏi quá đáng phải không. Cảm ơn cháu nhiều lắm”
Bên cạnh ông có một hộp bánh quy bằng thiếc, và ông lấy từ trong hộp ra một thỏi phấn màu cỡ bằng một cây nến nhỏ. Ông dùng thỏi phấn xoa qua lại trên bề mặt tấm bia bằng những động tác thành thạo, thoải mái.
"Được rồi," ông vui vẻ reo lên. "Hiện ra rồi đây... ui. Ở dưới góc này có cái gì ngoằn ngoèo này, tôi đoán là dây thường xuân - người thời Victoria rất thích chạm trổ dây thường xuân, có rất nhiều ý nghĩa tượng trưng, cháu biết không... và xong rồi. Cháu có thể bỏ tay ra được rồi đấy."
Ông đứng dậy, đưa tay cào cào mớ tóc đã ngả bạc. "Ui da. Phải đứng lên một tí mới được. Chân tê hết cả rồi” ông nói. "Đây. Cháu thấy thế nào?"
Tấm bia mộ thật đã bị phủ đầy địa y xanh vàng, những chữ khắc trên đó bị bào mòn và mờ đi đến độ gần như không đọc nổi, nhưng hình tô lại trên tờ giấy thì nổi lên rõ ràng. "Majella Godspeed, Người phụ nữ độc thân của giáo khu, 1791-1870, Chỉ còn lại trong ký ức ," Scarlett đọc to.
"Và giờ thì có lẽ cả trong ký ức cũng không còn," người đàn ông nói. Đầu ông đã bắt đầu hói, và ông rụt rè mỉm cười rồi chớp mắt nhìn cô bé qua cặp kính tròn,
nhỏ, làm ông nom như một bác cú thân thiện.
Một giọt mưa to rơi "độp" xuống tờ giấy và người đàn ông vội vã cuộn tờ giấy lại rồi chộp lấy cái hộp thiếc dựng phấn màu của mình. Thêm mấy hạt mưa nữa, và Scarlett vội nhặt chiếc cặp giấy mà người đàn ông chỉ, đang đặt dựa vào một tấm bia gần đó, rồi chạy theo ông vào dưới hàng hiên nhỏ xíu của nhà thờ, nơi mưa không bắn tới được.
"Cảm ơn cháu rất nhiều," người đàn ông nói. "Tôi nghĩ mưa sẽ không kéo dài đâu. Dự báo thời tiết nói chiều nay nắng mà."
Như để vặc lại lời ông, một cơn gió lạnh buốt nổi lên và mưa rào rào đổ xuống.
"Tôi biết cháu đang nghĩ gì rồi," người đàn ông tô bia mộ nói với Scarlett.
"Thật ạ?" cô bé hỏi lại. Cô vừa mới nghĩ, Mẹ sẽ giết mình mất.
"Cháu đang nghĩ, đây là nhà thờ hay là nhà tang lễ, phải không? Và câu trả lời là, theo như tôi biết, thì ở nơi này đúng là đã có một nhà thờ nhỏ, và khu nghĩa địa trước kia nằm trong sân của nhà thờ đó. Đó là từ năm 800 hoặc 900 kia. Nó đã được sửa lại và mở rộng rất nhiều lần. Nhưng vào khoảng những năm 1820, ở đây xảy ra một đám cháy, và đến lúc đó thì nhà thờ đã trở thành quá nhỏ đối với vùng này. Người dân quanh đây dùng nhà thờ Thánh Dunstan ở dưới quảng trường làng làm nhà thờ cho giáo xứ, vì vậy sau khi sửa lại nhà thờ này, họ liền dùng nó làm nhà tang lễ, và giữ lại khá nhiều nét kiến trúc cũ. Người ta nói những cửa sổ kính màu ở bức tường đằng kia đã có từ khi nhà thờ mới được xây cơ đấy..."
'Thật ra, cháu đang nghĩ là mẹ sẽ giết cháu mất” Scarlett nói. "Cháu đã lên nhầm xe buýt, và đã bị muộn giờ về nhà lắm rồi..."
"Chúa ơi, tội nghiệp cháu” người đàn ông nói. "Nghe này, nhà tôi ở ngay dưới kia thôi. Cháu đợi ở đây nhé..." Nói đoạn ông giúi chiếc cặp giấy, hộp phấn màu cùng với tờ giấy cuộn tròn vào tay cô bé, rồi chạy xuống chỗ cánh cổng, hai vai so lại bên dưới màn mưa nặng hạt. Mấy phút sau, Scarlett nhìn thấy ánh đèn ô tô và nghe tiếng còi xe vang lên.
Scarlett chạy xuống chỗ cổng và trông thấy chiếc xe, một chiếc Mini màu xanh lục cũ kỹ. Người đàn ông mà cô bé vừa trò chuyện đang ngồi trên ghế tài xế. Ông hạ cửa sổ xuống.
"Cháu vào đi," ông nói. "Nhà cháu ở đâu?"
Scarlett đứng đó, nước mưa chảy ròng ròng xuống cổ. "Cháu không đi nhờ xe người lạ," cô bé đáp.
"Cháu làm thế là rất đúng” người đàn ông nói. "Nhưng làm ơn thì phải được đền đáp, hay đại loại như thế. Đây, cháu bỏ các thứ đó vào ghế sau này, không thì ướt hết mất." Ông mở cửa sau ra, và Scarlett cố nhoài người vào để đặt các dụng cụ tô bia mộ của ông lên ghế sau. "Hay là thế này nhé” ông nói. "Sao cháu không gọi điện cho mẹ cháu - cháu có thể dùng điện thoại của tôi đây - và cho mẹ cháu biết biển số xe của tôi? Cháu vào trong xe mà gọi. Cháu cứ đứng ngoài ấy, ướt hết rồi kìa."
Scarlett chần chừ. Mưa đã làm tóc cô dính bết xuống, Trời rất lạnh.
Người đàn ông chìa tay ra đưa cho cô bé chiếc điện thoại di động của mình. Scarlett nhìn cái điện thoại. Cô nhận ra rằng mình sợ phải gọi điện cho mẹ hơn là sợ phải bước vào trong chiếc xe ấy. Rồi cô hỏi, "Cháu có thể gọi cả cảnh sát nữa chứ ạ?"
"Tất nhiên là được rồi. Hoặc cháu có thể đi bộ về nhà. Hoặc cháu có thể gọi cho mẹ và bảo mẹ đến đây đón cháu."
Scarlett ngồi vào cạnh ghế tài xế và đóng cửa lại. Cô vẫn nắm chặt chiếc điện thoại của người đàn ông trong tay.
"Nhà cháu ở đâu?"
"Không cần đâu ạ. Chú cứ đưa cháu đến bến xe buýt là được rồi ạ..”
'Tôi sẽ đưa cháu về nhà. Địa chỉ là gì nào?"
"102a đại lộ Acacia ạ. Nó nằm ngoài đường chính, cách trung tâm thể thao một quãng..."
"Cháu đã đi xa thật đấy, phải không nào? Được rồi. Để tôi đưa cháu về nhà nào." Ông bỏ phanh tay xuông, vòng chiếc xe lại và lái xuống đồi.
"Cháu sống ở đây đã lâu chưa?" ông hỏi.
"Chưa ạ. Mẹ con cháu mới chuyển đến đây ngay sau Giáng sinh. Nhưng nhà cháu đã ở đây hồi cháu năm tuổi”
'Tôi nghe giọng cháu có chút giống giọng người Scotland thì phải?"
"Nhà cháu đã ở Scotland mười năm liền. Khi ở đấy, giọng cháu nghe giống như tất cả mọi người khác, thế rồi cháu chuyển xuống đây, và bây giờ thì cháu cứ nổi lên như là một ngón tay bị đau ấy." Cô muốn nói câu ấy một cách đùa cợt, nhưng khi nghe giọng mình, cô biết đó là sự thật. Giọng nói của cô chẳng có vẻ buồn cười chút nào, chỉ đầy chua chát mà thôi.
Người đàn ông lái xe đến đại lộ Acacia, đỗ lại trước cửa nhà, rồi nhất định đi cùng cô đến cửa trước. Khi cửa mở ra, ông nói, "Rất xin lỗi chị. Tôi đã mạn phép đưa cháu nhà chị về đây. Chị đã dạy cháu rất đúng, không được đi nhờ xe người lạ. Nhưng trời thì đang mưa, cháu lên nhầm xe buýt, và bị lạc đến tận đầu kia của thành phố. Quả là rắc rối vô cùng. Xin chị hãy rộng lòng tha thứ. Tha thứ cho cháu. Và, ờ, cả tôi nữa!"
Scarlett tưởng mẹ mình sẽ quát tháo cả hai người, nhưng cô bé vừa ngạc nhiên vừa nhẹ cả người khi mẹ chỉ nói rằng, "Ngày hôm nay thì không thể tỏ ra quá thận trọng được, rồi hỏi ông Ờ có phải là thầy giáo không, và ông có muốn vào nhà uống một tách trà không?
Ông Ờ đáp lại rằng tên ông là Frost, nhưng cứ gọi ông là Jay, và bà Perkins mỉm cười bảo ông cứ gọi bà là Noona, rồi bà đặt ấm đun nước.
Trong lúc uống trà, Scarlett kể cho mẹ nghe chuyện mình đã lên nhầm xe buýt, và rồi cô bé đã đi vào khu nghĩa địa và gặp ông Frost ở cạnh ngôi nhà thờ nhỏ...
Bà Perkins đánh rơi tách trà trong tay.
Họ đang ngồi quanh cái bàn trong bếp, vì vậy cái tách không rơi xa lắm, và cũng không bị vỡ, chỉ đánh đổ trà ra sàn thôi. Bà Perkins lúng túng xin lỗi, rồi đi lấy một cái giẻ từ trong bồn rửa để lau chỗ nước trà bị đổ.
Rồi bà hỏi, "Cái nghĩa địa trên đồi, gần khu Phố Cổ ấy à? Là cái nghĩa địa ấy phải không?"
"Tôi sống gần đó” ông Frost đáp. "Tôi hay lên đó tô lại bia mộ. Và chị có biết đó thực ra là một khu bảo tồn thiên nhiên không?"
Bà Perkins đáp, 'Tôi biết," qua đôi môi mím chặt. Rồi bà nói, "Cảm ơn anh vì đã đưa Scarlett về nhà, anh Frost." Mỗi lời bà thốt ra tựa như một cục băng. Bà nói tiếp, "Tôi nghĩ là anh nên về thôi."
"Tôi lại nói nhiều quá rồi” ông Frost thân mật đáp lại. "Tôi không chủ tâm làm chị phật ý. Tôi đã nói gì không phải ư? Chuyện tô bia mộ chỉ là cho một đề án về lịch sử địa phương thôi mà, tôi không, ờ, đào xương cốt gì lên đâu"
Trong một khoảnh khắc, Scarlett tưởng như mẹ mình sắp giáng một cái tát lên mặt Ông Frost, còn ông Frost thì đang tỏ ra rất lo lắng. Nhưng bà Perkins chỉ lắc đầu và nói, "Xin lỗi, đó là chuyện riêng của gia đình. Không phải lỗi của anh” Rồi, như thể phải cố gắng lắm, bà mới vui vẻ nói thêm, "Anh biết không, chính Scarlett hồi còn bé vẫn hay chơi trong cái nghĩa địa ấy đấy. Đã, bao lâu nhỉ, mười năm nay rồi. Nó còn có cả một người bạn tưởng tượng ở đó nữa. Một thằng bé tên là Không Ai Cả."
Một nụ cười hiện lên ở khoé miệng ông Frost. "Một chú ma à?"
"Không, tôi không nghĩ thế. Cậu bé chỉ sống ở đó thôi. Con bé còn chỉ ra ngôi mộ nơi cậu bé ở nữa. Tôi đoán có lẽ đó là một cậu ma thật. Con còn nhớ không,
Searlett lắc đầu. "Chắc hồi ấy con kỳ quặc lắm nhỉ," cô bé nói.
"Tôi dám chắc là cháu không như thế, ờ, không đâu” ông Frost nói. "Chị có một cô con gái rất ngoan, chi Noona ạ. Cảm ơn chị đã mời tôi uống trà. Rất vui khi được làm quen với một người bạn mới. Tôi phải đi đây. Tôi phải về nhà nấu bữa tối, để rồi còn đi họp ở Hội Lịch sử Địa phương nữa."
"Anh phải tự nấu bữa tối à?" bà Perkins hỏi.
"Vâng, tự nấu. Hay đúng hơn là làm rã đông. Tôi còn rất giỏi chế biến các món ăn liền nữa. Các món cho một người ăn ấy. Chỉ có một mình tôi thôi mà. Tôi gần như một ông già độc thân cắn cảu. Đúng ra, theo như các báo viết, thì như thế có nghĩa là người đồng tính luyến ái, phải không? Tôi không đồng tính, chỉ có điều là chưa bao giờ gặp được người phụ nữ phù hợp thôi."
Và trong một thoáng, trông ông có vẻ hơi buồn.
Bà Perkins, vốn rất ghét nấu ăn, liền tuyên bố là vào cuối tuần bà thường nấu quá nhiều thức ăn, và khi bà dẫn ông Frost ra tiền sảnh, Scarlett nghe thấy ông vui vẻ nhận lời đến ăn tối vào ngày thứ Bảy.
Khi từ tiền sảnh quay vào, bà Perkins chỉ nói với Scarlett mỗi một câu, "Mẹ hy vọng con đã làm xong bài tập về nhà."
º º º
Đến đêm, khi nằm trên giường lắng nghe tiếng xe cộ ầm ì trên con phố chính, Scarlett vẫn còn nghĩ về những chuyện đã xảy ra chiều hôm đó. Thì ra cô đã từng đến đó, đến cái nghĩa địa ấy, khi cô còn nhỏ. Thảo nào mọi thứ lại có vẻ quen thuộc đến vậy.
Mãi tưởng tượng và nhớ lại, cô bé ngủ thiếp đi lúc nào không biết, nhưng trong giấc ngủ cô vẫn đang bước đi trên những lối mòn trong nghĩa địa. Đang là đêm, nhưng cô có thể trông thấy mọi thứ rõ như ban ngày. Cô đang ở trên một sườn đồi. Có một thằng bé trạc tuổi cô đang đứng quay lưng lại, nhìn xuống ánh sáng của thành phố bên dưới.
Scarlett hỏi, "Này, cậu đang làm gì thế?"
Thằng bé quay lại, nhưng phải mất một lúc mới tập trung được. "Ai hỏi đấy?" và rồi, "Ô, tớ trông thấy cậu rồi, nhưng hơi mờ. Cậu đang Mộng du ấy à?"
"Hình như tớ đang nằm mơ thật," cô đồng tình,
"Tớ không định nói thế” thằng bé bảo. "Xin chào. Tớ là Bod."
"Tớ là Scarlett” cô nói.
Thằng bé nhìn cô như thể mới trông thấy cô lần đầu tiên vậy. "Đúng là cậu rồi! Tớ biết là trông cậu quen lắm mà. Hôm nay cậu đã có mặt ở nghĩa địa với ngtiời đàn ông đó, cái ông cầm tờ giấy ấy."
"Chú Frost," cô đáp. "Chú ấy dễ chịu lắm. Chú ấy đã chở tớ về nhà đấy” Rồi cô hỏi, "Cậu đã trông thấy tớ và chú ấy à?"
"Ừ. Tớ luôn để mắt đến mọi việc diễn ra trong nghĩa địa mà."
"Nhưng Bod là cái tên gì mà lạ thế?"
''Tên tắt của Nobody, tức là Không Ai Cả."
"Đúng rồi!" Scarlett reo lên. "Thì ra là tớ đang mơ về chuyện này. Cậu là người bạn tưởng tượng của tớ hồi tớ còn nhỏ, giờ thì cậu đã lớn lên rồi."
Thằng bé gật đầu.
Nó đã cao hơn Scarlett. Nó mặc đồ màu xám, nhưng Scarlett không thể miêu tả cụ thể đó là những thứ quần áo gì. Mái tóc của nó hơi dài quá, và Scarlett nghĩ hẳn đã lâu rồi nó chưa được cắt tóc.
Thằng bé bảo, "Hồi ấy cậu rất can đảm. Bọn mình đã trèo xuống tít sâu trong lòng đồi và trông thấy Người Da Chàm. Và bọn mình còn gặp cả các Sát thủ nữa."
Đúng lúc ấy thì có một điều gì đó xảy ra trong đầu cô bé. Một tiếng ào ào vang lên, cô có một cảm giác như bị vấp ngã, rồi bóng tối cuộn xoáy cùng một loạt những hình ảnh vụt qua bao trùm lên tất cả...
"Mình nhớ ra rồi," Scarlett nói. Nhưng cô đã thốt ra câu ấy với bóng tối trống rỗng trong phòng mình, và chẳng nghe thấy tiếng nói nào đáp lại ngoài tiếng rầm rầm xa xăm của một chiếc xe tải đang phóng qua màn đêm.
º º º
Bod có khá nhiều thức ăn dự trữ, những thức ăn có thể để lâu được, một ít cất trong hầm mộ ở nhà thờ, và chỗ còn lại thì để trong những cái huyệt, hầm mộ và lăng có nhiều hơi lạnh. Chú Silas đã lo chuyện đó. Nó có đủ thức ăn cho vài ba tháng liền. Nó sẽ không rời khỏi nghĩa địa, trừ phi chú Silas hoặc cô Lupescu có mặt ở đó.
Nó nhớ cái thế giới bên ngoài hai cánh cổng nghĩa địa, nhưng nó biết ở ngoài ấy đối với nó là không an toàn. Chưa đến lúc. Còn ở đây, nghĩa địa này là thế giới của nó, lãnh thổ của nó. Nó rất tự hào và yêu nơi này với một tình yêu mà chỉ những chú bé mười bốn tuổi mới có được.
Thế nhưng...
Trong nghĩa địa, chẳng ai thay đổi. Những đứa trẻ mà Bod đã chơi cùng khi nó còn nhỏ bây giờ vẫn là trẻ con; Fortinbra Bartleby, trước kia vốn là bạn thân nhất của nó, giờ lại bé hơn Bod bốn hay năm tuổi, và mỗi lần gặp nhau chúng nói chuyện càng ngày càng ít đi; Thack- eray Porringer thì vốn đã bằng tuổi Bod bây giờ, cao bằng nó và đối xử với nó dễ chịu hơn hẳn; cậu ta thường đi dạo với Bod vào các buổi tối và kể cho nó nghe những chuyện không may đã xảy ra với bạn bè của cậu ta. Thường thường những câu chuyện ấy kết thúc với việc người bạn đó bị treo cổ cho đến chết vì những tội họ không gây ra, hoặc vì nhầm lẫn, nhưng cũng thỉnh thoảng họ chỉ bị đày sang các thuộc địa ở châu Mỹ và sẽ không bị treo cổ trừ phi họ mò về nước Anh.
Liza Hempstock, vốn đã là bạn của Bod suốt sáu năm qua, cũng thay đổi, nhưng theo một cách khác; cô rất ít khi có mặt ở khoảng đất đầy cây tầm ma mỗi khi Bod đi xuống đó để thăm cô; và trong những dịp hiếm hoi khi cô có ở đó thì thường tỏ ra cáu bẳn, nói chuyện như muốn cãi nhau, và nhiều khi cực kỳ bất lịch sự.
