Chân Dung Nàng

Lượt đọc: 1464 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG I

Có một thứ đói hơn đói ăn khát uống, và chính đó là sự đói khát của tôi. Hồi ấy tôi nghèo lắm, họa phẩm của tôi chưa được đời biết tới; nhịn đói là thường; về mùa đông, rét run trong căn phòng làm việc nhỏ xíu ở phía tây thành phố. Nhưng chuyện đó chẳng đáng kể gì.

Khi tôi bàn đến những khó khăn, tôi không hề nói đến chuyện đói rét. Có một nỗi đau khổ đối với người nghệ sĩ mà mùa đông hay sự nghèo túng cũng chẳng thấm thía vào đâu; đó là mùa đông của tâm linh, trong đó nguồn sống của tài năng, nhựa sống của sáng tạo, hình như đã cóng lại, bất động, ngưng trệ — có lẽ vĩnh viễn rồi — trong một mùa đầy tử khí; và không biết rồi đây mùa xuân có trở lại để giải thoát hay không?

Không phải chỉ tại tôi không bán được họa phẩm - chuyện này đã từng xẩy ra cho nhiều họa sĩ tài danh và cả những bậc thiên tài nữa, trước đây. Nhưng chính vì tôi không tự khai thông nổi những điều ẩn ức tích tụ nơi đáy lòng. Tôi muốn vẽ gì chăng nữa: chân dung, phong cảnh, tĩnh vật, chúng đều khác hẳn điều tôi muốn nói lên — khác hẳn sự hiểu biết của tôi. Hiển nhiên như tên tôi là Eben Adams, có một cái gì tôi thực tình muốn nói lên giữa cõi đời, với mọi người qua cây cọ vẽ của tôi.

Tôi không thể nói rõ với quí vị cái giai đoạn ấy như thế nào; bởi vì nỗi khổ tâm nhất của nó là một sự day dứt khó diễn tả thành lời. Tôi nghĩ rằng hầu hết các nghệ sĩ đều trải qua tâm trạng tương tự như vậy; sớm muộn đối với họ không chỉ có vấn đề sống, vẽ, đủ ăn hay gần đủ ăn thôi đâu. Sớm muộn Thượng đế sẽ đặt câu hỏi ác liệt: Nghệ sĩ! ngươi phụng sự ta hay chống đối ta? Và lúc đó người nghệ sĩ sẽ phải trả lời sao đó, hoặc chàng sẽ thấy lòng mình tan nát vì không biết ăn nói làm sao.

Một buổi chiều đông năm 1938 tôi băng qua công viên trên đường về nhà. Hồi đó tôi còn trẻ hơn bây giờ nhiều; nách cắp một xấp nặng tranh vẽ, chân bước chậm chạp vì mệt. Một lớp sương ẩm chiều đông vờn qua tôi, rồi sà xuống lan trên thảm cỏ, trôi xuôi theo con đường đi dạo, vắng lặng vào giờ ấy. Những đứa trẻ thường tới chơi đùa ở nơi đây đã về cả rồi, để lại những vòm cây đen tối, trơ trụi và những dẫy băng ẩm, lấm chấm sương khuya. Tôi chuyền xấp tranh qua nách bên kia; xấp tranh nặng nề, cồng kềnh, nhưng tôi không có tiền để đi xe.

Suốt ngày này, qua ngày khác, tôi ráng bán lấy vài bức họa — nhưng không nổi. Một tình cảm ê chề xâm chiếm thân tôi mất một lúc, thật là khiếp sợ sự nhẫn tâm của cuộc đời! Không những nó hờ hững đối với cơn đói, niềm tủi hận của một người, mà còn vô tình với chính sự sống trong con người ấy nữa. Mỗi ngày lòng can đảm buổi đầu mỗi sút giảm; đến bây giờ thật là kiệt quệ, như cát rỉ qua trôn ly dùi lỗ.

Khuya hôm đó tôi tuyệt vọng hết sức, tiền không có bạn không có, đói, lạnh, mệt lả, không còn hy vọng gì nữa, không còn biết trông cậy vào đâu. Đầu tôi choáng váng vì thiếu ăn. Tôi băng qua đường, và bắt đầu đi xuôi theo lối đi dạo dài hun hút, vắng tanh.

