Chiếc Thìa Bạc

Lượt đọc: 1522 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- 5 -

31

 

Tôi thật nhớ những trò chơi mà chúng tôi chơi trong những ngày ấu thơ yên tĩnh ấy! Thú vị nhất là những trò chơi vào buổi chiều. Nhất là vào đầu mùa hè, khi mặt trời lặn dần, để lại sắc đỏ phản chiếu trên những đám mây, lũ trẻ vì biết rằng sắp đến giờ phải về nhà rồi nên càng tập trung vào các trò chơi của mình hơn. Khi đã chơi mệt các trò như “nấp mau[1]”, bịt mắt bắt dê, đuổi bắt, và nhảy lò cò, O-Kuni-san sẽ chải ngược phần tóc mái về đằng sau để gió thổi cho khô đám mồ hôi trên trán.

“Tiếp theo chúng ta sẽ chơi gì đây?”

“Chơi trò ‘nhốt nó lại’ đi,” tôi vừa đề nghị vừa giờ tay áo lên lau mồ hôi trên mặt.

“Nhốt nó lại! Nhốt nó lại!”

“Nhốt con chim vào lồng!”

“Đoán xem khi nào nó dám ra ngoài!”

Sau trận mưa, những chồi non trên những cành cây sà xuống thấp của đám tuyết tùng bên hàng rào lấp lánh những giọt mưa; nếu rung hàng rào, những giọt mưa này sẽ lộp độp rơi xuống cùng một lúc, trò này rất vui. Chỉ chốc lát sau, nước mưa lại đọng trên cành cây như trước.

Ở một góc của sân chơi là một cây mimosa lớn, trổ ra những bông hoa phớt hồng có lông. Vào buổi chiều, khi tới giờ đi ngủ của những chiếc lá bí ẩn, lũ bướm đêm xinh đẹp bay đến, rung rung cặp cánh dày màu nâu, và tíu tít bay từ bông hoa này sang bông hoa khác một cách kỳ lạ. Một lần, vì cho rằng thân cây mimosa có máu buồn, nên O-Kuni-san và tôi đã thi nhau chà vào đó thật mạnh, tới mức lòng bàn tay chúng tôi suýt nữa thì bong da.

Khi hình ảnh phản chiếu của mặt trời trên những đám mây nhạt dần, mặt trăng đã lén lút chờ đợi từ bao giờ bắt đầu trải ra thứ ánh sáng bàng bạc. Khi ấy, O-Kuni-san và tôi nhìn lên gương mặt dịu dàng của mặt trăng và hát, “Chị Hằng, chị bao nhiêu tuổi?”

“Chị Hằng, chị bao nhiêu tuổi?”

“Mười ba và bảy?”

“Chị hãy còn trẻ quá!...”

O-Kuni-san khum hai tay làm ống nhòm, đưa lên mắt, và bảo tôi, “Cậu làm thế này này, như thế sẽ trông thấy được con thỏ đang giã bánh gạo.”

Tôi ngoan ngoãn làm theo cô và nhìn lên trời. Ý tưởng rằng ở trên mảnh đất tròn mờ nhạt xa xôi kia có một con thỏ đang giã gạo một mình mang lại niềm vui sướng cho đầu óc thơ ngây hiếu kỳ của những đứa trẻ. Khi ánh trăng dần sáng lên, chúng tôi lại đuổi theo bóng của nhau đang dập dềnh trôi nổi trên đường cho đến khi bác đến đón tôi về.

“Về nhà thôi nào, bữa tối đã xong rồi.”

Nếu tôi kháng cự, chôn chân dưới đất quyết không chịu đi, bác sẽ loạng choạng lôi kéo tôi và nói, “Bác không so được với con! Không so được với con!” Cuối cùng, bác sẽ tìm cách dụ dỗ tôi về.

“Ngày mai con có muốn chơi với thằng bé nữa không?” bác gọi O-Kuni-san. Sau khi chào tạm biệt bác, O-Kuni-san quay người đi và nhắc lại:

“Lũ ếch đang kêu, chúng ta đi thôi!”

Vì vẫn chưa hề muốn ra về, tôi cũng hô lên như thế. Và chúng tôi cứ gọi nhau như vậy cho đến khi về tới nhà.

[1]Chongakure. Theo một quan điểm đương thời, đây là một biến thể của trò bịt mắt bắt dê.

32

Trong lúc chúng tôi đang tận hưởng những ngày tháng vô lo vô nghĩ thì một điều khủng khiếp xảy đến với cả hai. Chả là chúng tôi đều đã lên bảy tuổi và phải đi học. Bởi vì tôi từng được bác cõng đến trường khi bác mang cơm hộp cho các chị tôi, nên tôi biết trường học là như thế nào. Làm sao tôi có thể đến một nơi có đầy những đứa trẻ trông xấu tính như vậy chứ? Tối nào cũng thế, khi đến giờ tôi mang thùng đồ chơi ra chơi ở phòng ăn, cả bố lẫn mẹ đều dông dài giải thích, nhưng tôi vẫn một mực lắc đầu quầy quậy. Mẹ tôi nói nếu không đi học, tôi sẽ không thể trở thành một con người tuyệt vời. Tôi trả lời rằng tôi không muốn trở thành con người tuyệt vời. Bố tôi nói ông sẽ không nuôi trong nhà một đứa con trai không học hành gì cả. Tôi nói thế thì tôi sẽ rời khỏi nhà cùng với bác tôi và thùng đồ chơi.

Ban đầu, những lời phản kháng được nặn ra từ bộ não nghèo nàn của tôi và những tiếng mè nheo của một đứa trẻ ốm yếu bị mọi người cười nghiêng ngả, nhưng khi ngày đi học đến gần, sự tra tấn này càng trở nên khắc nghiệt hơn, và tới giờ bác đưa tôi đi ngủ, tôi đã kịp nước mắt ngắn nước mắt dài. Không lâu sau, ngược với mong muốn của tôi, người nhà mua về nào là cặp sách, hộp đựng bút bằng bìa cứng, một cây bút lông lớn dùng để viết, và mọi thứ cần thiết khác. Hai chị tôi nói rằng họ cảm thấy ghen tị bởi vì đồ dùng của tôi tốt hơn so với họ, nhưng tôi thậm chí còn không muốn nhìn đến chúng. Tôi chỉ muốn Chó Thần và Bò Đỏ thôi. Và nếu có thể được chơi với O-Kuni-san khi đi ra ngoài, còn lúc ở nhà thì chơi Hạt Nào với bác, thì thực tôi chẳng còn mong muốn gì hơn. Tôi thắc mắc, vì sao họ lại cứ nhất định phải ép tôi đến trường trong khi tôi không hề muốn chứ.

Với tuổi đời non nớt của mình, tôi không thể lý giải được cho chuyện này. Một hôm, tôi tâm sự với O-Kuni-san về hoàn cảnh của mình.

“Ngày nào tớ cũng bị mắng,” cô bé nói.

Vậy là người bạn thân của tôi cũng không thích đi học và cũng phải chịu đựng số phận hẩm hiu giống tôi. Cả hai ngồi lên gốc cây mận damson để an ủi lẫn nhau, thổ lộ cho nhau nghe những nỗi uất ức của mình.

“Tớ sẽ không bao giờ đến trường,” cô bé nói khi chúng tôi chia tay. “Hứa với tớ cậu cũng không đi.”

Tôi mừng rỡ đưa ra một lời cam kết chắc nịch.

33

Cuối cùng ngày ấy cũng đến, nhưng ngay từ buổi sáng tôi đã nằng nặc mà rằng, “O-Kuni-san đi thì con mới đi,” và bằng cách nào đó ngày ấy cũng trôi qua.

Tối hôm ấy, tôi bị lôi ra khỏi phòng ngủ, nơi trú ẩn an toàn của tôi, để tới phòng ăn, nơi nghị sự của gia đình. Ở đó mọi người dọa nạt tôi, dỗ dành tôi, nhưng tôi vẫn kiên quyết giữ vững trận địa của mình. Tuy nhiên, có lúc anh trai tôi đột ngột túm lấy cổ áo tôi mà quẳng tôi thật mạnh lên sàn nhà bằng một mánh lới kỳ lạ nào đó, rồi vả liên tiếp vào má tôi.

“Con làm gì thằng bé yếu ớt này vậy!” bác tôi hét lên rồi chạy ra lấy thân mình che cho tôi. “Bác sẽ nói chuyện với nó,” bác nói, rồi đưa tôi trốn vào trong phòng ngủ. Chẳng là anh tôi đang học môn võ ju-đô ở trường cao trung[1].

Ngày hôm sau, hai má tôi sưng vù, tôi thậm chí còn không ra ngoài ăn cơm mà cứ ở trong phòng ngủ. Vì lo lắng, bác tôi lén lấy đồ thắp hương Đức Phật cho tôi ăn. Sau đó tôi bị sốt cao. Ngay cả trong những hoàn cảnh bình thường, tôi vốn cũng đã rất nhạy cảm, vì thế khi bị sốt tôi hầu như không ngủ được cả đêm. Bác tôi cũng không chợp mắt để thức chăm sóc cho tôi, miệng không ngừng cầu nguyện.

Đợt ốm này kéo dài khoảng 4-5 ngày, và trong lúc tôi còn phải nằm trên giường, không ai nhắc một lời về chuyện đi học. Nhưng ngay buổi tối đầu tiên sau khi tôi hết đau đầu và cơn sốt cũng đã lui, họ lại tiếp tục màn tra tấn của mình. Nhưng có chăng, sự kiên quyết của tôi chỉ càng thêm mạnh mẽ hơn mà thôi, và tôi nhắc đi nhắc lại rằng O-Kuni-san đi thì tôi mới đi. Lần này, không hiểu vì lý do gì mà họ không thử thách tôi nữa, chỉ đơn giản hỏi lại, “Con có chắc là con sẽ đi học nếu O-Kuni-san cũng đi không?”

Tôi cam đoan, “Con chắc chắn.”

Ngày hôm sau, vào tầm tan học, bác tôi cõng tôi với khuôn mặt xanh xao ra đứng ngoài cổng nhà. Trường học chỉ cách nhà tôi chừng 140 mét. Không lâu sau khi tiếng chuông báo hết giờ leng keng vang lên, từng toán trẻ con ùa ra để về nhà. Trước sự ngạc nhiên của tôi, O-Kuni-san cũng từ trường bước ra trong tinh thần vô cùng phấn chấn, trên tay cô bé cũng cầm những thứ như mọi đứa trẻ khác. Và bởi vì bác tôi lên tiếng khen ngợi, “Cháu giỏi quá, cháu giỏi quá,” nên cô bé khoe khoang với chúng tôi về tất cả mọi thứ ở trường học. Ngồi trên lưng bác, tôi rút ra kết luận rằng người bạn của tôi thật tồi tệ. Tối hôm đó, tôi không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc chấp nhận đi học.

Sáng hôm sau, trong chiếc áo haori và chiếc quần mặc vào những dịp trang trọng, tôi theo bố bước qua cánh cổng nhà trường. Tôi được đưa vào phòng giáo viên, ở đó có những chiếc tủ gắn cửa kính, bên trong đựng các quả địa cầu, các loài chim và cá, những cuộn tranh vẽ những loài vật xa lạ, cùng rất nhiều thứ khác thu hút sự chú ý của tôi. (Sau này tôi sẽ học tên của chúng.) Trong lúc bố tôi trình bày tỉ mỉ về việc trí não tôi phát triển kém ra sao, rằng tôi yếu ớt và nhút nhát thế nào, tôi không khỏi cảm thấy xấu hổ. Giáo viên vừa lắng nghe bố tôi nói vừa thô lỗ liếc sang tôi, thi thoảng lại gật đầu. Một lúc lâu sau, thầy hỏi tôi với giọng nhẹ nhàng:

“Con mấy tuổi rồi?”

“Tên con là gì?”

“Bố con tên gì?”

“Nhà con ở đâu?”

Bởi vì tôi đã được dạy cách trả lời cho tất cả những câu hỏi như thế này từ lâu rồi và thầy giáo cũng dịu dàng ngoài sự tưởng tượng của tôi, nên tôi trả lời trôi chảy không một chút vấp váp. Có lẽ vì nghe bố tôi nói rằng trí não của tôi không được tốt, nên thầy giáo nghĩ tôi là kẻ đần. Thầy hỏi thêm vài câu nữa như để chắc chắn về tình hình này và sau đó cho phép tôi vào học; thầy nói, “Tôi nghĩ rằng thằng bé sẽ xoay sở được.”

Ngày hôm ấy tôi về nhà mà không làm bất cứ việc gì khác ngoài việc nghe các chị hướng dẫn cách cư xử ở trường học, cách cúi chào ra làm sao, cách khóa cặp, và những chuyện tương tự. Và ngày tiếp theo, tôi đội lên đầu chiếc mũ lưỡi trai gắn huy hiệu hoa anh đào[2], khoác lên vai chiếc cặp mà tôi chưa từng đeo, và được bác cầm tay dắt đi đến trường, trong lòng là sự hoang mang khó nói thành lời. Tôi xấu hổ luống cuống đến nỗi mọi người không thể không chú ý đến vẻ mặt xa lạ của tôi, và nỗi lo lắng về cuộc sống học đường vẫn còn là điều bí ẩn dằn vặt tôi đến nỗi tôi chỉ biết khép nép đi bên cạnh bác, hai mắt dán chặt xuống ngón chân. Tới trường học, các chị gái tôi dẫn tôi vào lớp và cho tôi ngồi ở hàng trước.

Lớp tôi học là Lớp 1C, nơi tập trung của những học sinh yếu về thể chất và chậm phát triển về trí tuệ.

[1]Kötö chügakkö: Một trường dự bị cho trường đại học hoàng gia. Tuy nhiên, không lâu sau thời gian này, vào năm 1894, nó được đổi thành kütü gakkü, nghĩa là “trường trung học.”

[2]Huy hiệu màu vàng hình hoa anh đào trên mũ học sinh là một thông lệ.

34

Những học sinh ghi danh trước tôi đã quen với trường học và bởi vì không có ai yếu ớt như tôi nên chúng thoải mái chơi đùa, la hét. Không lâu sau, tiếng chuông quen thuộc leng keng vang lên. Vì nghe ở khoảng cách gần, nên âm thanh kim loại như xuyên thấu vào tận trong não tôi khiến tôi cực kỳ khó chịu. Các chị tôi rời đi sau khi để lại lời cam đoan rằng vào giờ ra chơi họ sẽ lại đến, bác tôi cũng đi nhưng hứa rằng bác sẽ ở bên ngoài lớp học cho đến khi xong tất cả các tiết học. Vậy là, bị bỏ lại một mình, tôi sợ hãi nhìn quanh và thấy những đứa trẻ khác với dáng vẻ khỏe mạnh nhưng xấu tính đang nhìn tôi một cách lỗ mãng. Tôi co rúm người lại và nhìn chằm chằm vào hốc mắt gỗ trên bàn cho tới khi thầy Furusawa đến. Do những vết rỗ trên mặt mà trông thầy có vẻ dữ tợn, nhưng thầy nổi tiếng là người nhẹ nhàng và được tất cả học sinh trong trường quý mến.

Sách giáo khoa khác với những cuốn sách có tranh minh họa như Chó Bắc Kinh, Chó Sủa Gâu Gâu, Mèo Kêu Meo Meo, Tiếng Lợn Kêu mà bác tôi đã dạy tôi học, hay những cuốn sách minh họa về Chó, Đũa, Sách, Bàn Học, nhưng dù sao cũng dễ hiểu. Vì thế tôi không cần nhìn nhiều vào sách giáo khoa mà chăm chú quan sát mái tóc muối tiêu thưa thớt bay phất phơ trong gió của thầy Furusawa.

