Tôi lảo đảo rời xa cửa sổ, cúi mặt vào tường và quỳ xuống đó trong vài phút, ngồi tựa vào bên thành giường. Bằng cái giọng nói kì lạ và xa xôi, tôi kêu lên vài tiếng trong nỗi sợ hãi không dám thở.
“Không, không, không!”
Tôi không dám tiếp tục nhìn về phía cửa sổ nhưng vẫn cảm nhận thấy nó đằng sau gáy, rằng gương mặt đáng sợ ấy ở ngoài kia, trong bóng tối, đang dần dần tiến đến. Bây giờ nó vào nhà qua những tấm kính màu xanh, xuyên qua tấm kính như một xác chết trôi dạt trong nước - từ từ và đáng sợ, nhích từng chút một, không một tiếng động. Tôi không dám nhìn ra đó, dù có chuyện gì xảy ra đi nữa. Thế nhưng, tôi bất thình lình xoay đầu lại.
Gương mặt đang ở đó, trắng bệch và gớm ghiếc, với cái trán cao và đôi môi đỏ tươi như của một đứa bé. Tôi lao mình lên giường và che mắt lại, nhưng sau gáy vẫn cảm nhận được làn hơi lạnh giá của sự sợ hãi, lạnh lẽo như ánh trăng ma quái.
… Cuối cùng, tôi tỉnh dậy sau cơn mê kéo dài chừng một tiếng đồng hồ. Ánh sáng mờ ảo của ban mai chiếu vào phòng. Tuy vẫn chưa dám nhìn ra cửa sổ, tôi biết rằng ở ngoài kia, nắng đang bừng lên từng phút một. Tôi cảm giác như mình đang nằm trong ca-bin của một chiếc thuyền nhỏ, xuyên qua bóng tối như hũ nút, và bây giờ thì ngày đã đến và ánh sáng xuất hiện.
Khi tôi nhận biết các đồ vật quanh mình rõ tới đâu thì sự sợ hãi lại nhanh chóng biến mất đến đó; khi tôi nhìn đến chiếc đồng hồ treo tường kiểu cổ điển nhưng đã không còn chạy nữa, những bức tranh giả sơn dầu nho nhỏ, búc ảnh của người anh hùng lập quốc Na Uy năm 1905, những bình hoa và xấp giấy trắng trên bàn, tất cả đều mang lại sự ấm cúng và yên bình. Ngay lúc đó, tôi biết rõ rằng mình đã phản ứng thật không ra sao cả. Tôi đã lần thứ hai bất tỉnh, yếu đuối hơn cả một người đàn bà trong cơn hoảng loạn.
Tôi nhìn ra cửa sổ…
Ở ngoài kia, cây cối đang vươn cao về phía bầu trời ẩm ướt, xám xịt. Tôi mở cửa sổ ra. Ngay lập tức, những tấm màn bay ngược vào phòng như những cánh buồm đầy gió, dù bên ngoài lặng gió. Không khí nặng nề tràn vào phòng, mang theo mùi của biển, màu xanh da trời được phản chiếu từ những đám mây tươi sáng, mùi hương tuyệt vời của mùa hè từ những bãi cỏ nơi xa vừa mới được cắt xong, của những ngọn đồi đầy nắng trên cánh đồng hoang, từ những cánh rừng thông. Ở đây, bầu không khí đầy ắp mùi nồng nồng của nhựa cây và những quả thông mục, sau khi nấn ná bên những ụ đất đầy bí ẩn của mùa hè, nơi những quả mâm xôi và dâu đất mọc sum suê giữa những cành cây khô và những con rắn độc trơn ướt bò ra từ dưới những tảng đá.
Dưới màn mây màu xám, không khí thật oi bức; nhưng rồi gió đông đã đến cùng với bình minh và vén tấm màn xám ngoét ấy ra khỏi chân trời. Ở phía đông, những ngọn giáo ánh sáng màu xanh đã xuyên qua tấm thảm mây, lấp lánh và óng ánh vàng trong không khí, tựa như có hàng ngàn thanh kiếm sáng lóa cùng chuyển động.
Thoát được sức đè nén của bóng tối và sợ hãi, tôi bắt đầu bình tâm suy nghĩ xem rốt cuộc chuyện gì đã xảy ra. Tôi cảm thấy chán ghét bản thân mình bởi sự hèn nhát và thiếu tự chủ của mình. Toàn bộ sự việc ấy chỉ là ảo giác, một hiện tượng xuất phát từ tâm thần bất ổn, bị kích động nặng nề của tôi. Nhưng rõ ràng, ai có thể vững vàng được trong những lúc như thế chứ? Tôi cảm thấy như đang bước trên một sàn nhà đầy máu.
Bây giờ thì không thể nghĩ đến chuyện đi ngủ được nữa. Tôi muốn ra biển và nghe những con thuyền rời khỏi cây cầu và đến nơi đánh cá. Tôi không thể chịu đựng được sự yên lặng đến trầm mặc trong căn phòng này được nữa.
Cửa không khóa. Tạ ơn Chúa, tôi thầm nhủ, đêm qua tôi đã không biết đến điều đó, bởi nếu biết, nó hẳn sẽ là nguồn cơn kinh hoàng khác cho tôi.
Tôi đi vòng quanh ngôi nhà, đến bên cửa sổ, ước lượng khoảng cách từ mặt đất đến tấm kim loại che bệ cửa sổ và đoán định được ngay rằng một người đàn ông với chiều cao trung bình có thể đứng dưới cửa sổ và ló mặt lên nhìn vào trong, giống như gương mặt tôi đã nhìn thấy qua tấm kính đêm qua. Thật là kỳ lạ. Ở dưới cửa sổ có một mảnh đất đen nhỏ và mềm, một vài cây táo èo uột mọc bên trên, sát cạnh cửa sổ có một luống đất trồng hoa, những cây hoa còi cọc và thưa thớt vì thiếu ánh nắng.
Tôi nhìn xuống luống đất trồng hoa, đột nhiên cảm thấy như có dư âm của cơn kinh hoàng hồi đêm ập về. Ngay giữa luống hoa là hai dấu chân hằn rõ trong đám đất màu đen. Tôi kéo các cành cây sang một bên để nhìn kĩ hơn. Rõ ràng là có một người vừa đứng ở đây. Tôi ấn chân phải của mình vào cạnh bên, và khi nhấc chân lên tôi nhận thấy bàn chân mình dài hơn hai dấu chân đó chừng nửa xăng-ti-mét. Ngoài ra, hoàn toàn không có sự khác biệt nào giữa ba dấu chân ấy; tất cả chúng đều đã rõ rành rành trên đất. Chính điều này đã cho tôi biết rằng chắc chắn rất gần đây có ai đó đứng đây nhìn qua cửa sổ, thậm chí là chỉ từ vài tiếng trước. Đêm qua ư? Tôi quỳ xuống và xem xét kĩ hơn. Tôi lập tức tìm thấy nhiều dấu vết hơn, và tôi có thể nhìn thấy hắn ta rẽ xuống từ con đường dẫn đến các tấm đá hoa cương như thế nào. Hắn ta đã đi ở đây… và cả ở đây. Hắn ta đến mảnh vườn, gạt những cành cây sang một bên và bước vào chỗ của mình trong luống hoa. Hắn ta đã đứng ở đó khá lâu, có lẽ là nửa giờ. Tôi nhận ra điều ấy ở hai dấu chân lún sâu hơn những dấu chân còn lại, hắn ta đã đứng im bất động… và nhìn vào phòng tôi.
Chẳng hiểu vì sao tôi lại giận dữ dùng chân xoa đi xoa lại trên luống hoa nhằm xóa các dấu chân đi, đến nỗi xới tung đất lên và bẻ gãy các thân cây. Xong việc, tôi lại cười chính bản thân mình vì sự kích động đó, rồi đứng sát tường và nhìn vào qua cửa sổ.
