Chiếc Xe Của Thần Chết

Lượt đọc: 1623 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHIẾC XE CỦA THẦN CHẾT - 1 -
nguyên bản tiếng pháp: la chariette fantôme

Một cô gái tội nghiệp của Đội quân cứu tế đang hấp hối.

Nàng đã mắc một chứng lao phổi phát triển nhanh và ác liệt, không sao cưỡng được quá một năm. Khi còn đủ sức, nàng vẫn tiếp tục đi thăm kẻ khó và làm tròn nhiệm vụ của mình; nhưng khi sức nàng đã kiệt, người ta đưa nàng vào một viện điều dưỡng. Ở đấy nàng được chăm sóc mấy tháng, nhưng sức khỏe chẳng tăng lên được tí nào,và khi hiểu rằng mình đã hết phương cứu chữa, nàng trở về bên mẹ, bà có riêng một căn nhà nhỏ trong một đường phố ngoại ô. Ở đó, nằm trong một căn buồng hẹp tồi tàn, nơi nàng đã trải qua thời thơ ấu và tuổi thanh xuân, nàng chờ đợi cái chết.

Bà mẹ ngồi cạnh giường con, lòng đau thắt, nhưng mải mê với công việc chăm sóc người ốm nên chẳng có thì giờ mà khóc nữa. Một nữ đội viên Cứu tế cùng thuộc lớp đi thăm kẻ khó như người bệnh ngồi lăng lẽ ở chân giường và lặng lẽ khóc. Đôi mắt cô nhìn lên khuôn mặt người hấp hối với một vẻ tận tâm vô hạn và mỗi khi mắt bị mờ đi vì những giọt lệ, cô lại đưa tay lên chùi rồi bỏ xuống ngay. Ngồi trên một chiếc ghế dựa thấp, rất bất tiện, chiếc ghế mà người bệnh vẫn ưa dùng và lần nào dọn nhà cũng đều mang theo, là một phụ nữ cao lớn, cổ áo thêu một chữ S, dấu hiệu của đội viên Cứu tế. Người ta đã mời bà ngồi vào một chỗ tốt hơn, nhưng bà lại muốn ngồi trên chiếc ghế kém tiện nghi này , như thể tỏ lòng trọng vọng người sắp chết.

Ngày hôm ấy không giống như tất cả những ngày khác: đó là ngày lễ Xinvecxtrơ. Bầu trời xám và nặng trĩu. Ở trong nhà thì cảm thấy lạnh và tưởng như thời tiết xấu; nhưng ra ngoài trời thì không khí lại ấm áp và êm ả lạ lùng. Mặt đất toàn màu đen và không có tuyết. Chỉ một vài bông tuyết lạc lõng từ từ rơi, vừa chạm đất là đã tan thành nước. Một trận mưa tuyết lớn có vẻ như sắp sửa đến nơi, nhưng vẫn chưa chịu đến. Tưởng như là gió và tuyết thấy như chưa cần hoạt động vào lúc cuối năm này và để giành sức lực cho năm mới đã tới gần lắm rồi.

Mọi người hình như cũng tê liệt đi với cùng một ý nghĩ như vậy. Họ không định tâm làm được một việc gì. Đường phố hoàn toàn yên ắng, trong mọi nhà chẳng ai làm việc. Trước mặt căn nhà người sắp chết là một thửa đất người ta đã bắt đầu đóng cọc để xây dựng nhà cửa. Buổi sáng, một vài người thợ đã tới, như thường lệ, họ vừa hát vừa nâng cái máy đóng cọc to tướng lên rồi lại thả xuống. Nhưng họ làm không lâu, và chẳng mấy chốc công trường đã trở lại quạnh quẽ.

Mấy người đàn bà đi qua, tay cắp rổ đến chợ, nhưng cảnh ấy cũng chỉ diễn ra trong chốc lát. Người ta đã gọi đám trẻ con chơi ngoài đường phố về để sửa soạn cho buổi lễ tối nay, và chúng không chạy ra nữa. Mấy con ngựa kéo những chiếc xe không, đi đến nhà để xe ở tận cuối ngoại ô để nghỉ một đợt hai mươi bốn tiếng. Trời càng về chiều thì yên tĩnh càng tăng thêm. Mỗi tiếng động tắt đi càng làm cho không khí dịu lại.

- Em nó mất trong đêm nay trước ngày lễ như thế này mà lại hay, - bà mẹ nói. - Chẳng mấy chốc sẽ không còn tiếng gì ở bên ngoài có thể khấy động những giây phút cuối cùng của em nó nữa.

Người bệnh đã bất tỉnh từ sáng hôm nay, và ba người đàn bà ngồi quanh giường nàng muốn nói gì nàng cũng chẳng có thể nghe thấy được. Tuy vậy họ cũng biết rằng nàng chưa đến tình trạng hôn mê. Nét mặt nàng đã thay đổi nhiều lần trong ngày: nét mặt ấy đã biểu lộ sự ngạc nhiên và lo lắng; khi thì có vẻ cầu khẩn, lát sau lại như bị tra khảo đau đớn. Từ nãy đến giờ, trên gương mặt ấy lại in dấu một sự phẫn nộ mạnh mẽ, sự phẫn nộ ấy dường như làm cho nét mặt nàng cao cả lên và xinh đẹp ra.

Nét mặt cô Xơ của kẻ khó này đã thay đổi nhiều đến nỗi cô bạn của nàng ngồi ở chân giường nghiêng người sang bà thành viên của đội Cứu tế kia và thì thầm:

- Nhìn kìa đội trưởng! Xơ Êđi trở nên xinh đẹp biết bao! Nom chị ấy như một hoàng hậu.

Người phụ nữ ngồi trên cái ghế thấp liền đứng dậy để ngắm kỹ hơn người con gái hấp hối.

Chắc hẳn bà chưa bao giờ nhìn cô gái đi thăm kẻ khó mà không thấy nàng có cái vẻ nhẫn nhục vui vẻ mà nàng giữ mãi cho đến phút cuối, mặc dù ốm đau mệt mỏi đến đâu. Bởi thế cho nên sự thay đổi của nàng làm cho bà ngạc nhiên đến nỗi bà không ngồi lại xuống chỗ cũ nữa mà cứ đứng nguyên như vậy.

Với một động tác đột ngột gần như là sốt ruột, cô xơ bé nhỏ trường người lên gối, thiếu chút nữa thì đã ngồi hẳn lên giường. một vẻ tôn quý khôn tả làm cho vầng trán của nàng có dáng uy nghi lạ lùng, và đôi môi của nàng mặc dù mím chặt, hình như đang thốt ra những lời chê trách và khinh bỉ.

Bà mẹ ngẩng mặt nhìn hai người của đội Cứu tế đang ngạc nhiên:

- Những hôm trước nó cũng cứ như thế này - bà nói - Có phải lúc này là giờ nó đi thăm kẻ khó không nhỉ?

Người đội viên Cứu tế nhỏ tuổi liếc nhìn chiến đồng hồ nhỏ mệt mỏi của người bệnh đặt ngay cạnh giường:

- Phải đấy - cô nói, giờ này là giờ chị ấy vẫn đi thăm những người khốn khổ.

Cô ngừng lại và đưa khăn lên lau mắt. Cô vừa định nói tiếp thì tiếng nức nở lại trào lên cổ họng.

Bà mẹ đưa hai tay nắm lấy bàn tay bé nhỏ khô cứng của cô con gái và nhẹ nhàng vuốt ve:

- Nó vất vả quá khi giúp người ta quét dọn những căn nhà tồi tàn của họ và quở trách họ vì những thói hư tật xấu của họ. - Bà nói, giọng để lộ một niềm oán hận ngấm ngầm. - Khi phải làm một công việc quá nặng nhọc thì đầu oác con người ta không thể dứt ra khỏi những công việc ấy được. Bây giờ nó vẫn tưởng nó đang ở trong nhà của họ đấy.

- Đôi khi làm những công việc người ta ưa thích quá thì cũng vậy đấy. - Bà "đội trưởng" dịu dàng nói.

Họ nìn thấy người bệnh cau mày lại và một vết nhăn ở giữa hai lông mày hằn xuống mỗi lúc một sâu thêm, trong khi làn môi trên của nàng nhếch lên.

- Trông cô ấy như một thiên thần trong buổi phán xét cuối cùng. Bà đội trưởng nói giọng hân hoan ca ngợi.

- Hôm nay thì ở nhà Cứu tế có thể xảy ra việc gì nhỉ? - Cô bạn của bà nói và dịch hai người đàn bà ra để đặt bàn tay vuốt ve lên trán người hấp hối.

- Xơ Êđi, đừng lo lắng gì cả! - Cô vừa vuốt ve vừa nói: - Xơ Êđi, chị vất vả nhiều vì những người khốn khổ rồi.

Những lời này hình như có sức giải thoát cho người bệnh khỏi những ảo tưởng đang ám ảnh nàng. Trên nét mặt nàng sự căng thẳng và phẫn nộ đã biến mất. Vẻ dịu dàng và đau đớn quen thuộc của nàng trong suốt thời gian bị bệnh lại trở lại với nàng.

Nàng mở mắt, và khi nhìn thấy người bạn gái đang cúi xuống nhìn mình, nàng đặt bàn tay lên cánh tay cô và muốn kéo cô lại.

Cô đội viên Cứu tế đoán ra hơn là nắm được ý nghĩa của sự động chạm nhẹ này. Cô hiểu ra lời cầu khẩn thầm lặng trong đôi mắt người ốm và cúi sát xuống môi nàng:

- Đavit Hôm - Người hấp hối thì thào nói.

Cô đội viên Cứu tế lắc đầu, cô sợ rằng mình đã nghe không rõ. Người ốm cố gắng đến cực độ để diễn đạt ý mình. Nàng nhắc lại, sau mỗi tiếng lại dừng một chút:

- Đa...vid...Hôm. Cho người đi tìm Đa...vid...Hôm.

Vừa nói nàng vừa nhìn chằm chằm vào mắt bạn, cho đến lúc cô bạn cuối cùng hiểu được ý nàng. Bấy giờ nàng mới buông mình thiêm thiếp; và mấy phút sau nàng đã lại ở rất xa, ở giữa một cảnh tượng tàn khốc nào đó làm cho tâm hồn nàng tràn đầy tức giận và lo âu.

Cô bạn của nàng ngồi thẳng dậy. Cô không khóc nữa. Cô đang bị một nỗi xúc động dày vò làm cạn hết những dòng nước mắt.

- Chị ấy muốn chúng ta cho người đi tìm Đavit Hôm!

Lời yêu cầu của người hấp hối có vẻ thật kinh khủng. Bà đội trưởng cao lớn đãy đà nghe thấy thế cũng choáng váng cả người như bạn gái của nàng.

Đavit Hôm à? - Bà kêu lên - Không thể được - Làm sao có thể để Đavit Hôm đến gần một người hấp hối?

Bà mẹ người ốm đã theo dõi những thay đổi trên nét mặt con gái bà, khuôn mặt này đã trở lại dáng vẻ vị một quan tòa phẫn nộ. Bà đưa mắt hỏi thăm hai người phụ nữ.

- Xơ Êđi muốn cho người đi tìm Đavit Hôm. - Bà đội trưởng đội quân Cứu tế nói, - nhưng chúng tôi không biết có nên làm như vậy không?

- Đavit Hôm? Bà mẹ ngơ ngác hỏi - Đavit Hôm là ai?

- Đó là một trong những người đã làm cho xơ Êđi rất vất vả, một trong những người mà Chúa đã không để cho xơ tác động đến bằng quyền lực của nàng.

Bà mẹ người bệnh đưa mắt cay đắng nhìn cô đội viên trẻ:

- Khi con gái tôi còn giữ được một đốm lửa của sự sống thì nó đã thuộc về các người rồi. Bây giờ nó sắp chết, các người phải để nó lại cho tôi.

Vấn đề có vẻ như đã được giải quyết. Cô đội viên trẻ lại ngồi xuống chân giường. Bà đội trưởng lại ngồi xuống chiếc ghế nhỏ, bà nhắm mắt và đắm mình trong một bài cầu nguyện lầm rầm. Hai người thoáng nghe được một vài tiếng trong bài cầu nguyện của bà thì hiểu rằng bà đang cầu xin Chúa cho linh hồn của cô xơ trẻ tuổi được yên ổn rời khỏi cõi đời, không phải bận tâm và day dứt vì những nghĩa vụ và những lo âu trên trái đất đau thương gian khổ này nữa.

Bà bị dứt khỏi bài cầu nguyện vì cô đội viên trẻ nhẹ nhàng đặt tay lên vai bà.

Một lần nữa người ốm lại tỉnh lại. Nhưng lần này nàng không còn cái vẻ dịu dàng và nhẫn nhục như trước nữa. Vầng trán nàng sẫm tối lại phản ánh một cơn giông tố trong lòng.

Cô đội viên bé nhỏ lập tức cúi xuống phía nàng, và cô nghe rõ mồn một câu hỏi này của nàng với giọng đầy trách móc:

- Xơ Maria, tại sao xơ không cho đi tìm Đavit Hôm?

Cô gái hẳn cũng muốn nêu lên vài câu từ chối, nhưng cô đọc được trong mắt người hấp hối một điều gì làm cho cho phải nín lặng.

- Tôi sẽ đi tìm anh ấy ngay. Xơ Êđi ạ! - Cô nói.

Rồi quay lại phía bà mẹ cô nói như để xin lỗi:

- Cháu chưa bao giờ có thể từ chối Xơ Êđi một điều gì, và tối nay cháu không thể bắt đầu làm trái ý chị ấy được.

Người bệnh lại nhắm mắt, buông một tiếng thở dài nhẹ nhõm, và cô bạn trẻ của nàng rời khỏi căn phòng nhỏ bé đã trở lại yên tĩnh. Bà đội trưởng vẫn nhiệt thành và âu lo cầu nguyện. Lồng ngực của người bệnh khò khè, và người mẹ nàng xích lại gần giường hơn nữa như thể để che chở cho đứa con tội nghiệp của bà chống lại sự đau đớn và cái chết.

Một lát sau, người bệnh nhìn chung quanh mình, cũng với vẻ sốt ruột như ban nãy. Nhưng khi thấy chỗ ngồi của bạn mình bỏ trống, nàng hiểu rằng ý muốn của nàng đã được coi trọng; và vẻ mặt của nàng dịu đi. Nàng không muốn nói gì nữa; nàng cũng không trở lại trạng thái mê man nữa; nàng tỉnh táo ra.

Bỗng có tiếng một người nào đó đi vào nhà và bước qua gian phòng ngoài. Người bệnh hầu như nhỏm dậy trên giường. Cô bạn của nàng ló mặt vào cánh cửa hé mở.

- Tôi không dám vào ngay trong phòng. - Cô nói - Tôi mang theo nhiều hơi lạnh quá. Đội trưởng Andecxơn, chị ra đây một lát được không?

Cô trông thấy ánh mắt đầy vẻ đợi chờ của người bệnh chăm chăm nhìn vào mình.

- Tôi không sao gặp được anh ấy. - Cô nói - nhưng tôi đã tìm được Gúttapxơn và mấy đội viên Cứu tế khác, họ đã hứa với tôi sẽ đưa anh ấy đến. Gúttapxơn đã hứa như vậy, và nếu có thể anh ấy sẽ được đưa đến đây.

Cô chưa dứt lời thì người bệnh đã lại nhắm mắt và lại thiếp đi giữa những ảo ảnh đã thu hút nàng suốt cả ngày.

- Chị ấy nhìn thấy anh ta chắc? - Cô đội viên trẻ thì thầm.

Trong giọng nói của cô lộ ra một vẻ gì như là sự bực bội, song cô vội sửa lại ngay.

- Lạy Chúa lòng lành vô cùng! Khi Chúa đã muốn như thế, điều đó chẳng bao giờ là một tai họa cả.

Cô rón rén đi ra, và bà đội trưởng đi theo cô.

Một người đàn bà đang đứng ở phòng ngoài. Chị ta chưa quá ba mươi tuổi. Nhưng da mặt chị xám xịt và nhăn nheo - dường như là bị một bàn tay thô bạo vò cho nhàu nát. Tóc chị thưa và người gầy đét đến nỗi nhiều cụ già còn có vẻ trẻ hơn khi đứng cạnh chị. Hơn nữa, chị ăn mặc rách rưới đến nỗi người ta thật sự ngờ rằng chị cố tình ăn mặc như vậy để đi ăn xin.