Bod kể chuyện ấy cho bố mình nghe, và sau một hồi ngẫm nghĩ, ông Owens nói, "Bố đoán đó chỉ là tâm tính phụ nữ thôi. Cô ấy đã quý mến con khi con còn là một chú nhóc, nhưng giờ con là một chàng trai rồi, nên có lẽ cô ấy không biết con đã trở thành người như thế nào. Hồi trước bố vẫn ngày ngày chơi đùa dưới ao với một cô bé con, cho đến khi cô bé khoảng bằng tuổi con bây giờ ấy, và rồi cô bé ném một quả táo vào đầu bố và không chịu nói với bố một câu nào cho đến tận khi bố mười bảy tuổi."
Bà Owens khịt mũi. "Tôi ném một quả lê đấy chứ” bà đanh đá đốp lại, "và tôi cũng chẳng đợi lâu đến thế để nói chuyện lại với ông, vì chúng mình đã nhảy với nhau một điệu ở đám cưới ông anh họ Ned của ông, và hôm ấy thì ông mới tròn mười sáu tuổi hai ngày."
Ông Owens đáp, 'Tất nhiên là bà nói đúng rồi, bà thân yêu ạ." Ông nháy mắt với Bod, ý bảo nó rằng chuyện này chẳng có gì là nghiêm trọng cả. Rồi ông thì thào "Mười bảy tuổi” để chứng tỏ rằng đó mới là sự thật.
Bod không cho phép mình có người bạn nào trong số những người sống cả. Trong những ngày đến trường ngắn ngủi của mình, nó đã học được rằng điều đó chỉ đem lại rắc rối mà thôi. Thế nhưng nó vẫn không quên Scarlett, hàng bao nhiêu năm sau khi cô bé chuyển đi nó vẫn nhớ cô bé, và từ lâu đã đối mặt với sự thật là nó sẽ không bao giờ gặp lại cô nữa. Vậy mà giờ đây, khi cô bé xuất hiện trong khu nghĩa địa của nó, nó lại không nhận ra cô...
Nó đang đi lang thang sâu hơn trong khoảng bụi rậm đầy cây cối và dây thường xuân vô cùng nguy hiểm ở góc Tây Bắc của nghĩa địa. Ở đó có những tấm biển cảnh báo người qua lại hãy tránh xa nơi đó, nhưng những tấm biển ấy là không cần thiết. Một khi đã đi quá đám dây thường xuân đánh dấu đoạn cuối Đường Ai Cập cùng những cánh cửa màu đen trên bức tường giả Ai Cập dẫn đến nơi an nghỉ cuối cùng của mọi người, ta sẽ lạc vào một vùng hoang vu rợn người. Ở phía Tây Bắc này, từ gần một trăm năm nay thiên nhiên đã giành lại đất của nghĩa địa, các tấm bia đã bị lật đổ, những ngôi mộ bị quên lãng hoặc đơn giản là bị phủ lấp bởi những dây thường xuân xanh rì cùng lớp lá đã rụng xuống suốt năm mươi năm. Các lối mòn cũng đã bị phủ kín và không thể đi qua được.
Bod bước đi hết sức cẩn thận. Nó biết rõ nơi này và nó cũng biết rõ nơi này nguy hiểm đến mức nào.
Năm Bod lên chín, nó đang thám hiểm ở đúng chỗ này thì mặt đất sụt xuống dưới chân, làm nó ngã nhào xuống một cái hố sâu gần sáu mét. Cái huyệt đã được đào sâu như vậy để giành chỗ cho nhiều cỗ quan tài, nhưng ở đó không có tấm bia nào, mà chỉ có một cỗ quan tài duy nhất ở dưới đáy huyệt; trong quan tài là một quý ông thích y học, lại dễ bị kích động, tên là Carstairs, ông ta có vẻ rất phấn khởi khi thấy Bod và cứ nằng nặc đòi khám cổ tay của nó (vì Bod lúc ngã xuống đã bám vào một rễ cây và bị trẹo tay), phải mất một lúc nó mới thuyết phục được ông ta gọi người đến giúp.
Bod đang tìm đường xuyên qua góc nghĩa địa phía Tây Bắc này, khoảng đất đầy lá rụng trơn trượt, dây thường xuân phủ dày, nơi đàn cáo đã kéo đến sinh sống, nơi những bức tượng thiên thần bị đổ đang nhìn lên bằng cặp mắt mờ đục, bởi vì nó muốn được nói chuyện với chàng Thi sĩ.
Tên của chàng Thi sĩ là Nehemiah Trot, và tấm bia trên mộ của chàng, nằm dưới lớp lá xanh, có khắc những chữ như sau:
Nơi đây an nghỉ thi hài của NEHEMIAH TROT THI SĨ 1741-1774 (THIÊN NGA CẤT TIẾNG HÁT TRƯỚC KHI CHẾT) Bod gọi, "Anh Trot ơi? Em xin anh một lời khuyên được không?"
Nehemiah Trot uể oải mỉm cười. "Tất nhiên rồi, cậu bé can đảm. Lời khuyên của các thi sĩ cũng giống như ơn huệ của các vị vua vậy! Tôi có thể bôi thuốc, không, không phải là bôi thuốc, tôi có thể xức đầu cho nỗi đau của cậu bằng cách nào đây?"
"Em không đau đớn gì đâu. Em chỉ - là thế này, có một cô bé em quen hồi trước, nhưng em không biết mình nên đi tìm và nói chuyện với bạn ấy, hay là nên quên chuyện này đi."
Nehemiah Trot đứng thẳng lên, vươn hết chiều cao của mình, nhưng vẫn thấp hơn Bod, xúc động đưa tay lên ngực, và nói, "Ôi! Cậu phải tìm gặp nàng, van xin nàng. Cậu phải gọi nàng là nữ thần Terpsichore, là nàng tiên Echo, là nàng Clytemnestra của cậu. Cậu phải làm thơ tặng nàng, phải sáng tác những bài tụng ca hoành tráng - tôi sẽ giúp cậu - và bằng cách ấy - chỉ bằng cách ấy mà thôi, cậu mới có thể đoạt được trái tim người yêu đích thực của mình."
"Thật ra em không muốn đoạt được trái tim của bạn ấy. Bạn ấy cũng không phải là người yêu đích thực của em," Bod đáp. "Em chỉ muốn nói chuyện với bạn ấy thôi."
"Trong mọi cơ quan trên cơ thể," Nehemiah Trot nói, "thì cái lưỡi là cơ quan kỳ diệu nhất. Bởi chúng ta dùng nó để nếm thứ rượu vang ngọt ngào cũng như thứ thuốc độc cay đắng, vì thế chúng ta cũng dùng nó để thốt lên những lời dịu dàng cũng như chua chát. Hãy đến với nàng đi! Hãy trò chuyện với nàng!"
"Em không nên thì hơn."
"Cậu nên chứ! Cậu phải làm vậy! Tôi sẽ ghi chép lại, khi trận chiến này đã kết thúc."
"Nhưng nếu em hiện hình lên với một người, thì những người khác cũng sẽ dễ nhìn thấy em hơn..."
Nehemiah Trot nói, "A, xin hãy lắng nghe lời tôi, hỡi chàng Leander và nàng Hero, hỡi chàng Alexander trẻ tuổi. Nếu cậu không dám liều lĩnh, thì cuối cùng, cậu sẽ chẳng đạt được điều gì hết." !
"Anh nói phải đấy” Bod thấy hài lòng với mình, và rất mừng vì nó đã nghĩ ra việc xin lời khuyên của chàng Thi sĩ. Đúng như vậy , nó tự nhủ, nếu mình không thể tin rằng một thi sĩ có thể cho mình những lời khuyên chí lý thì mình còn có thể tin ai được nữa? Nghĩ như vậy nó mới sực nhớ ra...
"Anh Trot ơi?" Bod hỏi, "Anh hãy cho em biết về việc trả thù đi."
"Đó là một món tốt nhất là nên ăn nguội" Nihemiah Trot đáp. "Đừng tìm cách trả thù trong lúc nóng nảy giận giữ. Hãy đợi đến thời điểm thích hợp. Có một lão nhà văn chuyên viết mướn ở phố Grub tên là O'Leary - một lão người Ailen, tôi xin nói thêm như vậỵ - đã trơ tráo, đã táo gan vô cùng, khi dám nhận xét rằng tập thơ ngắn đầu tay của tôi, một bó hoa thơm tươi đẹp dành cho các quý ông thượng lưu , là một tập thơ hạ cấp dở ẹc không có chút giá trị gì, và những tờ giấy dùng để viết các bài thơ ấy sẽ có ích hơn nếu được dùng để, không, tôi không thể nói ra được. Chỉ xỉn thưa với cậu rằng đó là một lời nhận xét hết sức tục tĩu."
"Nhưng anh đã trả thù lão ta chứ ạ?" Bod tò mò hỏi.
"Trả thù lão và toàn thể cái giống nhà văn dịch hạch như lão nữa! Ôi, tôi đã trả thù, cậu Owens ạ, đã trả thù một cách gớm ghê vô cùng. Tôi đã viết và cho in một bức thư mà tôi đóng đinh lên cửa tất cả các quán rượu của London, nơi những tên văn sĩ hạng bét ấy thường lui tới. Và tôi đã giải thích rằng, vì thiên tài của một đại thi hào là rất mong manh, từ giờ trở đi tôi sẽ không làm thơ cho chúng nữa mà chỉ làm thơ cho bản thân tôi và cho các thế hệ sau, rằng từ giờ cho đến lúc chết, tôi sẽ không xuất bản một bài thơ nào nữa - không xuất bản cho bọn chúng! Và tôi cũng để lại các chỉ dẫn rằng sau khi tôi chết, các bài thơ của tôi phải được chôn cùng với tôi, không được đem in, và chỉ khi đời sau đã nhận ra thiên tài của tôi, nhận ra rằng hàng trăm bàỉ thơ của tôi đã bị mất - bị mất! - chỉ đến khi đó thì quan tài của tôi mới được phép khai quật lên, chỉ đến khi đó thì những bài thơ của tôi mới được rời khỏi hai bàn tay giá lạnh của tôi, và được đem xuất bản trong sự ca ngợi và sung sướng của tất thảy mọi người. Có những tư tưởng vượt quá thời đại của mình quả là một điều bất hạnh."
"Thế sau khi anh chết, người ta đã đào anh lên và xuất bản các bài thơ đó ạ?"
"Chưa, họ chưa làm thế. Nhưng vẫn còn nhiều thời gian mà. Các thế hệ sau kéo dài lắm."
"Tức là... đấy là cách trả thù của anh ạ?"
"Chính thế. Một cách trả thù vô cùng hiệu quả và khéo léo nữa chứ!"
"Vâ-âng” Bod trả lời vẻ hoài nghi.
"Tốt. Nhất. Nên. Ăn. Nguội” Nehemiah Trot kiêu hãnh nói.
Bod rời khỏi góc Tây Bắc của nghĩa địa, men theo Đường Ai Cập quay về những con đường chỉn chu hơn, những lối mòn không bị phủ lấp, và khi bóng chiều buông xuống, nó lang thang quay lại chỗ ngôi nhà thờ cũ - không phải nó hy vọng chú Silas đã trở về mà bởi vì cả đời mình nó đã luôn đến nhà thờ vào lúc hoàng hôn, nên giữ cái thói quen ấy khiến nó cảm thấy dễ chịu.
Hơn nữa, nó cũng thấy đói rồi.
Bod chui qua cửa hầm mộ và đi xuống dưới. Nó bỏ sang một bên cái hộp các tông chất đầy giấy má cũ của giáo khu, giờ đã ngấm nước quăn cả lại, và lấy ra một
hộp nước cam, một quả táo, một hộp bánh mì que và một tảng pho mát, rồi vừa ăn vừa nghĩ xem nó sẽ đến gặp Scarlett kiểu gì - có lẽ nó nên thử Mộng du, bởi vì cô bé đã gặp được nó theo cách ấy...
Nó đi ra ngoài, định lên ngồi ở chỗ chiếc ghế gỗ màu xám, thì bỗng nhìn thấy một cái gì đó khiến nó ngần ngừ dừng bước. Đã có một người đang ngồi trên chiếc ghế của nó. Cô đang đọc một cuốn tạp chí.
Bod tàng hình thêm chút nữa, biến thành một phần của nghĩa địa, chẳng đáng chú ý gì hơn một cái bóng hay một cành cây khô.
Nhưng cô bé vẫn ngẩng đầu lên. Cô nhìn thẳng vào nó và hỏi, "Bod? Có phải cậu đấy không?"
Bod không đáp lại. Rồi nó hỏi, "Sao cậu vẫn nhìn thấy tớ?"
"Tớ gần như không nhìn được. Mới đầu tớ tưởng cậu chỉ là một cái bóng hay là cái gì đại loại thế. Nhưng trông cậu giống như trong giấc mơ của tớ. Trông như cậu đang dần dần hiện hình lên rõ ràng hơn ấy."
Nó liền đi đến bốn cạnh chiếc ghế. Nó hói, "Cậu vẫn đọc được cơ à? Cậu không thấy trời tối quá sao?"
Scarlett gập cuốn tạp chí lại. Cô đáp, "Lạ thật. Tớ cũng tưởng là ánh sáng thế này thì tối quá, nhưng tớ vẫn đọc được, chẳng sao cả."
"Cậu..." Giọng nó kéo dài rồi im bặt, vì nó không biết chắc mình định hỏi cô bé cái gì nữa. "Cậu ở đây có một mình thôi à?"
Cô gật đầu. "Sau giờ học tớ đến đây giúp chú Frost tô lại mấy tấm bia. Rồi tớ bảo chú ấy là tớ muốn ngồi đây suy nghĩ một lát. Tớ đã hứa khi nào xong sẽ xuống uống trà với chú ấy, rồi chú ấy sẽ chở tớ về nhà. Chú ấy thậm chí còn không hỏi tại sao tớ muốn ngồi đây nữa. Chú ấy bảo chú ấy cũng thích ngồi trong các nghĩa địa, và chú ấy nghĩ rằng nghĩa địa là một nơi yên bình nhất trên đời” Rồi cô hỏi, "tớ ôm cậu một cái được không?"
"Cậu muốn ôm tớ à?" Bod hỏi lại.
"Ừ"
"Thế thì được thôi." Nó ngẫm nghĩ một lát. "Tớ cũng không thấy phiền gì đâu."
"Tay tớ sẽ không xuyên qua người cậu chứ? Cậu đang ở đây thật đấy chứ?"
"Cậu sẽ không xuyên qua người tớ đâu," nó bảo; và cô bé liền vòng tay ôm lấy người nó, ôm chặt đến nỗi nó gần như nghẹt thở. Nó thốt lên, "Đau quá!"
Scarlett vội buông nó ra. "Xin lỗi”
"Không đâu. Tớ thấy dễ chịu lắm. Tớ chỉ định nói là, cậu ôm chặt hơn là tớ tưởng”
"Tớ chỉ muốn biết xem cậu có thật hay không. Suốt bao nhiêu năm nay tớ cứ tưởng cậu chỉ là do tớ nghĩ ra. Rồi tớ quên bẵng mất cậu. Nhưng tớ đã không tưởng tượng ra cậu, và cậu đã quay lại, quay lại trong đầu tớ và quay lại đây nữa."
Bod mỉm cười. Nó nói, "Hồi ấy cậu thường mặc một cái áo khoác màu da cam, và khi nào nhìn thấy màu da cam giống như thế, tớ lại nghĩ đến cậu. Chắc cậu không còn giữ cái áo ấy đâu nhỉ."
"Không," cô bé đáp. "Tớ vứt nó từ lâu rồi. Bây giờ mà tớ mặc nó thì chắc sẽ hơi chật”
"Ừ," Bod trả lời. "Tất nhiên rồi”
"Tớ nên về thôi” Scarlett nói. "Nhưng có lẽ đến cuối tuần tớ sẽ quay lại." Rồi, khi thấy vẻ mặt của Bod, cô nói thêm, "Hôm nay là thứ Tư."
"Tớ sẽ rất vui nếu cậu quay lại."
Cô quay người định đi. Rồi cô hỏi, "Làm sao tớ tìm lại cậu được?"
Bod đáp, "Tớ sẽ tìm được cậu. Đừng lo. Cậu cứ ngồi một mình là tớ sẽ tìm được cậu”
Cô gật đầu, rồi chay biến đi.
Bod quay trở lại nghĩa địa và đi ngược lên đồi cho đến khi tới lăng của dòng họ Frobisher. Nó không bước vào. Nó trèo lên tường lăng, dùng những dây thường xuân làm chỗ bám, và đu người lên cái mái bằng đá, rồi nó ngồi đó suy nghĩ trong lúc ngắm nhìn cái thế giới đang chuyển động bên ngoài nghĩa địa, nó nhớ lại cái ôm của Scarlett, nhớ lại nó đã cảm thấy an toàn như thế nào, và nghĩ rằng sẽ thật tuyệt biết bao nếu được đi lại một cách bình thường ở thế giới bên ngoài nghĩa địa, nhưng cũng thật thích thú biết bao khi được làm chủ cái thế giới nhỏ bé của riêng mình.
º º º
Scarlett nói cảm ơn, nhưng cô bé không muốn uống trà. Cô cũng không muốn ăn một cái bánh quy sô cô la. Ông Frost có vẻ lo lắng.
'Thật thà mà nói thì trông cháu cứ như vừa gặp ma ấy", ông bảo. "Gặp ma trong nghĩa địa thì cũng chẳng có gì là lạ, nếu cháu muốn gặp ma thật, ờ, chú có một bà cô cứ khăng khăng nói rằng con vẹt của bà ấy bị ma ám. Một con đuôi dài lông đỏ. Ý chú là con vẹt ấy. Còn bà cô của chú thì là kiến trúc sư. Chú chưa bao giờ biết hết tình tiết câu chuyện."
"Cháu không sao đâu ạ," Scarlett nói. "Chỉ hơi mệt thôi."
"Thế thì để chú đưa cháu về nhà. Cháu có đọc được chữ khắc trên tấm bia này không? Chú đã loay hoay hơn nửa tiếng rồi mà vẫn chưa dò ra được." Ông chỉ vào tấm giấy tô trên cái bàn nhỏ, mỗi góc có đặt một lọ mứt để giữ cho tờ giấy nằm phẳng. "Cháu nghĩ cái tên ấy có phải là Gladstone không? Có thể là họ hàng của thủ tướng cũng nên. Nhưng chú chẳng đọc được thêm gì nữa cả."
"Cháu nghĩ là không phải đâu ạ," Scarlett đáp. "Nhưng đến thứ Bảy, lúc quay lại đây, cháu sẽ nhìn lại lần nữa."
"Mẹ cháu có định xuất hiện không đấy?"
"Mẹ bảo sẽ thả cháu xuống đây vào buổi sáng. Rồi mẹ phải đi mua thức ăn cho bữa tối để mời chú. Mẹ sẽ làm một con gà quay đấy ạ."
"Cháu có nghĩ là sẽ có cả khoai tây bỏ lò nữa không?" ông Frost khấp khởi hỏi.
"Cháu nghĩ là có ạ."
Ông Frost có vẻ rất vui. Rồi ông nói, "Nhưng chú không muốn phiền đến mẹ cháu đâu."
"Mẹ cháu rất vui được mời chú đến ăn mà” Scarlett thành thật bảo. "Cảm ơn chú cho cháu đi nhờ xe về nhà."
"Không có gì," ông Frost nói. Họ cùng nhau bước xuống cái cầu thang trong ngôi nhà cao tầng nhỏ hẹp của ông Frost để đi vào tiền sảnh bé xíu ở chân cầu thang.
