Đồn điền chúng tôi đón nhiều khách ghé thăm. Tại các xứ thuộc địa mới khai phá, lòng hiếu khách là điều cần thiết cho cuộc sống của không chỉ du khách mà cả của người định cư tại đây. Mỗi vị khách là một người bạn, đem đến tin tức, tốt hoặc xấu, thứ bánh mì cho những tâm trí đói khát sống nơi cô quạnh. Một người bạn chân chính ghé chơi chính là một thiên sứ, mang theo bánh Thánh*.
Mỗi bận trở về sau một chuyến đi dài ngày, Denys Finch-Hatton thèm được nói, lại gặp tôi lủi thủi nơi đồn điền và đang khao khát trò chuyện, nên cả hai ngồi đến rạng sáng, bên chiếc bàn ăn, bàn tán tương đắc, mổ xẻ ngọn ngành và cười đùa về đủ thứ chuyện nảy ra trong đầu. Phàm người da trắng nào có thời gian dài một mình sống giữa dân bản xứ sẽ quen nói thẳng ruột ngựa, bởi họ không có lí do hay cơ hội vòng vo, và khi gặp nhau câu chuyện giữa họ cũng mang phong cách thẳng tuột của người bản xứ. Dạo ấy chúng tôi đinh ninh tin bộ tộc Masai hoang dã, trong manyatta của họ dưới chân núi Ngong, sẽ nhìn thấy cả ngôi nhà sáng bừng ánh lửa, tựa một vì sao giữa đêm, giống các nông dân vùng Umbria* từng ngước trông lên căn nhà có thánh Francis và thánh nữ Clare* đang khoản đãi nhau bằng những luận bàn thần học.
Tiếng Latin trong nguyên tác: panis angelorum .
Sự kiện cộng đồng linh đình nhất tại đồn điền là các Ngoma - đại vũ hội của dân bản xứ. Vào những dịp ấy chúng tôi tiếp đón cả ngàn rưởi hay hai ngàn khách. Tuy nhiên lối thết đãi lại cực kì đơn sơ. Chúng tôi sẽ phục vụ các mẹ già đầu trọc của những Morani và Ndito - thiếu nữ, vũ công bằng bột thuốc lá, còn cho trẻ em - cùng đến - là đường mà Kamante dùng thìa gỗ phân phát, ngoài ra đôi phen tôi còn xin ngài Hạt Trưởng cho phép lưu dân nấu tembu , một thứ đồ uống chí mạng làm từ cây mía đường. Song chính đội ngũ diễn viên, vũ công trẻ trung không biết mệt, mang theo mình ánh hào quang cũng như thú vui của hội hè, thì miễn nhiễm trước các tác động bên ngoài và dốc toàn tâm toàn ý vào chất ngọt ngào cùng ngọn lửa trong chính con người họ. Thứ duy nhất họ yêu cầu từ cõi thế xung quanh là một khu đất bằng để nhảy. Bãi cỏ rộng đã phát quang, nằm kề sát nhà tôi dưới bóng cây, cùng khoảnh đất vuông san phẳng trong rừng, giữa những túp lều gia nhân được coi là địa điểm thích hợp. Chính nhờ điều này mà đồn điền được giới trẻ xứ này đánh giá cao, và lời mời tới vũ hội của tôi rất có giá.
Ngoma có lúc được tổ chức ban ngày, cũng có khi lại vào ban đêm. Các Ngoma ban ngày cần nhiều chỗ hơn vì chúng lôi kéo lượng khán giả nhiều chẳng kém số vũ công; vậy nên địa điểm tổ chức là bãi cỏ. Ở hầu hết các Ngoma , vũ công xếp thành một hình tròn lớn, hoặc vài vòng tròn nhỏ hơn, và cứ thế bật cao tại chỗ với tư thế đầu ngửa ra sau, hay giậm chân theo nhịp, chồm người ra trước trên một chân rồi lại đổ về sau trên chân kia, cũng có khi cả vòng tròn người nghiêm trang xoay từ từ, ai nấy hướng mặt vào tâm, còn các vũ công danh tiếng tách ra, biểu diễn, nhảy hoặc chạy nơi khoảng trống giữa vòng tròn. Ngoma ban ngày để lại dấu chân trên cỏ thành các vòng tròn khô màu nâu, to có nhỏ có, như thể cỏ ở đây bị lửa đốt, và những hình tròn ma thuật này rất lâu sau mới biến mất.