Tôi chợt rùng mình. Tôi đã nghĩ rằng mình sẽ nhìn thấy một cái gì đó trong phòng, và tưởng tượng rằng trong đó bây giờ phải hoàn toàn khác với khi tôi rời khỏi đó. Tôi có cảm giác sợ hãi, khi một người đứng trước gương và thứ đang nhìn ngược lại từ tấm gương không phải khuôn mặt họ.
Nhưng gian phòng hoàn toàn không có gì thay đổi, cái bàn, cái ghế, cái giường vẫn ở nguyên vị trí; trên tường vẫn là những bức tranh in giả sơn dầu, bức ảnh người anh hùng lập quốc của Na Uy năm 1905.
Giờ đây, tôi đứng ở đó và nhìn qua tấm kính ở phía dưới cửa sổ. Tôi nhớ là tôi đã nhìn thấy gương mặt của người chết trong bóng tối đen kịt qua chính tấm kính này. Viên kiểm lâm Blinde bị giết cũng cao bằng tôi. Đúng rồi. Người chết đã đứng trước cửa sổ đêm qua.
Tôi vội vã rời khỏi nơi ấy.
Dấu chân, hiện thực không thể chối cãi ấy, khiến tôi bối rối và mọi kết luận của tôi bị bác bỏ. Thế nghĩa là không phải ảo tưởng! Nhưng viên kiểm lâm đã chết, người ấy đã chết và đã được chôn cất, làm sao anh ta có thể đứng ở ngoài cửa sổ trong đêm khuya, và nhìn tôi ở bên trong?
Tôi lê bước trên con đường dọc theo bờ biển, mặc dù mặt trời không hiện ra giữa những đám mây nhưng cái nóng nực vẫn bức bối áp trên mặt đất. Một ngày oi bức đang chờ đợi tôi, tôi biết.
Còn chưa nhìn thấy người, nhưng từ bãi biển dưới kia tôi nghe được đủ mọi tiếng ồn. Ván lót thuyền được đóng vào vị trí, nước đọng ở trong cũng được tát cạn. Những căn nhà kho sơn đỏ bên cạnh biển do sương mù tối qua tô thắm hơn bình thường. Biển lặng yên, tựa như bị ghim chặt vào những vách đá và những hòn đảo đá. Một con thuyền có mái chèo bơi ra từ trong bóng tối phía gần bờ; một ông già cầm mái chèo, từ từ bơi tới với những cái cọc chèo kêu kin kít, làm những gợn sóng lan ra khắp vịnh.
Tôi đi chân trần, thầm thắc mắc không biết giờ là mấy giờ, 4 hay 5 giờ sáng rồi? Lúc này, cuộc sống ngày mới đã bắt đầu. Nhiều con thuyền được chèo tới, tôi bắt đầu nghe thấy tiếng người nói chuyện nho nhỏ đâu đó bên cạnh cây cầu.
Trong lúc tôi đứng cạnh bờ biển và tận hưởng sự bình yên của ban mai, suy nghĩ mông lung về sự kiện đáng sợ hồi đêm, thì bỗng nhiên một tia nghi ngờ xẹt qua. Tôi biết nó đã xuất hiện trong suy nghĩ của mình, nhưng không thể bám rễ được cho đến thời điểm này. Thế nhưng bây giờ nó bất ngờ xuất hiện một cách rõ ràng, và tôi không thể phớt lờ nó được nữa, tới mức tôi không thể ngừng suy nghĩ về nó. Tôi đi lại trên cầu, rùng mình vì căng thẳng: Phải như thế, mọi việc có liên quan với nhau như thế và tất cả cũng được giải thích như thế. Tấm màn đen tối che giấu mọi bí mật bất ngờ bị giật phăng, nhưng đồng thời, một cảm giác sợ hãi không rõ ràng lại ập đến, linh tính cho mối nguy hiểm lớn sắp sửa xảy ra.
Tôi đi về khách sạn; tuy không nghĩ là sẽ gặp một du khách nào đó vào giờ này, nhưng tôi nghĩ có thể mình sẽ có được một ly bia hay một chén xúp. Sau lần bất tỉnh này, tôi cảm thấy người yếu đi, như sau một cơn đói lâu ngày. Khi tôi đi đến bãi cỏ nằm giữa khách sạn và đường đi, tôi nhận thấy tấm bạt che nắng sọc đỏ đã không được kéo lên trong đêm qua. Tôi bước lên cầu thang, đi đến hàng hiên và nhìn qua cửa kính vào trong phòng ăn.
Gian phòng rộng lớn ấy tất nhiên không một bóng người, cửa không khóa, và tôi bước vào. Khăn trải bàn vẫn còn đó, cùng với phần đồ ăn thừa bữa tối hôm qua, vụn bánh mì rải rác, những ly sữa chỉ còn một nửa; hẳn là người ta không nghĩ là sẽ có khách đến vào lúc sáng sớm thế này. Trong một góc, sau vài cây dừa giả, chiếc dương cầm màu đen phô ra những phím đàn trắng như tuyết. Tôi biết nó có ở đó, và lướt nhìn qua chiếc dương cầm. Trên những tấm gỗ ốp dọc theo tường có một bộ sưu tập ly tách trông thật buồn cười. Một cái bàn đặt cạnh cửa vào gian bếp, trên đó đặt một máy hát và một cái khui nút chai màu vàng. Trong khoảnh khắc, tôi nhìn thấy cái máy ấy, tôi tưởng chừng như nghe được tiếng lạch cạch của nó trong tâm trạng bồn chồn, hồi hộp. Tôi mệt mỏi, ngồi phịch xuống một chiếc ghế bên cạnh cửa sổ.
Lúc đó, tôi nghe thấy tiếng cọt kẹt ở chiếc dương cầm, ánh mắt tôi lập tức lướt sang phía đó. Tôi giật nảy mình… Chúa ơi, ở đó một người đang ngồi trên chiếc ghế đánh đàn. Tôi đã bơ phờ tới mức không nhận ra được người này, mặc dù tôi biết chắc rõ ràng mình đã nhìn thấy cây dương cầm trước đó!
Khi phát hiện ra đó là Asbjörn Krag, vị thám tử, tôi lập tức cảm thấy khó chịu. Ông ta bước đến bên tôi, gật cái đầu hói chào tôi và mỉm cười. Kỳ lạ thay, tôi bỗng cảm thấy kinh sợ và mong muốn ông ta đừng đến gần tôi nữa. Gương mặt ông ta xương xẩu và trắng bệch, và nụ cười của ông ta, đáng lẽ phải ra vẻ hiền hòa, thì lại mang biểu hiện vô cùng không thân thiện. Ông ta bước thẳng tới chỗ tôi.
“Ông ngủ có ngon giấc không?” Ông ta hỏi.
Trong khoảnh khắc đó, khi nhìn thẳng vào đôi mắt ông ta, tôi cảm thấy hết sức rõ ràng sự nghi ngờ của mình được củng cố thêm. Không còn nghi ngờ nữa, tôi biết rõ, một cách đáng sợ và chắc chắn đến mức không thể nào bác bỏ được.
Bằng vẻ bình thản nhất có thể, tôi trả lời:
“Cảm ơn, vâng, tôi ngủ ngon.”
Lúc ấy, ông ta thọc tay vào túi tìm chiếc đồng hồ và chậm chạp lấy nó ra. Đó là một chiếc đồng hồ vàng có nắp đôi. Nó kêu tách, rồi cái nắp bật ra.
“Mới 5 giờ sáng.”
“Thế à? Vâng, tôi cũng nghĩ thế.”