Không lâu sau tiết học kết thúc. Những đứa trẻ hiếu động từ các lớp học ùa ra như ong vỡ tổ, và dưới những giàn hoa tử đằng che kín toàn bộ sân chơi, từng nhóm từng nhóm chơi đùa, nào là nhảy ếch, đuổi bắt, nào là đánh trận giả. Đối với tôi, một người chưa từng biết đến bất kỳ thế giới nào khác ngoài thế giới nho nhỏ của O-Kuni-san, thì tất cả khung cảnh này quả thực chóng mặt không chịu nổi. Vậy là tôi đứng đó ráo rác nhìn ngó chỗ này chỗ kia như một con chim non đang lo sợ, rồi bạn bè của các chị tôi kéo đến như muốn nói, “Ra đây là cậu em trai mà chúng tớ được nghe kể suốt đây!” và họ nhanh chóng vây quanh tôi. Và sau khi tuôn ra một tràng những lời khen ngợi lấy lòng tôi, họ bắt đầu đặt cho tôi hàng loạt những câu hỏi quen thuộc: tôi bao nhiêu tuổi, tên tôi là gì... Là một kẻ nhút nhát đáng thương, tôi sợ sệt như một chú lừa đang bị đám báo cái công kích và chỉ có thể gật hay lắc đầu, thậm chí còn không dám ngẩng mặt lên.

Thật không may, vào lúc đó một giáo viên xuất hiện, đột ngột giật lấy cặp sách của tôi rồi nhấc bổng tôi lên cao cùng với một tiếng hét. Những giọt nước mắt mà tôi gắng gượng kìm nén suốt cả buổi sáng bỗng trào ra như thác, tôi vừa yếu ớt đá chân vừa òa lên khóc, khiến thầy giáo bị dọa sợ.

“Ôi trời ơi! Thầy rất xin lỗi!” thầy giáo nói rồi đặt tôi xuống, sau đó lấy khăn tay lau nước mắt cho tôi. Về sau tôi được biết rằng đó là giáo viên của chị tôi, và thầy làm thế vì muốn tôi vui. Mọi người dặn tôi lần sau nếu thầy làm như thế, tôi không được khóc. Rốt cuộc tôi cũng nắm được trọng điểm và hạ quyết tâm lần sau sẽ không khóc nữa, nhưng có vẻ như một lần là quá đủ với thầy giáo rồi. Thầy không bao giờ dám bế tôi lên nữa.

Sự hỗn loạn trong tiết tập viết sau đó thật khác thường. Chỗ này một đứa bé làm đổ lọ mực và khóc toáng lên. Chỗ kia một đứa chỉ vẽ bánh bao vào vở nên bị thầy mắng. Thầy Furusawa đi đi lại lại giữa đám trẻ, giải quyết từng vấn đề như thể thầy không biết từ “vấn đề” có nghĩa là gì, và chỉ dạy cho từng học sinh, thi thoảng thầy lại duỗi người để xoa xoa lưng. Khi bàn tay dính đầy bụi phấn trắng của thầy nắm lấy bàn tay đang cầm bút của tôi, cả người tôi cứng lại và đầu bút run lẩy bẩy đến nỗi thầy phải cùng tôi ôn đi ôn lại i-ro-ha[1].

Ngày hôm ấy, những sự kích thích dữ dội và những nhiệm vụ hoàn toàn xa lạ đã khiến tôi đau đầu và buồn nôn, vì thế khi buổi học kết thúc tôi về nhà. Bác tôi lấy nước để tôi uống cho dịu lại cơn đau đầu.

“Cháu làm tốt lắm! Cháu làm tốt lắm!” bác nhắc đi nhắc lại và lấy ra đưa tôi thanh quế đựng trong ngăn kéo ở chiếc gối gỗ của tôi, còn chị tôi làm cho tôi một túi bùa hộ mạng bằng vòng hạt Nam Kinh làm phần thưởng. Chẳng mấy chốc cơn đau đầu đã biến mất. Những người khác trong gia đình cũng không ngớt lời khen ngợi tôi, “Làm tốt lắm! Làm tốt lắm!”

Khi đến giờ tan học, tôi sang nhà O-Kuni-san để chơi với cô bé. Mọi người ở đó cũng khen tôi, “Cháu làm tốt lắm!” Thế là tôi nghĩ mình đã làm tốt thật và cảm thấy hết sức tự hào về bản thân.

[1]Ký hiệu âm tiết trong tiếng Nhật, tương đương với A, B, C.

35

Sau vài ngày tôi đã có thể tự ở lại trường một mình, dù rằng bác tôi vẫn phải đưa đón tôi. Hằng ngày, bác lấy những chiếc bánh mà tôi thích ăn bỏ vào chiếc hộp vỏ sò rồi dùng những mảnh giấy đỏ dán lại và đặc vào ngăn kéo ở ban thờ, sau đó ngay khi tôi đi học về và đặt cặp sách xuống, bác sẽ lấy ra cho tôi ăn. Vì không thể dễ dàng quyết định được nên lấy cái bánh nào, nên tôi thường chọn ra một vài chiếc.

Không lâu sau, tôi được chuyển sang Lớp A. Các học sinh vây quanh lấy người mới được chuyển từ Lớp C sang và thì thào với nhau, có vẻ như chúng đang đánh giá tôi. Rồi một đứa trông thấy những chữ cái tiếng Đức mà anh tôi đã viết lên cặp tôi và nó tiến lại gần.

“Xem này, trên cặp của nó có chữ tiếng Anh đấy.”

Những đứa khác cũng tiến lại, trầm trồ, thò hẳn mặt vào gần mặt tôi. Khi một đứa hỏi tôi ý nghĩa của những từ được viết trên cặp, tôi nói đó là tên tôi (lúc ở nhà anh tôi đã cho tôi biết như vậy). Thế là cả bọn nhìn tôi đầy ghen tị.

“Quỷ tha ma bắt!” một đứa thốt lên. “Nó là người Nhật Bản mà, đúng không? Thế nhưng nó lại có tên nước ngoài kia đấy!”

Rồi một đứa khác trông thấy chiếc túi bùa hộ mạng gắn quả chuông nhỏ của tôi và bắt đầu mân mê nó bằng bàn tay cáu bẩn. Tuy không thích nhưng tôi sợ và không dám ngăn nó lại. Chiếc túi được đan bằng các vòng hạt Nam Kinh màu xanh nước biển và màu trắng tạo nên họa tiết ô vuông, và trên chiếc chuông có khắc nổi hình con thanh trùng. Ở đầu kia của sợi dây màu tía có gắn một quả bầu bằng thủy tinh. Cậu mang chuông đi làm quái gì thế? Đứa bé sờ chiếc túi của tôi hỏi. Tôi nói đó là để bác tôi nghe thấy và đến đón tôi khi tôi đi lạc. Nghe xong câu trả lời này, đám trẻ nhìn nhau, trên mặt lộ rõ vẻ khinh miệt. Chẳng mấy chốc, chiếc túi bị chúng giày vò đến không chịu nối; những sợi chỉ yếu ớt gắn các hạt lại với nhau bị đứt, và các hạt rơi tán loạn xuống nền nhà. Tôi bắt đầu sụt sùi. Lũ trẻ lập tức đứng lùi lại, trông như thể chúng vừa làm điều gì đó khủng khiếp.

“Không phải tớ! Một con quạ ba tuổi đã làm!” chúng vừa đồng thanh hô lên từ khoảng xa vừa đứng nhìn tôi lo lắng. Tôi luống cuống không biết phải làm gì, và vì không có ai tới giải cứu mình, nên tôi dù muốn cũng không thể khóc được. Tôi chỉ biết đứng nhìn chằm chằm vào đám hạt đang rơi vãi và sụt sịt khóc, nhưng thật may mắn, chị tôi đã đến. Ngay lập tức, cảm giác thống khổ ập đến và tôi khóc òa lên. Lũ trẻ sợ chị tôi mắng bọn chúng nên vội vàng chạy ra khỏi lớp, vừa chạy vừa hô, “Đồ khóc nhè! Đồ ăn vạ! Hãy nhấc nó lên và ném nó đi thật xa!”

Chị tôi an ủi tôi bằng cách hứa sẽ làm cho tôi một cái túi khác. Vốn được chiều thành hư, tôi đòi về nhà ngay lập tức. Cuối cùng chị cũng dỗ được tôi và giúp tôi lau nước mắt, hỉ nước mũi, đúng lúc đó tiếng chuông báo giờ học vang lên. Chị tôi rời đi, và trước khi đi có hứa rằng vào giờ ra chơi chị sẽ lại đến. Lũ trẻ xấu xa đứng bên ngoài lớp học lén lút quan sát toàn bộ cảnh tượng vừa rồi cũng lục tục vào lớp.

“Vừa nãy khóc lóc sụt sùi! Giờ thì cười như quạ!” chúng nhảy vòng quanh tôi và hát.

Giáo viên phụ trách lớp mới là một thầy để râu tên là Mizoguchi. Giống thầy Furukawa, thầy Mizoguchi cũng là người được sinh ra để chăm sóc cho trẻ nhỏ. Thấy tôi có vẻ khép mình, thầy đối xử đặc biệt tốt với tôi.

Ngồi chung bàn với tôi là Iwahashi, con trai của một người bán ngói. Cậu ta nổi tiếng là kẻ hay bắt nạt. Cậu ta lấy bút chì kẻ một đường thẳng ở giữa bàn, và nếu khuỷu tay tôi xâm phạm vào lãnh thổ của cậu ta, cậu ta sẽ không ngần ngại mà dùng khuỷu tay huých tôi một cú thật mạnh hoặc xì nước mũi vào người tôi. Một lần trong giờ học, cậu ta nói chuyện với tôi, và mặc dù không thích tiếp chuyện, tôi vẫn hờ hững đáp lời. Nhìn thấy cảnh này, thầy Mizoguchi viết họ của chúng tôi lên bảng bên cạnh nhau và bên trên vẽ hai vòng tròn màu đen thật to. Thấy thế, lwahashi rướn người về phía chiếc bảng con của mình và khóc. Chỉ có tôi không biết chuyện này có nghĩa là gì nên vẫn nhìn thầy giáo với vẻ khó hiểu.

Khi tiết học kết thúc và chị gái tôi đến, chị vừa cười vừa nói hẳn là tôi đã nói chuyện riêng trong giờ. Tôi băn khoăn không hiểu ai đã nói với chị như thế, nhưng linh tính mách bảo rằng hình như tôi đã làm sai điều gì đó, và tôi trả lời rằng tôi không nói chuyện riêng. Chị nói tôi không cần phải giấu diếm, bởi vì tên của tôi đã bị viết cùng với vòng tròn to đùng trên bảng kia kìa. Khi biết rằng thầy giáo vẽ vòng tròn như thế khi học sinh làm sai, đột nhiên tôi cảm thấy rất buồn bã.

36

Sách vở của Iwahashi chằng chịt những vết chì đỏ. Trong một bức vẽ minh họa trên đó, có cảnh một người cảnh sát đang chạy ra từ một ngôi nhà đang cháy, tay dắt một đứa trẻ đi lạc, ánh đèn từ mọi hướng chiếu ngang dọc trên đầu đứa trẻ, còn tròng mắt của vị cảnh sát lối ra như sắp nổ tung. Một lần, cậu ta vẽ hình cậu bé một mắt và cậu bé ba mắt vào bảng con của mình rồi chìa ra cho tôi xem:

“Nhìn này! Nhìn này!”

Vẫn nhớ vòng tròn màu đen dạo nọ, tôi phớt lờ cậu ta. Thái độ này khiến cậu ta nắm chặt tay thành nắm đấm dưới bàn để tôi trông thấy và liếc xéo tôi. Ngay khi tiết học kết thúc và giáo viên ra khỏi lớp, cậu ta hà hơi thổi vào nắm tay và tiến về phía tôi, vì thế tôi chạy ra ngoài hành lang và tìm một chỗ mà cậu ta khó có thể tìm thấy. Một cậu bạn cùng lớp nhưng lớn tuổi hơn với khuôn mặt đỏ và vẻ ngoài nhếch nhác bẩn thỉu đi ngang qua.

“Tớ sẽ cho cậu cái này hay lắm.” Trên tay cậu ta đang cầm thứ gì đó và cậu ta bảo tôi chìa tay ra. Mặc dù sợ sẽ bị mắc lừa, nhưng tôi cũng sợ cậu ta, nên tôi ngoan ngoãn chìa tay ra. Cậu ta thả vài quả mọng màu đỏ vào tay tôi. Thực lòng tôi không muốn có bất kỳ thứ gì như vậy, nhưng vui mừng vì có người đối xử tốt với mình, tôi mỉm cười.

“Cảm ơn cậu.”

Phải 5-6 năm sau, tôi mới biết rằng đó là quả của cây ngũ vị tử[1] mọc ở sau trường. Vì có khuôn mặt đỏ, nên cậu ta được đặt cho biệt danh là Người hầu Mặt khỉ; ngoài ra, bởi vì tên của cậu ta là Chöhei, nên cậu ta còn được gọi là Choppei. Cậu ta là con trai của người bán cá ở phía trước Denpö-in[2].

Sau chuyện này Choppei trở thành người bạn duy nhất của tôi, và mặc dù nếu có thể thì tôi thậm chí không chủ động nói chuyện với cậu ta, nhưng hẳn cậu ta thấy ở tôi có điều gì đó nên vẫn thường xuyên bắt chuyện với tôi. Một hôm, cậu ta bảo tôi:

“Vào giờ học, chúng ta hãy xin ra ngoài đi vệ sinh cùng nhau.”

“Tớ không muốn đâu. Thầy giáo sẽ mắng chết,” tôi nói. Thế là cậu ta vừa hát vừa làm ra vẻ mặt đáng sợ.

Nếu bạn không muốn,

Thì đừng cố thử,

Ai trong bụi sậy kia!

“Tớ đi, tớ đi.” Tôi vội vàng nói. Cậu ta lập tức khôi phục tinh thần vui vẻ và nói, “Nếu cậu làm theo tớ thì sẽ không sao cả đâu.”

Không lâu sau khi tiết học bắt đầu, cậu ta giơ tay lên. “Thưa thầy Mizoguchi, em xin phép ra ngoài đi vệ sinh ạ!”

“Trò có thực sự cần phải đi không? Nếu trò dám nói dối, thầy sẽ phát hiện ra sớm thôi,” thầy giáo nói. Nhưng lời đe dọa này không làm Choppei nao núng. “Vâng, em mót lắm rồi ạ.”

Thầy Mizoguchi buộc phải quan tâm đến học sinh đang cần đi vệ sinh, vì thế thầy nói, “Thôi được rồi, trò đi đi. Nhớ là xong việc phải quay về lớp ngay. Nếu trò dám la cà dọc đường, tôi sẽ cho một vòng tròn đen.”

Vài cánh tay nữa lục tục giơ lên, xin phép được đi vệ sinh thành một nhóm. Khi chuẩn bị rời đi cùng bọn chúng, Choppei liếc mắt nhìn tôi thật nhanh. Tôi giật mình, sợ sệt giơ tay lên và bắt chước lời của những đứa vừa nãy, “Thưa thầy Mizoguchi, em xin phép ra ngoài đi vệ sinh ạ!”

Thầy Mizoguchi không biết kẻ xúi bẩy là Choppei nên đồng ý ngay tắp lự.

Nhà vệ sinh ở cách các lớp học khá xa, ngay dưới một bụi trúc sasa[3] thuộc về ngôi đền thờ Thần Bát Phiên ở bên cạnh. Choppei đang chờ tôi ở đó.

“Chúng ta vật nhau đi,” cậu ta rủ.

Tôi nhìn xung quanh. Những đứa trẻ khác đã trèo qua rào chắn của lối đi và đang nhổ cỏ ngọt mọc ở bờ đê hoặc lấy đất mềm vo thành viên rồi ném nhau. Đối với chúng, đi vệ sinh là lời biện hộ để được ra chơi. Choppei giục tôi: “Nào, đi nào.”

Mà tôi thì vốn cho đến tận lúc đó mới chỉ biết chơi trò đánh trận giả giữa Shiöten và Kiyomasa với đối thủ là bác tôi, nên tôi không biết phải làm gì cả, nhưng rút lui bây giờ đã muộn rồi.

“Nguy hiểm lắm đấy. Xin cậu hãy nhẹ tay thôi,” tôi khốn khổ nói rồi chẳng nghĩ ngợi gì mà túm lấy Choppei. Vốn khỏe mạnh, Choppei lôi tôi xoay tròn mấy vòng, vừa lôi vừa hét, “Đấu đi! Đấu đi!”