Thuộc miền trung nước Ý.
Hai vị thánh người Ý của đạo Công giáo.
Các Ngoma ban ngày mang đến ấn tượng một cuộc đấu xảo hơn là vũ hội. Hàng đoàn khán giả theo chân các vũ công tới đây rồi tụ thành từng nhóm dưới gốc cây. Lúc tin có Ngoma được tổ chức lan đủ xa, ta thậm chí sẽ bắt gặp ở đây những cô nàng lẳng lơ của Nairobi - các Malaya*, một từ Swaheli mĩ miều, ăn vận rất diêm dúa đến tham dự trên những cỗ xe Ali Khan la kéo, quấn trên người những dải vải bông in hoa to và sặc sỡ, nom như các đóa hoa lớn khi ngồi trên cỏ. Đám con gái chân chất của đồn điền, trong những tấm váy da cổ truyền được xức dầu mỡ cho láng bóng, kéo đến ngồi sát bên và bộc trực bàn tán về áo quần cùng phong cách của họ, nhưng người đẹp phố thị, chân bắt chéo và phì phèo trên môi điếu xì gà nhỏ, chỉ giữ thái độ im lặng tựa lũ búp bê gỗ sậm màu gắn mắt thủy tinh. Từng đàn trẻ con, đang thích mê tơi buổi vũ hội, mang trong lòng nỗi khát khao được học và làm theo, lao rầm rập từ vòng người này qua vòng người khác, hay dạt ra ngoài rìa cỏ lập nên một vòng tròn nhỏ của riêng chúng rồi choi choi nhảy tại đó.
Gái buôn hương bán phấn.
Mỗi dịp trảy hội Ngoma , dân Kikuyu bôi khắp thân một loại bột đá phấn đặc biệt đỏ nhờ nhờ và thứ phấn có nhu cầu tiêu thụ rất lớn, được mua bán rộng rãi này làm họ nom hoe hoe lạ lẫm. Thứ màu chẳng tồn tại trong thế giới muông thú hay cỏ cây ấy khiến lớp trẻ trông như hóa thạch, giống các bức tượng đẽo gọt từ đá. Đám con gái, bận trang phục khiêm nhường may bằng da nâu, đính đầy hạt cườm, trét lên người một lớp đất, biến họ thành một tổng thể hài hòa tựa các bức tượng có nếp áo vạt váy khắc tạc tinh xảo bởi một nghệ sĩ thượng thừa. Tại Ngoma trai tráng đều lõa thể, có điều dịp này họ chăm chút tóc tai rất kĩ lưỡng, vuốt thứ phấn đỏ kia lên bờm tóc cùng đuôi sam, rồi đi lại với những cái đầu đá phấn nghễu nghện ấy. Trong mấy năm cuối của tôi ở châu Phi, chính quyền cấm người dân vuốt phấn lên đầu. Lối phục sức kể trên gây ấn tượng mạnh ở cả hai giới nam và nữ, cho dẫu kim cương hay trang sức đắt tiền cũng chẳng thể đem lại cho người mang chúng một dáng vẻ hội hè hiển nhiên hơn. Bất cứ lúc nào thấy ở phía xa có một toán Kikuyu bôi phấn đỏ đang diễu bước, bạn sẽ lập tức cảm nhận không khí lễ hội rộn ràng.
Cái hạn chế ở một vũ hội ngoài trời, giữa ban ngày, là thiếu đi ranh giới. Sân khấu biểu diễn lớn quá mức cần thiết, chẳng biết đâu là chỗ khởi đầu đâu nơi kết thúc? Bóng hình nhỏ thó của vũ công, dẫu đã được nhuộm màu từ đầu đến chân, dẫu đã đội tất cả bộ đuôi con đà điểu lơ lửng sau đầu, dẫu chân đã đeo cái cựa rõ to kiểu của kị sĩ làm từ da khỉ Colobus, vẫn chỉ nom rải rác và rời rạc dưới những hàng cây cao. Màn trình diễn - gồm những vòng tròn to nhỏ các vũ công, những tốp khán giả úm tụm đó đây, cùng lũ trẻ lốc nhốc chạy tới lui - đưa mắt bạn dời chuyển hết từ góc này đến góc kia sân khấu. Toàn bộ khung cảnh có chút gì giống những bức tranh ngày xưa vẽ cảnh chiến trận nhìn từ một điểm cao, ở đó bạn sẽ thấy kị binh đang tiến vào từ một cánh, trong khi pháo binh triển khai tại cánh bên kia, còn mấy bóng sĩ quan hậu cần lẻ loi lại đang phi nước đại cắt ngang trường thị giác.