Bà đội trưởng Đội quân Cứu tế ngắm người đàn bà này và bỗng thấy lòng rộn lên một mối lo sợ. Không phải vì quần áo chị ta rách rưới thảm hại, cũng không phải chị ta già trước tuổi làm cho người ta sợ hãi; chính là vì nét mặt đờ đẫn chết cứng của chị ta. Đó là một con người cũng đi lại, cử động như mọi người khác, nhưng hoàn toàn không hay biết gì cả. Hình như chị đã đau khổ quá nhiều đến nỗi linh hồn chị dừng lại trước một nơi như là một ngã tư đường, có thể trong phút chốc chìm vào điên dại.

- Đây là vợ của Đavit Hôm.- Cô xơ trẻ giải thích - Khi tôi đến nhà họ để tìm anh ta thì gặp chị ấy như vậy. Anh ta đi vắng; chị ấy ở nhà một mình và không thể trả lời được những câu hỏi của tôi. Tôi không dám để chị ấy ở lại đấy, thế là tôi đưa chị ấy đến đây.

- Vợ của Đavit Hôm! - Bà đội trưởng kêu lên. - Chắc chắn là tôi đã có lần gặp chị ta rồi; nhưng tôi không nhận ra chị ta. Có chuyện gì xảy ra cho chị ấy thế nhỉ?

- Chuyện gì xảy ra cho chị ấy à? Tôi tưởng cứ nhìn là biết ngay thôi. - Cô xơ trẻ trả lời với một cử chỉ giận dữ bất lực. - Chồng chị ta đang giết chị ta chết làn chết mòn.

Bà đội trưởng vẫn nhìn người đàn bà tội nghiệp. Đôi mắt chị ta trợn trừng; hai con ngươi bất động một cách bướng bỉnh. Những ngón tay chị ta móc xoắn lại với nhau và lâu lâu đôi môi chị ta lại run rẩy một cách yếu ớt.

- Lậy Chúa, anh ấy đã làm gì chị ta thế kia? - Bầ đội trưởng hỏi.

- Tôi chẳng biết gì cả. Chị ta không thể trả lời tôi được. Khi tôi đến, chị ta cũng run rẩy như thế. Mấy đứa con chị không có nhà, và chẳng có một ai để hỏi thăm cả. Ôi lạy Chúa, lạy Chúa, làm sao mà mọi việc lại xảy ra đúng ngày hôm nay? Làm sao tôi có thể chăm sóc chị ta khi bụng dạ tôi chỉ còn nghĩ đến xơ Êđi thôi?

- Có lẽ anh ấy đã đánh chị ta.

- Ồ, chắc còn phải tệ hơn thế nữa. Tôi đã nhiều lần thấy những người vợ bị đánh; họ không bao giờ có vẻ mặt như thế này. Không, không, chắc hẳn là có một điều gì trầm trọng hơn thế. Cô nhắc lại với một vẻ khủng khiếp mỗi lúc một tăng thêm. - Chúng ta đã thấy tren vẻ mặt của xơ Êđi một điều gì khủng khiếp đang xảy ra ở đây.

- Thật thế! - Bà đội trưởng kêu lên. - Đó chính là điều mà xơ Êđi đã nhìn thấy. Đội ơn Chúa là xơ Êđi đã nhìn thấy được điều đó, và xơ đã đến kịp, xơ Maria ạ! Xin ngợi ca và cảm tạ Chúa! Chắc hẳn rằng Chúa muốn chúng ta cứu chị ấy khỏi bị mất trí.

- Nhưng tôi làm gì được cho chị ấy bây giờ? Dắt tay, chị ấy đi theo, nhưng nói thì chị ấy chẳng nghe thấy gì cả. Linh hồn chị ấy đã bay đi mất rồi. Làm sao bắt lại được và trả linh hồn cho chị ấy? Tôi chẳng có quyền lực gì đối với chị ấy cả. Có lẽ chị làm thì kết quả hơn, chị đội trưởng ạ.

Người phụ nữ cao lớn đẫy đà nắm lấy bày tay của người phụ nữ tội nghiệp và nói với chị ta bằng một giọng khi thì dịu dàng, khi thì nghiêm khắc, nhưng khuôn mặt khô héo tội nghiệp kia không tỏ ra hiểu được tí gì.

Giữa lúc họ đang cố gắng một cách vô hiệu như vậy thì mẹ của người bệnh ló đầu ra cửa.

- Êđi trở nên lo lắng. - Bà nói - hai chị vào xem sao?

Hai đội viên Cứu tế vội trở vào căn phòng nhỏ. Người ốm vật vã trên giường. Nàng vật vã có lẽ không phải vì đau đớn về thể xác mà là do một nỗi lo lắng về tinh thần. Nhưng vừa nhìn thấy hai người bạn của mình ngồi ở chỗ cũ, nàng lại dịu đi ngay và nhắm mắt lại.

Bà đội trưởng khẽ ra hiệu cho bạn mình ở lại bên người ốm, còn bà sắp sửa lẻn ra ngoài.

Vừa lúc ấy cánh cửa mở ra và vợ của Đavit Hôm bước vào.

Chị ta đi thẳng đến giường và dừng lại, đôi mắt dại đờ, người run rẩy như lúc nãy và những ngón tay khô cứng đan xoắn vào nhau làm cho các khớp xương kêu răng rắc.

Một lúc lâu chị ta hình như không trông thấy gì, nhưng dần dần đôi mắt chị ta bớt đờ đẫn. Chị ta hơi cúi xuống phía trước và từ từ xích lại gần khuôn mặt Êđi. Bỗng nhiên chị ta có một vẻ đe dọa hung dữ, những ngón tay chị rời ra và uốn cong lại như những cái vuốt. Hai người đội viên Cứu tế chồm dậy, sợ người đàn bà mất trí sẽ vồ lấy người con gái đang hấp hối.

Lúc ấy cô xơ bé nhỏ mở mắt ra; trông thấy con người đáng sợ khốn khổ nửa điên nửa dại kia, nàng ngồi nhổm dậy trên giường và đặt hai cánh tay ôm quanh cổ chị. Nàng kéo chị ta về phía mình với tất cả sức lực mà nàng còn có thể có được và hôn lên mặt lên má , lên trán, lên mắt chị ta và thì thào:

- Ôi, chị Hôm tội nghiệp! Chị Hôm tội nghiệp!

Người đàn bà khốn khổ mới đầu như có vẻ muốn gớ ra khỏi vòng tay của bạn, nhưng đột nhiên người chị ta rung lên. Chị ta òa khóc và sụp quỳ xuống cạnh giường, đầu vẫn ấp vào má người hấp hối.

- Chị ta khóc, xơ Maria, chị ta khóc! Bà đội trưởng ngây ngất thầm thì. - Thế là chị ta đã được cứu thoát.

Cô đội viên Cứu tế trẻ tuổi nắm chặt chiếc khăn tay đẫm nước mắt và thì thầm, cố gắng một cách tuyệt vọng để giữ cho giọng nói được bình tĩnh:

- Chỉ có xơ Êđi mới có thể làm những việc như vậy, đội trưởng ạ! Khi chị ấy không còn nữa thì chúng ta sẽ ra sao?

Vừa lúc ấy họ bắt gặp cái nhìn khẩn khoản của bà mẹ.

- Vâng, vâng - Bà đội trưởng nói, - chúng tôi sẽ đưa chị ấy đi. Vả chăng không nên để chồng chị ấy gặp chị ấy ở đây...Không, xơ Maria, xơ cứ ở lại với bạn của xơ. - Bà nói tiếp khi thấy cô đội viên Cứu tế trẻ tuổi định ra khỏi phòng. - Tôi sẽ chăm nom người đàn bà tội nghiệp này.

2

 

Cũng trong buổi chiều cuối năm này, nhưng muộn hơn, lúc đêm đã buông xuống, ba người đàn ông ngồi uống bia và rượu trắng trong cái công viên nhỏ bao quanh ngôi nhà thờ thành phố. Họ ngồi trên một bãi cỏ héo, dưới mấy cây đoạn có cành màu đen lấp lánh ướt. Họ đã qua buổi tối trong một quán rượu nhỏ, và khi quán đóng cửa, họ kéo đến đây ngồi uống rượu ngoài trời. Họ thừa biết đêm nay là đêm lễ thánh Xinvetxtrơ, chính vì thế mà họ đến ngồi ở công viên nhà thờ. Họ muốn gần cái đồng hồ, nghe mười hai tiếng chuông nửa đêm và chạm cốc mừng năm mới.

Chỗ họ ngồi không tối, những bóng đèn điện hình cầu mắc cao ở những đường phố gần đấy chiếu ánh sáng xuống công viên. Hai người trong số họ đã có tuổi và tàn tạ, hai kẻ lang thang già dày dạn mò vào thành phố trong những ngày lễ này, đem những đồng xu thảm hại đi ăn xin góp nhặt được để mua rượu uống. Người thứ ba là một người đàn ông trạc ngoài ba mươi tuổi. Anh ta cũng ăn mặc thảm hại như hai người kia, nhưng vóc người cao lớn và có thân hình đẹp. Cuộc sống hình như chưa đánh gục được sức lực của anh ta.

Họ sợ cảnh sát phát hiện và xua đuổi nen ngồi sát lại với nhau và nói chuyện thì thào. Người trẻ tuổi hơn đang nói, hai người kia chăm chú nghe đến nỗi có lúc quên cả uống rượu.

- Phải, trước kia tôi có một thằng bạn nối khố, - anh ta nói, giọng trầm xuống, gần như bí hiểm, một tia sáng hóm hỉnh lóe lên trong đôi mắt, - và cứ đến ngày cuối năm là thằng bạn nối khố ấy của tôi trở nên khác hẳn. Không phải là hắn bận tính toán tiền nong gì, hoặc phải kêu ca phàn nàn gì về việc lỗ lãi trong năm. Không, hắn nghe người ta nói rằng có một điều gì nguy hiểm và hung dữ có thể xảy đến với hắn trong ngày hôm ấy. Tôi quả quyết với các anh rằng hắn lầm lì và lo lắng suốt cả ngày và ngay đến cốc rượu cũng không dám ngó đến. Thường thường hắn không phải là người rầu rĩ, nhưng đến đêm lễ thánh Xinvetxtrơ thì không thể nào lôi hắn đến một cuộc vui nhỏ như thế này, cúng như các bạn không thể nào chạm cốc với quan Thống đốc vậy!..

"Các anh muốn hỏi rằng hắn sợ cái gì ư? Hắn không đi rêu rao điều ấy cho mọi người biết; nhưng có một lần hắn đã thổ lộ với tôi. Nhưng có lẽ các anh chẳng thích nghe câu chuyện này vào đêm nay đâu nhỉ? Ở trong cái công viên nhà thờ người ta thấy có phần không được thoải mái, ở nơi này chắc chắn ngày xưa là một cái nghĩa địa, các anh có thấy thế không?"

Hai kẻ lang thang liền cam đoan rằng họ chẳng sợ ma, nên bạn của họ nói tiếp:

- Bố mẹ hắn nhà giàu. Hắn đã theo học một thời gian ở đại học Upxan, cho nên hắn hiểu biết hơn chúng ta nhiều, và các anh hãy tưởng tượng rằng hắn ở yên như vậy trong ngày cuối năm là chỉ vì hắn sợ bị lôi kéo vào một cuộc ẩu đả hay bị một tai nạn gì đó làm cho hắn có thể mất mạng. Hắn chỉ sợ phải chết vào ngày hôm đó, vì hắn tin rằng nếu bị chết vào ngày hôm đó thì sẽ bị buộc phải đi đánh xe bò cho Thần Chết..

- Đánh xe bò cho Thần Chết? - Hai kẻ lang thang đồng thanh nhắc lại với một giọng dò hỏi.

Gã đàn ông cao lớn thích thú gợi trí tò mò của họ bằng cách lên giọng trịnh trọng hỏi họ rằng, dù thế nào đi chăng nữa họ có nhất quyết nghe chuyện này ở chỗ họ đang ngồi hiện nay hay không? Nhưng hai người kia cứ thúc anh ta tiếp tục kể.

- Vậy thì thằng bạn của tôi cho rằng có một cái xe bò cũ kỹ, kiểu như xe nông dân dùng để chở thực phẩm đi chợ, nhưng mà cũ kỹ hư nát đến nỗi cái xe ấy chẳng bao giờ dám ló mặt ra trên những con đường lớn. Cái xe ấy lấm bê bết bùn và bụi bặm, đến nỗi người ta không còn biết được nó làm bằng gì. Một chiếc trục đã gãy, còn vành bánh xe thì lúc la lúc lắc; những bánh xe này không bao giờ được tra dầu mỡ nên kêu cót két đến kinh người. Thùng xe đã mục, đệm ghế rách toác. Một con ngựa già chột, chân đi khập khiễng, bờm và đuôi đã lốm đốm bạc, kéo lê cái xe tàng này. Lưng nó gãy đến nỗi xương sống nó nhô lên như một cái lưỡi cưa; xương sườn thì có thể đếm được từng chiếc. Bốn vó đã bị cứng khớp đến một nửa. Nó lười nhác, mang bộ yên cũ kỹ bạc phếch vá víu bằng những sợi dây và cành liễu. Không còn một thứ trang trí bằng bạc nào cả, chỉ có những túp len lơ thơ bẩn thỉu, và những dây cương thì thắt nút và khâu nối nhiều chỗ, rất tương xứng với bộ yên.

Anh ta dừng lại và với tay nắm lấy chai rượu để cho những người nghe chuyện của mình có đủ thời giờ hiểu được.

- Có lẽ các anh không thấy như vậy là tuyệt diệu, - anh ta nói tiếp - nhưng lại còn người đánh xe nữa. Lão ta ngồi còng lưng và ủ rũ trên cái ghế nát. Môi lão tím đen, mặt tái mét, mắt lờ đờ như những chiếc gương đã mờ hết nước thủy. Lão khoác một chiếc áo choàng không có tay, rộng, màu đen, với một cái mũ trùm đầu kéo đến tận mắt, và lão cầm trong tay một chiếc hái cán dài, gỉ và cùn. Bởi vì các anh biết không, con người ấy không phải là người đánh xe bình thường, lão ta phục dịch một vị chúa tể lớn nghiêm khắc mệnh danh là Thần Chết. Ngày đêm lão đi khắp nơi để làm nhiệm vụ. Có người nào sắp chết là lão đến ngay trên chiếc xe bò cọt kẹt của lão, con vật khập khiễng khốn khổ của lão chạy nhanh được bao nhiêu lão đến nhanh được bấy nhiêu.

Người kể chuyện dừng lại và nhìn mặt hai kẻ lang thang. Họ nghe rất chăm chú, và anh ta kể tiếp:

- Các anh chắc đã thấy những bức tranh vẽ Thần Chết, bao giờ cũng thấy Thần Chết đi bộ. Cho nên người đánh xe bò mà tôi nói đây không phải chính Thần Chết, mà chỉ là đầy tớ của Thần Chết mà thôi. Các anh hiểu rằng một nhân vật lớn như vậy chỉ thèm thu hoạch một vụ mùa tốt đẹp nhất, còn người đánh xe bò chỉ được giao cho nhặt nhạnh những cọng cỏ thảm hại và những cây thuốc mọc ở mép hố. Nhưng đây mới là điều ly kỳ nhất trong tất cả câu chuyện này: ít ra thì cũng hình như là, mặc dù xe cộ ngựa nghẽo tồi tàn thì vẫn là một trong những người đánh xe bò không phải bao giờ cũng là người đó. Người chết cuối cùng trong năm người trút linh hồn đúng vào lúc chuông đồng hồ đánh mười hai tiếng nửa đêm, đó là người được số phận định sẵn phải làm người đánh xe cho Thần Chết. Thể xã người ấy sẽ được chôn cất như tất cả những người chết khác; nhưng linh hồn y sẽ bị buộc phải đội chiếc mũ trùm đầu và phải cầm cái hái để đi từ nhà người chết này đến nhà người chết nọ trong suốt cả năm cho đến khi một người khác đến thay phiên cho y vào ngày lễ thánh Xinvetxtrơ.

Người kể chuyện dừng lại và đưa mắt hìn hai người đàn ông bé nhỏ với một cái nhìn đợi chờ hóm hỉnh. Anh ta nhận thấy họ ngửa cổ ra đàng sau để cố nhìn, nhưng chẳng nhìn thấy đồng hồ chỉ mấy giờ.