Thật tồi tệ, việc này quả là quá sức chịu đựng của ngài Kiyomasa tiếng tăm lừng lẫy; ngài vấp chân vào gấu quần hakama của chính mình rồi ngã chồm hổm.

“Cậu yếu quá đấy. Lần sau chúng ta sẽ chơi nữa,” Choppei khinh bỉ nói, và dợm bước quay trở về. Tôi chỉnh lại chiếc áo kimono nhăn nhúm rồi đi theo cậu ta.

Bước vào cửa lớp, cậu ta gập người chào thật nhanh với vẻ mặt ngây thơ.

“Thưa thầy, cho em vào lớp ạ.”

Tôi cúi chào mà không nói gì cả. Những đứa khác cũng lần lượt theo nhau vào. Đứa nhổ cỏ ngọt vì cứ nhai mãi trong miệng nên bị thầy phạt đứng góc lớp. Tệ hơn, đám cỏ ngọt cậu ta giấu trong ngực áo kimono thò ra ngoài và bị trông thấy, khiến thầy giáo lại khiển trách một thôi một hồi. Tôi quyết định không bao giờ đi vệ sinh nữa.

[1]Binan-kazura (Kadsura japonica): Một loài cây bụi ra quả mọng màu đỏ. Loài cây này rất hay được nhắc đến trong văn chương kinh điển của Nhật Bản.

[2]Có lẽ đây là tên của một ngôi chùa hoặc một ngôi miếu nào đồ.

[3]Sasa (Sasa nipponica): Một chi thuộc họ tre, nhưng trúc sasa là loài cây mọc thấp với nhiều lá.

37

Trong số các môn học, môn được đám học sinh thích nhất là đạo đức. Bởi vì thầy giáo thường treo một cuộn tranh gồm nhiều hình ảnh minh họa tuyệt đẹp lên tường và kể cho chúng tôi nghe nhiều câu chuyện thú vị. Một bức tranh vẽ cảnh một con gấu mẹ bị bắn vào đầu và chết trong tư thế vẫn đang nâng một tảng đá lên để gấu con tiếp tục tìm kiếm cua bên dưới tảng đá để ăn; một bức tranh khác vẽ cảnh một vị tướng đang chống cằm trên tay và quan sát một con nhện đang giăng tơ. Bị hấp dẫn bởi những bức tranh đẹp cùng những câu chuyện hay, đám học sinh bao giờ cũng đòi thấy kể thật nhiều. Thầy Mizoguchi mở cuộn tranh ra để lộ lần lượt từng bức tranh và nói:

“Chỉ cần các trò ngoan ngoãn, thầy kể bao nhiêu truyện cũng được.”

Thường thì rốt cuộc thầy sẽ kể về toàn bộ cuộn tranh. Tuy nhiên, có một điều kỳ lạ là bao giờ thầy cũng bỏ qua bức tranh ở đầu tiên, trong đó vẽ cảnh một phụ nữ người nước ngoài bị ngã trên tuyết, trên tay còn đang ôm một đứa bé. Đám học sinh mặc dù trông thấy nó nhưng cũng không hề lên tiếng hỏi về câu chuyện này. Nhưng tôi lại đặc biệt bị thu hút bởi nó, nên lần nào tôi cũng thắc thỏm chờ thầy kể, chỉ là tôi chờ mãi mà vẫn không thấy gì.

Khi chuông báo hết giờ vang lên, đám học sinh ồn ào vây lấy chiếc ghế nơi thầy đang ngồi, một đứa trèo lên đùi thầy, đứa khác bám lấy vai thầy, và cứ thế chúng hét lên, “Thầy ơi kể lại cho tụi em nghe câu chuyện đó đi! Kể lại cho tụi em nghe câu chuyện đó đi!” và buộc thầy phải kể đi kể lại những câu chuyện ấy. Vì không bạo dạn được như chúng, nên tôi chỉ lặng lẽ đứng cách xa chỗ đó một chút, mơ hồ nhìn vào những bức tranh. Nhưng một lần, thầy Mizoguchi quay sang phía tôi và hỏi, “Naka-san, thầy cũng kể cho em nghe một câu chuyện nhé? Em thích truyện nào?”

Thấy tôi chỉ biết đỏ bừng mặt, thầy giục, “Em phải nói cho thầy biết chứ.”

Tôi cảm thấy như cuộc đời mình sắp chấm dứt vậy, cuối cùng tôi mở miệng lầm bầm, “Truyện này ạ,” rồi chỉ tay vào bức tranh vẫn luôn thu hút sự chú ý của tôi. Dường như câu trả lời này không làm cho ai hài lòng cả, bởi vì tất cả đều lắc đầu, “Truyện đó có gì hay đâu.”

“Truyện đó không thú vị đâu,” thầy Mizoguchi nói, và hỏi thêm, “Như thế có được không?” Tôi im lặng gật đầu.

Thầy Mizoguchi chợt nhận ra là tôi chưa biết câu chuyện này. Vì thế, thầy thuyết phục các học sinh khác đang phàn nàn và kể cho tôi nghe. Câu truyện kể về một người mẹ đi lạc trong tuyết, cô ấy liên tục cởi quần áo của mình để mặc cho con cho đến khi bản thân mình chết cóng. Bức tranh không có nhiều màu sắc nên không hấp dẫn được lũ trẻ, và câu chuyện cũng chỉ có vậy, nên lũ trẻ không cảm thấy hào hứng, đây cũng là lý do vì sao thầy Mizoguchi bỏ qua nó. Nhưng đối với tôi, câu chuyện đó còn hơn cả thú vị. Tôi lắng nghe với niềm thương cảm hệt như khi bác tôi kể cho tôi nghe câu chuyện về nàng Tokiwa[1].

Kể xong truyện, thầy Mizoguchi hỏi, “Không có gì thủ vị, đúng không nào?” Tôi thành thật gật đầu. Thầy giáo sửng sốt, còn dám học sinh khúc khích cười với vẻ khinh bỉ.

[1]Tokiwa Gozen (1138-1190?): Vợ lẽ của tướng quân Minamoto no Yoshitomo (1123-1160). Sau khi Yoshitomo bị đánh bại trong cuộc nổi loạn Heiji Disturbance vào năm 1160 và bị giết, người chiến thắng là Taira no Kiyomori (1118-1181) ra lệnh bắt và giết ba người con trai của Tokiwa. Hay tin, Tokiwa đem theo ba người con bỏ trốn khỏi Kyoto. Khi đó là tháng Hai, trời rất lạnh và đổ tuyết không ngừng. Tokiva cởi áo ra cho các con mặc và luôn đứng ở đầu gió để che chắn cho các con.

38

Vào khoảng thời gian đó, tôi thường có mong muốn trốn tránh ánh mắt của mọi người và tìm một chỗ trốn để được ở một mình, có thể là dưới gầm bàn, trong tủ quần áo, ở bất kỳ đâu có thể. Trong lúc giấu mình vào những nơi như thế và ngẫm nghĩ về nhiều chuyện, tôi thường cảm nhận được một sự bình yên và thỏa mãn không thể mô tả. Nơi trú ẩn mà tôi thích nhất là không gian bên cạnh chiếc tủ ngăn kéo. Nó nằm trong căn phòng tối tăm nhất trong nhà, chỉ lấy được chút ánh sáng từ ô cửa sổ hướng bắc day mặt về phía nhà kho. Khoảng trống từ chỗ ô cửa sổ đó và chiếc tủ kia vừa đủ để tôi len vào, thu hai đầu gối lên. Tôi ngồi xổm ở đó nhìn ra những vết nứt chói chang nắng trên khung cửa sổ, ngay bên cạnh đó là một cây thanh tùng, cây ngũ vị tử quấn lấy một cái cây chết, những cái dây leo màu đỏ của nó và lũ rệp hút nhựa của cái cây kia.

Tôi thường ở đó nửa ngày, thậm chí cả ngày, tự lẩm bẩm một mình, rồi từ lúc nào không hay tôi bắt đầu có thói quen lấy bút chì viết chữ hiragana[1] đại diện cho âm wo lên một cạnh của chiếc tủ; cuối cùng vô số chữ wo lớn nhỏ tạo thành những dòng chữ. Thấy tôi thường xuyên chui vào góc đó, bố tôi thử vào xem và chẳng mấy chốc đã phát hiện ra những hàng chữ kia. Nhưng ông chỉ nghĩ đó là những nét vẽ nguệch ngoạc tiêu khiển và không mắng tôi nhiều, chỉ nói rằng nếu muốn tập viết, tôi phải viết vào vở. Nhưng chao ôi, chúng không phải là những nét vẽ nguệch ngoạc. Không hiểu vì sao nhưng tôi thấy chữ wo trong bảng chữ cái hiragana trông giống một người phụ nữ đang ngồi. Với trái tim nhỏ bé của tôi, với cơ thể yếu đuối của tôi, hễ khi nào có chuyện gì xảy ra, tôi lại tìm sự an ủi ở ký tự đó, những ký tự này phán đoán tâm tư của tôi rất chính xác và an ủi tôi bằng sự tử tế của chúng.

Ngay cả sau khi chuyển đến nơi ở mới, tôi vẫn bị quấy nhiễu bởi những giấc mơ đáng sợ xuất hiện rất thường xuyên, khoảng ba ngày một lần, và sau đó tôi thường chạy lung tung trong nhà vào nửa đêm. Một trong những giấc mơ như vậy là hình ảnh một xoáy lốc màu đen treo lơ lửng giữa không trung, có đường kính khoảng 0,3 mét, và liên tục nở ra rồi co lại như lò xo trong chiếc đồng hồ. Cảnh tượng đó đã đủ đáng sợ rồi, nhưng dù tôi cố gắng trấn an bản thân, thì vẫn có một con sếu khổng lồ ở đâu bay tới và dùng mỏ ngoạm lấy lốc xoáy ấy. Trong một giấc mơ đáng sợ khác, những thứ trông giống như những bộ ruột xô đẩy nhau tạo thành âm thanh như tiếng nước bắn. Sau đó tất cả biến thành khuôn mặt của một người phụ nữ đang há to miệng như kẻ ngốc, rồi đột nhiên đôi mắt mở to và khuôn mặt bị kéo dài xuống. Hoặc khuôn mặt đó không há miệng, chỉ mở rộng sang hai bên, hết nháy mắt rồi nhăn mũi và biến thành một khuôn mặt dẹt kỳ lạ. Nó cứ mở rộng rồi thu hẹp như vậy cho đến khi tôi òa lên khóc.

Mọi người nghi ngờ rằng tôi gặp phải những giấc mơ như vậy là do những câu chuyện mà bác tôi kể. Ngoài ra, cũng có người nêu ý kiến rằng tôi thử ngủ ở phòng khác xem sao, và thế là mọi người quyết định rằng tôi nên ngủ cạnh bố. Thế nhưng những câu chuyện về những chiến tích của những người như Miyamoto Musashi[2] và Yoshitsune[3] cùng với Benkei[4] của ông ta mà bố kể cho tôi nghe hằng đêm cũng không có tác dụng là mấy; những con ma gớm ghiếc kia chẳng coi một người bố là gì và vẫn đến thăm tôi như thường. Ở căn phòng ngủ cũ có một con quỷ nấp trên hốc tường trên trần; ở căn phòng mới chiếc đồng hồ tám cạnh trên cột nhà biến thành cậu bé một mắt và bốn cánh cửa trượt khiến tôi hoảng hồn khi chúng biến thành bốn cái miệng khổng lồ.

[1]Hiragana: Một trong 3 bảng chữ cái ngữ âm cơ bản của tiếng Nhật. Nó đại diện cho mọi âm của tiếng Nhật. (ND)

[2]Một kiếm sĩ nổi tiếng với tài có thể đồng thời sử dụng hai kiếm một lúc. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là cuốn Ngũ Luân Thư.

[3]Minamoto no Yoshitsune (1159-1189): Một vị tướng đã giúp gia tộc của mình là Miyamoto giành chiến thắng trước gia tộc đối thủ là Taira.

[4]Một vị sư chiến binh huyền thoại rất trung thành với Yoshitsune.

39

Theo lời tư vấn của bác sĩ, bố tôi quyết định đưa tôi và mẹ, cả hai chúng tôi đều có thể chất ốm yếu, tới một vùng bờ biển nào đó để cải thiện tình hình sức khỏe. Trên đường đi, tôi vô cùng vui vẻ khi thấy thiên nhiên mở ra trước mắt tôi hệt như mong muốn bấy lâu nay, dù tôi chỉ là một đứa trẻ, bởi vì trước giờ tôi mới chỉ trông thấy những khung cảnh ấy trong các bức tranh trên những tấm thẻ thơ và trong những cuốn vở tập viết có tranh minh họa. Tôi trông thấy biển huyền bí, thứ mà trí tưởng tượng bé nhỏ của tôi không thể nghĩ đến. Biển có màu chàm trong suốt với những chiếc thuyền chạy bên trên, cánh buồm lấp lánh như bạc. Khi chúng tôi đi qua những vách đá dốc đứng, tôi cảm thấy một sự cô đơn tới mức không thể chịu đựng và thương cảm cho những đám cỏ hoang mọc lộn xộn trên đó.

Tại một ngôi đền trông giống như Long Cung[1] dành cho người Trung Quốc, một bà cụ người Hoa đang cầu nguyện; cứ mỗi lời cầu nguyện, bà lại ném một hòn sỏi lên vỉa hè. Một cô bé trông như búp bê với mái tóc rẽ ngôi và bôi sáp thơm bước đi khập khiễng bằng đôi chân đáng yêu, tôi thấy cô bé thật xinh đẹp. Một cửa hàng bán những món đồ lặt vặt làm từ vỏ sò trưng bày chật kín những báu vật từ biển khơi. Bố tôi mua vài chiếc kẹp tóc để mang về làm quà kỷ niệm cho các chị gái tôi và một túi “vỏ ốc biển” cho tôi, nhưng tôi băn khoăn không hiểu vì sao ông không mua tất cả chúng, bởi vì món nào trông cũng rất đẹp. Khi chúng tôi ngồi xe đi qua hàng thông bên bờ biển, những cây thông kéo dài dường như vô tận. Hình ảnh những cây thông xuất hiện trong cuộn tranh treo tường vẽ quang cảnh vùng Takasago mà nhà chúng tôi treo lên vào dịp năm mới, và bởi vì bác tôi thường bảo rằng thông là một loài cây linh thiêng, nên tôi có niềm yêu thích khá mê tín đối với chúng.

Không lâu sau, chúng tôi tới quán trọ. Tôi vừa mới tận hưởng bầu không khí yên ả dọc hàng thông, nhưng ở đây lộn xộn rất nhiều người, nên tôi òa khóc và nói, “Con muốn về nhà.” Lập tức chủ quán trọ và những người giúp việc ùa ra chỗ tôi, gọi tôi là “Thiếu gia”, dụ dỗ tôi để tôi cảm thấy mình là người quen cũ của họ. Vì vậy, tôi bình tĩnh lại và rất nhanh đã thôi khóc. Thời gian còn lại trong ngày hôm đó, trong mùi hương của những cơn gió mặn, tôi mê mẩn ngắm nhìn những con sóng ồn ào vỗ lên những cây thông thấp lùn, quên đi tất cả mọi thứ xung quanh.

Buổi tối, đèn được thắp lên. Cái chụp đèn là một chiếc giỏ tre hình ống dán giấy bên trên, và nó nằm trong một cái hộp trang nhã sơn màu đen. Những con rầy xanh khao khát ánh sáng bay vào và đậu trên đèn. Trông chúng thật dễ thương với thân mình màu xanh lá cây và khoảng trống rộng giữa hai mắt. Nếu lấy ngón tay dí lên chúng, chúng sẽ bò ngang, trốn sang mé khác của giỏ đèn. Những con thanh diệp vũ cũng tìm đến.

Một buổi tối, tôi đang đứng ngoài hiên xem pháo hoa thì một phụ nữ xinh đẹp mang gói kẹo đến.

“Cái này cho cháu,” cô nói.