“5 giờ sáng,” vị thám tử nhắc lại, “tức là ngay cả khi ông ngủ ngon thì ông ngủ cũng không lâu. Ngoài ra thì đôi mắt như cho thấy ông đã gặp nhiều ác mộng.”
“Tôi có một cơn ác mộng,” tôi trả lời, “và nó đã đánh thức tôi dậy. Nhưng việc tôi hồi hộp và kiệt sức có làm cho ông ngạc nhiên không? Ở đây dường như ngày nào người ta cũng trải qua những việc gây kích động.”
Vị thám tử đứng trước mặt tôi và chú tâm xem xét thái độ của tôi trong khoảnh khắc.
“Tôi cho rằng ông nên dọn về khách sạn,” ông ta nói.
“Tại sao?”
“Ở đây có nhiều người. Ở đây ông có bạn bè và người quen, ông đâu cần phải sống cô độc như thế!”
“Ông thật sự tin rằng tôi sợ à?”
“Tôi cho rằng cảm giác của sự cô đơn hẳn phải đè nặng lên ông.”
“Hoàn toàn không. Tôi thích sống một mình và tôi có thể bảo đảm với ông rằng tôi không bị cả người sống lẫn ma quỷ quấy rầy kể từ khi sống ở ngoài mũi đất ấy.”
“À há, thật sự là không sao?”
Tôi không thể nào chịu đựng thêm được nữa ánh mắt dò xét đáng ghét ấy của vị thám tử, liền đi ra ngoài hàng hiên. Ngay sau đó, ông ta đã đứng cạnh tôi.
Bây giờ thì ông ta nói với một giọng điệu cách hoàn toàn khác, thân thiện và tán dương. Ông ta có thể hiểu được rằng tôi muốn dậy sớm, để tận hưởng một ngày đẹp trời như thế này.
“Hôm nay trời sẽ rất nóng đấy,” ông ta nói và chỉ tay đến những cánh đồng ngũ cốc. Những cánh đồng vàng óng, cuộn sóng nhẹ nhàng trong nắng mai và tràn vào khu rừng, làm những cái cây ở đó ngập trong lúa mì.
Asbjörn Krag lại nhìn vào đồng hồ của mình.
“Ông chờ gì thế?” Tôi hỏi.
“Chờ những người mang chiếc xe sắt từ dưới biển lên,” ông ta nói. “Ông đã quên mất việc ấy thật à?”
“Không, tôi thấy vui vì bí mật của chiếc xe sắt cuối cùng cũng sắp có lời giải đáp.”
Không lâu sau đó, người ta nghe được tiếng bước chân trong khách sạn, cửa được mở ra và đóng lại, Asbjörn Krag giải thích rằng ông ta đang rất đói bụng, liền đi tìm bà chủ khách sạn và kiếm được cà phê cho cả hai, Tôi cũng cố gắng nhâm nhi một chút nhưng hầu như không thể. Suốt lúc ấy, đôi mắt của Asbjörn Krag không ngừng nhìn tôi dò xét.
“Rõ ràng là ông không quen dậy sớm như thế này, có phải không?” Vị thám tử nhận xét. “Ông không muốn ăn gì cả.”
“Ông nói đúng. Đúng là tôi đang cảm thấy mình đã ngủ quá ít, mí mắt tôi nóng ran và nặng nề.”
“Nhưng giờ không phải là lúc ông nên ngủ,” Krag nói, giọng điệu sôi nổi, “ông phải theo tôi xuống biển, chiếc xe sắt chuẩn bị được kéo lên. Tôi hứa với ông là sẽ có một sự kiện lý thú đấy - và lần này thì hoàn toàn không có đổ máu,” ông ta nói nhỏ. “Có phải không, chúng ta đã có đủ máu rồi!”
Tôi không trả lời. Asbjörn Krag cười to, vẻ khô khan đặc trưng.
“Ông cười về điều gì?”
“Xin lỗi ông,” ông ta nói, “có lẽ tôi hơi lạnh lùng, nhưng tính tôi là thế, và tôi cũng không biết phải làm sao. Tôi thấy ngón tay ông run run và chiếc nĩa va vào đĩa ăn kêu lanh canh. Tôi quan sát thấy có sự co giật nhẹ trên gương mặt ông khi tôi nói đến máu. Tôi thích việc đó, quan sát những sự kiện đáng sợ tấn công con người diễn biến ra sao và rồi họ dần dần ngã gục thế nào.”
“Tôi không ngã gục.”
“Tôi không nói thế, nhưng ông bị ảnh hưởng khá nhiều, tôi có thể nhìn thấy điều này ở ông.”
“Ông thấy điều đó đáng ngạc nhiên à?”
“Không đâu, ông bạn thân mến, tôi sẽ cảm thấy kỳ lạ hơn nhiều nếu như ông vẫn bình thản trước những sự việc đó. Nhưng bây giờ thì tôi nghe thấy có công nhân đến rồi.”
Một chiếc xe đang lăn đi trên con đường. Asbjörn Krag gấp chiếc khăn ăn lại, bình thản đặt nó xuống bàn cạnh đĩa ăn và bước đến bên cửa sổ.
Khi đã đứng bên cửa sổ, ông ta lẩm bẩm:
“Đúng, đúng là họ rồi.”
Tôi cũng bước ra đó.
Ở ngoài đường, có một chiếc xe bốn bánh đang đỗ lại, một người đàn ông vừa nhảy xuống xe, một người khác cầm dây cương. Cả hai hẳn không phải là người vùng này, tôi chưa từng nhìn thấy họ trước dây.
Tôi đứng sát ngay sau Asbjörn Krag; vì tôi cao hơn ông ta nên tôi có thể nhìn thấy một cái đầu hói láng bóng, làn da trắng và mịn màng như da của một đứa bé sơ sinh với tĩnh mạch xanh xao nổi bật. Đúng là ở mép tóc đấy, tôi nghĩ thầm, viên kiểm lâm đã lãnh cú đánh chí mạng ở đó, và hộp sọ của anh ta vỡ ra… Một cơn rùng mình kỳ lạ lướt qua, tôi không thể rời mắt khỏi cái đầu hói láng bóng ấy, vệt xanh lấp lánh ấy… Bất thình lình, viên thám tử xoay người thật nhanh và nhìn tôi.
“Ôi, đôi mắt!” Ông ta nói to.
Tôi nhìn chằm chằm qua người ông ta hướng ra ngoài, phía con đường và thích thú quan sát con ngựa đang cố vươn cái mõm đến đám cỏ bên cạnh đương đi nhưng rõ là đã hoài công. Tôi bất động đứng nhìn, một sự sợ hãi không thể giải thích chế ngự tôi.
Nhưng tôi sợ điều gì? Sợ một ý nghĩ mà thậm chí tôi không dám nghĩ một cách tường tận.
Khi tiếng nói bình thản tự nhiên của Asbjörn Krag đập vào tai tôi, tôi như được giải thoát.
“Chúng ta đi thôi chứ?” Ông ta hỏi. “Người ta đang chờ đấy.”
Tôi lặng lẽ đi theo ông ta đến chiếc xe, ngồi bên cạnh ông ta ở băng ghế sau. Chiếc xe đưa chúng tôi băng qua khu rừng, qua cánh đồng hoang cho tới cái đồi gập ghềnh ấy, trải dài từ cánh đồng hoang xuống tận biển.
