Khắp châu Phi, Denys Finch-Hatton không có nơi nào khác là nhà ngoài đồn điền này. Giữa những chuyến đi săn, anh quay về sống trong nhà tôi, cất giữ sách vở cùng chiếc máy hát của mình tại đây. Đồn điền, mỗi bận Denys trở lại, bộc bạch hết những gì chất chứa bên trong bằng thứ ngôn ngữ mà rẫy cà phê cất lên dịp các trận mưa đầu mùa trút xuống, để đơm nên những chùm hoa sũng nước, tựa như đám mây đá phấn. Đang trông ngóng Denys quay về, lúc nghe xe anh chạy trên con đường dẫn vào nhà, tôi cũng nghe thấy vạn vật ở đồn điền nhất loạt nhao nhao cất lên thứ tiếng nói tự bản thể. Denys hạnh phúc tại đồn điền, anh chỉ đến khi nào muốn và đồn điền tỏ tường một phẩm chất ở Denys mà chẳng đâu trên thế giới nhìn ra - đức chân thật. Denys chỉ làm những gì anh tự nguyện làm và miệng anh chẳng hề có chút chi dối trá *.
Trích Kinh Thánh: “neither was guile found in his mouth” (Peter 2.22).
Denys có một nét tính cách rất đáng quý với tôi, ấy là thích nghe kể chuyện. Bởi tôi luôn nghĩ mình hẳn có thể vang danh trong vai trò người kể chuyện ở thời bệnh dịch Florence*. Trào lưu thị hiếu giờ đã khác xưa, và tại châu Âu thứ nghệ thuật lắng nghe một câu chuyện kể đã mai một mất rồi. Dân sở tại, những người chẳng biết đọc, lại vẫn còn giữ năng lực này; nếu bạn mở lời bằng câu: “Chàng trai nọ đi ra thảo nguyên, và tại đó chàng gặp một người,” là lập tức tất cả sẽ chú tâm vào bạn, suy nghĩ của họ sẽ lần theo lối bước chân xa lạ của hai con người trên thảo nguyên. Còn dân da trắng, thậm chí dẫu biết cần lắng nghe, cũng không thể chú tâm dõi theo một câu chuyện kể. Nếu chẳng bồn chồn sốt ruột, và nhớ ra việc khác cần làm ngay, thì họ cũng chuyển sang gà gật. Cũng những người này sẽ hỏi mượn bạn thứ gì đó để đọc, và có thể ngồi suốt tối chìm vào bất kì ấn phẩm nào được trao, thậm chí họ có thể đọc cả những bài nói chuyện. Họ đã quen cảm nhận bằng mắt.
Sống dựa nhiều vào đôi tai, Denys thích được nghe một câu chuyện hơn là đọc nó; mỗi bận đến đồn điền anh thường hỏi: “Em có câu chuyện mới nào không?” Tôi sáng tác được vô khối những lúc vắng mặt anh. Tối tối, dọn cho mình một chỗ thoải mái, trải mấy tấm nệm làm thành cái giường phía trước lò sưởi, còn tôi ngồi xếp bằng tròn trên sàn như nàng Scheherazade, Denys, mắt sáng như sao, sẽ nằm nghe từ đầu đến hết một câu chuyện dài. Anh theo chuyện còn sát hơn cả tôi, và trước sự xuất hiện đầy gay cấn của nhân vật nào đó, sẽ ngắt lời tôi bảo rằng: “Anh ta chết từ đầu chuyện rồi chứ, mà thôi kệ đi.”
Denys dạy tôi tiếng Latin, đọc Kinh Thánh và những bài thơ Hi Lạp. Bản thân anh thuộc làu cơ hồ từ đầu chí cuối Kinh Cựu Ước, và mang nó theo mọi cuộc hành trình, việc này khiến anh được dân Hồi giáo rất quý trọng.
Đại dịch Cái chết đen (dịch hạch), bùng phát từ Ý mà Florence là một trong những địa điểm đầu tiên rồi sau đó lan tràn khắp châu Âu ở giai đoạn 1347-1353.
Anh cũng tặng tôi chiếc máy hát, thứ mang cho tôi cả một niềm hân hoan lớn, mang cho nơi đây cuộc sống mới và trở thành tiếng nói đồn điền. “Giọng sơn ca trên trảng trống, như thể tiếng hồn ta” Lắm bận, giữa lúc tôi đang ở ngoài rẫy cà phê hay nương ngô, Denys tới chẳng hề báo trước, mang theo các đĩa ghi âm mới; anh sẽ cho máy hát chạy, và khi tôi cưỡi ngựa trở về vào độ mặt trời khuất bóng, dòng suối nhạc réo rắt chảy về tôi, trong khí trời mát mẻ trong veo của chiều tà, sẽ thông báo sự có mặt của anh, cơ hồ anh đang cười với tôi, như vẫn thường thế. Dân bản xứ mê cái máy hát như điếu đổ, và thường đứng quanh nhà say sưa lắng nghe; mỗi gia nhân có một giai điệu ưa thích của mình và khi chỉ có mình tôi ở nhà, hay đòi được mở cho nghe. Thật lạ là Kamante lại hết mực thủy chung với sở thích khúc Adagio cung Soi trưởng bản concerto Bethoven soạn cho dương cầm; lần đầu đòi tôi mở khúc nhạc ấy, cậu cứ loay hoay mãi nhằm tìm cách diễn giải muốn được nghe giai điệu nào.
Tuy nhiên Denys và tôi không cùng gu thưởng thức. Tôi hứng thú với các tác giả cổ điển, còn Denys, ở mọi môn nghệ thuật, như hòng bù đắp cho thời nay vì bản thân đã thiếu thức thời, lại ưa những trường phái càng hiện đại càng tốt. Anh thích nghe thứ nhạc tân kì nhất. “Anh cũng sẽ ưa Bethoven,” Denys bảo, “nếu ông ấy đừng thô ráp quá thế.”
Denys và tôi, khi ở cạnh nhau, thường may mắn bắt gặp sư tử. Có những lần anh trở về sau một chuyến săn bắn dài cả hai hoặc ba tháng, ỉu xìu vì không sao tìm nổi một con sư tử ra hồn cho mấy vị khách châu Âu anh dẫn theo. Trong khi ấy người Masai cũng tới nhà nhờ tôi ra bắn hộ một con sư tử đực hoặc cái đang sát hại bầy gia súc của họ, và Farah cùng tôi đã bỏ công dựng lều trong manyatta của họ, chầu chực thức cả đêm canh giết con thú rồi sáng dậy lùng sục bên ngoài mà vẫn chẳng tìm ra dù chỉ một dấu chân sư tử. Ấy nhưng lúc hai chúng tôi cưỡi ngựa ngoài thảo nguyên, đám sư tử sẽ quanh quất đâu đó, tựa như chờ sẵn, và chúng tôi sẽ bắt gặp chúng đương ăn, hay đương băng qua lòng sông khô cạn.