º º º
Ở thành phố Krakow của Ba Lan, trong đồi Wawel, có những cái hang gọi là Hang Rồng, được đặt theo tên một con rồng đã chết từ lâu. Đó là những cái hang được các du khách biết tới. Nhưng còn có những cái hang khác bên dưới những cái hang này mà các du khách không biết đến và không bao giờ ghé thăm. Những cái hang ấy rất sâu và có những sinh vật sống trong đó.
Silas đi trước, theo sau là cái bóng màu xám khổng lồ của cô Lupescu, bước đi lặng lẽ trên bốn bàn chân.
Đằng sau họ là Kandar, một xác ướp xứ Assyri người quấn đầy băng, với đôi cánh đại bàng rất khỏe và cặp mắt đỏ như hồng ngọc, trong tay ôm một con lợn nhỏ.
Mới đầu họ có cả thảy bốn người, nhưng họ đã mất Haroun ở một cái hang xa tít bên trên, khi vị thần Ifrit đó, thường tỏ ra quá tự tin như những đồng loại khác của mình, bước vào một khoảng trống bao quanh là ba tấm gương bằng đồng thau, và bị nuốt chửng trong một quầng sáng màu đồng chói lòa. Trong thoáng chốc, họ chỉ trông thấy vị thần Ifrit trong những chiếc gương, chứ không còn trong thực tại nữa. Trong những chiếc gương, cặp mắt đỏ rực của thần mở lớn, miệng thần mở ra như thể đang gào thét bảo họ hãy chạy đi, hãy bảo trọng, rồi thần mờ đi và biến mất.
Silas, vốn chẳng sợ gì gương, đã dùng áo choàng của mình che phủ một tấm gương, khiến cho cái bẫy ấy mất tác dụng.
"Thế đó," Silas nói. "Giờ thì chỉ còn ba chúng ta."
"Và con lợn”, Kandar nói.
"Tại sao?" cô Lupescu hỏi bằng cái lưỡi sói, qua hàm răng sói. "Tại sao lại phải mang theo con lợn?"
"Nó đem vận may đến” Kandar đáp.
Cô Lupescu gầm gừ vẻ ngờ vực.
"Haroun có đem theo con lợn nào không?" Kandar chỉ hỏi vậy.
"Suỵt” Silas lên tiếng. "Chúng đang đến đấy. Căn cứ vào âm thanh thì bọn chúng rất đông."
"Cứ để chúng đến” Kandar thì thầm.
Cỗ bờm trên gáy cô Lupescu dựng đứng lên. Cô không nói gì, nhưng cô đã sẵn sàng đợi chúng đến, và phải cố gắng lắm cô mới ngăn được mình ngửa đầu về phía sau rồi tru lên một tiếng dài.
º º º
“Ở trên này cảnh đẹp thật" Scarlett nói.
"Ừ!". Bod đáp.
"Thế gia đình cậu đã bị giết hết thật sao?" Scarlett hỏi. "Có ai biết thủ phạm không?"
"Không. Mà có thì tớ cũng không biết. Người bảo trợ của tớ chỉ nói rằng thủ phạm vẫn còn sống, và một ngày kia chú ấy sẽ kể cho tớ tất cả những gì chú ấy biết".
"Một ngày kia à?"
"Khi nào tớ đã sẵn sàng.”
"Chú ấy sợ cái gì chứ? Sợ cậu sẽ đeo súng vào rồi lên ngựa đi tìm kẻ đã sát hại gia đình cậu để trả thù à?"
Bod nghiêm nghị nhìn cô bé. "Thì rõ rồi," nó nói. "Tất nhiên tớ không có súng. Nhưng đúng thế. Chú ấy sợ tớ sẽ làm một điều gì đó đại loại như vậy."
"Cậu đùa đấy à."
Bod không nói gì. Nó mím chặt môi. Nó lắc đầu.
Rồi nó lên tiếng, "Tớ không đùa đâu."
Đó là một buổi sớm thứ Bảy rạng rỡ ánh nắng. Hai đứa vừa đi quá cổng vào Đường Ai Cập, men theo lối đi bên dưới rặng thông và những cái cây gai bò ngổn ngang, tránh ánh mặt trời chiếu thẳng xuống.
"Người bảo trợ của cậu ấy, chú ấy cũng là người à?”
Bod đáp, "Tớ không thể nói về chú ấy."
Scarlett có vẻ phật ý. "Ngay cả với tớ?"
"Ngay cả với cậu”
"Cũng được thôi” cô bé bảo. "Cậu cứ thế đi."
Bod đang nói, "Nghe này, tớ xin lỗi, tớ không có ý..." thì Scarlett cũng lên tiếng, “Tớ đã hứa với chú Frost là tớ sẽ không đi lâu quá. Có lẽ tớ nên quay lại thôi”
"Thôi được” Bod nói, chỉ sợ là nó đã làm cô bé bực mình, và không biết mình nên nói gì để làm lành với cô.
Nó nhìn theo Scarlett trong khi cô bé đi xuống lối mòn uốn lượn dẫn về nhà thờ. Một giọng con gái quen thuộc vang lên đầy chế nhạo, "Nhìn cô ả kìa! Vênh vang làm sao chứ!" nhưng nó chẳng trông thấy ai cả.
Bod, cảm thấy lúng túng ngượng nghịu, liền quay lại Đường Ai Cập. Cô Lillibet và cô Violet đã cho nó cất nhờ một hộp các tông đầy sách bìa mềm trong hầm mộ của họ, và nó muốn tìm một quyển để đọc.
º º º
giúp ông Frost tô mấy tấm bia mộ cho đến giữa trưa, rồi họ cùng nghỉ tay để ăn trưa. Ông muốn mua món cá rán với khoai tây chiên mời cô bé, gọi là để cảm ơn, và hai chú cháu cùng đi xuống cửa hàng bán cá rán và khoai tây chiên ở chân đồi, rồi sau đó họ trèo lại lên đồi, vừa đi vừa ăn món cá và khoai tây nóng hổi rắc muối, rưới đầy dấm, dựng trong túi giấy.
Scarlett hỏi, "Nếu muốn tìm hiểu về một vụ sát nhân thì ta phải tìm ở đâu ạ? Cháu đã thử tra trên mạng rồi nhưng không được."
"Ờ. Cũng còn tùy. Cháu muốn biết về vụ sát nhân kiểu gì?"
"Cháu nghĩ là một vụ trong thành phố này ạ. Khoảng mười ba hoặc mười bốn năm trước. Cả một gia đình đã bị giết, ở đâu đó gần đây."
"Trời đất ơi," ông Frost kêu lên. "Thật thế à?"
"Vâng. Chú có sao không ạ?"
"Không. Chú hơi, ờ, thú thật là chú hơi nhát gan. Những chuyện như thế, ý chú là, người ta không muốn nghĩ về những vụ án có thật trong vùng này. Thử nghĩ xem, những chuyện như thế, xảy ra ngay tại đây. Chú không nghĩ là một cô bé tuổi cháu mà lại quan tâm đến những chuyện ấy."
"Không phải cho cháu ạ," Scarlett thừa nhận. "Là cho một người bạn của cháu”
Ông Frost nhón nốt miếng cá tuyết rán cuối cùng. "Chú đoán cháu có thể tìm ở thư viện. Nếu không có ở trên mạng thì trong các tập báo cũ của họ chắc sẽ có. Cái gì đã khiến cháu quan tâm đến chuyện này vậy?"
"Ồ." Scarlett muốn nói dối càng ít càng tốt. Cô liền đáp, "Là một cậu bạn cháu quen ạ. Cậu ấy muốn biết về chuyện đó."
"Chắc chắn ở thư viện sẽ có," ông Frost nhắc lại. "Sát nhân à. Brrrừ. Làm chú rùng cả mình."
"Cháu cũng thế” Scarlett nói. "Cháu cũng thấy hơi sợ." Rồi cô nói thêm, vẻ hy vọng, "Liệu chiều nay chú có thể thả cháu xuống thư viện được không ạ?"
Ông Frost cắn đôi một miếng khoai tây to, nhai, rồi nhìn chỗ khoai tây còn lại một cách thất vọng. "Chúng mau nguội quá phải không, khoai tây rán ấy. Phút trước chúng còn làm ta bỏng mồm bỏng miệng, phút sau ta đã phải băn khoăn không hiểu sao chúng lại nguội đi nhanh thế."
"Cháu xin lỗi” Scarlett nói. "Lẽ ra cháu không nên đòi chú đưa đi đâu cả..."
"Không sao, không sao đâu," ông Frost gạt đi. "Chú chỉ đang nghĩ xem chiều nay nên sắp xếp thế nào cho tiện, với cả không biết mẹ cháu có thích sô cô la không. Nên mua một chai rượu hay là một hộp sô cô la nhỉ? Chú không chắc lắm. Có lẽ cả hai chăng?"
"Cháu có thể tự đi bộ từ thư viện về nhà được ạ," Scarlett trả lời. "Và mẹ cháu thích sô cô la lắm. Cả cháu cũng thế."
"Thế thì là sô cô la," ông Frost nói, vẻ nhẹ nhõm hẳn. Họ đã đi đến giữa dãy nhà cao nằm liền kề nhau dọc theo sườn đồi, đến chỗ chiếc xe Mini màu xanh đỗ bên ngoài cửa nhà. "Cháu vào đi. Chú sẽ đưa cháu đến thư viện."
º º º
Thư viện là một tòa nhà vuông vắn, toàn bằng gạch và đá, xây từ đầu thế kỷ trước. Scarlett nhìn quanh, rồi đến chỗ chiếc bàn ở tiền sảnh.
Người phụ nữ ngồi ở đó hỏi, "Cháu cần gì?"
Scarlett trả lời, "Cháu muốn xem mấy bài báo cũ ạ."
"Bài tập ở trường à?"
"Để nghiên cứu về lịch sử địa phương ạ," Scarlett gật đầu đáp, rất tự hào vì đã không nói dối.
"Tất cả báo chí địa phương đều được lưu trên các tấm vi phim" người phụ nữ nói. Bà ta khá to béo, tai đeo một đôi vòng bạc lủng lẳng. Scarlett cảm thấy trống ngực đập thình thịch; cô dám chắc mình đang có vẻ thật tội lỗi, hoặc đáng nghi, nhưng người phụ nữ dẫn cô vào trong một căn phòng với những cái hộp trông như màn hình máy tính, và chỉ cho cô cách dùng chúng để chiếu từng trang báo một lên màn hình. "Đến một lúc nào đó tất cả sẽ được số hóa hết” bà ta nói. "Cháu tìm báo của ngày tháng năm nào?"
"Khoảng mười ba hoặc mười bốn năm trước ạ," Scarlett nói "Cháu không biết cụ thể hơn được. Khi nào tìm thấy thì cháu sẽ nhận ra."
Người phụ nữ đưa cho Scarlett một cái hộp nhỏ đựng những tấm vi phim chụp các trang báo của năm năm liền, "Cháu tha hồ mà tìm," bà ta bảo.
Scarlett tưởng rằng vụ án cả một gia đình bị sát hại sẽ phải được đăng ở trang đầu, thế nhưng, khi rốt cuộc cô cũng tìm được bài báo ấy, thì nó lại bị nhét xuống tận trang năm. Chuyện xảy ra vào tháng Mười, mười ba năm về trước. Bài báo không có gì là văn vẻ, không miêu tả gì, chỉ liệt kê lại sự việc một cách đơn giản: Thi thể của kiến trúc sư Ronaid Doian, 36 tuổi, cùng với vợ là Carlotta, 33 tuổi, làm việc tại nhà xuất bản, và con gái là Misty, 7 tuổi, đã được tìm thấy ở số 33 đường Dunstan, cảnh sát nghi ngờ đây là một á n mạng . Người phát ngôn của cảnh sát nói rằng vào thời điểm này cuộc điều tra còn quá sớm để có thể đưa ra bất kỳ lời bình luận nào, nhưng cũng cho biết họ đang lần theo một số đầu mối quan trọng.
Bài báo không nhắc đến gia đình ấy đã bị giết như thế nào, và cũng không nhắc gì đến một đứa bé bị mất tích. Trong những tuần sau đó, không có thêm bài báo nào tiếp tục cuộc điều tra, và cảnh sát cũng chẳng đưa ra lời bình luận nào mà Scarlett có thể tìm được cả.
Nhưng đó chính là vụ án ấy. Cô dám chắc như vậy: số 33 đường Dunstan . Cô biết rõ ngôi nhà ấy. Cô đã từng đặt chân vào đó.
Cô đem trả chiếc hộp vi phim ở chiếc bàn ngoài tiền sảnh, cảm ơn bà thủ thư, rồi đi bộ về nhà dưới ánh nắng tháng Tư. Mẹ cô đang nấu nướng trong bếp - có vẻ không thành công cho lắm, bằng chứng là cái mùi đáy-chảo-bị-cháy đang bốc lên nồng nặc khắp căn hộ. Scarlett chui vào phòng, mở toang cửa sổ cho mùi cháy bay bớt ra ngoài, rồi ngồi xuống giường và nhấc điện thoại lên.
"Alô? Chú Frost ạ?"
"Scarlett. Mọi việc tối nay vẫn như kế hoạch chứ? Mẹ cháu thế nào rồi?"
"Mẹ cháu lo liệu hết rồi ạ," Scarlett đáp, đó là câu trả lời cô nhận được khi hỏi mẹ. "Ờ, chú Frost này, chú đã sống trong căn nhà hiện nay được bao lâu rồi ạ?"
"Bao lâu ấy à? Ờ, khoảng bốn tháng rồi."
"Làm sao chú tìm được căn nhà ấy ạ?"
"Nhờ trung tâm mua bán nhà đất. Căn nhà đang để trống, và chú đủ sức mua nó. Ờ, cũng gần đủ. Chú muốn tìm một căn nhà đủ gần để có thể đi bộ đến nghĩa địa được, và căn nhà này thì thật hoàn hảo."
"Chú Frost này." Scarlett không biết nên nói thế nào, rồi quyết định cứ nói thẳng ra là hơn. "Khoảng mười ba năm trước, có ba người đã bị sát hại trong nhà của chú. Gia đình Dorian."
Đầu bên kia điện thoại im lặng như tờ.
"Chú Frost? Chú còn ở đó không ạ?"
"Ờ. Chú đây, Scarlett. Xin lỗi cháu. Đó quả không phải chuyện ta thường được nghe. Căn nhà đã cũ rồi, ý chú là, chắc chắn trước kia đã từng có nhiều chuyện xảy ra trong đó. Nhưng không phải là... thế cụ thể là chuyện gì đã xảy ra?"
Scarlett băn khoăn tự hỏi mình nên cho ông biết đến đâu. Cô đáp, "Cháu tìm được một bài báo cũ, nó chỉ nói đến địa chỉ ngôi nhà, còn thì không có gì nữa cả. Cháu còn không biết họ đã bị giết như thế nào nữa kia."
"Ôi, Chúa ơi." Nghe giọng ông Frost thì có vẻ như ông quan tâm đến cái tin này hơn là Scarlett tưởng. "Đây chính là một điều mà nhờ nó, các sử gia địa phương như chú có thể chứng tỏ được tiếng tăm của mình, Scarlett ạ. Cứ để đấy cho chú. Chú sẽ tìm hiểu tất cả những gì có thể và báo lại cho cháu."
"Cảm ơn chú ạ," Scarlett nói, nhẹ cả người.
"Ừm. Chú đoán là cháu phải gọi điện vì nếu mẹ cháu biết được là trong nhà chú đã xảy ra án mạng, cho dù là từ mười ba năm trước đi chăng nữa, thì cháu sẽ không được phép gặp lại chú hay là đến nghĩa địa nữa. Vì thế, ờ, nếu cháu không nói gì với mẹ thì chú cũng sẽ giữ im lặng."
"Ôi, cảm ơn chú, chú Frost!"
"Gặp lại cháu lúc bảy giờ nhé. Chú sẽ đem sô cô la đến."
º º º
Bữa tối hôm đó hết sức vui vẻ. Mùi cháy đã bay hết khỏi bếp. Món gà quay rất ngon, món rau trộn còn ngon hơn, món khoai tây bỏ lò thì hơi bị quá lửa một chút, nhưng ông Frost thích thú tuyên bố rằng ông thích chúng quá lửa như vậy, và lấy hai phần khoai tây liền.
Bó hoa ông đem đến được cả hai mẹ con trầm trồ, hộp kẹo sô cô la mà họ đem ra ăn tráng miệng quả là ngon tuyệt, rồi ông Frost ngồi lại trò chuyện và xem ti vi cùng hai mẹ con cho đến tận mười giờ tối, đến lúc đó thì ông nói là ông phải về nhà thôi.
"Thời gian, thủy triều và những bản nghiên cứu lịch sử địa phương không chờ đợi ai cả," ông nói. Ông bắt tay bà Noona một cách thân mật, nháy mắt với Scarlett vẻ đồng lõa, rồi đi về.
Đêm đó Scarlett cố tìm Bod trong giấc mơ của mình; cô đã nghĩ về cậu bé trước lúc ngủ thiếp đi, tưởng tượng ra mình đang đi trong nghĩa địa để tìm Bod, nhưng khi mơ thì cô lại mơ đang đi quanh trung tâm thành phố Glasgow với các bạn cũ của mình. Cả bọn đang đi tìm một con phố nào đó, nhưng chỉ tìm được một loạt các ngõ cụt, hết ngõ cụt này đến ngõ cụt khác.
º º º
Sâu thẳm trong lòng đồi ở Krakow, trong lòng hang sâu nhất, bên dưới những cái hang có tên là Hang Rồng, cô Lupescu loạng choạng ngã xuống.
Silas quỳ xuống bên cạnh và ôm lấy đầu cô Lupescu trong tay mình. Trên mặt cô đầy máu, và trong đó có cả máu của cô.
"Anh phải để tôi lại," cô nói. "Hãy cứu thằng bé." Cô đang biến hình nửa phần, với hình hài nửa người nửa sói, nhưng khuôn mặt cô đã là mặt một người phụ nữ.
"Không," Silas nói. "Tôi sẽ không để cô lại đâu."
Ở phía sau, Kandar đang đung đưa con lợn trên tay như một đứa trẻ ôm con búp bê. Chiếc cánh bên trái của Kandar đã bị bẻ gãy, và xác ướp ấy sẽ không bao giờ có thể bay được nữa, nhưng khuôn mặt có chòm râu rậm của ông ta vẫn không hề tỏ ra đau đớn.
"Chúng sẽ quay lại, Silas ạ," cô Lupescu thì thào. "Mặt trời sắp mọc rồi."
"Nếu thế thì chúng ta phải xử lý chúng trước khi chúng có thể tấn công chúng ta," Silas nói. "Cô đứng dậy được không?"
"Da. Tôi là Khuyển Binh của Chúa," cô Lupescu nói. "Tôi sẽ đứng lên được." Cô cúi mặt vào bóng tối và co duỗi ngón tay. Khi ngẩng đầu lên thì cô đã hóa sói trở lại. Cô đặt hai chân trước lên mặt đá, rồi, một cách khó nhọc, gồng mình đứng dậy: một con sói xám to lớn hơn cả gấu, với cái mõm và bộ lông lấm tấm máu.
Cô ngửa đầu về phía sau, hú lên một tiếng đầy thịnh nộ và thách thức. Môi cô nhếch lên để lộ hàm răng sắc nhọn, và cô lại cúi đầu xuống. "Bây giờ” cô Lu-pescu gầm gừ. "Chúng ta sẽ hoàn thành sứ mệnh này".