Ngoma ban ngày còn là sự kiện vô cùng ồn ào. Nhạc khiêu vũ rộn ràng của dàn sáo, dàn trống thường chìm nghỉm trong tiếng la hét vang dậy của công chúng, bản thân các nàng vũ công cũng cất tiếng hú lạ lùng, ngân dài lanh lảnh khi trong nhóm nam vũ công có một Moran nào đó vừa thực hiện cú nhảy hay điệu múa giáo trên đầu thật mãn nhãn. Mạch chuyện trò rôm rả trong đám bô lão ngồi trên cỏ tuôn chảy không ngừng. Thật thú vị được ngắm cảnh vài cụ bà Kikuyu tụ lại ngồi nhâm nhi, với một quả bầu đặt chính giữa, đắm chìm vào câu chuyện vui, hẳn là về những ngày khi chính họ là một nhân ảnh giữa vòng tròn nhảy múa, gương mặt họ mỗi lúc một rạng ngời hạnh phúc trong khi, theo bóng chiều dần buông, mặt trời mỗi lúc một xuống thấp hơn như chính mực tembu trong quả bầu. Đôi bận, lúc có hai hoặc ba ông chồng già gia nhập đám bạn gái, một cụ bà bị hồi ức thuở xuân thì cuốn đi xa đến độ loạng choạng đứng dậy, hai tay vỗ như đôi cánh, chạy vài bước theo phong cách một Ndito chính hiệu. Tuy bị đám đông bên ngoài làm ngơ, nhưng bà lại được nhóm nhỏ đồng trang lứa vỗ tay hưởng ứng nhiệt liệt.
Song các Ngoma ban đêm lại chứa đựng không khí nghiêm trang. Chúng chỉ được tổ chức vào mùa thu, sau vụ ngô, và dưới vầng trăng tròn. Tôi nghĩ Ngoma ban đêm chẳng mang ý nghĩa tôn giáo nào với dân bản xứ, nhưng có lẽ trong quá khứ hẳn có thời chúng đã từng như vậy; tác phong của người biểu diễn và khán giả gợi nhắc đến một thời khắc huyền bí, linh thiêng. Những điệu nhảy ấy hẳn đã tồn tại cả ngàn năm. Vài điệu trong số này - được lớp cha mẹ, ông bà các vũ công hết sức mến mộ - bị người định cư da trắng coi là đồi bại và đòi luật pháp phải ngăn cấm. Một bận, lúc quay lại sau kì nghỉ ở châu Âu, tôi phát hiện hai mươi lăm chiến binh trẻ của mình, ngay giữa vụ thu hoạch cà phê, bị viên quản lí của tôi đưa ra tòa bởi đã nhảy một vũ điệu bị cấm tại Ngoma đêm trong đồn điền. Viên quản lí thông báo với tôi là vợ anh ta không sao chịu nổi điệu nhảy đó. Tôi trách mấy vị lưu dân lớn tuổi vì đã tổ chức Ngoma gần nhà viên quản lí, tuy nhiên họ sống chết phân bua khi ấy vũ công nhảy ở manyatta của Kathegu, cách đó cả bốn, năm dặm. Tôi phải ra tận Nairobi nói chuyện phải trái cùng ngài Hạt Trưởng, và ông này đã cho thả cả băng vũ công về đồn điền để hái cà phê.
Quang cảnh Ngoma ban đêm tuyệt đẹp. Ở đây bạn không còn phải băn khoăn gì về sân khấu đêm diễn, nó được những đống lửa vạch nên và kéo dài đến nơi có ánh lửa rọi tới, quả thực lửa là thành tố cốt lõi của Ngoma . Ánh lửa không thật sự cần thiết cho nhảy múa, bởi ánh trăng cao nguyên châu Phi sáng vằng vặc, nhưng lại được sử dụng nhằm tạo hiệu ứng biến địa điểm nhảy múa thành một sàn diễn thượng hạng, hòa trộn hết thảy màu sắc và chuyển động bên trong đó thành một thể thống nhất.