Vào một sáng mùng một đầu năm, trước rạng đông, Denys và tôi đang phóng xe hết tốc lực để tới Narok trên con đường mới làm còn gồ ghề đá sỏi.
Hôm trước, sau khi cho người bạn mượn khẩu súng trường cỡ lớn để cầm lên mạn Nam đi săn, tới buổi tối thì Denys mới sực nhớ đã sơ suất quên chỉ bạn cách mở khóa cò súng, và anh cứ canh cánh lo bạn sẽ gặp sự chẳng lành bởi sơ suất này của mình. Sau khi suy đi tính lại, chúng tôi thấy chẳng có giải pháp nào khác ngoài khởi hành sớm chừng nào hay chừng nấy, theo đường mới làm, hòng bắt kịp nhóm đi săn ở Narok. Nơi ấy cách sáu mươi dặm, phải qua vài vùng hiểm trở, còn đoàn săn kia đang di chuyển theo con đường cũ và sẽ đi khá chậm vì có mấy xe tải chở nặng. Điểm duy nhất chúng tôi e ngại là không rõ tuyến đường mới có thông tới tận Narok hay không.
Khí trời sớm mai ở miền cao châu Phi chứa cái giá buốt và trong lành hữu hình khiến một mường tượng hết lượt này tới lượt khác lại hiện về trong óc: ta không phải hiện diện trên mặt đất mà ở sâu dưới làn nước tăm tối, và đang lần theo đáy biển tiến về phía trước. Thậm chí còn chẳng chắc là ta đang di chuyển nữa, luồng hơi lạnh phả vào mặt bạn có thể là dòng hải lưu dưới sâu, và cỗ xe, giống một con cá đuối điện lờ đờ, bất động ngồi dưới đáy biển, nhìn về đằng trước bằng cặp mắt sáng ngời là hai ngọn đèn pha, và mặc cho cuộc sống đại dương lướt qua bên. Những vì sao mới to làm sao bởi chúng không phải sao thật mà là hình phản chiếu, lung linh trên mặt nước. Dọc theo con đường đáy biển, các sinh vật, sẫm màu hơn môi trường xung quanh, liên tục xuất hiện, nhảy vọt lên hay lao vụt vào lớp cỏ cao ngút, hao hao cua hay còng biển tìm đường chui xuống cát vậy. Ánh sáng thêm tỏ, mặt trời sắp ló rạng, đáy biển dâng cao lên phía mặt nước, một hòn đảo mới tạo thành. Các dòng xoáy mùi quét nhanh qua ta, mùi hăng hắc tươi nồng của những bụi ô liu, mùi thơm mằn mặn của cỏ cháy, mùi mục rữa bất đồ ùa về lấn át.
Kanuthia, cậu gia nhân của Denys, ngồi mé sau chiếc xe thùng, khẽ chạm vào vai tôi rồi chỉ về mạn phải. Cách lề đường chừng mươi mười lăm thước có một khối đen lù lù, một chú lợn biển đang nằm nghỉ trên cát, và trên đỉnh hình khối ấy có thứ gì cựa quậy trong làn nước tối sẫm. Sau tôi mới nhìn ra hình khối ấy là một chú hươu cao cổ to tướng đã chết, đã bị bắn chết hai hoặc ba ngày trước. Bạn không được phép bắn hươu cao cổ, Denys và tôi sau này phải tự biện hộ trước cáo buộc giết hại con vật này, tuy vậy chúng tôi hoàn toàn có thể chứng minh nó bị hạ sát từ trước khi chúng tôi tới, dẫu chẳng bao giờ tìm ra kẻ đã xuống tay cũng như nguyên do. Trên cái xác to tướng của chú hươu cao cổ, một cô nàng sư tử đang đánh chén, và giờ nó ngẩng đầu, vai nhô lên, nhìn chiếc xe ngang qua.
Denys đạp phanh còn Kanuthia hạ cây súng trường đang vác khỏi vai. Denys nhỏ giọng đặt vấn đề: “Anh bắn nó nhé?” - Denys rất lịch thiệp coi núi Ngong là khu vực săn bắn riêng của tôi. Chúng tôi đang băng qua khu của những người Masai đã tìm tới nhà tôi kêu than chuyện mất mục súc; nếu đây là con thú đã ăn thịt hết bò đến bê của họ thì giờ là lúc trừ khử nó. Tôi gật đầu.
Denys nhảy khỏi xe, lùi lại vài bước, cũng là lúc cô nàng sư tử lao vọt xuống phía sau xác hươu cao cổ. Anh chạy vòng qua xác hươu nhằm đưa con sư tử vào tầm ngắm rồi nổ súng. Tôi không thấy thời điểm con sư tử gục xuống; khi tôi ra ngoài và tới đó thì nó đã nằm chình ình trên một vũng đen to.
Không có thời gian lột da con vật, chúng tôi phải đi tiếp nếu muốn bắt kịp đoàn săn tại Narok. Chúng tôi nhìn quanh, ghi nhớ vị trí này, mùi xác hươu nồng nặc tới độ chúng tôi chẳng thể cứ thế đi qua mà không nhận ra.
Nhưng xe đi thêm được hai dặm nữa thì con lộ chấm dứt với đống dụng cụ của công nhân làm đường còn bỏ lại. Phía bên kia là một miền rộng lớn đầy đá toàn một sắc xám lúc bình minh, hết thảy vẫn nguyên sơ chưa có bàn tay thế nhân động tới. Denys và tôi hết nhìn đống đồ nghề lại ngẩn ngơ ngắm miền đất trước mặt, chúng tôi đành phải để anh bạn của Denys thử vận may cùng cây súng kia vậy. Sau này, rời đoàn săn quay về, anh ta kể mình chẳng hề có cơ hội dụng súng. Hai chúng tôi đành quành trở lại, nhắm thẳng vòm trời phía Đông đang ửng hồng trên các thảo nguyên và rặng núi. Suốt quãng thời gian lái xe trở về, hai đứa chỉ bàn chuyện con sư tử.