- Chuông đồng hồ vừa điểm mười một giờ ba khắc, - anh ta nói tiếp - như vậy là thời điểm nguy hiểm chưa đến. Chưa có nguy cơ gì đâu. Nhưng bây giờ các anh hiểu thằng bạn tôi sợ cái gì rồi chứ? Hắn sợ phải chết vào đúng lúc giao thừa và trở thành người đánh xe bò cho Thần Chết. Tôi cho rằng suốt cả ngày hắn cứ tưởng tượng như nghe thấy tiếng xe bò kêu cót két chạy lộc cộc trên những phiến đá lát đường. Và các anh có biết không, hắn hình như đã chết năm ngoái đúng vào buổi tối, ngày lễ thánh Xinvetxtrơ.

- Và đúng vào lúc nửa đêm à?

- Tôi chỉ biết hắn chết vào buổi tối, còn giờ nào thì không rõ. Vả lại tôi cũng có thể đoán trước cho hắn biết rằng hắn sẽ chết đúng ngày hôm ấy, vì hắn cứ luôn bị điều đó ám ảnh. Nếu các anh cũng bị một ý nghĩ như vậy len vào tâm trí, các anh cũng rất có thể sẽ đi tong.

Hai người đàn ông rách rưới mỗi người nắm lấy một cổ chai, tu một ngụm mạnh ra trò làm cho họ thêm mạnh bạo.

Uống xong, chậm chạp và lảo đảo, họ bắt đầu đứng dậy.

- Thế nào, các anh định bỏ rơi tôi trước giờ giao thừa và không chạm cốc với nhau à? - Người kể chuyện kêu lên và bắt đầu hối vì hậu quả của câu chuyện mình vừa kể - cái chuyện ba lăng nhăng cũ rích này mà các anh cũng cho là quan trọng đến thế ư? Thằng bạn tôi vừa nói chuyện với các anh ấy hắn có phần nhu nhược, các anh thấy đấy, hắn không như chúng mình đây, gốc gác Thụy Điển kỳ cựu. Thôi nào, làm thêm một ngụm nữa! Ngồi xuống đi chứ?

- May làm sao mà họ để chúng mình yên. - Anh ta nói tiếp khi họ đã lại ngồi xuống đất, - đây là nơi đầu tiên tôi được yên ổn trong ngày hôm nay. Còn ở khắp các nơi khác, nơi nào tôi cũng bị các cô đội viên Cứu tế quấy nhiễu, họ muốn đưa tôi đến gặp một người trong bọn họ là xơ Êđi đang hấp hối. Tôi đã từ chối. Tôi chẳng thiết gì nghe những lời thuyết giáo và cái giọng sùng đạo ỏn ẻn của họ; chắc chắn là chẳng có ai tự nguyện đến với họ đâu.

Hai người đàn ông bé nhỏ, mặc dù đầu óc đã rối tinh sau những cốc rượu đầy tràn, vẫn giật mình khi nghe nói đến tên xơ Êđi. Họ hỏi đó có phải là người chủ trì ở trung tâm cứu tế hay không?

- Phải, phải. - Người trẻ tuổi trả lời. Mùa đông này tôi đã vinh dự được cô ấy đặc biệt chú ý. Tôi hy vọng cô ấy không phải trong số những người bạn thân thiết của hai anh, và cái tang cô ấy đối với các anh sẽ không quá đau đớn.

Chắc hẳn trong trái tim của hai người già lang thang này còn giữ lại kỷ niệm của xơ Êđi vì cả hai cùng đồng thanh tuyên bố một cách cương quyết rằng nếu xơ Êđi đã gọi người nào thì người ấy phải đến để cho cô ta gặp.

- Các anh nghĩ như vậy à? - Người bạn thứ ba đáp lại. - Tôi sẽ đến nếu các anh nói cho tôi biết xơ Êđi gặp tôi thì sẽ được li lộc gì?

Hai kẻ lang thang chẳng người nào thử tìm cách trả lời câu hỏi này. Họ chỉ tiếp tục thúc dục anh kia phải đi, và thấy anh này cứ từ chối mãi lại còn chế diễu họ, họ bèn nổi cáu đến mức dọa sẽ nện anh ta nếu anh ta không vui lòng đi gặp xơ Êđi.

Họ lại còn đứng lên, xắn tay áo, trong tư thế sẵn sàng thực hiện lời đe dọa của mình.

Đối thủ của họ tin chắc mình là kẻ cao lớn nhất và khỏe mạnh nhất trong thành phố này lấy làm thương hại cho hai kẻ thân tàn ma dại đáng thương kia.

- Nếu nhất thiết phải đánh nhau, - anh ta nói, - thì tôi sẵn sàng. Nhưng tôi nghĩ rằng chúng ta có thể cố gắng thỏa thuận với nhau được, nhất là vì việc này lại quan hệ đến cái chuyện tôi vừa kể với các anh lúc nãy.

Hai người say rượu có lẽ không còn hiểu tại sao họ lại nổi giận, nhưng cái máu thích ẩu đả của họ đã bị kích thích, và họ xông vào đấm đá anh ta. Anh này tự tin ở ưu thế của mình đến nỗi cứ ngồi không thèm đứng dậy. Anh ta chỉ đưa tay gạt họ ra và xô họ ngã sang bên phải và bên trái như hai con chó con. Nhưng cũng như những con chó con, họ lại xông vào tấn công, và một trong hai người đã tống được một cú khá mạnh vào giữa ngực anh chàng cao lớn. Lát sau, người trẻ tuổi cảm thấy có cái gì nong nóng dâng lên cổ họng và trào ra đầy mồm. Vì anh ta biết một lá phổi của mình đã bị tổn thương một nửa nên hiểu rằng mình bị thổ huyết. Anh ta thôi không chống cự nữa và nằm vật xuống đất, trong khi máu ồng ộc phun ra khỏi mồm.

Điều đó đã là rất trầm trọng rồi, nhưng cái làm cho tai họa hầu như không thể nào cứu chữa được, đó là hai kẻ lang thang kia, khi cảm thấy có một tia máu nóng bắn vào tay mình, và thấy đối thủ nằm sóng soài dưới đất, tưởng rằng họ đã giết chết anh ta, ben bỏ chạy. Một lát sau, cơn thổ huyết ngừng lại, thật thế, nhưng anh ta chỉ hơi cố sức để đứng dậy thì máu lại ộc ra.

Đêm nay không rét lắm; nhưng nằm sóng soài trên đất, người đàn ông cảm thấy hơi lạnh thấm vào người. Anh ta hiểu nếu không có ai đến cứu thì mình đi đứt. Cái công viên này gần như là ở trung tâm thành phố, và đêm nay là lễ thánh Xinvetxtrơ, ngoài đường có nhiều người đi lại, nên anh ta nghe thấy tiếng người đi trên con phố xung quanh nhà thờ, nhưng không ai đi vào khu vườn này cả. Thật là đau xót khi nghe được tiếng chân và giọng nói của họ, mà lại có lẽ sẽ chết ngay bên cạnh họ.

Anh ta chờ một lúc nữa, nhưng bị hơi lạnh đâm buốt vào người và không đủ sức đứng lên được, anh ta quyết định lên tiếng kêu cứu.

Lại một lần nữa không may cho anh ta, vì đúng lúc anh ta cất tiếng kêu thì đồng hồ trên tháp chuông bắt đầu đáng mười hai tiếng. Tiếng kêu tội nghiệp của con người bị chìm vào làn sóng âm thanh của chiếc chuông đồng, và chẳng có ai nghe thấy được. Vì gắng sức, cơn thổ huyết lại tiếp tục, mạnh đến mức anh ta sợ sẽ mất hết máu. "Ta sẽ chết đúng vào lúc chuông điểm giao thừa sao?" - Anh ta tự bảo, và cùng lúc đó anh ta cảm thấy mình lịm đi. Khi tiếng chuông cuối cùng vang lên báo hiệu năm mới bắt đầu, anh ta chìm vào bóng tối đen ngòm và không còn hay biết gì nữa.

3

Đồng hồ vừa điểm tiếng cuối cùng xong, một tiếng cọt kẹt lạc điệu và chói tai xuyên qua không khí.

Tiếng cọt kẹt vang lên cách quãng như là phát ra từ một chiếc bánh xe khô dầu, nhưng đó là một tiếng kêu xé tai và khó chịu đến nỗi một chiếc xe tồi tàn nhất cũng không thể phát ra tiếng kêu như vậy. Tiếng kêu ấy gây nên sự lo âu. Nó làm thức dậy như một mối linh cảm về tất cả những nỗi khổ ải và đau đớn mà người ta có thể tưởng tượng được. Cũng may mà phần đông những người thức đón giao thừa không nghe được tiếng cọt kẹt ấy.

Đavit Hôm, sau cơn thổ huyết dữ dội, dãy dụa và thử cố tỉnh lại. Anh ta nghe thấy hình như có một cái gì đánh thức anh ta, giống như tiếng kêu xé tai của một con chim bay qua đầu, nhưng anh ta bị giữ chặt trong cơn tê cóng không thể nào dứt ra được.

Chẳng bao lâu, anh ta biết chắc rằng không phải là tiếng chim kêu: đó là chiếc xe bò cũ kỹ của Thần Chết mà anh ta đã kể chuyện cho hai kẻ lang thang nghe, chiếc xe đang đến gần và đang đi qua công viên nhà thờ, kêu cọt kẹt và rên rỉ. Nhưng mặc dù đang nửa tỉnh nửa mê, anh ta cũng gạt bỏ cái ý nghĩ về chiếc xe của Thần Chết. Chẳng qua là vì lúc nãy anh ta nghĩ đến nó nhiều quá nên bây giờ tưởng tượng thấy tiếng kêu của nó đấy thôi.

Anh ta lịm đi, và tiếng cót két bướng bỉnh lại vang lên xé không khí. Đúng là tiếng một chiếc xe. Không phải điều tưởng tượng mà chính là sự thực. Thế là anh ta lại muốn thoát ra khỏi tình trạng tê cóng.

Trước hết anh ta nhận thấy mình vẫn nằm nguyên ở chỗ cũ và không có ai đến cứu. Tất cảvẫn như cũ, chỉ có thêm tiếng kêu cót két chói tai, lặp đi lặp lại. Tiếng kêu có vẻ phát từ xa, nhưng nó mạnh xé tai đến nỗi anh ta không còn nghi ngờ gì là nó đã đánh thức anh ta dậy.

Anh ta tự hỏi không biết mình ngất đi đã lâu chưa; chắc là không lâu. Những người đi qua gần đấy đang gọi nhau và chúc nhau năm mới, do đó anh ta kết luận rằng giao thừa chỉ vừa mới điểm mà thôi.

Tiếng cọt kẹt vẫn cứ vang lên; và vì Đavit Hôm vốn ghét những tiếng kêu chói tai, nên anh ta rất muốn đứng dậy để đi ra khỏi chỗ này. Anh ta sẽ thử xem sao. Bây giờ anh ta đã thức dậy rồi, thì không thể nói trong phổi anh ta đang có một vết thương rộng hoác. Anh ta còn không thấy rét vì hơi lạnh ban đêm, và anh ta có cảm giác về cơ thể anh ta y như chúng ta có cảm giác về cơ thể của mình khi khỏe mạnh.

Anh ta vẫn nằm nghiêng như lúc anh ta nằm vật xuống khi bắt đầu thổ huyết; anh ta định nằm ngữa ra để xem cơ thể bị đau ê ẩm của mình có thể chịu đựng được như thế nào. "Trước hết, ta sẽ chống cùi tay để ngồi dậy thật nhẹ nhàng. - anh ta nghĩ, - rồi ta sẽ lật người và sẽ lại nằm xuống.".

Mỗi khi ta nghĩ rằng ta sẽ làm việc này việc nọ, thường thường ta thấy việc ấy thực hiện ngay. Những lần này thì một điều kỳ lạ xảy ra: cơ thể anh ta vẫn bất động và không chịu làm những động tác mà anh ta ra lệnh. Hay là vì đã nằm yên một chỗ quá lâu nên cơ thể anh ta bị lạnh cứng? Nhưng nếu như vậy anh ta đã chết rồi. Mà anh ta thì đang sống, vì anh ta nghe được và thấy được. Vả lại thời tiết lúc này không phải là lúc băng giá: những gịot nước trên cây vẫn rơi xuống đầu anh ta.

Anh ta quá bận tâm đến sự tê liệt lạ lùng này của cơ thể, nên trong một lúc anh ta quên bẵng mất tiếng cọt kẹt gớm ghiếc kia, nhưng bây giờ anh ta lại nghe thấy nó. Nó đang đến gần. Nghe rõ tiếng cỗ xe đang từ từ đi xuống Phố Lớn. Và chắc chắc đó là chiếc xe cà khổ cũ kỹ thảm hại, vì không những người ta nghe thấy tiếng bánh xe cọt kẹt, tiếng thùng gỗ răng rắc, mà còn nghe thấy tiếng con ngựa đi một bước lại trượt và vấp trên đường phố trơn nhầy. Chắc hẳn chiếc xe bò của Thần Chết mà người bạn cũ của anh ta vô cùng kinh sợ cũng không thể gây nên nhiều tiếng ồn ào hơn thế.

"Này, cái lão Đavit Hôm - anh ta tự bảo, - nói chung mày chẳng ưa gì cảnh sát, nhưng nếu lần này cảnh sát vui lòng can thiệp để chấm dứt cái tiếng inh ỏi này đi, ta sẽ biết ơn họ đấy".

Đavit Hôm vẫn thường tự khoe mình là người vui tính, nhưng cái tiếng cọt kẹt này, cộng thêm tất cả những gì đã xảy với anh ta vào đêm nay, làm cho anh ta bực bội cáu kỉnh. Anh ta mơ hồ cảm thấy lo sợ bị người ta tìm thấy ở trong tình trạng như thế này, tê liệt như một người chết, và biết đâu? Sẽ bị đem đem khâm liệm và đem chôn. "Ta sẽ nghe thấy tất cả những gì người ta nói xung quanh thi hài ta, và đó có lẽ là những điều cũng khó nghe như tiếng cọt kẹt này."

Điều đó làm anh ta nghĩ đến xơ Êđi, không phải với ý hối hận, mà với một sự bực bội mơ hồ, như thể là bằng một cách nào đó, cô ta đã thắng được anh.

Bỗng nhiên anh ta ngừng lại và chăm chú lắng nghe một lúc lâu. Đúng rồi! Cỗ xe đã đi xuống tận cuối Phố Lớn, nhưng không rẽ ra quảng trường. Con ngựa không còn lọc cọc trên những phiến đá lát đường gồ ghề nữa, mà đang dẫm lên một lối đi rải cát. Nó đến từ phía nhà thờ. Nó đã đi vào công viên.

Sung sướng vì sắp được cứu giúp, anh ta lại cố sức một lần nữa để nhỏm dậy. Nhưng kết quả vẫn như cũ, chỉ có ý nghĩ của anh ta hoạt động mà thôi.

Ngược lại anh ta nghe thấy rất rõ tiếng cỗ xe cũ kỹ lại gần. Khung xe kêu răng rắc, trục xe cọt kẹt; cái xe cà khổ thảm hại kia liệu có đến được tận chỗ anh ta nằm không?

Chiếc xe tiến lại cực kỳ chậm chạp, làm cho nỗi sốt ruột của con người khốn khổ càng tăng thêm. Mà nó là xe gì mà đang nửa đêm lại đi vào công viên nhà thờ? Người đánh xe đi vào con đường này hẳn phải say rượu, có lẽ say bí tỉ nên khó mà cứu giúp được ai.

Bây giờ chắc là chiếc xe đã đến ngay bên cạnh anh ta. Tiếng cọt kẹt kinh khủng làm cho Đavit Hôm xúc động và nản lòng. "Tối nay mình thật xúi quẩy, - anh ta tự bảo, - bây giờ lại sắp thêm một tai họa mới: đây chắc phải là một chiếc xe bò rất nặng hay là một chiếc xe lu nó sắp cán bẹp mình."

Lát sau, cuối cùng Đavit Hôm nhìn thấy chiếc xe xiết bao mong đợi này, và mặc dù nó chẳng phải là chiếc xe lu cán đường, anh ta cũng sợ nhũn người ra.

Vì anh ta không thể đảo được đôi mắt cũng như không thể cử động được các phần còn lại của cơ thể, nên anh ta chỉ nhìn thấy những gì ở ngay trước mặt mình mà thôi. Chiếc xe cọt kẹt từ phía bên cạnh đi đến, dần dần hiện ra. Trước hết là cái đầu của một con ngựa già với lông bờm màu trắng, mù hoặc chột, quay về phía anh ta một con mắt lờ đờ; rồi đến thân trước của nó với bộ yên vá víu bằng những sợi dây thừng; rồi đến cả người con vật gầy xơ; cuối cùng là một chiếc xe bò cũ kỹ hư nát với đôi bánh xe lỏng lẻo, với chiếc ghế dài lắc la lắc lư.