Tôi thấy bảo đó là một “geisha”, rằng geisha là những người đáng sợ, hay lừa gạt. Cô “geisha” kia tiến đến rất gần tôi và nói, “Cháu bé đáng yêu quá! Cháu mấy tuổi rồi?” Cô đặt hai tay lên vai tôi và nhìn thẳng vào mặt tôi, gò má cô suýt chạm vào gò má tôi. Bị vây giữa hai ống tay áo thơm nồng của cô, tôi thậm chỉ còn không biết trả lời thế nào, hai tai đỏ bừng, tay thì vẫn bám chặt lấy lan can, rồi đột nhiên tôi nhận ra rằng cô đến để lừa gạt tôi. Hoảng sợ, tôi luồn xuống dưới ống tay áo của cô rồi chạy vọt đi tìm mẹ. Tôi kể lại chuyện cho mẹ nghe trong khi trống ngực vẫn đập thình thịch, còn mẹ vừa mỉm cười vừa mắng tôi hành xử lỗ mãng. Sau đó, mỗi lần ngắm pháo hoa, tôi lại tự nhủ với mình rằng lần tới nếu cô geisha ấy hỏi, tôi nhất định phải đáp lời, và nếu cô ấy cho kẹo, tôi phải cảm ơn. Nhưng hẳn là cô ấy phật lòng, bởi vì cũng sau lần đó, cô ấy thậm chí không thèm lại gần tôi nữa. Tôi tiếc nuối vì đã không có cơ hội được nói cho cô ấy biết sự hối hận của mình.

Một hôm, tôi cùng bố đi sâu vào một cụm thông dày đặc. Trong không khí phảng phất mùi thông, và khắp nơi trên mặt đất rơi đầy quả thông. Bố đi chậm rãi, nhưng bởi vì tôi còn mải mê nhặt quả thông, nên thi thoảng tôi lại phải chạy theo để bắt kịp bố. Tôi vừa lộn xộn chạy theo bố vừa trò chuyện thân mật trong đầu với đống quả thông mà tôi nhét đầy trong ngực và ống tay áo, rồi chúng tôi thấy một vọng lâu, ở đó có một ông lão với cặp lông mày trắng như tuyết đang cời lá thông. Tôi mừng húm, cứ tưởng đó là ông lão ở vùng Takasago - tôi thực sự nghĩ như vậy - và tôi phá lệ nói rất nhiều chuyện với bố. Khi quay trở về nhà trọ, bố vừa cười vừa kể với mẹ, “Ngày hôm nay Cậu bé Bạch tuộc nhà ta nói năng không ít đâu nhé.”

[1]Ryügü (jö): Tòa lâu đài dưới biển nơi vua Thủy Tề ở.

40

Trở về sau chuyến đi, tôi cảm thấy một nỗi cô đơn tựa như niềm phản bội khi phát hiện ra rằng trong lúc chúng tôi đi vắng, O-Kuni-san và gia đình đã chuyển đến sống ở một nơi xa theo yêu cầu công việc của bố cô bé. Từ đó trở đi, tôi không còn bị những giấc mơ đáng sợ dày vò, hơn nữa, tôi cũng bắt đầu trổ giò. Nhưng trí óc chậm chạp bẩm sinh của tôi cùng thái độ thờ ơ với trường học vẫn không có gì thay đổi. Lý do không chỉ bởi vì cơ thể tôi yếu ớt, mà còn bởi vì cuộc sống học đường với quá nhiều sự phức tạp và quá nhiều sự tổn thương cho một đứa trẻ ngây thơ đã khiến tôi không tài nào yêu thích nó cho nổi. Ngoại trừ một điều may mắn là thầy Nakazawa, người phụ trách lớp tôi khi ấy, là một giáo viên tốt mà tôi vô cùng quý mến, và hơn nữa, chỗ ngồi của tôi ở ngay trước bàn của thầy. Cho dù tôi thường xuyên nghỉ học, thầy cũng không nói gì, và cho dù tôi học kém, nhưng thầy chỉ khúc khích cười.

Dẫu vậy, thầy cũng có một lần mắng tôi, đó là lần tôi đánh nhau với đứa bạn ngồi cùng bàn, Andö Shigeta. Không hiểu vì sao nhưng chúng tôi vô cùng ghét nhau và thường xuyên mâu thuẫn. Một hôm, trong giờ số học, cậu ta một mực bắt tôi phải nhìn vào chiếc bảng con của mình, trên đó cậu ta vừa vẽ một khuôn mặt bị chột một mắt, bên cạnh đó ghi tên của tôi bằng nét chữ nguệch ngoạc. Vì thế tôi vẽ một cái còng lớn bằng gỗ, vẽ thêm mắt và mũi vào đó, ở bên cạnh viết chữ “Mắt tường” và giơ lên cho cậu ta xem. Thế là đột nhiên cậu ta đá vào cẳng chân tôi. Không chấp nhận yếu thế, tôi huých khuỷu tay vào sườn cậu ta. Chúng tôi cứ đấu đá qua lại như thế một lúc thì bị thầy phát hiện; khi hết giờ học, thầy yêu cầu hai đứa ở lại. Thầy hiếm khi trông giận dữ như vậy khi hỏi lý do chúng tôi đánh nhau. Tôi kể lại toàn bộ câu chuyện, không quên nhấn mạnh rằng tôi không phải là kẻ khơi mào, nhưng Shigeta nói dối rằng tôi trêu chọc cậu ta trước, vì thế thầy không cho chúng tôi về nhà, thầy nói, đây là trường hợp “cả hai bên đánh nhau đều xứng đáng bị trừng phạt như nhau.” Những đứa trẻ khác đều vui vẻ cầm đồ đạc bọc trong vải và ra về. Một vài đứa tò mò còn đứng ngoài cửa nhìn vào và cười khúc khích với nhau.

Khi tất cả các học sinh trong trường đều ra về hết, bầu không khí xung quanh trở nên cực kỳ yên tĩnh, mà tôi thì không thích điều này chút nào. Tôi sẽ làm gì đây nếu tình hình cứ thế này và trời tối? Tôi sẽ không được ăn, cũng không được ngủ mất. Khi nào thì bác tôi mới đến đón tôi và xin lỗi thầy? Những ý nghĩ đó cứ quay cuồng trong đầu tôi, và những giọt nước mắt bắt đầu chậm rãi dâng lên trong mắt. Thầy giáo thi thoảng nhìn sang hai đứa chúng tôi, lúc này đang khóc sụt sùi, dù rằng thầy đang giả vờ đọc sách và lén khúc khích cười. Shigeta cứ đưa tay mân mê những sợi dây của chiếc cặp treo trên vai, trên gương mặt không giấu nổi sự nôn nóng muốn về nhà; cuối cùng cậu ta òa khóc và nói, “Thưa thầy, em xin lỗi.”

“Vậy là em đã xin lỗi. Rất tốt. Thầy tha thứ cho em,” thầy Nakazawa nói và cho cậu ta ra về.

Bản thân tôi cũng rất nóng lòng muốn về nhà, nhưng bởi vì cực kỳ phẫn nộ chuyện mình bị bắt ở lại trong khi lỗi không phải ở mình, tôi kiên trì ngăn lại dòng nước mắt cứ chực trào ra. Tuy nhiên, cuối cùng tôi không còn sự lựa chọn nào khác ngoài nức nở. Mà mỗi khi nức nở, tôi lại rì rầm theo thói quen; tôi vừa lấy tay dụi mắt vừa chậm rãi nghĩ về sự đúng sai, công bằng và không công bằng trong chuyện này. Và hễ khi nào tôi xác định rằng mình có lỗi, tôi lại ngừng nức nở ngay lập tức, còn khi không nghĩ như vậy, tôi lại vỡ òa thành tiếng, trong lòng không khỏi cảm thấy cay đắng khi mình bị chèn ép phi lý chỉ bởi vì tôi nhỏ bé và yếu ớt, và nghĩ thầm trong lòng, “Cứ chờ đến khi tôi trả thù tất cả các người.” Cũng có một sự thật nữa là, sau khi đã nức nở nói ra những tâm tư chất chứa trong lòng mình, bạn sẽ cảm thấy con tim mình như được thông khí, và bạn cảm nhận được một cảm giác dễ chịu khôn tả tận sâu trong khí quản của mình.

Trong lúc đó, thầy Nakazawa không biết nói sao với tôi.

“Nếu trò xin lỗi, tôi sẽ cho trò về,” thầy nhắc đi nhắc lại như thế, nhưng tôi không chịu, một hai cho rằng mình không có lỗi. Tuy nhiên, khi chậm rãi lắng nghe những lời thầy nói, cuối cùng tôi cũng hiểu ra rằng, dù cho đó là lỗi của Shigeta khi khơi mào câu chuyện này, nhưng tôi sai vì đã phản ứng với bạn ngay trong giờ học, vì thế tôi cúi gập người trước thầy và nói, “Thưa thầy, em xin lỗi,” và thầy để tôi đi.

Ở nhà, khi nghe chuyện Cậu bé Bạch tuộc nhút nhát của nhà ta vừa đánh nhau, cả gia dình tôi đều cười thật to, như thể đó là một điều kỳ diệu vậy.

41

Hình phạt dành cho thái độ lơ là trong học tập rất trực tiếp: khi tới kỳ kiểm tra tôi hầu như không có gì trong đầu cả. Bị bỏ lại bơ vơ trong lớp học khi mà tất cả những người khác đều nhanh chóng hoàn thành bài kiểm tra và rời đi là một cảm giác khó chịu như một con bạch tuộc bị luộc sống vậy, kể cả là trong giấc mơ. Tồi tệ nhất là bài kiểm tra đọc. Cuối cùng tôi cũng bị gọi đến bàn giáo viên. Tôi phải đọc chương có nhan đề là “Bảo vệ lâu đài Ulsan.” Tôi chưa từng trông thấy thứ gì gọi là “Ulsan” trước đây cả. Tôi chỉ im lặng đứng đó, vì thế thầy giáo cũng không nghĩ ra được việc gì hay hơn để làm, thầy bảo tôi đọc, chỉ cho tôi một vài chữ, nhưng tôi chỉ bị hớp hồn bởi hình ảnh minh họa cảnh Katö Kiyomasa bị quân nhà Minh bao vây và hoàn toàn không hiểu gì về cuốn sách này. Hết kiên nhẫn, thầy giáo ném cuốn sách tập đọc xuống trước mặt tôi và nói, “Vậy thì em đọc bất kỳ phần nào có thể đọc đi.”

“Em không biết đọc phần nào cả,” tôi nói thản nhiên như thể không có gì sai cả.

Ngay cả sau khi các bài kiểm tra đã xong xuôi, tôi vẫn ngồi yên một chỗ. Tôi cho rằng bởi vì tôi ngồi ở hàng thứ nhất nên tôi là số một. Tôi chưa từng nghĩ đến khả năng biển tên của mình treo ở cuối cùng, rằng tôi bị gọi cuối danh sách, hay rằng tôi là học sinh kém cỏi nhất. Này nhé, tôi được xếp chỗ ngay bên cạnh giáo viên ưa thích của mình mà còn không bị mắng chút nào - nếu điều này không chứng minh rằng tôi là số một, thì còn điều gì khác nữa chứ? Bên cạnh đó, tôi chưa từng được gọi lên để nhận bằng, và khi tôi về nhà hớn hở khoe rằng mình là số một, tất cả mọi người đều bật cười và nói, Con giỏi lắm! Con giỏi lắm! Vì thế, đối với tôi mà nói, mọi chuyện đang diễn ra rất suôn sẻ.

Vào khoảng thời gian học kỳ này gần kết thúc, một gia đình mới chuyển về làm hàng xóm nhà tôi. Giữa nhà tôi và nhà họ, cách vườn rau ở sân sau nhà tôi, chỉ có một hàng rào tuyết tùng, nên hai nhà có thể tự do qua lại. Khi tôi ra sau nhà để thám thính xem chuyện gì đang diễn ra, thì một cô bé chạc tuổi tôi cũng bước ra chỗ hàng rào, rồi đột ngột cô bé nấp sau hàng rào ấy, hiển nhiên là cô cũng đang đứng ở khoảng trống giữa hai hàng rào tuyết tùng để lén lút thám thính nhà tôi. Lát sau, cô lại đi ra và liếc tôi một cái, vậy là tôi cũng liếc lại một cái, rồi cả hai nhìn đi chỗ khác. Trong lúc chúng tôi đang lặp đi lặp lại trò này, tôi để ý thấy rằng cô bé đó khá gầy gò, trông có vẻ ốm yếu, và không hiểu sao tôi bỗng cảm thấy mến cô bé ấy. Lần tiếp theo khi bốn mắt chạm nhau, trên khuôn mặt của cô bé như phảng phất ý cười. Thế là tôi cũng cười. Như muốn tránh mặt, cô bé ấy xoay người lại bằng một chân. Tôi cũng làm như vậy. Cô ấy nhảy lên. Tôi cũng vậy. Cả hai cùng nhảy lên. Trong lúc nhảy lên như vậy, tôi dần dần dịch chuyển khỏi bóng cây hạnh, còn cô ấy cũng dịch chuyển khỏi chỗ hàng rào, cả hai đã tiến đến gần hơn đủ để có thể nói chuyện. Nhưng ngay lúc ấy có tiếng gọi vang lên, “Con gái, đến giờ ăn rồi.” Cô bé nói, “Vâng,” rồi vội vàng chạy đi.

Tôi tiếc nuối quay vào nhà, vội vàng ăn cho xong bữa, rồi lại đi ra. Cô bé đã ở đó chờ từ lúc nào.

“Chúng mình chơi đi,” cô nói và tiến về phía tôi với vẻ thân thiện. Bởi vì tôi đang chuẩn bị sẵn sàng tinh thần để nhảy vài lần nữa rồi mới bắt quen, nên tình huống bất ngờ này không khỏi khiến tôi lúng túng đến đỏ bừng mặt, nhưng tôi vẫn nói, “Ừ, chơi đi,” và tiến lại gần phía cô bé. Lúc này, cô bé đã không còn xấu hổ nữa mà hỏi tôi rành mạch, “Cậu mấy tuổi rồi?”

“Chín,” tôi đáp.

“Tớ cũng chín,” cô hơi mỉm cười, rồi bổ sung thêm một điều mà có lẽ chỉ người lớn mới nói, “Nhưng bởi vì tớ sinh vào dịp năm mới nên hơi lớn so với tuổi.”

“Tên cậu là gì?” tôi hỏi.

“Kei,” cô bé nói một cách rành mạch.

Sau khi chúng tôi báo tên cho nhau theo thể thức làm quen và trao đổi dăm câu chào hỏi của cuộc gặp gỡ ban đầu, O-Kei-chan nói, “Tớ sắp đi học rồi. Chúng ta hãy đi học cùng trường nhé.”

Khỏi phải nói, tôi rất mừng khi nghe thấy câu ấy. Vì thế tôi vắt óc ra để liệt kê những điểm tốt của trường mình, những câu chuyện về đạo đức tuyệt vời ra sao, thầy giáo lớp tôi dịu dàng như thế nào, cùng vô vàn những điều khác hòng thuyết phục O-Kei-chan tới lớp mình. O-Kei-chan rất sôi nổi và không rụt rè chút nào; cô bé có cặp mắt tròn trong sáng và mái tóc đen mướt. Trên cặp má mềm mại và nhợt nhạt của cô, tôi có thể trông thấy màu rất đẹp của máu. Với tính cách mạnh mẽ và già dặn trước tuổi, tôi cảm thấy rằng cô bé có xu hướng coi mình như nữ hoàng trước tôi, một cậu bé nhút nhát, đầu óc chậm chạp, và non nớt so với tuổi. Nhưng tôi hài lòng với quyết định rằng tôi sẽ khom mình trước tiếng gọi của vị nữ hoàng này, người mới xuất hiện ở đây để cai trị tôi.