Xác con hươu cao cổ lọt vào tầm mắt, và lúc này chúng tôi đã có thể nhìn rõ cũng như phân định tách bạch - những chỗ bên hông có ánh sáng rọi vào, các đốm vuông sậm màu trên bộ da. Tới gần con vật hơn, chúng tôi bắt gặp một con sư tử đực đứng trên người nó. Trên đường tiến lại, chúng tôi ở vị trí thấp hơn cái xác còn dáng chú sư tử đứng trên con hươu lại có màu đen thẫm với cả khung trời cháy rực đằng sau. Biểu tượng sư tử vàng *. Mấy sợi lông bờm sư tử tung bay trong gió. Con vật gây ấn tượng quá mạnh khiến tôi bật dậy khỏi ghế. Denys bảo: “Bận này em bắn đi.” Tôi vốn chẳng ưa cây súng trường của anh bởi nó quá dài và nặng, lại còn giật rất mạnh, nhưng ở đây phát súng là thông điệp tình yêu, chẳng phải ta cần loại súng cỡ nòng lớn nhất này sao? Lúc bóp cò, tôi cảm giác con sư tử bật lên rồi rơi xuống, bốn vó chụm lại. Bắn xong tôi đứng chôn chân trong cỏ, thở hổn hển, toàn thân bừng bừng với khoái cảm sở hữu sức mạnh tuyệt đối bởi có thể ra được một cú đòn từ xa như thế. Tôi vòng qua xác hươu cao cổ. Đây rồi, khung cảnh ở hồi thứ năm của một vở bi kịch kinh điển*. Tất cả đều chết. Con hươu cao cổ nom thật đồ sộ, uy nghiêm, bốn chân và cái cổ dài ngay đơ, bị lũ sư tử xé toạc bụng. Nằm ngửa, một nét ngạo thị còn lưu trên mặt, cô nàng sư tử là vai mĩ nhân độc ác trong tấn bi kịch này. Nằm cách đó không xa là con sư tử đực, sao nó chẳng học được gì từ định mệnh của ả kia? Nó gục đầu lên hai vuốt trước. Bộ lông bờm mạnh mẽ phủ lên người như tấm áo choàng vương giả, con sư tử đực cũng đang yên nghỉ trong một vũng lớn, và giờ đây không gian buổi sớm đã sáng tới độ nhìn rõ màu đỏ tươi.
Denys và Kanuthia xắn tay áo và trong khi mặt trời lên cao họ lột da hai con sư tử. Lúc hai người nghỉ ngơi, chúng tôi mở chai vang đỏ, nhấm nháp cùng nho khô và hạt hạnh nhân mà tôi mang theo ăn dọc đường, bởi hôm ấy là ngày đầu năm mới. Cả ba ngồi ăn uống trên lớp cỏ mọc le te. Gần đó xác hai con sư tử nom rất đẹp trong tình trạng lồ lô, không hề có chút mỡ thừa nào, mọi cơ bắp đều vồng lên, săn chắc, cuồn cuộn. Chẳng cần áo choàng, chúng vẫn là chính mình từ đầu đến chân.
Nguyên văn: Lion Passant Or tức hình sư tử màu vàng đứng trên ba chân, chân trước bên phải giơ lên, thường được dùng trên các huy hiệu hoặc logo.
Trong kết cấu kịch năm hồi, hồi thứ năm (tức hồi kết) dành cho việc giải tỏa xung đột, các hành động đổ nhanh về kết cục thường mang tính bi thảm.
Khi chúng tôi ngồi ở đó, một khoảng rợp nhanh chóng trùm lên cỏ, lên chân tôi, và lúc ngước lên tôi thấy, cao trên bầu trời trong xanh, cả bầy kền kền đang lượn vòng. Lòng phơi phới như thể đang được bay trên cao kia, với một sợi dây giống con diều, tôi đã sáng tác bài thơ thế này:
Trên cỏ có bóng ưng cắt ngang thảo nguyên
Lướt tới những đỉnh núi vô danh tít xa mây xanh phủ
Nhưng bóng của lũ ngựa vằn non tơ tròn trịa
Lại suốt ngày túm tụm quanh những bộ móng thanh tú
Tại nơi chúng đứng bất động, đợi chiều xuống,
sẽ tản ra tha thẩn tìm về bờ đầm uống nước
màu xanh mặt cỏ thảo nguyên được vầng dương vẽ thêm
những viên gạch đỏ.
Denys và tôi còn có một lần mạo hiểm nữa cùng sư tử. Trong thực tế nó xảy ra trước các bận mạo hiểm khác, ngay trong những ngày đầu tình bạn của chúng tôi.
Một sáng, đang độ mưa xuân, ông Nichols, dân Nam Phi, khi ấy đang làm quản lí cho tôi, tìm tới nhà tôi trong tâm trạng kích động, thông báo tối qua hai con sư tử đã mò vào cắn chết một cặp bò của đồn điền. Chúng vượt qua lớp rào bãi nhốt, tha hai xác bò ra giữa rẫy cà phê; tại đây chúng đã chén hết một con và giờ vẫn để xác con thứ hai giữa các cây cà phê. Liệu tôi có chấp thuận viết vài chữ cho ông đi lấy ít bột mã tiền từ Nairobi về chăng? Nichols sẽ lập tức đem rải bột độc ấy lên cái xác còn lại, vì đồ rằng tối nay lũ sư tử hẳn sẽ quay lại.
Suy tính một hồi, thấy chẳng thể nào đồng tình phương cách đánh bả, tôi bèn bảo không làm như thế được. Nghe vậy tâm trạng kích động ở ông Nichols chuyển thành tức giận. Nếu để yên cho bọn sư tử sau cuộc giết chóc này rồi chúng sẽ còn quay lại. Hai con bò bị sát hại là những con tốt nhất, và chúng ta không được phép mất thêm con nào nữa. Chuồng của mấy con ngựa con của bà, ông nhắc, cũng chẳng mấy xa bãi quây bò, bà đã tính đến điểm ấy chưa? Tôi giải thích mình không có ý để lũ sư tử lẩn quất trong đồn điền, chẳng qua chỉ nghĩ phải bắn thay vì đánh bả.
“Vậy ai sẽ đi bắn chúng đây?” Nichols hỏi. “Chẳng hề hèn nhưng tôi có gia đình và không muốn vì chuyện chẳng cần thiết mà phải liều mạng.” Đúng thế, Nichols không nhát gan, ông ta thấp nhỏ song có dũng khí. “Làm vậy thật chẳng hợp lí chút nào,” ông tiếp. Tôi bảo mình không định cử ông đi bắn sư tử. Tuy nhiên có ngài Finch-Hatton mới đến tối qua, đang ở trong nhà, ngài ấy và tôi sẽ đi. “Ồ, vậy thì được.” Nichols đáp.
