Câu Chuyện Phương Bắc

Lượt đọc: 462 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phần II

Cuối năm 1916, trong thời gian chiến tranh chống Đức, hoa tiêu Alexander Shchedrin vừa tốt nghiệp trường trung cấp hàng hải, được cử đến hạm đội phóng ngư lôi ở đảo Aland.

Mùa đông năm ấy ấm áp. Ngoài Reval, biển đã hoàn toàn tan băng. Shchedrin đứng trên boong tàu nhìn lên bờ biển bóng tối phủ mờ hồi lâu. Mẹ anh còn lại đó, ở Reval. Bà đã đến Petrograd để tiễn con trai và tạm trú trong một khách sạn không sang trọng.

Cha Shchedrin, một bác sĩ hàng hải, đã mất từ lâu. Mẹ anh sống bằng tiền trợ cấp. Bà còn giúp đỡ các chị em, các bà cô, bà thím của Shchedrin và tiền trợ cấp không phải lúc nào cũng đủ. Chỉ riêng ở Petrograd đã có tới ba bà cô. Ngoài đó ra còn phải gửi cho một bà cô ở Vladivostok và một bà nữa ở Kiev.

Các bà cô đều là những bà gái già hoặc bà góa với một bầy con trên tay. Gia đình sống hòa thuận, các cô ở Petrograd dạy thêm môn nhạc và tiếng Pháp. Các bà lúc nào cũng vội vàng, lo lắng, chạy đến các lớp học và các thư viện, ngồi lịm đi ở các buổi hòa nhạc, bao giờ cũng thương một ai đó, bao giờ cũng giúp đỡ người nào đó.

Hầu hết các bà cô đều là những người tốt bụng, tuy không xinh đẹp. Chính điều đó, theo lời mẹ Shchedrin, đã phá hại đời riêng của các bà. Một bà hát rất hay, có giọng của diễn viên ca kịch, nhưng không được lên sân khấu vì bị cận thị. Không có kính, bà không nhìn thấy gì và trở nên rất lúng túng như lột đứa con nít. Người như vậy thì lên sân khấu làm sao được!

Mặc dù không xinh đẹp, thời son trẻ, các bà đều có những mối tình sôi nổi. Nhân vật của những câu chuyện này đã rụng tóc từ lâu, đã có vợ con, ngồi trong nghị viện nay chỉ huy các trung đoàn, tuy vậy mỗi lần các bà ngẫu nhiên gặp các ông ở ngoài phố vẫn đỏ bừng mặt lên như các cô nữ sinh, sau đó chạy về chỗ mẹ Shchedrin đóng chặt cửa buồng, rồi khóc thút thít mãi trong đó.

- Vì lẽ gì mà trời ban thưởng cho ta những mụ ngố này vậy! - Mẹ Shchedrin bực mình la lên ở ngoài cửa.

Nhưng Shchedrin biết mẹ chỉ vờ vĩnh thế thôi.

Mấy chị em không thể sống thiếu nhau. Mẹ Shchedrin được coi như người an ủi chung của mọi người, bà hiền hậu, biết suy xét và tự coi mình là một con người cách mạng.

Các bà cô cũng hay đồng bóng. Vừa khóc lóc xong chừng độ một giờ đồng hồ, vào giữa bữa ăn trưa, các bà đã phẫn nộ nói về viên bộ trưởng bộ giáo dục đần độn Kasso.

Như nhiều gia đình khác, nhà Shchedrin có truyền thống gia tộc riêng. Khi Alexander mới lớn lên, mẹ đã kể cho anh là ông nội anh, Nikolai Shchedrin, đã tham gia cuộc khởi nghĩa của những chiến sĩ tháng Chạp, bị thương vào tay và đã bỏ trốn ra nước ngoài. Cùng với một thủy thủ thuộc đội tàu cận vệ, ông đã chạy về Abo và từ đó theo mặt biển đóng băng ở vịnh Bothnia vượt sang Thụy Điển. Ở đảo Aland ông đã bị bắt, nhưng sau đó đã chạy thoát sang Stockholm nhờ một chiếc tàu buồm Pháp.

Cũng ngay lúc đó, bà mẹ lấy từ trong hòm ra cho Shchedrin xem bức tranh màu một sĩ quan trẻ tuổi. Người sĩ quan nhợt nhạt đứng ở một gian phòng trống không, tay chống lên đuôi kiếm, mặc quân phục đen. Phía sau, sau lớp cửa kính là những đám mây trắng và những thửa vườn bao phủ một lớp khói xám mờ, không hiểu vì sao bức ảnh tạo nên một cảm giác đơn độc.

Shchedrin không tin lắm những truyền thuyết gia tộc. Đối với các bà cô có vẻ hoan hỉ, anh tỏ ra độ lượng, thậm chí giễu cợt nữa.

Các cô gọi Alexander Shchedrin là con mọt sách vô tích sự, rất bực dọc vì thằng cháu quá ham mê các sách giáo khoa, ngồi thâu đêm vẽ bản đồ địa dư, lẽ ra phải đọc Turgenev hay ngâm thơ của Fet mới phải.

Khi Shchedrin nhận được lệnh cử đến đảo Aland và cùng mẹ rời Petrograd đi Reval, các bà cô đã ra cả ga Baltic để tiễn.

Các sĩ quan hải quân đi cùng toa với Shchedrin mỉa mai nhìn cả một bầy các bà cô líu ríu chung quanh Shchedrin. Các bà làm dấu phép, căn dặn anh đủ điều và hồi hộp đánh rơi cả kính và túi xách. Shchedrin đỏ mặt, sốt ruột chờ hồi chuông thứ ba.

Nhưng khi tàu chuyển bánh, anh bực với chính mình, bực là đã xấu hổ vì các cô trước mặt các sĩ quan, và suốt dọc đường anh lạnh ngắt.

Ở Reval, trong gian phòng khách sạn chật hẹp, không khí có vẻ mờ đục đi giữa bốn bề che rèm cửa nhung và mặt sàn trải thảm. Mẹ Shchedrin ngồi trên đi-văng nói với anh:

- Sasha[1], con thân yêu, đến đảo Aland con thử cố tìm những vết tích của ông Nikolai. Dù sao cũng thú vị lắm chứ con?

- Thưa mẹ, vâng.

Trước đó, bà mẹ cứ khóc mãi và Shchedrin mừng là mẹ đã khuây bớt những ý nghĩ về chiến tranh và nhớ tới ông nội.

Ở Reval trong thời chiến cấm các nhà không được thắp đèn nến mà rèm cửa chưa được che kín. Họ ngồi trong bóng tối và thành phố cổ ở ngoài cửa sổ chìm trong bóng tối tĩnh mịch. Những ngôi sao xanh lập lòe trên cao, từ ngoài phố vọng lại tiếng bánh xe lăn khe khẽ.

- Chưa bao giờ mẹ nghĩ trước là sẽ ngồi với con ở một khách sạn Reval, - mẹ anh nói - Và tiễn con ra mặt trận. Tất cả những điều đó sẽ kết thúc ra sao hở Sasha? - Bà mẹ buồn bã thở dài.

Có tiếng gõ cửa. Người hầu phòng đầu hói giống như một viên mật thám bước vào. Y liếc nhanh căn phòng và bảo rằng theo truyền thống nhiều năm, chủ khách sạn có tổ chức lễ cây thông cho các khách xa nhà. Chủ nhân mời mọi người xuống phòng lớn, nơi cây thông đã được lắp đèn sáng và các khách trọ có thể nhận được quà tặng.

Shchedrin cùng mẹ xuống phòng lớn. Ánh sáng vàng rực của những cây nến nhiều mầu đã tỏa rộng khắp phòng. Các cửa sổ đều bịt kín.

Cây thông được trang trí rất nhiều quả cầu kính, các dây xích bằng giấy mài, cờ của các nước đồng minh, các quả bồ đào vàng chói đến nỗi chả trông thấy lá của nó đâu cả. Những chiếc bàn tròn nhỏ được kê chung quanh cây thông. Các sĩ quan hải quân cùng với những phụ nữ mặc trang phục vũ hội ngồi sau đó.

Chiếc áo váy màu đen cũ kỹ của mẹ Shchedrin nói lên như một mụn vá giữa những nhung lụa chói lòa và ánh sáng rực rỡ. Bà mẹ ngượng nghịu. Họ ngồi ở bên mép chiếc bàn con kê ở một góc nhà và chờ mãi người hầu bàn mới đến gần và đặt lên bàn bản thực đơn dài dặc.

- Để mẹ chọn cho, - bà mẹ rụt rè nói, cầm lấy tờ bìa cứng. Tiền thì chẳng có nhiều và bà sợ rằng con trai muốn làm vui lòng bà lại đặt một món gì đắt quá.

Người hầu không đợi mà đi luôn sang bàn bên. Ở đó có một viên thuyền trưởng hạng nhất, người phương phi để râu đen đang ngồi. Y có đôi mắt đen và trố ra. Y đảo mắt khắp nơi, cả người hầu bàn, cả Shchedrin, cả bồ của mình - một người đàn bà to béo tóc hung, phấn son lòe loẹt trong bộ áo váy tím nhạt với vẻ khinh miệt như nhau.

Bà mẹ chỉ đặt nước chè và bánh ngọt. Người bồi mãi cũng không mang ra. Ngồi đợi sau mặt bàn trống trải thật nặng nề và vì sao đó thấy rất xấu hổ, như ngồi trên ghế bị cáo.

Một chuẩn úy hải quân trẻ ngồi vào bên chiếc đàn piano, đập tay lên phím đàn và hát:

Em ơi, mùa xuân đừng vội hái hoa hồng,

Mùa hè em ngắt cũng vừa, em ơi!

Chuẩn úy ngậm chặt điếu thuốc lá một bên mép, nhăn mặt lại có vẻ bất cẩn, rồi xuống giọng ngọt ngào. Lúc đó từ sau một chiếc bàn đặt ở xa một giọng nói cục cằn vang lên:

- Thay mặt các sĩ quan, tôi nghĩ là ông nên trước hết chơi bài quốc ca đã, sau rồi mới đến những bông hồng của ông.

Chuẩn úy độ lượng mỉm cười, thôi hát, đứng dậy và hơi cúi người xuống mặt đàn chơi bài quốc ca. Mọi người đứng dậy. Những tay hầu bàn cũng đứng sững lại với những chiếc khay trên tay.

Mẹ Shchedrin hấp tấp đứng dậy, chiếc ví xách tay bật nắp và chiếc mùi xoa nhàu nát rơi xuống sàn. Nó vẫn còn chưa khô nước mắt.

Khi mọi người ngồi xuống. Cánh phụ nữ rút ra khỏi ví những chiếc gương nhỏ và những hộp phấn, rồi vừa cười đùa, tán gẫu, vừa xoa lại phấn, tô lại môi, tuồng như bài quốc ca đã làm mất đi vẻ quyến rũ của các bà trong đôi mắt của cánh đàn ông.

Viên thuyền trưởng mắt trố gọi người hầu bàn lại gần, lấy ngón tay ngắn cộc chỉ về phía bàn Shchedrin bảo:

- Dọn cái thứ kia đi.

Người hầu bàn không hiểu, khúm núm nhìn vẻ mặt rẻ rúng của viên thuyền trưởng.

- Ngài ra lệnh gì ạ ? - Anh ta cúi khom xuống hỏi.

- Dưới bàn kia có miếng rẻ rách? - Viên thuyền trưởng bực dọc nói và đỏ mặt lên.

Người đàn bà mặt áo váy tím nhạt chớp chớp mắt. Người hầu bàn lại giần, nhặt chiếc khăn mùi xoa nhàu nát, đặt lên bàn bên cạnh mẹ Shchedrin.

- Bà đánh rơi, - anh ta nói khẽ và giật lùi bước lại.

Shchedrin nhìn viên thuyền trưởng, tay anh lạnh đi, mặt xám lại vì căm tức.

- Sasha, bình tĩnh con! – Bà mẹ nói. - Hãy bình tĩnh, hãy bình tĩnh vì Chúa!

Viên thuyền trưởng ăn hau háu, không thèm để ý chút nào tới Shchedrin. Y nhai chóp chép và bộ râu đen của y lòa xòa trên tấm khăn ăn màu xanh cứng queo buộc ngoài chiếc cổ áo hồ bột.

- Ta đi khỏi đây thôi... Shchedrin nói. - Ta chả có việc gì làm ở đây giữa bọn...

Bà mẹ khẽ lắc đầu vì lo sợ cho con.

Shchedrin ngừng lời. Họ đi ra ngoài. Ở cầu thang Shchedrin mới nói hết câu nói bỏ dở.

- Ta không có việc gì làm giữa bọn súc sinh này. Bọn máu xanh da trắng! Bọn này bị nhấn chìm ở Kronstadt năm 1905 còn ít quá.

Bà mẹ nhìn Shchedrin phẩy tay.

*

* *

Hạm đội phóng lôi đặt cơ sở ở thị trấn Mariehamn tại một hòn đảo thuộc quần đảo Aland.

Shchedrin được cử về tầu phỏng lộ "Dũng Cảm". "Dũng cảm" làm nhiệm vụ tuần tra men bờ biển, dò tìm các tàu ngầm của Đức và ít khi trở về Mariehamn.

Hết tháng này sang tháng khác, lênh đênh trên mặt nước màu xám hoang vu của Baltic. Ngày và đêm nước lạnh sôi sục bên mạn tàu bằng thép, các máy tuốc-bin nổ đều và các quan trắc viên căng mắt nhìn đến tận chân trời, để khỏi bỏ qua một làn khói hay ống kính tiềm vọng của tầu ngầm. Các sĩ quan chơi bài trong phòng giải trí. Khó mà tin được chung quanh đang diễn ra chiến tranh và mặt nước mờ đục đầy rẫy những hiểm họa. Các thủy thủ vẫn than phiền rằng cuộc sống buồn tẻ nhất trong hải quân tất nhiên là trên các tầu tuần tra.

- Tìm, tìm mãi, như tìm chiếc kim dưới đáy biển - các thủy thủ vẫn nói với nhau như vậy.

Trong những ngày cuối tháng hai, "Dũng Cảm" đi về phía vùng biển Thụy Điển. Từ sáng tuyết rơi, rồi đến mưa đá và mưa rào. Gió giật thốc vào mũi tàu rồi khi thì quất vào lưng, vào mặt, khi thì bên phải, bên trái.

Những đám mây đen bù xù, sũng nước, lưới đi là là trên mặt biển, khiến ngọn những con sóng tưởng chừng chồm lên đến tận mây. Tất cả đều chìm vào một màu xám tưởng chừng như một bóng đen khổng lồ trùm lên mặt biển, mặt trời đi sang những xứ sở may mắn khác, chỉ còn gửi lại Baltic ánh sáng đang tắt dần của mình.