42

Một hôm, khi trông thấy O-Kei-chan được bà đưa tới trường, trống ngực tôi đập rộn ràng. Kể từ ngày hôm đó, cô bé cầm cuộn vải bọc đồ đến lớp và vì là người mới nên được xếp ngồi ở hàng đầu, ngay bên cạnh tôi. Tôi không thể tập trung vào bài học và thường xuyên đưa mắt liếc sang phía cô. O-Kei-chan thì kiên trì cúi nhìn xuống, trông ngoan ngoãn và khiêm nhường. Vào giờ ra chơi, do vẫn chưa có ai để kết bạn, cô nhìn lơ đãng. Tôi muốn nói chuyện với cô nhưng vẫn ngậm miệng im như hến bởi vì tôi sợ mọi người sẽ cười nhạo mình. Hẳn là cô bé cũng biết tôi đang cảm thấy như thế nào, nhưng cô giả vờ không biết và tỏ ra không quan tâm. Rốt cuộc tôi trải qua các tiết học trong ngày hôm ấy với mở cảm xúc hỗn độn. Trên đường về nhà tôi nghĩ, mình sẽ nói về chuyện này, mình sẽ hỏi cô ấy về chuyện kia. Ngay khi về đến nhà, tôi chạy vội ra sân sau và thấy cô đang một mình chơi với quả bóng.

“O-Kei-chan!” Tôi hô to và chạy nhào về phía cô. Tuy nhiên, O-Kei-chan lại khinh khỉnh nói, “Tớ sẽ không chơi với đồ học dốt trong lớp,” rồi nhanh chóng bỏ vào nhà. Những kỳ vọng vỡ tan, tôi buồn rầu trở về và kể với bác nghe chuyện này.

Tối hôm đó, khi cả nhà tụ tập trong phòng ăn như thường lệ, lần đầu tiên tôi được mọi người nói cho biết - một cách chắc chắn - rằng tôi quả thực đúng là kẻ học dốt trong lớp. Ban đầu tôi bướng bỉnh cho rằng mình là số một. Nhưng khi nghe mọi người thông báo rằng gần đây thầy giáo vừa mới cảnh báo với gia đình rằng mặc dù thầy không muốn đối xử quá đáng với tôi - đứa con thiểu năng của họ - nhưng với tình hình trên lớp của tôi hiện tại, thầy sẽ không thể nào cho tôi lên lớp được, vì vậy thầy hy vọng rằng tôi sẽ chú ý hơn một chút trong những kỳ kiểm tra tiếp theo, tôi đã bật khóc. Đột nhiên tôi cảm nhận được một cách trọn vẹn nỗi xấu hổ của việc là học sinh dốt trong lớp trong suốt thời gian này. Chính vì tin rằng tôi bị thiểu năng nên thầy giáo mới cho phép tôi thích nghỉ bao nhiêu ngày cũng được, và cũng không hề mắng mỏ cho dù tôi học hành chểnh mảng ra sao. Suy cho cùng, tôi bị coi là một kẻ ngốc mà. Ngay cả tôi cũng biết thật xấu hổ khi là học sinh dốt trong lớp. Nhưng sở dĩ tôi không học là bởi vì tôi cứ nghĩ mình là số một bất kể tôi lười biếng đến đâu chăng nữa. Giá mà mọi người nói cho tôi biết mọi chuyện sớm hơn, tôi sẽ ôn bài, tôi sẽ không trốn học. Càng nghĩ, tôi càng hận tất cả mọi người. Những ý nghĩ sôi sục trong đầu tôi, tôi nghĩ đến chuyện nọ lại khóc, nghĩ đến chuyện kia lại nức nở, cứ như vậy cho đến khi bác tôi, lúc này cũng đang khóc vì thương cảm, đưa tôi về phòng và nói, “Con không cần phải khóc, con không cần phải khóc.”

Kể từ đó, tôi được dành riêng một chiếc bàn nhỏ và được yêu cầu phải ôn lại bài học của từng ngày, chuẩn bị cho ngày hôm sau, và thi thoảng tóm tắt lại những gì tôi đã học. Bác tôi phụ trách môn toán, tập viết, và bất kỳ điều gì bác có thể làm cho tôi, còn các chị gái sẽ đảm nhiệm phần còn lại. Tôi đau đớn và tức giận khi hằng ngày phải đối mặt với O-Kei-chan trên lớp. Nhưng kể từ ngày đó, tôi không bao giờ nghỉ học nữa. O-Kei-chan thì hoàn toàn không bận tâm về tất cả những chuyện này và vô tư chơi đùa với bạn bè của mình. Vì lo lắng khi ở chung với các bạn cùng lớp, nên tôi ngày càng khép mình lại, nhưng nỗi khổ sở khi về nhà và bị ép phải ngồi vào bàn học cũng không khá khẩm hơn là bao. Thật xấu hổ khi phải nói ra chuyện này, nhưng tôi không hiểu bất kỳ điều gì mà tôi đã học từ đầu cho đến lúc ấy. Vì thế, tôi rất nản chí và thường xuyên có ý định bỏ cuộc, nhưng rồi tôi lại bị bánh kẹo và những phần thưởng khác đánh lừa, tới cuối cùng tôi cũng bắt đầu vỡ vạc ra chút ít, như người ta lột vỏ hành, hết lớp này đến lớp khác. Khi tôi học được một chữ, rồi hai chữ, trong sách tập đọc, khi tôi giải được một bài toán, rồi hai bài, kiến thức tuần tự tiến lên, cuối cùng tôi cũng có được một chút tự tin. Và cộng thêm tính tò mò cố hữu của tôi, tôi bắt đầu tự giác lấy bàn ra học sau khi tan trường trước khi có người giục. Khỏi phải nói, động cơ ở đây là để được khen. Mặc dù kỳ kiểm tra tiếp theo đến rất nhanh, nhưng nhờ chăm chỉ học hành, trong học kỳ sau tôi đã xếp thứ hai trong lớp. O-Kei-chan thì xếp thứ năm trong đám con gái.

43

Khi tôi đột nhiên có được kiến thức và thế giới xung quanh trở nên tươi mới và sáng sủa như vừa lột xong một lớp vỏ, thì cơ thể tôi cũng ngày càng trở nên khỏe mạnh hơn trông thấy. Chẳng mấy chốc, tôi đã trở thành người mạnh thứ hai hay thứ ba trong tất cả mọi trò chơi - vật nhau, cướp cờ, bất kể trò nào. Tới lúc tôi trở thành người đứng đầu lớp, kế vị đứa bé tên là Shöda đã chuyển đi, nỗi hối hận và tức giận về O-Kei-chan đã biến mất từ lâu. Vì thế, lúc này tôi hy vọng rằng chiếc chồi non tình bạn vốn đã nhú lên ngay từ ngày đầu tiên, đang sẵn sàng chờ mở lá, nhưng rồi lại bị lụi tàn trước khi kịp nở thành hoa, sẽ hồi sinh một cách ngọt ngào lần nữa trong ánh nắng của mùa xuân. Và tôi cảm thấy hình như O-Kei-chan cũng muốn như vậy. Nhưng vì lý do nào đó mà chưa có cơ hội phù hợp nên cả hai đều chờ đợi.

Trong xã hội của trẻ con, cũng giống như trong xã hội của loài chó, một đứa khỏe mạnh sẽ khiến toàn bộ đám còn lại phải quy phục. Khi Shöda đi rồi, toàn bộ thế giới này trở thành của riêng một mình tôi, và tôi tận dụng sự phục tùng của mọi người, ở mức độ nào đó thậm chí còn áp đặt ý chí mạnh mẽ của mình lên chúng, dù rằng tôi muốn thể hiện rằng mình là đứa biết thông cảm nhất trong số các “thủ lĩnh đầu đàn” sàn sàn tuổi tôi.

Một lần, Choppei bị cả lớp tẩy chay vì vụ gì đó và bị mọi người đem biệt danh Người hầu Mặt khỉ ra để chế giễu. Với khuôn mặt đỏ ửng lên, cậu ta chạy qua chạy lại cào cấu tất cả mọi người, rồi cuối cùng, có lẽ không chịu nổi nữa, cậu ta gục mặt xuống bàn và òa lên khóc. Khi chứng kiến cảnh này, tôi đột ngột lao vào giữa đám đông ồn ào đang bu lấy cậu ta và hạ một mệnh lệnh nghiêm khắc cấm bất cứ ai gọi Choppei là Người hầu Mặt khỉ. Sau đó, cậu ta được giải thoát khỏi biệt danh bẩn thỉu kia. Bằng hành động này, tôi đã đáp lễ cho nghĩa cử nhỏ ngày trước khi cậu ta chia quả mọng đỏ cho tôi vào ngày đầu tiên tôi đến trường - một ân huệ mà tôi chưa bao giờ quên.

Iwahashi vẫn là kẻ cầm đầu trong đám hay bắt nạt bạn bè, nó thường xuyên chơi trò bẩn đối với đám con gái. Một hôm, khi thầy giáo như thường lệ dẫn cả lớp tới đồi đất đỏ để tập thể dục, tôi trông thấy Iwahashi một mình loanh quanh trong một lùm cây nhặt quả “rận chó[1]”. Tôi đoán rằng nó lại sắp chơi trò gì ranh mãnh. Quả nhiên, khi cậu ta đi ra, hai tay đều cầm rất nhiều quả rận chó, mắt thì sáng lấp la lấp lánh như đang đóng vai Takechi Mitsuhide[2]. Đám con gái vốn luôn luôn e sợ cậu ta nên không có ai dám bén mảng xung quanh. Thật không may, lúc ấy O-Kei-chan lại vô tình chạm trán cậu ta. Iwahashi nào chịu để cơ hội này trôi qua, cậu ta lập tức xông ra chặn đường cô bé và ném những quả rận chó vào cô.

“Đừng, đừng làm thế!” O-Kei-chan lấy ống tay áo che người và chạy đi, nhưng Iwahashi đuổi theo và liên tục ném rận chó. Vì muốn tránh né nên cô bé ngã khụy xuống và bật khóc. Tôi lao ra, đè cậu ta xuống đất, rồi vừa ngoảnh nhìn lại khuôn mặt giận dữ của cậu ta vừa tiến về phía O-Kei-chan. Lúc này cô bé đã đứng lên nhưng vẫn giấu mặt sau ống tay áo và chưa kịp phủi bụi đang đám trên người. Tôi lại gần và lần lượt gỡ toàn bộ đám hạt rận chó bám vào tóc và áo kimono của cô. Ban đầu, O-Kei-chan vẫn tiếp tục khóc nấc lên trong cơn giận dữ, mặc kệ bản thân đang được người khác chăm sóc mà không biết người đó là ai. Tuy vậy, cuối cùng cô cũng hé mắt nhìn qua ống tay áo như thể muốn biết xem ai là người đang đối xử tốt với mình như thế, và khi bốn mắt chạm nhau, cô nở một nụ cười dễ chịu. Cặp lông mi dài của cô ướt sũng, và cặp mắt to tròn tỏa sáng thật đẹp đẽ. Sau lần đó, tình bạn giữa chúng tôi bắt đầu và nảy nở nhanh chóng, giống như chiếc chồi múp của một đóa mẫu đơn, đang ấp ủ hương thơm và sẵn sàng chờ ngày khai nhụy, bắt đầu mở cánh trong cơn gió đùa nhè nhẹ do những cánh bướm tạo ra.

[1]Inu-jirami: Có lẽ tác giả nhắc đến một loài cây thuộc họ cần nước, thường được gọi là cây tô-li. Hạt của nó có gai, dễ bám vào quần áo và tóc.

[2]Một nhân vật trong vở kịch Taikö ki, lấy nguyên mẫu từ tướng Akechi Mitsuhide.

44

Khi từ trường về, chúng tôi nôn nóng ôn lại bài đã học và chuẩn bị cho ngày hôm sau rồi vội vàng chạy ra khoảnh sân sau đầy kỷ niệm. Hôm nào tôi ra trước, tôi sẽ chơi lò cò hoặc nhảy dây, trong lòng sốt ruột chờ cô bé xuất hiện. Hôm nào O-Kei-chan ra trước, cô bé sẽ đập quả bóng temari như thể muốn tôi nghe thấy tiếng động đó. Quả bóng được bọc trong những sợi dây len màu xanh và đỏ rất đẹp mắt. Ngay khi trông thấy nhau, trước tiên chúng tôi sẽ “oẳn tù tì” rồi mới chơi trò khác. Mỗi lần thua cuộc, O-Kei-chan lại lắc lắc vai như thể đang rất giận dữ.

Cô Năm Mới, O-Yone lên mười,

Cô Năm Mới, O-Yone hai mươi

Tôi chơi bóng rất giỏi và hiếm khi để trượt bóng. O-Kei-chan hiếm khi nào đủ kiên nhẫn để chờ tôi mất lượt, nên thường ném một sợi dây hoặc chọc gậy vào quả bóng để tôi làm rơi nó.

Onenjo säma, oyonejo tö yo.

Onenjo säma, oyonejo hatachi yo.[1]

O-Kei-chan mặt đỏ bừng vì hứng khởi, vừa gật đầu vừa đập bóng và xoay vòng quanh. Mỗi lần cô xoay người, mái tóc dài lại tung lên đùa giỡn trên vai, đôi chân xoắn lại với nhau như lũ chuột. Vì không muốn bị mất lượt, thi thoảng cô còn dùng cằm hoặc dùng ngực đỡ bóng, cho đến khi lảo đảo loạng choạng.

Hö-hokekyo[2], chim chích bông,

Chim chích bông,

Tình cờ đi tới kinh thành,

Đi tới kinh thành,

Nghỉ ngơi trên cành cây mận,

Mơ về một người hầu ở Akasaka,

Và một lá thư rơi ra

Từ dưới chiếc gối,

Một lá thư rơi ra

Mời O-Chiyo đến...

Thi thoảng O-Kei-chan mải mê chơi đến nỗi không để ý rằng gấu quần đang bị kéo lê trên mặt đất. Giống như những chú thỏ tinh nghịch, cả hai tay của cô cùng giơ lên phía trên quả bóng trong khi giọng hát non nớt loạng choạng thoát ra từ đôi môi đang mở tròn. Cho đến tận bây giờ, những bài hát thơ ngây được cất lên bằng chất giọng thánh thót của cô vẫn là một tiếng vọng trìu mến còn đọng mãi trong tai tôi. Khi mặt trời lặn trên cánh đồng và mặt trăng chập chờn thế chỗ, những con nhậy tí hon vẫn giấu mình trong những tán lá ở vườn hoa nhao ra nhảy múa, những đôi cánh xám rung lên điên cuồng. Trong bụi cây thông đen ở chùa Thiếu Lâm, đàn quạ bay về tíu tít tranh giành cành cây với nhau, và trong “cây san hô” ở vườn nhà tôi, lũ chim sẻ liên mồm kêu chíp chíp. Sau đó chúng tôi cùng nhìn lên mặt trăng đã nhạt bớt màu vàng và hát “Bài ca thỏ”:

Thỏ ơi, thỏ ơi,

Thỏ nhảy cao thế, thấy được gì?

Tôi thấy ánh trăng thương mến đêm mười lăm

Và tôi nhảy

Nhảy, nhảy, nhảy!

Chúng tôi chụm hai đầu gối lại, đặt tay lên đó, rồi khom người nhảy. Lức này cặp chân của hai đứa đã mỏi nhừ nên chỉ sau vài lần nhảy đã hoàn toàn mất sức bật và chúng tôi ngã ngồi xuống. Chuyện này với chúng tôi cũng rất hài hước, và cả hai cùng phá ra cười. Thường thì chúng tôi mải mê chơi đến mức quên hết mọi thứ xung quanh, cho đến khi có người nhà ra gọi vào. Cho dù chúng tôi đang làm gì, O-Kei-chan lúc nào cũng ngoan ngoãn, hễ khi nào nghe thấy tiếng gọi, “Con gái, đến giờ vào nhà rồi”, cô đều trả lời “Vâng” một tiếng rất gọn ghẽ. Và mặc dù trên mặt cô thể hiện rõ sự miễn cưỡng, nhưng cô vẫn nhanh chóng quay về nhà.

Khi chia tay, chúng tôi thường ngoắc tay cam kết ngày mai sẽ chơi tiếp và lắc ngón tay mạnh đến độ có cảm tưởng chúng sắp rụng khỏi bàn tay. Chúng tôi vẫn nói với nhau rằng nếu nói dối, ngón tay của chúng tôi sẽ bị thối rữa. Tôi không biết chuyện như vậy có thật sự xảy ra hay không, nhưng dù sao tôi cũng hơi cảm thấy sợ hãi.