Tôi bèn đi tìm Denys. “Giờ ta đến đó,” tôi bảo anh, “và cùng liều hai mạng này một cách không cần thiết xem sao. Bởi nếu mạng sống có chút gì đáng giá thì đó là bởi ta coi chúng chẳng hề có giá trị gì. Kẻ tự do là kẻ sẵn sàng chết *.”
Chúng tôi xuống đó và thấy con bò chết nằm trong rẫy cà phê, như Nichols kể; lũ sư tử hầu như chưa đụng tới nó. Dấu chân chúng sâu và rõ trên nền đất mềm, đêm trước ở đây có cả thảy hai con sư tử lớn. Dễ dàng theo các vết chân ấy cắt qua rẫy tới tận khoảnh rừng gần nhà Belknap, nhưng lúc chúng tôi đến đấy thì trời đổ mưa như trút đến nỗi chẳng còn thấy gì, và dấu con vật mất hút giữa lớp cỏ lau và bụi rậm bìa rừng.
“Anh nghĩ sao, Denys,” tôi hỏi, “liệu đêm nay bọn nó có quay lại không?”
Đã dạn dày kinh nghiệm với sư tử, Denys bảo chúng sẽ quay lại vào chập tối để ăn nốt, nên chúng tôi sẽ ra rẫy lúc chín giờ cho sư tử có thời gian mê mải vào con mồi. Chúng tôi sẽ dùng một cây đèn pin từ mớ đồ nghề đi săn của Denys để rọi sáng, và anh cho tôi tùy chọn vai trò muốn đảm nhiệm, nhưng tôi chọn việc xách đèn còn chuyện bắn dành phần Denys.
Nhằm tìm tới xác bò trong đêm tối, chúng tôi cắt những băng giấy, buộc vào hai hàng cây cà phê, tạo thành một dải hành lang, giống cách của Hanzl và Greti từng làm bằng các viên sỏi trắng*. Lối đi này sẽ dẫn chúng tôi thẳng tới con mồi, và ở điểm cuối, cách xác bò chừng mười tám thước, chúng tôi gài vào cây một mảnh giấy to đánh dấu chỗ sẽ dừng bước, bật đèn và bắn. Tới chiều muộn, đem đèn ra thử, chúng tôi phát hiện pin đã gần cạn và ánh đèn rất yếu. Chẳng còn thời gian lên Nairobi thay pin, hai người đành phải bằng lòng với thứ mình hiện có.
Tiếng Đức trong nguyên tác: Frie lebt wer sterben kann .
Theo truyện cổ Grimm, hai anh em Hanzl và Greti đã rải sỏi để đánh dấu đường về nhà.
Ấy là buổi tối ngay trước ngày sinh nhật Denys, tâm trạng của anh trong bữa ăn thật ảo não bởi xem những gì từng trải nghiệm vẫn là chưa đủ. Song từ giờ tới trước sáng mai, tôi an ủi, sẽ có thứ để anh kinh qua đây. Tôi dặn Jama chuẩn bị sẵn một chai vang lúc chúng tôi quay về. Đầu óc tôi cứ luẩn quẩn về lũ sư tử, chúng đang ở đâu, ngay thời khắc này? Phải chăng chúng đang chậm rãi, lặng lẽ vượt sông, con này trước con kia, và quanh ngực hay sườn chúng, dòng nước lạnh lững lờ đang rẽ đôi?
Chín giờ tối chúng tôi xuất phát.
Mưa lất phất nhưng lại có trăng; chốc chốc nàng trăng để lộ khuôn mặt sáng nhạt trên trời cao, sau hết làn mây mỏng này đến làn mây mỏng khác, và rọi bóng mờ trên rẫy cà phê đang trổ hoa trắng. Đi ngang lớp học đồn điền phía xa, chúng tôi thấy nơi ấy đèn đuốc sáng trưng.
Nhìn cảnh ấy, lòng tôi trào lên niềm vui chiến thắng cùng niềm tự hào về những người dân của mình. Tôi nghĩ tới câu của vua Salomon: “Kẻ biếng nhác luôn bảo có một con sư tử trên đường, một con sư tử ngoài phố*.” Ở đây có tới hai con ngay ngoài cửa lớp học, nhưng đám trẻ của tôi không biếng nhác và không để sư tử cản bước mình tới trường.
Tìm thấy hai hàng cây cà phê được đánh dấu, chúng tôi dừng lại giây lát, rồi bám theo đó tiến lên, người này đi trước người kia. Chân mang giày lười da mềm, chân chúng tôi bước êm ru. Tôi bắt đầu run bần bật vì kích động nhưng chẳng dám bám quá gần Denys e anh cảm nhận được rồi bắt quay về, đồng thời lại cũng không dám giữ khoảng cách quá xa sợ anh có thể bất chợt cần ánh sáng cây đèn tôi đang xách.
Cựu Ước, sách Châm Ngôn 26.13.
Hai con sư tử, sau này chúng tôi mới biết, đang mải mê chén mồi. Khi nghe được, hoặc đánh hơi ra người, bọn thú đã bỏ vào rẫy cà phê nhường cho chúng tôi qua. Có lẽ bởi cho rằng hai con người này lề mề quá đỗi, một con buông ra tiếng gừ khàn đục cực nhỏ, ở đằng trước bên phải chúng tôi. Tiếng gầm gừ khẽ tới độ thậm chí hai chúng tôi không chắc có nghe đúng không, Denys dừng lại một giây, hỏi mà chẳng hề ngoảnh lại: “Em có nghe thấy không?” “Có,” tôi đáp.
Chúng tôi dấn thêm vài bước nữa và tiếng gừ thật trầm ấy lại lặp lại, lần này ngay mé phải. “Bật đèn,” Denys bảo. Đấy hoàn toàn không phải một việc dễ dàng, bởi anh cao hơn hẳn tôi, và tôi phải hướng luồng sáng đi bên trên vai anh, rọi theo hướng nòng súng và chiếu ra xa. Khi tôi bật đèn, cả thế gian biến thành một sân khấu sáng bừng, những lá cà phê ướt lấp lánh, đất cục lổn nhổn dưới chân rõ mồn một.