º º º
Chiều muộn ngày Chủ nhật, điện thoại reo vang. Scarlett đang ngồi dưới nhà, mải mê chép lại những khuôn mặt từ cuốn truyện tranh cô đang đọc lên một mảnh giấy. Mẹ cô nhấc điện thoại lên.
"Hay quá, hai mẹ con cũng vừa nhắc đến anh," mẹ cô nói, mặc dù đó không phải sự thật. "Tối qua thật tuyệt," mẹ cô tiếp tục. "Tôi thấy vui lắm. Thật mà, không phiền gì đâu. Kẹo sô cô la ấy à? Hoàn hảo. Quả thực là hoàn hảo. Tôi đã dặn Scarlett nói với anh là bất cứ khi nào anh muốn có một bữa tối ngon lành thì cứ bảo với tôi." Rồi mẹ cô nói, "Scarlett ấy à? Vâng, cháu nó đang ở đây. Tôi sẽ gọi cháu. Scarlett!"
"Con ở ngay đây mà, mẹ," Scarlett thưa. "Mẹ không cần phải hét lên như thế." Cô đón lấy ống nghe. "Chú Frost ạ?"
"Scarlett à?" Giọng ông Frost có vẻ rất phấn khích. "Cái. Ờ. Cái chuyện mà chú cháu mình đã bàn ấy. Cái chuyện đã xảy ra trong nhà chú ấy mà. Cháu có thể bảo với cậu bạn của cháu là chú đã phát hiện ra rằng - à mà này, cho chú hỏi một câu riêng tư nhé, khi cháu nói 'cậu bạn của cháu' có phải ý cháu định nói 'thực ra đấy chính là cháu' hay là có một người bạn thật..."
"Cháu có một người bạn muốn biết thật ạ," Scarlett đáp, cảm thấy hơi buồn cười.
Mẹ cô ném cho cô một cái nhìn vẻ không hiểu.
"Bảo với bạn cháu là chú đã đào bới một chút - không phải là theo nghĩa đen, mà đúng hơn là lục lọi, cộng thêm một khoản điều tra kha khá nữa - và chú nghĩ là chú đã tìm ra được một số thông tin rất đáng quan tâm. Chú đã tìm được một thứ bị giấu kín. Ờ, nó không phải là một thứ mà chúng ta nên đưa cho tất cả mọi người xem... Chú, ờ, chú đã khám phá ra được một số điều”
"Những điều gì ạ?" Scarlett hỏi.
"Nghe này... cháu đừng nghĩ là chú bị ấm đầu nhé. Nhưng theo như chú biết, thì ba người đã bị sát hại. Nhưng có một thành viên trong gia đình đó - một đứa bé mới sinh, chú nghĩ vậy - thì vẫn sống sót. Đó không phải một gia đình ba người, mà là một gia đình bốn người. Chỉ có ba người bị giết thôi. Bảo cậu ấy đến gặp chú, cậu bạn của cháu ấy. Chú sẽ nói thêm cho cậu ấy rõ."
"Cháu sẽ bảo với cậu ấy ạ," Scarlett nói. Cô gác máy, tim đập rộn lên như đánh trống.
º º º
Lần đầu tiên trong sáu năm trời, Bod mới lại đặt chân xuống những bậc thang hẹp bằng đá. Bước chân của nó vang vọng trong căn hầm dưới lòng đồi.
Nó đi đến bậc thang cuối cùng và đứng đó đợi các Sát thủ hiện lên. Nó đợi, đợi mãi, nhưng chẳng có gì hiện ra, chẳng có gì lên tiếng thì thầm, chẳng có gì chuyển động.
Nó nhìn quanh căn buồng, không hề nao núng trước bóng tối sâu thẳm, vì nó vẫn nhìn được rõ ràng như những người chết. Nó đi tới chỗ cái bàn thờ bằng đá đặt trên mặt đất, trên đó vẫn là chiếc chén, chiếc trâm cài cùng con dao.
Nó đưa tay ra chạm vào lưỡi dao. Lưỡi dao sắc hơn nó tưởng, và hơi cứa vào ngón tay nó một chút.
ĐÂY LÀ KHO BÁU CỦA CÁC SÁT THỦ, ba giọng nói lại đồng loạt thốt lên, nhưng nghe có vẻ nhỏ hơn so với cái giọng trong trí nhớ của Bod, có vẻ ngập ngừng hơn.
Bod nói, "Các người là những thứ lâu đời nhất ở đây. Tôi đến đây để nói chuyện. Tôi muốn xin một lời khuyên."
Im lặng một lát. KHÔNG AI ĐẾN TÌM SÁT THỦ ĐỂ ĐƯỢC KHUYÊN BẢO. SÁT THỦ CHỈ BIẾT CANH GIỮ. SÁT THỦ CHỈ BIẾT CHỜ ĐỢI.
"Tôi biết. Nhưng chú Silas không có ở đây. Và tôi không biết phải nói chuyện với ai khác."
Không có tiếng đáp lại. Chỉ có sự im lặng, vang vọng lại nỗi cô đơn và cát bụi muôn đời.
"Tôi không biết phải làm gì," Bod thành thực nói. "Tôi nghĩ tôi có thể khám phá ra kẻ nào đã sát hại gia đình tôi. Cái kẻ muốn giết cả tôi nữa. Nhưng như thế có nghĩa là tôi sẽ phải rời khỏi nghĩa địa."
Sát Thủ không nói gì. Những dải khói chậm rãi uốn lượn quanh căn buồng.
"Tôi không sợ chết," Bod nói tiếp. "Chỉ có điều những người tôi yêu quý đã tận tâm tận lực giữ cho tôi được an toàn, dạy dỗ tôi, bảo vệ tôi."
Vẫn im lặng.
Rồi nó nói, "Tôi phải tự mình làm việc này."
ĐÚNG VẬY.
"Thế thì thôi. Xin lỗi vì đã làm phiền các người."
Một tiếng thì thầm vang lên trong đầu Bod, êm ái luồn lách, len lỏi vào trí não nó, SÁT THỦ CÓ NHIỆM VỤ CANH GIỮ KHO BÁU CHO ĐẾN KHI CHỦ NHÂN CỦA CHÚNG TA QUAY LẠI. NGƯỜI CÓ PHẢI CHỦ NHÂN CỦA CHÚNG TA KHÔNG?
"Không," Bod đáp.
Rồi, một tiếng rền rĩ, vẻ khấp khởi hy vọng, vang lên, NGƯỜI CÓ CHỊU LÀM CHỦ NHÂN CỦA CHÚNG TA KHÔNG?
"Tôi nghĩ là không được đâu."
NẾU NGƯỜI CHỊU LÀM CHỦ NHÂN CỦA CHÚNG TA THÌ CHÚNG TA SẼ GIỮ NGƯỜI TRONG VÒNG TAY CỦA CHÚNG TA MÃI MÃI. NẾU NGƯỜI LÀ CHỦ NHÂN CỦA CHÚNG TA, THÌ CHÚNG TA SẼ GIỮ CHO NGƯỜI ĐƯỢC AN TOÀN, BẢO VỆ NGƯỜI CHO ĐẾN NGÀY TẬN THẾ, VÀ SẼ KHÔNG BAO GIỜ ĐỂ NGƯỜI PHẢI ĐỐI MẶT VỚI NHỮNG HIỂM NGUY CỦA THẾ GIAN.
"Tôi không phải chủ nhân của các người."
KHÔNG.
Bod cảm thấy các Sát Thủ luồn lách qua tâm trí nó. Tiếng nói lại vang lên, THẾ THÌ HÃY ĐI TÌM TÊN CỦA NGƯỜI ĐI. Rồi đầu óc nó lại trống không, căn buồng cũng trống không, và Bod chỉ còn lại có một mình.
Bod trèo lên những bậc thang đá, cẩn thận nhưng cũng hết sức vội vã. Nó đã đi đến một quyết định, và cần phải hành động thật nhanh, khi quyết định ấy vẫn còn mới nguyên trong tâm trí nó.
Scarlett đang ngồi đợi nó trên chiếc ghế bên ngoài nhà thờ. "Thế nào?" cô hỏi.
"Tớ sẽ đi với cậu. Đi nào," nó nói, và hai đứa đi bên nhau, xuôi con đường dẫn xuống cổng nghĩa địa.
Nhà số 33 là một ngôi nhà cao, hẹp, vươn thẳng lên giữa một dãy nhà liền kề nhau. Căn nhà xây bằng gạch đỏ, chẳng có gì đáng chú ý. Bod băn khoăn nhìn ngắm ngôi nhà, tự hỏi tại sao trông nó không có vẻ gì quen thuộc hay đặc biệt. Nó chỉ là một ngôi nhà như bao ngôi nhà khác. Ở phía trước nhà có một khoảnh nền xi măng nhỏ, không phải là vườn, và một chiếc ô tô Mini màu xanh đỗ trước cửa. Cửa ra vào của căn nhà trước kia được sơn màu xanh lơ rực rỡ, nhưng đã bạc đi theo năm tháng, dưới ánh mặt trời.
"Thế nào?" Scarlett hỏi.
Bod gõ cửa. Mới đầu không có gì đáp lại, rồi trong nhà vang lên tiếng chân bước vội vã xuống mấy bậc thang, và cánh cửa mở ra, cho thấy một tiền sảnh và một cái cầu thang. Đứng giữa khuôn cửa là một người đàn ông đeo kính, với mái tóc hoa râm đã bắt đầu rụng. Ông hấp háy mắt nhìn hai đứa, rồi chìa tay ra cho Bod, ngượng nghịu mỉm cười, "Cháu hẳn là cậu bạn bí hiểm của Scarlett. Rất vui được gặp cháu."
"Đây là Bod ạ," Scarlett giới thiệu.
"Bob à?"
"Bod. Kết thúc bằng chữ D ấy ạ," cô nói "Bod, đây là chú Frost."
Bod và ông Frost bắt tay nhau. "Chú đã đặt ấm đun nước đấy” ông Frost nói. "Chúng ta vừa uống trà vừa trao đổi thông tin nhé, các cháu thấy thế nào?" Hai đứa theo ông lên mấy bậc thang đi vào một căn bếp, ông rót trà vào ba cốc, rồi dẫn chúng sang một phòng khách nhỏ. "Nhà cứ cao lên mãi" ông nói. “Nhà vệ sinh ở tầng trên, rồi đến phòng làm việc của chú, rồi đến buồng ngủ ở trên cùng. Chạy lên chạy xuống mấy cái cầu thang này cũng giúp chú giữ eo đấy!"
Họ ngồi xuống một cái ghế sofa rộng màu tím ngắt ("Nó đã có sẵn ở đây khi chú dọn đến") và nhâm nhi tách trà.
Scarlett đã lo là ông Frost sẽ đặt cho Bod nhiều câu hỏi, nhưng ông không hỏi gì. Ông chỉ có vẻ rất phấn khích, như thể đã tìm được tấm bia mộ bị thất lạc của một người nổi tiếng và đang nóng lòng muốn được thông báo với toàn thể thế giới. Ông liên tục cựa quậy trên ghế một cách bồn chồn, như thể có thông tin thật sự quan trọng muốn cho chúng biết, và phải cố hết sức thì ông mới không buột nói ra ngay tức khắc.
Scarlett hỏi, "Thế chú đã tìm ra được gì ạ?" Ông Frost đáp, "Ờ, cháu đã nói đúng. Đây chính là căn nhà nơi gia đình đó đã bị sát hại. Về nó - chú nghĩ vụ án mạng đó... ờ, không hẳn là bị ỉm đi, mà đã bị chính quyền... bỏ quên, không quan tâm tới nữa."
"Cháu không hiểu," Scarlett nói. "Người ta không thể dễ dàng quên những vụ án mạng như vậy được”
"Nhưng vụ này thì đã bị quên bẵng," ông Frost nói. Ông uống cạn tách trà. "Hẳn là do ảnh hưởng của những người rất có thế lực. Đó là cách lý giải duy nhất cho những gì đã xảy ra, và cho cả chuyện đã xảy ra với đứa con út của gia đình ấy nữa..”
"Và đó là chuyện gì ạ?" Bod hỏi.
"Nó đã sống sót” ông Frost đáp. "Chú dám chắc như vậy. Nhưng không ai đi tìm nó cả. Một đứa trẻ bị mất tích thường là tin tức được cả nước quan tâm. Nhưng mà họ, ờ, hẳn là họ đã tìm cách giấu nhẹm chuyện này đi."
"Họ là ai ạ?" Bod hỏi.
"Những người đã ra lệnh sát hại gia đình đó."
"Chú có biết gì hơn không ạ?"
"Có. Ờ, chỉ một chút thôi..." Giọng ông Frost kéo dài rồi nhỏ bặt đi. "Chú xin lỗi. Chú... Nghe này. Vì những gì chú đã phát hiện ra ấy mà. Thật là khó tin quá sức."
Scarlett bắt đầu cảm thấy bực mình. "Cái gì khó tin ạ? Chú đã phát hiện ra cái gì?"
Ông Frost có vẻ ngượng ngùng. "Cháu nói đúng. Chú xin lỗi. Chú cứ thích giữ bí mật. Đó không phải ý hay. Sử gia không chôn vùi mọi việc. Sử gia thì phải bới tung mọi việc lên. Cho tất cả mọi người cùng thấy. Đúng vậy." Ông ngập ngừng dừng lại, rồi nói tiếp, "Chú đã tìm thấy một lá thư. Ở tầng trên. Nó bị giấu dưới tấm ván sàn” Ông quay sang Bod. "Chàng trai trẻ, chú có đúng không khi đoán rằng cháu quan tâm đến việc này, đến cái việc khủng khiếp này, là vì lý do cá nhân?"
Bod gật đầu.
"Chú sẽ không hỏi gì nữa” ông Frost nói và đứng dậy. "Đi nào!" ông bảo Bod. "Không phải cháu” ông nói với Scarlett. "Bây giờ chú chưa cho cháu biết được. Chú sẽ cho cậu ấy xem trước. Và nếu cậu ấy bằng lòng thì chú sẽ cho cả cháu xem nữa. Đồng ý chứ?"
"Đồng ý ạ," Scarlett đáp.
"Bọn chú sẽ không đi lâu đâu” ông Frost nói. "Đi nào, chàng trai”
Bod đứng dậy, ném cho Scarlett một cái nhìn lo ngại. "Không sao đâu” cô nói, và cố mỉm cười để làm nó yên lòng. "Tớ sẽ đợi cậu ở đây”
Cô nhìn theo bóng hai người khi họ ra khỏi phòng và đi lên cầu thang. Cô cảm thấy hồi hộp nhưng cũng đầy hy vọng. Cô băn khoăn tự hỏi Bod sẽ biết được điều gì, và rất vui vì nó sẽ được biết trước. Dù sao thì đó cũng là chuyện của nó mà. Nó có quyền được biết trước.
º º º
Lên trên cầu thang, ông Frost đi trước dẫn đường.
Bod vừa bước lên những bậc thang tới tầng trên cùng của căn nhà, vừa nhìn quanh, nhưng nó chẳng thấy có gì quen thuộc. Tất cả đều lạ hoắc.
"Phải lên đến tận tầng áp mái cơ," ông Frost bảo.
Họ trèo lên một đợt cầu thang nữa. Ông Frost nói.
"Chú không - ờ, cháu không cần phải trả lời nếu cháu không muốn, nhưng mà - ừm, cháu là đứa bé đó có phải không?"
Bod không đáp lại.
"Đây rồi” ông Frost nói. Ông xoay chìa khóa cắm ở cánh cửa trên tầng áp mái của căn nhà, đẩy cửa mở ra, và họ bước vào.
Căn phòng đó là một cái gác xép nhỏ với trần nhà dốc xuống. Mười ba năm trước, trong phòng từng có một chiếc nôi. Nó gần như không đủ rộng đối với người đàn ông và cậu bé.
"Đúng là chú đã gặp may” ông Frost nói. "Nói theo một cách nào đó thì nó đã luôn nằm ngay dưới mũi chú." Ông quỳ xuống lật tấm thảm đã sờn lên.
"Chú biết tại sao gia đình cháu bị giết ạ?" Bod hỏi.
Ông Frost nói, "Tất cả đều nằm ở đây." Ông nắm lấy một tấm ván sàn ngắn và giật cho đến khi bẩy được nó lên. "Chắc đây là phòng của đứa bé," ông Frost nói. "Chú sẽ chỉ cho cháu thấy cái... cháu biết đấy, điều duy nhất chúng ta không biết đó là thủ phạm là ai. Chẳng có gì cả. Chẳng có một chút manh mối nào."
"Cháu biết hắn có mái tóc màu sẫm," Bod nói, đứng trong căn phòng đã từng là phòng ngủ của nó. "Và cháu biết tên hắn là Jack."
Ông Frost thò tay xuống khe hở nơi tấm ván sàn vừa được bẩy lên. "Đã gần mười ba năm rồi," ông nói. "Mái tóc đã hói, đã bạc đi, trong mười ba năm ấy. Nhưng đúng là như vậy. Đó là Jack."
Ông ta đứng thẳng lên. Bàn tay vừa thò vào lỗ hổng trên sàn nhà giờ đang nắm một con dao lớn, sắc lẻm.
"Nào..”, gã đàn ông tên Jack nói. "'Nào, nhóc. Đã đến lúc kết thúc chuyện này rồi.”
Bod trố mắt nhìn hắn. Tựa như ông Frost lúc trước chỉ là một cái áo hay một cái mũ mà hắn mang trên mình, và giờ hắn đã vứt bỏ nó.. Cái vỏ bọc thân thiện đã biến mất.
Ánh sáng lóe lên trên cặp kính của hắn, và lóe lên trên lưỡi dao.
Bên dưới cầu thang, một giọng nói vọng lên - giọng Scarlett. "Chú Frost ơi? Có người gõ cửa. Cháu có nên ra mở không ạ?"
Gã đàn ông tên Jack chỉ quay đi trong một khoảnh khắc, nhưng Bod biết cái khoảnh khắc ấy là tất cả thời gian nó có được, và nó liền tàng hình, cố hết sức để tàng hình hoàn toàn. Gã đàn ông tên Jack quay lại nhìn chỗ Bod vừa đứng, rồi nhìn quanh phòng, vẻ kinh ngạc và giận dữ đối chọi nhau trên mặt. Hắn bước một bước vào trong phòng, đầu lắc lư sang hai bên như một con hổ già vừa đánh hơi thấy con mồi.
"Mi đang ở đâu đó trong này." gã đàn ông tên Jack gầm ghè. "Ta có thể ngửi thấy mùi của mi!"
Sau lưng hắn, cánh cửa nhỏ dẫn vào căn buồng ngủ trên gác xép đóng sập lại, và khi quay ngoắt về phía ấy, hắn nghe thấy tiếng chìa khóa xoay trong ổ.
Gá đàn ông tên Jack lớn tiếng kêu lên qua cánh cửa bị khóa, "Mi có thể có thêm chút thời gian, nhưng không thể ngăn ta lại được đâu, nhóc ạ." Rồi hắn nói thêm, "Chúng ta chưa xong việc đâu, mi và ta."
Bod lao xuống cầu thang, va cả người vào tường, gần như đâm đầu ngã nhào xuống vì quá vội vã để chạy đến chỗ Scarlett.
"Scarlett!" nó hét lên khi trông thấy cô bé. "Chính là hắn đấy! Chạy thôi!"