- Chẳng ra ngày, cũng chẳng ra đêm, chả biết đâu mà lần! - Những người trực tầu phàn nàn. - Làm việc thật khổ sở.

Thời gian rảnh rỗi, Shchedrin đọc nhiều. Đầu tiên các sĩ quan vào phòng anh mượn sách, nhưng rồi bỏ đi dần. Cách chọn sách của anh theo ý họ là tẻ nhạt. Shchedrin có nhiều nhất là sách khoa học. Trong khi đó các sĩ quan thích các loại tiểu thuyết giải trí.

Ngoài sĩ quan, còn có anh thợ lái tàu Marchenko đôi khi vào mượn sách. Anh vốn là một thủy thủ của ngành thương mại hàng hải, người Hắc Hải, dáng vóc vụng về, hơi gù, mắt lúc nào cũng nheo lại. Dù rơi vào hoàn cảnh nào của cuộc đời, anh cũng vẫn thản nhiên. Câu nói anh thích nhất là: "Cái trò ở quán rượu ấy mà!" - Anh thường thốt lên như vậy mỗi khi nhận thấy một việc gì vô lý, khó hiểu.

Vào một ngày u ám, vừa xong phiên trực, Shchedrin nằm trong buồng riêng và đọc cuốn sách về sự chuyển động của các lục địa. Lý thuyết này hồi đó ít được biết đến và nó đơn giản đến mức đáng ngạc nhiên. Shchedrin đặc biệt ngạc nhiên vì nó dễ chứng minh bằng mắt. Anh lấy một tấm bản đồ trái đất loại vừa, lấy kéo cắt châu Mỹ, châu Âu, châu Phi rời ra, rồi đẩy những mảnh giấy ấy lại gần nhau, anh thấy đường viền của những châu lục này khớp vào nhau như rìa của một miếng giấy bị xé ra làm nhiều mảnh.

Vì niềm say mê khoa học, chuẩn úy trẻ có đôi mắt vui vẻ là Ackerman đã gọi Shchedrin là «Charles Darwin», còn tầu phóng lôi được gọi là «Beagle dũng cảm».

Theo phong tục cổ truyền của ngành hàng hải, tất cả các nhân viên trên tầu phóng lôi cũng như các sĩ quan đều có biệt hiệu riêng.

Chỉ huy ngư hạm người đầy lông lá được gọi là «Con sư tử trên mặt boong». Sĩ quan trưởng tầu «Dũng Cảm» Viktor Popov, người thấp bé, được gọi là «Vitya nửa người». Khi «Vitya nửa người» đứng trên cầu chỉ huy thì trên tay vịn chỉ còn ló lên cái đầu của anh ta mang mũ mưa bằng vải sơn. Tầu phóng lôi «Thẳng Tiến» vẫn đi kèm với «Dũng Cảm» được gọi là «cái nồi hơi ì ạch» vì bao giờ nó cũng thụt lại sau.

Ackerman là người đọc nhiều, có trí nhớ kỳ lạ, hay đùa vui và thích bắt chước giọng trong các tiểu thuyết mạo hiểm.

Shchedrin đang nằm đọc bỗng vội bíu lấy thành giường, tàu phóng lôi rung mạnh. Nó quặt mạnh để đổi hướng. Cuốn sách rơi xuống sàn.

Shchedrin ngồi lên giường và giật mình: tiếng chuông báo lệnh chiến đấu khua vang trên khắp ngư hạm. Tiếng người chạy trên sàn tàu lát tôn thình thịch trên đầu.

Shchedrin lúng túng trong đôi tay áo, vừa mặc vừa chạy lên boong. Trên cầu thang anh chạm trán với Ackerman.

- Có chuyện gì vậy ? - Shchedrin hỏi.

- Chiếc tàu nhỏ bé quả cảm của chúng ta lao vào chiến hạm của địch đấy. - Ackerman trả lời.

- Anh chỉ hay đùa! Shchedrin gạt đi, tiếp tuc chạy.

- Toàn đội lặng người bên tháp pháo, sẵn sàng chiến thắng hay là chết![2]- Ackerman nói với theo.

- Phát rồ lên rồi - Shchedrin còn kịp kêu lên.

Ackerman nhanh nhẹn chạy xuống thang về vị trí của mình, giơ nắm tay ra với Shchedrin.

Câu chuyện xảy ra như sau:

Gần bờ biển Thụy Điển, trên cầu chỉ huy phát hiện ra ở đường chân trời có chiến hạm địch. Nó chạy theo hướng Đông-Nam và kéo theo một con tàu nhỏ. Lúc đầu, trong bóng hoàng hôn, người ta tưởng nó đang kéo theo một tầu phóng lôi, nhưng khi Shchedrin ra mặt boong «Dũng Cảm» đang chạy hết tốc lực từ Tây xuống Nam, tiếp cận với chiếc tuần dương hạm thì nhận ra là một tàu ngầm.

Mưa đá quất vào mặt. Vùng trời phía đông tối hơn phía Tây. Đó chính là lợi thế của «Dũng Cảm». Từ phía tuần dương hạm không nhìn thấy chiếc tầu phóng lôi - nom nó trởng như một đám khói hòa với sương mờ trôi nổi trên lớp sóng bạc đầu và bọt nước. Còn chiếc tuần dương hạm thì hiện lên đen xì trên nền trời tối, sừng sững những tầng ống khói và những tháp pháo.

– Lúc này trên tuần dương hạm phải hệt như ở quán nhậu - Marchenko đứng bên cạnh Shchedrin nói. - Nó vướng phải cái đuôi dài thế kia thì đánh chác gì. Bây giờ bọn Đức sẽ cắt dây nối và bỏ chiếc tàu ngầm kia đi. Chắc chắn là như thế!

Chiếc tàu địch mỗi lúc một đen hơn, gần hơn. Nó không tăng tốc độ mà cứ lẳng lặng một cách dữ dội. Trong sự bình tĩnh và yên lặng của chiếc tuần dương hạm, Shchedrin cảm thấy một đòn long trời lở đất sắp nổ ra.

Boong tàu phóng lôi rung lên. Những con sóng như dạng đứng lên. Những người đứng trên cầu chỉ huy và bên tháp pháo đều được buộc lưng vào thang vịn đằng sau.

Trên tuần dương hạm bùng lên bốn quả cầu lửa đỏ rực và tiếng ầm nặng nề lan ra khắp mặt biển xa. Những viên đạn rơi xuống sau đuôi tàu «Dũng Cảm».

«Dũng Cảm» quay sườn ra phóng một quả mìn. Nhưng không nổ. Chiếc tuần dương hạm đã cắt dây kéo, bỏ mặc chiếc tàu ngầm, vừa nổ súng vừa rút lui thanh về phía nam. Một viên trái phá rơi vào mạn phải của tàu «Dũng Cảm» ở gần mũi. Cả một cột nước trút lên boong. Cả người Shchedrin ướt sũng. Tiếng người kêu í ới ở mũi tàu. Chỉ huy phái Shchedrin tới đó.

- Chuẩn úy Ackerman bị thương, - ông ta nói. - Hãy thay thế anh ấy.

Shchedrin chạy ra mũi tàu. Mấy thủy thủ đang vực Ackerman dậy. Chân anh bị dập. Anh còn kịp nói với Shchedrin:

– Mạn tàu bị xây sát chút ít, không đáng kể. - Anh cười khẩy và nói thêm. - Dù máu tuôn, anh vẫn ra lệnh cho các thủy thủ...

Ackerman muốn đùa vui gì nữa, nhưng kêu lên, rồi rên rỉ. Các thủy thủ khom người xuống víu vào tay vào thang đưa anh xuống phòng giải trí.

«Dũng Cảm» chuyển làn pháo vào chiếc tàu ngầm.

Các chiến sĩ làm việc hối hả và lặng lẽ bên tháp pháo. Chiếc tàu nặng nề rung rinh trên mặt nước như một con hải cầu và không trả lời. Trong bóng chiều sẫm dần, không còn nhìn thấy rõ nó nữa.

Mưa đá lộp độp rơi xuống mặt boong và bật ra khỏi những tay vịn. Biển ngầu đục ầm ầm đồ về phía đông qua hai bên mạn tàu.

Một quả đạn nổ ở gần cầu chỉ huy chiếc tàu ngầm, nhưng nó yên lặng. Sự yên lặng đầy dữ dội và nguy hiểm.

- Tầu không rồi. – Marchenko nói với Shchedrin. - Ta bắn phí đạn vô ích, Đánh vào chỗ chết rồi.

Shchedrin không tin, chẳng lẽ nào bọn Đức kéo theo một chiếc tầu trên không có một người nào!

- Pháo bắn vô ích. - Chỉ huy tàu «Dũng Cảm» Rosen ra lệnh ngừng bắn. Tuyết bám vào mặt, rắc cả vào mắt, gió cuốn chúng thành những cơn lốc xám chung quanh các ống khói to của con tầu phóng lôi.

Mặt boong dường như được quét một lớp mực tàu đen. Đêm đã chiếm lĩnh mặt biển và con tầu, thậm chí cả các căn phòng chấn song sắt đã vặn chặt lại và các ngọn đèn được thắp sáng, một phần tư công suất.

«Dũng Cảm» bật đèn pha và từ từ lượn quanh chiếc tàu ngầm.

Shchedrin đi xuống phòng giải trí thăm Ackerman. Trong phòng lạnh lẽo, bốc lên mùi thuốc. Con tầu rung mạnh và mỗi lần lắc lư Ackerman lại rên mạnh hơn.

- Tại sao ta cứ loay hoay mãi ở đây mà không về Mariehamn? - vẫn không mở mắt, anh hỏi Shchedrin.

- Chỉ huy quyết định không rời chiếc tàu ngầm. Nó yên lặng. Có quỷ biết nó là cái gì! Buổi sáng ta mới đến gần được nó.

- Có nghĩa là người ta sẽ cưa chân tớ, Ackerman nói. - Nó đang nóng bừng, chỉ vì một mảnh sắt tẩm hơi độc của một con quỉ quái ác nào đó. Anh chàng y sĩ thì lại chả biết gì.

Ackerman phẩy tay để Shchedrin bước ra.

Shchedrin đến chỗ Rosen. Shchedrin cũng đang run cả người, hai bả vai đau ê ẩm, khó thở.

Rosen đứng trên cầu chỉ huy với Vitya «nửa người». Rosen là một người gầy guộc và ít nói. Ông ta để tóc mái và lúc này chúng đang xòa ra dưới hai bên lưỡi trai như những cái tai nhỏ của con thú ác và ranh mãnh.

- Karl Ignatevich, - Shchedrin nói thật to để át tiếng gió gào trong tai, - tình trạng chuẩn ủy Ackerman là rất xấu. Đôi chân bắt đầu bị viêm.

- Ừ... ừ... - Vitya hồn hậu thở dài. Anh ấy đành phải chịu một lúc thôi.

- Có thể kéo con tàu về Mariehamn ngay bây giờ không? - Shchedrin hỏi.

Rosen quay về phía Vitya «nửa người» nhún vai.

- Thế đấy, - ông ta nói - Đã bao lần tôi yêu cầu các ông tướng ngủ ở bộ tham mưu rồi, Viktor Petrovich ạ, là họ đừng có cử về tàu phóng lôi của tôi những anh chàng quan tâm đến khoa học! Ông ta quay về phía Shchedrin đút tay vào túi áo và quát lên bằng cái giọng khàn khàn. - Đây là tàu quân sự, chứ không phải tầu thực tập của sinh viên. Cậu đừng có chỉ dẫn cho mình.

Shchedrin phẩy tay đi xuống cầu thang.

Đêm trôi đi rất chậm. Tưởng chừng buổi sáng không bao giờ có thể chọc thủng những đám mây dầy đặc, vượt qua ẩm ướt, bóng tối và tuyết.

Gần sáng, «Dũng Cảm» bắt đầu đến gần chiếc tàu ngầm và bắn một loạt đạn cảnh cáo. Con tàu yên lặng.

Phải vất vả hạ chiếc xuồng xuống đưa người sang tầu móc dây kéo.

Trong số những người được cử đi có cả Shchedrin và Marchenko.

Điều mà Shchedrin nhìn thấy quả là một giấc mơ kinh khủng. Hầm tầu mở ngỏ. Trong buồng thuyền trưởng, một thủy thủ Đức ngồi gục trên sàn. Anh ta ngủ nhưng không sao đánh thức dậy được. Cạnh anh ta nằm vật một xác người, có lẽ là sĩ quan chỉ huy tầu.

Từ trong hầm bốc ra mùi xác người thum thủm và mùi khí clo. Vitya «nửa người», Shchedrin và Marchenko xuống dưới tầu. Dưới đó tối và phải soi đèn pin.

Cả đội thủy thủ trên tầu đã chết. Người nằm nguyên vẹn trên các giường treo. Trên nét mặt họ lộ rõ sự mệt mỏi và yên tĩnh. Hai thủy thủ chết người co quắp bên những bình dưỡng khi đang mở.

Con tầu chòng chành và cùng với nó những cánh tay thõng xuống từ trên giường và những cái đầu cũng lắc lư theo.

- Thế đó, - Marchenko nói, - chiến tranh có thể có dạng thư thế đó, không một giọt máu.

Những lời của anh dội vào đầu mỗi người một nỗi nhức nhối đến mụ mị.

- Họ bị chết ngạt trong giấc ngủ, - sĩ quan trưởng nói. - Chắc là ban đêm con tầu lặn xuống để đoàn thủy thủ nghỉ ngơi. Hai thủy thủ được cử ra trông máy dưỡng khí, đã xả ra một lần chút ít dưỡng khi dùng cho cả đêm. Các thủy thủ này mở máy nhưng không kịp đóng lại, oxygen làm họ bị say. Các anh không thể tưởng tượng được giấc ngủ ở tàu ngầm nặng nề thế nào.

Shchedrin và các thủy thủ im lặng nghe.

- Tôi có thể tưởng tượng được họ đã mê lịm đi như thế nào, - người sĩ quan chỉ huy nói. - Đầu tiên oxygen tràn ngập cả con tầu, sau đó khí carboniccũng nhanh chóng như oxygen bắt đầu tích lại trong tầu và làm chết ngạt tất cả.

- Viktor Petrovich, - Shchedrin hỏi và nuốt nước bọt, trong miệng anh thấy đắng như tanh đồng. - Nếu vậy sao họ còn cho được con tầu nổi lên và phát tín hiệu radio cầu cứu được? Điều đó tôi không hiểu.

– Tôi cũng không hiểu được, anh bạn ạ, - người sĩ quan chỉ huy trả lời rồi rọi đèn pin lên những thủy thủ đã chết. - Chắc rằng hai ba người đã tỉnh lại được. Họ kịp tháo không khí trong các bình nén ra và bơi lên kêu cứu. Nhưng điều đó có thể nói là trong cơn giẫy chết thôi. Thôi, ta đi lên!