Thoạt tiên quầng sáng chộp được một con dã cẩu nhỏ xíu, mắt thô lố, tựa con cáo nhỏ; tôi lia đèn, con sư tử kia rồi. Nó đứng đối mặt chúng tôi, toàn thân sáng bừng, phía sau là cả màn đêm Phi châu đen như mực. Khi phát súng vang lên, ngay sát bên, tôi chẳng hề được chuẩn bị để đón nhận, thậm chí không ý thức được tiếng động ấy là gì, như thể ấy là tiếng sét, như thể chính tôi tức thời bị dịch chuyển tới vị trí con vật. Con sư tử đổ vật ra như một tảng đá. “Di chuyển đèn, chiếu rộng ra,” Denys la lên. Tôi lia đèn, mà tay run quá khiến vùng sáng gói trọn cả thế giới tôi điều khiển chập chờn trong một vũ điệu. Tôi nghe tiếng Denys cười sát bên, trong bóng tối. “Chĩa đèn vào con thứ hai,” sau đó anh nói thêm, “hơi rung.” Tại tâm điểm vũ điệu là con sư tử thứ hai, đang lẩn đi, nửa thân khuất sau cây cà phê. Khi bị luồng ánh sáng bắt kịp, nó ngoảnh lại và Denys nổ súng. Con vật ngã khỏi vùng sáng rồi đứng dậy, xuất hiện trở lại xông về chúng tôi, và lúc phát đạn thứ hai vừa vang lên, nó rống lên một tiếng dài giận dữ.
Châu Phi, trong một giây, lớn rộng ra mãi không thôi, còn Denys và tôi, đang đứng trong đó, vô cùng nhỏ nhoi. Bên ngoài quầng sáng ngọn đèn chẳng có gì khác ngoài bóng tối, trong bóng tối ấy có hai con sư tử ở hai phía, trời vẫn tuôn mưa. Sau đó tiếng rống ngưng bặt, xung quanh chẳng còn sự di chuyển nào và con sư tử nằm bất động, đầu ngoảnh đi, như đang làm một điệu bộ ghê tởm. Tại rẫy cà phê, hai con thú lớn đã chết, cái thinh lặng của đêm bao trùm khắp phía.
Chúng tôi bước lại chỗ hai con sư tử, đếm số bước nhằm ước lượng khoảng cách. Con đầu tiên cách chỗ chúng tôi đứng khai hỏa chừng hai mươi bảy thước, con kia cách độ hai mươi ba thước. Cả hai đều trưởng thành, trẻ trung, béo mượt. Hai đứa bạn thân, từ trên rặng núi hay ngoài thảo nguyên, ngày hôm qua quyết định làm một chuyến phiêu lưu vĩ đại, và tại đây cùng nhau ngã xuống.
Lúc này bầy trẻ trong lớp học ùa ra, túa xuống con đường rồi dừng cả lại trong tầm mắt chúng tôi và một giọng non nớt cất lên: “Msabu. Bà ở đó hả? Bà có đó không? Msabu, Msabu.” Ngồi trên mình một con sư tử, tôi kêu lên: “Ừ, ở đây.”
Chúng bèn gọi tiếp, to và dạn dĩ hơn: “Bedar đã bắn sư tử hả? Cả hai con hả?” Khi biết đúng là vậy, lập tức cả đám tràn đến, và giống một bầy thỏ Nam Phi chuyên ăn đêm, nhảy tưng tưng cả lên. Bầy trẻ, sau đó ngay tại chỗ, đã ứng tác một bài ca về sự kiện này như sau: “Ba viên đạn. Hai sư tử. Ba viên đạn. Hai sư tử.” Vừa hát chúng vừa tô điểm và thêm thắt cho phần lời, các giọng trong trẻo cứ tiếp nối nhau: “Ba phát đạn chuẩn xác, hai sư tử khỏe to, lũ xấu từ thần Kali*.” Rồi tất cả say sưa cất cao đoạn điệp khúc: “A.B.C.D.” - bởi chúng vừa chạy túa ra từ lớp học, mang theo thông thái ngập hồn.
Nữ thần hủy diệt của đạo Hindu, thường cưỡi sư tử.
Chỉ lát sau nhiều người khác chạy tới: công nhân từ xưởng máy, lưu dân sống tại các manyatta lân cận, cả mấy cậu gia nhân của tôi xách theo đèn bão. Họ vây quanh hai con sư tử, bàn tán về chúng, rồi Kanuthia và anh xà ích - mấy người có dao, bắt tay vào lột da hai con thú. Sau này tôi đã tặng bộ da của một trong hai con ấy cho vị giáo sĩ cao cấp người Ấn. Pooran Singh đích thân xuất hiện tại sân khấu, tấm áo choàng ngủ xuề xòa khiến ông nom mảnh mai đến khó tin, nụ cười ngọt như mía lùi của người Ấn sáng bừng giữa bộ râu đen rậm, giọng nói lắp bắp bởi kích động. Pooran Singh chăm chăm gom mỡ sư tử, món dược phẩm được dân xứ đó rất chuộng - từ màn kịch câm biểu đạt những gì trong đầu ông, tôi tin họ dùng nó trị chứng thấp khớp và liệt dương. Với đám đông kể trên, rẫy cà phê trở nên náo nhiệt, mưa đã tạnh, ánh trăng vằng vặc soi tỏ vạn vật.
Chúng tôi quay về nhà và Juma mở chai vang. Không thể ngồi uống bởi toàn thân ướt lướt thướt, lấm lem bùn đất, chúng tôi đứng trước lò sưởi phòng ăn và uống cạn rất nhanh chỗ rượu như đang sống, đang hát ca ấy. Hai đứa chẳng nói một lời. Trong cuộc săn chúng tôi đã hòa làm một và chẳng có gì để nói nữa.
Cuộc mạo hiểm của chúng tôi đã trở thành đề tài cho vô số lời bàn tán tiêu khiển của bạn bè. Nhưng ông lão Bulpett, dịp chúng tôi tới dự vũ hội tại câu lạc bộ, suốt buổi tối chẳng thèm trò chuyện với cả hai đứa.
Với Denys Finch-Hatton, tôi nghĩ mình mắc nợ một niềm vui tột đỉnh, niềm vui lớn lao nhất gắn với sự dịch chuyển: Tôi đã cùng anh bay trên châu Phi. Ở nơi có rất ít hoặc chẳng hề có con lộ nào, nơi ta có thể hạ cánh trên các thảo nguyên, như tại châu Phi, thì du ngoạn trên không trở nên thực sự thiết yếu và vô cùng quan trọng, nó mở ra trước mắt bạn cả một thế giới. Denys đã đưa tới đây chiếc Moth*của anh; nó có thể hạ cánh trên thảo nguyên trong đồn điền, chỗ cách nhà tôi có vài phút, và hầu như ngày nào chúng tôi cũng bay.