Ở dưới đó, như Asbjörn Krag nói, là nơi chiếc xe sắt đã chìm, và bây giờ đang có một con tàu thủy chạy hơi nước và dăm ba con thuyền nhỏ qua lại, trên tàu có vài người đang bận rộn làm việc với dây dọi và sào dài. Người ta nghe được tiếng lạch cạch của một cầu trục kéo đang hoạt động. Biển im lìm phẳng lặng, làn sương mù ban mai đã kéo qua biển và giấu biệt đi những hòn đảo đá ở ngoài cùng, đến nỗi không thể nhận ra. Cảnh tượng xám xịt không màu sắc như một bức tranh vẽ bằng than chì nhợt nhạt. Chúng tôi đi xuống bãi biển, bước qua bãi cát và những đám cỏ. Cát dính chặt vào nhau và ẩm ướt vì sương, cả những hòn đá cũng ướt, và những chiếc thuyền ở ngoài kia trông cũng ướt sương, cho thấy độ ẩm đã bốc lên từ biển hồi đêm nhiều đến thế nào.
Nhưng bầu không khí ban mai đặc quánh lại truyền tiếng động đi như dây điện thoại. Asbjörn Krag đứng ở bãi biển, nói to với những người trên chiếc tàu thủy chạy hơi nước. Mặc dù nó nằm tương đối xa ở ngoài kia, chúng tôi nghe rõ từng câu trả lời.
“Các anh có tìm thấy gì không?” Vị thám tử hỏi.
“Ông thợ lặn đã xuống dưới đó hai lần rồi,” câu trả lời vọng lên từ chiếc tàu, “ông ấy nhìn thấy một vật kỳ lạ ở đáy biển, nhưng khó mang lên lắm.”
“Nhìn có giống xe ngựa không?” Krag hỏi.
“Không giống lắm,” người thủy thủ nói. “Nhưng đúng là có bánh xe và làm hoàn toàn bằng sắt thép. Ông thợ lặn nói là chưa bao giờ nhìn thấy cái gì như vậy cả.”
“Có thể mang nó lên bờ ngay không?”
“Hừm, chắc phải vài tiếng nữa, nó nặng lắm,”
Người trên những chiếc thuyền nhỏ ngừng làm việc và nghe ngóng cuộc trao đổi. Có ai đó nói xen vào:
“Nó nằm ở độ sâu gần 36 mét, chúng tôi không thể hiểu làm sao nó có thể xuống sâu đến thế!”
Asbjörn Krag vẫy vẫy tay, trả lời:
“Tất nhiên là nó tiếp tục chạy đi dưới đáy biển. Anh có tìm thấy người nào không?”
Sau khi ngừng một lúc khá lâu, người ta ngạc nhiên hỏi:
“Không! Có người ở trên đó à?”
“Không biết được,” Krag trả lời, “các anh hãy kiểm tra cho kĩ vào.”
Asbjörn Krag bước vài bước dọc theo bãi biển. Công việc trên những chiếc thuyền lại tiếp tục, cái cầu trục lại kêu vang.
Tôi vô cùng ngạc nhiên khi cỗ máy lớn được khởi động. Cần ít nhất từ hai mươi đến hai mươi lăm người làm việc đó.
“Tất cả những người này từ đâu đến vậy?” Tôi hỏi Krag. “Và những chiếc thuyền đó? Làm sao ông có được chúng?”
“Đó là một chiếc tàu dùng cho thợ lặn,” vị thám tử trả lời, “như ông nhìn thấy đấy. Hôm qua tôi đã đánh điện yêu cầu những người này và chiếc tàu đến hỗ trợ.”
Ông ta nhìn ra biển và lẩm bẩm như đang nói một mình. “Đứng đợi cũng chẳng để làm gì. Phải vài tiếng nữa người ta mới xong. Tôi sẽ quay lại khách sạn.”
Tôi đứng đó ngắm biển. Những con tàu rải rác khắp nơi. Tôi nghĩ, nếu đã tìm thấy chỗ cái xe ngựa chìm rồi thì tại sao lại không tập trung lại đó? Ít nhất thì làm vậy chắc chắn sẽ làm việc đưa cái xe vào bờ dễ dàng hơn chứ.
Tôi hỏi Krag về điều này nhưng ông ta trả lời. “À, chuyện ấy khó đấy. Cái xe vừa to vừa nặng.”
Tôi bất chợt nhớ lại những gì ông ta đã nói về người lái xe.
“Ông không tin rằng”, tôi hỏi, vẻ sợ hãi, “chúng ta sẽ còn tìm thấy một người chết nữa chứ?”
“Người ta phải luôn chuẩn bị tinh thần cho điều tồi tệ nhất,” Asbjörn Krag nói. “Đi nào, chúng ta ra khỏi đây thôi. Chúng ta sẽ biết sớm thôi.”
Chiếc xe chờ sẵn chúng tôi trên đồi, tôi nghĩ giờ chúng tôi sẽ về khách sạn, nhưng Asbjörn Krag lại đề nghị đi bộ, tôi cũng không phản đối. Tôi cũng rất muốn sốc lại tinh thần mình qua một chuyến đi bộ ngắn, tôi cảm nhận được cơn mệt đang len lỏi trong cơ thể. Mặt khác, tôi biết rõ rằng tinh thần mình căng như dây đàn, khó mà ngủ được nếu trở về nhà. Máu chảy rần rần, tim đập tình thịch, một ngọn lửa kỳ lạ như vừa được nhóm lên, thiêu đốt tinh thần tôi.
Tôi đi theo Krag về phía nam dọc theo bờ biển. Không biết ông ta có ý định gì khi đi trên con đường này? Tôi không nói gì. Một lúc sau, tôi biết rằng vị thám tử có dụng ý cả, rất hợp với kế hoạch của ông ta. Nói cho cùng, ông ta làm gì cũng đều tính toán, thế nhưng ông ta lại tỉnh bơ, vờ như không có gì, rõ ràng mình không làm điều gì khác thường cả.
“Ông dẫn tôi đi đâu?” Cuối cùng tôi hỏi.
“Trở về khách sạn,” ông ta nói. “Tôi muốn chỉ cho ông biết một con đường qua đồi mà có thể ông chưa từng đi qua.”
“Tôi thật sự không biết rằng ở đó có một con đường.”
“Phải, một con đường tương đối rộng, rất hợp cho việc đi dạo, một con đường không thể tuyệt hơn cho buổi sáng tươi mát tuyệt vời như hôm nay.”
Ông ta quả thật không có mắt nhìn thiên nhiên, vì ông ta nói buổi sáng hôm nay tươi mát, đẹp tuyệt vời, trong khi nó oi bức, hết sức tĩnh lặng và bức bối, bầu trời như dính chặt trên mặt đất, không thấy được chân trời. Biển xám ngoét như chì và phẳng lặng tới mức những mỏm đá nằm dưới mặt nước cũng lộ ra. Vào một buổi sáng như thế này, cá sẽ trồi lên với những đôi mắt đỏ quạch và cắn câu ầm ầm; với người thì đây là thời tiết để tự sát. Tôi đứng trên đỉnh núi đá và ao ước có được một bầu không khí mát mẻ, một ngọn gió thổi qua thanh lọc thân thể. Tôi làm ướt một ngón tay, để xem gió thổi chiều nào. Nhưng tôi tuyệt nhiên không cảm nhận được một làn gió nào, dù là nhẹ nhất; chỉ thấy mắt mình như đang bị hun nóng. Sớm thôi, một ngày hầm hập sắp diễn ra.
Vị thám tử dừng lại.
“Bây giờ chúng ta đang ở nơi cao nhất,” ông ta nói, rồi chỉ xuống một cái sườn dốc dẫn thẳng xuống biển.
Tôi bước đến rìa con đường nhưng lùi lại ngay lập tức.
“Ông chóng mặt à?”
“Có lẽ vậy, dẫu sao tôi cũng không thích nhìn xuống vực sâu.”
Asbjörn Krag đứng đó, im lặng một lúc. Bây giờ, chắc chắn sẽ xảy ra điều gì đó, tôi thầm nghĩ và hồi hộp chờ đợi xem ông ta nói gì.