Trước mắt tôi, những dãy đèn đều đặn cách quãng tỏa ánh sáng vàng trong bầu không khí mờ hơi sương; tôi nghe tiếng bước chân mình khô lạnh nện trên hè phố; và sau lưng tôi có tiếng xe cộ tấp nập về nhà vào lúc ngày tàn. Những tiếng động của thành phố nghe mờ ảo, xa xôi, như vọng lại từ một thời nào, một nơi nào của quá khứ, như tiếng của mùa hè, của đàn ong lượn trên bãi cỏ từ lâu lắm rồi. Tôi tiếp tục bước, như đang đi qua những cánh cửa vòng cung lặng lẽ của rnột giấc mộng nào đấy. Thân tôi nhẹ nhàng, mất hết trọng lượng, tợ hồ như tạo bằng không khí ban chiều.

Cô bé gái đang thơ thẩn chơi một mình giữa lối đi cũng không gây nên tiếng động nào. Cô bé chơi nhảy lò cò; cô nhảy bổng lên, hai chân tách dạng, rồi lại rơi xuống nhẹ như lông hồng.

Tôi dừng lại ngó cô, vì tôi ngạc nhiên bắt gặp cô ở đó có một mình. Không có bóng dáng một đứa trẻ nào khác, chỉ có lớp sương và hai dãy đèn dài, đều đặn, chạy vút tới khoảng đất trống và hồ nước. Tôi ngó quanh kiếm người vú nuôi, nhưng những băng đá đều trống trơn. «Khuya lắm rồi,» tôi nói. «Em không về nhà ư?» Tôi tin là giọng tôi thân thiết lắm. Cô bé nhảy thêm một bước nữa, rồi dừng lại; nhưng thoạt đầu cô chỉ ngoái cổ lại nhìn tôi. «Muộn rồi à?» cô hỏi. «Em có biết giờ giấc gì đâu.»

«Ừ,» tôi nói, «muộn rồi.»

«Vâng,» cô nói, «nhưng em cũng chưa cần về,» rồi cô tiếp giọng rất thành thực.

«Chẳng có ai chờ em cả.»

Sau cùng tôi quay đi, tự nghĩ, «việc gì đến mình?» Cô bé đứng thẳng người lên, vuốt mớ tóc đen xòa trên mặt, cài xuống dưới vành mũ vải. Đôi cánh tay cô ta nhỏ bé, chúng cử động mau lẹ, nhẹ nhàng. «Thôi để em đi với ông một quãng, nếu ông không quản ngại,» cô nói. «Có một mình ở đây buồn quá.»

Tôi nói không sao cả, và chúng tôi cùng đi men theo lối đi, giữa những băng đá trơ trọi. Tôi tiếp tục nhìn quanh xem có ai là thân quyến của cô bé không, nhưng tuyệt nhiên không thấy. «Em chơi có một mình ư?» Một lúc sau tôi hỏi «Không có ai coi em à?»

Cô bé thấy mấy vệt phấn do một đứa trẻ khác vẽ để lại, bèn ngừng lại nhảy qua. «Không,» cô đáp. «Làm gì có ai?»

«Dầu sao,» một lúc sau cô bé nói tiếp, «cũng có ông đi với em,»

Và vì một lý do xem ra đủ chính đáng đối với cô ta, cô bé muốn biết tôi đựng gì trong xấp giấy. Khi tôi nói là tranh, cô bé gật đầu một cách thỏa mãn. «Em biết đúng là tranh mà,» cô bé nói. Tôi hỏi sao cô biết, «Ô biết chứ,» cô bé đáp.

Làn sương ẩm đuổi theo chúng tôi, lạnh buốt, có khí vị mùa đông lẩn quất. Vì suốt ngày chưa ăn gì, tôi thấy mọi vật đều kỳ dị cả, tôi nghĩ, đi trên lối đi dạo với một con nhỏ cao chưa tới khuỷu tay. Tôi tự hỏi mình có thể bị bắt vì hành động này không; tôi nghĩ, trong trường hợp bị xét hỏi, thì ngay đến tên cô bé mình cũng không biết.

Cô bé yên lặng một hồi lâu như mải đếm số băng đá. Nhưng chắc là đoán được ý nghĩ của tôi, nên vừa tới băng thứ năm thì cô bé xưng tên không đợi tôi hỏi, «Tên em là Jennie, xin thưa để ông rõ.»

«Jennie,» tôi lập lại giọng hơi quỷnh. «Jennie gì cơ chứ?» 

«Jennie Appleton,» nàng đáp. Cô bé kể rằng cô sống với ba má trong một khách sạn, nhưng cô không mấy khi gặp. «Ba má em đều là diễn viên cả,» cô tiết lộ. «Ba má trình diễn ở Hý viện Hammerstein. Ba má múa rối trên dây.»