"Chính là ai cơ? Cậu đang nói về chuyện gì vậy?"
"Hắn! Ông Frost ấy. Ông ta chính là Jack. Ông ta muốn giết tớ!"
Có tiếng rầm vang lên ở tầng trên khi gã đàn ông tên Jack đạp vào cánh cửa.
"Nhưng mà." Scarlett cố hiểu cho ra đầu đuôi những gì mình vừa nghe thấy. "Nhưng chú ấy tốt lắm mà."
"Không," Bod nói, túm tay kéo cô xuống cầu thang, chạy vào tiền sảnh. "Không, hắn chẳng tốt đẹp gì đâu."
Scarlett kéo cánh cửa trước ra.
"A. Chào cô bé," người đàn ông đứng ở trước cửa cúi xuống nhìn cô và nói. "Chúng tôi cần gặp ông Frost. Tôi tin rằng đây chính là nơi ẩn dật của ông ấy." Người đó có mái tóc bạc trắng, và tỏa ra mùi nước hoa.
"Ông là bạn ông ấy à?" Scarlett hỏi.
"Ồ, vâng” một người nhỏ con hơn, đứng ngay đằng sau, đáp lại. Ông ta có bộ ria nhỏ xíu đen nhánh và là người duy nhất trong bọn đội mũ.
"Chắc chắn vậy rồi” người đàn ông thứ ba nói, người này trẻ hơn, rất to cao và có mái tóc vàng của người Bắc Âu.
"Mỗi người tên Jack trong số chúng tôi đều là bạn của ông ấy” người cuối cùng trong đám đó lên tiếng, ông ta to như một con bò với cái đầu khổng lồ. Ông ta có nước da nâu.
"Ông ấy. Ông Frost. Ông ấy ra ngoài có việc rồi", Scarlett nói.
"Nhưng xe của ông ấy vẫn còn đây mà” người tóc trắng nói, và người tóc vàng hỏi, "Còn cô là ai?"
"Ông ấy là bạn của mẹ cháu," Scarlett trả lời.
Cô trông thấy Bod ở phía bên kia nhóm người đó, đang rối rít ra hiệu cho cô rời khỏi chỗ bọn họ và đi theo nó.
Cô bé liền cố lấy vẻ thật thản nhiên nói, "Ông ấy chỉ chạy ra ngoài một tí thôi ạ. Để đi mua báo. Ở chỗ hiệu bán báo dưới góc phố kia kìa." Rồi cô khép cửa lại sau lưng mình, bước qua đám người đó và đi xa dần.
"Cô định đi đâu vậy?" người có râu hỏi.
"Cháu phải bắt xe buýt cho kịp” cô đáp. Scarlett đi lên đồi về phía bến xe buýt và nghĩa địa, gắng hết sức để không quay đầu nhìn lại.
Bod đi bên cạnh cô. Ngay cả Scarlett cũng chỉ thấy nó như một cái bóng mờ giữa ánh chiều đang tối dần, như một vật gì đó không có thật, như một đợt hơi nóng rung rinh hay một chiếc lá rụng lướt qua, thấp thoáng hình dạng của một cậu bé.
"Đi nhanh lên," Bod nói. "Bọn chúng đều đang nhìn theo cậu đấy. Nhưng đừng chạy."
"Bọn họ là ai?" Scarlett thì thào hỏi.
"Tớ không biết," Bod đáp. "Nhưng chúng có vẻ kỳ dị lắm. Như không phải người thật ấy. Tớ muốn quay lại nghe xem chúng nói gì."
"Tất nhiên họ là người thật chứ," Scarlett nói. Cô cố gắng đi lên đồi nhanh hết mức mà vẫn không chạy, và không dám chắc Bod có còn ở bên cạnh mình nữa không.
Bốn gã đàn ông nọ đứng trước cửa căn nhà số 33. 'Tôi không thích vụ này chút nào” người to con với cái cổ bò mộng thốt lên.
"Anh không thích vụ này ấy à, anh Tar?" người tóc trắng hỏi. "Không ai trong chúng ta thích vụ này cả. Hỏng bét rồi. Tất cả đều hỏng bét rồi."
"Krakow đã biến mất. Họ không trả lời nữa. Và sau vụ Melboume với Vancouver..." người có ria nói. "Theo như những gì chúng ta biết được thì chỉ còn lại bốn người chúng ta thôi”
"Làm ơn im lặng một chút đi, anh Ketch," người tóc trắng nói. 'Tôi đang suy nghĩ."
"Xin lỗi ngài” ông Ketch nói, đưa một ngón tay đeo găng lên vuốt ria, rồi vừa nhìn ngược nhìn xuôi con phố trên đồi vừa huýt sáo qua kẽ răng.
"Tôi nghĩ... chúng ta nên bám theo con bé," người có cái cổ bò, ông Tar, nói.
"Tôi nghĩ các anh nên nghe theo tôi” người tóc trắng lên tiếng. "Tôi đã bảo phải im lặng. Và tôi muốn nói là phải thật im lặng”
"Xin lỗi, thưa ngài Dandy," người tóc vàng nói.
Cả bọn đều im bặt.
Trong sự im lặng, chúng nghe thấy những tiếng thình thịch vang lên đâu đó ở tầng trên của căn nhà.
'Tôi sẽ vào trong," ngài Dandy nói. "Tar, đi cùng tôi. Nimble và Ketch, đuổi theo con bé ấy. Đem nó về đây."
"Còn sống hay đã chết?" ông Ketch hỏi với nụ cười tự mãn.
"Còn sống, đồ ngu," ngài Dandy đáp. "Tôi muốn xem nó biết được những gì."
"Có lẽ nó là một đứa trong bọn," ông Tar nói. "Cái bọn đã gây rắc rối cho chúng ta ở Vancouver và Mel- boume và..."
"Bắt lấy nó," ngài Dandy giục giã. "Bắt lấy nó ngay.” Người tóc vàng cùng người có râu đội mũ liền vội vã chạy lên đồi.
Ngài Dandy và ông Tar đứng ngoài cửa nhà số 33.
"Cạy cửa đi," ngài Dandy ra lệnh.
Ông Tar tựa vai vào cửa và dùng hết sức nặng của thân mình để đẩy. "Cửa đã được chặn rồi," hắn nói. "Được bảo vệ kỹ càng lắm."
Ngài Dandy tuyên bố, "Không có gì do một tên Jack này làm ra mà một tên Jack khác không thể sửa được." Hắn tháo găng ra, đặt bàn tay lên cửa và lẩm bẩm một câu gì đó bằng thứ ngôn ngữ cổ hơn tiếng Anh nhiều. "Giờ thì hãy thử lại đi," hắn nói.
Tar lại tựa người vào cánh cửa, hì hục đẩy. Lần này thì chiếc khóa bật ra và cánh cửa hé mở.
"Khá lắm," ngài Dandy nói.
Có tiếng rầm rầm trên đầu chúng, ở tít trên tầng cao nhất của căn nhà.
Chúng lên được nửa cầu thang thì gặp gã đàn ông tên Jack chạy xuống. Ngài Dandy nhe răng cười với hắn, không có gì là vui vẻ, mà chỉ khoe ra hàm răng trắng đều tăm tắp. "Xin chào anh, Jack Frost," hắn nói. "Tôi tưởng anh bắt được thằng nhóc rồi chứ."
"Đúng thế” gã đàn ông tên Jack đáp. "Nhưng nó đã chạy mất;"
"Lại để nó chạy mất à?" Nụ cười của Jack Dandy càng nở rộng hơn, càng trở nên lạnh lùng hơn và hoàn hảo hơn. "Một lần thì chỉ là sai lầm, Jack ạ. Nhưng hai lần thì quả là tai họa”
"Chúng ta sẽ bắt được nó," gã đàn ông tên Jack nói. "Chuyện này phải kết thúc vào đêm nay."
"Tốt nhất là như vậy," ngài Dandy nói.
"Nó sẽ chạy về nghĩa địa," gã đàn ông tên Jack bảo. Cả ba cùng lao xuống cầu thang.
Gã đàn ông tên Jack đánh hơi không khí. Lỗ mũi hắn ngửi thấy mùi của thằng nhóc, làm tóc gáy hắn dựng đứng lên. Hắn cảm thấy tựa hồ những chuyện này đã từng xảy ra từ bao nhiêu năm trước vậy. Hắn dừng lại để khoác chiếc áo choàng đen dài của mình lên vai, chiếc áo được móc ở tiền sảnh, chẳng hợp chút nào khi treo cạnh chiếc áo vét bằng vải tuýt và cái áo đi mưa của ông Frost.
Cửa trước đang mở ra phố, và ánh sáng ban ngày đã gần tắt hẳn. Lần này thì gã đàn ông tên Jack biết rõ phải đi đường nào. Hắn không hề chần chừ, mà đi thẳng ra khỏi nhà và chạy lên đồi, hướng về phía nghĩa địa.
Khi Scarlett chạy được đến nghĩa địa thì cổng đã đóng chặt. Cô nắm lấy cánh cổng kéo một cách tuyệt vọng, nhưng đêm ấy hai cánh cổng đã bị khóa chặt. Rồi Bod hiện ra bên cạnh cô. "Cậu có biết chìa khóa ở đâu không?" cô hỏi.
"Bọn mình không còn thời gian đâu” Bod đáp. Nó áp sát người vào những thanh sắt. "Vòng tay ôm lấy tớ đi."
"Cái gì cơ?"
"Cứ ôm lấy tớ rồi nhắm mắt lại”
Scarlett trố mắt nhìn Bod như thể muốn thách nó làm một điều gì đó, rồi cô ôm chặt nó và nhắm nghiền mắt lại. "Rồi”
Bod ngả người dựa vào những chấn song sắt ở cánh cổng nghĩa địa. Những chấn song này cũng là một phần của nghĩa địa, và nó mong rằng Quyền Tự do Đi lại Trong Nghĩa địa của nó có thể, dù là chỉ một lần này thôi, có thể dùng cho cả người khác nữa. Thế rồi, tựa như một làn khói, Bod chui qua những chấn song.
"Cậu mở mắt ra được rồi đấy” nó bảo.
Cô bé mở mắt.
"Cậu làm thế nào mà chui qua được thế?"
"Đây là nhà của tớ," nó đáp. "Ở đây tớ có thể làm được rất nhiều điều."
Có tiếng giày chạy lép bép trên vỉa hè, rồi hai gã đàn ông xuất hiện phía bên kia cánh cổng, nắm lấy cổng mà lắc mạnh.
"Xin-chào," Jack Ketch nói, bộ ria giật giật, và hắn nhe răng cười với Scarlett qua những chấn song cổng như một con thỏ đang nắm được một điều bí mật nào đó. Hắn có một sợi thừng tết bằng lụa màu đen quấn quanh cánh tay trái, và giờ hắn đang giật giật sợi dây này bằng bàn tay phải đeo găng. Hắn tháo sợi dây ra khỏi cánh tay và nắm nó trong bàn tay mình, thử sức mạnh của nó, kéo nó từ tay này qua tay kia như thể sắp móc dây thành hình. "Ra đây này, cô bé. Không sao đâu. Không ai định làm hại cô đâu”
"Chúng tôi chỉ muốn hỏi cô mấy câu thôi” gã đàn ông to cao tóc vàng, ông Nimble, nói. "Chúng tôi đang lo việc công đây." (Hắn nói dối. Chẳng có gì là công sự trong hội Jack Đủ Nghề cả, mặc dù trong các chính phủ, trong lực lượng cảnh sát và trong những nơi khác, ở đâu cũng có những tên Jack).
( Jack là một cái tên thông dụng trong tiếng Anh. Tên đầy đủ của tất cả những gã “Jack" đều được dùng làm danh từ chung, hoặc được nhắc đến trong các câu tục ngữ tiếng Anh:
- Jack Dandy: người thích ăn diện, công tử bột
- Jack Frost: sương muối (được nhân cách hóa)
- Jack Ketch: người chuyên treo cổ các phạm nhân
- Jack Tar: thủy thủ
- Jack Nimble: Jack Nhanh Nhẹn nhân vật trong một bài đồng dao tiếng Anh )
"Chạy đi!" Bod kêu lên với Scarlett, kéo tay cô bé. Cô bỏ chạy.
"Mày có nhìn thấy không?" gã Jack, mà đồng bọn gọi là Ketch, nói.
"Cái gì cơ?"
"Tao trông thấy một ai khác đứng cạnh nó. Một thằng nhóc."
"Là thằng nhóc đó à?" gã Jack mà đồng bọn gọi là Nimble hỏi.
"Làm sao mà tao biết được? Đây. Đỡ tao một tay." Gã đàn ông to con hơn chập hai tay lại với nhau tạo thành một chỗ để chân, và bàn chân đi giày đen của Jack Ketch đặt lên đó. Được tên đồng bọn nhấc lên, hắn trèo qua cánh cổng và nhảy xuống lối đi phía trong, chạm đất bằng cả tay lẫn chân như một con ếch. Hắn đứng lên và nói, "Tìm đường khác mà vào đi. Tao sẽ bám theo bọn chúng." Và hắn lao lên con đường uốn khúc dẫn vào sâu trong nghĩa địa.
º º º
Scarlett nói, "Cho tớ biết bọn mình đang làm gì đi." Bod đang bước vùn vụt qua khu nghĩa địa chìm trong ánh chiều chạng vạng, nhưng nó vẫn chưa chạy hẳn.
"Cậu định nói gì cơ?"
"Tớ nghĩ gã đàn ông đó muốn giết tớ. Cậu có thấy cái cách hắn ta nghịch nghịch sợi dây đen ấy không?"
"Tớ dám chắc là thế. Gã Jack kia - cái ông Frost của cậu ấy - hắn thì muốn giết tớ. Hắn có một con dao."
"Hắn không phải ông Frost của tớ. Ờ, tớ cho là nói thế cũng được. Xin lỗi cậu. Bọn mình đang đi đâu đây?"
"Trước hết bọn mình phải đưa cậu đến chỗ an toàn đã. Rồi tớ sẽ xử lý bọn chúng”
Khắp xung quanh Bod, các cư dân của nghĩa địa đã thức giấc và đang tụ tập lại, vẻ lo ngại, hốt hoảng.
"Bod?" Caius Pompeius hỏi. "Chuyện gì đang xảy ra vậy?"
"Bọn người xấu” Bod trả lời. "Các vị để mắt đến bọn chúng giúp cháu được không? Cho cháu biết bọn chúng đang ở đâu, từng giây từng phút một. Chúng ta cũng phải tìm chỗ trốn cho Scarlett nữa. Có ai có ý kiến gì không?"
"Hầm mộ trong nhà thờ thì sao?" Thackeray Por-ringer gợi ý.
"Chúng sẽ sục vào đó trước tiên."
"Cậu đang nói chuyện với ai thế?" Scarlett hỏi, nhìn Bod như thể nó đã hóa điên.
Caius Pompeius nói, "Trong lòng đồi được không?"
Bod ngẫm nghĩ một lát. "Được ạ. Ý kiến hay đấy. Scarlett, cậu có nhớ cái nơi bọn mình đã nhìn thấy Người Da Chàm không?"
"Hơi hơi. Một chỗ rất tối. Tớ nhớ ở đấy chẳng có gì đáng sợ cả."
"Tớ sẽ đưa cậu đến đó."
Hai đứa chạy lên đồi. Scarlett biết Bod đang vừa đi vừa nói chuyện với mọi người, nhưng cô chỉ có thể nghe thấy những câu nó thốt ra. Giống như nghe ai đó nói chuyện điện thoại vậy. Ý nghĩ ấy làm cô bé chợt nhớ ra...
"Mẹ tớ sẽ cáu lắm đây", cô nói. "Tớ chết chắc rồi."
"Không," Bod bảo. "Cậu sẽ không chết. Chưa đâu. Còn lâu lắm." Rồi, nó nói với một ai khác, "Có hai tên rồi. Chúng đi cùng nhau à? Vâng."
Chúng đã lên đến lăng của dòng họ Frobisher. "Lối vào nằm phía sau cỗ quan tài ở dưới bên trái ấy," Bod nói. "Nếu cậu nghe thấy có ai đến mà không phải là tớ thì đi thẳng xuống dưới đáy hang nhé... cậu có thứ gì tạo ra ánh sáng được không?"
"Có. Tớ có một cái đèn điôt nhỏ ở dây đeo chìa khóa."
"Tốt."
Nó mở cửa lăng ra. "Và nhớ cẩn thận đấy nhé. Đừng để bị vấp ngã hay là đại loại gì như thế."
"Cậu định đi đâu?" Scarlett hỏi.
"Đây là nhà của tớ," Bod nói. "Tớ phải bảo vệ nó."
Scarlett nắm chặt dây chìa khóa có chiếc đèn điôt và khom người chống bàn tay và đầu gối xuống. Khe hở phía sau cỗ quan tài khá nhỏ, nhưng cô vẫn chui qua được, rồi cố hết sức đẩy cái quan tài về chỗ cũ. Trong ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn điôt, cô có thể trông thấy mấy bậc đá. Cô đứng thẳng lên đưa tay lần theo vách đá bước xuống ba bậc thang, rồi cô dừng lại, ngồi xuống, trong lòng hết sức hy vọng rằng Bod biết rõ mình đang làm gì, và cô chờ đợi.
º º º
Bod hỏi, "Chúng đang ở đâu ạ?"
Bố nó đáp, "Một tên ở trên Đường Ai Cập, đang đi tìm con. Tên đồng bọn thì đang đứng đợi ở bức tường ngăn cách với con hẻm. Có ba tên khác đang đến, trèo lên các thùng rác để nhảy qua tường."
"Giá mà chú Silas có ở đây. Chú ấy sẽ xử lý được bọn chúng trong tích tắc. Hoặc là cô Lupescu cũng được”
"Con không cần đến họ đâu” ông Owens động viên.
"Mẹ đâu ạ?"
"Mẹ đang ở dưới bức tường gần con hẻm”
"Bố bảo mẹ là con đã đưa Scarlett đi trốn ở đằng sau lăng nhà Frobisher rồi nhé. Bảo mẹ để ý đến bạn ấy, nếu có chuyện gì xảy ra với con”
Bod lao qua khu nghĩa địa đang chìm dần vào bóng tối. Lối duy nhất dẫn đến khu Tây Bắc nghĩa địa là đi qua Đường Ai Cập. Và để đến được đó thì nó sẽ phải vượt qua gã đàn ông nhỏ thó với sợi dây lụa màu đen. Một gã đàn ông đang lùng kiếm nó, đang muốn giết nó...
Nó là Nobody Owens cơ mà, nó tự nhủ. Nó cũng là một phần của nghĩa địa. Nó sẽ không sao cả.
Suýt nữa nó đã không trông thấy gã đàn ông nhỏ thó kia - tên Jack được gọi là Ketch - trong khi chạy vội đến Đường Ai Cập. Gã đàn ông gần như hòa vào trong bóng tối.
Bod hít một hơỉ và gắng hết sức Tàng hình, rồi chạy qua chỗ gã kia, như một hạt bụi bay theo làn gió buổi tối.
Nó men theo Đường Ai Cập phủ đây cây xanh, rồi, tập trung mọi ý chí, nó hiện hình trở lại thật rõ ràng, và co chân đá một viên sỏi.
Nó trông thấy cái bóng bên cạnh chiếc cổng vòm tách ra khỏi màn đêm rồi đuổi theo nó, cũng lặng lẽ chẳng kém gì một bóng ma.