“Tôi thuờng hay ngạc nhiên,” vị thám tử nói, “về việc những tên giết người hành xử ngu ngốc đến mức nào.”
“Giết người?”
“Phải, và trong số những kẻ đó thì ngu ngốc nhất là kẻ hành động theo bản năng, không suy nghĩ tính toán gì. Nhưng ngay cả những kẻ tiến hành giết người theo một kế hoạch chính xác nhất cùng vẫn thường hành xử vụng về đến mức không thể tin được. Ví dụ như người đánh chết viên kiểm lâm.”
“Ông có hoàn toàn chắc chắn là anh ta bị đánh chết không?”
“Chắc chắn!”
“Tôi không thể hiểu tại sao ông lại có thể chắc kèo như vậy. Ông già Gjaemaes và Blinde, cả hai người đều được phát hiện chết ở cùng một nơi. Cả hai đều có một vết thương sau đầu. Chính ông đã nói rằng ông già Gjaemaes đã chết vì một tai nạn và chiếc xe sắt là nguyên nhân chính trong cái chết của ông ấy. Tại sao không thể nói cái chết của viên kiểm lâm cũng vậy?”
“Bồi vì tôi biết rằng anh ta bị đánh chết.”
“Dù thế nào đi nữa thì cũng khó mà chứng minh được.”
“Rất khó,” Asbjörn Krag trầm ngâm trả lời, “nhưng vì vậy mà tôi cũng đã làm việc một cách hết sức khác thường trong vụ này. Dẫu sao thì ông cũng phải đồng ý với tôi là tên giết người đã hành động như một kẻ đần độn.”
“Tôi không biết đần độn có phải từ mô tả đúng đắn cho việc một người đánh chết người khác hay không.”
“Tất nhiên là không, nhưng tôi chỉ nói thế để mô tả cách thức tiến hành tội phạm thôi. Mang ông ta đến đây có phải dễ dàng hơn bao nhiêu không?”
“Đến đây ư?”
“Đúng thế. Chúng ta cứ giả định là kẻ giết người có thể kiềm chế tới mức hắn vừa hòa hoãn trao đổi với nạn nhân vừa đi trên con đường này, đúng như chúng ta đang làm bây giờ; rồi hắn chỉ cần đẩy anh ta sang một bên, một cú đẩy nhẹ ở vai, thế là anh ta sẽ rơi xuống và chết. Ông xem có ai nghĩ rằng đó là một vụ giết người hay không? Một tai nạn, người ta sẽ nói như thế, một tai nạn đáng thương, hoặc có thể là một vụ tự sát.”
“Nhưng người đi cùng anh ta?” Tôi thì thào.
“Hắn ta đi một mình. Không ai cần phải biết rằng tên giết người đã đi cùng nạn nhân. Ở chỗ này hiếm có ai đi qua; từ ngoài biển có thể đi lên đến đây mà không ai nhận ra.”
Nói đoạn vị thám tử cười to.
“Ông thấy đấy, khi quen thuộc địa hình thì rất dễ trở thành một tên giết người,” ông ta nói tiếp trong khi vỗ vai tôi, “bây giờ thì tôi lại quay về với những sự việc đáng sợ. Nhưng đó là nghề nghiệp của tôi, nhiệm vụ của cuộc đời tôi là luôn nghĩ đến những tình huống như thế. Tuy vậy, có lẽ tôi nên tránh nói những điều đó ra khi đi cùng với ông, vì tôi có thể thấy là ông khá khó chịu.”
“Ông cứ nói với tôi những gì ông muốn… Tức là ông muốn nói rằng tên giết người lẽ ra đã có thể tiến hành tội ác của hắn một cách an toàn hơn bằng cách này ư?” Tôi hỏi ngược lại.
“Không, ông bạn thân mến,” Krag ngắt lời tôi với vẻ hết sức thân ái. “Bây giờ thì ông không cần phải mang tôi trở về với sự việc ấy đâu. Ông thật lịch sự. Tôi biết ông không thích điều này.”
Trong lúc đó, ông ta đi trước tôi vài bước, cái đầu hơi rụt lại, làm cho cái áo khoác có một nếp gấp trên gáy. Tôi có cảm giác như ông ta đang cười thầm.
Khi chúng tôi về đến khách sạn, Asbjörn Krag lập tức lên ngay phòng mình để làm việc. Tôi ở lại đó, trao đổi với những người khách khác. Tất cả bọn họ đều muốn đi xem người ta kéo chiếc xe sắt lên. Tin về việc công ty trục vớt đến đây đã lan truyền; người ta thuật lại rằng các thợ lặn đã lặn xuống dưới đấy nhiều lần và đã nhìn thấy chiếc xe nhưng họ vẫn chưa biết rõ thật ra đó là vật gì. Người ta muốn tôi đi cùng, nhưng tôi không thích, vì tôi nghĩ đến con người đã đi trên chiếc xe ấy, người sở hữu nó, đã chết; tôi nhìn thấy ông ta ngay trước mắt mình, thấy ông ta nằm ở dưới làn nước có màu xanh như thế nào… Có lẽ ông ta đang được kéo lên, thật chậm, trong khoảnh khắc này. Và tôi có thể nhìn thấy rõ nét mặt của ông ta dưới biển. Giống như nó đang trượt qua sau một tấm kính màu xanh… Bỗng nhiên trong tôi trào dâng một ý nghĩ tuyệt vọng…
Phòng của Asbjörn Krag ở tầng một của khách sạn, cửa sổ nhìn ra một mảnh vườn nhỏ giống như của tôi. Tôi biết là ông ta đang ngồi làm việc bên bàn viết và nhìn ra cửa sổ.
Vì thế, tôi rón rén đi ra vườn, giữa những gốc cây, nhẹ nhàng nhất có thể, và bất thình lình đứng trước cửa sổ phòng ông ta. Tôi nhìn thấy ngay cái đầu hói màu trắng, nổi bật lên trước nền tối của gian phòng; ông ta không viết mà đang hí hoáy với một cái gì đó trên bàn, và không nghe thấy tôi. Tôi cẩn thận bước đến gần hơn, thật chậm. Sát sạt như gương mặt của người chết đến gần cửa sổ nhà tôi đêm qua, tôi thầm nghĩ. Khi tôi chỉ cách cửa sổ độ chừng một mét, ông ta như nghe được tiếng động của cành cây bị tôi giẫm lên. Bất giác, ông ta ngẩng đầu lên; tôi có thể nhìn thấy ông ta ngạc nhiên tới mức nào. Tôi không nói từ nào, tiếp tục tiến đến gần tấm kính cửa sổ. Lúc ấy, ông ta nhanh nhẹn với lấy một tờ báo và trải nó ra trên bàn. Tôi lập tức hiểu rằng ông ta muốn che giấu tôi điều gì đó, và không cho tôi được phép nhìn thấy nó, bằng bất cứ giá nào. Tôi có thể nhận ra điều đó qua những hành động bối rối và hấp tấp của ông ta. Tôi đã không lường trước điều này. Bất chợt, tôi thấy mình thật hồ đồ. Thật ra thì tôi muốn gì ở ông ta kia chứ?
Ông ta mở cửa sổ ra.
“Tôi có thể giúp gì?” Ông ta hỏi.
“Ông không muốn đi xem chiếc xe sắt à?” Tôi buột miệng.
“Chưa. Nhưng nếu ông muốn đến đó tới vậy thì tôi sẽ đi cùng.”
“Không, cám ơn,” tôi nói, “tôi không có ý đó.”
Sau đó, tôi muốn lùi lại. Tôi cảm thấy ngượng trước ông ta, thấy mình lúc này thật buồn cười và càng bực bội chính mình hơn nữa sau khi ông ta nói:
“Thật đáng thương, mặt ông tái mét rồi kìa. Ông còn chưa đi ngủ sao?”