Người đánh xe ngồi trên ghế dài. Bộ dạng của y hoàn toàn giống như hình ảnh mà Đavit Hôm đã tả cho các bạn anh nghe lúc nãy. Hai sợi dây cương y nắm ở tay toàn là những nút thừng thắt lại. Y đã kéo sụp cái mũ trùm đầu xuống tận mắt; lưng y còng còng, như thể bị một sự mệt mỏi thường xuyên đè nặng lên.

Khi Đavit Hôm bị ngất đi sau cơn thổ huyết dữ dội, anh ta thấy hình như linh hồn mình đã lìa bỏ mình như một ngọn lửa bị thổi tắt. Bây giờ thì không như vậy nữa. vì bây giờ anh ta thấy hình như linh hồn mình đang bị lắc, bị khuất, bị vặn xoắn lại. Tất cả những gì xảy trước khi chiếc xe đi đến, lẽ ra phải chuẩn bị cho anh ta chứng kiến một chuyện gì phi thường, nhưng anh ta không muốn cho tâm trí mình bị bận bịu về chuyện đó. Và giờ đây khi anh ta thấy trước mắt mình những cảnh hiện ra từ một chuyện cổ tích quái dị, anh ta sửng sốt cả người.

"Cái này sẽ làm cho ta phát điên lên mất - giữa cơn thác loạn, anh ta tự bảo mình như vậy, - không những thể xác của ta sẽ bị nguy, mà cả lý trí của ta cũng thế."

Vừa lúc ấy anh ta nhìn thấy mặt người đánh xe bò, và cảm thấy mình được cứu thoát! Con ngựa đã dừng lại, và người đánh xe nhổm lên như thức dậy từ một giấc mơ. Y hất ngược cái mũ trùm đầu lên với một cử chỉ vô cùng mệt mỏi và đưa mắt nhìn xung quanh như tìm kiếm một vật gì.

Đavit Hôm bắt gặp cái nhìn của y và nhận ra người bạn cũ:

- Giorgiơ đấy à! - Anh ta thầm kêu lên. - Hắn ăn mặc lôi thôi kỳ cục, nhưng đúng là hắn thật. Lâu nay hắn ở nơi quái nào ấy nhỉ? Có lẽ ít nhất đến một năm nay mình không gặp hắn. Nhưng Giorgiơ là một người rảnh rang, không vợ không con. Hắn có vẻ như từ xa đến, có lẽ ở tận Bắc cực về. Nom người hắn nhợt nhạt và giá cóng.

Anh ta chăm chú nhìn người đánh xe bò vì có một vẻ gì xa lạ trên mặt y. Nhưng đó chỉ có thể là người bạn nối khố cũ Giorgiơ, bạn rượu của anh ta. Anh ta nhận ra cái đầu to ấy với cái mũi khoằm khoằm, hàng ria đen to tướng và bộ râu cằm nhọn hoắt. Một con người có cái đầu như vậy, cái đầu mà bất cứ một viên đội nào, nếu không nói là bất cứ một ông tướng nào cũng lấy làm tự hào, một con người như vậy mà tưởng rằng người ta không nhận ra mình dù ăn mặc bất cứ như thế nào, thì thật là lầm to.

- Thế nhưng mình đã nghe người ta kể, - Đavit Hôm tiếp tục độc thoại, - rằng Giorgiơ đã chết trong một nhà thương ở Xtôckhôm năm ngoái, đúng vào ngày cuốn năm. Chắc chắn đó là một sự nhầm lẫn, vì chính hắn đang ở đây, bằng xương bằng thịt. Chỉ cần thầy hắn nhổm dậy là biết ngay! Đích thị là Giorgiơ với cái thân hình thảm hại không tương xứng chút nào với cái đầu hạ sĩ của hắn. Và lúc hắn từ trên xe bò nhảy xuống, và cái áo choàng của hắn hé mở ra, thì mình nhìn thấy rõ hắn vẫn mặc chiếc áo đuôi tôm rách mướp dài đến tận gối. Cái tay Giorgiơ tội nghiệp này áo cài khuy lên tận cổ như mọi khi, chiếc cà vạt đỏ dài lồng phồng dưới cằm, và chẳng có gilê, cũng chẳng có áo lót, y hệt như ngày xưa vậy.

Đavit Hôm cảm thấy phấn chấn hẳn lên.

- Tớ mà khỏe lại, - anh ta tiếp tục nói một mình, - tớ sẽ cho lão Giorgiơ biết tayvì cái tội trêu tớ như thế này. Suýt nữa hắn làm tớ phát hoảng vì cái kiểu ăn mặc lố lăng của hắn. Chỉ có Giorgiơ mới nảy ra ý nghĩ "sắm" một chiếc xe bò và một con ngựa như vậy để đến tìm tớ như thế này. Tớ thì chẳng bao giờ bày ra được một trò như vậy. Bao giờ Giorgiơ cũng là bậc thày của tớ về mọi mặt.

Trong lúc ấy, người đánh xe bò đã đến gần người đàn ông nằm sóng soài dưới đất. Y dừng lại và ngắm người này. Vẻ mặt của y nghiêm khắc và bất động. Chắc y không nhận ra người nằm trước mặt y.

- Có một điều mà tớ không thể nào hiểu được trong chuyện này. - Đavit Hôm tiếp tục. - Trước hết là làm sao mà hắn lại biết được rằng hai lão bạn kia đã cùng với tớ ngồi trên đám cỏ này? Rồi thì, mặc dù là với mục đích đến đây dọa cho chúng tớ một mẻ, làm sao hắn lại dám cải trang thành Người đánh xe bò cho Thần Chết, điều mà hắn rất đỗi kinh sợ?

Người đánh xe bò cúi xuống Đavit Hôm mà vẫn có vẻ như chưa nhận ra anh ta. "Kẻ khốn khổ này sẽ chẳng mấy vui lòng khi biết rằng hắn sắp phải thay phiên cho ta". Y thầm thì.

Chống tay lên cái hái, y đưa sát hơn nữa mặt mình vào người nằm dưới đất, và bỗng nhận ra anh ta. Thế là y cúi sát vào anh ta, hất mạnh cái mũ trùm đầu lên và nhìn vào tận đáy mắt người bạn cũ của mình.

- Ồ! - Y kinh hoàng kêu lên. - Đây là Đavit Hôm! Thế mà trước đây ta chỉ có một lời cầu nguyện: đó là chuyện này đừng xảy đến cho ta.

- Đavit, Đavit, có thể nào lại là cậu đấy ư? - Y vừa nói vừa ném cái hái xuống đất và quỳ bên cạnh Đavit.

- Trong suốt cả năm nay, - y nói tiếp với một giọng đau đớn và yêu thương, - tớ cứ mong mỏi có cơ hội nói với cậu một câu, chỉ một câu thôi, trước khi quá muộn. Có một lần, tớ đã suýt gặp cái cơ hội ấy, nhưng cậu đã chẳng muốn cho tớ được gặp, nên tớ đã không thể đến với cậu được. Tớ đã hy vọng đạt được điều đó trong một giờ nữa khi tớ đã hết hạn phục vụ và được rảnh rang. Nhưng mà cậu đã ở đây rồi, Đavit ạ. Tớ không kịp báo cho cậu biết mà đề phòng nữa.

Đavit Hôm rất đỗi ngạc nhiên nghe những lời này. "Thế nghĩa là thế nào?" - Anh ta tự hỏi. - Giorgiơ nói như là hắn đã chết. Và hắn đã ở gần mình lúc nào mà lại không đến được với mình nhỉ? Nhưng chắc là hắn nói vậy cho thích hợp với cái điệu cải trang của hắn đấy thôi."

- Tớ biết, Đavit ạ, - người đánh xe bò nói tiếp với một giọng run run xúc động, - rằng do tớ mà cậu đến nỗi như thế này. Nếu cậu không gặp tớ, có lẽ cậu đã sống một cuộc đời yên ổn và lương thiện. Vợ chồng cậu có lẽ đã sung túc, vì cả hai người đều chịu khó làm ăn. Cậu có thể tin chắc rằng, Đavit ạ, trong suốt cả cái năm dài dằng dặc này, không có một ngày nào trôi qua mà tớ không lo lắng tự bảo rằng chính tớ đã làm cho cậu rời bỏ cuộc sống cần cù của cậu và nhiễm lấy những thói hư tật xấu này. Than ôi! - Y thở dài và vuốt tay lên mặt bạn, - tớ rất sợ rằng cậu đã lầm lạc nhiều hơn cả tớ có thể ngờ được! Nếu không như vậy thì sao tớ lại có thể nhìn thấy xung quanh mắt và miệng cậu những dấu vết kinh khủng và khắc sâu như thế này.

Tâm trạng của Đavit Hôm bắt đầu chuyển thành sốt ruột.

- Thôi đừng đùa nữa, Giorgiơ! - Anh ta nghĩ bụng mà vẫn không thể thốt lên được một lời nào. - Tốt hơn là cậu hãy đi tìm một người nào đó để giúp cậu khiêng tớ lên chiếc xe bò của cậu! Rồi thì đi đến nhà thương!

- Chắc cậu đã hiểu, Đavit ạ, là năm nay tớ đã làm nghề gì, - người đánh xe bò nói tiếp. - Tớ không cần phải nói thì cậu cũng biết là ai sẽ thay thế tớ cầm lấy cái hái này và nắm lấy giây cương này. Nhưng trong mười hai tháng khủng khiếp đang chờ đợi cậu đây, cậu chớ bao giờ tự bảo rằng việc gặp cậu đêm nay là do ý muốn của tớ! Cậu hãy tin chắc rằng nếu tớ được phép làm theo ý tớ thì tớ đã tìm mọi cách để tránh cho cậu những điều mà tớ phải chịu đựng.

- Có lẽ tay Giorgiơ này đã phát điên hay sao ấy! - Đavit Hôm tự bảo, - nếu không hắn phải hiểu rằng tính mạng của mình đang bị đe dọa, và để chậm phút nào là chết người phút ấy.

Trong khi những ý nghĩ này thoáng qua đầu óc anh ta, người đánh xe bò nhìn anh ta với một nỗi buồn rầu vô hạn.

- Đừng nghĩ đến bệnh viện làm gì vô ích, Đavit ạ. Khi tớ đã đến gần một người ốm thì chẳng còn kịp đi tìm một thầy thuốc nào đâu.

- Hình như tất cả bọn phù thủy và bọn quỷ sứ đêm nay kéo nhau ra để làm trò quấy đảo hay sao ấy! - Đavit nghĩ, - khi mà cuối cùng có được một người có thể cứu giúp được mình, hẳn phải là điên hoặc độc ác quá nên mới để cho mình nghẻo.

- Tớ muốn nhắc lại cho cậu nhớ một chuyện đã xảy đến với cậu vào mùa hè vừa qua, Đavit ạ - người người đánh xe bò tiếp tục nói. - Hôm ấy là một buổi chiều chủ nhật, cậu đi theo một con đường lớn chạy qua thung lũng rộng. Khắp xung quanh là cánh đồng lúa mì, và những trang trại tươi đẹp với những mảnh vườn đầy hoa. Chiều hôm ấy ngột ngạt, giữa mùa hè đôi khi có những buổi chiều ngột ngạt như vậy, và hình như cậu nhủ thầm rằng cậu là người độc nhất còn động đậy trong suốt cả vùng. Cả những con bò cái cũng đứng im trong những đồng cỏ, không muốn ra khỏi bóng cây râm mát. Không nhìn thấy một ai ở ngoài. Chắc hẳn người ta đã chui vào nhà để tránh cái nóng. Đúng như vậy, phải không, Đavit?

- Có thể là đúng như vậy, - người đàn ông đồng ý trong thâm tâm của mình. - Duy có điều là tớ đã không biết bao nhiêu lần đi giữa trời nóng bức và giá rét đến nỗi tớ không dễ dàng gì nhớ lại tất cả những cuộc đi dạo của tớ nữa.

- Vào cái lúc êm ắng nhất, Đavit ạ, thì cậu nghe thấy một tiếng cọt kẹt trên đường cái. Cậu quay đầu lại, tưởng có chiếc xe nào, nhưng chẳng thấy gì cả. Cậu nhìn đi nhìn lại nhiều lần, và cậu tự nhủ rằng đó là điều kỳ lạ nhất cậu gặp từ trước đến nay. Cậu nghe thấy tiếng bánh xe cót két, và nghe rất rõ; nhưng tiếng động ấy từ đâu đến? Đang giữa ban ngày, và xung quanh hoàn toàn im lặng nên không hề có tiếng gì lẫn vào át mất tiếng động ấy được. Cậu không hiểu làm sao lại có thể nghe tiếng trục xe cót két mà chẳng nhìn thấy xe. Nhưng cậu không muốn thừa nhận rằng điều đó chẳng có gì là lạ kỳ cả. Lúc ấy chỉ cần cậu chú ý suy nghĩ đến điều đó thì tớ đã có thể hiện ra cho cậu thấy trước khi quá muộn.

Đavit Hôm chợt nhớ lại buổi chiều hôm ấy. Phải, anh ta đã nhìn kỹ vào đằng sau những hàng rào và dưới những cái hố, và đã tìm khắp mọi chỗ cái nguyên nhân gây ra tiếng động này. Cuối cùng cảm thấy khó chịu và bối rối, anh ta đã đi vào một cái trại để không nghe thấy tiếng động ấy nữa. Khi anh ta trở ra, tiếng động ấy đã chấm dứt.

- Đó là lần duy nhất tớ nhìn thấy cậu năm vừa qua, - người đánh xe bò nói tiếp, - và hôm ấy tớ đã làm mọi cách để cho cậu nhìn thấy tớ. Nhưng tớ chỉ có thể làm cho cậu nghe thấy tiếng xe của tớ mà thôi. Lúc ấy cậu đi như một thằng mù bên cạnh tớ.

- Điều hắn kể đúng đấy, ít ra cũng đúng là mình đã nghe thấy tiếng cót két, - Đavit Hôm nghĩ. - Nhưng hắn muốn chứng minh điều gì ở đây? Làm sao hắn lại muốn cho mình tin rằng lúc ấy hắn đang đi đằng sau mình trên đường? Rất có thể là mình đã kể câu chuyện này cho ai đó, rồi người này lại kể cho Giorgiơ nghe.

Lúc này người đánh xe bò cúi sát xuống anh ta và nói với anh ta bằng cái giọng mà người ta dùng để dỗ một đứa trẻ bị ốm:

- Cậu chớ có băn khoăn vô ích. Không thể đòi hỏi cậu hiểu được cái gì đã xảy ra cho cậu, nhưng cậu biết rất rõ rằng tớ, người đang nói chuyện với cậu đây, tớ không còn sống nữa. Cậu đã nghe nói đến cái chết của tớ, nhưng cậu không muốn tin. Và dù cậu có không biết tin tớ chết đi nữa, cậu cũng đã thấy tớ đi đến đây, trên chiếc xe này, một chiếc xe mà không một người còn sống nào đi cả.

Y đưa ngón tay chỉ chiếc xe thảm hại dừng ở giữa lối đi.

- Không chỉ nhìn chiếc xe đâu Đavit ạ. Hãy nhìn cả cây cối ở đằng sau chiếc xe nữa.

Đavit Hôm tuân theo, và lần đầu tiên anh ta buộc phải thú nhận rằng mìng đang gặp một điều gì không thể giải thích được. Anh ta nhìn xuyên qua chiếc xe và thấy những cây cối như là nhìn xuyên qua một tấm vải mỏng.

- Trước kia cậu đã nhiều lần nghe tớ nói, Đavit ạ.- người đánh xe bò nói. - Không thể nào cậu lại không thấy rằng bây giờ tớ nói một giọng khác trước.

Đavit Hôm buộc phải công nhận lời người đánh xe bò nói, là đúng. Giorgiơ vốn có giọng nói hay, người đánh xe bò cũng có giọng nói như vậy, nhưng mặc dù giống nhau, âm sắc hoàn toàn khác hẳn. Nó vừa mảnh vừa thanh, nhưng không dễ dàng nghe thấy được.

Người đánh xe bò giơ bàn tay ra, và Đavit Hôm nhìn thấy một gịot nước trong suốt từ đám cành cây trên đầu họ rơi xuống, xuyên qua bàn tay ấy, và rơi bẹp xuống đất. Dưới lối đi rải cát có một cành cây khô. Người đánh xe bò luồn lưỡi hai của y xuống dưới cành cây ấy rồi đưa lưỡi hái lên mà cành cây vẫn không động đậy.