[1]Một trong những bài hát đếm nhịp khi chơi bóng temari. Khi viết về các phong tục cuối thời kỳ Edo, Kiyü Shöran (1830) và Kitamura Nobuyo (1784-1856) trích dẫn một phiên bản của bài hát này và nói rằng “Ý nghĩa của nó rất khó đoán”. Bản dịch tạm ở đây được dựa trên gợi ý của Kyoko Selden rằng nenjo có thể có nghĩa là “năm mới”. Jo trong oyonejo là hậu tố mang nghĩa “cô gái” hay “người phụ nữ”.

[2]Từ tượng thanh mô phỏng tiếng chim chích bông. Từ này cũng được cho là mang đến điềm lành bởi vì nó còn có nghĩa là “Kinh Pháp Hoa”. Đoạn tiếp theo là một trong những bài hát chơi bóng temari rất thịnh hành vào thời kỳ đó.

45

Dần dà, những sự dè dặt ban đầu giữa chúng tôi cũng biến mất, và những cuộc cãi lộn nho nhỏ thi thoảng xảy ra - tôi vốn là người rất ghét bị thua trong bất kỳ việc gì mà chúng tôi làm cùng nhau, còn O-Kei-chan thì thường nổi cáu mỗi khi bị thua. Một hôm, chúng tôi đang chơi bóng như thường lệ, nhưng đáng tiếc là càng chơi, “món nợ” mà O-Kei-chan tích lũy lại càng nhiều lên, cuối cùng cô nói tôi lừa gạt và vừa khóc vừa dùng hai ống tay áo quật vào tôi. Trong lúc cô bé đang đánh tôi thì đột nhiên quả o-tedama[1] trong ống tay áo rơi ra ngoài. Nhưng cô thậm chí còn chẳng thèm nhặt chúng lên.

“Tớ không muốn chơi với cậu nữa,” cô nói, tay vẫn che mặt. Và cô chạy đi, không thèm nghe những lời xin lỗi rối rít của tôi.

Còn lại một mình, tôi chẳng biết nghĩ gì khác ngoài nhặt quả o-tedama của cô lên và mang chúng về nhà. Nhưng rồi chính hành động này lại trở thành một mối lo lắng. Tôi nên làm gì đây nếu như O-Kei-chan tức giận đến nỗi nói rằng tôi đã lấy chúng đi? Có nên lặng lẽ mang chúng để lại chỗ cũ không? Hay là nên mang chúng đến trường và đặt chúng lên bàn của cô ấy? Những kế hoạch và dự định như vậy cứ đến rồi lại đi trong đầu tôi trong khi tôi lo lắng không thôi khi thấy rằng mình đang cầm trên tay thứ thuộc về người khác. Vì thế tôi trằn trọc mất ngủ cả đêm hôm ấy.

Sáng hôm sau, trong tâm trạng nửa phần sợ gặp cô ấy, nửa phần lại sợ không gặp cô ấy, tôi đến lớp sớm nhất và ngồi vào chỗ của mình rồi ảo não nghĩ về chuyện đã xảy ra ngày hôm qua, và trước đó nữa, cứ như vậy cho đến khi từng người hay từng nhóm hai ba người lần lượt kéo vào khiến bầu không khí trở nên ồn ào. Nhưng O-Kei-chan không xuất hiện: Phải chăng cô ấy giận dữ đến mức quyết định sẽ nghỉ học hôm nay? Nhưng tôi cũng không thể thắc mắc như vậy bởi vì thường thì cô ấy cũng chưa đến trường vào giờ này. Khi Choppei, một trong những người hay đến khá muộn, cũng đã đến và giờ học gần bắt đầu, tôi ngày càng trở nên sốt ruột hơn. Không thể kiềm chế chính mình, tôi chạy ra ngoài cổng trường và nhìn ra xung quanh và cuối cùng cũng thở phào nhẹ nhõm khi thấy cô bé đang cầm sách vở từ sườn dốc đi xuống. Không hay biết gì về chuyện này, O-Kei-chan đi qua cổng. Tôi điềm nhiên từ cánh cổng bước ra, và chúng tôi nhìn nhau. Cô nở nụ cười bẽn lẽn nhưng không nói lời nào, và cứ thế đi vào lớp. Vậy là cô ấy không sao. Cô ấy cũng không có vẻ quá giận dữ.

O-Kei-chan dành cả ngày hôm đó chơi đùa vui vẻ với bạn bè. Về đến nhà, khi tôi đang ngồi ở bàn học mà băn khoăn không biết có nên ra sân sau không thì đột nhiên cánh cửa mắt cáo ở tiền sảnh khẽ khàng mở ra và một giọng nói nhỏ nhẹ cất lên, “Tớ vào có được không?”

Tôi nhảy dựng lên chạy ra ngoài và ngay từ chỗ cái bình phong đã hô lên, “O-Kei-chan!” rồi đứng ở bậc thềm. Có lẽ bởi vì đây là lần đầu tiên cô tới chơi, nên trông cô hơi bẽn lẽn, nhưng dẫu vậy, cô vẫn nở một nụ cười thật rạng rỡ khiến cho nỗi lòng nặng nề của tôi tan biến sạch sẽ. Tôi mời vị khách hiếm gặp này vào phòng học của mình ở ngay bên cạnh tiền sảnh.

O-Kei-chan bồn chồn một lúc, cô nhìn quanh quất trong phòng, tựa người vào ô cửa sổ cao đến khuỷu tay để nhìn ra chiếc đèn đá trong bụi hoa đỗ quyên. Nhưng sau khi đã điềm tĩnh lại, cô đặt cả hai tay lên chiếc chiếu tatami và xin lỗi với vẻ áy náy rõ rệt: “Tớ xin lỗi vì đã hành xử thật tệ ngày hôm qua.”

Đối mặt với một lời xin lỗi trịnh trọng như kiểu người lớn thế này khiến tôi hơi bối rối một chút, và khi nghĩ đến tất cả những rắc rối mà cô đã gây ra cho tôi, tôi thậm chí còn bất mãn vì chính mình đã đi xin lỗi cô bé. O-Kei-chan kể rằng ngày hôm qua khi vào trong nhà, cô đã bị mắng. Cô cũng xin lại quả o-tedama. Vì thế, sau khi làm khó dễ một lát, cuối cùng tôi cũng lôi chúng từ trong ngăn kéo ra đưa cho cô. Cô nói, vải lụa crepe yüzen[2] để làm những quả này ban đầu lấy từ một chiếc kimono dành cho những dịp đặc biệt, có thể thấy những mảnh họa tiết hoa hồng và cánh chim phượng trên đó. Đây là câu chuyện về quả o-tedama mà hai chúng tôi cùng chơi. Khi chúng bay lên bay xuống như những cánh bướm, khuôn mặt của O-Kei-chan cũng gật lên gật xuống, khiến những chùm tua rua sọc xanh đỏ trên kẹp tóc của cô bay phất phơ xung quanh hai bên thái dương của cô.

Tôi đổi ngựa,

Tôi đổi kiệu,

Tôi đổi ngựa,

Tôi đổi kiệu...

Vì cố gắng không để rơi quả o-tedama khỏi tay, O-Kei-chan vẫn tiếp tục sử dụng những mánh lới xấu.

Chảy dưới chiếc cầu nhỏ,

Chảy dưới chiếc cầu nhỏ...

Cô dùng những ngón tay mảnh khảnh tạo thành hình cây cầu trên chiếc chiếu tatami và để quả o-tedama đi qua đó một cách dễ dàng. Đôi tai xinh đẹp của cô đỏ bừng lên vì hào hứng. Càng tức giận, cô càng trở nên bướng bỉnh, và mỗi lần phạm lỗi vào thời điểm quan trọng, cô lại ném quả o-tedama vào người tôi hoặc đánh vào ống tay áo của tôi. Tuy nhiên, kể từ hôm đó trở di, ngày nào cô cũng mang chúng tới nhà tôi để chơi với tôi.

[1]Nghĩa đen là “bóng ném”: Đó là những túi đậu nhỏ cỡ lòng bàn tay, được trang trí và dùng cho trò chơi sử dụng bàn.

[2]Yüzen chirimen. Một kỹ thuật nhuộm lụa mới ra đời trong thời kỳ Genroku (1688-1704).

46

Sau khi chúng tôi học xong một bài tập đọc, thầy giáo thường bảo chúng tôi chơi trò “đọc tiếp sức” với lý do là để ôn lại bài. Cả lớp được chia thành hai nhóm con trai và con gái, và nếu một người ở nhóm này đọc sai, một người ở nhóm kia sẽ nhanh chóng cướp lượt; trò này cứ tiếp diễn như thế cho đến khi hết bài tập đọc, và nhóm nào đọc được số trang nhiều hơn sẽ giành chiến thắng. Các cậu con trai thường rất hay mạnh miệng khoe khoang về đủ thứ, nhưng tới cuộc thi đọc thì chúng lại trở thành những kẻ yếu đuối và bao giờ cũng bị đánh bại. À, khi đến lượt bạn đọc mà bạn lại lo lắng và đọc vấp, thì lượt của bạn cũng sẽ bị cướp.

Vào lần này, khi được chọn là người bắt đầu cuộc thi, vì rất để ý đến điều đó nên tôi bắt đầu đọc thật chậm. Khi thấy tôi dè chừng một cách khác thường như vậy, cả lớp tỏ ra khinh miệt, nhưng thật đáng tiếc cho họ, tôi không phạm phải bất kỳ sai sót nào nên cứ đều đều đọc với kiểu chán ngắt như thế. Đoạn tập đọc nói về việc Hoàng tử Yamato Takeru quét sạch cỏ sang hai bên tạo thành đường đi, đoạn nói về những con ngựa lang, ngựa hồng, và ngựa đốm, đoạn nói về một người da đen cưỡi lạc đà vượt qua sa mạc, và nhiều đoạn khác - tôi cứ đọc hết trang này đến trang khác, cho đến khi tới chương nói về cuộc xâm lược Nhật Bản của quân Mông Cổ ở gần cuối sách. Bên cạnh đoạn văn có bức vẽ minh họa cảnh những chiến thuyền Trung Quốc bị phá hủy tả tơi, xung quanh là những chiếc xuồng nhỏ của người Nhật, và đoạn văn ấy còn viết rằng vào đêm 30 của tháng Bảy nhuận năm đó, một trận gió trời thổi tới, khiến cho đội quân hùng hậu 100.000 người giảm xuống còn vẻn vẹn ba người.

Tiếc nuối vì họ đã mất cảnh giác, nhóm con gái cứ chực chờ cơ hội giơ tay để tiếp lượt của tôi, kể cả khi tôi chỉ ngừng lại để thở lấy hơn. Thích thú trước sự hoang mang của cả đám, tôi càng trở nên bình tĩnh hơn và tiếp tục đọc tới chương “Đồ gốm” - tới đây, thật đáng tiếc, tôi trở nên ấp úng. Bởi vì tôi không cảm thấy hứng thú với các các phương pháp sản xuất đồ gốm, nên trong những buổi ôn bài tôi thường bỏ qua phần này. Sau khi miễn cưỡng nhường lượt chơi của mình cho nhóm con gái, tôi đưa mắt nhìn quanh để xem kẻ đang thù ghét mình nhất là ai và bất ngờ nhận ra người đó là O-Kei-chan. Ngay lập tức, một cảm giác khó tả, nửa vui mừng, nửa bất mãn ập đến trong tôi. Có vẻ như cô bé đang khóc vì tức giận, vì vành mắt cô vẫn còn đỏ hoe. Và mặc dù cô đã đứng lên và cầm lấy sách, nhưng vì khóc quá mà cô không đọc được chữ nào. Chốc lát sau, tiếng chuông báo hết giờ vang lên và ngày hôm đó nhóm con trai giành được chiến thắng hiếm hoi.

Sau khi tan học, khi O-Kei-chan lại đến nhà chơi với tôi như thường lệ, mí mắt của cô vẫn hơi sưng lên, và cô có vẻ lúng túng xấu hổ.

“Lúc ấy tớ thực sự rất bực mình,” cô nói. Sau đó cô rút từ trong ống tay áo ra một sợi dây bện và nói, “Chúng mình chơi trò xếp hình bằng dây đi.” Chúng tôi quỳ gối ngồi xuống, hai đầu gối chạm vào nhau. Cô lấy sợi dây xinh đẹp ấy đưa vào hai cổ tay xanh xao của mình, và sợi dây căng ra giữa những ngón tay mảnh khảnh, cong cong của cô rồi biến hóa thành rất nhiều hình dạng khác nhau.

“Nước,” cô nói, rồi chuyền sợi dây cho tôi. Tôi thận trọng đón lấy nó.

“Hình thoi.”

Khéo léo điều khiển lần lượt mười ngón tay qua sợi dây, cô tạo thành hình cây đàn koto. “Kéo kéo, đây là cây đàn koto.”

“Ngài Khỉ.”

“Trống lắc tay.”

Hằng ngày chúng tôi cứ thân thiết chơi với nhau như vậy, như thể tình bạn giữa hai người được dệt trên những ngón tay và trao qua đổi lại đến mê mải.

47

Một hôm trong giờ đạo đức, thầy giáo nói, “Ngày hôm nay, thay vì thầy kể chuyện, từng trò sẽ kể chuyện cho cả lớp nghe.”

Thầy kéo ghế lại gần lò sưởi và hơ tay lên trên, sau đó thầy gọi một vài đứa bạo dạn hoặc có tính tình hài hước lên bảng kể chuyện. Ngay cả những đứa thường ngày vẫn là thủ lĩnh trong đám cá biệt hay những cây hài của cả lớp cũng cứng ngắc người lại hoặc ấp úng khi đứng trên bục giảng, chúng phải đối mặt với ánh mắt nhìn chăm chú từ mọi hướng của các bạn học.

Đứa bị gọi lên đầu tiên là một cậu bé cao gầy tên là Tokoro, người luôn đóng vai “ngựa” trong trò nhảy ngựa.

“Thưa thầy, em sẽ kể một câu chuyện về những hòn đá ạ,” cậu ta nói mà hai đầu gối run rẩy.

“Câu chuyện về những hòn đá à? Nghe thú vị đấy,” thầy giáo khích lệ.

“Một hòn đá bay từ hướng kia tới,” Tokoro lắp bắp kể, “một hòn đá khác bay từ hướng khác sang, và khi chúng chạm mặt nhau giữa đường, cả hai cùng hét lên, ‘Đá nó cho tôi!’” Sau đó cậu ta vội vàng bước xuống khỏi bục rồi chạy về chỗ.

Người tiếp theo là Yoshizawa, một cậu bé vô cùng thật thà với hàng răng cửa dưới gần như che kín hàng răng cửa trên. Cậu ta vừa khúc khích cười vừa nói, “Em sẽ kể một câu chuyện về những ngọn giáo.”

“Lần này là chuyện về những ngọn giáo. Nghe cũng rất thú vị đấy,” thầy giáo nói.

“Một ngọn giáo bay từ hướng kia tới,” Tokoro lắp bắp kể, “một ngọn giáo khác bay từ hướng khác sang, và khi chúng chạm mặt nhau giữa đường, cả hai cùng hét lên, ‘Tha cho tôi một giáo!’” Kể chuyện xong, Yoshizawa cũng bước xuống.

Tất cả những câu chuyện dễ kể đều bị khai thác hết, khiến tôi không khỏi thấy chột da trong lòng khi mà tên của tôi lại xui xẻo bị gọi lên sau cùng. Nhờ có bác mà tôi biết rất nhiều câu chuyện, chỉ có điều tôi không tài nào nghĩ ra được câu chuyện nào vừa ngắn vừa dễ kể cả. Rốt cuộc, tôi kể câu chuyện “về một con kappa có cái đĩa trên đầu đã bị khô hết nước.” Sau khi bắt đầu kể, tôi dần tự tin hơn, vừa kể vừa thi thoảng liếc nhìn về phía O-Kei-chan, và cuối cùng tôi cũng kể xong, dù có hơi ngắc ngứ. Khi tôi cúi chào thầy trước khi quay về chỗ, thầy mỉm cười và gõ nhẹ lên đầu tôi.

“Thầy không nghĩ là em lại bạo dạn đến thế.”