- Tự tìm cho mình một chiếc quan tài thép. - Marchenko vừa biước lên cầu thang vừa nói.

Trên boong tàu ngầm, Shchedrin lại bị một lớp sóng xô trút lên và anh bắt đầu run lẩy bẩy, khó lắm mới trả lời được các câu hỏi của người sĩ quan. Vitya «nửa người»chăm chú nhìn Shchedrin.

- Anh trở về tầu phóng lôi đi, - ông ta nói. - Ở đây chỉ cần ba thủy thủ là đủ rồi.

- Không, tôi có làm sao đâu, - Shchedrin trả lời và cố mỉn cười, nhưng chẳng cười ra được. - Mỗi tội là tôi ướt hết cả.

Vitya «nửa người», thở dài và quay đi. Người là nâng tay thủy thủ Đức lên, đưa xuống xuồng. Anh tự chóp chép môi, nhưng không tỉnh lại được.

Chiếc xuồng chạy về phía «Dũng Cảm». Nó nhả khói, vật vã trên sóng, tuồng như đang lắc đầu trách móc.

Shchedrin ngồi bó gối trong góc xuồng và những ý nghĩ ngắn ngủi rội lên trong óc anh. Nếu mẹ anh đã biết được chuyện này! Như ng thậm chí khó mà kể lại được cho bà những gì anh đã thấy. Nói chung không thể kể cho ai nghe về điều ấy cả.

- Tự họ đi chơi với quỷ đó - Anh nói thành tiếng.

Nhưng không ai để ý đến lời nói của anh. Các thủy thủ chèo xuồng, Vitya «nửa người» cổ áo bẻ cao ngồi yên lặng, trông ông chẳng có vẻ sĩ quan tí nào, nhỏ bé với chòm râu nâu ướt át, mặt sưng húp, ông giống như một bác sĩ tỉnh lẻ thì đúng hơn.

"Nhưng chính mình cũng tự đến với quỷ", - Shchedrin nghĩ và bắt đầu nhớ lại anh đã bước vào cuộc chiến tranh như thế nào. Không, tất nhiên không phải tự anh đã ra đi, mà bị bắt buộc. Vậy là có một người nào đó có quyền lực với cuộc đời của anh, tình yêu của anh với mẹ, và số phận của anh nữa.

"Nhưng ai vậy? Ai? - Shchedrin tự hỏi. - Nga hoàng chăng?" – Trong gia đình anh vẫn luôn cười nhạo Nga hoàng và coi y là tên đần độn, là anh lính tẩy say rượu.

"Về Mariehamn mình sẽ suy nghĩ cho ra lẽ", Shchedrin tự nhủ. Lúc này chẳng muốn suy nghĩ. Lúc này chỉ muốn cởi bỏ bộ quần áo, nằm lên giường, chùm chăn kín đầu, dõi theo những giấc mơ mong manh và luôn đứt đoạn như những sợi tơ nhện.

Nhưng dù sao một con người khiêm nhường như Vitya «nửa người», với cả một bầy con dại, người ta lại đặt vào tay một công cụ bằng sắt thép để cắt xẻ, băm vụn và nghiền nát cơ thể con người làm gì.

"Có một sai lầm nào đó trong tiềm thức của chúng ta rồi'' - Shchedrin nghĩ. Anh nhớ lại người thầy phụ đạo của mình, anh sinh viên Raikovich. Con người luôn đói bụng và giễu cợt này chỉ một lần nói đến chiến tranh, khi Shchedrin và học trường hàng hải.

- Tôi chỉ thừa nhận có một cuộc chiến tranh. - Anh nói, - Nó là cần thiết và thậm chí đang mong muốn nữa. Tôi muốn nói đến cuộc chiến tranh chống lại nguồn gốc mọi cuộc chiến tranh trên thế giới, không phải cuộc chiến tranh giữa các dân tộc mà giữa những người muốn sống trong hòa bình và những kẻ sống nhờ bằng chiến tranh.

Chiếc xuồng đã đến bên «Dũng Cảm». Từ mũi tầu, chiếc thang dây được ném xuống, Shchedrin vất vả leo lên, Vitya «nửa người» cũng lập cập leo lên trước anh. Tà áo khoác ướt át của ông ta quệt cả vào mặt Shchedrin.

Shchedrin nhận thấy các thủy thủ và cả vài sĩ quan sau trận chiến đấu mất đi hẳn vẻ hào hùng của con nhà binh. Họ đều tư lự, đi lại gần như gù người xuống, trong mắt cùng một nỗi lo âu như Shchedrin - nỗi lo âu khơi dậy bởi trận đánh và những ý nghĩ chưa được đào sâu đến nơi đến chốn.

«Dũng Cảm» bơi chậm rãi, thỉnh thoảng lại hãm bớt máy cho dây kéo khỏi bị đứt vì căng quá, đi dần về Mariehamn.

Thời tiết thay đổi. Gió đã lặng đi. Giữa trưa ánh nắng rụt rè xuyên qua đám mây. Lá cờ trên «Dũng Cảm» rủ xuống.

Shchedrin nằm trong buồng, rên rỉ vì xương cốt đau nhừ, anh nhăn nhó và ho luôn. Thỉnh thoảng anh lại thiếp đi. Người y sĩ trên tàu đánh thức anh. Ông ta mang đến cho Shchedrin nước trà và những viên thuốc đắng ngắt. Shchedrin ngoan ngoãn uống thuốc và lại thiếp đi.

Anh mơ thấy đang đêm anh ngã xuống nước lạnh. Nước rào rào hắt vào từ cơ thể nóng rẫy của anh. Qua bụi tuyết, anh thấy những quả pháo nối đuôi nhau của «Dũng Cảm» phóng tít lên trời cao, rồi rơi xuống những cơn sóng chồm lên, bay lên, rơi xuống, mờ đi tàn lụi trong chân trời đêm tối đen như những ngôi sao.

Shchedrin gọi mẹ trong mơ. Anh trở mình đạp rơi chăn. Mặt anh sưng húp với mớ tóc rối bời nom giống như mặt một cậu bé bị ốm.

Thời gian đó Shchedrin vừa tròn hai mươi tuổi.

Đến Mariehamn, Shchedrin và Ackerman được đưa đến vào bệnh xá, Shchedrin bị sưng phổi.

Bệnh xá đã cổ lắm rồi, được xây dựng từ đầu thế kỷ thứ mười chín. Suốt gần cả một trăm năm, cho tới cuộc chiến tranh chống Đức nó vẫn bỏ không. Dân chúng trên đảo Aland khỏe mạnh, ai cũng hồng hào và rất ít khi ốm đau.

Sàn đá phòng bệnh lạnh và âm vang - tiếng chân bác sĩ vọng lại từ xa. Shchedrin và Ackerman nằm lim dim nghe tiếng lửa cháy tí tách trong lò sưởi gạch men. Trên tường lò có vẽ những chiếc tàu buồm xanh lam dáng vụng về như những chiếc máng ăn. Những chiếc tầu đang nhả những quả khói tròn dày dặc truớc họng pháo.

Mùa đông năm ấy bệnh xá càng vắng vẻ và âm thầm. Tháng hai đã qua. Cách mạng bắt đầu nổ ra ở nước Nga. Hải quân đang xao động và chẳng ai để tâm đến bệnh xá nữa. Người ta dường như quên đi Shchedrin và Ackerman.

Người đưa tin duy nhất - tới đây từ thế giới xa xôi vang động tiếng còi tầu ngoài của sổ, tiếng nước mùa xuân chảy róc rách là một ông bác sĩ người Thụy Điển đã Nga hóa, sống cả đời trên đảo Aland này.

Những sợi tóc bạc lởm chởm rối bù trên đầu ông, tà áo khoác lúc nào cũng bỏ ngỏ. Ông luôn luôn cười vang trong căn phòng làm việc của mình và tiếng cười của ông bay đến tận góc xa nhất của bệnh xá.

Shchedrin ưa thích những cuộc thăm bệnh của bác sĩ. Cùng với ông mùi thuốc lá tươi ngái và mùi cồn ùa vào phòng. Bác sĩ ghé tai vào ngực Shchedrin; tóc ông bao giờ cũng ướt, có lẽ vì nước tuyết giỏ giọt và vì sương mù.

Càng gần sang xuân, đảo càng luôn bị sương mù bao phủ. Chim hải âu kêu chim chíp, trẻ con gọi nhau í ới trong sương mù, một lần Ackerman đánh thức Shchedrin dậy, họ nghe thấy rất lâu trong làn sương dày đặc ngoài của sổ vang lên long trọng và đắc thắng bài "Marseillaise".

"Hỡi các công dân, hãy cầm lấy vũ khí!" - những chiếc kèn bạc reo lên.

Rồi tiếng "Ura" dữ dội át đi.

- Tớ nhận ra tiếng của anh em thủy thủ bọn mình rồi, - Ackerman nói. - Bọn ăn bám giờ đây mới khốn khổ. Hết đời rồi! Nhân dân công phẫn lao vào cung điện của các tên bạo chúa!

Chân của Ackerman đã lên da non và anh lại bắt đầu đùa.

Một lần Marchenko đến thăm. Anh kể rằng ở «Dũng Cảm» anh đã được bầu làm chủ tịch đội thủy thủ tầu và mang đến quà của toàn đội: thuốc lá, hai qủa cam khô và một xấp báo những ngày vừa qua.

- Marchenko ơi, dù sao chúng tôi cũng là những sĩ quan, - Ackerman nói. - Xương trắng, máu xanh này và nhiều chuyện khác nữa[3].

Marchenko cười nhoẻn:

- Các anh cũng gần như chúng tôi thôi. Xin lỗi, sĩ quan gì cái ngữ các anh. Sĩ quan đó là bọn ăn bám, các anh chỉ là những sinh viên thôi. Đầu óc các anh khác.

- Còn biết nói gì nữa, - Ackerman nói, - được như thế cũng cảm ơn lắm, dù chúng tôi không xứng được như vậy. Có nghĩa là chúng ta sẽ làm cách mạng đến cùng.

- Rõ, đến cùng - Marchenko đứng dậy. Anh vội đi dự mít tinh của thủy thủ.

- Các anh em họp mít tinh ở đâu? - Ackerman hỏi. - Trên các tầu chiến à?

- Sao lại ở trên tầu! Trên tầu chặt lắm. Họp ở ngoài nghĩa trang ấy.

- Chỗ hợp đấy! - Ackerman cười khẩy.

- Thích hợp nhất ấy chứ ? - Marchenko nghiêm túc cãi lại. - Ở nghĩa trang có một nấm mồ được anh em lính thủy yêu mến. Người ta họp mít tinh ngay gần cái mộ đó, đứng ngay lên tấm bia và những hòn đá mà diễn thuyết.

– Ngôi mộ của ai vậy?

- Tôi thấy là phải kể cho các anh về điều đó. - Marchenko buồn rầu nói. - Nếu không, các anh chơ vơ trên cạn chả biết gì cả. Dưới phiến đá đó là anh lính Semyon Tikhonov và chuẩn úy Bestuzhev. Họ được chôn ở đây ngay từ hồi Nikolai I. Thật dễ hiểu khi thấy ngôi mộ này, anh em binh lính đã thắc mắc tại sao một người lính lại chôn chung với một sĩ quan và cùng một phiến đá nặng đặt nằm trên người họ. Mọi người thấy lý thú và họ đi hỏi dân địa phương. Các anh cũng biết là không có chuyện gì trên đời mà anh lính thủy không tìm ra. Có thế mới là lính thủy. Thế rồi họ được biết rằng một trăm năm trước, mùa đông ở đây rất giá buốt và vịnh biển đóng băng kín khắp từ bờ này tới bờ kia... Bây giờ không thế nữa rồi, chính các anh cũng thấy đấy, mùa đông đã rữa ra; hết tuyết lại sương mù với mưa, lầy lội. Một trăm năm trước đây ở Petersburg[4]có cuộc khởi nghĩa. Một trong những người tham gia khởi nghĩa đã phải chạy trốn, mang cái đầu thoát khỏi phần thưởng của nhà vua. Ông đã đi theo mặt băng đến vùng đảo này, định vượt sang Thụy Điển, nhưng đã bị sa cơ ; không rõ bọn cảnh sát hay sĩ quan đã bắt giữ được ông. Và chắc chắn ông đã không thoát khỏi cái chết, nếu anh lính Tikhonov và chuẩn úy Bestuzhev đã không giúp ông trốn thoát. Họ cứu được người khác, còn mình thì chịu cái chết đắng cay.

- Chết thế nào cơ ?

- Về điều này người ta kể nhiều chuyện khác nhau. Người thì nói họ bị bắt ngay trước trại lính, người lại bảo là họ bị phạt đòn rồi chôn cất bên cạnh nhau trong cùng một ngôi mộ.

- Sĩ quan thì không có hình phạt roi đòn đâu, - Ackerman nói.

- Thì một kiểu gì đó, làm cho người ta phải chết. Thôi ngủ đi, cố mau khỏe. Ở ngoài giờ vui lắm.

Marchenko từ biệt rồi ra về.

Shchedrin nhắm mắt lại suy ngẫm, anh nhớ lại những câu chuyện mẹ kể về ông nội, những câu chuyện hân hoan của các bà cô mà anh vẫn cười giễu, cái mà từ bé anh cho là một chuyện hư cấu của gia đình bỗng nhiên hiển hiện thành có thật, vượt ra khỏi khung cảnh chật hẹp của gia đình, đạt tới một ý nghĩa nào đó đối với một thời kỳ cách nuạng, không những chỉ được anh, mẹ anh và các cô anh - mà cả trăm anh em lính thủy biết đến. Vậy quả là ông nội anh đã đến đây và vào cái thời gian đảo điên khủng khiếp ấy có hai con người hy sinh đời mình để cứu ông anh khỏi giá treo cổ. Chiến công của những người đó Shchedrin cảm thấy còn cao hơn cả chiến công của ông anh và càng nghĩ về điều đó, anh càng thêm phần xúc động:

- Ackerman này, tên họ là gì nhỉ? - Anh hỏi khẽ.

- Ai cơ? - Hai người chôn chung dưới mồ ấy mà.

- Anh lính tên là Tikhonov, còn chuẩn úy là Bestuzhev.

Shchedrin muốn kể cho Ackerman nghe về ông nội mình, nhưng đã nén lại. Anh sợ hơn cả là sự chế nhạo và không tin cậy! Sasha, cậu mà cũng là cháu của một chiến sĩ tháng Chạp thế quái nào được ! - Ackerman sẽ nói. – Cậu ấp úng cả trước mặt Rosen, không biết hòa hợp với anh em lính, cậu chỉ là một anh chàng bình thường, chứ cháu của chiến sĩ tháng Chạp thế nào được.