Có lẽ đây là Tiger Moth, kiểu máy bay hai tầng cánh rất thịnh hành ở giai đoạn 1930-1950.
Bạn được thấy những quang cảnh phi thường khi bay trên các cao nguyên Phi châu, sự hòa quyện và biến đổi đầy bất ngờ của ánh sáng và màu sắc, cầu vồng trên miền đất ngát xanh nắng rọi, những đụn mây khổng lồ dựng đứng và bao cơn dông tố tối đen hoang dại, tất thảy lắc lư quanh bạn trong một cuộc đua, một vũ điệu. Những trận mưa quất ràn rạt làm trắng trời một vẻ đáng ngờ. Ngôn ngữ thiếu từ để diễn tả trải nghiệm bay, và dần dà ta cần sáng tạo thêm những câu chữ mới. Khi đang bay trên thung lũng Great Rift và núi lửa ở Suswa hay Longonot*, nghĩa là bạn đã du hành được khá xa, tới tận những phần khuất của trăng. Bạn cũng sẽ có những chuyến bay đủ thấp hầu thấy được lũ thú trên thảo nguyên và cảm nhận như Chúa hẳn từng cảm nhận lúc Người vừa tạo ra các giống loài, trước khi ủy thác để Adam đặt tên cho chúng.
Song không phải những quang cảnh mà chính hoạt động bay khiến bạn hạnh phúc, và niềm vui sướng hân hoan của người phi công nằm ở chính chuyến bay. Dân chốn thị thành phải chịu kiếp sống đày ải buồn thảm, tù túng, chỉ biết đến di chuyển trong độc một chiều kích, đi theo một đường kẻ như bị một sợi dây lôi đi. Đổi từ di chuyển theo đường thẳng sang di chuyển trong không gian hai chiều, lúc băng ngang cánh đồng hay cắt qua cánh rừng, là một sự phóng thích tuyệt vời đối với những kiếp đời nô lệ ấy, giống như cuộc cách mạng Pháp vậy. Nhưng khi bay bạn lại được tự do vô bờ giữa không gian ba chiều; sau đằng đẵng tha hương và ước mơ, trái tim luôn đau đáu nhớ nhà gieo mình vào vòng tay của không trung. Định luật của trọng lực và thời gian
“… trong vườn xanh cây trái cuộc đời,
nô giỡn tựa hoang thú đã thuần, ai nào biết
chúng dịu dàng được đến nhường nào!*”
Nằm phía tây Nairobi, cách chừng 120 km và 70 km.
Trích vở kịch thơ Prometheus thoát xiềng của Percy Bysshe Shelley.
Bất cứ lần nào máy bay cất cánh; cúi nhìn xuống thấy mình đã thoát khỏi mặt đất, tôi lại có cảm giác bừng tỉnh ngộ sau một khám phá vĩ đại. “À ra vậy,” tôi thầm nhủ, “Giờ ta đã sáng tỏ mọi điều.”
Ngày nọ Denys và tôi bay tới hồ Natron, nằm cách đồn điền chín mươi dặm về hướng Đông Nam, thấp hơn nó bốn nghìn bộ và trên mực nước biển hai nghìn bộ. Hồ Natron là điểm khai thác xô đa. Đáy và bờ hồ nom như một thứ bê tông trắng nhờ nhờ, tỏa ra mùi hăng, chua và mặn.
Nền trời xanh ngắt, nhưng khi chúng tôi từ bình nguyên chuyển sang bay trên miền đất trơ trụi, đầy đá nằm trũng thấp thì mọi màu sắc dường như bị cháy rụi hết cả. Toàn bộ cảnh vật bên dưới nom tựa như mai rùa với những đường vân tinh xảo. Thình lình, giữa chốn đó hiện ra mặt hồ. Đáy hồ trắng, lấp lòa qua làn nước, mang cho nó, khi nhìn từ trên không, một sắc màu chói lọi, một màu xanh da trời thật khó tin, quá đỗi trong trẻo tới độ bạn phải nhắm mắt lại trong giây lát; dải nước nằm giữa vùng đất nâu hoang vu giống một viên ngọc bích to, sáng rực. Đang bay rất cao, giờ chúng tôi hạ thấp, và bóng máy bay màu xanh đậm, nổi trôi phía dưới trên mặt hồ xanh nhạt. Nơi đây có hàng nghìn chim hồng hạc, thật chẳng rõ chúng sống làm sao giữa làn nước mặn - vì dứt khoát đây không có cá. Khi máy bay tới gần, chúng tản ra thành các hình tròn rộng hoặc dạng tia hình dẻ quạt như ánh dương lúc mặt trời đang lặn, hay họa tiết xuất xứ từ Trung Hoa in trên lụa trên sứ, và trong lúc chúng tôi nhìn ngắm, lũ chim lại tự tổ hợp lại và chuyển từ hình dạng này qua hình dạng khác.
Chúng tôi hạ cánh bên bờ hồ, nóng và rừng rực sáng tựa một lò nung, rồi ăn trưa tại đây, nấp dưới cánh máy bay tránh mặt trời. Nếu đưa tay ra khỏi bóng râm, mặt trời nóng tới mức khiến bạn bỏng rát. Những chai bia, lúc mới tới còn lạnh đến sướng tê, giờ chỉ trong mười lăm phút, trước khi chúng tôi kịp uống cạn, đã nóng tựa trà.
Giữa lúc chúng tôi đang dùng bữa trưa, một toán chiến binh Masai xuất hiện phía chân trời, rồi nhanh chóng tiến lại. Họ ắt đã theo dõi từ xa lúc máy bay hạ xuống, rồi quyết định tới gần chiêm ngưỡng, và một chặng cuốc bộ bất kể ở khoảng cách nào, ngay cả trong một vùng như thế này cũng chẳng là gì với dân Masai. Nhóm chiến binh tới gần, người này đi sau người kia, trần truồng và gầy còm, mang vũ khí lấp lánh, thân hình đen như khối than bùn, trên mặt cát vàng xỉn. Cùng diễu hành dưới chân mỗi người là cái bóng nhỏ sẫm và cùng với bóng hai chúng tôi, đấy là những bóng râm duy nhất mà mắt thường thấy được khắp vùng này. Tới nơi, họ sắp thành một hàng dọc, có năm người. Cả nhóm chụm đầu hội ý về chiếc máy bay và về chúng tôi. Ở đời trước, hệ quả cuộc hội ngộ kiểu này là tính mạng chúng tôi. Lát sau, một người trong bọn tiến lên trò chuyện. Bởi họ nói mỗi tiếng Masai còn chúng tôi chỉ hiểu chút đỉnh nên cuộc đối thoại chẳng mấy chốc chùng xuống, người kia trở lại với đồng bạn và mấy phút sau cả tốp quay đi, rời khỏi, hàng một, hướng về bình nguyên muối bát ngát, cháy rực đằng trước.