Dân bản xứ hiếm khi lạm dụng một hiệu ứng. Họ chẳng đốt những đống lửa thật lớn. Củi được các phụ nữ lưu dân trong đồn điền, những người vốn tự coi mình là các bà chủ lễ hội, mang tới chất thành đống tại tâm điểm vòng người nhảy múa từ hôm trước. Những bà cụ già mang tới vinh dự cho cuộc nhảy múa, bằng sự có mặt của họ, sẽ ngồi trên ghế đặt quanh đống củi trung tâm ấy, và từ đó một chuỗi các ngọn lửa nhỏ, giống như một vòng tinh tú, sẽ được chụm suốt đêm. Về phần mình các vũ công sẽ nhảy và chạy bên ngoài vành lửa, lấy rừng đêm làm nền. Địa điểm phải tương đối rộng, nếu không hơi nóng và khói sẽ luồn vào mắt công chúng lớn tuổi, song nó vẫn giống hệt một không gian khép kín giữa chốn trần gian, như một ngôi nhà lớn được dựng lên để mọi cư dân đều sống được trong đó.
Người bản xứ không có mắt thẩm mĩ hay óc thưởng thức sự tương phản, dây cuống rốn kết nối họ với thiên nhiên chưa thực sự đứt lìa. Họ chỉ tổ chức Ngoma vào mỗi thời điểm trăng tròn. Đúng kì mặt trăng đang độ sáng nhất thì họ cũng thắp lên những ngọn lửa. Giữa khung cảnh vạn vật đang hít thở và ngụp lặn trong ánh sáng dịu êm, đầy quyền lực từ bầu trời, họ góp thêm đốm lửa hồng cỏn con của mình vào không gian vằng vặc soi rọi khắp Phi châu.
Khách khứa kéo đến từng tốp, khi dăm ba, lúc cả mươi mười lăm người - họ là bạn bè hẹn nhau cùng tới, hoặc tình cờ gặp giữa đường rồi nhập bọn. Nhiều vũ công cuốc bộ cả mười lăm dặm dự Ngoma . Lúc đi thành nhóm đông, họ thường mang theo sáo hoặc trống nên, vào đêm vũ hội, trên tất thảy đường xá, lối mòn trong vùng, đều vang động giai điệu nhạc rộn ràng, tựa như những thanh âm ngân nga từ mặt trăng, ở cổng vào vũ hội, đoàn lữ khách dừng bước chờ được vòng người mở ra đón nhận; đôi khi, nếu tới từ rất xa, hay là con cái các thủ lĩnh lân bang, họ sẽ được một vị bô lão lưu dân, hay mấy vũ công danh giá của đồn điền, hoặc nhóm giám sát viên ra đón rước.
Giám sát viên Ngoma cũng là những trai tráng đồn điền như bao người khác, nhưng có mặt để duy trì việc tuân thủ nghi thức vũ hội, và luôn cuồng nhiệt phụng sự phận sự ấy. Trước lúc khai mạc, họ khệnh khạng dạo qua dạo lại trước mặt các vũ công, bộ dạng đằng đằng sát khí, mặt cau mày có và khi điệu nhảy dần trở nên sôi động, họ chạy từ phía này qua phía kia vòng người hòng canh cho mọi thứ diễn ra hợp cách. Giám sát viên được vũ trang rất hữu hiệu với một bó que có một đầu luôn cháy do chốc chốc lại được dúi vào ngọn lửa. Xét nét người nhảy, và chừng nào bắt gặp bất cứ hành vi sai trái nào họ tức tốc bổ tới, dáng vẻ hùng hổ, gầm gừ tức giận, phóng mạnh cả bó que, phía đầu đang cháy, vào kẻ phạm tội. Nạn nhân đau đớn gập đôi người dưới đòn công kích, tuy nhiên chẳng hề kêu rên. Khi rời Ngoma , vết bỏng kiểu này âu cũng chẳng phải thứ thương tích ô nhục gì.