Trời tối dần. Ánh dương xanh sáng lên ngoài cửa sổ.

Có tiếng chân người bước đi trong hành lang. Ông bác sĩ vui tính đầu bù bước vào. Kế sau là người hộ lý đỡ lưng một người to béo râu đen bước tới. Bệnh nhân mới được đặt lên giường. Ông ta giương đôi mắt lồi vẻ chế nhạo nhìn lên trần và im lặng.

Ông bác sĩ xoa hai bàn tay vào nhau.

- Đây, các anh bạn trẻ ạ, - ông nói, - Thêm cho các anh một người bạn cùng bệnh nữa nhé. Có ba người càng vui thêm, phải không?

Shchedrin nằm vẫn không mở mắt. Anh rất mệt vì câu chuyện của Marchenko và những ý nghĩ về ông nội. Anh muốn ngủ.

- Ông bác sĩ, tôi yên cầu, - bệnh nhân mới nói bằng một giọng gắt gỏng (Shchedrin mở mắt và nhanh nhẹn nhỏm dậy) - ngay khi có điều kiện phải gửi tôi về Helsingfors. Việc chữa chạy ở đây không hợp ý tôi.

- Thưa ngài thuyền trưởng hạng nhất, - Shchedrin nói - Helsingfors không giúp gì được ngài đâu.

- Nghĩa là thế nào? - Bệnh nhân mới trâng tráo hỏi - Chú bé, chú nghĩ ra trò gì vậy?

- Tôi không phải là chú bé, mà là sĩ quan của hạm đội cách mạng, đã thế lại là con trai của một mụ đầu bếp, - Shchedrin trả lời. - Chúng ta đã gặp nhau chỗ cây thông ở Reval, ông quên rồi chăng?

- Cứ cho là ta quên rồi, - viên thuyền trưởng hạng nhất trả lời độc địa - Ta không nhớ dịp may mắn như vậy trong đời ta.

Shchedrin ngồi dậy trên giường, nói với ông bác sĩ đang lo cuống cả lên:

- Ông mang tên hỗn xược này đi!

- À, à! - viên thuyền trường hét lên, nhỏm nguời đậy - Anh sẽ phải nói chuyện với chỉ huy hạm đội.

- Còn ông sẽ nói chuyện với anh em lính thủy ở hạm đội, - Shchedrin mặt tái đi, nói. - Bác sĩ ơi, viên sĩ quan này đã lăng mạ một người phụ nữ trước mặt tôi chỉ vì người đó nghèo và ăn mặc tồi tàn. Bây giờ hắn đang định tẩu thoát về Helsingfors. Đằng nào cũng thế, ở đây hay ở Helsingfors, anh em lính thủy cũng sẽ tính sổ với hắn.

- Thần kinh tọa là một căn bệnh rất buồn cười. - Ackerman lầu bầu - Ốm mà chả trông thấy gì. Mà có khi ngược lại: không ốm cũng chẳng thấy gì.

Viên thuyền trưởng ngồi dậy. Hắn nhìn hai chuẩn úy bằng đôi mắt cuồng nộ. Chiếc cằm mọc râu rung lên, những mạch máu to nổi hẳn trên thái dương.

- Im ngay! - Hắn bỗng quát lên bằng một giọng the thé.

- Lạy Chúa - Ackerman nói và lấy tay bịt tai. - Ông mà kêu lên một lần nữa thì chúng tôi sẽ không còn gì. Xin ngài thuyền trưởng rủ lòng thương.

Viên thuyền trưởng nhổm dậy, bước ra khỏi phòng bệnh. Chiếc áo khoác quết đuôi trên sàn. Bác sĩ và người hộ lý bước theo sau. Ông bác sĩ lắc đầu trách móc.

Viên thuyền trưởng được đặt nằm ở một phòng xa. Hai hôm sau vào ban đêm, anh em lính thủy đến bắt hắn giải về Helsingfors, về Ủy ban trung ương của hạm đội Baltic.

*

* *

Tháng Tư, Shchedrin ra viện. Bác sĩ cấm anh không được trở về tầu. Shchedrin phải nghỉ ngơi lấy lại sức chừng hai, ba tuần sau khi ra viện.

Theo bác sĩ khuyên, Shchedrin thuê phòng ở nhà người đánh cá Peter Jacobsson.

Một căn nhà nhỏ cũ nằm ngay sát mép nước. Căn nhà quét nhiều màu: tường màu xanh đã long lở, khung cửa sổ và cửa ra vào - màu da cam, còn bên trong mỗi phòng một mầu, chắc trước đây đậm sắc hơn nhiều.

Phòng Shchedrin quét màu vàng và treo đầy ảnh của các cụ dòng họ Jacobsson.

Sáng sáng, còn nằm trên chiếc giường gỗ, Shchedrin nhìn ngắm ảnh những cụ già môi mỏng như tạc bằng sắt treo ở trên đầu giường - những thuyền trưởng, hoa tiêu, đã từng một thời sống trong nhà này.

Cũng ngay tại đó, treo ảnh của con gái họ - những cô gái mắt màu sáng với nét mặt niềm nở - và vợ họ - những bà già gầy guộc. Những bà già trên ảnh ngồi thẳng như các vị tướng, đặt những bàn tay gân guốc lên đầu gối.

Giữa những bức ảnh ấy có một bức tranh bằng phấn mầu. Đó là chân dung một phụ nữ trẻ, hàng lông mày duớn cao như đang xao xuyến vì một điều gì đó, ánh mắt u buồn và vầng trán nhỏ thanh tú. Mỗi khi nhìn bức tranh, Shchedrin lại thầm nghĩ người phụ nữ này, đã làm gì ở đây trong thị trấn ngư dân nhỏ xíu này, nơi cách đây một trăm năm chỉ có vẻn vẹn ba trăm người.

Trong nhà Jacobsson sạch sẽ và yên tĩnh, chỉ thỉnh thoảng Jacobsson vừa dậm nhịp vừa hát ở trong bếp, lúi húi với mớ lưới của mình.

Vợ chồng Jacobsson có một con gái lên ba tuổi. Nhưng cháu không sống với bố mẹ mà ở nhà bác sĩ. Vợ chồng bác sĩ không con nuôi dạy con bé và định cho cháu ăn học đến nơi đến chốn. Con bé tên là Maria.

Marta, vợ Jacobsson, là một người đàn bà đãng trí. Ngày nào nhà cũng thấy hết sữa, hoặc con mèo tha mất khúc cá rán từ chiếc chạn bỏ ngỏ. Jacobsson chỉ cười là không giận vợ.

Cuộc sống này gây cho Shchedrin một ấn tượng là anh bị ném ngược trở lại hàng chục năm về trước, đến một đất nước cổ xưa, nơi mà vẫn có những chiếc xe ngựa chở thư và trong các văn phòng người ta vẫn nuôi những con dế mèn trong những chiếc lồng nhỏ để cầu may.

Ngồi trong những căn phòng cổ kính này, đọc những tờ báo bưng bừng khí thế của một thời cách mạng thật lạ lùng.

Những trang báo đầy những lời kêu gọi, sự phẫn nộ, những tin tức giật gân và thông báo Lenin đã trở về nước Nga.

Tên tuổi Lenin đã vang dậy khắp các cuộc mít tinh của hải quân, được nhắc đến ở khắp mọi nơi. Những chiếc tàu phóng lôi vùn vụt mang tên Người đi khắp vùng Baltic khắc khổ. Các đài phát thanh rung chuyển và tóe lửa, truyền những tiếng nói của Lenin tới các tàu chiến, các đơn vị bờ biển, các pháo đài cấm cố, các tàu ngầm. Các tín hiệu viên xếp tên Người bằng những lá cờ sặc sỡ.

Tên tuổi Lenin lan rộng ra, lớn lên, trở thành ngọn cờ và niềm hy vọng của người Baltic. Chung quanh tên Người kết tinh lại sự bất bình của hải quan, ý chí và nhiệt tình cách mạng không gì kiềm chế được của họ.

"Ánh dương của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa thế giới đã lóe lên" - Lenin nói trong cuộc đón Người ở ga Phần Lan.

Những lời đó đã lan đi khắp hạm đội. Tưởng như cả biển cũng ầm vang đắc thắng và đồ dồn vào bờ những khối nước khổng lồ sáng loáng, cùng lặp lại những lời nói đó.

Shchedrin thấy người nao nao. Một lần anh đi dự mít tinh trên tầu phóng lôi, thậm chí còn đọc cả một bài diễn văn nồng nhiệt và rắc rối.

Anh em lính thủy vỗ tay hoan hô anh hồi lâu, đúng hơn là gõ những nắm tay chắc nịch, rắn như gỗ xuống sàn rồi bồng Shchedrin từ tầu lên bờ - có lẽ vì thương hại: Shchedrin gần như không đứng vững nữa vì xúc động.

Ackerman đi bằng nạng. Anh có thái độ thiết thực với cách mạng, ngồi lì ở ủy ban tầu và bướng bỉnh cãi cọ với cấp trên và chuyện cơm nước, nghỉ phép, quần áo phát thêm và những vấn đề thiết yếu khác của đời sống lính thủy. Anh ít đùa hơn trước và chỉ thỉnh thỏang rẽ vào Shchedrin anh mới lại đọc những câu thơ yêu thích trước đây:

- Con rắn độc quyền lực của nhà vua đã bị những bàn chân đất của nhân dân xéo nát thành tro bụi. Ngọn cờ đỏ của quân khởi nghĩa phấp phới bay trên đất nước vĩ đại.

Shchedrin thức dậy rất sớm. Chim trong vườn ríu rít gọi nhau. Một biển yên tĩnh chói lòa, bốc hơi, lấp lánh ánh phản quang chiếu xa hàng trăm dặm, vỗ sóng vào bờ biển granite, và, như một đứa trẻ, phả vào mặt một luồng gió nóng ấm.

Shchedrin đi ra nghĩa trang. Trong một buổi sáng rộn ràng như thế này khó bề ngồi yên trong phòng được. Ngoài ra, Shchedrin đã quyết định từ lâu ra thăm mộ Tikhonov và Bestuzhev.

Những bông hoa trắng yếu ớt chồi lên từ kẽ nứt của những phiến đá. Shchedrin bức lấy một vài cành có hoa.

Tại nghĩa trang, Shchedrin vấp phải nấm mồ của các thủy thủ Đức từ chiếc tàu ngầm mà "Dũng Cảm" bắt được, hồi lâu đọc những hàng tên.

Gần bên một trong những hòn đá phủ đầy rêu, anh nhìn thấy Marta. Chị ngồi, vẫn cái dáng điệu kinh hãi và nhợt nhạt như mọi lúc, mỉm cười nhìn Shchedrin. Tay chị cầm mớ cành tùng đen sẫm, chắc chị mang đến để đặt lên mộ người thân. Shchedrin được biết một năm trước đây chị đã bị mất đứa con trai lên bốn tuổi.

Anh lại gần và chào hỏi. Marta biết rất ít tiếng Nga. Tuy thế, hai người vẫn hiểu được nhau.

Shchedrin đọc hàng tên trên mộ chỉ và ngạc nhiên. Dù tên khắc bằng chữ Thụy Điển, Shchedrin cũng hiểu được ngay là dưới nấm mồ này yên nghỉ một người phụ nữ nào đó hai mươi tư tuổi tên là Anna Jacobsson, mất năm 1827.

- Người này là thân thích của chị ư. - Shchedrin hỏi.

Marta mỉm cười nhìn anh nhưng không hiểu.

- Người này là ai ? - Shchedrin hỏi và chạm tay vào tấm bia.

- Anna, - Marta nói, - bà nội của Peter. Có bức tranh ở phòng anh đấy. Đẹp thật. Bà mất vào ngày này đấy.

Shchedrin gật đầu. Anh đoán ra đây là người phụ nữ mà anh vẫn thường ngắm trong bức tranh treo trên mặt bàn trong phòng anh

- Còn tôi thì tôi đi tìm mộ của Pavel Bestuzhev. - Anh nói.

Marta đứng dậy và dẫn anh đến một tảng đá lớn. Nó lún vào trang đất và đã mòn nhẵn vì gót giày của các anh em lính thủy, chung quanh rêu mọc xanh rờn. Shchedrin đặt những bông hoa lên phiến đá. Đã có lúc anh cười giễu sự đa cảm của các bà cô anh, còn giờ đây chính anh đang cảm thấy một nỗi xúc động khó hiểu trước nấm mồ của những người đã cứu sống ông anh.

- Dưới mộ này an nghỉ những người rất tốt, - anh nói với Marta. - Họ đã cứu sống ông tôi.

Marta vui mừng gật gật đầu.

- Anh nói là "ông tôi"?

- Đúng thế.

Marta vội vã nói lẫn lộn tiếng Nga và tiếng Thụy Điển. Chị nắm lấy tay áo Shchedrin và nhìn vào mặt anh, chị cười và thậm chí má chị hồng lên.

- Tôi không hiểu, Shchedrin nói.

Marta nhăn trắn, cố tìm những từ Nga nhưng không đủ và Shchedrin lại chẳng hiểu gì cả.

Marta ấm ức cắn môi, nước mắt trào ra. Chị phẩy tay và nhanh nhẹn đi về thành phố. Shchedrin ngơ ngáo nhìn theo. Gió thổi phồng vạt váy rộng của chị, Marta đi không ngoái nhìn lại.

"Mình đã làm chị ta phật ý vì điều gì?" - Shchedrin bối rối nghĩ, ngồi xuống bên mộ hút thuốc. Những con bướm non nhợt nhạt mới nở bay lượn chung quanh sưởi mình trong ánh nắng.

Shchedrin trở về nhà, Cả Marta, cả Peter đều không thấy đâu, chỉ có con mèo nhõng nhẽo oằn mình bên cạnh cửa ra vào.

- Thế nào, lại ăn vụng cá rồi phải không? - Shchedrin hỏi.

Chú mèo khàn khàn kêu meo meo.

Shchedrin tháo bức tranh của Anna Jacobsson treo trên tường, ngắm nhìn hồi lâu. Shchedrin còn chưa yêu ai bao giờ. Quả thực có một thời ở Petrograd, anh vẫn đi ra bãi trượt băng để được nhìn thấy một cô nữ sinh trung học, người cao, ngày nào cũng đi trượt băng. Mỗi lần cô ta ngã và lại đứng dậy ngay, phủi tuyết khỏi đôi găng tay và chớp chớp đôi mắt để rũ những bông tuyết dính vào mi, tim Shchedrin lại đập dồn dập. Nhưng chẳng bao lâu, cô nữ sinh biến khỏi bãi băng và Shchedrin đã quên cô.

