Cư dân bản địa, những người rất mẫn cảm với nhịp điệu, lại chẳng hề có khái niệm gì về thơ, hay chí ít không biết chút gì về thơ cho tới khi đến trường học thánh ca. Một tối ngoài nương ngô, chúng tôi đang thu hoạch, bẻ bắp ném lên thùng xe bò, để giải trí tôi ứng khẩu mấy câu tiếng Swaheli có vần cho các nhân công, hầu hết còn khá trẻ, ở đó nghe. Mấy câu vè không có nghĩa, chỉ ghép lại cho vần: “Ngumbe na-penda chumbe, Malaya-mbaỵa. Wakamba na-kula mamba.” Bò khoái muối, điếm là xấu, Wakamba ăn rắn. Nghe thấy vậy, cánh con trai thích thú vây tròn lấy tôi. Họ nhanh chóng vỡ lẽ ra nghĩa mấy câu vè chẳng quan trọng, và cũng không hỏi chủ đề bài thơ, nhưng lại háo hức chờ đón vần điệu, và bật cười khi được nghe. Tôi gắng khiến họ tự tìm ra vần để ghép thành một bài với phần mở đầu kia của tôi tuy nhiên họ không thể, hoặc không muốn, làm thế và quay đi. Khi đã quen với thơ, họ thường năn nỉ: “Nói nữa đi. Nói giống tiếng mưa ấy.” Tôi chẳng rõ vì sao họ cảm nhận thơ giống mưa. Tuy nhiên đó hẳn là lời tán thưởng, bởi ở châu Phi mưa luôn được yêu quý và chào đón.