Trong một điệu vũ, các cô gái e lệ đứng lên bàn chân cánh con trai và ôm chặt eo họ, trong khi hai tay chàng chiến binh, vòng qua hai bên mang tai cô gái, vươn ra nắm chắc một ngọn giáo để rồi chốc chốc lại vận hết sức bình sinh cắm phầm phập xuống đất. Điệu nhảy tạo nên một hình ảnh rất đẹp, về các cô gái bộ lạc đang náu mình nơi ngực những người đàn ông hầu tránh hiểm họa kinh khủng nào đó, cũng như kể về các trang nam nhi đang bảo vệ họ, thậm chí cho họ đứng trên chân mình, che chở họ khỏi rắn hoặc bất cứ mối hiểm nguy nào đến từ mặt đất. Khi điệu nhảy tiếp diễn hàng giờ, diện mạo người nhảy mang vẻ ngất ngây thần thánh, từa tựa hết thảy bọn họ thật sự sẵn sàng chết vì nhau.
Họ còn có các vũ điệu khác chẳng hạn những người tham gia liên tục tiến nhập hoặc lao ra khỏi một vòng tròn nhiều đống lửa trong lúc vũ công chính nhảy bật rất cao và xa; tiết mục này cũng có vô khối động tác múa giáo và tôi tin chắc đây là màn tái hiện một chuyến săn sư tử.
Cùng sáo và trống, ở Ngoma còn có các ca sĩ. Một số nổi danh khắp cả nước và được mời từ xa tới. Tiết mục của họ là một câu chuyện kể có vần điệu hơn là bài hát. Họ là các soạn giả ứng khẩu, sáng tác tùy hứng ngay tại chỗ những khúc ballad, được dàn đồng ca nhanh nhảu, đầy tập trung của các vũ công hòa theo. Giữa đêm khuya thanh vắng, quả là dễ chịu khi được nghe một lời ca êm ái vút lên rồi được các giọng trẻ trung lặp lại đều đặn, nhịp nhàng. Nhưng nếu tiết mục kéo dài suốt đêm, với nhịp trống chốc chốc điểm một tiếng tạo hiệu ứng, màn trình diễn sẽ trở nên vừa đơn điệu đến chết, vừa là màn tra tấn lạ lùng, như thể bạn sẽ không sao chịu nổi nếu nó cứ tiếp tục dẫu chỉ thêm một giây, hoặc nếu nó vĩnh viễn ngưng bặt.
Thời tôi ở đó ca sĩ danh tiếng nhất tới từ Dagoretti. Anh có chất giọng trong và khỏe, bên cạnh đó còn là một vũ công siêu hạng. Anh vừa hát vừa đi hoặc chạy bên trong vòng người đang nhảy múa, bằng những bước trượt dài, nửa như quỳ, đặt một bàn tay khum khum cạnh miệng; cử chỉ đó cơ hồ để tập trung âm thanh nhưng lại đem đến ấn tượng là một bí mật cực kì nghiêm trọng đang được tiết lộ cho riêng đám đông giáo chúng. Nom anh như chính tiếng vang vọng của châu Phi. Anh biết cách, nếu muốn, làm công chúng của mình hạnh phúc, hoặc có tâm trạng hăng hái ra trận, hay cười lăn cười bò. Anh có một bài hát rất khủng khiếp, một bản chiến ca, trong ấy tôi tin ca sĩ được mường tượng đang chạy khắp làng trên xóm dưới hiệu triệu cả dân tộc đứng lên chiến đấu, và mô tả cho họ cảnh tàn sát và cướp bóc ra sao. Trăm năm trước bài hát hẳn sẽ khiến máu trong huyết quản dân nhập cư da trắng đông lại. Tuy nhiên thông thường anh chẳng gây khiếp hãi đến vậy. Một tối anh ca ba bài mà tôi đòi Kamante dịch cho nghe. Bài đầu là một hải trình tưởng tượng: tất cả vũ công thể hiện việc đoạt được một con thuyền rồi giương buồm tới Volaia. Kamante dịch cho tôi nội dung bài thứ hai là những lời ngợi ca phụ nữ, những người mẹ, người bà của ca sĩ và vũ công. Tôi thấy bài hát này rất ngọt ngào, nó khá dài và hẳn đã mô tả chi tiết phẩm chất thông thái cùng tấm lòng vàng của các bà già Kikuyu trọc đầu rụng hết răng đang ngồi bên đống củi trung tâm vừa lắng nghe vừa gật gù. Bài thứ ba ngắn, song làm dấy lên vô số tràng cười khoái trá của hết thảy mọi người, ca sĩ phải cất cao giọng kim át chúng đi, và anh ta cũng vừa cười vừa hát. Các bà già, vẫn trong tâm trạng vui vẻ bởi vừa được ca ngợi hết lời, vỗ đùi đen đét và há hốc mồm, như cá sấu, ra nghe. Kamante dịch nhát gừng, miễn cưỡng, bảo bài hát chẳng có ý nghĩa gì nhiều, ngay cả những lời cậu dịch cũng rất vắn tắt. Chủ đề bài ca khá đơn giản: sau một trận dịch hạch, chính phủ định ra giá một con chuột chết được nộp cho Hạt Trưởng - lời ca mô tả đàn chuột, bị muôn phương truy đuổi gắt gao, đã tới ẩn nấp ở giường của các cô gái và bà già trong bộ tộc, và những chuyện tiếp theo xảy ra tại đây. Lời bài hát ắt phải có nhiều chi tiết hài hước mà tôi chẳng thông tỏ; còn bản thân Kamante, dẫu miễn cương phải dịch cho tôi, nhưng đôi khi cũng không ngăn nổi nụ cười nhăn nhó.