“Em có muốn,” Denys bảo, “bay tới Naivasha* không? Có điều đường đến đó mặt đất rất gồ ghề thành ra không thể hạ cánh giữa chừng ở đâu được. Ta sẽ phải tăng độ cao và duy trì mực mười hai ngàn bộ.”
Chuyến bay từ hồ Natron tới Naivasha là sự việc tự thân *. Chúng tôi theo đường chim bay, luôn giữ ở mười hai ngàn bộ, độ cao quá lớn để nhìn được bất cứ gì bên dưới. Đã tháo bỏ chiếc mũ lót lông cừu của mình tại hồ Natron, giờ không khí trên đây, lạnh như nước đá, quất vào trán tôi, toàn bộ tóc tai bị thổi bạt ra sau như có ai kéo giật đầu ta ra đằng sau. Đường bay này, trong thực tế, cũng là, nhưng ngược hướng, với đường bay mà Róc* tối tối thường vút qua, mỗi vuốt cắp một con voi mang về cho bầy chim non, từ tổ bên Uganda sang Ả Rập. Ngồi ở phía trước người lái, bạn đối mặt chẳng gì khác ngoài khoảng không và bạn cảm thấy anh ta đang bế bạn trên đôi bàn tay nối dài, tựa vị thần Ả Rập mang hoàng tử Ali trên không, và đôi cánh bay đang nâng đỡ bạn cũng là cánh anh. Chúng tôi hạ cánh ở điền trang một người bạn tại Naivasha; những ngôi nhà nhỏ đến lố bịch, cây cối thấp bé xung quanh, tất thảy đổ rạp ra phía sau nhìn chúng tôi đậu xuống.
Hồ nước ngọt cách hồ Natron hơn 180 km, ở phía Tây Bắc Nairobi, cao hơn mực nước biển 5.500 m.
Tiếng Đức trong nguyên tác: Das Ding an sich .
Khi không có nhiều thời gian cho các chuyến du ngoạn đường trường, Denys và tôi bay những chặng ngắn trên rặng Ngong, thường vào buổi tà dương. Trong số những dải sơn mạch đẹp nhất thế giới, Ngong có lẽ yêu kiều hơn cả nếu ngắm từ trên không, khi các sườn trơ trụi vát ngược về phía bốn đỉnh, dựng cao chạy song song cạnh máy bay, hay bất đồ sụt xuống, trải phẳng ra thành một khoảnh đất bằng cỏ mọc.
Nơi đây, trong rặng Ngong, có trâu rừng cư ngụ. Hồi mới tới còn trẻ măng - giai đoạn chẳng thể sống nổi nếu không bắn hạ được mỗi loại thú săn châu Phi ít nhất một con đại diện - tôi đã từng bắn một con trâu đực tại đây. Sau này, khi không còn hào hứng với giết chóc bằng việc thưởng ngoạn thú hoang nữa, tôi lần mò vào núi để ngắm chúng. Hạ trại ở lưng chừng sườn núi, bên dòng suối, đem theo mấy gia nhân, lều, lương thực dự phòng, rồi cùng Farah dậy lúc trời còn tối mịt và rét căm căm, tôi rón rén, thậm chí bò qua bụi rậm cùng cỏ lau ngút ngàn, với hi vọng thấy được đàn trâu, dù chỉ một thoáng, tuy nhiên đã cả hai phen đành thất bại trở về. Đàn trâu trên đó, những hàng xóm mạn Tây của tôi, vẫn giữ một vai trò nhất định trong cuộc sống đồn điền, nhưng đó là các vị hàng xóm nghiêm nghị, tự mãn, thành phần quý tộc lâu đời của rặng núi giờ ít nhiều đã sút giảm; chúng hiếm khi tiếp khách viếng thăm.
Loài chim khổng lổ trong thần thoại Ả Rập, tương truyền to như quả núi, có sức lực phi thường.
Bỗng tới một chiều, lúc tôi đang dở tuần trà ngoài trời cùng mấy người bạn, thì Denys từ Nairobi tới, bay qua đầu chúng tôi về hướng Tây; lát sau anh vòng trở lại hạ cánh trong đồn điền. Phu nhân Delamere và tôi lái xe ra thảo nguyên đón anh nhưng Denys không ra khỏi máy bay.
“Đàn trâu đang ăn trên núi,” anh nói, “ra xem chúng đi.”
“Em không thể,” tôi đáp, “nhà đang có một buổi tiệc trà.”
“Ta sẽ đi và quay lại trong vòng mười lăm phút thôi,” anh nói.
Với tôi đây như thể một kế hoạch chỉ được nghe trong mơ. Phu nhân Delamere sẽ không bay, thành thử tôi đi cùng Denys. Chúng tôi bay giữa nắng chiều đương đượm còn sườn núi lại chìm vào một vùng râm mát màu nâu trong suốt mà chẳng mấy chốc chiếc máy bay cũng lọt vào. Không mất bao lâu, từ trên không chúng tôi phát hiện ra lũ trâu rừng. Trên một trong những sống núi màu xanh, chạy dọc theo sống núi chính, như các nếp vải xếp dồn lên đến đỉnh, có một đàn hai mươi bảy con trâu đang nhởn nhơ gặm cỏ. Thoạt tiên chúng tôi thấy chúng tít dưới, như bầy chuột di động trên mặt sàn, sau đấy máy bay hạ thấp và lượn vòng dọc theo sống núi, ở cao độ năm mươi thước, trong tầm đạn bắn; chúng tôi đếm số trâu khi chúng yên bình hòa vào nhau hay đứng tách riêng. Có một con rất già, to, màu đen, một hoặc hai con đực non tơ hơn, cùng nhiều trâu cái. Dải đất thoáng đãng cỏ mọc mà chúng đang dạo chơi được bụi cây quây kín; giả như trên mặt đất có kẻ lạ tiến lại chúng sẽ nghe thấy hoặc đánh hơi ra tức thì, nhưng cả đàn chẳng hề được chuẩn bị cho một cuộc xâm nhập từ trên không. Suốt cả quãng thời gian ấy, chúng tôi phải lượn vòng vòng trên đầu chúng. Đàn trâu nghe tiếng máy bay và ngưng gặm cỏ, tuy thế dường như chúng chẳng bận tâm ngước lên. Cuối cùng chúng nhận thấy xung quanh có gì đó rất lạ; thoạt tiên con trâu già bước ra đứng trước đàn, nghênh cặp sừng nặng cả tạ, bốn vó chôn sâu vào đất, thách thức kẻ thù còn chưa tỏ mặt, thình lình nó lóc cóc lao xuống sườn núi thoải và lát sau chuyển qua nước kiệu. Cả gia tộc rùng rùng bám theo, hỗn loạn chạy xuống, và khi cả bầy đâm đầu vào các lùm cây, có một đám bụi đất đá bốc lên phía sau chúng. Tới khoảng cây cối rậm rì, chúng dừng chân, đứng sát vào nhau, nhìn như một vạt trống lát đá tảng xám thẫm. Tại đây chúng tin đã thoát khỏi mọi con mắt, và với hết thảy giống loài trên mặt đất thì quả thế thật, nhưng lũ trâu không thể giấu mình trước những cặp mắt chim trên trời. Đến đây thì chúng tôi cất lên cao rồi bay đi. Dường như chúng tôi vừa tiến vào trung tâm rặng Ngong bằng một con đường bí mật chưa được biết đến.