- Đừng tự tìm cách đánh lừa mình nữa, Đavit ạ. - Người đánh xe bò nói, - hãy cố mà hiểu thì hơn. Cậu trông thấy tớ và cậu nhận ra tớ; nhưng cái thể xác của tớ hiện nay chỉ có những người hấp hối và người chết mới nhìn thấy được. Tuy vậy cậu đừng tưởng cái thể xác ấy không tồn tại. Cũng như thể xác của cậu và những người còn sống khác, nó dùng làm nơi trú ngụ cho một linh hồn, nhưng nó không còn ở thể rắn, và nó cũng không còn trọng lượng. Cậu hãy cho rằng đó là một hình ảnh như cậu vẫn thường thấy trong những chiếc gương, và cái hình ảnh này đi ra khỏi gương, và nó nói được, nhìn được, và cử động được.

Ý nghĩ của Đavit Hôm không còn vùng lên nữa để đấu tranh chống lại một sự thật hiển nhiên. Anh ta nhìn thẳng vào sự thật và không tìm cách thoát khỏi sự thật ấy nữa. Đây là anh ta đang giao tiếp với hồn ma của một người đã chết, còn chính thân thể của anh ta là một thi hài. Nhưng anh ta càng thừa nhận điều này thì một nỗi tức giận mạnh mẽ lại càng sôi sục trong lòng anh.. "Ta không muốn chết, - anh ta tự nhủ, - ta không muốn chỉ còn là một hình ảnh, là không có gì nữa. Ta còn muốn có một qủa đấm để tự vệ, một cái mồm để nói." Cơn điên giận dâng lên và dồn nén lại trong con người anh ta như một cơn giông tố tối đen và mờ mịt chỉ còn chờ dịp để nổ bùng ra.

- Tớ có một điều cầu xin cậu Đavit ạ. - Người đánh xe bò nói tiếp, - chúng mình trước kia là bạn tốt với nhau, cậu biết rằng đến một lúc, đối với tất cả chúng ta thể xác sẽ tàn tạ đi và linh hồn ở trong cái thể xác ấy buộc phải rời bỏ nó. Linh hồn ngập ngừng và run rẩy lo sợ trước khi đi vào một thế giới chưa hề quen biết. Nó giống như một đứa trẻ đứng trên bãi biển không dám thả mình vào những lớp sóng. Muốn cho linh hồn vượt qua bước cuối cùng, nó cần phải được nghe tiếng gọi của một người nào đã sống ở thế giới bên kia. Tớ đã là tiếng nói ấy trong suốt một năm, và bây giờ đến lượt cậu là tiếng nói trong năm sắp đến. Điều tớ muốn yêu cầu cậu là đừng có chống lại cái đang chờ cậu, mà hãy vui lòng phục tùng nó. Nếu không, cậu chỉ có đưa lại cho cả cậu và tớ những nỗi đau khổ lớn lao mà thôi.

Người đánh xe bò cúi đầu cúi đầu xuống để tìm gặp đôi mắt của Đavit Hôm, nhưng y vội ngẩng lên như là bị cái nhìn thách thức và giận dữ của anh ta làm cho hoảng sợ.

_ Cậu nên biết, - Đavit ạ, - giọng khẩn khoản, - rằng cậu không thể trốn tránh được việc này đâu. Tớ còn chưa biết rõ cuộc sống ở bên kia nấm mồ này ra sao, bởi vì tớ còn ở lại trên đường ranh giới, nhưng tớ biết rằng không có chiếu cố miễn giảm gì cả. Anh buộc phải thi hành thì cứ phải thi hành, dù muốn hay không.

Một lần nữa y lại tìm đôi mắt của Đavit Hôm, và một lần nữa y lại chỉ gặp ở đôi mắt ấy1 màu đen giận dữ.

- Tớ thừa nhận, Đavit ạ, - y nói tiếp, - rằng không có ciệc gì khủng khiếp hơn lac việc đánh chiếc xe bò ấy từ nhà này sang nhà khác. Bất cứ nơi nào người đánh xe bò ló mặt đến đều là những giọt nước mắt và những tiếng rên rỉ chờ đón anh ta; nơi nào cũng đều là bệnh tật tàn phá, là máu, là những vết thương, là sự kinh hoảng. Và lại còn có cái tệ hơn nữa: tệ nhất là thấy linh hồn dãy dụa trong hối hận và lo lắng về những nỗi thất vọng, một sự phân phối không công bằng, lao động vô ích và sự rối loạn mất trật tự. Cái nhìn của anh ta không phóng được đủ xa vào thế giới bên kia để phát hiện ra ý nghĩa của cuộc đời trần thế. Đôi khi anh ta cũng thoáng thấy được một điều gì đó, nhưng phần nhiều anh ta dãy dụa trong tối tăm và trong nghi hoặc. Và cậu chớ quên, rằng cái năm mà người đánh xe bò bị buộc phải điều khiển chiếc xe Thần Chết, cái năm ấy không được đo bằng giờ bằng phút như trên cõi trần: để cho người đánh xe bò có đủ thời gian đến được tất cả những nơi nào cần có mặt để làm nhiệm vụ, cái năm độc nhất ấy kéo dài ra đến hàng trăm hàng nghìn năm. Và điều khủng khiếp nhất, khủng khiếp trong tất cả mọi điều, đó là người đánh xe bò cũng gặp trên đường đi của mình những hậu quả của tội lỗi anh ta đã phạmtrong suốt cuộc đời anh ta. Và làm sao anh ta có thể thoát khỏi cái đó được?

Giọng nói của người đánh xe bò trở nên gần như là một tiếng thét, và y chắp hai tay một cách tuyệt vọng. Nhưng đột nhiên y cảm thấy như là từ người bạn cũ của mình phát ra một luồng thách thức lạnh lùng và nhạo báng. Y chùm kín người trong chiếc áo choàng của y và y run rẩy.

- Đavit! - Y khẩn nài - vì lợi ích của chính cậu và của tớ, tớ van cậu đừng có kháng cựlại tớ. Tớ bị buộc phải dạy lại nghề của tớ cho cậu trước khi tớ được thôi việc. Tùy thuộc ở cậu nếu tớ bị chậm lại hàng tuần, hàng tháng. Phải, cho đến tận đêm thánh Xinvetxtrơ năm sau, bởi vì tớ chỉ được trả lại tự do, khi mà cậu đã học được lại nghề này.

Người đánh xe bò, trong khi nói vẫn quỳ bên cạnh Đavit Hôm, và thương xót trìu mến mênh mông mà lời nói của y thấm đượm, làm tăng gấp đôi sức mạnh của lời nói ấy. Y giữ nguyên tư thế như vậy trong một lúc nữa, thăm dò tác dụng lời nói của mình. Nhưng ở người bạn cũ của y chỉ duy trì một quyết tâm man dại kháng cự đến giới hạn cuối cùng sức lực của anh ta.. Ta chết rồi, được, - anh ta tự nhủ, - không thể làm gì để chống lại điều đó. Nhưng không đời nào bắt ta chấp nhận có liên quan đến chiếc xe và con ngựacủa Thần Chết. Phải tìm cho ta một hình phạt khác thôi.

Người đánh xe bò sắp đứng lên lại thay đổi ý định:

- Cậu hãy nhớ rằng - y nói thêm - cho đến lúc này là Giorgiơ, bạn cũ của cậu, nói chuyện với cậu. Nhưng bây giờ thì là một kẻ khác nói chuyện với cậu đấy. Cậu hẳn biết rằng khi nói đến một kẻ không biết thương xót là gì thì người ta nghĩ đến ai.

Liền đó y đứng dậy, tay cầm chiếc hái, cái mũ trùm lên đầu.

- Tù nhân, hãy ra khỏi nhà tù của ngươi! - Y thét lên, giọng lanh lảnh.

Lập tức Đavit Hôm đứng dậy. Anh ta không biết việc đó diễn ra như thế nào; đột nhiên anh ta thấy mình đã đứng lên. Anh ta loạng chọang, xung quanh anh ta mọi vật như quay cuồng, nhưng anh ta mau chóng lấy lại được thăng bằng.

- Hãy nhìn lại đằng sau ngươi, Đavit Hôm! Vẫn cái giọng mạnh mẽ ấ ra lệnh.

Đavit Hôm làm theo. Trên mặt đất nằm sóng sượt một người cao to, lực lưỡng, nhưng ăn mặc rách rưới tồi tàn. Người hắn bê bết máu và bùn, xung quanh hắn là những vỏ chai. Hắn có bộ mặt đỏ và sưng phồng, hầu như không thể nào đoán được những nét cũ. Ánh phản chiếu của ngọn đèn đường hắt ra một tia sáng hằn học và độc ác từ đôi mí mắt hé mở của hắn.

Đavit Hôm đứng trước cái thây người nằm dưới đất này, anh ta cũng là người cao to, cũng mặc những quần áo rách rưới bẩn thỉu gớm ghiếc như cái thây người chết. Anh ta thấy đó chính là con người thứ hai của mình. Thế nhưng không phải, không phải là con người thứ hai của anh ta , vì anh ta giờ chẳng là gì cả. Anh ta chỉ là một cái bóng, một cái bóng của con người kia ở trong gương, và cái bóng ấy bước ra khỏi chiếc gương, và nó cử động, nó sống!

Anh ta đột ngột quay lại. Giorgiơ đứng kia, và anh ta thấy Giorgiơ cũng chỉ là cái bóng của thân hình Giorgiơ trước kia mà thôi.

- Hỡi linh hồn đã mất quyền thống trị thể xác củ ngươi vào đúng lúc giao thừa, - giọng Giorgiơ tuyên bố, - ngươi sẽ là người thay thế làm nhiệm vụ của ta. Trong năm mới đang bắt đầu này, ngươi sẽ giải thoát cho những linh hồn khỏi cái vỏ bọc trần thế.

Nghe những lời này, Đavit Hôm sực tỉnh lại. Giận điên lên, anh ta xông vào người đánh xe bò, tìm cách giật lấy cái hái của y để bẻ gãy đi, giằng lấy cái áo choàng của y để xé tan ra.

Thế là anh ta cảm thấy tay mình bị trói, và mình chân bị hẫng đi. Một vật gì vô hình quấn lấy cổ tay anh ta, trói chặt cả tay lẫn chân anh ta lại.

Rồi anh ta bị xốc lên, bị ném một cách phũ phàng như một vật nặng bỏ đi vào đáy thùng xe, anh ta nằm nguyên ở đó.

Cùng lúc ấy, chiếc xe bò chuyển bánh.

4

Đó là một gian phòng hẹp và dài, khá rộng rãi; cái căn nhà nhỏ ở ngoại ô này chỉ gồm có gian phòng ấy và một gian khác nhỏ hơn dùng làm buồng ngủ. Gian phòng có một bộ đèn treo chiếu sáng, và dưới ánh sáng đèn, gian phòng trông có vẻ niềm nở và tươi vui. Người ta thấy những người trong nhà này thích thú bày biện làm cho gian phòng này có vẻ là một căn hộ. Cửa ra vào mở ra ở một bên, và bên cạnh cửa là một bếp lò nhỏ. Đó là nhà bếp, và tất cả các dụng cụ gia đình đều được tập trung tại đó. Chính giữa gian phòng được bày biện thành phòng ăn với một cái bàn tròn, hai ba chiếc ghế dựa bằng gỗ sồi, một chiếc đồng hồ treo tường lớn, và một tủ buýp phê nhỏ để đựng bát đĩa. Bộ đèn treo ở trên bàn, đủ để chiếu sáng cả phòng khách, tức là phía cuối gian phòng, gồm cái tràng kỷ bằng gỗ gụ, cái bàn tròn độc trụ, tấm thảm hoa, một cây cọ trồng trong chậu bằng sứ xinh đẹp, và rất nhiều ảnh.

Cách sắp xếp gian phòng như thế này hẳn phải mang kại nhiều thích thú. Nhưng những người đi vào đó trong đêm tất niên, sau giao thừa một lúc thì jhg có những ý nghĩ tươi vui và nhẹ nhõm như vậy. Đó là hai người đàn ông, ăn mặc rách rưới và thảm hại. Người ta có thể tưởng tượng rằng đó là hai kẻ du thủ du thực, nếu một trong hai người không mặc trùm lên những quần áo rách rưới của mình một cái áo choàng đen có mũ trùm và cầm ở tay một cái hái. Đối với kẻ kẻ du thủ du thực, cách ăn mặc lố lăng đó thật là kỳ dị, và kỳ dị hơn nữa là cách hắn đi vào trong nhà mà không xoay núm ổ khóa và không mở cánh cửa đang đóng chặt. Người thứ hai không mang những biểu trưng đáng sợ, nhưng y cũng miễn cưỡng đi vào nhà, bị bạn y lôi theo, và nom y còn có vẻ hung dữ hơn cả người kia nữa. Mặc dù y bị trói cả chân tay và bị quăng ở dưới đất như là một đống giẻ rách, nhưng y làm cho người ta sợ hãi trước cơn thịnh nộ man rợ đang hừng hực trong đôi mắt và làm cho gương mặt y co rúm lại.

Hai người đàn ông khi vào nhà, thầy trong nhà không phải là không có người. Ngồi cạnh cái bàn tròn là một chàng trai có nét mặt thanh tú, đôi mắt thơ ngây và dịu dàng, và một phụ nữ nhiều tuổi hơn một ít, bgg nhỏ nhắn mảnh dẻ. Chàng trai mặc một chiếc áo săngđay màu đỏ, có in dòng chữ "Đội quân Cứu tế" ở ngang ngực. Người phụ nữ mặc toàn màu đen không có huy hiệu nào cả, nhưng ở trên bàn bên cạnh chị để một cái mũ kiểu những đội viên Cứu tế thường đội.

Cả hai người hết sức buồn rầu. Người phụ nữ lặng lẽ khóc và luôn chùi nước mắt với một chiếc khăn tay nhàu nát. Cử chỉ của chị vội vàng tưởng như những giọt nước mắt ngăn chị làm một nhiệm vụ nào đó. Đôi mắt chàng trai cũng đỏ lên vì xúc động, nhưng anh ta nén được sự đau buồn bởi vì đâu phải chỉ có một mình anh ta.

Lâu lâu hai người lại trao đổi với nhau một vài câu, qua đó thấy rằng ý nghĩ của họ không rời khỏi gian buồng bên cạnh ở đó có một cô gái hấp hối và bà mẹ cô ta. Nhưng mặc dầu họ tập trung tư tưởng đến thế nào vào câu chuyện của họ, thì cũng thật lạ lùng là cả chàng trai lẫn cô gái đều không chú ý gì đến hai kẻ lang thang vừa đi vào nhà kia.

Quả thật là hai kẻ kia đều lặng câm, một người đứng dựa vào khung cửa, người kia thì nằm sóng soài dưới chân người này. Nhưng làm sao mà giải thích được rằng hai người ở trong nhà không hề sợ hãi khi thấy hai người khách giữa đêm tối kia đi vào nhà qua cánh cửa vẫn đóng kín?

Ít ra, đó cũng là câu hỏi mà người nằm dưới đất đặt ra cho mình, y còn ngạc nhiên hơn nữa vì rất nhiều lần họ quay mặt về phía y.

Y chưa bao giờ đặt chân vào phòng này, nhưng y nhận ra hai người ngồi cạnh cái bàn; và y hiểu rằng y đang ở nhà của ai. Nếu có một cái gì đó có thể làm tăng cơn thịnh nộ của y, thì đó chính là y thấy mình đột nhiên bị đưa đến cái nơi mà hôm qua y đã từ chối không chịu đến.

Bỗng chàng Đội viên Cứu tế đẩy chiếc ghế dựa:

- Bây giờ đã quá nửa đêm, - chàng trai nói, - chị vợ của Đavit Hôm tin rằng anh ta sẽ trở về nhà vào giờ này. Tôi sẽ đến thử một lần cuối cùng nữa xem sao.

Chàng trai từ từ đứng dậy, như là luyến tiếc và cầm lấy chiếc áo khoác của mình vắt trên lưng chiếc ghế dựa.

- Tôi hiểu, - Guttapxơn ạ, anh cho là đưa anh ta đến đây cũng chẳng có ích lợi gì lắm, - người phụ nữ trẻ vừa nói vừa cứ phải nén những giọt nước mắt đang làm chị nghẹn lời, - nhưng anh tự bảo mình rằng đó là việc làm cuối cùng anh có thể giúp được cho xơ Êdi.