Có một sự cố đầy kịch tính xảy ra tại một Ngoma ban đêm.
Ngoma ấy là ngày hội chia tay dành cho tôi ngay trước khi về chơi châu Âu. Chúng tôi đã có một năm tốt lành và lễ hội diễn ra tuyệt vời, với chừng một ngàn rưởi dân Kikuyu góp mặt. Cuộc nhảy múa đã diễn ra được vài giờ đồng hồ; lúc ra ngoài xem tiếp, định bụng rồi sau sẽ quay vào đi ngủ, tôi được họ mời ngồi xuống chiếc ghế vừa đặt dựa vào vách lều của mấy gia nhân, bên cạnh có vài vị bô lão lưu dân ngồi tiếp chuyện.
Đột nhiên có một cơn kích động lan khắp vòng người nhảy múa, một làn sóng của niềm ngạc nhiên hay nỗi sợ sâu kín, một thứ thanh âm kì lạ, giống như tiếng gió lao xao thổi qua bãi sậy. Điệu nhảy chậm dần, chậm dần, nhưng chưa dừng hẳn. Tôi hỏi một ông lão có chuyện gì. Ông liền đáp, giọng thì thào: “ Masai na-kudja ,” - người Masai sắp đến.
Tin tức hẳn do một liên lạc viên chạy bổ về cấp báo, bởi sau đó một đỗi cũng chẳng có gì xảy ra, hẳn người Kikuyu đang gửi tin phúc đáp tới các vị khách là họ sẽ được đón tiếp. Người Masai tới dự Ngoma của dân Kikuyu là hành động trái pháp luật, trong quá khứ từng có quá nhiều sự lôi thôi xảy đến từ những việc tương tự. Mấy gia nhân bước đến đứng bên ghế tôi ngồi; ai ai cũng hướng về phía lối vào đám hội. Khi toán Masai đến nơi, điệu nhảy dừng hẳn.
Cả thảy có mười hai chàng chiến binh Masai, và sau khi tiến vào được vài bước họ dừng lại chờ đợi, chẳng hề ngó nghiêng hai bên, chỉ chớp chớp mắt chút đỉnh trước ánh lửa. Ai cũng trần như nhộng, trên người chỉ có độc khí giới và một thứ phục sức lộng lẫy đội đầu. Thứ mũ này ở một anh trong bọn là loại làm bằng da sư tử Morani vẫn thường mang khi lâm trận. Chân ai cũng vẽ một sọc to bản, màu đỏ tươi, từ đầu gối thẳng xuống bàn chân, tựa một dòng máu đang chảy vậy. Đứng nghiêm, đầu ngả ra sau, im lìm và trịnh trọng tột bậc, phong thái của họ cùng lúc vừa là của kẻ đi xâm chiếm vừa là của tù binh. Ta có cảm tưởng việc phải tới dự buổi Ngoma này là trái với ý muốn của họ. Tiếng trống bập bùng đơn điệu đã vượt sông tới Khu bảo tồn, rồi cứ âm vang, văng vẳng làm thắc thỏm con tim các chiến binh trẻ nơi đó; mười hai người trong số ấy đã không thể kháng cự được tiếng gọi của nó.