Bod chui qua đám dây thường xuân rủ xuống chắn ngang đường và chạy vào góc Tây Bắc nghĩa địa. Nó biết mình phải tính toán thời gian thật chính xác. Nếu nó chạy nhanh quá thì gã kia sẽ bị mất dấu, nhưng nếu chậm quá thì sợi dây lụa đen kia sẽ thít lấy cổ nó, cướp mất hơi thở cùng với tất cả tương lai của nó.
Nó tạo ra thật nhiều tiếng động khi chui qua đám dây thường xuân, làm một con cáo sống trong nghĩa địa hoảng hốt nhảy vào bụi rậm. Ở đây chẳng khác nào một khu rừng với những tấm bia mộ bị đổ, những bức tượng cụt đầu, những cây cao, những bụi nhựa ruồi, những đống lá khô mục nát trơn trượt, nhưng đó là khu rừng mà Bod đã khám phá từ khi nó đủ lớn để có thể tự đi được.
Giờ thì nó đang đi vội vã nhưng cẩn thận, bước từ những gốc cây phủ đầy thường xuân sang những viên đá, rồi lại đặt chân xuống đất, trong lòng tin chắc đây là nghĩa địa của mình. Nó có thể cảm thấy toàn thể khu nghĩa địa đang tìm cách che chở nó, bảo vệ nó, làm cho nó biến đi, và nó gắng hết sức chống lại phép bảo vệ ấy, gắng hết sức để cho gã đàn ông kia nhìn thấy mình.
Nó trông thấy Nehemiah Trot, và chần chừ dừng lại.
"Xin chào cậu Bod!" chàng thi sĩ reo lên. "Tôi nghe nói đang xảy ra một chuyện ly kỳ vô cùng, rằng cậu đang lao mình qua lãnh địa này như một ngôi sao chổi lao qua bầu trời. Mọi chuyện thế nào rồi, cậu Bod thân mến?"
"Anh cứ đứng đó," Bod nói. "Đứng nguyên ở đó. Nhìn về phía em vừa chạy đến. Cho em biết khi nào hắn đến gần."
Bod chạy vòng quanh ngôi mộ phủ dây thường xuân của ông Castairs rồi đứng lại, thở hổn hển như đã hết cả hơi, quay lưng lại với kẻ đang đuổi theo sau.
"Hắn đến đây rồi, chàng trai ạ," Nehemiah Trot thông báo. "Cách cậu khoảng hai mươi bước”
Gã Jack tên gọi là Ketch trông thấy thằng bé trước mặt mình. Hắn kéo căng sợi dây lụa màu đen giữa hai bàn tay. Suốt bao nhiêu năm nay, sợi dây ấy đã thít quanh vô số cổ họng, đã kết liễu tính mạng của bao nhiêu người. Sợi dây rất mềm nhưng rất chắc, và không hề để lại dấu vết trên phim X-quang.
Bộ ria của Ketch hơi giật giật, nhưng không có gì khác trên người hắn cử động. Hắn đã nhìn thấy con mồi, và không muốn làm nó giật mình. Hắn bắt đầu bước tới, êm ru như một cái bóng.
Thằng bé đứng thẳng lên.
Jack Ketch lao về phía trước, đôi giày đen bóng của hắn giẫm không một tiếng động trên nền đất phủ đầy lá mục.
"Hắn đang chạy đến đấy, chàng trai!" Nehemiah Trot kêu lên.
Thằng bé quay lại, và Jack Ketch nhảy xổ vào nó...
Và rồi ông Ketch cảm thấy mặt đất sụp xuống dưới chân mình. Hắn chới với vươn bàn tay đi găng ra để bấu víu vào một cái gì đó nhưng không được, và cứ thế rơi thẳng xuống độ sâu sáu mét của cái huyệt cũ trước khi ngã đánh "rầm" vào quan tài ông Carstairs, làm nắp áo quan gẫy vụn, và đập gẫy luôn cổ chân hắn.
"Thế là xong một tên” Bod bình tĩnh nói, mặc dù nó chẳng cảm thấy bình tĩnh chút nào.
"Cậu xử lý hắn một cách tao nhã vô cùng” Ne-hemiah Trot nói. "Tôi sẽ sáng tác một bài Tụng ca. Cậu có muốn ngồi lại nghe không?"
"Không còn thời gian nữa” Bod đáp. "Những tên kia đâu rồi?"
Euphemia Horsiall trả lời, "Có ba tên đang ở trên lối đi phía Tây Nam, hướng lên đồi."
Tom Sands nói thêm, "Còn một tên nữa. Giờ thì hắn chỉ đang đi quanh nhà thờ thôi. Hắn chính là kẻ đã lởn vởn khắp nghĩa địa suốt tháng vừa rồi đấy. Nhưng giờ hắn có vẻ khang khác”
Bod nói, "Anh chị hãy để ý coi chừng cái tên đã rơi xuống mộ của ông Carstairs - và xin lỗi ông Carstairs hộ em..."
Nó cúi đầu chui qua một cành thông và chạy lên đồi, lúc tiện thì men theo đường đi, lúc muốn nhanh hơn thì tránh lối đi chính mà nhảy từ đài tưởng niệm này sang bia mộ khác.
Nó chạy qua cây táo già. "Vẫn còn bốn tên nữa cơ," một giọng con gái chanh chua lên tiếng. "Bốn tên, tên nào cũng là sát nhân cả. Và bọn chúng sẽ không chịu làm phúc cho cậu mà ngã xuống huyệt đâu”
"Chào chị Liza. Em tưởng chị vẫn còn giận em chứ."
"Có lẽ thế, mà cũng có lẽ là không phải” cô đáp lại, không thấy hình hài đâu, chỉ nghe thấy giọng nói của cô. "Nhưng tôi sẽ không để chúng xọc dao vào người cậu đâu."
"Thế thì chị hãy làm chúng sẩy chân giúp em, làm chúng sẩy chân, làm chúng rối trí, làm chậm bước chúng. Chị có làm được như thế không?"
"Trong khi cậu lại bỏ chạy à? Nobody Owens, tại sao cậu không Tàng hình đi rồi trốn vào trong ngôi mộ an toàn của mẹ cậu ấy, ở đó chúng sẽ chẳng bao giờ tìm được cậu, và chẳng mấy chốc Silas sẽ quay về để xử lý chúng..”
"Có lẽ chú ấy sẽ quay về, mà có lẽ chú ấy sẽ không quay về," Bod nói. "Em sẽ gặp chị ở chỗ cây sét đánh". "Tôi vẫn không nói chuyện với cậu đâu đấy," giọng nói của Liza Hempstock vang lên, kiêu ngạo như chim công, nhanh nhảu như chim sẻ.
"Chị có nói chuyện với em mà. Ý em là, mình đang nói chuyện với nhau đấy thôi”
"Chỉ trong trường hợp khẩn cấp thôi. Còn sau đây thì tôi sẽ không nói với cậu một lời nào nữa đâu."
Bod chạy về chỗ cây sét đánh, một cây sồi đã bị sét đánh cháy thành than từ hai mươi năm trước và giờ chỉ còn là một gốc cây trần trụi vươn lên trời.
Nó nảy ra một ý tưởng. Ý tưởng ấy chưa thành hình thật sự. Để thực hiện được ý tưởng ấy, còn phụ thuộc vào việc nó có nhớ những bài học của cô Lu-pescu, nhớ những gì nó đã được nhìn thấy và nghe thấy hồi còn bé hay không.
Tìm ra được ngôi mộ ấy khó hơn là nó tưởng, thậm chí việc lùng kiếm ngôi mộ cũng rất khó khăn, nhưng cuối cùng thì nó cũng tìm thấy - một ngôi mộ xấu xí bị lật nghiêng theo một góc xệch xẹo, trên đỉnh tấm bia là một bức tượng thiên thần cụt đầu ẩm ướt, nom như một cục mốc khổng lồ. Chỉ khi chạm vào ngôi mộ ấy và cảm thấy hơi lạnh toát ra từ đó, thì nó mới biết chắc chắn.
Nó ngồi xuống trên nấm mồ và tự bắt mình hiện hình hoàn toàn.
"Cậu chẳng Tàng hình gì cả," giọng nói của Liza lại lên tiếng. "Ai cũng có thể trông thấy cậu."
"Tốt," Bod nói. "Em muôn chúng tìm thấy em."
"Nhiều người hiểu kẻ ngốc hơn là kẻ ngốc hiểu người” Liza nói.
Trăng đang mọc, một vầng trăng khổng lồ nằm thấp dưới chân trời. Bod băn khoăn không biết nếu nó huýt sáo thì liệu có quá lố không.
"Tao trông thấy nó rồi!"
Một gã đàn ông chạy về phía nó, vừa chạy vừa loạng choạng vấp ngã, theo sau là hai gã khác.
Bod có thể cảm thấy những người chết trong nghĩa địa đang tụ tập lại xung quanh để theo dõi mọi việc, nhưng nó cố gắng lờ họ đi. Nó ngồi lại trên ngôi mộ ghê tởm kia cho thoải mái hơn. Nó cảm thấy mình như một miếng mồi đặt trong cái bẫy, một cảm giác chẳng hay ho gì.
Gã đàn ông to như bò mộng là người đầu tiên đến chỗ nấm mồ, theo sát phía sau là gã tóc trắng, người phát ngôn của cả bọn, và gã cao lớn tóc vàng.
Bod ngồi yên tại chỗ.
Gã đàn ông tóc trắng nói, "A. Cậu bé luôn lẩn trốn của gia đình Dorian đây hả. Thật kỳ điệu. Anh chàng Jack Frost của chúng ta đã đi săn lùng khắp cả thế gian, vậy mà mi lại ở ngay đây, ngay ở nơi anh ta đã để mất dấu mi mười ba năm trước”
Bod nói, "Hắn đã sát hại gia đình tôi."
"Đúng như vậy”
"Tại sao?"
"Điều đó thì có quan trọng gì? Mi đâu có thể cho ai khác biết được."
"Thế thì ông có cho tôi biết cũng chẳng thiệt gì."
Gã đàn ông tóc trắng thốt ra một tiếng cười cụt ngủn. "Ha! Chú nhóc buồn cười thật. Điều mà ta muốn biết, đó là làm sao mi có thể sống trong nghĩa địa này suốt mười ba năm mà không ai đánh hơi ra được cả?"
"Tôi sẽ trả lời câu hỏi của ông nếu ông trả lời câu hỏi của tôi."
Gã đàn ông cổ bò mộng quát, "Không được nói chuyện với ngài Dandy như thế, đồ hỗn láo! Ta sẽ bẻ gãy xương mi..."
Gã đàn ông tóc trắng tiến một bước về phía ngôi mộ. "Suỵt, Jack Tar. Được rồi. Một câu trả lời, đổi lại một câu trả lời. Chúng ta - các bạn của ta và ta - là thành viên của một hội bằng hữu có tên là hội Jack Đủ Nghề, hoặc là hội Những Kẻ Bất lương, và còn nhiều cái tên khác nữa. Hội chúng ta đã tồn tại từ rất lâu đời. Chúng ta biết... chúng ta nhớ được những điều mà phần lớn loài người đã quên mất. Tri thức cổ xưa."
Bod nói, "Phép thuật. Các ông biết phép thuật."
Gã nọ gật đầu một cách thân thiện. "Nói như vậy cũng được. Nhưng đây là một thứ phép thuật rất đặc biệt Thứ phép thuật bắt nguồn từ cái chết. Khi một vật rời khỏi thế giới này, thì một vật khác sẽ đến thế chỗ nó."
"Các ông đã giết gia đình tôi để - để làm gì cơ? Để lấy phép thuật ấy à? Thật nực cười."
"Không. Chúng ta giết gia đình mi để bảo vệ bản thân mình. Cách đây rất lâu rồi, một người trong hội chúng ta - đấy là ở Ai Cập, từ thời xây kim tự tháp - người đó đã tiên tri rằng một ngày kia, sẽ có một đứa trẻ được chào đời, nó sẽ sống ở vùng ranh giới giữa người sống và người chết. Khi đứa trẻ ấy đến tuổi trưởng thành thì nó sẽ lật đổ hội của chúng ta cùng tất cả đại nghĩa của chúng ta. Chúng ta đã cho người tìm số tử vi từ trước khi London còn là một ngôi làng, gia đình mi đã nằm trong tầm ngắm của chúng ta từ trước khi New Amsterdam được đổi tên thành New York. Và chúng ta đã cử tên Jack mà chúng ta nghĩ là người giỏi nhất, lanh lợi nhất, nguy hiểm nhất, để xử lý mi. Chúng ta muốn việc đó phải được hoàn thành trọn vẹn, để chúng ta có thể dùng những điềm gở ấy cho lợi ích của hội chúng ta, và giữ cho mọi việc tốt đẹp thêm năm ngàn năm nữa. Chỉ có điều anh ta đã không làm được."
Bod nhìn ba gã đàn ông.
"Thế hắn ta đâu rồi? Tại sao hắn không đến đây?"
Gã tóc vàng đáp, "Bọn ta có thể xử lý mi được. Anh bạn Jack Frost của chúng ta có cái mũi thính lắm. Anh ta đang đánh hơi lần theo dấu vết cô bạn của mi. Không thể để lại nhân chứng nào cả. Nhất là với một việc như thế này."
Bod cúi người về phía trước, thọc tay vào đám cỏ dại mọc trên ngôi mộ chẳng được ai chăm sóc.
"Lại đây mà bắt tôi đi," nó chỉ nói có vậy.
Gã tóc vàng nhăn nhở cười, gã có cái cổ bò mộng xông đến, và - đúng vậy - ngay cả ngài Dandy cũng tiến mấy bước về phía nó.
Bod thọc tay vào sâu hơn trong đám cỏ, rồi nó nhếch môi lên và thốt ra ba từ bằng một thứ ngôn ngữ mà từ thời Người Da Chàm được sinh ra đã là một cổ ngữ.
"Skagh! Thegh! Khavagah!"
Nó đã mở lối đi của quỷ nhập tràng.
Ngôi mộ mở ra như một cánh cửa lật. Trong cái hố đen thẳm bên dưới cánh cổng ấy, Bod nhìn thấy những ngôi sao, một màn đêm chi chít những đốm sáng lung linh.
Gã cổ bò mộng, ông Tar, đã lao đến bên miệng hố, không kịp dừng lại, và ngã nhào vào bóng tối trong nỗi kinh ngạc.
Ông Nimble nhảy xổ về phía Bod, tay đang rộng, lao mình qua cái hố. Bod ngắm nhìn hắn nhảy lên đến điểm cao nhất, lơ lửng giữa không trung trong thoáng chốc, trước khi hắn bị hút vào cái cổng của quỷ nhập tràng, hút xuống đáy sâu bên dưới.
Ngài Dandy đứng ở miệng cổng, trên một gờ đá và nhìn xuống bóng tối trong cái hố. Rồi hắn ngước lên nhìn Bod và nhếch đôi môi mỏng dính lên cười.
"Ta không biết mi vừa làm gì," ngài Dandy nói.
"Nhưng nó chẳng có tác dụng gì đâu." Hắn thò bàn tay đi găng vào túi rồi lôi ra một khẩu súng và chĩa thẳng vào Bod. "Lẽ ra ta đã phải làm điều này từ mười ba năm trước rồi mới phải," ngài Dandy nói. "Ta không thể tin vào người khác được. Nếu là chuyện quan trọng thì phải tự mình làm lấy."
Làn gió sa mạc nổi lên ở bên dưới cánh cổng của quỷ nhập tràng, một hơi gió nóng, khô hanh, mang theo cát bụi. Bod nói, "Dưới ấy có một sa mạc. Nếu ông muốn tìm nước thì ông sẽ tìm thấy. Nếu chịu khó tìm thì sẽ có cả thức ăn nữa, nhưng đừng gây thù oán với bầy dạ điểu. Hãy tránh xa Thành Quỷ. Bọn quỷ nhập tràng sẽ xóa sạch trí nhớ của ông, biến ông thành một con quỷ như bọn chúng, hoặc chúng sẽ đợi cho đến khi ông đã rữa nát ra, rồi ăn thịt ông. Kiểu gì thì ông cũng có thể tránh được hai điều đó."
Báng súng không hề dao động. Ngài Dandy hỏi, "Tại sao mi lại cho ta biết những điều ấy?"
Bod chỉ về phía bên kia nghĩa địa. "Vì bọn họ” nó nói, và khi nó thốt ra câu ấy, khi ngài Dandy liếc mắt đi chỗ khác, chỉ trong một tích tắc thôi, Bod liền tàng hình. Mắt ngài Dandy đưa đi đưa lại, nhưng Bod không còn đứng bên cạnh bức tượng cụt đầu nữa. Đâu đó sâu thẳm bên dưới cái hố, một vật gì đó kêu lên, như tiếng rền rĩ cô đơn của một con chim đêm.
Ngài Dandy nhìn quanh, trán nhăm nhúm lại, cả người tràn đầy nỗi giận dữ và do dự. "Mi đâu rồi?" hắn gầm lên. "Quỷ tha ma bắt mi đi! Mi đâu rồi?"
Hắn tưởng như nghe thấy một giọng nói lên tiếng, "Các cánh cổng của quỷ nhập tràng phải được mở ra rồi đóng lại. Ông không thể để chúng mở mãi như thế. Chúng muốn được đóng lại”
Miệng hố rung lên, chao đảo. Ngài Dandy từng trải qua một cơn động đất, cách đây đã nhiều năm rồi ở Bangladesh. Cảm giác lúc này cũng giống như vậy: mặt đất run rẩy, làm ngài Dandy ngã xuống, rơi vào bóng tối bên dưới, nhưng hắn kịp túm được tấm bia mộ bị đổ, vòng tay ôm chặt lấy nó. Hắn không biết bên dưới mình có gì, chỉ biết rằng hắn không muốn khám phá ra.
Mặt đất vẫn tiếp tục rung động, và hắn cảm thấy tấm bia mộ đang dần dịch chuyển dưới sức nặng của hắn. Hắn nhìn lên. Thằng bé đang đứng đó, cúi xuống nhìn hắn vẻ tò mò.
"Tôi sẽ để cho cánh cổng đóng lại” nó nói. "Tôi nghĩ nếu ông cứ ôm lấy tấm bia ấy thì nó có thể sẽ sập lại trên đầu ông, đè bẹp ông, hoặc là nó sẽ nuốt chứng ông, biến ông thành một phần của cánh cổng. Tôi không biết. Nhưng tôi sẽ cho ông một cơ hội, nhiều hơn là ông đã từng dành cho gia đình tôi."
Một cú giật mạnh nữa. Ngài Dandy ngước lên nhìn vào cặp mắt xám của thằng bé và chửi thề. Rồi hắn nói:
"Mi không thể chạy thoát khỏi bọn ta được đâu. Bọn ta là hội Jack Đủ Nghề. Chúng ta có mặt ở khắp mọi nơi. Chuyện này chưa kết thúc đâu."
"Nhưng với ông thì đã kết thúc rồi," Bod nói. "Kết thúc đối với người của ông, và tất cả sự nghiệp của các ông. Giống như người ở Ai Cập đã tiên tri. Các ông đã không giết được tôi. Các ông từng có mặt ở khắp mọi nơi. Nhưng giờ thì tất cả đã kết thúc." Rồi Bod mỉm cười. "Đó là những gì mà chú Silas đang làm, phải không? Chú ấy đi xa để tiêu diệt các ông."
Vẻ mặt của ngài Dandy đã xác nhận những nghi ngờ của Bod.