Cô bé ngừng nói một hồi; rồi cô xích lại bên tôi - nắm lấy tay tôi. «Ba má ít khi có nhà,» cô nói. « Vì còn mắc trình diễn. »

Nhưng có chuyện khiến tôi thắc mắc đây. Đợi một chút, tôi tự nhủ... ráng đợi một chút,.. rồi tôi bỗng nhớ ra. Lẽ dĩ nhiên — Đầu đuôi là thế này: Hý viện Hammerstein bị thiêu hủy từ nhiều năm trước, từ hồi tôi còn nhỏ.

«Thôi được,» tôi nói, «không sao...»

Bàn tay cô gái rắn chắc, ấm áp nằm trong bàn tay tôi, thế là đủ rồi; nàng không phải là yêu ma, và tôi sống trong ảo mộng. «Em đi học,» cô bé khoe. «Nhưng chỉ đi buổi sáng thôi. Em còn nhỏ quá chưa đi học hai buổi được.»

Tôi nghe tiếng cô bé thở dài đầy vẻ lo âu trẻ con, nhẹ như hơi thở. «Em chẳng được học môn gì thích thú cả,» cô nhận xét. «Lúc nào cũng hai với hai là bốn, hay đại khái như vậy. Khi nào em lớn lên, em sẽ được học địa lý, sử ký về vua Kaiser, vua nước Đức.»

«Đúng» tôi đáp giọng nghiêm trọng. «Nhưng từ lâu rồi»

«Em nghĩ là ông lầm». Jennie nói. Cô tự tách xa tôi, mỉm cười một mình về một chuyện gì đó, «Con Cecily Jones học ở lớp em. Em đánh được nó, em khỏe hơn nó, nhất định là em đánh được nó. Nó còn nhỏ xíu à.»

Cô bé yên lặng một lát rồi lại nói tiếp «Kể có người chơi với cũng vui.»

Tôi ngó xuống nhìn cô bé: cô ta bận đồ theo lối xưa, một chiếc áo khoác, chân đi ghệt, đầu đội nón vải. Họa sĩ nào đã vẽ trẻ nít giống thế này nhỉ ? Henri? Brush? Một trong số những họa sư cổ điển... Trong viện Bảo tàng có một bức họa chân dung con gái một vị nào, treo trên tường, lối lên cầu thang. Nhưng con nít thời nào cũng ăn vận tương tự như vậy. Cô bé này xem chừng it chơi đùa với trẻ cùng lứa tuổi.

Tôi đáp đúng lắm, có người cùng chơi hẳn sẽ vui.

«Thế có ai chơi với ông không?» cô hỏi.

«Không,» tôi đáp.

Tôi có cảm tưởng như cô bé ái ngại cho tôi, nhưng đồng thời cũng hoan hỷ vì tôi không có ai ngoài cô ta để làm bạn. Điều này khiến tôi mỉm cười, những trò chơi của trẻ nhỏ rất thật, tôi tự nghĩ, bởi vì trẻ nhỏ dễ tin. Chúng tôi đi đến một đoạn đường có vết đất nứt rạn ngoằn ngoèo, cô bé co một chân lên nhẩy lò cò qua hết vết nứt. «Em biết hát một bài,» cô nói. «Ông có muốn nghe em hát không?»

Và không đợi tôi trả lời, ngước mắt nhìn tôi qua vành nón vải, cô hát giọng rõ ràng, mạch lạc:

Tôi từ đâu đến

Nào có ai hay;

Tôi đi về đâu

Mọi người đều đến

Gió thổi

Nước trôi

Nào có ai hay. Bài ca làm tôi sững sờ, không phải bài ca tôi mong đợi. Tôi không biết đã chờ đợi gì — một bài hát ru em hay một bản dân ca đang thịnh hành; những đứa nhỏ mà cha mẹ là ca kịch sĩ đôi khi hát những bài tình ca. «Ai dạy em bài ấy?» Tôi bỡ ngỡ hỏi.

Nhưng cô bé chỉ lắc đầu, đứng sững lại nhìn tôi «Chẳng ai dạy em cả,» cô nói. «Vì là bài hát mà.»

Chúng tôi đã tới cuối lối đi chỗ vòng tròn lớn, tôi phải rẽ theo tay trái, băng qua đường lộ, và ra lối cửa tây. Chiều đông bao phủ chúng tôi trong làn sương khuya, trong sự cô quạnh và trong im lìm, những vòm cây ẩm ướt đứng sững đen tối, trơ trụi bao quanh chúng tôi, và từ thành phố xa xôi những nốt nhạc chìm vọng lại rồi lại tan biến vào thinh không.