Shchedrin nhìn bức tranh, nhìn đôi môi khắc khổ dịu dàng và nghĩ rằng người phụ nữ này anh có thể yêu đến hết mình và chung thủy. Một điều bí mật buồn bã nào đó ẩn sau gương mặt này.

Shchedrin giật mình và treo bức tranh lên chỗ cũ. Có người vào nhà. Nghe tiếng gõ cửa, Shchedrin kêu lên:

- Mời vào!

Cửa mở. Ông bác sĩ xuất hiện ở cửa. Mớ tóc trắng của ông còn rối hơn cả mọi lúc, mắt sáng lên, khuôn mặt nở một nụ cười long trọng. Sau lưng ông là Peter và Marta đang đứng vẻ e thẹn.

- Chào anh bạn của tôi, – ông bác sĩ nói vang cả nhà và xiết chặt tay Shchedrin. - Tôi đến với tư cách là người phiên dịch... Vào đây! – ông gọi to vợ chồng Jacobsson. - Ngồi xuống ghế này và ta nói chuyện.

- Có chuyện gì xảy ra vậy? - Shchedrin hoang mang hỏi.

– Anh sẽ biết ngay bây giờ! - Ông bác sĩ nói oang oang và cười to. - Anh sẽ biết tất cả ngay bây giờ. Nhưng trước hết hãy hôn người phụ nữ này và anh chàng thộn Peter Jacobsson này đi đã. Nào!

Ông bác sĩ hét "nào" một cái, kính cửa sổ rung cả lên và con mèo cong đuôi chạy khỏi phòng.

- Được lắm!, - Shchedrin mỉm cười nói. - Tôi bao giờ cũng vui sướng hôn những con người này. Nhưng, vì chúa, bác sĩ hãy nói cho tôi biết như thế nghĩa là thế nào đã chứ?

- Hôn nhau đi! - Ông bác sĩ nói và dậm chân một cái.

Marta rụt rè lại gần Shchedrin, lấy vạt tạp dề chùi môi, rồi hai người hôn nhau. Peter hôn theo kiểu con nhà chài lưới - ba lần, bộ râu lởm chởm làm đau cả mặt Shchedrin.

- Anh sẽ được biết là cả ở thế kỷ hai mươi cũng xảy ra những chuyện thần thoại - ông bác sĩ nói vẻ đắc ý. - Tôi đã chán đọc mãi chúng trong các sách. Tôi vẫn hay nói với vợ tôi: "Mình cứ kêu buồn chán ở Aland vô ích. Ở đây mỗi ngày đều có những câu chuyện lý thú của nó. Những ngày trôi qua trước mặt ta như những người thân quen hiền hậu và mình sẽ rất luyến tiếc về đảo quê hương của chúng ta khi rời khỏi đây." Anh hãy tự suy ngẫm xem. Có ở đâu anh được thở không khí như ở chỗ chúng tôi? Ở đâu biển trong như ở đây? Không đâu cả! Đã bao giờ anh sống giữa những người đôn hậu và trung thực như thế này chưa? Chưa bao giờ!

- Tất cả đúng như vậy. - Shchedrin đồng ý. - Nhưng tôi chẳng hiểu gì cả. Có điều gì thần kỳ xảy ra bây giờ?

- Ta vào chuyện ngay - Bác sĩ nói. Ông ngồi xuống và bới tóc rối tung lên. - Nếu ở đây không có chuyện nhầm lẫn nào thì anh chính là cháu của người chiến sĩ tháng Chạp đã được cứu sống ở đây, trên đảo Aland này bởi hai người Nga - lính và sĩ quan.

-Vâng. Shchedrin nói. Hình như đúng như thế. Nhưng làm sao bác biết được điều đó?

- Qua Marta - ông bác sĩ nói. Tự anh đã kể cho chị ấy. Giữa những người đi biển ở đây có nhiều loại quan hệ thân thích khác nhau. Đối với chúng ta nhiều khi cho là lạ lùng. Chúng ta chỉ thừa nhận họ hàng theo quan hệ máu mủ, còn những con người chất phác này còn có thêm họ hàng giữa những người đi cứu và những người được cứu thoát. Nếu một người trong gia đình này cứu người của gia đình kia, thì hai nhà là họ hàng của nhau. Đi biển là một công việc nguy hiểm, phải cứu nhau luôn. Điều này dẫn đến chỗ là gần như tất cả dân trên đảo đều là họ hàng thân thích của nhau. Và theo luật của đảo này, thì Peter Jacobsson, Marta và con gái họ là Maria đang ở với chúng tôi, trong một chừng mực nào đó là họ hàng của anh.

- Nhưng hình như ông tôi đã được người Nga cứu cơ mà!

- Rõ là anh không được biết chuyện gì cả. Ông anh được chuẩn úy Bestuzhev và vợ ông cứu sống. Hình ảnh nàng anh đang nhìn thấy ngay trước mặt. Nàng đây này.

Bác sĩ chỉ bức tranh vẽ Anna. Thì ra người phụ nữ có vẻ mặt hấp dẫn và khác thường này là người như thế đấy!

- Trong gia đình Jacobsson còn sống mãi hồi ức về tất cả mọi sự kiện liên quan đến việc giải thoát cho ông của anh. - Bác sĩ nói tiếp. - Điều ấy cũng dễ hiểu. Hãy tưởng tượng một gia đình hàng trăm năm không có chuyện gì xảy ra. Đàn ông thì đi biền, về già thì làm nghề chài lưới. Phụ nữ ngoài nhà cửa và con cái, chẳng còn nhìn thấy gì khác. Nghe nói nhà Jacobsson trước đây giàu có, thậm chí có cả tàu chạy buồm, nhưng điều đó đã lâu lắm rồi. Người thuyền trưởng cuối cùng, cha của Anna, bị phá sản, khi về già chỉ là một người gác đèn biển ở Erasgrund. Nhưng ông đã cho con gái học hành ở Stockholm. Đó là một cô gái khác thường. Anh hãy thử tưởng tượng xen cái gia đình buồn tẻ và tử tế ấy bất ngờ bị cuốn vào cơn bão của những sự kiện buồn thảm và không thể tưởng tượng được. Trong nhà họ xuất hiện người sĩ quan Nga trẻ tuổi Bestuzhev. Cực chẳng đã, người ta phải cho anh vào nhà. Ông già sợ và không ưa người Nga. Viên sĩ quan yêu Anna. Anna cũng yêu lại anh; nàng là một cô gái của những tình cảm lớn và khó tính. Ông già chẳng muốn nghe đến chuyện con gái lấy chồng người Nga. - Bác sĩ nín lặng để hút thuốc. - Thế rồi trên đảo người ta bắt giữ một người tham gia khởi nghĩa tháng Chạp. Ông ta định đi theo lớp băng đóng trên mặt vịnh giá rét căm căm sang Thụy Điền, vấp phải lính gác và bị bắt giữ. Những người dân chài và thuyền trưởng ở đó xôn xao cả lên, nảy ra ý đồ cứu người bị bắt, đánh tháo ông ta và đưa sang Thụy Điển. Pavel Bestuzhev đã đứng đầu âm mưu này. Khi đó cha của Anna đã dịu đi, ông tin ở sự cao thượng của người Nga kia và cho con gái được lấy anh ta. Nhưng số phận đã quyết định khác hẳn. Bestuzhev mấy ngày sau đã chết trong cuộc đấu súng. Người bị bắt chạy thoát nhờ sự giúp đỡ của Anna và các thủy thủ.

-Vì sao lại có cuộc đấu súng? - Shchedrin hỏi.

Bác sĩ nói bằng tiếng Thụy Điển với Peter và Marta, rồi trả lời:

- Bestuzhev đã tát vào mặt viên sĩ quan thủ trưởng của mình vì hắn đã cư xử thô bạo với người chiến sĩ tháng Chạp và đã lăng mạ Anna. Viên sĩ quan đã giết anh. Tám tháng sau ngày Bestuzhev chết, Anna đã sinh ra một cháu trai, con anh. Đó là cha của Peter. Chẳng bao lâu sau, Anna mất. Nàng bị đau yếu mãi, thậm chí ở đây người ta còn coi nàng là dở người nữa.

- Bác hãy hỏi hộ, - Shchedrin nói. - Người lính được chôn cùng với Bestuzhev là ai.

Bác sĩ lại nói tiếng Thụy Điển với vợ chồng Jacobsson và nhún vai:

- Họ không biết. Họ nói người lính đã chết sau khi bị phạt đòn, vì tội gì thì không thấy ai kể lại. Họ nghĩ là vì sự giúp đỡ cho người tháng Chạp.

Shchedrin nhìn Peter. Peter vỗ vào vai anh và cười. Anh quay lại Marta và nói gì với Marta, có lẽ là điều quan trọng. Marta vội vã đi ra rồi trở lại với quyển sách nhỏ bọc bìa da và đưa cho Shchedrin.

- Đây là cuốn sách của Bestuzhev - bác sĩ nói. Đây là kỷ vật duy nhất. Người ta đã tìm thấy ở Anna.

Shchedrin nương nhẹ cầm quyển sách, lật tờ bìa ra và đọc: ''Eda, tiểu thuyết Phần Lan củaYevgeny Baratynsky".

Marta thẹn thò nói gì với bác sĩ. Ông dịch lại:

- Trong cuốn sách này có bức thư. Nó cũng lưu lại sau Anna. Nàng không bao giờ rời nó.

Shchedrin lật những trang sách và rút ra mấy trang giấy cứng đã ngả vàng viết bằng bút lông ngỗng. Rõ ràng người viết đã vội. Trang giấy còn dây nhiều vết mực.

"Anna, - Shchedrin đọc, - anh đã phạm một tội lớn, không nói gì với em về cuộc đấu súng sắp tới ..."

Từ bức thư toát lên mùi hoa oải hương.

Shchedrin đọc bức thư và nhíu mắt lại, tay anh bắt đầu run lật bật, đến nỗi anh phải đặt bức thư xuống bàn để khỏi lộ rõ nỗi xúc động.

Bác sĩ và vợ chồng Jacobsson cố không nhìn Shchedrin. Bác sĩ gõ gõ ngón tay lên mặt bàn và se sẽ hát. Ông chỉ làm như vậy mỗi khi lòng ông xôn xao mạnh.

Gần như suốt đêm Shchedrin không ngủ. Anh đọc đi đọc lại bức thư của Pavel Bestuzhev, đọc lại "Eda" của Baratynsky và suy nghĩ mãi về những chỗ có gạch bút chì. Shchedrin đặc biệt nhớ hai câu thơ:

Đến bao giờ, bao giờ, tuyết hỡi,

Xóa sạch dấu chân ta dưới cõi trần.

Ngoài cửa sổ đêm thanh thanh mờ sáng. Mặt nước lấp lánh như giấy bạc. Hoàng hôn tàn dần trong bóng tối miền Bắc. Mùi cỏ cây, mùi đá ẩm ướt hòa cùng tiếng chim lọt vào phòng.

Trong những đêm như vậy tất cả đều cảm thấy tuyệt đẹp, thậm chí cả những gương mặt người bình thường. Gương mặt của Anna lại càng đẹp bội phần.

"Những đau khổ và cái chết của chúng ta", - Shchedrin đọc dòng chữ trong thư - "sẽ dội vào muôn trái tim niềm xúc động mãnh liệt."

"Làm thế nào để thực hiện điều tiên tri ấy" - Shchedrin suy nghĩ. Nếu anh là nhà thơ, hay một lãnh đạo quần chúng, tất anh đã tìm được những lời để kể cho hàng ngàn vạn con người về số phận của Pavel Bestuzhev với Anna và được đáp lại bởi sức mạnh đồng cảm vĩ đại. Nhưng thậm chí trong bức thư gửi cho mẹ, anh cũng không tìm được lời viết điều đó.

"Ừ, mà có cần phải thế không?" - Shchedrin nghĩ. Cả ông nội và Bestuzhev đều tin ở ngày trả hậu. Nỗi hận đã đã được trả xong. Chẳng lẽ những thủy thủ, binh lính, công nhân, nông dân đã lao vào cuộc cách mạng như một cái gì thân thiết nhất của mình đã không trả thù cho ông nội anh, cho Bestuzhev, cho Tikhonov, không chiến đấu cho một đất nước tự do mà họ hằng mơ ước suốt một thế kỷ trước đây?

Shchedrin đón thận bức thư của Bestuzhev như một lời di chúc, một lời hiệu triệu, tiếng kêu xa xăm vọng ra từ vực sâu của một thế kỷ nặng nề và đẫm máu: "Đừng quên chúng tôi, hỡi những người hạnh phúc!"

Mấy ngày sau "Dũng Cảm" được lệnh đi Helsingfors. Shchedrin trở về tàu phóng lôi.

Trong những ngày cuối cùng, vợ chồng Jacobsson cư xử với anh như một người thân thích gần gũi. Marta suốt ngày loay hoay dưới bếp, đãi anh bằng những món ăn bình dị và ngon lành. Chị đã đặt tất cả sự khéo léo của mình vào việc nấu nướng. Peter luôn luôn nói chuyện với Shchedrin về cách mạng, về những thời gian đã qua, về chiến tranh, và dắt anh ra bờ biển chỉ cho anh chiếc thuyền cũ và đồ chài lưới của mình.

Một lần, Shchedrin cùng Marta và Peter đến chơi nhà bác sĩ. Vợ chồng Jacobsson muốn cho anh xem mặt con gái của mình và đã gọi nó là cháu của Shchedrin, tự hào về mối quan hệ thân thích mới.

Trong nhà bác sĩ sạch sẽ bóng bẩy lạ lùng, vẻ sạch sẽ chỉ thường thấy ở nhà những người dân miền Bắc. Sàn nhà, tường, cửa sổ, bát đĩa, thậm chí cả trần nhà đều bóng lộn.

Shchedrin không hiểu gì về trẻ con. Nếu có ai bảo với anh đứa trẻ này xinh quá thì anh đồng ý luôn mặc dầu chàng bao giờ nhận ra những đứa bé xinh hay xấu xí. Anh có cảm tưởng trừ những trường hợp ngoại lệ hãn hữu, mọi đứa trẻ đều giống nhau. Và bây giờ anh sẵn sàng đồng ý rằng con bé rất đáng yêu.

Shchedrin được mời ngồi vào đi-văng. Con bé ngồi bên cạnh anh. Nó ngắm nghía mãi vòng tay áo nạm vàng của Shchedrin và khẽ lấy móng tay cậy ra.

Shchedrin tranh luận với bác sĩ liệu cách mạng có xảy ra ở Scandinavia hay không. Cuộc tranh luận bị ngắt quãng vì tiếng kêu thất kinh của bà vợ béo của ông bác sĩ.

Trong khi họ tranh luận, con bé đã kịp cậy ra một vòng tay áo. Nó cậy rất nhẹ tay bằng một chiếc kéo nhỏ.