Chàng Đội viên Cứu tế đang mặc áo khoác bỗng dừng lại.

- Xơ Maria, - chàng nói, - mặc dù như chị nói đây là việc làm cuối cùng tôi có thể giúp chị ấy; nhưng tôi cũng cứ mong rằng Đavit Hôm không về nhà, hoặc là không chịu theo tôi. Hôm nay tôi đã theo lời đội trưởng và của chị đi tìm anh ta nhiều lần, nhưng tôi vẫn hài lòng rằng cả tôi lẫn mọi người không ai đưa được anh ta đến.

Người đàn ông nằm ở dưới đất giật mình khi nghe nói đến tên y, và miệng méo đi vì một cái nhếch mép hằn học. "Thằng cha này ít ra còn biết điều đôi chút" - y nói thầm.

Người phụ nữ nhìn người lính của Đội quân Cứu tế và nói với giọng có phần chua chát, giọng nogi của chị không còn bị nghẹn lại vì những tiếng khóc nữa:

- Lần này, anh nên truyền đạt thế nào cho Đavit Hôm để cho anh ta hiểu là cần phải đến.

Với vẻ mặt của một người thi hành lệnh mà tin tưởng vào kết quả, người đội viên Cứu tế đi đến gần cửa. Đến đây, chàng ta đột nhiên quay mặt lại:

- Thế nếu anh ta say bí tỉ thì cũng phải đưa đến à? Chàng hỏi.

- Chết sống gì thì cũng đưa anh ta đến , Guttapxơn ạ. Trường hợp xấu nhất, ta sẽ để cho anh ta ngủ cho giã rượu ở đây. Điều quan trọng là tìm cho được anh ta.

Chàng đội viên Cứu tế đã đặt tay lên núm ổ khóa bỗng quay phắt lại và trở về cạnh cái bàn:

- Tôi không thể chịu đựng được để cho Đavit Hôm đến đây. - Chàng kêu lên và mặt tái đi vì xúc động. - Chị cũng biết rõ như tôi, xơ Maria, anh ta là hạng người như thế nào. Chị cho rằng nơi đây là chỗ của anh ta hay sao? Xơ Maria? - Và chàng chỉ vào cánh cửa dẫn sang buồng bên cạnh.

- Nếu cho tôi cho rằng...chị thầm thì. Nhưng chàng trai không để cho chị nói hết câu.

- Chị không biết, xơ Maria, anh ta sẽ chế nhạo chúng ta hay sao? Con người huyênh hoang khoác lác ấy sẽ nói rằng có một nữ đội viên Cứu tế đã mê anh ta đến nỗi nếu không gặp được anh ta thì không thể nhắm mắt được.

Xơ Maria ngẩng đầu lên và mấp máy môi như để đập lại ngay, nhưng rồi chị ta mím môi lại và ngẫm nghĩ.

- Tôi không sao chịu nổi để cho anh ta nói đến chị ấy, nhất là sau khi chị ấy mất! - chàng trai hùng hổ nói tiếp.

Sau một lúc im lặng, xơ Maria trả lời, nghiêm trang và kiên quyết:

- Anh có dám chắc rằng Đavit Hôm không có quyền nói như vậy không, Guttapxơn?

Người bị trói rùng mình vì một nỗi vui đột ngột. Chính y cũng ngạc nhiên vì điều đó.Và y lấm lét nhìn Giorgiơ xem hắn có nhận thấy gì không. Người đánh xe bò vẫn bất động và thản nhiên như thường.

bị câu trả lời của xơ Maria làm cho choáng váng đến nỗi đưa bàn tay quờ quạng nắm lấy một chiếc ghế dựa. Bốn bức tường của gian phòng quay cuồng trước mặt anh ta.

- Tại ao chị nói với tôi một điều như vậy - Xơ Maria? - Chàng lắp bắp nói - Chị không muốn cho tôi tin rằng...

Xơ Maria bồn chồn xúc động đến cực độ. Nàng nắm chặt chiếc khăn tay, trong khi những lời nói từ môi nàng tuôn ra vội vã. Nàng dường như sợ không nói hết được hết mọi điều trước khi phải dừng lại để suy nghĩ.

- Vậy ai là người chị ấy yêu hơn cả? Cả hai chúng ta, Guttapxơn, và tất cả mọi người biết chị ấy, tất cả chúng ta đều để cho chị ấy cải hóa và thu phục. Chúng ta không hề kịch liệt cưỡng lại chị ấy đến cùng. Chúng ta không hề biến chị ấy thành trò cười và nhạo báng chị ấy. Cả anh và tôi, Guttapxơn ạ, chúng ta không phải là nguyên nhân làm cho chị ấy đến nông nỗi như bây giờ.

Chàng đội viên Cứu tế có vẻ nhẹ nhõm đi vì những lời nói này.

- Tôi không hiểu là chị nói về tình yêu đối với kẻ phạm tội, Xơ Maria ạ.

- Tôi cũng không phải nói thế đâu, Guttapxơn.

Nghe những lời nói rõ rệt này, Đavit Hôm lại cảm thấy vui mừng như lúc nãy. Tuy nhiên y cố nén cảm giác này lại, vì y mơ hồ ý thức được rằng cơn thịnh nộ của y, sự quyết tâm của y dứt khoát chống lại Người đánh xe bò của Thần Chết, sẽ có nguy cơ bị tan biến trong cảm giác vui mừng này.

Xơ Maria im lặng một lúc, cắn chặt đôi môi để kềm chế cơn xúc động. Bỗng nhiên nàng như có một quyết định.

- Tôi có thể kể anh nghe điều tôi biết, Guttapxơn ạ. - Nàng nói. - Bây giờ chị ấy sắp mất thì không có gì quan hệ nữa. Anh ngồi xuống đây một lát rồi tôi sẽ giải thích cho anh nghe điều tôi nghĩ.

Chàng trai lại cởi áo khoác ra và ngồi lại chỗ cũ cạnh bàn. Không nói một lời nào, nóng lòng chờ đợi, chàng đưa đôi mắt đẹp chân thật của mình nhìn Xơ Maria...

- Tôi sẽ bắt đầu kể cho anh nghe buổi tối ngày lễ thánh Xinvetxtrơ năm ngoái của tôi và xơ Êđi. - Nàng nói, - Mùa Thu năm ngoái ban chỉ huy đội đã quyết định đặt một trạm ở đây, trong thành phố này của chúng ta. Êđi và tôi đã làm việc cật lực để tổ chức nhà cứu tế , và ngoài ra chúng tôi cũng được các thành viên khác giúp sức. Và đến ngày trước năm mới thì mọi việc đã khá tươm tất để có thể dọn đến nhà mới. Nhà bếp và phòng ngủ cũng đã sẵn sàng. Và chúng tôi hy vọng là ngày đầu năm là có thể mở cửa được; nhưng rồi không thể được vì lò hấp khử trùng và nhà giặt chưa làm xong.

Lúc bắt đầu nói, Xơ Maria rất khó khăn mới ngăn được nước mắt, nhưng càng nói, giọng nàng càng rành rọt hơn:

- Thời kỳ ấy anh chưa tham gia Đội quân Cứu tế, Guttapxơn ạ. Nếu không, anh đã được tham dự ngày lễ thánh Xinvetxtrơ vui vẻ ấy. Nhiều đồng đội đã đến thăm chúng tôi, và lần đầu tiên chúng tôi mời khách uống trà ở nhà mới. Guttapxơn, giá mà anh biết được xơ Êđi đã vui sướng biết bao vì được đặt cái trạm này ở ngay trong thành phố mà chị ấy đã sinh ra và biết rõ từng người nghèo khổ. Chị ấy ngắm không chán mắt những tấm nệm và những chiếc khăn mới tinh và những bức tường quét sơn men và những đồ dùng nhà bếp bằng đồng sáng loáng treo trên tường. Chị ấy hớn hở như một đứa trẻ. Và anh hẳn biết, Guttapxơn, khi xơ Êđi vui sướng thì ai nhìn chị ấy cũng phải vui lây.

- Lạy Chúa lòng lành vô cùng! Tôi biết chứ, - chàng đội viên Cứu tế trả lời.

- Niềm vui của chị ấy kéo dài suốt trong thời gian các đồng đội còn ở chơi. - Xơ Maria nói tiếp, - nhưng sau khi họ ra về, chị ấy bị một cảm giác bồn chồn và lo lắng dữ dội xâm chiếm, và chị ấy yêu cầu tôi cùng cầu nguyện với chị ấy để cho điều dữ đang lảng vảng khắp nơi không thể thắng được chúng tôi. Chúng tôi quỳ xuống, và chúng tôi cầu nguyện cho nhà cứu tế và cho cả chúng tôi, và cho tất cả những ai mà chúng tôi hy vọng sẽ cứu giúp. Và trong khi chúng tôi đang quỳ như vậy, thì chuông cửa vang lên. Các đồng đội mới vừa về xong, chúng tôi tự nhủ có lẽ một người nào đã bỏ quên cái gì đó và quay lại lấy. Cả hai chúng tôi đi xuống mở cửa. Chúng tôi không thấy đồng đội nào cả, mà thấy một người đàn ông, một trong những kẻ mà nhà cứu tế lập ra để phục vụ họ. Thú thật với anh, Guttapxơn ạ, người đàn ông mà chúng tôi thấy hiện ra ở khung cửa, cao lớn, rách rưới và say lảo đảo, đối với tôi có vẻ đáng sợ đến nỗi những muốn không cho vào, bởi vì nói chung nhà cứu tế chưa mở cửa. Nhưng xơ Êđi thì vui mừng vì Chúa đã đưa đến cho chị ấy một người khách. Chị ấy tin rằng là như vậy Chúa muốn tỏ ý khen ngợi ciệc làm của chúng tôi, và chị ấy đưa người đàn ông vào. Chị ấy mời anh ta ăn tối, nhưng anh ta trả lời bằng một lời rủa: anh ta chỉ muốn ngủ thôi. Được đưa vào phòng ngủ, anh ta nằm vật xuống giường sau khi đã cởi áo vét tông ra, và anh ta lập tức ngủ say.

- Đấy! - đấy Đavit Hôm thốt ra. - Cô ta đã sợ mình.

Y hy vọng rằng con người đứng trơ trơ ở đằng sau y sẽ hiểu rằng y vẫn là Đavit Hôm như trước kia.

- Tiếc rằng cô ta không thể thấy được mình bây giờ như thế này. Nếu thấy được, cô ta sẽ ngất đi vì khiếp sợ.

- Xơ Êđi vẫn có ý nghĩ sẽ làm một việc tốt lành nho nhỏ cho người khách đầu tiên đến nhà cứu tế của chúng tôi, người nữ đội viên Cứu tế tiếp tục kể, - và tôi thấy chị ấy đã có vẻ thất vọng khi người ấy ngủ ngay đi như thế.. Nhưng chị ấy đã nhanh chóng tự an ủi mình, vì chị ấy đã nhìn thấy cái áo vét tông mà anh ta vừa ném xuống đất. Guttapxơn ạ, tôi tin rằng tôi chưa hề nhìn thấy một cái gì rách rưới đến thế, kinh tởm đến thế, tồi tệ đến thế. Nó sặc sụa mùi rượu và mùi hôi hám bẩn thỉu, phải, chỉ chạm vào cũng đủ ghê cả tay. Thấy xơ Êđi vồ lấy cái áo và xem xét nó, tôi đâm sợ, và tôi van chị ấy bỏ nó ra, vì chúng tôi chưa có xưởng giặt và lò hấp khử trùng. Nhưng anh phải hiểu, Guttapxơn ạ, xơ Êđi, người đàn ông này là người khách mà Chúa đã đưa đến, và đối với chị ấy, sửa sang lại chiếc áo vét tông thảm hại của anh ta là một việc làm thú vị xiết bao, nên tôi không thể thuyết phục chị ấy từ bỏ được. Và chị ấy nhất định không cho phép tôi cùng làm giúp. Vì chính tôi đã nói rằng mó vào chiếc áo ấy là có thể bị nguy hiểm vì lây bệnh nên chị ấy không để cho tôi được sờ vào. Nhưng chị ấy thì lại sửa sang khâu vá lại chiếc áo vét tông kia trong suốt cả đêm lễ thánh Xinvextrơ ấy.

Chàng đội viên Cứu tế ngồi ở phía bên kia bàn ngây ngất giơ hai cánh tay lên và chắp hai bàn tay lại.

- Lậy Chúa lòng lành vô cùng. - Anh ta thốt lên. - Xin đội ơn Chúa đã ban xơ Êđi cho chúng con.

- Amen! Amen! Xơ Maria nói, và mặt nàng tươi sáng hẳn lên. - Thật vậy, xin đội ơn cảm tạ Chúa đã ban xơ Êđi cho chúng ta. Đó là điều ta phải nhắc đi nhắc lại khi đau buồn cũng như khi vui sướng. Xin đội ơn Chúa đã ban cho chúng ta xơ Êđi, một người có thể suốt đêm ngồi gập mình trên chiếc áo rách rưới ghê tởm kia mà lòng vui sướng như thể đang cầm trong tay một cái áo choàng của nhà vua.

Con người trước kia là Đavit Hôm có một cảm giác lạ lùng và thư thái khi hình dung thấy người con gái trẻ, một mình trong đêm khuya, ngồi mạng lại cái áo vét tông của một kẻ lang thang khốn khổ. Sau tất cả những nỗi xúc động và sự giận dữ của y, ý nghĩ này tác động vào y như một thứ dầu thơm. Nếu như không có Giorgiơ đứng đằng sau, lầm lì, bất động theo dõi tất cả những cử chỉ của y, thì y cũng muốn để cho ý nghĩ của mình lưu luyến với hình ảnh ấy.

- Lại xin đội ơn Chúa thêm nữa. - Xơ Maria tiếp tục, - vì xơ Êđi không bao giờ hối tiếc là đã thức suốt đêm ấy để đính lại những chiếc khuy, và vá lại những chỗ rách cho đến tận sáng, không hề nghĩ đến sự hôi hám và sự truyền nhiễm mà chị ấy hít phải! Vâng, xin đội ơn Chúa vì chị ấy không hề hối tiếc đã ở lại trong gian phòng rộng không được sưởi ấm ấy, nơi cái rét tê buốt đêm đông luồn vào và ngấm khắp người chị.

- Amen! Amen! Đến lượt chàng trai thốt lên.

- Chị ấy rét cóng cả người khi làm xong việc. - Cô xơ nói, - tôi thấy cô ấy cứ nằm trăn trở trên giường, chị ấy không làm sao cho người ấm lại được. Chị ấy mới ngủ được một tí thì đã phải thức dậy nhưng tôi đã thuyết phục được chị ấy cứ nằm trên giường để tôi lo liệu cho vị khách của chúng tôi khi anh ta thức giấc.

- Chị vẫn luôn luôn là người bạn tốt.- Chàng đội viên Cứu tế nói.

- Tôi biết rằng đó là một điều hy sinh đói với chị ấy, - Xơ Maria hé cười nửa miệng. - Chị ấy đã hy sinh cho tôi. Nhưng chị ấy cũng không nằm yên được lâu bởi vì người đàn ông, khi ngồi uống cà phê đã hỏi tôi có phải tôi đã sửa sang lại cái áo vét tông của anh ta không? Và khi tôi trả lời là không phải thì anh ta yêu cầu tôi đi tìm cô xơ là người đã làm việc ấy cho anh ta. Anh ta bình tĩnh, cơn say của anh ta đã hết, và anh ta nói năng với những từ ngữ chọn lọc hơn là những người thuộc loại như anh ta nói chung thường dùng.. Vì tôi biết xơ Êđi sẽ vui sướng khi được nghe những lời cảm ơn của anh ta và được nói chuyện với anh ta, nên tôi đã đi gọi chị ấy. Khi chị ấy đến, rõ ràng chị ấy không có vẻ gì là một người đã thức suốt đêm, má chị ấy đỏ hồng, và trong nỗi vui mừng chờ đợi, chị ấy đẹp đến nỗi người đàn ông khi trông thấy chị ấy có vẻ như bị sững sờ mất một lúc. Anh ta đợi chị ấy ở cửa, vẻ mặt cáu kỉnh nhưng rồi lại tươi lên. Điều đó chẳng có gì lạ: ai mà lại muốn làm điều không hay cho chị ấy?

- Lạy Chúa lòng lành vô cùng. Chàng đội viên Cứu tế đồng tình.