«Thôi chào em nhé,» tôi nói «bây giờ tôi phải về.» Tôi đưa tay bắt, cô bé trịnh trọng nắm lấy. «Ông có biết em thích nhất trò chơi nào không?» cô hỏi, «Không,» tôi đáp.

«Đó là trò ước.»

Tôi hỏi cô bé ước gì hơn cả.

«Em ước ông đợi em đến ngày em trưởng thành,» cô nói. «Nhưng em đoán ông chẳng đợi đâu.»

Một lúc sau cô bé quay lại đi ngược lối đi cũ. Tôi đứng lại ngó theo, nhưng chỉ một lát tôi không nhìn thấy cô ta nữa.

Về đến nhà tôi hâm lại hộp xúp trên chiếc bếp điện, và cắt một khoanh bánh, một miếng phó-mát. Loại đồ ăn này tuy nặng bụng, nhưng tôi thấy dễ chịu hơn nhiều. Rồi tôi mở xấp tranh ra, trải trên sàn nhà, dựng vào tường ngắm lại. Toàn là phong cảnh miền Tân Anh Cát Lợi (1): Mỏm Cod, những ngôi giáo đường, những chiếc thuyền, những ngôi nhà xưa... phần lớn là tranh thủy thái họa, chỉ có ít bức họa đường nét thôi. Nhưng không có bức nào lấy thành phố làm đề tài... Kể cũng lạ là tôi chưa bao giờ nghĩ tới chuyện ấy...

Tôi ra đứng trước cửa sổ, nhìn ra ngoài. Chẳng nhìn thấy nhiều lắm, một dẫy dài những mái nhà có ống khói, đen ngòm, nhìn không rõ nét, một vài cánh cửa sổ có đèn sáng, về hướng bắc có mấy ngôi building lớn mờ tối, nổi bật trên vòm trời. Nhưng rõ rệt hơn cả là bầu không khí ẩm, lạnh của tiết đông, thứ không khí nặng nề, mộc mạc của miền duyên hải. Một chiếc tàu kéo hàng hú còi trong bãi vịnh; tiếng hú buồn thảm, bí hiểm vươn qua những mái nhà, lan tràn trên tiếng động rì rầm không ngớt của thành phố như đôi cánh hải điểu lượn lờ trên dòng sông. Tôi tự hỏi sao mình chưa nghĩ tới việc dùng thành phố làm đề tài nhỉ.. Tôi có thể vẽ những bức tranh chỉ về dòng sông, tôi nghĩ, nếu tôi lột tả được sắc thái lạnh lẽo của bầu trời. Và cả dãy building ở phía nam công viên, buổi chiều tà — nếu tôi tạo được màu xanh đậm chính xác của ngọn núi. Nhưng suốt khoảng thời gian ấy, nơi thâm tâm tôi, tôi vẫn tưởng nhớ tới cô bé vừa gặp trên lối đi dạo nơi công viên. Tôi đi về đâu, nào có ai hay; gió thổi, nào hỡi ai hay. Một bài ca ngắn kỳ lạ, chẳng có cung điệu thành khó quên nổi, sự thiếu cung điệu lại chính là nét đặc biệt của bài ca.

Tôi liên tưởng đến lời nói cuối cùng cô bé bảo tôi, trước khi cô quay gót bước đi. Nhưng người ta đâu có thể đợi nhau tới lúc trưởng thành; hai bên cùng lớn dần, song song với nhau, bén gót nhau, người này chẳng khác gì người kia; họ cùng là con nít, rồi cùng trở thành lão nhân; cùng đi đến một chỗ hẹn trước — là giấc ngủ, là thiên đàng, tôi đâu có biết.

Tôi rùng mình; chiếc lò sưởi lớn màu xám, đầy cáu bụi đặt trước cửa sổ chỉ còn hâm hâm nóng. Tôi phải báo cho bà chủ Jekes biết mới được, tôi nghĩ vậy. Nhưng bỗng tôi cảm thấy buồn bã, như thể có ai vừa kể cho nghe một câu chuyện cũ thương đau. Thôi đêm nay cũng chẳng nên cố gắng làm thêm nữa; tôi lên giường để níu giữ lại chút lòng can đảm.

Chú thích

(1) New England: Miền Đông Bắc Hoa Kỳ, bên bờ Đại Tây Dương; nơi đầu tiên tổ tiên người Mỹ đến lập nghiệp.

« Lùi
Tiến »