- Trẻ con nó cũng thích vàng y như những con chim ác là, - ông bác sĩ cười vang.

Con bé xấu hổ, chúi đầu vào đầu gối Marta.

Bà vợ ông bác sĩ đeo cặp kính gọng đồi mồi, lấy tráp đựng đồ khâu ra, đính lại vòng tay áo nạm vàng. Những cuộn chỉ mầu nằm trong hộp tráp như những con dím – những chiếc kim cắm trên mình chúng đâm lên tua tủa.

Trước khi Shchedrin ra đi, Peter nói với anh rằng hai vợ chồng họ muốn tặng anh làm kỷ niệm không chỉ cuốn sách với bức thư mà cả bức tranh Anna nữa.

Shchedrin thực cảm động. Họ đã tặng anh cái đã được truyền từ đời nọ sang đời kia như một bảo vật vĩ đại nhất.

Từ Helsingfors, Rosen được triệu về Petrograd. Vitya "nửa người" rời khỏi tầu vì bệnh tật và Shchedrin được cử làm chỉ huy của "Dũng Cảm".

Những ngày, tuần lễ và những tháng trôi qua trong sự căng thẳng triền miên, trong các cuộc mít-tinh, các cuộc tranh cãi đến mất cả giọng, trong sự chờ đợi cơn bùng nổ chống lại chính phủ lâm thời không tránh khỏi.

Những sự kiện sầm sầm đổ tới. Cuộc biểu tình tháng Hai ở Petrograd, Lenin rút vào bí mật, chính phủ lâm thời giải tán Ủy ban Thường vụ hải quân hạm đội Baltic, cuộc tổng đình công ở Helsingfors. Vào đầu tháng Tám, quân Đức phá vỡ trận tuyến, đánh chiếm Riga và những trung đoàn của Kornilov[5]tiến về Petrograd.

Một phần thủy thủ rời "Dũng Cảm" dưới sự chỉ huy của Marchenko đi đánh nhau với Kornilov. Ngư hạm vắng hẳn người.

Mùa hè lặng gió đến. Shchedrin cảm thấy nó nóng ẩm và yên ổn khác thường, có thể vì ở khắp nơi trong hạm đội, trong thành phố giông tố đang diễn ra.

Thư mẹ không đến.

Shchedrin thường hay xuống phòng máy và cùng với các thợ máy lau chùi, bôi mỡ cho các phần lạnh của động cơ. Máy móc, cũng như những con người dường như đang chờ đợi những sự kiện không thể đảo ngược được.

Mùa thu đến ẩm ướt và ấm áp. Sương mù thấm qua các tấm lá vàng. Dưới sức nặng của hơi nước lạnh lẽo và trở nên không còn cần biết nữa, những chiếc lá lìa cành rơi xuống cỏ, xuống hè đường lát đá hoa cương.

Đôi khi Shchedrin vào thành phố thăm Ackerman. Ackerman, vì chân đau mà không phục vụ được ở trên tàu phóng lôi nữa và vốn là chuyên gia về ngành thông tin, anh được cử làm chính ủy trạm điện báo. Sau mặt bàn chất đầy những băng điện tín, Ackerman đọc cho Shchedrin nghe theo những bằng giấy dài những tin cuối cùng bao giờ cũng làm bàng hoàng chấn động.

Hai người cùng đi ra phố và Ackerman dẫn Shchedrin vào một tiệm cà-phê bao giờ cũng vắng như một hòn đảo giữa đại dương bão tố.

Ackerman xé vụn những bông hoa kim chung bằng giấy để ở trên bàn và tư lự nói:

- Sasha, cậu thử giải thích hộ xem sao. Tại sao trong những ngày này, mình bắt đầu đặc biệt trân trọng cả những chuyện vặt vãnh. Một cô gái nào nhìn mình là cả ngày mình mỉm cười như một anh ngớ ngở. Không khí cũng cảm thấy khác. Rồi tất cả mọi thứ khác nữa, cả biển, cả cỏ cây, thậm chí cả ngư hạm nữa.

- Ngư hạm có gì khác?

- "Dũng Cảm" giống như một biệt thự bị bỏ hoang, cửa đóng then cài, mọi người bỏ đi. Chỉ còn là một người gác cổng. Ông ta sống trong cô đơn, đốt lò, nghe đồng hồ chạy tích tắc và ngóng chờ xem bao giờ chủ mới đến.

- Nhưng mà cậu là thi sĩ đấy, Ackerman ạ, - Shchedrin nói - Sẽ có những người chủ mới. Cậu khỏi lo.

- Mình đâu có lo, anh ngốc ạ. Mình không quan tâm đến điều đó. Liệu mình và cậu có sống được đến thời gian đáng giá không – đấy mới là điều đáng quan tâm. Cần phải đập tan cái cũ rắn chắc thế nào trong thân mình và chung quanh đây.

Shchedrin lặng lẽ uống cà phê đặc, hơi ngọt làm dịu cả lông mi.

- Cậu sẽ sống tới đó mình biết, - Ackerman nói, - nhưng mình thì không.

- Chân và nói chung người cậu ổn cả chứ?

- Chân là cái quái gì! Mặc xác, cái chân. Thậm chí lại hay là đằng khác nữa; đi khập khiễng như Byron[6]! Vấn đề là thần kinh bị thiêu cháy nhanh quá. Mỗi ngày như một năm. Không sao ngốn kịp.

- Cậu mệt rồi, Về Peter[7]xem.

- Mình sẽ hiến tất cả cái sức khỏe như ngựa trước đây của mình cho sự mệt mỏi này, - Ackerman đáp. - Một thời tuyệt diệu! Mà mình đâu có phàn nàn. Chẳng qua đây là câu chuyện tâm tình bên cạnh bình hoa kim chung thôi.

Họ bước ra phố. Sương mù và hoàng hôn trên thành phố hòa vào nhau thành bóng tối màu lam. Mùi khói tầu hỏa, cà phê và hoa cẩm chướng ở các hàng hoa bốc lên đậm đặc: trong những ngày này người ta chỉ mua hoa cẩm chướng - biểu tượng của cách mạng.

Một tuần lễ sau, buổi tối Shchedrin nghe thấy tiếng chân bước vội trên đầu mình, trên boong tầu. Xét theo tiếng chân bước, người đang đi thọt một chân. Shchedrin đoán là Ackerman và ra đón anh.

- Sasha! - Ackerman lúng túng xuống thang reo lên.

- Đúng là ngày hội rồi! Chính phủ lâm thời đã bị lật đổ. Chính quyền chuyển vào tay những người bolshevik rồi.

Anh rút ra khỏi túi băng điện đã vò nhau, bắt đầu đọc lời kêu gọi của chính phủ mới gửi toàn thể nhân dân lao động.

Mãi mùa đông, Shchedrin mới trở về Petrograd, sau cuộc hành quân lừng lẫy của hạm đội Baltic vượt băng từ Helsingfors về Kronstadt. Hạm đội đã phải vượt qua lớp băng dày nặng để khỏi lọt vào tay bọn Đức đang chiếm dần đất nước Phần Lan.

"Dũng Cảm" chạy từ từ thẳng tắp với tầu tiêu binh. Ngày và đêm băng lạo xạo, nứt vỡ gần hai bên mạn tàu, nước xanh lè ùng ục sôi lên như những con sông lớn ở đuôi tàu.

Ngày tối đen như khói. Mọi góc trời đều u ám. Đôi mắt cố tìm ra dù chỉ là ánh lửa của bờ biển thân yêu xa xa, nhưng không sao thấy được. Tuốc-bin nổ ròn, gió hú trong những ống máy to rộng, đêm ca hát bằng tiếng vỡ vụn lạo xạo của băng húc vào tầu.

Đội thủy thủ rét cóng. Lò sưởi làm việc tồi. Sương mai dần dần bám đầy trần và tường. Đặc biệt nặng nề là về ban đêm. Bóng đêm dày đặc đến nỗi ánh sáng ban ngày tới không sao lấn át được nó, lại đành thoái lui, Ngày vừa hé sáng đã tàn lụi ngay.

Thỉnh thoảng một đàn quạ bay trên tàu. Lượn vòng trên boong, chúng bay vội đi xa, dường như muốn vung đôi cánh để tránh khỏi cảnh tượng dữ dội những con tầu bị băng phủ kín.

Từ Kronstadt, Shchedrin đi bộ qua băng về Petergof. Tàu "Dũng Cảm" chỉ còn lại mười người lính thủy, những người khác đã đăng ký vào những đội bộ binh - đi đánh nhau với quân bạch vệ.

Shchedrin đi cùng với các chiến sĩ hải quân về tận Petergof. Đứng trên bờ biển Petergof, các chiến sĩ ngoái lại nhìn Kronstadt, một người trong bọn họ nói với vẻ tuyệt vọng vui vẻ:

- Vĩnh biệt nhé, Baltic ơi!

Họ đi qua công viên vắng vẻ phủ đầy tuyết. Trời chiều hoàng hôn. Gần hàng rào ngoài hoàng cung có một chiến sĩ cận vệ đỏ - một công nhân đứng tuổi mang súng trường đang đi đi lại lại. Các chiến sĩ dừng chân châm thuốc hút.

- Cận vệ đỏ - họ nói một cách kính cẩn rồi vòng từ đằng sau ra đằng trước nhìn người công nhân.

- Ai tự do cũng đi đánh nhau, huống chi chúng ta lại được quỷ sai bảo. Chuyến này còn sống chúng ta lại trở về với những con tầu.

- Làm gì mà cứ nhìn với ngắm mãi thế, các anh bạn trẻ, - bác công nhân lầu bầu. - Chỗ này cấm không được dừng lại.

Các anh lính thủy cười phá lên, ồn ào, rồi tiếp tục đi. Shchedrin đứng lại. Anh bắt chuyện với người công nhân.

- Tôi là người Petergof đây, - người công nhân nói. – Tôi là thợ mộc, chuyên về các loại gỗ quý. Giờ tôi ở trong đội bảo vệ. Chúng tôi trực ba người một phiên gác. Nhưng tạm thời chẳng một kẻ nào động đến, chỉ có các chú thỏ nhảy lung tung chung quanh lúc ban đêm. Kia anh xem, chúng bới lộn cả tuyết lên kia... Ta đi vào trạm gác cái đã. Anh sưởi cho nó ấm người một lát. Đi qua băng chắc hẳn phải rét. Trong trạm gác ấm lắm.

Họ đi vào trạm gác. Trong đó nóng rực, nước chảy trên mặt tường.

Họ hút thuốc. Shchedrin bảo:

- Bác đi bảo vệ cung điện là điều tốt đấy.

- Chứ sao! – Bác công nhân ngồi xổm bên lò sưởi nói. - Có khi chính Rastrelli[8]đích thân xây cũng nên. Nhân dân đã giành lại cho mình một vẻ đẹp lớn lao.

Shchedrin hút thuốc rồi chia tay đi ra ga. Nghe nói từ Petergof thỉnh thoảng có tầu hỏa và Petrograd.

Anh đi vào công viên và ngoái lại nhìn cung điện tưởng như được đắp bằng tuyết nhẹ bỗng.

Trong con tàu chật ních các lính thủy và chiến sĩ cận vệ đỏ, Shchedrin về đến Petrograd vào khoảng ba giờ đêm.

Petrograd đen ngòm, vắng tanh. Shchedrin đi qua khắp thành phố về đảo Aptekarsky, nơi mẹ anh đang sống. Gió rú buồn nản trên các tòa nhà đồ sộ. Những ống nước vỡ kêu u u. Những người lính gác hút thuốc dưới cồng tòa nhà bộ tổng tham mưu. Họ đòi giấy tờ và xem mãi dưới ánh sáng của một cây đèn hỏa xa.

Shchedrin đi qua sông Neva. Băng đen mờ mờ lấp lánh. Gần Sở Giao Dịch vắng tanh, một chiếc xe điện đổ kềnh, nghiêng sang một bên, tuyết phủ kín. Ở phía đông, vầng sáng điện nhợt nhạt tỏa lên trời - ở đó là điện Smolny[9].

Shchedrin đi hồi lâu dọc đại lộ Kronversky. Thành phố vĩ đại nằm trong tuyết phủ và bóng đêm chung quanh. Nó khắc khổ và im lìm. "Số phận của thành phố - Shchedrin nghĩ, - sẽ tuyệt đẹp, phi thường. Ta còn sống tới ngày đó".

Trong cửa số phòng mẹ anh, ngọn đèn nến đang cháy. Tuyết phủ đầy sân. Những con quạ con ngủ trên cây bạch dương. Chúng thức giấc và vỗ cánh lạch bạch khi Shchedrin dừng lại bên cửa, rủ tuyết đông dính vào giầy.

Tim Shchedrin se lại. Anh gõ cửa.

Tiếng bước chân già nua chậm chạp vọng ra. Mẹ anh mở cửa qua lỗ buộc dây xích, kêu lên: "Sasha" và đánh rơi cây nến. Cô Julia chạy lại, cởi dây xích và một phút sau, Shchedrin đã ghì mái đầu bạc run lẩy bẩy của mẹ òa khóc vào vai áo khoác đen ướt át!

- Thôi mẹ ơi, mẹ bình tĩnh lại – Shchedrin nói. - Con vẫn sống đây mà! Xin mẹ!

Các bà cô đều ở chung với mẹ, vội vã mặc quần áo sau rèm cửa, líu tíu hỏi thăm Shchedrin, và cũng khóc vì vui mừng.

Chiếc samovar đã reo lên ở trong bếp. Mẹ không ngừng tay dụi mắt, lúi húi quanh chiếc bàn, quên hết cả, cứ nhìn Shchedrin vừa vui sướng, vừa nghi ngờ: liệu nó có giấu gì không hay ngày mai lại phải đi ra một mặt trận mới rồi?

*

* *

Trong đêm, gió đã rắc lên khắp mặt boong "Dũng Cảm" những cánh hoa diếp cốt mộc. Shchedrin bước ra, nhìn mặt boong và nhớ lại những trận mưa tuyết, những ngày mùa đông lênh đênh trên biển Baltic và cuộc hành quân vượt băng.

"Dũng Cảm" đang đứng bên bờ sông Kovzha dốc ngược. Bên bờ kéo dài một vườn cây đã khô héo với lớp hàng rào siêu vẹo. Những bụi cây tầm ma cao luôn luôn lay động và từ đó nhô ra những cái đầu tóc trắng của trẻ con,

- Suỵt! - Anh lính thủy Viner, người Estonia suỵt chúng như sụyt lũ chim sẻ.

Lũ trẻ cười ré lên, ngồi phục xuống trong đám tầm ma, rồi lặng yên. Sau đó nghe thấy tiếng khóc. Như thể có nghĩa là một đứa vào đó là bị gai đâm.