- Nhưng mặt anh ta lại trở nên sa sầm, và khi chị ấy đến gần anh ta, anh ta mở phanh cái áo vét tông mạnh đến nỗi làm văng ra cả những chiếc khuy vừa mới được đơm lại. Rồi anh ta thọc mạnh hai tay vào hai túi áo đã vá lại làm cho chúng bục ra và cuối cùng anh ta giật đứt lần vải lót làm cho nó chẳng mấy chốc lại lòng thòng rách bươm còn tệ hơn trước nữa.

- "Cô thấy đấy, - thưa cô - anh ta nói, - tôi có thói quen ăn mặc như thế này. Tôi thấy như vậy thoải mái và tiện lợi hơn. Tôi lấy làm tiếc vì cô đã tự chuốc lấy bao vất vả một cách vô ích, nhưng tôi không thể làm khác được."

Đavit Hôm thấy khuôn mặt rạng rỡ đọt nhiên tối sầm; và suýt nữa thì y thú nhận rằng cái trò tinh nghịch trẻ con ấy thật là độc ác và vô ơn, nhưng nghĩ đến Giorgiơ, y lại ngăn cái cử chỉ tốt đẹp đó lại. Y tự nhủ: "Cần phải để cho Giorgiơ biết ta là người thế nào, nếu như hắn chưa biết. Đavit Hôm không chịu đầu hàng ngay từ cái đánh đầu tiên đâu. Hắn tàn nhẫn và độc ác, và hắn ưa làm cho những kẻ nhạy cảm phát điên lên được."

- Cho đến lúc ấy tôi vẫn chưa nhìn kỹ người đàn ông, - Xơ Maria kể tiếp. - Nhưng khi thấy anh ta giở trò phá tung cái áo mà xơ Êđi đã khâu vá lại với biết bao ân cần dịu dàng như thế, tôi mới nhìn kỹ anh ta. Tôi thấy đó là một người đàn ông cao lớn và có thân hình đẹp đến nỗi nhìn anh ta, người ta chỉ có thể khâm phục đấng Tạo hóa đã sáng tạo nên một tác phẩm như vậy. Tư thế của anh ta cũng chững chạc và rất khoan thai. Khuôn mặt anh ta nay đã đỏ mọng và phị ra, nhưng trước kia hẳn là phải đẹp.

"Mặc dù anh ta hành động với một cái cười độc ác, đôi mắt vàng khè giữa những mi mắt đỏ cạch của anh ta nhìn chúng tôi một cách dữ tợn, nhưng tôi tin là Xơ Êđi chỉ nghĩ rằng trước mặt chúng tôi là một con người sinh ra để sống một cuộc đời cao thượng mà lại đang tự dấn mình vào con đường sa đọa. Tôi đã thấy rõ là lúc đầu chị ấy lùi lại như bị một cái tát, nhưng trong đáy mắt chị ấy lóe lên một ánh sáng, và chị ấy lại tiến thêm một bước đến gần anh ta.

" Chị ấy chỉ nói với anh ta một vài câu: chị ấy nói rằng trước khi anh ta ra đi, chị ấy muốn yêu cầu anh ta sẽ trở lại ngôi nhà này vào dịp lễ thánh Xinvetxtrơ năm sau. Và khi thấy anh ta nhìn mình một cách ngạc nhiên, chị ấy nói thêm: "Anh có biết không? Đêm nay tôi đã cầu Chúa ban cho người khách đầu tiên của nhà Cứu tế chúng tôi một năm tốt lành và tôi muốn gặp lại anh để xem Chúa có chấp nhận lời nguyện ước của tôi không".

"Cuối cùng khi đã hiểu chị ấy muốn nói gì, người đàn ông văng ra một tiếng rủa: " Tôi xin hứa với cô như vậy, - thật đấy, anh ta nói, tôi sẽ đến để cho cô thấy rằng ông ấy chẳng hề quan tâm đến cô cũng như những điệu bộ nhõng nhẽo của cô".

Đavit Hôm sực nhớ lại lời hứa đã quên đi ấy, nhưng đã được thực hiện ngoài ý muốn của y, trong một lúc tự cảm thấy mình như một cây sậy trong tay một kẻ mạnh hơn mình. Sự phản kháng đối với người đánh xe bò phải chăng cũng sẽ là một điều vô ích?- Y tự hỏi. - Nhưng y vội ngăn ý nghĩ này lại. Y không muốn khuất phục, y sẽ không chịu khuất phục. Y sẽ kháng cự cho đến ngày phán xét cuối cùng nếu cần thiết.

Chàng đội viên Cứu tế mỗi lúc một bồn chồn trong khi Xơ Maria kể chuyện. Anh ta không còn có thể ngồi yên được nữa, mà vừa đứng dậy vừa kêu lên:

- Chị chưa nói cho tôi biết tên của kẻ du thủ du thực kia, Xơ Maria, nhưng tôi hiểu đó là Đavit Hôm.

Cô Xơ trẻ gật đầu.

- Lạy Chúa! Lạy Chúa! Xơ Maria, - chàng kêu lên và giơ hai tay ra như để đẩy lùi một vật gì, - làm sao chị có thể muốn tôi đưa y đến đây được? Chị có nhận thấy y tốt hơn một chút nào không? Vậy ra chị muốn cho Xơ Êđi tự nhủ rằng chị ấy đã cầu khẩn Chúa một cách vô ích? Tại sao lại gây cho chị ấy một nỗi buồn lớn như vậy?

Cô đội viên Cứu tế nhìn anh ta với một vẻ sốt ruột gần như tức giận:

- Tôi vẫn chưa kể hết...- cô nói.

Nhưng chàng trai ngắt lời cô:

- Xơ Maria ạ, chúng ta phải đề phòng những cái bẫy, mà ý muốn phục thù dù là không nói ra đoi khi giăng ra để bẫy chúng ta. Trong tôi có con người tự nhiên đầy tội lỗi muốn đưa anh ta đến đây để anh ta ngỡ ngàng và chỉ cho anh ta thấy con người đã vì anh ta mà chết. Tôi tin, Xơ Maria ạ, rằng chị hy vọng sẽ làm cho Đavit Hôm bàng hoàng, chị sẽ nói với anh ta rằng chính cái áo đã được vá lại và bị xé rách bởi sự vô ơn của anh ta, đã truyền bệnh cho Xơ Êđi. Tôi đã nghe chị nhắc đi nhắc lại nhiều lần rằng Xơ Êđi không có một ngày khỏe mạnh kể từ ngày lễ thánh Xinvétxrơ năm ngoái. Nhưng phải dè chừng, Xơ Maria ạ. Chúng ta, những người đã từng sống gần Xơ Êđi và bây giờ còn nhìn thấy chị ấy ở trước mặt mình, chúng ta phải tránh đừng có làm theo ác tâm của chúng ta.

Xơ Maria cúi người ra phía trước và nói mà không ngẩng đầu lên, như thể là nói với những hình vẽ trên bàn:

- Sự báo thù ư? - Cô nói. - Phải chăng là sự báo thù khi làm cho một người hiểu anh ta đã nắm được một kho báu hiếm quý nhất mà anh ta lại để mất đi ư? Nếu như tôi bỏ một thanh sắt gỉ vào lửa để cho nó trở lại sáng và bóng, thì như vậy là báo thù hay sao?

- Tôi ngờ là như vậy đấy, Xơ Maria ạ! - Chàng trai kêu lên - Chị hy vọng cải hóa Đavit Hôm bằng cách làm cho sự ăn năn như một gánh nặng đè lên anh ta! Nhưng Xơ Maria, chị có dám chắc rằng, dù sao đó cũng không phải chính là ý muốn báo thù của chúng ta mà chúng ta đã nung nấu trong lòng? Ở đây có một cái bẫy tinh vi, Xơ Maria ạ. Người ta dễ bị đánh lừa lắm.

Cô Xơ bé nhỏ mặt nhợt nhạt nhìn người đội viên Cứu tế với đôi mắt sáng long lanh niềm vui của sự hy sinh quên mình. "Tối nay tôi không đi tìm lợi ích riêng cho bản thân tôi", cái nhìn của cô nói rõ như vậy.

- Quả thật là bẫy có nhiều loại lắm, - cô trả lời, nhấn mạnh vào từng chữ.

Chàng trai đỏ bừng mặt. Anh ta muốn đáp lại nhưng không thể nói lên được tiếng nào. Đột nhiên anh ta gục xuống bàn, hai tay che lấy mặt và òa khóc nức nở.

Xơ Maria yên lặng để cho anh ta khóc, nhưng môi nàng bật ra một lời cầu nguyện:

- Lạy Đức Chúa Trời, Đức Chúa Giêsu khoan hòa của chúng con, xin Chúa hãy giúp anh ấy vượt qua cái đêm khủng khiếp này. Xin Chúa hãy ban cho con sức mạnh để trợ lực và an ủi những người bạn của con, xin Chúa ban cho con đây là kẻ yếu đuối nhất và ít am hiểu nhất về chuyện đó.

Kẻ bị bắt ở cạnh cửa không hề nghĩ đến lời buộc tội là y đã làm cho Xơ Êđi bé nhỏ ấy bị lây bệnh, nhưng khi thấy chàng đội viên Cứu tế bật khóc thì y rùng mình dữ dội, và y hình như không che dấu sự xúc động của y với người đánh xe bò. Y lấy làm hài lòng vì người con gái mà anh chàng đẹp trai kia yêu dấu đã yêu y hơn, chính y, Đavit Hôm.

Khi những tiếng khóc nức nở của chàng trai đã bắt đầu dịu đi, Xơ Maria nói với anh ta bằng một giọng dịu dàng và thương hại:

- Tôi hiểu anh đang nghĩ đến điều tôi đã nói với anh ban nãy về Xơ Êđi và Đavit Hôm.

Đầu anh ta cúi gục nghẹn ngào thốt lên một tiếng "Vâng", và tòn thân anh rùng mình đau đớn.

- Ý nghĩ này gây cho anh một nỗi đau khổ lớn lao, - tôi hiểu như vậy, - nàng nói tiếp. - Tôi biết một người khác cũng hết lòng yêu mến Xơ Êđi, và khi chị ấy nhận ra điều đó thì lúc đầu chị ấy không thể tin được. Lúc ấy tôi đã tự bảo mình rằng nếu chị ấy yêu một người nào đó thì đó phải là một người hơn hẳn chị ấy. Chúng ta có thể hiến đời mình cho những kẻ nghèo đói và những người khốn khổ, nhưng tình yêu của chúng ta thì chúng ta để dành cho những người khác. Bây giờ khi tôi nói với anh rằng Xơ Êđi không phải như chúng ta, thì anh coi đó là một điều làm chị ấy bị hạ thấp xuống, và anh đau khổ vì điều đó.

Người trai trẻ không nhúc nhích. Anh ta vẫn gục đầu trên bàn. Kẻ bị bắt trói vô hình ở cánh cửa làm một động tác như muốn dịch lại gần để nghe cho rõ hơn, nhưng người đánh xe bò nghiêm khắc ra lệnh cho anh ta phải nằm yên.

- Lạy Chúa lòng lành vô cùng! - cô đội viên Cứu tế kêu lên, vẻ mặt kích động. - Chúng ta là ai mà được phán xét chị ấy? Anh thấy không, Guttapxơn, khi một trái tim tràn đầy kiêu hãnh, nó hiến tình yêu của mình cho những người cao cả, và những kẻ có quyền lực trên thế gian này; nhưng khi trái tim ấy chỉ chứa sự khiêm nhường và lòng từ thiện, nó sẽ hiến tình yêu nồng nhiệt nhất của nó cho ai nếu không phải là kẻ nào đáng thương xót nhất, sa đọa nhất, lầm lạc nhất, chai sạn nhất?

Chàng trai trẻ ngẩng đầu lên nhìn cô Xơ với một vẻ nài nỉ.

- Cũng còn những điều khác nữa, Xơ Maria ạ, - chàng chậm rãi nói.

- Phải, Guttapxơn, tôi hiểu điều anh muốn nói. Nhưng ta nhớ rằng lúc đầu Xơ Êđi không biết Đavit Hôm đã có vợ. Vả chăng, - nàng nói tiếp sau một vài giây lưỡng lự, - tôi nghĩ rằng ít ra thì tôi cũng khó hình dung sự việc một cach khác, tôi nghĩ rằng tất cả tình yêu của chị ấy là nhằm để cải hóa anh ta. Đến ngày nào mà chị ấy thấy anh ta xưng tội trên bục nhà thờ, ắt chị ấy sẽ lấy làm sung sướng.

Chàng trai đã nắm lấy bàn tay cô Xơ, và mắt anh ta uống từng lời nói của nàng, anh ta thốt ra một tiếng thở dài nhẹ nhõm.

- Vậy thì đó chẳng phải là tình yêu. Anh ta kết luận.

Xơ Maria khẽ nhún vai trả lời:

- Tôi chưa bao giờ được nghe Xơ Êđi tâm sự về vấn đề ấy. Có thể là tôi đã nhầm.

- Nếu Xơ Êđi chưa nói với chị một điều gì đặc biệt, thì quả thật là tôi tin rằng chị đã nhầm, - chàng trai nghiêm trang nói.

Cái bóng ma ở cạnh cửa sa sầm mặt lại. Câu chuyện xoay ra như vậy chẳng làm cho y thích thú.

- Tôi không nói rằng Xơ Êđi đã cảm thấy một điều gì khác ngoài lòng thương hại đối với Đavit Hôm lần đầu tiên chị ấy gặp anh ta, - cô đội viên Cứu tế trả lời. - Và chắc chị ấy cũng chẳng có nhiều lý do để yêu anh ta về sau này, vì trên đường đi của mình, chị ấy đã nhiều lần gặp anh ta, và anh ta luôn đối đầu với chị ấy. Có những người vợ công nhân đến than phiền với chúng tôi rằng chồng họ bỏ công bỏ việc vì bị Đavit Hôm lôi kéo. Những hành động hung bạo và thói trụy lạc tăng lên. Bất kỳ nơi nào chúng tôi đến thăm những người khốn khổ, chúng tôi đều nhận thấy điều đó, và ở đâu người ta cũng cho là có bàn tay của Đavit Hôm dính vào. Và với tính nết của Xơ Êđi, anh phải hiểu rằng điều đó càng làm cho chị ấy hăng hái thêm trong việc cảm hóa anh ta trở về với Chúa. Anh ta giống như một con thú mà chị ấy truy đuổi với những vũ khí tốt, tin tưởng ở thắng lợi cuối cùng bởi vì chị ấy cảm thấy trong hai bên thì chị ấy mạnh hơn.

- Lậy Chúa lòng lành vô cùng! - Chàng đội viên Cứu tế trẻ tuổi kêu lên. - Phải, chị ấy mạnh, Xơ Maria, chị có nhớ một buổi tối chị cùng chị ấy đến một quán rượu để phân phát những tờ áp phích mới về nhà cứu tế mới thành lập của các chị không? Xơ Êđi nhìn thấy Đavit Hôm ngồi cùng bàn với một chàng trai trẻ đang nghe anh ta kể chuyện và hùa với anh ta mà cười nhạo chế diễu những người đội viên cứu tế. nhưng Xơ Êđi đã chú ý đến chàng trai trẻ, và chị ấy xúc động vì thương xót. Chị ấy dịu dàng nhìn chàng trai trẻ, đến gần anh ta, và van xin anh ta đừng để bị lôi kéo vào vòng sa đọa. Chàng trai không trả lời, nhưng không còn có thể nhếch mép cười được nữa. Anh ta vẫn ngồi yên ở chỗ cũ và lại còn rót đầy cốc rượu của mình một lần nữa, nhưng không thể quyết định đưa cốc rượu lên môi. Đavit Hôm và những người uống rượu khác chế nhạo anh ta, nói rằng cô đội viên Cứu tế đã làm cho anh ta sợ. Không phải là sợ đâu, Xơ Maria ạ, đó là sự thương xót mủi lòng trong cái nhìn của chị ấy đã làm cho anh ta cảm động và chịu khuất phục để đi theo chị ấy. Chị biết rằng điều tôi nói đây là có thật, và chị cũng biết người trai trẻ ấy là ai, Xơ Maria.

- Amen! Amen! Thật thế. Tôi biết người ấy là ai, và tôi cũng biết rằng từ ngày hôm ấy anh ta là bạn và là người trợ thủ tốt nhất của chúng tôi. - Cô Xơ trả lời với một cái gật đầu thân ái. - Tôi không phủ nhận rằng Xơ Êđi đã ngẫu nhiên thắng được Đavit Hôm một lần. Nhưng phần lớn là chị ấy thua. Chị ấy cũng đã bị cảm lạnh nặng trong cái đêm năm mới ấy và cứ vật lộn với một chứng ho dai dẳng mà rồi ra cũng không bao giờ khỏi được nữa. Người ta cảm thấy ở chị ấy một sự nản lòng do bệnh tật gây nên; có lẽ vì thế mà chị ấy không còn có được khả năng chiến thắng trong đấu tranh như trước nữa.