Bây giờ tới lượt nhóm con gái, nhưng không có ai tự nguyện bước lên, tất cả đều ngồi im ở bàn. Vì thế, thầy giáo quyết định gọi tên theo thứ tự chỗ ngồi, bắt đầu với người ngồi ở vị trí đầu tiên. Nhưng không ai muốn lên cả, vài người thậm chí còn bật khóc. Cuối cùng, thầy gọi tới người ngồi ở vị trí thứ năm, O-Kei-chan. Có vẻ như cô đã hạ quyết tâm từ trước nên khi nghe thầy gọi tên, cô ngoan ngoãn bước lên bục giảng. Dù vậy, cũng không lấy làm lạ khi cô đỏ bừng hết cả mặt lẫn cổ và luôn luôn cúi nhìn xuống.

Tuy nhiên, sau một lúc, cô vung hai tay như thể đang bơi trong giấc mơ rồi bắt đầu lên tiếng, cứ nói xong một cụm là cô lại dừng lại. Trong tôi tràn ngập sự lo lắng và cảm thông với cô, nên tôi cũng sốt ruột tới nỗi không thể nhìn thẳng vào mặt cô. Nhưng theo diễn tiến của câu chuyện, đôi mắt to tròn, sáng rõ của cô ngày càng trở nên điềm tĩnh và tinh nhanh hơn, và tư thế của cô trông giống người lớn và rất sắc sảo. Với chất giọng mạch lạc, cô tiếp tục kể câu chuyện một cách nhanh chóng và gọn ghẽ - đó là câu chuyện về chiếc trống Hatsune mà tôi đã từng kể cho cô nghe. Bị thu hút bởi sự điềm tĩnh đến bất ngờ của người kể và bị hấp dẫn bởi câu chuyện lạ lùng, hấp dẫn, cả lớp trở nên yên lặng khác thường.

Khi cô kể xong, thầy giáo nói, “Ngày hôm nay tất cả các bạn trai đều kể chuyện rất tốt. Và mặc dù chúng ta cũng đoán rằng sẽ không có bạn gái nào chịu đứng lên, nên lẽ ra các bạn ấy sẽ thua cuộc, nhưng bây giờ chỉ cần có câu chuyện của bạn Kei-san, nhóm con gái đã thắng cuộc. Thầy rất ấn tượng.”

Đám con gái hài lòng mỉm cười. O-Kei-chan đỏ bừng mặt và khiêm nhường hạ mắt xuống rồi đi về chỗ ngồi. Tôi nhìn cô với một cảm giác lạ lùng, nửa vui mừng, nửa lại ghen tị. Tôi không có ý định để cô ấy kể câu chuyện kia.

48

Những trò chơi vào các buổi tối mùa đông bao giờ cũng thú vị và mang lại nhiều cảm xúc sâu sắc. O-Kei-chan thường xuất hiện với đôi bàn tay lạnh cóng, và ngay khi vừa bước vào trong phòng, cô bé đã sà xuống bên cạnh lò sưởi. Vì vị khách đáng yêu này mà tối nào bác tôi cũng chuẩn bị sẵn một lò sưởi than thật lớn. Đôi vai của cô co ro vì lạnh giá, và cô thường phải gần như nghiêng người hẳn về phía lò sưởi trong một lúc. Sốt ruột vì chờ đợi, thi thoảng tôi sẽ kéo tóc mái của cô hay lấy ngón tay chọc vào các vòng tóc trên mái tóc kiểu ochigo[1] của cô. Mà O-Kei-chan thì cũng nóng tính như tôi, nên đôi khi cô phản ứng thái quá và bắt đầu khóc. Mỗi lần cô khóc, tôi lập tức đầu hàng mà không chần chừ lấy một giây và xin lỗi vô điều kiện. Thi thoảng, khi cô úp mặt xuống sàn nhà, tôi sẽ đưa miệng lại gần tai cô mà lặp đi lặp lại, “Tha lỗi cho tớ đi, tha lỗi cho tớ đi,” nhưng cô vẫn tiếp tục lắc đầu quầy quậy. Tuy nhiên, sau khi khóc lóc một hồi, cô lại đột ngột thay đổi tâm trạng và nói, “Như vậy đủ rồi,” và cho tôi một nụ cười khổ đấy ý trách cứ. Vào những lúc như vậy, tôi sẽ lau những giọt nước mắt đang đọng trên mí mắt đã hơi hơi đỏ của cô.

Thực ra, O-Kei-chan rất giỏi giả vờ khóc. Sau khi chúng tôi trao đổi qua lại với nhau dăm ba câu chuyện phiếm, cô sẽ đột ngột bĩu môi, úp mặt vào lòng tôi, và khóc rất khoa trương. Cảm nhận được hơi ấm của cô, tôi sẽ thử rất nhiều trò khác nhau để cô lấy lại tinh thần, như kéo cặp tóc, cù, và những trò tương tự. Nhưng nếu cô tiếp tục khóc, tôi chỉ biết phải xin lỗi thật thống thiết, dù rằng tôi biết mình không làm gì sai cả. Tuy nhiên, sau khi mang lại cho tôi đủ phiền toái, cô sẽ đột ngột ngẩng đầu lên, thè lưỡi ra với tôi như thể muốn nói, “Đáng đời cậu” rồi cười đắc thắng. Cô có chiếc lưỡi thật trơn và mảnh mai. Tôi bị mắc lỡm trò này rất nhiều lần, đến nỗi cuối cùng tôi cũng học được cách phân biệt khóc thật với khóc giả thông qua việc quan sát xem các đường gân trên trán cô có phồng lên vì căng thẳng hay không.

O-Kei-chan cũng rất giỏi chơi trò thi trừng mắt và bao giờ cũng thắng tôi. Cô có thể biến đổi khuôn mặt dễ dàng và có thể làm ra bất kỳ biểu cảm nào tùy ý. Nếu bạn nói, “Mắt xếch lên, mắt kéo xuống,” cô sẽ dùng ngón tay kéo giãn hoặc thu hẹp mắt mình lại như thể chúng được làm từ cao su vậy. Tôi thực sự rất ghét trò thi trừng mắt. Lý do không phải bởi vì chắc chắn tôi sẽ thua, mà thú thực là bởi vì tôi rất hoảng khi trông thấy những đường nét gọn gàng trên gương mặt cô bị biến dạng tàn nhẫn khi cô chỉ trừng ra lòng trắng ở mắt hay biến miệng mình thành miệng cá sấu.

Có thời gian tôi coi O-Kei-chan như một trong những món đồ thuộc sở hữu của mình, cùng với Chó Thần và Bò Đỏ, và tôi cảm nhận một cách mạnh mẽ bất kỳ lời khen chê, bất kỳ sự kiện gì vui vẻ hay buồn bã mà cô trải qua. Tôi bắt đầu nghĩ rằng cô là một cô gái xinh đẹp. Chà, tôi mới thật tự hào về điều này làm sao chứ! Nhưng cùng lúc đó, gương mặt của chính tôi lại trở thành một gánh nặng đau đớn mà tôi chưa từng mong muốn như vậy. Tôi muốn mình là một cậu bé xinh đẹp hơn để thu hút cô. Tôi muốn chỉ có hai chúng tôi làm bạn và chơi cùng nhau mãi mãi. Tôi đã bắt đầu nghĩ đến những chuyện như vậy.

Một buổi tối, chúng tôi ngồi song song bên cạnh ô cửa sổ cao đến khuỷu tay, tắm mình trong ánh trăng đang chiếu qua những tán lá của cây tử vi. Tình cờ tôi nhìn xuống cánh tay mình đang vươn ra ngoài cửa sổ và mê mẩn khi thấy nó đẹp như vậy, nhợt nhạt đến mức gần như trong suốt. Đó là một trò đùa thoáng qua của mặt trăng, nhưng bị hấp dẫn bởi ý nghĩ rằng nếu điều đó là sự thật thì tôi có thể tự tin hơn về bản thân mình, tôi giơ cánh tay ra trước mặt O-Kei-chan.

“Ôi, trông nó đẹp quá này.”

“Đẹp chứ,” người tôi yêu nói như vậy và cũng xắn tay áo lên để lộ cánh tay của mình.

“Của tớ cũng đẹp.”

Cánh tay mềm mại của cô trông giống như thạch cao. Cảm thấy khó hiểu trước việc này, chúng tôi bắt đầu để lộ da thịt của mình trong bầu không khí lạnh giá của buổi tối - cánh tay trên, rồi đến chân, từ chân lại đến ngực, mải ngạc nhiên đến quên cả thời gian.

[1]

Một kiểu tóc cho các bé gái xuất phát từ giới quý tộc. Tóc được vấn lên tạo thành hai vòng tròn dựng thẳng ở đỉnh đầu. Ochigo có nghĩa là “đứa trẻ tôn quý”.

49

Vào khoảng thời gian đó, một gia đình với nghề nghiệp thứ hai là thêu kim tuyến chuyển đến sống ở ngôi nhà kế bên nhà chúng tôi về phía tây, và cậu con trai Tomi-kö[1] của họ trở thành bạn cùng lớp mới của tôi. Cậu ta học không giỏi nhưng biết ăn nói, lại khỏe mạnh và lớn hơn bạn cùng lứa hai tuổi, nên chẳng mấy chốc đã trở thành thủ lĩnh của đám du côn lớp tôi. Tôi không còn có thể phát huy quyền lực của mình và bởi vì tôi cũng không thể hạ mình mà đi tới cúi người trước cậu ta, nên cuối cùng tôi bị gạt ra ngoài vòng giao du của cậu ta. Ở nhà, vì không có bạn bè ở xung quanh, nên sau khi tan học cậu ta thường tới đón tôi ra chơi ở sân sau nhà. Tôi hoàn toàn không muốn như vậy bởi vì tôi không thích cậu ta và chỉ muốn được chơi với O-Kei-chan, nhưng tôi sợ cậu ta phản kháng, và vì không nghĩ ra được giải pháp nào hay hơn, rốt cuộc tôi vẫn chơi với cậu ta.

Vốn là một cô gái có cá tính của con trai, ban đầu O-Kei-chan đứng bên hàng rào nhà mình nhìn chúng tôi chơi với vẻ thú vị hiện rõ trên gương mặt, nhưng chẳng bao lâu sau cô đã tiến lại và chỉ thông qua quan sát chúng tôi mà học được các trò nhảy dây và lăn vòng. Là kẻ ngọt miệng, Tomi-kö lấy lòng cô bằng cách gọi cô là Tiểu thư và biểu diễn cho cô xem nhiều trò khác nhau như trồng cây chuối, nhảy lộn nhào. O-Kei-chan vô cùng thích thú những trò đó và theo đuôi cậu ta khắp nơi, còn thân thiết gọi cậu ta là Tomi-chan. Vì từ bé tới giờ thế giới của tôi chỉ có bác và trước đó tôi cũng chỉ chơi với O-Kuni-san, nên tôi không có cơ hội được rèn luyện qua những chiêu trò thú vị như thế, nên tôi chỉ biết tuyệt vọng đứng nhìn Tomi-kö tuy không ưa nhìn nhưng lại độc chiếm được sự chú ý của nữ hoàng nhỏ.

O-Kei-chan vẫn đến nhà chơi với tôi vào buổi tối, nhưng giờ đây cô đến chỉ để nói chuyện về Tomi-kö mà không thèm để ý đến những cuốn truyện tranh và những cuốn truyện mà tôi lấy ra để làm vui lòng cô. Và khi cả ba chơi cùng nhau, nếu Tomi-kö trong tâm trạng đắc thắng mà gọi tôi là đồ lóng ngóng vụng về hay đồ yếu ớt, cô cũng sẽ vào hùa với cậu ta và chế giễu tôi. Tôi muộn màng bất mãn với bác mình vì đã nuôi tôi trở thành một kẻ chẳng có tài cán gì, chẳng biết trồng cây chuối cũng chẳng biết nhảy lộn nhào. Tất cả những điều này khiến cho tôi ghét Tomi-kö kinh khủng, nhưng tôi vẫn kiềm chế bản thân, cố gắng không làm trái ý cậu ta, cho đến một ngày những lời cậu ta nói quá đáng đến không thể chấp nhận nổi, tôi không thể kiềm chế được nữa nên đã phẫn uất mà cãi lại. Thế là Tomi-kö tuôn ra một tràng những câu chửi thề tục tĩu nhắm vào tôi, sau đó còn thì thào vào tai O-Kei-chan; cuối cùng, cậu ta liếc mắt nhìn tôi ra vẻ đã hiểu tất cả và hô to, “Hẹn gặp lại, đồ khỉ đầu chó!” và đi về nhà.

O-Kei-chan cũng bắt chước và nói, “Hẹn gặp lại, đồ khỉ đầu chó!” rồi đi theo cậu ta. Hẳn là Tomi-kö đã đưa cô về nhà mình.

Sau lần ấy, O-Kei-chan không đến thăm tôi nữa. Trong những dịp hiếm hoi khi trông thấy tôi, cô sẽ lánh đi mà không cho tôi lấy một nụ cười. Tôi nghĩ, Tomi-kö đã mang đến cho cô sự táo bạo ấy, và trong trái tim nhỏ bé của mình tôi không khỏi cảm thấy ghen tị cùng giận dữ sôi trào. Ở trường, cậu ta cũng kích động mọi người trêu chọc tôi theo những cách rất xấu xa. Không những trong chuyện đó, về mặt sức mạnh tôi chắc chắn cũng phải chịu thua cậu ta. Niềm an ủi duy nhất là tôi vẫn là học sinh số một trong lớp. Thế nhưng nếu không có O-Kei-chan, thì dẫu ngồi ở vị trí đó cũng thật trống trải, không phải thế sao?

[1]Kö: Ban đầu là một hậu tố dùng để gọi tầng lớp quý tộc, do đó là một danh xưng thể hiện sự tôn trọng. Tuy nhiên, về sau khi nó được dùng cho nam giới thuộc tầng lớp bình dân, nó trở thành hậu tố thể hiện sự thân thiện hoặc có ý khinh miệt.

50

Những ngày khó chịu vẫn tiếp diễn. Một hôm, khi lại giam mình trong phòng học và tự gặm nhấm nỗi buồn, đột nhiên tôi nghe tiếng guốc pokkuri[1] lộc cộc leng leng vang lên. Tôi hơi sửng sốt, nhưng rồi trấn tĩnh lại và vẫn không ra mở cửa sổ. Không lâu sau, giọng nói đáng yêu mà tôi chưa kịp quên đi đã cất lên ở chỗ cửa mắt cáo:

“Tớ vào có được không?”

“Ai đây ấy nhỉ?” bác tôi chạy ra, giả vờ như không biết. Tôi đoán bác đang giúp cô lên nhà vì nghe tiếng bác nói, “Ôi, ôi, ta đang thắc mắc không biết ai đến thăm, hóa ra là cô tiểu thư đáng yêu này!” Quả nhiên là bác đang giúp cô lên nhà, bác tiếp tục hỏi có phải cô bị cảm lạnh không, hay có phải cô đi thăm ai không bởi vì bác không hiểu vì sao dạo gần đây cô vắng mặt. O-Kei-chan ngoan ngoãn đi qua cánh cửa trượt ốp giấy mà bác tôi vừa mở và duyên dáng đặt tay lên sàn nhà.

“Tớ xin lỗi vì dạo này đã không tới thăm cậu,” cô nói.

Chỉ cần có vậy thôi. Tất cả những sự căng thẳng mà tôi vẫn kiềm chế đến lúc đó bỗng vỡ òa, và ngay khi tôi rụt rè kêu lên “O-Kei-chan!” thì những giọt nước mắt tủi nhục cũng lã chã rơi xuống. Tuy nhiên, O-Kei-chan dường như không bận tâm lắm về chuyện đó, cô lấy từ trong ống tay áo ra quả o-tedama.

“Vì sao cậu không đến?” tôi hỏi.

Trái với dự đoán của tôi, cô vẫn duy trì vẻ bình thản. “Tớ sang nhà Tomi-chan.”

Tôi hỏi lại với giọng trách móc, “Thế sao hôm nay cậu không đi?”

Cô vẫn rất bình tĩnh và trả lời, “Mẹ mắng tớ và nói rằng tớ không nên đến một nơi như nhà của Tomi-chan.”

Mặc dù kinh ngạc, nhưng tôi vẫn thể hiện được một chút sự bất mãn của mình về những gì đã xảy ra vài ngày trước.