Và ngài Dandy định đáp lại gì thì Bod không bao giờ biết được, bởi vì hắn buông tấm bia mộ ra và chậm rãi ngã xuống cánh cổng của quỷ nhập tràng đang mở rộng.
Bod nói, " Wegh Khârados ”
Cánh cổng của quỷ nhập tràng lại trở thành một nấm mồ như trước, không hơn không kém.
Có cái gì đang kéo ống tay áo của nó. Frontibras Bartleby ngước lên nhìn nó. "Bod! Gã đàn ông ở cạnh nhà thờ ấy. Hắn đã trèo lên đồi rồi."
º º º
Gã đàn ông tên Jack bám theo dấu vết mà cái mũi của hắn đã đánh hơi thấy. Hắn đã tách khỏi những tên đồng bọn khác, lý do chính là bởi vì mùi nước hoa nồng nặc của Jack Dandy khiến hắn không thể ngửi được mùi gì khác dịu hơn.
Hắn không thể đánh hơi để tìm ra được thằng bé.
Ở nơi đây thì không. Nó có mùi giống hệt như khu nghĩa địa này. Nhưng con bé kia thì lại có mùi giống như mùi căn hộ của mẹ nó, có mùi nước hoa mà sáng hôm đó nó đã chấm lên cổ trước khi đến trường. Nó cũng có mùi của một nạn nhân nữa, Jack nghĩ thầm, cái mùi mồ hôi toát ra lúc ta sợ hãi, cái mùi con mồi của hắn. Và con bé có đang ở đâu đi chăng nữa thì thằng bé cũng sẽ đến đó, không sớm thì muộn.
Hắn nắm chặt cán dao và đi lên đồi. Hắn đã lên gần đến đỉnh đồi thì bỗng nhận ra - một linh cảm mà hắn biết là sự thật - rằng Jack Dandy và những tên khác đã tiêu đời rồi. Tốt, hắn tự nhủ. Càng rộng chỗ cho ta thăng tiến. Bước thăng tiến của hắn trong Hội đã chậm lại rồi ngừng hẳn, sau khi hắn không giết được hết gia đình Dorian. Dường như hắn không còn được tin tưởng nữa.
Nhưng bây giờ, chẳng mấy chốc nữa, mọi chuyện sẽ thay đổi hết.
Lên đến đỉnh đồi thì gã đàn ông tên Jack không đánh hơi thấy mùi của con bé nữa. Hắn biết con bé đang ở đâu đó gần đây.
Hắn đi ngược trở lại một cách bình thản, và lại ngửi thấy mùi nước hoa của con bé ở một quãng cách đó chừng năm mươi bước chân, bên cạnh một cái lăng mộ nhỏ có cổng sắt đóng kín. Hắn kéo cánh cổng, và nó mở toang ra.
Mùi con bé đang tỏa ra rất rõ rệt. Hắn có thể ngửi thấy mùi nỗi sợ hãi của nó. Hắn lôi từng cái áo quan xuống khỏi giá, để mặc cho chúng trượt ầm ầm xuống sàn, làm những ván gỗ cũ kỹ gãy vụn, và những thứ nằm trong quan tài rơi hết ra sàn lăng. Không, con bé không trốn trong cái quan tài nào cả...
Nếu thế thì nó trốn ở đâu?
Hắn xem xét bức tường. Kín đặc. Hắn quỳ xuống, kéo cỗ áo quan cuối cùng ra và thò tay về phía sau cỗ áo quan. Tay hắn tìm thấy một lỗ hổng...
"Scarlett," hắn gọi, cố nhớ xem khi còn là ông Frost thì hắn đã gọi tên con bé như thế nào, nhưng hắn thậm chí còn không tìm thấy nổi cái phần ấy trong con người hắn nữa: giờ thì hắn là gã đàn ông tên Jack, và chỉ là gã đàn ông tên Jack mà thôi. Hắn lom khom chống bàn tay và đầu gối xuống, bò qua cái lỗ trên bức tường.
Khi nghe thấy những tiếng rầm rầm ở trên đầu, Scarlett cẩn thận đi sâu xuống những bậc thang bên dưới, tay trái lần theo vách hang, tay phải nắm chặt cái đèn điôt ở chùm chìa khóa, nó chỉ tỏa sáng vừa đủ cho cô nhìn thấy chỗ để đặt chân. Cô đi xuống bậc thang cuối cùng và rón rén tiến vào căn hầm mở rộng, tim đập thình thịch.
Cô thấy sợ: sợ ông Frost tốt bụng và những người bạn còn đáng sợ hơn của ông ta; sợ căn phòng này cùng những ký ức nó gợi lại; và nếu thành thật với chính mình thì thậm chí cô còn thấy hơi sợ cả Bod nữa. Nó không còn là một cậu bé lặng lẽ bí hiểm, một mắt xích nối liền với thời thơ ấu của cô. Giờ nó đã là một cái gì đó hoàn toàn khác, một cái gì đó không giống người.
Cô thầm nghĩ, Không biết bây giờ mẹ đang nghĩ gì nhỉ. Hẳn mẹ sẽ gọi đi gọi lại đến nhà ông Frost để xem khi nào mình về. Cô lại nghĩ thêm, nếu mình có thể sống sót ra khỏi đây thì mình sẽ bắt mẹ mua điện thoại cho mình. Thật là quá lắm. Nói cho đúng ra thì mình là đứa duy nhất trong khối không có điện thoại riêng.
Rồi cô nghĩ, Mình nhớ mẹ quá.
Cô ngỡ rằng không người nào có thể đi chuyển một cách lặng lẽ đến thế trong bóng tối, nhưng một bàn tay đi găng bỗng bất ngờ chụp lấy miệng cô, và một giọng nói chỉ còn hơi giống giọng ông Frost vang lên một cách vô cảm, "Định giở trò ma mãnh gì - định giở bất kỳ trò gì - thì ta sẽ cắt cổ liền. Nếu hiểu thì hãy gật đầu”
Scarlett gật đầu.
Bod nhìn thấy cảnh tan hoang trên nền lăng Frobisher, với những cỗ quan tài bị vỡ và những thứ trong quan tài vương vãi ra khắp nơi. Ở đó có rất nhiều người họ Fro-bisher và Frobysher, cùng với một số người họ Pettyfer nữa, tất cả đều tỏ ra vô cùng hoảng hốt và phẫn nộ.
"Hắn đã chui xuống đó rồi," Ephraim nói.
"Cảm ơn," Bod đáp. Nó chui qua lỗ hổng dẫn vào lòng đồi, và bước xuống các bậc thang.
Bod nhìn được trong bóng tối cũng như những người chết khác: nó trông thấy các bậc thang, và nó trông thấy căn buồng ở chân cầu thang. Và khi xuống được nửa đường, thì nó trông thấy gã đàn ông tên Jack đang giữ chặt Scarlett. Hắn đã bẻ quặt tay cô bé ra sau lưng, và đang gí vào cổ cô bé một con dao to, sắc lẻm, như loại dao để lóc xương.
Gã đàn ông tên Jack ngước nhìn lên bóng tối.
"Xin chào chú nhóc” hắn nói.
Bod không nói gì. Nó tập trung tinh thần vào phép Tàng hình, và bước thêm một bước nữa.
"Mi nghĩ rằng ta không nhìn thấy mi," gã đàn ông tên Jack nói. "Và mi đã đúng. Ta không thể nhìn thấy mi thật. Nhưng ta ngửi thấy mùi nỗi sợ của mi. Và ta có thể nghe thấy tiếng chân mi, tiếng hơi thở của mi. Và giờ ta đã biết về cái phép biến hình ma mãnh của mi rồi, nên ta có thể cảm nhận được mi. Hãy nói gì đi. Hãy nói gì đó cho ta nghe thấy, không thì ta sẽ cắt cô bé này ra thành từng mảnh đấy. Có hiểu không?"
"Có," Bod đáp, giọng nó âm vang trong căn hầm trống. "Tôi hiểu."
"Tốt," Jack nói. "Giờ thì lại đây. Chúng ta chuyện gẫu một lát nào."
Bod bước xuống các bậc thang. Nó dồn hết ý chí vào phép Sợ hãi, để dâng sự khiếp sợ trong căn buồng lên thành nỗi Kinh hoàng thực sự...
"Thôi đi," gã đàn ông tên Jack nói. "Cái mà mi đang làm ấy. Đừng có cố làm gì."
Bod liền dừng lại.
"Mi tưởng là mi có thể dùng mấy trò ảo thuật tầm thường của mi để gạt ta hay sao?" Jack hỏi. "Mi có biết ta là gì không, nhóc?"
Bod nói, "Ông là một tên Jack. Ông đã giết gia đình tôi".
Jack nhướn lông mày lên. Hắn hỏi, "Lẽ ra ta nên giết cả mi nữa ấy à?"
"Ồ, đúng vậy. Lão già kia nói rằng nếu các ông để tôi đủ tuổi trưởng thành thì Hội của các ông sẽ bị tiêu điệt. Tôi đã lớn lên đây. Các ông đã thất bại, các ông đã thua cuộc rồi."
"Hội của ta đã tồn tại từ trước thời Babylon. Không gì có thể làm hại chúng ta được."
"Chúng không nói cho ông biết, phải không?" Bod chỉ còn đứng cách gã đàn ông tên Jack có năm bước. "Bốn tên kia ấy. Chúng là những tên Jack cuối cùng còn lại. Cái gì nhỉ... Krakow và Vancouver và Melboume. Tất cả đã biến mất rồi."
Scarlett nói, "Bod ơi, xin cậu đấy. Bắt hắn thả tớ ra đi."
"Cậu đừng lo," Bod bảo cô bé, với một vẻ bình thản mà nó không hề cảm thấy trong lòng. Nó quay sang Jack, "Ông có hại bạn ấy thì cũng chẳng ích gì đâu. Ông có giết tôi thì cũng chẳng ích gì. Ông không hiểu à? Hội Jack Đủ Nghề đã không còn nữa rồi. Chẳng còn gì nữa cả."
Jack gật đầu vẻ trầm tư. "Nếu đúng là như thế thật," Jack nói, "và nếu giờ ta là Jack-một-mình, thì ta lại càng có lý do để giết cả hai bọn mi."
Bod không nói gì.
"Lòng tự hào," gã đàn ông tên Jack nói. "Tự hào về công việc của ta. Tự hào vì hoàn thành được nhiệm vụ ta đã bắt đầu." Rồi hắn bỗng hỏi, "Mi đang làm gì vậy?"
Tóc Bod dựng đứng lên. Nó cảm thấy những dải khói đang uốn lượn quanh căn phòng. Nó đáp, "Không phải tôi. Đó là Sát thủ đấy. Chúng canh giữ những báu vật được chôn ở đây."
“Đừng có bịa chuyện."
Scarlett xen vào, "Cậu ấy không bịa đâu. Thật đấy."
Jack nói, "Thật ấy à? Kho báu được chôn ở đây? Đừng có khiến ta phải..."
SÁT THỦ CANH GIỮ KHO BÁU CHO CHỦ NHÂN.
"Ai nói đấy?" gã đàn ông tên Jack vừa nhìn quanh vừa hỏi.
"Ông cũng nghe thấy à?" Bod ngạc nhiên hỏi.
"Ta có nghe thấy," Jack đáp. "Đúng thế."
Scarlett nói, "Tớ chẳng nghe thấy gì hết."
Gã đàn ông tên Jack hỏi, "Nơi này là nơi nào, thằng nhóc kia? Chúng ta đang ở đâu đây?"
Bod chưa kịp trả lời thì Sát thủ lại lên tiếng bằng giọng nói vang vọng khắp căn phòng, ĐÂY LÀ NƠI CẤT KHO BÁU. ĐÂY LÀ NƠI CHỨA ĐỰNG QUYỀN LỰC. ĐÂY LÀ NƠI SÁT THỦ CANH GIỮ VÀ ĐỢI CHỦ NHÂN QUAY TRỞ LẠI.
Bod gọi, "Jack?"
Gã đàn ông tên Jack nghiêng đầu sang một bên. Hắn nói, "Thật tuyệt khi được nghe mi thốt lên cái tên của ta, nhóc ạ. Nếu mi gọi tên ta từ trước thì có lẽ ta đã tìm được mi sớm hơn rồi”
"Jack. Tên thật của tôi là gì? Gia đình tôi gọi tôi bằng tên gì?"
"Tại sao mi lại quan tâm đến chuyện đó?"
Bod đáp, "Sát thủ bảo tôi hãy đi tìm tên của mình. Tên tôi là gì?"
Jack nói, "Để ta xem nào. Peter à? Hay là Paul? Hay là Roderick nhỉ - trông mi giống một chú chàng Roder- ick đấy. Hay có lẽ mi tên là Stephen..." Hắn đang đùa giỡn với thằng bé.
"Đằng nào ông cũng giết tôi cơ mà, sao ông không cho tôi biết luôn đi," Bod nói. Jack chỉ nhún vai và gật đầu trong bóng tối, như thể muốn nói rõ ràng là như thế rồi.
"Tôi muốn ông thả bạn ấy ra," Bod nói. "Hãy thả Scarlett ra."
Jack nhòm vào bóng tối, rồi nói, "Kia có phải một cái bàn thờ đá không?"
"Chắc là vậy."
"Cùng với một con dao? Một cái chén? Và một cái trâm cài?"
Hắn liền mỉm cười trong bóng tối. Bod có thể nhìn thấy nụ cười trên mặt hắn: một nụ cười thích thú lạ kỳ, chẳng phù hợp chút nào với khuôn mặt ấy, một nụ cười của người vừa khám phá ra và hiểu được một điều gì đó. Scarlett thì chẳng nhìn thấy gì ngoài bóng tối đen thẳm thỉnh thoảng lại nổ đom đóm trong mắt cô, nhưng cô nghe được vẻ sung sướng trong giọng nói của Jack.
Gã đàn ông tên Jack nói, "Vậy là đồng bọn của ta đã chết hết và Hội đồng cũng không còn. Thế nhưng, nếu như không còn tên Jack Đủ Nghề nào nữa ngoại trừ ta, thì cũng có quan trọng gì đâu? Một Hội mới có thể được thành lập, hùng mạnh hơn Hội cũ nhiều."
HÙNG MẠNH, Sát Thủ lặp lại.
"Thật hoàn hảo” gã đàn ông tên Jack nói. "Hãy nhìn mà xem. Chúng ta đang ở một nơi mà Hội của ta đã tìm kiếm từ hàng ngàn năm nay, với tất cả những thứ cần thiết cho nghi lễ đang chờ đợi chúng ta. Nó khiến ta tin vào ý Trời, phải không nào? Hoặc là tin vào lời cầu nguyện của tất cả những tên Jack đã đi trước chúng ta, cầu nguyện rằng, vào lúc sa sút nhất, chúng ta lại được ban cho những vật này."
Bod có thể cảm thấy Sát thủ đang lắng nghe từng lời của Jack, cảm thấy một tiếng rì rầm phấn khích đang nổi lên trong căn phòng.
Gã đàn ông tên Jack nói, "Giờ ta sẽ chìa tay ra, nhóc. Scarlett, con dao của ta vẫn còn ở trên cổ mi đấy - nên đừng có tìm cách bỏ chạy khi ta thả mi ra. Nhóc, đặt cái chén, con dao và cái trâm cài vào tay ta."
CÁC BÁU VẬT CỦA SÁT THỦ, ba giọng nói đồng thanh thì thào. CHÚNG LUÔN QUAY TRỞ LẠI. CHÚNG TA CANH GIỮ CHÚNG CHO CHỦ NHÂN.
Bod cúi xuống, lấy những vật đặt trên bàn thờ đặt vào bàn tay đi găng đang mở rộng của Jack. Jack nhe răng cười.
"Scarlett. Ta sẽ thả mi ra. Khi ta buông con dao ra, ta muốn mi phải nằm úp mặt xuống đất, và đặt tay lên sau đầu. Nếu định bỏ chạy hay giở trò gì, thì ta sẽ giết mi một cách đau đớn vô cùng. Hiểu không?"
Cô nuốt nước bọt. Miệng cô khô khốc, nhưng cô vẫn run rẩy bước về phía trước. Cánh tay phải của cô, bị bẻ quặt vào thắt lưng, giờ đã tê dại đi, và vai cô cũng bị tê lâm rầm như kiến bò. Cô nằm xuống, áp má lên sàn đất nện.
Bọn mình chết m ất thôi , cô thầm nghĩ, nhưng ý nghĩ ấy hoàn toàn vô cảm. Cô thấy như mình đang quan sát một việc xảy ra với người khác, một tấn kịch không có thực đã biến thành một trò chơi Bịt mắt giết người. Cô nghe thấy tiếng Jack túm lấy Bod...
Giọng Bod vang lên, "Hãy thả bạn ấy ra."
Giọng Jack đáp lại: "Nếu mi làm theo những gì ta bảo, thì ta sẽ không giết con bé. Ta thậm chí sẽ không làm nó đau nữa kìa."
"Tôi không tin. Bạn ấy có thể nhận dạng ông."
"Không", Giọng hắn có vẻ rất quả quyết. "Nó không thể. Rồi hắn nói, "Mười ngàn năm rồi, mà con dao vẫn còn sắc. Hắn có vẻ thán phục thấy rõ. "Nhóc. Ra quỳ trên cái bàn thờ ấy. Chắp tay ra sau lưag. Làm ngay."
ĐÃ LÂU QUÁ Rồi, Sát thủ nói, nhưng Scarlett chỉ nghe thấy một tiếng xào xạc, như thể có những cuộn gì đó đang uốn lượn quanh căn phòng.
Nhưng gã đàn ông tên Jack thì đã nghe được. "Mi muốn biết tên mình không, nhóc, trước khi ta cắt tiết mi trên tảng đá này?".
Bod cảm thấy con dao lạnh buốt dí vào gáy. Và đúng lúc đó nó bỗng hiểu ra. Mọi thứ đều chậm lại.
Mọi thứ trở nên hết sức rõ ràng. "Tôi đã biết tên của mình” nó nói. "Tôi là Nobody Owens. Đó là tên của tôi” Và, khi nó quỳ trên chiếc bàn thờ đá lạnh lẽo ấy, tất cả có vẻ thật đơn giản vô cùng.
"Sát Thủ” nó nói với toàn thể căn phòng. "Các người còn muốn có chủ nhân không?"
SÁT THỦ CANH GIỮ KHO BÁU CHO ĐẾN KHI CHỦ NHÂN QUAY TRỞ LẠI.
"Chẳng phải các người đã tìm thấy vị chủ nhân mà các người vẫn tìm kiếm rồi đấy hay sao?" Bod hỏi.
Nó cảm thấy Sát thủ đang vặn mình, trở nên to lớn hơn, nghe thấy một âm thanh như tiếng lạo xạo của hàng ngàn cành cây khô, tựa như một vật gì đó khổng lồ, đầy cơ bắp, đang trườn quanh căn phòng. Và rồi, lần đầu tiên trong đời, Bod nhìn thấy Sát thủ. Sau đó nó không thể miêu tả lại cụ thể vật mình đã trông thấy: một vật to lớn vô cùng, đúng thế; một vật có thân thể của một con rắn khổng lồ, nhưng cái đầu thì là... của cái gì nhỉ? Có ba cái đầu cả thảy: ba cái đầu, ba cái cổ. Bộ mặt của những cái đầu ấy đều đờ đẫn như người chết, tựa hồ ai đó đã tạo nên những con rối ấy bằng cách chắp ghép các bộ phận lấy từ xác chết của người và động vật. Các khuôn mặt đều được vẽ hoa văn màu tím than, xăm những xoáy màu chàm, khiến những bộ mặt chết ấy trở thành những thứ quái thai kỳ dị, nhưng lại đầy biểu cảm.