“Tôi thường không đi ngủ vào giữa buổi sáng,” tôi trả lời.
Vị thám tử đóng cửa sổ lại, nhưng không lấy tờ báo ra khỏi bàn chừng nào tôi vẫn có thể nhìn vào trong phòng ông ta.
Tôi rời khách sạn, bước nhanh dọc theo lối đi nhưng đích đến thật mơ hồ. Bây giờ thì mặt trời đã ở trên cao, bụi bay tung lên như bột mịn dưới những bước chân của tôi.
Tại bàn ăn, người ta bàn tán sôi nổi về chiếc xe sắt. Những chiếc thuyền của đám thợ lặn vẫn chưa trục nó lên được, và người ta cho rằng phải mất cả ngày hôm nay.
Một người đàn bà có quen biết với gia đình viên kiểm lâm thông báo một điều khiến tôi thật cảm động.
Bà ấy nhận được một lá thư từ cô em gái của người xấu số. Viên kiểm lâm có một con chó tên là “Lord”. Sau khi chôn cất anh ta, con Lord nằm trên mộ của người chủ, cứ tru lên hoặc sủa vang, như thể nó muốn gọi anh ta trở về dương thế. Cuối cùng họ đành phải bắn chết nó.
Sau bữa trưa, tôi cố gắng ngủ trên bãi cỏ, nhưng ánh sáng chói mắt chiếu xuống từ trên trời làm tôi khó ngủ. Khi nhắm mắt lại, mi mắt tôi đỏ và nóng lên. Tôi nheo mắt nhìn lên, bầu trời như được phủ đầy kim cương. Sau đó, tôi quyết định trở về nhà của mình.
Thế nhưng một bất ngờ mới đang chờ đợi tôi. Tôi không thể cưỡng lại ý muốn nhìn lại vết chân dưới cửa sổ, cơn tò mò xen lẫn hồi hộp thúc giục tôi đi đến đó. Trước khi rời chỗ này vào sáng sớm, tôi đã xới tung đất lên và xóa hai dấu chân đi, nhưng bây giờ, hai dấu vết ấy lại vẫn còn nguyên, rõ ràng trong đất xốp. Tôi xem xét thật kĩ những dấu vết ấy, chúng giống hệt những dấu vết đầu tiên, đó là dấu chân của người chết. Người đó đã lại đến đây, nhìn vào phòng trong lúc tôi không có nhà.
Tôi vội bước vào nhà, vì không muốn suy nghĩ thêm nữa về việc này. Tôi sợ là mình sẽ phát điên lên mất. Vậy là nạn nhân chưa chết sao? Tôi rõ ràng đã nhìn thấy xác của anh ta trong ngôi nhà của những người đào cát kia mà, anh ta cũng đã được chôn cất rồi, con chó của anh ta thậm chí cũng đã bị bắn chết… Mà ngay bây giờ tôi tưởng chừng như mình vừa nghe thấy tiếng chó sủa ở đâu đó xa xa, một tiếng chó sủa hết sức buồn rầu. Tôi đóng cửa sổ lại, thả rèm xuống để cho căn phòng tối mờ đi. Dù gì đi nữa thì tôi cũng vẫn muốn đi ngủ.
Và thật sự là tôi đã ngủ được một giấc tương đối dài, nhưng lại bị đánh thức bởi một giấc mơ đáng sợ. Tôi đang đứng trước một tấm gương, xem xét gương mặt mình, trông nó tái xanh và hoảng loạn. Đôi mắt tôi như dán chặt vào chiếc cà-vạt đang đổi màu, từ xanh nước biển và nhanh chóng chuyển thành xanh lá cây, hệt như chiếc cà-vạt của người chết. Tôi thấy điều đó rất đáng ngạc nhiên và đáng quan tâm nhưng không cảm thấy sợ hãi. Nhưng rồi chiếc cà-vạt bất ngờ tự chuyển động, nút thắt tự tháo rồi lệch sang một bên. Cuối cùng, nó bị đẩy lên tai phải của tôi, giống hệt như trên thi thể của Blinde lúc được phát hiện. Mắt tôi mở trừng trừng - tôi nằm mơ thấy như thế - nhìn vào chiếc cà-vạt, và tôi không thể nhìn sang vật nào khác. Bất chợt, một sự kinh hoàng giội vào tôi. Nếu như ngẩng lên, tôi sẽ nhìn thấy gương mặt ấy, nhưng liệu nó có còn là gương mặt đau ốm, tái xanh của tôi trong gương nữa không, hay là gương mặt của người kia? Bất thình lình, hình người trong gương từ từ hạ xuống, và bây giờ tôi nhìn thấy một bộ râu màu nâu đỏ cùng cái miệng đỏ tươi. Đó là gương mặt ấy, người chết với cái trán cao trắng bệch trên nền đen… Trong khoảnh khắc ấy, khi tôi ngước mắt nhìn lên, tôi nghe được một tiếng thét vang lên - là tiếng hét của tôi!
Giờ là 9 giờ tối, đã đến giờ ăn tối, nhưng tôi không muốn đi ăn hay rời khỏi ngôi nhà nhỏ. Tôi cũng không muốn kéo màn lên, đành phải đốt đèn. Tôi lơ đãng đọc một vài trang trong một cuốn sách mà không hề biết mình đang đọc gì. Từ ngữ trượt qua nhận thức của tôi như một cơn mưa trước cửa sổ. Cứ như thế suốt vài tiếng đồng hồ. Rồi rất nhanh sau đó, tôi nghe được tiếng bước chân trên cát trước cửa ra vào. Tiếng chân không đi đến cửa ra vào mà đi tới cửa sổ.
Tôi đứng bật dậy, cầm lấy khẩu súng lục. Tiếng chân ấy dừng lại. Rồi tôi lại nghe thấy bước chân nối tiếp bước chân, ngày một gần hơn. Cảm giác phải đứng trong nhà và không biết ai đang đi ở ngoài thật là khủng khiếp. Tuy nhiên, việc nghe thấy tiếng bước chân bên ngoài căn nhà nhỏ này cũng là chuyên thường, vì dù gì thì tôi cũng đang ở trong khuôn viên của một khu nghỉ dưỡng đông người. Tôi nhớ là đã tự trấn an mình bằng điều này, rồi sau đó tự chế giễu bản thân vì thần hồn nát thần tính. Tuy thế, tôi vẫn thật sự bối rối và hồi hộp tới mức tiếng động bất ngờ nào dù là nhỏ nhẹ cũng có thể khiến tôi hoàn toàn không làm chủ được mình nữa.
Sau đó, tôi không nghe ngóng thêm gì trong một lúc, nhưng rồi lại nhận thấy có gì đó đang dò dẫm dọc theo tường ở bên ngoài. Tiếng đi dò dẫm này thật kỳ lạ. Giống như một con thú rậm lông cọ thân hình vào tường. Sau đó, mọi thứ im lặng trong vài giây, và rồi tôi nghe thấy tiếng gõ cửa mạnh và khô khốc.
Cửa không khóa.
“Mời vào!” Tôi nói khá to với giọng điệu mà chính tôi cũng không nhận ra được nữa.
Cửa mở ra, và Asbjörn Krag bước nhanh vào phòng.
Khi nhìn thấy tôi với khẩu súng lục trên tay, ông ta đã vô cùng sửng sốt.
“Ôi, ông lo xa quá rồi. Bây giờ thì ông đúng là đã bị kích động quá nhiều! Ông thực sự tin rằng có ai đó định cướp mạng sống của ông à?”
Tôi ném khẩu súng xuống cái bàn trước mặt.