Người Kikuyu cũng thắc thỏm tận tâm can, tuy thế họ vẫn duy trì lối cư xử phải phép trước các vị khách. Trưởng nhóm vũ công của đồn điền mời khách nhập vào vòng người và trong không khí lặng phắc bao trùm, mười hai chiến binh Masai đứng vào chỗ rồi điệu nhảy lại tiếp tục. Tuy nhiên khác với lúc trước, không khí trở nên khá nặng nề. Tiếng trống lớn hơn, tiết tấu cũng dồn dập hơn. Nếu Ngoma cứ thế diễn ra, hẳn chúng tôi sẽ được mục kích vài ngón nghề phi phàm, khi dân Kikuyu và Masai ra sức chứng tỏ cho bên kia thấy sức mạnh và kĩ thuật khiêu vũ của mình. Nhưng chuyện chẳng tiến xa được đến thế: có những thứ không sao đạt được kết cục vẹn toàn dẫu với thiện chí của tất cả các bên.
Tôi không rõ điều gì đã xảy ra. Bỗng nhiên vòng người chao đảo, tan ra, ai đó thét toáng lên, chỉ sau vài giây bãi trống trước mặt tôi biến thành một khối người san sát nháo nhác chạy, có tiếng ẩu đả, tiếng người ngã, còn trên đầu chúng tôi màn đêm gợn sóng bởi những ngọn giáo. Chúng tôi nhất tề đứng cả dậy, thậm chí cả mấy bà cụ thông thái ở giữa vòng người cũng bò lên đống củi trung tâm ngó xem chuyện gì đang diễn ra.
Khi cơn kích động lắng dịu và đám đông phẫn nộ tản ra, tôi bất giác thấy mình đang đứng giữa đám đông, có chút ít khoảng trống xung quanh. Hai ông già lưu dân tiến tới, miễn cưỡng giải thích câu chuyện: đám Masai phạm luật và bất tuân chỉ dẫn nên đưa đến kết cục: một người Masai và ba Kikuyu trọng thương - “bị cắt thành nhiều mảnh” theo cách diễn đạt của hai vị bô lão. Giờ liệu tôi, hai vị trang nghiêm hỏi, có bằng lòng cho khâu vết thương của họ lại không - nếu không hết thảy hẳn sẽ gặp rắc rối với serikali - chính quyền. Tôi hỏi ông già mấy kẻ ẩu đả bị cắt lìa bộ phận nào. “Cái đầu,” ông trả lời vẻ tự hào, với thiên hướng ở dân bản xứ luôn biến mọi chuyện thành tai ương thê thảm nhất. Vừa lúc này Kamante chạy băng qua bãi trống, mang đến cây kim mạng quần áo xỏ một sợi chỉ dài cùng chiếc đê khâu của tôi. Giữa lúc tôi còn do dự thì ông già Awaru bước lên. Ông đã học được nghề may trong thời gian bảy năm ngồi tù. Hẳn thấy đây là cơ hội trổ tài nên ông xung phong lãnh trách nhiệm cứu chữa; và tức thì mọi mối quan tâm đổ dồn cả sang ông. Awaru quả thực đã khâu cho những người bị thương, việc sơ cứu diễn ra êm đẹp, còn bản thân Awaru, sau này còn khoe khoang mãi thành tích nói trên, tuy nhiên Kamante có kể riêng cho tôi là mấy cái đầu chưa hề bị đứt lìa.
Dân Masai có mặt tại vũ hội là phạm pháp, do vậy trong một thời gian dài chúng tôi đã phải giấu biệt chàng Masai bị thương trong chiếc lều dành riêng cho đầy tớ của khách da trắng thăm viếng đồn điền. Anh ta hồi phục tại đây và sau cùng cũng biến mất từ đây mà chẳng hề cảm ơn Awaru lấy một lời. Tôi tin việc bị thương, rồi được người Kikuyu cứu chữa là một nỗi khổ tâm cho con tim Masai.
Sáng sớm sau đêm Ngoma ấy, khi đi ra hỏi thăm tình trạng mấy kẻ bị thương, tôi bắt gặp, giữa không gian màu xám của buổi ban mai, vài đống lửa vẫn còn cháy âm ỉ. Một nhóm trai tráng Kikuyu đang thực hành một nghi lễ xung quanh mấy đống lửa ấy bằng cách nhảy qua nhảy lại và thọc gậy dài vào đống than hồng, theo chỉ đạo từ một bà già vợ lưu dân, mẹ Wainaina. Họ đang làm phép ngăn dân Masai giành được tình yêu của những cô gái Kikuyu.