Ba khuôn mặt của Sát thủ hít hít không khí xung quanh Jack một cách rụt rè, như thể đang muốn vuốt ve, mơn trớn hắn.
"Có chuyện gì vậy?" Jack hỏi. "Cái gì đây? Nó đang làm gì thế?"
"Chúng tên là Sát thủ. Chúng canh giữ nơi này. Chúng muốn có một chủ nhân để ra lệnh cho chúng," Bod trả lời.
Jack nhấc nhấc con dao bằng đá trong tay. 'Tuyệt vời” hắn lẩm bẩm một mình. Rồi hắn nói to, "Tất nhiên rồi. Chúng đang chờ đợi ta. Và đúng vậy. Rõ ràng là ta chính là chủ nhân mới của chúng.
Sát thủ lượn vòng quanh căn buồng. CHỦ NHÂN? giọng nói vang lên, như một con chó đã kiên nhẫn chờ đợi suốt bao năm nay. Rồi giọng nói lại gọi, CHỦ NHÂN? như đang thử xem từ ấy thốt lên nghe như thế nào. Và từ ấy có vẻ êm tai vô cùng, nên chúng nhắc lại nó một lần nữa, với một tiếng thở dài vui sướng và thèm khát, CHỦ NHÂN...
Jack đưa mắt nhìn Bod. "Mười ba năm trước ta đã để mất dấu mi, và giờ đây, giờ đây chúng ta gặp lại nhau. Một hội đồng đã bị tiêu diệt. Nhưng một hội mới sắp được bắt đầu. Tạm biệt nhé, nhóc”. Bằng một tay, hắn đưa con dao xuống gần cổ họng thằng bé. Trong tay kia hắn giữ chiếc chén.
"Bod," Bod nói. "Không phải Nhóc. Mà là Bod." Nó cao giọng hơn. "Sát thủ” nó gọi. "Các người sẽ làm gì với chủ nhân mới của mình?"
Sát Thủ thở dài. CHÚNG TA SẼ BẢO VỆ NGƯỜI CHO ĐẾN NGÀY TẬN THẾ. SÁT THỦ SẼ MÃI MÃI BAO BỌC NGƯỜI TRONG TẤM THÂN UỐN KHÚC CỦA CHÚNG TA VÀ KHÔNG BAO GIỜ ĐỂ NGƯỜI PHẢI ĐỐI MẶT VỚI NHỮNG HlỂM NGUY CỦA THẾ GIAN.
"Thế thì hãy bảo vệ hắn đi," Bod nói. "Ngay bây giờ."
"Ta là chủ nhân của các ngươi. Các ngươi phải nghe lệnh ta," gã đàn ông tên Jack nói.
SÁT THỦ ĐÃ CHỜ ĐỢI LÂU LẮM Rồi, ba giọng nói đồng thanh của Sát Thủ vang lên đầy đắc thắng. LÂU LẮM RỒI. Thân thể uốn lượn của chúng bắt đầu chậm rãi, biếng nhác vòng quanh gã đàn ông tên Jack.
Gã đàn ông tên Jack đánh rơi chiếc chén. Giờ thì hai tay hắn cầm hai con dao - trong một tay là con dao bằng đá, còn tay kia là con dao có cán bằng xương màu đen - và hắn quát lên, "Lùi lại! Tránh xa ta ra! Không được lại gần hơn nữa!" Hắn vung dao lên chém loạn xạ, trong khi Sát thủ quấn quanh hắn, và bằng một động tác xiết chặt đáng sợ, nuốt chửng gã đàn ông tên Jack trong tấm thân uốn khúc của mình.
Bod chạy đến bên Scarlett và đỡ cô đứng dậy. "Tớ muốn nhìn," cô nói. "Tớ muốn biết chuyện gì đang xảy ra." Cô lôi chiếc đèn điôt ra và bật đèn lên...
Những gì Scarlett nhìn thấy không giống với những gì Bod nhìn thấy. Cô không nhìn thấy Sát thủ, đó là một điều may mắn. Nhưng cô có nhìn thấy gã đàn ông tên Jack. Cô nhìn thấy vẻ khiếp sợ trên mặt hắn, khiến cho
hắn trông lại giống như ông Frost trước kia. Trong nỗi kinh hoàng, hắn lại giống người đàn ông tốt bụng đã chở cô về nhà. Hắn đang lơ lửng trong không trung, đầu tiên là cách mặt đất khoảng hơn một mét, rồi sau lên đến ba mét, điên cuồng chém vào không khí bằng hai con dao, cố đâm một thứ gì đó mà cô không nhìn thấy, và rõ ràng là chẳng có tác dụng gì.
Ông Frost, gã đàn ông tên Jack, cho dù hắn là ai đi chăng nữa, đang bị lôi ra xa khỏi hai đứa, bị kéo cho đến khi hắn nằm dán vào tường căn phòng, chân tay giang rộng ra khua khoắng, quằn quại trong không khí.
Scarlett nhìn thấy như ông Frost đang bị hút qua bức tường, bị lôi vào giữa những phiến đá và bị chúng nuốt chửng. Giờ thì chẳng còn thấy gì nữa ngoài khuôn mặt của hắn. Hắn đang gào thét một cách điên cuồng, tuyệt vọng, gọi Bod, bảo nó hãy gọi vật kia lại, hãy cứu hắn, xin làm ơn, xin làm ơn... và rồi khuôn mặt hắn cũng bị hút qua bức tường, và giọng nói của hắn im bặt.
Bod quay về chỗ bàn thờ bằng đá. Nó nhặt con dao đá, chiếc chén và chiếc trâm cài lên khỏi mặt đất rồi đặt chúng lại chỗ cũ. Bod để nguyên con dao kim loại màu đen ở chỗ nó đã bị rơi.
Scarlett nói, "Tớ tưởng cậu bảo là Sát thủ không thể làm hại người khác cơ mà. Tớ tưởng chúng chỉ có thể dọa bọn mình."
"Đúng thế” Bod đáp. "Nhưng chúng muốn có một chủ nhân để bảo vệ. Chúng đã bảo tớ như vậy”
Scarlett nói, "Cậu định nói là cậu biết. Cậu biết trước là chuyện này sẽ xảy ra..”
"Ừ. Tớ đã hy vọng như thế."
Nó dẫn cô bé lên các bậc thang, đưa cô trở lại lòng lăng Frobisher tan hoang. "Tớ sẽ phải dọn dẹp chỗ này” Bod bình thản nói. Scarlett cố không nhìn vào những thứ nằm trên sàn.
Hai đứa bước ra ngoài nghĩa địa. Scarlett đờ đẫn nhắc lại, "Cậu đã biết trước chuyện đó sẽ xảy ra."
Lần này Bod không đáp lại.
Cô nhìn nó như thể không biết mình đang nhìn vào cái gì. "Vậy là cậu đã biết. Cậu biết Sát thủ sẽ bắt hắn. Có phải vì thế mà cậu giấu tớ xuống dưới ấy không? Có phải không? Tớ là cái gì vậy, mồi câu à?"
Bod trả lời, "Không phải như thế đâu." Rồi nó nói thêm, "Bọn mình vẫn còn sống, phải không nào? Và hắn sẽ không gây rắc rối cho bọn mình nữa."
Scarlett có thể cảm thấy nỗi hờn giận và cơn thịnh nộ trào lên trong lòng mình. Sự sợ hãi đã biến mất, và giờ cô chỉ còn muốn gào thét, quát tháo ai đó. Cô cố chống lại nỗi thôi thúc ấy. "Thế còn những tên kia thì sao? Cậu cũng giết chúng rồi à?"
"Tớ không giết ai hết”
"Thế thì chúng đâu rồi?"
"Một tên thì ở dưới đáy một cái huyệt sâu, bị gãy cổ chân. Còn ba tên kia thì, ờ, chúng đang ở một nơi xa lắm."
"Cậu không giết chúng à?"
"Tất nhiên là không rồi," Bod nói. "Đây là nhà của tớ cơ mà. Tại sao tớ lại phải làm cho hồn ma của chúng lảng vảng ở đây mãi mãi chứ?" Rồi nó nói thêm, "Nghe này, sẽ không sao đâu. Tớ đã xử lý chúng rồi”
Scarlett bước lùi lại một bước. Cô nói, "Cậu không phải là người. Người bình thường chẳng bao giờ cư xử như cậu. Cậu cũng tồi tệ chẳng kém gì hắn cả. Cậu là một con quỷ."
Bod cảm thấy máu đang dồn hết khỏi mặt mình. Sau tất cả những chuyện nó đã trải qua trong đêm đó, sau tất cả những gì đã xảy ra, không hiểu sao đây lại là điều khó khăn nhất mà nó phải đối mặt "Không," nó nói. "Không phải như thế đâu."
Scarlett bắt đầu lùi ra xa khỏi Bod.
Cô bước một bước, hai bước, và đang sắp sửa bỏ chạy, sắp sửa quay người để cuống cuồng, tuyệt vọng chạy đi, ngang qua khu nghĩa địa chìm trong ánh trăng, thì một người đàn ông mặc áo nhung đen bỗng đặt tay lên cánh tay cô, rồi nói, "Ta e là cháu đã tỏ ra không công bằng với Bod. Nhưng chắc hẳn cháu sẽ thấy dễ chịu hơn nếu cháu không nhớ gì về chuyện này. Vì thế, chúng ta hãy cùng đi dạo một lát, và bàn về những gì đã xảy ra với cháu trong mấy ngày qua, xem cháu nên nhớ những chuyện gì, và những chuyện gì thì tốt hơn là cháu nên quên đi."
Bod nói, "Chú Silas. Chú không thể làm thế được. Chú không thể làm bạn ấy quên cháu đi được."
"Như thế sẽ an toàn hơn” Silas chỉ đáp lại có vậy. "Nếu không an toàn hơn cho tất cả chúng ta thì cũng an toàn hơn cho cô bé."
"Cháu - cháu không được có ý kiến trong chuyện này ư?" Scarlett hỏi.
Silas không nói gì. Bod đi một bước về phía Scarlett và nói, "Cậu nghe này, mọi chuyện đã kết thúc rồi. Tớ biết là rất khó khăn. Nhưng mà... Bọn mình đã thành công rồi. Tớ và cậu. Bọn mình đã đánh bại chúng."
Cô bé chỉ khe khẽ lắc đầu, như thể cô đang chối bỏ tất cả những gì cô đã nhìn thấy, tất cả những gì cô đã phải trải qua.
Cô ngước lên nhìn Silas và chỉ nói, "Cháu muốn về nhà. Xin cho cháu về nhà."
Silas gật đầu. Chú dẫn cô bé đi xuôi con đường sẽ đưa họ ra khỏi nghĩa địa. Bod nhìn theo Scarlett trong khi cô đi xa dần, hy vọng rằng cô sẽ quay đầu nhìn lại, rằng cô sẽ mỉm cười, hay chỉ đơn giản là nhìn nó mà không có vẻ sợ hãi trong mắt. Nhưng Scarlett không quay lại. Cô đi thẳng.
º º º
Bod quay về khu lăng mộ. Nó phải làm một việc gì đó, vì vậy nó liền nhặt những cỗ quan tài bị đổ lên, dọn sạch những mảnh vỡ và đặt những bộ xương tan tác trở lại trong quan tài. Nó hết sức thất vọng vì không ai trong số những người họ Frobisher, Frobysher và Pet- tyfer đang tụ tập quan sát nó ở xung quanh biết chắc bộ xương nào nằm trong cỗ quan tài nào.
Một người đàn ông đưa Scarlett về nhà. Sau này mẹ của Scarlett không nhớ cụ thể ông ta đã nói với bà những gì, nhưng bà đã rất thất vọng khi biết rằng ông Jay Frost đáng mến đã buộc phải chuyển khỏi thành phố này.
Người đó nói chuyện với hai mẹ con trong bếp về cuộc sống cùng những mơ ước của họ, và khi cuộc trò chuyện kết thúc thì không hiểu sao mẹ của Scarlett đã quyết định rằng họ sẽ quay trở lại Glasgow: Scarlett sẽ cảm thấy hạnh phúc hơn khi được ở gần bố và gặp lại những bạn bè cũ của mình.
Silas để cô bé và mẹ cô ngồi lại trong bếp, nói chuyện, bàn bạc về những khó khăn họ sẽ gặp phải khi chuyển về Scotland, rồi Noona hứa sẽ mua cho Scarlett một chiếc điện thoại riêng. Họ gần như không nhớ là Silas đã có mặt ở đó, và Silas cũng muốn như vậy.
Silas quay trở lại nghĩa địa và thấy Bod đang ngồi ở giảng đường bên cạnh đài tưởng niệm, mặt đanh lại.
"Bạn ấy thế nào rồi ạ?"
"Chú đã xóa những ký ức của cô bé," Siỉas đáp. "Họ sẽ quay trở về Glasgow. Ở đó cô bé có bạn bè”
"Làm sao chú có thể làm bạn ấy quên cháu được?"
Silas trả lời, "Con người thường muốn quên đi những điều không thể. Nó khiến cho thế giới của họ an toàn hơn."
Bod nói, "Cháu rất mến bạn ấy."
"Chú xin lỗi."
Bod cố mỉm cười, nhưng không cười nổi. "Những tên ấy... chúng đã nói về chuyện rắc rối chúng gặp phải ở Krakow, Melboume và Vancouver. Đó là do chú phải không ạ?"
"Không chỉ có một mình chú mà thôi” Silas nói.
"Cả cô Lupescu nữa ạ?" Bod hỏi. Rồi, khi nhìn thấy vẻ mặt người bảo trợ của mình, nó hỏi, "Cô ấy có sao không ạ?"
Silas lắc đầu, và trong thoáng chốc Bod không thể chịu nổi khi nhìn vào mặt chú. "Cô ấy đã chiến đấu rất kiên cường. Cô ấy đã chiến đấu vì cháu, Bod ạ."
Bod nói, "Các Sát thủ đã bắt được tên Jack. Ba tên khác thì đã rơi xuống cánh cổng của quỷ nhập tràng. Còn một tên bị thương nhưng vẫn còn sống, ở đáy mộ của ông Carstairs ấy ạ,"
Chú Silas nói, "Hắn là tên Jack cuối cùng. Chú cần nói chuyện với hắn, trước khi mặt trời mọc”
Làn gió lạnh buốt thổi qua nghĩa địa, nhưng dường như cả người đàn ông lẫn thằng bé đều không cảm thấy hơi lạnh ấy.
Bod nói, "Bạn ấy sợ cháu”
"Đúng thế."
"Nhưng tại sao chứ ạ? Cháu đã cứu sống bạn ấy. Cháu không phải người xấu. Và cháu cũng giống như bạn ấy. Cháu cũng là người sống mà." Rồi nó hỏi, "Cô Lupescu đã ngã xuống như thế nào ạ?"
"Rất can đảm” chú Silas nói. "Trong trận chiến. Để bảo vệ những người khác."
Mắt Bod tối sầm lại. "Lẽ ra chú có thể đưa cô ấy về đây. Chôn cất cô ấy ở đây. Như thế cháu sẽ có thể nói chuyện với cô ấy."
Chú Silas nói, "Điều đó không thể được."
Bod cảm thấy mắt mình cay xè. Nó nói, "Cô ấy thường gọi cháu là Nimini. Sẽ không có ai khác gọi cháu như thế nữa."
Chú Silas hỏi, "Chúng ta cùng đi mua thức ăn cho cháu được không?"
"Chúng ta ấy ạ? Chú muốn cháu đi cùng chú ạ? Ra khỏi nghĩa địa ư?"
Chú Silas đáp, "Hiện tại thì không có ai tìm cách giết cháu cả. Sẽ có rất nhiều việc mà chúng sẽ không bao giờ làm được nữa. Vì vậy nên, đúng thế, cháu có thể đi cùng. Cháu muốn ăn gì?"
Bod đã định nói là nó không đói, nhưng đó không phải sự thật. Nó cảm thấy hơi buồn nôn, hơi choáng váng, và nó đã đói ngấu rồi. "Bánh pizza được không ạ?" nó gợi ý.
Hai chú cháu đi qua nghĩa địa, xuống chỗ cổng. Bod trông thấy các cư dân của nghĩa địa tập trung lại khi nó bước đi, nhưng họ để cho thằng bé và người bảo trợ của nó đi qua mà không nói một lời. Họ chỉ nhìn theo hai chú cháu.
Ánh đèn của cửa hàng pizza rất sáng, sáng quá đến nỗi làm Bod khó chịu. Nó và chú Silas ngồi ở phía cuối cửa hàng, rồi chú Silas chỉ cho nó cách dùng thực đơn và cách gọi món. (Chú Silas chỉ gọi cho mình một cốc nước và một đĩa rau trộn nhỏ mà chú dùng cái nĩa đẩy qua đẩy lại nhưng không bao giờ đưa lên miệng.)
Bod cầm miếng bánh pizza bằng tay và ăn ngấu nghiến. Nó không hỏi một câu nào. Khi nào thấy thích hợp thì chú Silas sẽ nói chuyện với nó, hoặc là chú sẽ không nói gì cả.
Chú Silas nói, "Bọn chú đã biết về chúng... về những tên Jack... từ rất, rất lâu rồi, nhưng chỉ biết về chúng qua những việc làm của chúng. Bọn chú nghi ngờ rằng có một tổ chức đứng đằng sau những việc đó, nhưng chúng đã lẩn trốn quá kỹ. Và rồi chúng lùng tìm cháu, và sát hại gia đình cháu. Vậy là, một cách từ từ, chú đã lần theo được dấu vết của chúng."
"Bọn chú có phải là chú và cô Lupescu không ạ?" Bod hỏi.
"Chú, cô ấy và những người khác giống như thế."
"Đội Hộ vệ Danh dự," Bod nói.
"Làm sao mà cháu biết được...?" chú Silas hỏi. Rồi chú nói, "Cũng chẳng quan trọng gì. Bình nhỏ vẫn có tai to, như người ta thường nói. Đúng vậy. Đội Hộ vệ Danh dự." Chú Silas nhấc cốc nước của mình lên. Chú đưa cốc lên môi, nhấp một chút, rồi lại đặt xuống mặt bàn màu đen bóng lộn.
Mặt bàn ấy gần như một tấm gương, và nếu có ai để ý nhìn, thì họ sẽ thấy rằng người đàn ông cao lớn kia không có hình phản chiếu lại.
Bod nói, "Giờ thì chú đã xong... đã hoàn thành những việc này rồi. Chú vẫn sẽ ở lại chứ ạ?"
"Chú đã hứa rồi” chú Silas đáp. "Chú sẽ ở lại cho đến khi cháu lớn."
"Cháu đã lớn rồi," Bod nói.
"Chưa” chú Silas nói. "Mới gần lớn thôi. Chưa lớn".
Chú đặt một tờ mười bảng xuống mặt bàn.
"Cô bé ấy," Bod nói. "Scarlett ấy ạ. Tại sao bạn ấy lại sợ cháu đến thế hả chú Silas?"
Nhưng chú Silas không nói gì, và câu hỏi ấy đọng lại giữa không trung trong khi người đàn ông và cậu thiếu niên đi ra khỏi cửa hàng pizza sáng trưng, bước vào bóng tối đang chờ đón họ; và chẳng mấy chốc họ đã chìm vào màn đêm.