- Xơ Maria, chàng trai bác bẻ, - trong những điều chị nói không có gì chứng tỏ là chị ấy yêu anh ta vì ái tình cả.

- Anh nói có lý. Lúc đầu thì chẳng có gì làm ta tin như vậy. Nhưng tôi sẽ kể điều đã làm cho tôi tin như thế. Chúng tôi quen một người đàn bà khốn khổ làm nghề khâu thuê bị mắc bệnh lao, chị ta tìm đủ mọi cách đề phòng cực kỳ cẩn thận để tránh cho con chị ta khỏi bị lây bệnh. Chị ta kể với chúng tôi rằng một hôm đi ngoài phố chị ta đang bị một cơn ho dữ dội thì một kẻ lang thang đến gần chị ta và nói: " Tôi, tôi cũng bị bệnh lao, và bác sĩ khuyên tôi giữ gìn cẩn thận. Tôi đếch cần, tôi ho vào mũi mọi người, tôi khạc nhổ khắp nơi và tôi hy vọng như vậy sẽ làm lợi cho họ. Tại sao họ lại được sung sướng hơn chúng ta? Tôi muốn biết điều đó". Kẻ lang thang ấy nói xong bỏ đi, nhưng người đàn bà trẻ thì xúc động đến nỗi phát ốm ngày hôm đó. Chị ta tả cho chúng tôi hình dáng người qua đường này là một người cao lớn tuyệt đẹp mặc dù ăn mặc rách rưới. Chi ta không nhớ được gương mặt người ấy, nhưng trong suốt mấy giờ liền, chị ta không thể quên được đôi mắt của anh ta, giống như những cái vạch màu vàng dữ tợn, sáng lóe lên dưới những mi mắt sưng đỏ. Điều làm chị ta sợ hãi nhất, là người đàn ông này không hề có vẻ say rượu hoặc hoàn toàn trụy lạc, mặc dù anh ta biểu lộ một sự hằn học hung dữ đối với đồng bào của mình. Xơ Êđi chẳng do dự gì mà đoán được ngay đó là Đavit Hôm, nhưng tôi ngạc nhiên thấy chị ấy bênh vực anh ta. Chị ấy muốn thuyết phục người đàn bà trẻ rằng anh ta chỉ đùa để làm cho chị ta sợ mà thôi. Chị ấy nói: "Chị hẳn hiểu rằng một người đàn ông có dáng lực lưỡng như vậy không thể là người mắc bệnh lao. Tôi tin là anh ta khá độc ác nên mới làm cho chị sợ hãi, nhưng anh ta sẽ không cố tình đi gieo rắc sự truyền nhiễm nếu anh ta có bệnh. Dù sao, anh ta cũng không phải là con quái vật." Chúng tôi không đồng ý với chị ấy: chúng tôi tin chắc rằng anh ta chẳng làm ra vẻ độc ác hơn là anh ta ác thật. Nhưng chị ấy bênh vực anh ta một cách hăng hái đến nỗi cuối cùng chị ấy phát cáu lên.

Lúc này người đánh xe bò lại một lần nữa tỏ ra y vẫn theo dõi câu chuyện, vì y cúi xuống người tù của y và nhìn vào tận đáy mắt hắn:

- Tớ nghĩ rằng cô đội viên Cứu tế có lý. Đavit ạ: cái người con gái không chịu tin là cậu xấu chắc phải yêu cậu ghê lắm.

- Điều ấy chẳng có nghĩa lý gì hết, Guttapxơn ạ. - Xơ Maria nói tiếp, - và điều mà tôi quan sát được hai ngày sau đó có lẽ lại ít ý nghĩa hơn. Đó là một buổi tối, Xơ Êđi và tôi đi về nhà. Xơ Êđi mệt mỏi và chán nản vì những chuyện phiền phức đã xảy đến cho một số người đang được chị ấy che chở. Vừa lúc ấy Đavit Hôm đến gần chị. Anh ta nói bằng cái giọng ngạo mạn nhất của anh ta , rằng anh ta chỉ muốn báo cho chị biết từ nay chị có thể yên tâm và sung sướng bởi vì anh ta sẽ rời khỏi thành phố này. Lúc ấy tôi nghĩ rằng quả thật Xơ Êđi sẽ hài lòng, nhưng nghe giọng nói của chị ấy chị ấy, tôi lại thấy là chị ấy buồn vì điều đó. Chị ấy nói thành thật với anh ta rằng chị ấy những muốn anh ta ở lại để chị ấy được thêm một thời gian nữa có dịp đọ sức với anh ta. Anh ta trả lời cũng bằng một giọng ngạo nghễ như vậy, rằng anh ta lấy làm tiếc, nhưng anh ta buộc lòng ra đi để tìm khắp nước Thụy Điển một người mà anh ta nhất thiết phải tìm cho được. Và anh biết không, Guttapxơn, Xơ Êđi hỏi bằng một giọng lo lắng rõ rệt rằng người ấy là ai, đến nỗi tôi suýt nữa phải rỉ tai nói chị ấy một lời nhắc nhở. Anh ta trả lời rằng lúc nào anh ta tìm được người ấy thì chị sẽ nghe nói đến. Lúc ấy, chị sẽ có thể mừng cho anh ta, vì anh ta sẽ chẳng còn phải chạy rông khắp xứ như một kẻ lang thang hay một tên du đãng nữa. Nói xong anh ta bỏ đi, và anh ta chắc chắn đã làm đúng như lời anh ta nói. Một thời gian dài chúng tôi không gặp lại anh ta. Tôi đã hy vọng rằng sẽ không bao giờ nghe nói đến anh ta nữa, bởi vì anh ta chỉ đem tai họa đến bất cứ nơi nào mà anh ta ló mặt tới. Ấy thế mà có một hôm, một người đàn bà đến gặp Xơ Êđi và hỏi tin tức về Đavit Hôm. Chị này thổ lộ với Xơ Êđi rằng chị là vợ của Đavit Hôm, nhưng chị không thể tiếp tục sống với anh ta vì anh ta nghiện rượu và phóng đãng. Chị đã bỏ anh ta và đưa con trốn đi, và chị đã đến ơt thành phố này là nơi chị cho rằng khá xa nên anh ta sẽ không nghĩ đến việc đến đây để tìm chị. Chị đã tìm được một việc trong nhà máy đủ để nuôi sống chị và các con. Đó là một người đàn bà ăn mặc tươm tất và gây được lòng tin cậy. Chị ta rất nhanh chóng trở thành hướng dẫn viên ở nhà máy và đã có được một căn nhà xinh xắn. Trước kia khi còn sống với chồng, chị và các con chị đói khát khổ sở. Ấy thế mà bây giờ chị ấy lại nghe nói rằng chòng chị ở trong thành phố này và các đội viên Cứu tế có biết chồng chị. Vậy nên chị đến để hỏi tin tức anh ta. Guttapxơn ạ, nếu lúc ấy anh có mặt ở đấy, nếu anh thấy và nghe Xơ Êđi nói, anh sẽ không bao giờ quên được. Khi người đàn bà xưng tên ra, Xơ Êđi tái mét mặt đi như người sắp chết, nhưng rồi chị ấy trấn tĩnh lại, và đôi mắt chị ấy có một vẻ đẹp cao siêu. Rõ ràng là chị ấy đã tự thắng được mình và không còn đòi hỏi gì ở cuộc sống nữa. Và chị ấy nói với người đàn bà bằng một giọng nói dịu dàng đến nỗi làm cho chị ta cảm động ứa nước mắt. Chị ấy không hề trách người đàn bà một câu, nhưng gợi cho chị ta một ít hối hận vì đã bỏ chồng mà đi. Tôi cho rằng người đàn bà này cuối cùng cũng thấy mình tàn nhẫn quá. Và Guttapxơn ạ, anh có biết không, Xơ Êđi đã biết cách làm thức dậy mối tình xưa, mối tình thời son trẻ, mối tình của chị ta đối với chồng khi họ mới cưới nhau. Chị ấy gợi cho người vợ nhớ lại thời kỳ trăng mật và luyến tiếc người chồng. Chị ấy không hề dấu diếm tình trạng thảm hại của ông ta, nhưng chị ấy đã truyền cho người vợ sự khát vọng y như chính của chị ấy đã muốn vực Đavit Hôm dậy.

Lần thứ ba, người đánh xe bò lại cúi xuống tù nhân của mình, nhưng lần này hắn ngẩng lên ngay không nói với kẻ kia một tiếng nào. Có biết bao bóng tối âm u tụ đặc xung quanh khuông mặt to lớn nằm ở dưới đất khiến cho người đánh xe bò phải dựa lưng vào tường và kéo sụp cái mũ trùm đầu xuống đến tận mắt để không nhìn thấy hắn.

Chắc hẳn là trong lòng người vợ đã có mầm mống hối hận. Xơ Maria nói tiếp. - Những mầm mống này cứ phát triển lên trong những nói chuyện giữa chị ta với Xơ Êđi. Nhưng trong buổi nói chuyện đầu tiên này, chúng tôi thỏa thuận với nhau rằng không cho người chồng biết chỗ ở của người vợ. Chỉ sau đó rất lâu, sau nhiều lần gặp gỡ khác, chúng tôi mới thay đổi ý định. Xơ Êđi không trực tiếp khuyên, nhưng tôi biết chị ấy mong cho người vợ gọi người chồng về, và tôi buộc phải thú nhận rằng sự xích lại gần nhau đac đem tai họa đến cho chị vợ của Đavit Hôm này chính là công trình của Xơ Êđi. Tôi đã suy nghĩ nhiều, và tôi chắc rằng Xơ Êđi sẽ không dám gánh lấy trách nhiệm như vậy nếu chị ấy không yêu Đavit Hôm.

Xơ Maria nói những lờ cuối cùng này một cách tin tưởng đén nỗi hai con người lúc nãy đã bối rối khi lần đầu nghe nàng nói đến mối tình của cô xơ nhỏ, lần này thản nhiên không dao động. Chàng đội viên Cứu tế ngồi yên, tay vẫn che lấy mặt, và người đàn ông nằm cạnh cửa lại trở lại vẻ mặt hằn học ủ ê như là lúc bị cưỡng bức lôi vào căn nhà này.

- Lúc ất chẳng ai biết Đavit Hôm đi đâu. - Xơ Maria nói tiếp - nhưng Xơ Êđi qua những kẻ lang thang khác đã nhắn với anh ta rằng có thể cho anh ta biết tin tức vợ con, nếu anh ta trở lại. Và Xơ Êđi đã làm cho hai vợ chồng đoàn tụ, sau khi sắm sửa cho anh ta ăn mặc tươm tất và tìm cho anh ta công việc làm ở một nhà thầu xây dựng. Chị ấy không yêu cầu anh ta sẽ tu chí làm ăn, cũng không bắt anh ta cam kết bất cứ một điều gì. Chị ấy biết không thể ràng buộc một con người như anh ta bằng những lời hứa, nhưng chị hy vọng trồng lại trong mảnh đất tốt hạt lúa mì đã bị rơi vào đám cỏ gai, và chị ấy tự tin chắc chắn sẽ đạt được kết quả. Và có lẽ Xơ Êđi sẽ hoàn thàng công trình tốt đẹp của mình nếu như chị ấy có thể tiếp tjc chăm nom nó. Nhưng không may là chị ấy đã bị bệnh. Đầu tiên là sung huyết phổi, rồi sau khi khỏi bệnh sung huyết, đáng lẽ hồi phục, chị ấy lại héo hon mòn mỏi đi, và phải đưa chị ấy vào bệnh viện điều dưỡng. Đavit Hôm đã đói xử với vợ như thế nào tôi chẳng cần nói, anh cũng biết, Guttapxơn ạ. Người duy nhất không biết điều đó, hay ít nhất là do chúng tôi cố dấu kín không cho biết, đó là Xơ Êđi, bởi vì chúng tôi thương hại chị ấy. Chúng tôi hy vọng là chị ấy sẽ không nghe nói gì đến chuyện này trước khi mất, nhưng bây giờ, tôi không còn hiểu ra sao nữa, tôi sợ rằng chị ấy đã biết hết rồi.

- Làm sao mà chị ấy biết được?

- Sợi dây nối liền chị ấy với Đavit Hôm bền chặt đến nỗi tôi nghĩ rằng chị ấy biết được tất cả những gì liên quan đến anh ta bằng những con đường tinh tế chứ không phải bằng cách thông thường. Chính là vì chị ấy biết hết nên chị ấy mới một hai đòi gặp anh ta cho bằng được như vậy, ít ra đó cũng là điều mà tôi tin chắc. Chị ấy đã đưa đến cho vợ con anh ta một nỗi đau khổ vô hạn, và bây giờ chị ấy cảm thấy chỉ còn một ít thời gian ngắn ngủi nữa để sửa chữa lại điều tai họa chị ấy đã gây ra. Và chúng ta thì nhu nhược đến nỗi không thể nào đưa anh ta đến đây được.

- Nhưng, Xơ Maria, đưa anh ta đến đây liệu có ích gì? - Chàng trai vẫn bướng bỉnh hỏi, - chị ấy sẽ không thể nói chuyện được với anh ta. Chị ấy yếu quá rồi.

- Tôi sẽ nói thay chị ấy, - cô xơ trẻ tuổi trả lời, giọng đày tin tưởng, - và anh ta sẽ nghe được những lời người ta nói với anh ta ta bên cạng giường của Xơ Êđi đang hấp hối.

- Thế vhị định nói gì với anh ta? - Chị định nói là chị ấy yêu anh ta à?

Xơ Maria đứng dậy. Nàng chắp tay trước ngực, ngẩng mặt lên trời và nhắm mắt lại:

- Lạy Chúa! - Nàng cầu nguyện. - Xin người hãy xui khiến cho Đavit Hôm đến đây trước khi Xơ Êđi mất! Lạy Chúa xin Người hãy khiến cho anh ta thấy và cảm nhận được mối tình của chị ấy, xin Người hãy khiến cho ngọn lửa của mối tình này làm tan chảy tâm hồn băng giá của anh ta! Lạy Chúa chẳng phải là Người đã linh nghiệm gây nên mối tình này để cho nó chiến thắng trái tim sắt đã kia sao? Lạy Chúa xin Người hãy ban cho con lòng dũng cảm để không nghĩ đến chuyện gượng nhẹ đối với chị ấy mà dám dìm linh hồn người đàn ông này vào trong tình yêu của chị ấy. Lạy Chúa xin Người hãy để cho anh ta cảm nhận mối tình ấy như một làn gió nhẹ êm dịu và ấm áp, như hơi thoảng của một cánh chim, như ánh hồng tỏa rạng ban mai đẩy lùi màn đếm tăm tối. Lạy Chúa xin Người đừng để cho anh ta tưởng lầm rằng con muốn báo thù anh ta! Xin Người hãy làm cho anh ta hiểu rằng Xơ Êđi chỉ yêu cái bản thể sâu kín nhất của anh ta, cái bản thể mà chính anh ta muốn bóp nghẹt và giết chết! Lạy Chúa...

Xơ Maria rùng mình và mở mắt ra. Chàng trai trẻ đang mặc áo khoác vào người.

- Tôi đi tìm anh ta đây!- Chàng nói, giọng bối rối. - Tôi sẽ không trở về nếu không có anh ta đi theo.

Kẻ nằm cạnh cửa quay về phía người đánh xe bò và cuối cùng nói với hắn:

- Giorgiơ, câu chuyện này kéo dài như thế là đủ rồi đấy chứ? Lúc đầu những chuyện họ nói cũng có đôi chút gì đáng cảm động đấy, lẽ ra cậu đã có thể làm tớ dịu đi như vậy, nhưng đáng lý phải báo trước cho họ đề phòng: tại sao họ lại nói đến vợ tớ?

Người đánh xe bò không trả lời mà chỉ tay về phía căn buồng kia. Cửa buồng mở ra và một bà già đi vào.

Bà rón rén đi lại gần hai người đội viên Cứu tế và nói với một giọng run run điều bà báo cho họ biết:

- Em nó không muốn nằm trong căn buồng nhỏ ấy nữa. Nó muốn ra ngoài này. Bây giờ thì cũng chẳng còn được bao lâu nữa.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của selma lagerlöf