Khi tôi trở lại bàn tiệc, ấm trà vẫn còn nóng đến độ đã làm mấy ngón tay tôi bỏng rát. Nhà tiên tri Muhammad cũng có trải nghiệm y hệt, sau khi Ngài đánh đổ một bình nước liền được Tổng Lãnh Thiên Thần Gabriel mang qua bảy thiên đường, tới lúc Ngài hồi cố hương mà nước trong bình còn chưa kịp chảy ra hết.
Trong rặng Ngong có một cặp đại bàng sinh sống. Vào buổi chiều Denys thường bảo: “Ta đi thăm đôi đại bàng nào.” Chỉ độc một bận tôi bắt gặp một con trong cặp này đậu ở tảng đá gần đỉnh Ngong, rồi liền đó bay lên, còn lại chúng dành cả đời tung cánh giữa không trung. Nhiều lần chúng tôi đuổi theo một trong hai con đại bàng, chao qua chao lại hay liệng chỉ trên một bên cánh, và tôi tin con chim tinh mắt ấy đã nô giỡn cùng chúng tôi. Một bận, khi đang bay bên nó, Denys bèn tắt động cơ giữa không trung, và tôi nghe được tiếng con đại bàng rít lên.
Người bản xứ thích chiếc máy bay, có giai đoạn việc vẽ nó trở thành mốt tại đồn điền, và tôi thường bắt gặp trong bếp hay trên tường bếp, các tờ giấy vẽ đầy hình chiếc máy bay, với dòng chữ ABAK được tô viết lại giống hệt. Tuy thế họ chẳng mấy quan tâm tới máy móc hay hoạt động bay của chúng tôi.
Như chúng ta không ưa tiếng ồn, người bản xứ chẳng ưa gì tốc độ, chí ít họ khó chịu với nó. Họ sống thuận hòa với thời gian, và ý tưởng giải khuây cho thời gian trôi mau hay làm gì đó giết thời gian chẳng bao giờ nảy sinh trong óc họ. Thực tế là bạn càng cho họ nhiều thời gian, họ càng vui, và nếu giao cho một người Kikuyu phận sự giữ ngựa nhằm vào thăm ai đó, bạn sẽ đọc được, trên gương mặt anh ta, niềm hi vọng bạn sẽ đi lâu, thật lâu. Anh ta chẳng cần phải nỗ lực chờ hết thời gian, chỉ việc ngồi xuống và vui sống.
Người bản xứ cũng không tán đồng máy móc hay cơ giới hóa. Có nhóm thanh niên nọ để cho một người Âu châu nhiệt tình chở đi bằng ô tô nhưng một ông già Kikuyu nói với tôi đám ấy sẽ sớm chết thôi, và rất có thể ông ta đúng, bởi những kẻ phản bội đều từ các hạng yếu nhược nhất của một dân tộc mà ra. Trong các phát kiến của văn minh, người bản xứ chuộng nhất là diêm, xe đạp và súng trường, tuy nhiên họ vẫn sẽ lập tức vứt bỏ chúng khi có bất cứ cuộc luận bàn nào về loài bò.
Frank Greswolde-Williams, sống ở thung lũng Kedong*, từng đưa một người Masai về Anh làm chân xà ích, kể cho tôi chỉ cần một tuần là anh chàng đã dong xe trong công viên Hyde như người được sinh ra tại London vậy. Khi người xà ích này quay lại châu Phi tôi có hỏi anh ta thích gì nhất ở Anh. Suy nghĩ rất lung một hồi lâu với vẻ trang nghiêm, anh ta nhã nhặn bảo người da trắng có những cây cầu tráng lệ.
Nằm phía Tây Bắc, cách Nairobi gần 80 km.
Tôi chưa từng thấy người già bản xứ nào có phản ứng gì khác, trước các vật thể tự chuyển động không cần tác động của con người hay sức mạnh tự nhiên, ngoài chút ngờ vực hoặc bối rối. Trí não con người dời ánh mắt khỏi phép phù thủy hệt như khỏi một điều trái lẽ. Bị buộc phải công nhận các điều như vậy, nhưng nó không hề muốn đào sâu cơ chế vận hành bên trong, và chẳng ai gắng moi công thức pha chế rượu từ bà phù thủy cả.
Lần nọ, khi Denys và tôi sau khi bay, đang hạ cánh trên thảo nguyên trong đồn điền, một cụ già Kikuyu đi tới nói với chúng tôi thế này:
“Hôm nay hai vị bay rất cao, chúng tôi chẳng còn thấy đâu, chỉ nghe tiếng máy bay kêu như một con ong.”
Tôi nhất trí là hôm ấy chúng tôi đã bay rất cao.
“Bà có thấy được Chúa không?” cụ hỏi.
“Không, Ndwetti,” tôi đáp, “chúng tôi chẳng thấy Chúa.”
“À ha, vậy là hai người bay chưa đủ cao,” cụ bảo, “còn giờ hãy nói lão nghe: hai vị có cho là mình sẽ có thể bay cao tới mức nhìn được Chúa không?”
“Tôi cũng chả rõ nữa, Ndwetti,” tôi đáp.
“Còn ông, Bedar nghĩ sao,” cụ quay sang Denys hỏi, “liệu ông có thể bay đủ cao hòng thấy được Chúa chăng?”
“Tôi thật sự cũng không biết,” Denys trả lời.
“Vậy thì,” Ndwetti bảo, “Tôi chả hiểu hà cớ gì hai người cứ bay mãi thế.”