- Cho chúng nó lên tàu, Viner! - Shchedrin nói. - Cho chúng nó xem... Nào, các em ơi! - Anh gọi với – Lên đây!

Lũ trẻ chui ra khỏi bụi tầm ma, túm lại ở bên cầu thang, nhưng sợ không dám lên, chúng cứ đứng nguyên như vậy ở đầu cầu, lặng lẽ ngắm nghía chiếc tàu phóng lôi.

"Dũng Cảm" - đi từ Petrograd vào sông Volga về mặt trận đánh Kolchak. Đoạn đường khó khăn nhất. Kênh đào Mariinsky đã ở lại phia sau. Sự vất vả với những âu tầu đã qua. Trước mắt là hồ Trắng, sông Sheksna, Volga.

Lũ trẻ thở phì phò ở trên bờ, mắt không rời chiếc tàu phóng lôi. Lần đầu tiên trên mặt sông ở quê chúng, thay cho những chiếc tàu kéo bẩn thỉu xì hơi hổn hển, xuất hiện một con quái vật của biển dài ngoẵng và nom thật dữ dội. "Dũng Cảm" trên sông nom cao hơn trên biển – tạm thời nó được rỡ bỏ vũ khí và gánh nặng không cần thiết.

- Các em ơi, làng Megra đây ở chỗ nào ? - Shchedrin hỏi.

Lũ trẻ đưa mắt nhìn nhau rồi định bỏ chạy.

- Đứng lại! - Shchedrin nói. - Em nào can đảm nhất trả lời mau.

Đám trẻ đẩy lên phía trước một con bé mặc chiếc áo sơ-mi dài tới tận gót chân.

- Ở đằng sau gò kia kìa, - con bé nói, rồi cúi gằm mặt xuống tưởng chừng như nó sắp phát khóc đến nơi.

- Sau gò là đâu?

- Đằng kia !

- Nào, tất cả dẫn chú đi! - Shchedrin nói và đi xuống bờ.

Lũ trẻ gót chân trần loang loáng chạy lên phía trước. Sau cổng làng là một khu rừng hồ đào um tùm.

Lũ trẻ vừa chạy, vừa ngoái lại nhìn Shchedrin, chân vấp luôn. Có đứa bị sưng cả chân, mếu máo, nhưng vẫn chạy tiếp, chúng sợ nhất là bị tụt lại và bỏ lỡ mất một câu chuyện lý thú.

Làng Megra ở sau một đỉnh đồi cỏ rừng mốc, ven một chiếc hồ lớn. Lũ trẻ mở cổng làng đe Shchedrin đi qua, nhưng chúng không vào làng. Làng là làg lại những người đàn bà giận dữ đang nhìn ra từ sân bay cửa sổ.

- Thưa cụ, nhà Tikhonov ở chỗ nào? - Shchedrin hỏi một cụ già đang ngồi sưởi nắng với chiếc gậy để bên bờ giếng.

- Ơ, anh bạn quý mến ơi, ở đây có những bốn gia đình thuộc dòng họ Tikhonov cơ. Anh hỏi nhà nào.

Shchedrin đành phải giảng giải là anh cần nhà Tikhonov mà cách đây tám mươi năm có một bà cụ tên là Avdotya.

- À, anh cần nhà ấy cơ đấy! - Ông cụ mừng rỡ. - May là anh gặp lão đây. Chính lão đã gần tám mươi rồi. Ta là con quạ già, không có nói sai bao giờ. Bà Avdotya của anh mất từ khi lão chưa ra đời cơ. Bà ấy thọ lắm.

- Vậy còn ai là giòng dõi của bà cụ còn sống ở đây không ? - Shchedrin hỏi.

- À, thế thì ngoài Nastya, chả còn ai đâu. Có mình Nastya với đứa con gái nhỏ thôi. Kia kìa, chị ta đang giặt ở bên hồ kia kìa. Anh ra đấy đi, đi đi anh bạn.

Shchedrin ra chỗ Nastya. Chị ta đang lấy chầy đập ầm ầm vào đống quần áo xám và quát đứa con gái nhỏ lên năm tuổi.

- Đi về nhà ngay, chùi mũi đi!

- Chị là Nastasya Tikhonova?- Shchedrin hỏi.

Người phụ nữ nhanh nhẹn quay lại và chùi tay vào vạt váy, kinh hãi nhìn Shchedrin.

- Người của hải quân, - chị nói và bình tĩnh lại. - Ông cần việc gì?

- Tôi có chuyện cần nói, - Shchedrin đáp. - Nhưng ở đây không tiện.

- Mời ông vào nhà, - Nastya nói. - Đề tôi xếp dọn xong rồi về luôn... Katka! - Chị la con bé. - Dẫn chú về nhà. Ôi, cái con bé tai quái này!

Katka "tai quái" thở hổn hển, ưỡn cái bụng tròn ra, long trọng đưa Shchedrin về nhà. Giữa nhà một con chó lài già bù xù đang ngồi gãi. Nó ngơ ngác nhìn Shchedrin, hắt hơi làm bụi bắn tung cả lên và lại gãi xành xạch.

- Đây là con Kashtan! - Katka khàn giọng nói. - Nó không cắn người lớn đâu. Nằm im!

Nastya bước vào. Shchedrin vẫn đứng. Nastya lấy vạt váy lau ghế, mời anh ngồi.

- Nào, giờ ta nói chuyện. Tôi cứ đoán mãi xem ông là ai. Chắc ở mặt trận về.

- Không, - Shchedrin đáp, - không phải ở mặt trận về. Gia đình chị có cụ bà nào là Avdotya và con là Semyon Tikhonov đi lính không?

- Có đấy, - Nastya đáp - Ông tôi có kể chuyện ông Semyon đi lính bị đánh chết ở đâu đó nơi đất khách quê người.

- Tôi đã thăm mộ cụ, - Shchedrin nói - Ở xa lắm, mãi tít một hòn đảo bên Phần Lan ấy.

- Chà, thật đáng sợ làm sao - Nastya thở dài và ngúc ngắc cái đầu. - Bị đưa đến chết ở tận đó. Còn chồng tôi cũng bị giết rồi. Bị bom ném từ trên máy bay xuống, thế đó. - Nastya lấy góc khăn tay chùi mắt và hỏi. - Thế ông hỏi gì về người lính kia ?

- Người đó đã cứu ông tôi thoát chết - Shchedrin nói và hơi đỏ mặt lên.

- Thế đó - Nastya lại lắc lắc cái đầu. - Có nghĩa là một người tốt rồi.

Shchedrin kể rằng vô tình anh đến đây từ trên chiếc tầu phóng lôi đang đi trên sông Vonga, rằng từ bức thư của người sĩ quan chết cùng thời với Tikhonov anh biết rõ nguồn gốc của Tikhonov và tiện thể rẽ vào thăm. Đằng nào ở trên ngư hạm cũng chẳng có việc gì làm, họ phải đợi một chiếc tầu kéo đến.

- Chị chỉ có một con gái thôi à? - Shchedrin hỏi, và nhìn Katka.

Con bé đứng bên bếp lò, chân khèo vào nhau và cứ chằm chằm nhìn Shchedrin.

- Không, tôi còn thằng con trai nữa, nhưng cháu hiện ở Petergof, học việc nghề mộc ở nhà một bác thợ mộc người Megrinsky. Cháu mười hai tuổi. Tính cháu hiền lành như bố cháu, đầu óc rất sáng... - Vậy anh có qua Petergof không? – Nastya hỏi, đã chuyển sang "anh", có nghĩa là Shchedrin đã được thừa nhận là người nhà.

- Nếu không bị giết, tôi sẽ tới đó.

- Có thể anh tìm đến thằng con tôi chăng? Anh hãy tìm đến cháu, thăm cháu hộ tôi với. Tôi cho anh địa chỉ.

Shchedrin ghi địa chỉ Aleksey Tikhonov, xóm hoàng cung, nhà bác thợ mộc Nikanor Nikitin.

Shchedrin đã toan ra đi, nhưng Nastya không để anh đi mà chưa mời uống trà.

– Chè làm bằng cà-rốt sấy khô thôi. Nhưng anh cứ uống cho tôi mừng. - Chị âu yếm nói.

Nastya phát vào lưng Katka đánh bộp và con bé chạy bắn ra phố - sang hàng xóm vay đường.

Shchedrin nhìn thấy qua cửa sổ thấp, Nastya đang đặt cái ấm samovar nhỏ đã hóa xanh ở ngoài sân và lấy vạt áo quạt lửa. Sau đó chị đi vào sau vách ngăn, từ đó vọng lại tiếng nước óc ách và tiếng thở dài.

Nastya bước ra, người đã được rửa ráy chải chuốt gọn gàng trong chiếc áo váy hoa mới. Chị xấu hổ, đỏ mặt lên, phủ khăn bàn, loanh quanh bên Shchedrin, xột loạt chiếc váy hồng hồ bột.

Họ uống chè hồi lâu, theo kiểu nhà quê, uống dần từ đĩa nước chè vàng. Nastya cắn đường ròn tan bằng hàm răng trắng khỏe mạnh và bất giác Shchedrin ngắm nhìn chị.

Anh không muốn ra về nữa. Nastya tiễn anh đến cổng làng, không sợ những cái nhìn tò mò ghen tị của các bà, các chị đang nhìn theo từ các cửa sổ.

Bên cổng làng họ chia tay nhau. Chị chìa cho anh bàn tay ram ráp, mắt nhìn xuống và bất ngờ nói se sē:

- Có thể ta lại còn gặp nhau. Anh viết thư nhé.

Shchedrin hứa sẽ viết thư và đi ra khỏi cổng làng. Gần rừng, anh nhìn lại. Nastya đứng đó, khăn tay che cằm và nhìn rõi theo anh. Anh giơ tay vẫy chị. Chị không đáp lại, cứ đứng đó không nhúc nhích gây ra như đá.

Bon trẻ đã đợi sẵn Shchedrin ở trong rừng. Vội vã lấy tay áo quẹt mũi, chúng lại chạy lên phía trước, gót chân đạp tung cả cát bụi. Chúng dẫn Shchedrin đến tận chân cầu tàu rồi dừng lại.

Một giờ sau chiếc tàu kéo đến và bắt đầu vừa huýt còi vừa thận trọng đưa chiếc ngư hạm ra vùng nước sâu.

Trước lúc trời tối, "Dũng Cảm" đã đến hồ Trắng. Nó quả là trắng thực. Nhợt nhạt và bóng loáng. Trên bờ hồ thâm thấp mọc lên những tháp chuông nhà thờ làng quê như những ngọn hải đăng. Sau những tháp chuông, mặt trời to trắng bạch hạ xuống cánh rừng.

Bỗng nhiên từ bờ hồ thoảng lại mùi hoa đồng nội đã héo. Ở đó đã cắt cỏ. Tiếng những người đàn bà hát lanh lảnh và buồn buồn.

Tầu phóng lôi đi theo sông Sheksna xuống miền Nam, trong khi đó trong căn hộ chật hẹp của bác thợ mộc Nikanor Nikitin ở Petergof đang rối tinh rối mù cả lên.

Bạn của bác Nikitin là cụ Prokhor, một người thợ mộc già và khôn ngoan lăn ra ốm, cho người xuống nhờ bác Nikitin thay cho cụ về đóng mấy cái giá sách ở Petrograd, tại đại lộ Kronversky.

Câu chuyện cũng bình thường thôi. Bác Nikitin vẫn thường hay làm việc ở nhà người ta theo đơn đặt, nhưng lần này người đặt hàng là một người hoàn toàn khác thường. Ngay đến Matrena - bà vợ ù ù cạc cạc của Nikitin cũng còn biết đến. Tên ông vang dậy khắp nước Nga, cả châu Âu và có lẽ cả thế giới - tên của một trong những nhà văn vĩ đại nhất của nhân loại tiến bộ.

Nikitin dậy sớm, đánh thức cả nhà dậy, cạo mặt hồi lâu, cái cọ với Matrena và cuối cùng cáu kỉnh bảo:

- Để thằng Alyosha đi với tôi. Làm thợ phụ. Chắc người ta sẽ cho nó vào nhà thôi, cho nó được thấy một con người vĩ đại.

Alyosha tái mặt, kéo lại chiếc áo sơ-mi vải hoa đã bạc màu.

Matrena tru chéo lên:

- Gớm cái con quỷ già này chỉ khéo vẽ lắm chuyện. Mình ông được vào đã là may rồi. Dễ thường người ta chưa được thấy thợ phụ của ông phó mộc bao giờ đấy hẳn!

- Im đi! - Nikitin nói. - Ý tôi dứt khoát là như vậy.

Matrena nhổ nước bọt và nói vào khoảng không:

- Nó chả có quần áo nào thích hợp cả.

- Có gì mặc nấy đi là được rồi.

Nhưng dù sao Matrena cũng đã rút ngay từ chiếc tủ ngăn cũ kỹ, đã nứt nẻ, chiếc áo sơ mi vải hoa mới cho Alyosha và là ngay trên bệ cửa sổ. Alyosha vội chùm lên đầu. Chiếc áo còn nóng bỏng làm rát cả lưng.

- Đi đâu mà vội! – Matrena lại la lên. - Hẵng lau mặt, lau cổ đi đã, để thế này ai mà chịu được. Tôi đến chết với hai bác cháu nhà ông mất thôi.

Trong lúc uống trà, Matrena không nhìn chồng bảo Alyosha:

- Cháu phải nhắc ông ấy! Có biết ông ấy thế nào không? Ông ấy mà đã cao hứng thì lưỡi cứ múa lên thao thao bất tuyệt, không còn biết giữ mồm giữ miệng gì nữa. Ông ấy chỉ sống bằng những câu chuyện thôi.

- Im mồm! - Nikitin nói - Ý bà như thế nào thì cứ giữ bên mình, đừng có chõ vào việc của tôi.

Khi Nikitin và Alyosha đi rồi, Matrena chạy sang mấy bà hàng xóm, kiêu hãnh, đỏ cả mặt lên, kể cho họ nghe là ông già độc ác của bà và thằng Alyosha được gọi đến làm việc ở nhà một người danh tiếng. Mấy bà kia thở dài ghen tị.

- Gớm, lại thế nữa kia, hả bà chị - Họ đua nhau nói. - Thế thì sợ quá! Chẳng lẽ ông ấy đi với thằng trẻ ranh ấy à? Ông ta chả biết trời đất là gì sất. Rõ là một tay liều mạng.

Trong khi đó, ông già "độc ác" rảo bước trên mặt đường lát gỗ mọc lút cỏ, trên những đại lộ Petrograd vắng vẻ, đã khản đặc cả cổ vì xúc động đến nỗi khó cả việc chuyện trò với Alyosha.