“Ông có cách đến thăm người khác thật kỳ lạ,” tôi nói. “Sao ông lại đi vòng qua cửa sổ?”
“Tôi không nhớ cửa ra vào ở đâu.”
Tôi tưởng chừng như ông ta đang cười. Tôi như thấy được hàm răng trắng ởn làm cho gương mặt sắc cạnh của ông ta ngày càng xấu xa hơn.
“Có phải ông sờ soạng dọc theo tường không?”
“Đúng thế,” ông ta nói, “tôi tìm cửa ra vào.”
Krag ngồi xuống cạnh bàn, với tay cầm lấy khẩu súng của tôi. Ông ta cầm, xem xét nó và nhìn vào ổ dạn.
“Tôi thấy là ông đã lên đạn,” ông ta nhận xét. “Một khẩu súng đẹp. Ông bắn súng có tốt không?”
“Có, rất tốt.”
Ngay sau đó, ông ta đặt khẩu súng xuống.
“Ông có chuyện gì muốn nói không, ông Krag?”
“Có,” vị thám tử trả lời. “Tôi chỉ muốn hỏi ông có thích đi xem chiếc xe sắt hay không?”
“Người ta đã kéo nó lên được rồi à?”
“Đúng vậy.”
“Cả người đi trong xe?” Tôi hỏi mà như thì thào.
“Chúng tôi cũng tìm thấy cả người ấy, ông ta chết rồi.”
“Thật ra thì tôi định đi ngủ bây giờ,” tôi trả lời.
“Tức là ông sợ à?”
“Không.”
Vị thám tử lườm tôi. Một sự chế giễu và hả hê trong ánh mắt của ông ta; hiển nhiên điều đó khiến tôi nổi giận và nói to:
“Ông làm mọi việc để khiến tôi sợ hãi. Ông chắc phải bực mình lắm vì cứ thất bại hết lần này qua lần khác?”
“Bây giờ thì tôi thật sự không hiểu ông,” Asbjörn Krag trả lời.
“Tất nhiên là ông cố tình đi vòng qua cửa sổ. Và ông cũng có ý định nào đó khi rón rén đi dọc theo tường như một con thú.”
“Tôi đã giải thích lý do về việc này rồi mà! Ông hay hoảng sợ quá, ông bạn thân mến ạ. Ông tưởng tượng ra ma quỷ ở khắp nơi. Chẳng phải tối thế này thì người ta phải sờ soạng một lúc mới thấy được nắm đấm cửa hay sao?”
“Đêm nay trời không tối lắm.”
“Có chứ. Mây nằm thấp như thế kia mà!”
Nhưng tôi cũng muốn cho ông ta biết rằng tôi không đồng ý.
“Tất cả những gì ông làm đều là cố tình,” tôi nói, “ông rón rén đi lại như một con sói vậy.”
Asbjörn Krag không trả lời ngay lập tức, ông ta ngồi xuống cạnh bàn, cầm khẩu súng của tôi và đùa nghịch.
Không lâu sau, ông ta bỗng trầm tư lẩm bẩm:
“Thế đấy, nghe giống như thế à…? Như một con sói chạy đi chạy lại, rón rén đi lại?”
“Đúng thế, hay là một con chó.”
“Đêm nay ông có nghe được tiếng con chó không?”
“Con chó nào?”
“Con chó ấy.”
Ông ta nói hết sức bình thản, nhưng vẫn lộ rõ vẻ sốt ruột, giống như muốn nói: Ông bạn thân mến, tôi chỉ có thể nói về một con chó thôi, và ông biết rất rõ là con chó nào!
Tôi ngồi đung đưa trên chiếc ghế bập bênh, đầu tôi gục sâu tới mức viên thám tử không thể quan sát được gương mặt tôi lúc đó.
Trong lúc đó, tôi nghĩ đến con chó của người đã chết. Tiếng sủa xa xa vẫn còn văng vẳng trong tai tôi. Có một cái gì đó kỳ lạ, đầy đe dọa trong tiếng tru than thở ấy.
Sau nhiều phút im lặng, cuối cùng tôi nói:
“Mới đây tôi có nghe thấy tiếng con chó sủa, có phải đó là con chó ông muốn nói đến không?”
“Đúng rồi,” vị thám tử trả lời.
Rồi ông ta ngồi đó và lắng nghe. Ánh sáng từ cây đèn chiếu thẳng vào mặt ông ta, trắng và dường như trong suốt. Tôi dừng chiếc ghế bập bênh lại, nhìn về phía ông ta. Trong thâm tâm tôi hài lòng với ý nghĩ rằng mình đang ngồi trong bóng tối, trong khi gương mặt của ông ta được chiếu sáng rõ mồn một. Ông ta chống khuỷu tay phải lên bàn. Tôi quan sát bàn tay ông ta kĩ hơn. Nó gầy guộc và cổ tay đầy lông, các ngón tay dài, xương xẩu và được bao bọc bởi một làn da tái xanh… Nhưng tại sao ông ta cứ ngồi đó và lắng nghe? Tôi có cảm giác mình lại bắt đầu hồi hộp. Dường như việc cố gắng lắng nghe này là một chỉ dấu, rằng có một người thứ ba trong phòng, một con người xa lạ và vô hình. Thêm vào đó là sự im lặng này… Nó giống như sự im lặng mà tôi cảm thấy thật nặng nề vào buổi sáng cùng ngày ở ngoài kia, trên cánh đồng hoang; sự im lặng mà người ta không nên lắng nghe nó, vì rồi thì người ta chỉ nghe được một mớ những âm thanh lộn xộn kỳ lạ, vô số tiếng la hét và cuối cùng là một tiếng ầm ì nặng nề từ phía xa mà không thuộc về thế giới này nữa… Tôi phải nghe được tiếng người, tôi muốn nghe được giọng nói của chính tôi.
“Ông lắng nghe gì thế?” Tôi hỏi.
Ông ta giơ tay lên ngăn tôi.
“Suỵt! Dường như tôi nghe thấy…”
“Ông nghe thấy gì?”
Ông ta không trả lời, tiếp tục lắng nghe, cuối cùng một âm thanh than vãn kỳ lạ vang đến, đó là tiếng tru của con chó.
Tôi đứng phắt dậy từ chiếc ghế bập bênh, nhanh tới mức thứ đồ cũ kĩ ấy phát ra tiếng kêu răng rắc.
“Tôi không thể chịu đựng được tiếng tru này của con chó, ôi… cái tiếng tru khốn nạn này. Ông có nghe được không, ông Krag? Con chó không thể ở xa đây được!”
Asbjörn Krag bây giờ cũng đứng dậy, tiến đến gần chỗ tôi. Tôi có cảm giác như mặt ông ta sẽ chạm vào mặt mình ngay lúc này.
“Ông có biết con chó đó không?” Ông ta hỏi.
“Không, nhưng ở đây nhiều người có chó lắm.”
“Tôi chưa từng nghe được một tiếng tru nào như vậy,” Asbjörn Krag nói. “Tôi đã nghe thấy tiếng con chó từ lúc trên đường đi đến đây, và tôi bất chợt chưng hửng. Tôi không thể nào biết được âm thanh đó từ đâu vọng đến, vì nó thay đổi vị trí liên tục.”
“Thế đấy,” tôi thì thào, “chó tru như thế khi có ai đó sắp chết.”
Asbjörn Krag tiếp tục lắng nghe.
Bây giờ thì tiếng tru than khóc ấy chuyển sang thành tiếng sủa đe dọa.
Asbjörn Krag nắm chặt lấy cánh tay tôi.
“Đó là một con chó săn,” ông ta nói.
“Ông phân biệt dược bằng tiếng sủa à?”
“Đúng, từ tiếng sủa. Nhưng ở đây không có con chó săn nào trong vòng nhiều dặm, theo tôi được biết.”