“Tớ xin lỗi.” Với lời mở đầu này, cô đưa ra lời biện hộ rằng Tomi-chan nói rằng cô không cần phải chơi với người như tôi bởi vì trong nhà cậu ta có rất nhiều thứ hay ho.

“Sau khi bị mẹ mắng,” cô nói thêm, “bây giờ tớ đã trở nên rất ghét Tomi-chan rồi. Chúng ta hãy tiếp tục là bạn bè nhé.”

Làm sao tôi có thể biểu đạt những cảm xúc của mình đây? Sau cùng, O-Kei-chan vẫn là của tôi. Tomi-kö không hay biết chuyện này, nên hẳn là cậu ta đã chờ cô cả ngày. Hôm sau, không biết rằng tôi đang canh chừng O-Kei-chan, cậu ta lén lút tiến về phía cô và nói gì đó, nhưng cô đã dứt khoát từ chối và nói rằng cô không còn thích cậu ta nữa. Có vẻ như sau khi bị mẹ mắng, cô đã thực sự khinh miệt cậu ta.

[1]Pokkuri: Loại guốc dùng trong dịp lễ hội của các bé gái, mỗi chiếc được làm từ một khối gỗ với phần đế được bào lõm, vì thế khi đi nó phát ra tiếng lộc cộc. Có lẽ đôi guốc pokkuri được nhắc đến ở đây còn được gắn thêm những quả chuông nhỏ.

51

Nhận ra rằng mình đã bị bỏ rơi, Tomi-kö xảo quyệt tìm đến tôi với vẻ thân thiết giả tạo thấy rõ, và sau khi làm đủ trò để lấy lòng tôi, cậu ta quay sang vu khống O-Kei-chan và nói rằng bởi vì bây giờ cậu ta không thèm chơi với cô nữa, nên tôi cũng nên làm như vậy. Tôi bật cười trong lòng và chỉ đưa ra cho cậu ta những câu trả lời mơ hồ.

Tuy nhiên, ngay khi nhận thức được rằng O-Kei-chan và tôi đã quay trở lại làm bạn bè tốt, cậu ta liền lập ra một kế hoạch trả đũa khủng khiếp. Hằng ngày vào giờ ra chơi, cậu ta kích động mọi người chế giễu chúng tôi. Khi mọi người đã mệt và bớt trêu chọc, cậu ta lại đi thì thào vào tai từng người những điều kinh khủng mà cậu ta bịa ra để kích động họ. Bị bạn bè xa lánh và phải đối mặt với những ánh mắt như đã hiểu mọi chuyện ở xung quanh, hai chúng tôi lâm vào một tình huống khốn khổ. Tuy vậy, sự kiện này càng khiến chúng tôi gần gũi nhau hơn, và sau khi kết thúc một ngày không mấy dễ chịu ở trường, chúng tôi về nhà chơi với nhau và cảm nhận được một nỗi vui sướng cùng niềm an ủi khôn tả xiết đang dâng trào trong trái tim mình.

Những chiêu trò trả đũa của Tomi-kö ngày càng trở nên bẩn thỉu hơn, và thái độ thù địch của tôi cũng gia tăng tương ứng. Tôi không coi trọng đám đi theo cậu ta, và đoán rằng bản thân cậu ta không mạnh đến thế. Bằng chứng là mỗi lần tôi nổi giận và đuổi theo, cậu ta đều chạy để tránh đối đầu trực tiếp rồi tìm cách hành hạ tôi từ đằng xa. Cuối cùng tôi xem nhẹ cậu ta dù rằng đã ra quyết định ngày nào đó sẽ trả đũa cho hả dạ.

Một hôm, khi vừa tan học, Choppei lén đến gần rôi và nói, “Cậu ta nói ngày mai sẽ mai phục cậu đấy,” rồi chạy biến đi vì sợ bị ai trông thấy. Tôi rất vui vì Choppei đã nghĩ đến mình như vậy. Sáng hôm sau, tôi mang theo một khúc tre bố đại[1] có cực kỳ nhiều mấu dài 60 xăng-ti-mét và giấu trong chiếc quần haori rồi đi đến trường, quyết tâm sẽ đối đầu với bất kỳ ai và bất kỳ điều gì.

Khi tiết học cuối cùng kết thúc, Tomi-kö là đứa đầu tiên chạy ra khỏi lớp, ra hiệu cho những đứa khác đi theo. Ba hay bốn đứa hay nịnh hót cậu ta nhất vội vàng chạy vụt theo. Đã chuẩn bị sẵn sàng tinh thần, tôi cố ý là người cuối cùng ra về. Đúng như dự đoán, bọn chúng đang chờ tôi ở một chỗ vắng vẻ gần bụi tre ở đền Bát Phiên, đám nịnh hót đang ồn ào hắng giọng để tạo hiệu ứng chế giễu. Tôi không để lộ ý định đối đầu với cậu ta, cứ giả vờ như không để ý và cố gắng đi qua bọn chúng, thì Tomi-kö hạ lệnh.

“Nào, bắt lấy nó đi!”

Đa số bọn chúng đều không đặc biệt ghét tôi, hơn nữa cũng không phải là đối thủ của tôi, nên chúng chỉ vây quay lấy tôi và nói linh tinh, ngoại trừ thằng bé mắt mờ con của một vị linh mục. Không hiểu xuất phát từ lòng trung thành kiểu gì với Tomi-kö, đột nhiên nó từ phía sau xông lên nắm lấy cổ tôi. Tomi-kö vốn đang sợ hãi trong lòng lại trở nên can đảm hơn nhờ hành động của tên đồng minh đáng tin cậy này và cậu ta tiến về phía tôi.

“Này, thằng khốn!”

Tôi thình lình rút khúc tre bố đại ra quất mạnh lên trán nó và ngạc nhiên thấy chỉ riêng hành động này đã trấn áp được Tomi-kö.

“Đừng, mày quá bạo lực,” cậu ta nói rồi khóc nức nở như một kẻ yếu ớt, hai tay ôm lấy trán. Chứng kiến thất bại đáng xấu hổ của vị tướng quân nhà mình, khuôn mặt của đám theo đuôi làm ra biểu cảm giống như chúng đã đứng về phe một kẻ chẳng ra gì, và có lẽ linh cảm được nguy hiểm sẽ sớm giáng xuống đầu mình, chúng lén lút chuồn thẳng, miệng lắp bắp những câu chối tội như, “Không không liên quan đến tớ đâu.”

Tuy nhiên, điều khiến tôi hoảng sợ là tên mắt mờ không chịu buông tôi ra. Cậu ta nhắm chặt mắt và bám rịt lấy tôi như thể đã sẵn sàng liều chết trên chiến trường cùng với vị chỉ huy của mình. Dù tôi có cứng cỏi đến đầu, thái độ lì lợm này cũng quá sức chịu đựng của tôi. Thú thực, khi cuối cùng cũng tách khỏi tên khốn bám dai như đĩa này để chạy về nhà, chính tôi cũng sắp khóc. 

[1] Một loại tre có nhiều mấu ở gốc.

52

Khi chúng tôi chọc băng và câu tuyết bằng than cứng[1], Lễ hội Đào lại tới. Gia đình tôi có một bộ búp bê cổ mà mọi người nói rằng đã sống sót một cách huyền bí sau trận hỏa hoạn lớn ở Kanda[2]; thực ra, hiện trạng của nó cũng rất thê thảm bởi vì năm búp bê nhạc công giờ chỉ còn lại ba, bộ mũi tên của búp bê mang cung hầu như đã gãy hết, và nhiều thiệt hại khác nữa. Tuy vậy, hằng năm nó vẫn được mang ra để dỗ dành trẻ con. Bác tôi thường thu thập đồ bỏ đi trong nhà để bổ sung cho những phần bị thiếu, chỗ này thì dựng lên một bức bình phong trang trí vỏ sò, chỗ kia thì bỏ một nhúm lúa mạch rang lên giấy gấp đặt ở các khay dùng trong những dịp lễ, qua đó khéo léo biến bộ búp bê trở nên đẹp đẽ trong mắt trẻ con.

Không gì khiến tôi hạnh phúc hơn khi những con búp bê xinh đẹp này được xếp lên các bệ phủ vải màu đỏ tươi, trong đó chiếc bệ cao nhất là của tôi, chiếc thứ hai dành cho em gái thứ của tôi, và chiếc thứ ba dành cho em gái út. Sau đó, chúng tôi dâng bánh hình thoi và bỏng cho búp bê. Tôi nhớ mình từng khiến mọi người cười ồ lên khi tôi tỏ ra sợ hãi rằng những vỏ ốc mặt trăng sẽ bỏ trốn đi trong lúc tôi ngủ.

Dịp lễ hội nào chúng tôi cũng mời O-Kei-chan. Cô thường đến nhà tôi trong bộ kimono rất đẹp, bên ngoài mặc chiếc áo khoác được trang trí bằng những chùm bông màu đỏ. Khi chúng tôi ngồi ngay ngắn trước bệ đặt búp bê ăn đậu nổ, bác tôi sẽ đưa bộ ba chiếc cốc bé nhất cho vị khách đáng yêu và bộ ba chiếc cốc cỡ vừa cho tôi rồi rót rượu gạo trắng sake[3] cho chúng tôi. Rượu tuôn ra khỏi miệng vòi của chiếc bình đựng thành hình giống như chiếc gậy và tạo thành một gò ngày càng cao lên trong cốc. Chúng tôi dùng hàm răng trước súc rượu, hai chiếc mũi chụm lại gần nhau như cá tuế, rồi mới nuốt xuống. Vốn là người yêu mến trẻ nhỏ, bác tôi thích nhất là những khi làm vui lòng chúng tôi theo cách này, và bác sung sướng xoa xoa lưng chúng tôi.

“Cả hai đứa đều đáng yêu quá, thật đáng yêu.”

Vú em nhà chúng tôi thì hay nói, “Hai đứa là vợ chồng giống như những con búp bê kia vậy,” nhưng chúng tôi chẳng thích chút nào.

Vì ăn diện đẹp như vậy, nên O-Kei-chan luôn giữ tác phong chỉn chu, mặc dù có mang theo bóng và quả o-tedama nhưng cô chỉ đùa nghịch chúng chứ không rủ tôi chơi. Sau khi cô trở nên háo hức hơn sau khi chúng tôi chơi cờ backgammon, “hoa tưới nước[4]”, “mười sáu nhân sáu[5]”, và thi xâu hạt Nam Kinh, cuối cùng tôi cũng dụ được cô ra sân sau cùng với cây vợt gỗ[6] in hình nhân vật Kanjinchö trong vở kịch Narita-ya và nhân vật Otowaya trong vở kịch Sukeroku mà các chị truyền lại cho tôi vào khoảng thời gian ấy. Nhưng bởi vì cả hai đều ăn mặc cầu kỳ như những chú cá vàng, hơn nữa cây vợt gỗ lại quá lớn so với người, nên sau vài lần đánh cầu chúng tôi đành bỏ cuộc. Và để tìm vui, chúng tôi thay phiên nhau lấy vợt vỗ vào lưng nhau.

O’Some, con gái người bán dầu

Hisamatsu lên mười.[7]

[1]Yukitsuri: Một trò chơi đơn giản bằng cách buộc dây vào một viên than cứng rồi ném nó vào tuyết, sau đó kéo viên than lại để nó vừa lăn vừa cuốn tuyết xung quanh.

[2]Có vẻ trận hỏa hoạn này diễn ra vào tháng Ba năm 1892, khi Naka bảy tuổi. Trận cháy này thiêu trụi hoàn toàn một quận và lan sang các quận khác, đốt trụi 4.200 ngôi nhà.

[3]Shirozake, loại rượu được làm cho dịp Lễ hội Đào (Lễ hội Búp bê). Loại rượu này chứa nồng độ cồn tương đối cao. Ngày nay nó được xếp vào nhóm rượu mạnh.

[4]Suichüka: Hoa nhân tạo, khi được thả vào nước sẽ “nở”.

[5]Jüroku-musashi: Ban đầu là một trò đánh bạc, về sau được cải biến thành trò chơi cho trẻ em.

[6]Hagoita: Vợt làm bằng loại gỗ nhẹ, trước đây thường được sơn màu vàng với các thiết kế phù hợp, về sau này in hình các nhân vật anh hùng hay các diễn viên nổi tiếng.

[7]Có một số vở kịch và bài hát dựa trên vụ tự tử chung vào năm 1708 của Osome, con gái của một người bán dầu hỏa ở Osaka, và Hisamatsu, nhân viên bán hàng của cha cô gái.

53

Không lâu sau lễ, bố của O-Kei-chan qua đời và cô không tới nhà tôi chơi nữa. Nhưng một tối, cô đến chơi, mang theo tiếng guốc gỗ lộc cộc leng keng quen thuộc. Nhưng có lẽ bởi vì chúng tôi quá nhạy cảm về chuyện này, nên cô dường như rất buồn, khiến tôi vô cùng lo lắng và bồn chồn, và vì thương cảm cho cô nên mọi người trong gia đình tôi cố gắng an ủi cô. Sau đó cô nói, “ngày mai nhà tớ sẽ chuyển đi.” Bà và mẹ cô đã quyết định chuyển về quê.

“Chuyển đi thì tớ cũng mừng,” O-Kei-chan chán nản nói, “nhưng tớ lại không thích điều đó bởi vì nếu đi rồi, tớ sẽ không thể đến đây chơi nữa.”

Tin tức này khiến tôi tuyệt vọng đến mức không biết phải làm gì cả, và cả hai cứ cúi mặt nhìn xuống như vậy. Mọi người trong nhà nói rằng đây là cơ hội chia tay cuối cùng, nên tất cả cùng tham gia chơi với chúng tôi vào buổi tối đó. Cả bà vú em cũng nhìn chăm chú không thôi vào O-Kei-chan mà nhắc đi nhắc lại, “Cháu thật là một đứa trẻ không may mắn.”

Ngày hôm sau, O-Kei-chan được bà dắt tay sang nhà tôi chào tạm biệt. Lắng nghe cô lịch sự nói những lời người lớn quen thuộc, tôi muốn chạy ra gặp cô, nhưng một sự rụt rè khó lý giải đột ngột ập đến khiến tôi chỉ dám ngập ngừng đứng nép sau tấm bình phong. O-Kei-chan đi rồi. Về sau, những người trong gia đình tiễn chào cô đều tấm tắc khen, “Thật là một thiếu nữ xinh đẹp nhã nhặn.” Mọi người mô tả lại rằng hôm ấy cô mặc bộ kimono mà cô đã mặc vào dịp Lễ hội Búp bê. Tôi ngồi khóc trước bàn, những giọt nước mắt vô dụng nhỏ xuống, và tôi không ngừng chất vấn bản thân vì sao khi ấy lại không ra ngoài gặp cô. Nhanh chóng phát hiện ra tâm tình của tôi, bác tôi nói, “Bác cũng rất lấy làm tiếc cho con.”

Ngày hôm sau, tôi đến trường sớm hơn tất cả mọi người. Khi tôi lặng lẽ ngồi vào chỗ của O-Kei-chan, niềm khao khát nhớ mong cô lại bủa vây lấy tôi, và tôi cứ ôm chặt bàn của cô như thế. O-Kei-chan là một người ưa đùa cợt. Khắp mặt bàn của cô đều chằng chịt những vết bút chì vẽ yêu tinh núi-nước[1] và thầy tu quỷ[2].

Câu chuyện này diễn ra từ 12 năm trước. Không hiểu vì sao, tôi cứ nghĩ rằng kể từ đó O-Kei-chan đã qua đời. Nhưng thi thoảng tôi lại có cảm giác rằng cô vẫn còn sống, và đôi khi cũng sẽ nhớ về những ngày ấy giống như tôi.

[1]Sansui tengu: Khuôn mặt yêu tinh được tạo nên từ các ký tự đơn giản mang nghĩa “núi” và “nước” trong tiếng Trung Quốc theo lối chữ thảo.

[2]Hemamushi nyüdö: Hình người được tạo nên từ bốn ký tự trong bảng chữ cái tiếng Nhật (he, ma, mu, shi) và hai ký tự chỉ thầy tu cạo đầu trong tiếng Trung Quốc theo lối chữ thảo.

« Lùi
Tiến »