- Sao bác mất cả tiếng đi thế này cháu có nghe thấy không? - Ông lo lắng hỏi Alyosha.

- Giọng bác khản đặc. - Alyosha trả lời.

Để sửa giọng, Nikitin vào quán bia uống một vại bia chua, mùi vị giống như nước kvas.

Alyosha Tikhonov mới được đưa về Petrograd một năm rưỡi nay. Chú rất thích ở Petergof. Chú là một cậu bé nhút nhát, nay nhìn mọi vật một cách chăm chú và lâu: biển xanh, những cung điện, những thủy thủ đi đều bước trên đường phố Petergof vắng ngắt. Đôi khi không biết từ đâu vọng tới tiếng súng nồ. Có lần thậm chí có tiếng trọng pháo nổ, Alyosha rụt rè hỏi bác Nikitin như thế là như thế nào. Bác bóp mũi chú và trả lời:

- Đó là để cho các cháu, cho bọn chưa biết suy nghĩ, các bác, các chú đang gắng sức đấy.

Câu trả lời này thật mơ hồ, nhưng Alyosha hiểu được cái chính và sau này bằng cách hỏi han chú đã vỡ ra được những chuyện khác: bolshevik là gì, Yudenich[10]muốn gì, ai là vô sản, ai là tư sản.

Bác Nikitin dạy chú bé nghề mộc và vì chẳng có ai đề chuyện trò, hàng giờ liền bác kể cho chú nghe về nghề mộc cổ xưa, về các đặc tính khác nhau của gỗ, về sơn bóng, về các bậc thầy danh tiếng đã mất từ lâu (Cầu cho linh hồn họ yên nghỉ!). Bác Nikitin nhớ lại những người thếp vàng, những chuyên gia về đồ đồng phù điêu, làm sàn gỗ. Bác biết bí mật của nhiều nghề nghiệp và cố nhồi nhét cho Alyosha.

Alyosha chăm chú lắng nghe. Bác Nikitin đưa cho cháu những quyển sách, khi thì là của Pushkin, khi của Gogol, khi lại là Krestovsky không nổi tiếng mấy, bắt chú phải đọc, sau đó khắt khe đòi chú phải kể lại những cái đã đọc qua. Nhưng Alyosha lại thích vẽ hơn. Chú chẳng có gì hơn ngoài mấy cái bút chì màu, nhưng với những cây chì màu ấy chú bé vẽ nên những bức tranh làm bác Nikitin phải hoan hỉ.

- Cháu sẽ trở thành Repin[11]! - Bác Nikitin vẫn thường nói. - Chẳng cần phải gắng sức cân não gì, bàn tay cháu cứ thế vẽ ra. Phải dạy cháu, thằng ngốc ạ!

Ở đại lộ Kronversky, bác Nikitin và Alyosha cứ đứng mãi trước tòa nhà cao màu xám. Nikanor Ilyich nhìn những khung cửa sổ to rộng và đằng hắng. Sau đó đánh bạo bước vào cổng phụ và hỏi một người nào đó đang quét sàn là nhà văn trứ danh ở đâu.

- Bên trái, cửa thứ nhất. - Người này nói thậm chí không quay lại.

- Thằng cha xấc láo, cái đồ vô giáo dục, - Nikitin nói khi họ đã bước lên cầu thang.

Họ bấm chuông. Bác Nikitin và Alyosha không nhớ được ai đã mở cửa cho họ, dẫn họ vào một căn phòng lớn, trong đó không có người và chỉ có những giá sách kê dọc theo các bức tường. Hàng trăm, hàng nghìn, có thể đến hàng vạn cuốn sách nằm trên giá, trên bàn, trên ghế, trên bậu cửa sổ, ngay trên sàn nhà nữa. Alyosha muốn ngồi xổm ngay xuống, xem chúng từ sáng đến chiều, ít ra là cả năm.

Nikitin sờ vào giá sách bác Prokhor làm dở. Nó được đóng bằng gỗ đỏ, chỉ còn phải đánh bóng nữa thôi.

Bác Nikitin bắt đầu làm việc. Đầu tiên tay bác còn run lên và trái tim như ngừng lại mỗi lần có tiếng loạt xoạt ở phòng bên, nhưng hồi công việc quen thuộc và yêu thích đã làm bác bình tâm. Alyosha chốc chốc lại hỏi: "Thế ông cụ có ra đây nữa không". Bác trả lời:

- Tao làm sao mà biết được. Tao có phải là ông trời đâu chứ!

Bỗng nhiên cửa mở ra, một người cao lớn tóc đã đốm bạc, người hơi gù nặng nề bước vào. Mặt người đó hiền, mũi giản dị, hơi hếch. Trông thật hệt như chú Vasily bốc vác trên tàu chở hàng ở sông Sheksna, mà cả bác Nikitin và cả Alyosha đều quen thuộc. Người hơi gù đó mắc bộ com-lê mỏng màu xám nom rất thoải mái, mềm mại.

Bàn tay lớn của ông nắm lấy bàn tay rây đầy véc-ni của bác Nikitin và vuốt tóc Alyosha từ gáy ngược lên trán, làm tóc dựng đứng cả lên, nhìn nước sơn véc-ni vừa hắng giọng vừa nói:

- Báo làm việc tuyệt lắm. Tuyệt vời đấy!

Alyosha kinh hãi nhìn người cao lớn. Nhà văn trứ danh chính là ông.

Nhà văn móc từ trong túi ra hộp thuốc lá dài, mở ra chìa cho Nikitin. Alyosha tròn mắt ra nhìn. Nikanor Ilyich lịch sự dùng ba ngón tay nhón ra một điếu và châm hút, mặt dầu cả đời chả hút thuốc bao giờ, khước từ đối với một người như vậy thật là bất tiện.

- Chú nhóc tên là gì? - Nhà văn hỏi Alyosha.

- Aleksey, - Alyosha làu bàu cáu kỉnh đáp.

- Aleksey là một vị thánh, bị khâu vào túi vải gai. - Nhà văn nghiêm chỉnh nói, nhưng đôi mắt xanh của ông mỉm cười hiền hậu theo kiểu cách của những cụ già. - Bị đóng đinh để khỏi cáu kỉnh? Thôi, bác làm việc đi. Tôi không quấy rầy nữa.

Ông bỏ đi. Trong phòng bên giọng trầm ồm ồm của ông còn vang lên mặị. Ông đang giải thích điều gì cho ai đó và nói:

- Tôi không phải bảo ban anh, không phải tôi. Nhà văn phải biết tất cả các loại táo, nếu anh ta viết về nó. Chẳng hạn giống táo grushovka hay anisovka. Trên sông Oka tôi có một người bạn làm nghề trồng vườn, một con người có tâm hồn lớn...

Nhưng ngay lúc đó có mấy giọng nói cùng cất lên và lời của nhà văn không nghe rõ nữa.

Alyosha nhìn bác Nikitin làm việc như bị thôi miên. Bác thợ cả làm nên điều kỳ diệu. Chưa bao giờ Alyosha thấy gỗ được phủ một lớp véc-ni mỏng như vậy. Mặt trời hoàng hôn chiếu xiên nghiêng vào căn phòng và dưới chiều sâu của gỗ, những thớ vàng nổi lên. Miếng gỗ tưởng như được ngâm trong một thứ nước màu sẫm nhưng trong suốt và qua làn nước ấy thấy rõ cả cấu trúc phức tạp, uốn lượn, bay bổng của nó.

Nhà văn lại bước vào. Ông hỏi Nikitin hồi lâu về những điều tinh tế khác nhau của nghề mộc. Alyosha kinh hãi nhận thấy Nikanor Ilyich nói chuyện với nhà văn càng ngày càng mạnh bạo hơn và như Matrena nói - chị chực múa lưỡi lên thao thao bất tuyệt, không bao giờ hết.

- Đồng chí là bậc uyên thâm, - Nikanor Ilyich nói. - Xin đồng chí nói cho kẻ ngu đần này: thứ gỗ này kém đá quý ở chỗ nào? Vẻ uốn lượn có, độ bóng - muốn bao nhiêu cũng được, màu đẹp hơn cả thạch ngọc lựu. Tuy nhiên thứ gỗ này chỉ bộc lộ rõ mình dưới ánh đèn nến. Điện không có tác dụng với nó.

Nhà văn nghe, nhíu mắt, rồi mỉm cười.

- Nếu đồng chí có nến và trong phòng tối hơn một chút, tôi có thể cho đồng chí xem vẻ đẹp thực sự của loại gỗ này, - Nikanor Ilyich nói huênh hoang.

- Hay tuyệt, có thể xem được lắm! - Nhà văn trả lời, lại gần cửa sổ kéo rèm cửa xuống.

Trong phòng gần như tối hẳn. Nhà văn bỏ đi rồi trở lại với một cây nến.

- Nào, ta thử thắp lên xem! - Ông nói và Alyosha thấy trong mắt ông ánh lên một vẻ tò mò vui nghịch cũng như các bạn trai lau nhau của chú. - Xem lần này nó ra sao ?

- Lần này sẽ thay đổi hoàn toàn. Nikanor Ilyich nói.

Bác châm nến và đặt lên giá sách. Những thanh gỗ lập tức biến đổi. Nhìn chúng tưởng chừng như vô đáy và đen sẫm. Ngọn lửa nến trôi trong chiều sâu của gỗ như một mặt trời nhỏ trong sương mù. Quanh nó bao bọc một vùng hào quang làm ngời lên chung quanh những vân gỗ. Màu gỗ sáng lên ánh lửa đỏ sẫm của rượu vang.

- Mozart và Salieri[12]- đột nhiên Nikanor Ilyich nói và Alyosha giật bắn người vì điều bà Matrena dặn trước đã trở thành sự thực, - Tôi đọc vở kịch tới hai mươi lần mà mãi vẫn không chán. Mỗi lần đánh bóng gỗ là tôi lại nhớ lại những lời lẽ luôn vương vấn trong lòng tôi: "Tiếng đại cầm vang lên trong nhà thờ cổ kính, tôi nghe, nghe mãi - những giọt lệ ngọt ngào tự nhiên trào ra mi mắt tôi."

Nhà văn nhoẻn miệng cười sau ria mép và gọi những người nào đó từ phòng bên sang. Ông chỉ cho họ xem thân gỗ dưới ánh nến, ngắm nghía và nói bằng cái giọng trầm êm êm những lời nồng nhiệt về vẻ đẹp của nghệ thuật thực sự – dù cho là văn học hay đánh véc-ni.

Alyosha nghe như trong sương mờ. Vì sau đó, câu chuyện chuyển sang môn kiến trúc và Nikanor Ilyich nói oang oang một cách lỗ mãng rằng Voronikhin[13]so với Rastrelli chỉ là nhãi con và một con cún thôi. Tất cả ồn lên, còn nhà văn thì nắm lấy khuỷu tay Nikanor Ilyich và giận dữ nói:

- Cái đó thì bác nói không trúng rồi. Thế Viện địa chất thì sao? Còn nhà thờ Kazan nữa?

- Nặng nề quá. Tòa nhà phải thanh thoát và đóng vững trên mặt đất.

Nhà văn bật cười, nắm lấy vai Nikanor Ilyich lắc mạnh.

Câu chuyện bỗng chuyển sang Alyosha và chủ bé không biết chui vào đâu. Nikanor Ilyich bắt đầu "múa lưỡi" về các hình vẽ của chú và nhắc lại câu nói ưa thích của mình:

- Tự bàn tay cháu nó cứ vẽ mà không cần đến sự gắng sức của cân não nào.

- Học trò của anh đây chứ đâu. - Nhà văn quay về một người có bộ râu thưa và đôi mắt giận dữ nói:

- Tất cả các anh cấm cung trong các xưởng vẽ của mình, không chịu đào tạo học trò gì cả. Đất nước đang có cách mạng mà các anh sống như một đám chuột chũi. Thử hỏi các họa sĩ ngày xưa sống ra sao? Chung quanh họ là một gia đình học trò tuyệt vời như thế nào. Một truyền thống đẹp đẽ. Đầy hiệu quả và vĩ đại. Cần phải trả nó lại cho thời đại chúng ta. Các anh keo kiệt quá, giống như bà cụ tam đại nhà tôi. Cụ chôn tiền giấy xuống đất để khỏi lọt vào tay kẻ khác. Tiền mục hết cả, bạc hết màu. Sau đó cụ đem hong trên bếp lò, nào có ăn thua gì: chả ai lấy cả.

Người gầy nghiêm nghị nhìn Alyosha:

- Để tôi thử xem. Ông ta nói. Tôi mang nó về học viện mỹ thuật.

- Phải làm từ lâu rồi mới phải, - Nhà văn nói cáu kỉnh, hệt như ông đã nói về Alyosha với nhà họa sĩ hàng năm liền. - Anh sẽ tìm được những khả năng tuyệt vời đấy.

Alyosha chẳng còn nhớ được đã cùng Nikanor Ilyich ra khỏi chỗ nhà văn như thế nào nữa. Đêm trăng trùm lên thành phố Petrograd vắng vẻ, mặt nước nhiều mầu lấp lánh mờ ảo, còn ở phía bắc, ngoài những hòn đảo đen ngòm đã ngời lên ánh bình minh.

- Cháu sẽ nên người, Aleksey ạ, - Nikanor Ilyich nói. - Sẽ như thế đó! Ý kiến của bác là dứt khoát đấy!

Ghi chú

[1]Sasha: Tên âu yếm của Alexander Shchedrin.

[2]Đây là một câu thơ - Ackerman hay nói bằng những câu thơ.

[3]Ám chỉ họ là tầng lớp trên, không phải thành phần cách mạng.

[4]Petersburg: Cũng chính là Petrograd và sau này là Leningrad, mỗi thời một tên gọi khác nhau.

[5]Lavr Kornilov (1870 - 1918): Tướng bạch vệ Nga.

[6]Lord Byron (1788 - 1824): Nhà thơ lớn người Anh.

[7]Peter: Tên thân mật của thành phố Petrograd theo cách gọi của dân địa phương.

[8]Francesco Bartolomeo Rastrelli (1700 - 1771): Kiến trúc sư trứ danh người Ý đã góp công xây dựng Petrograd.

[9]Smolny: Trụ sở bộ tham mưu Cách mạng, nơi Lenin làm việc hồi đầu Cách Mạng Tháng Mười.

[10]Nikolai Yudenich (1862-1933): Tướng bạch vệ

[11]Ilya Repin (1844-1930): Họa sĩ vĩ đại người Nga

[12] Mozart và Salieri: Nhạc sĩ vĩ đại người Áo và người Ý. Cũng là tên một bài kịch thơ nổi tiếng của Pushkin.

[13] Andrey Voronikhin (1759 - 1814): Kiến trúc sư người Nga có công xây dựng thành phố Petrograd.

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của pautovsky konstantins