Tôi không cảm nhận được sự vô nghĩa trong lời nói của ông ta, vì một sự kinh hoàng kỳ lạ bóp chặt cơ thể tôi, khiến cho run rẩy, khi ông ta nói:
“Con chó của Blinde cũng là một con chó săn.”
“Vâng, nhưng nó đã bị bắn chết rồi kia mà,” tôi trả lời.
“Đúng thế, vì người ta không thể lôi nó ra khỏi mồ của chủ nó được. Nó cứ nằm tru trên đó, để kêu anh ta sống dậy. Tôi nghĩ rằng nó cũng tru và rên rỉ như bây giờ chúng ta nghe được.”
Tôi không có gì để đáp lại. Ngay sau đó, vị thám tử nói:
“Hãy nghĩ xem, ông bạn thân mến, hãy nghĩ đi, chỉ có hai chúng ta mới nghe được tiếng con chó này! Ông cứ nghĩ xem, không có người nào khác nghe được tiếng con chó này cả!”
Tôi cảm thấy kinh sợ, nhưng cố gắng kìm nén cảm xúc của mình xuống và nói:
“Tôi cảm giác rằng ông đã tìm thấy người gây ra trò ma quái này.”
Asbjörn Krag cài lại khuy chiếc áo khoác của ông ta.
“Ông hãy suy nghĩ về những gì tôi vừa nói đi.”
Điều đặc biệt là chính trong khoảnh khắc này, con chó ngừng tru.
“Ông muốn đi đâu à?”
“Phải, tôi muốn xuống dưới kia để xem chiếc xe sắt và hành khách đã chết.”
Tôi đã quên mất chiếc xe sắt và hành khách đã chết, con chó đã làm tôi phân tâm nhưng bây giờ, sự việc mới mẻ này lại khiến tôi chú ý. Chiếc xe sắt đã được tìm thấy và người đi trên xe đã chết rồi.
“Ông ta có bị đánh chết không?” Tôi hỏi.
“Không.”
“Thế thì ông ta chết vì tai nạn à?”
“Đúng thế, giống như ông già Gjaemaes. Ở đây chỉ có một người bị sát hại, đó là viên kiểm lâm.”
“Ông vẫn chắc chắn như thế?”
“Đúng. Anh ta đã bị giết chết trong một đêm giống như đêm hôm qua, khi mây xám giăng ngang bầu trời.”
“Hôm nay ông có vẻ tâm trạng thế, Asbjörn Krag?”
Vị thám tử mỉm cười.
“Tôi cũng có chút mộng mơ của một nhà thơ đấy, nhưng chỉ viết về nỗi sợ thôi. Ông có đi cùng không?”
Tôi đắn đo trong giây lát.
Tôi nên đi cùng hay ở lại? Điều quan trọng nhất với tôi là không thể để ông ta có ấn tượng rằng tôi đang sợ hãi.
“Đi xem xác chết chỉ là phụ thôi, nhưng tôi có thể đi theo ông, vì tôi muốn xem chiếc xe sắt. Ông đã nhìn thấy nó chưa?” Tôi trả lời.
“Thấy rồi.”
“Ông có ngạc nhiên không?”
“Không, tất cả đều giống như những gì tôi nghĩ trong mấy ngày qua.”
“Ông có nghĩ rằng tôi sẽ ngạc nhiên không?”
“Có đấy! Ông có đi cùng không?”
Vị thám tử bước lại bàn và nhấc khẩu súng ngắn lên.
“Tất nhiên là ông sẽ mang theo vật nhỏ này,” ông ta nói.
“Tại sao?”
“Cho an toàn. Tôi nghĩ rằng ông có hơi sợ một chút. Ông có thể gặp một con chó ở dọc đường!”
Vị thám tử nở một nụ cười chế giễu, khoe hàm răng trắng.
“Tôi không sợ gì cả,” tôi nói, “ông cứ để khẩu súng ở lại.”
Ông ta có vẻ xem xét khẩu súng kĩ hơn.
“Thật sự là một tạo vật đẹp đẽ,” ông ta lẩm bẩm và mở ổ đạn ra.
“Như tôi thấy, tất cả các ổ đều đã được lên đạn.”
“Tất nhiên nó đã được lên đạn. Nếu không thì vũ khí này có ích gì cho tôi kia chứ?”
“Ông có thể dọa người ta,” vị thám tử trả lời. “Ông không tưởng tượng được mình có thể làm được bao nhiêu chỉ nhờ hù dọa người khác đâu.”
Tôi mở cửa.
“Chúng ta đi thôi,” tôi nói.
Viên thám tử đặt khẩu súng lục xuống bàn và đi theo tôi.
⚝ ⚝ ⚝
Rời căn nhà được vài bước, tôi nghe thấy ông ta cười - một tiếng cười khô khan khó chịu.
“Ông cười gì thế?”
“Về cây đèn,” ông ta nói, “bây giờ thì cây đèn vẫn sáng trong phòng của ông.”
“Vâng, thuần túy chỉ là sơ ý thôi.”
“Lần thứ hai. Ừ thì nó sáng cũng tốt thôi; rồi thì ông không gặp khó khăn khi đốt nó lên lúc trở về.”
Tôi muốn đi theo con đường ngang qua khách sạn, nhưng Asbjörn Krag ngăn tôi lại.
“Không đi theo đường này,” ông ta nói, “đi qua đồi sẽ nhanh hơn.”
Ông ta muốn đi theo con đường mà chúng tôi đã đi lúc sáng. Tôi nhớ tới câu chuyện đáng sợ của ông ấy trong chuyến đi dạo và rùng mình.
Bây giờ trời đã rất tối, xung quanh không một bóng người; chúng tôi đi nhanh qua những căn nhà lặng như tờ và đến con đường núi.
“Ông thấy đấy,” Asbjörn Krag nói, “ở đây không có ai nhìn thấy việc hai chúng ta đi với nhau. Nếu như bây giờ một trong hai chúng ta biến mất…”
Tôi hẳn đã làm một hành động nào đó, vì ông ta bỗng nhiên ngừng lại.
“Ông không thích nghe điều đó?”
“Không, tôi thấy nói như thế thật phi lý.”
Vị thám tử luồn cánh tay vào dưới cánh tay tôi, bắt đầu to nhỏ giống như bạn bè thân mật đang nói chuyện:
“Ông bạn thân mến ạ, đã bao lâu rồi chúng ta chưa nói về những chuyện này, nên giờ xin phép ông cho tôi khiếm nhã một chút. Tôi đặc biệt quan tâm đến việc thuyết phục được ông. Chẳng bao lâu nữa thì chúng ta sẽ đến một nơi mà một vụ giết người như thế có thể được tiến hành. Người ta chỉ cần đẩy người đi cùng mình một phát, và thế là người ấy rơi xuống vực sâu. Điều đó rất dễ dàng, đúng không? Và sẽ không ai biết được gì cả! Ngay cả khi tìm được cái xác thì cũng không ai nói về một vụ giết người, vì rõ ràng đó chỉ có thể là một vụ tai nạn.”
Tôi cố ngắt lời ông ta nhưng không được. Ông ta tiếp tục nói:
“Ha ha, bây giờ thì ông sẽ cười to, nhưng tôi thấy sẽ tốt hơn nếu ta làm phép thử ở mức gần với nguyên bản nhất: Ông cứ cho rằng tôi căm ghét ông vì một lý do nào đó, ông có thể tưởng tượng được điều dó không?”
“Tôi hầu như không thể tưởng tượng được,” tôi lẩm bẩm. Dường như suy nghĩ của tôi đã chạy đi rất xa, và tôi ao ước lại được ở trong ngôi nhà nhỏ nhắn của mình. Tôi có cảm giác như chuyến đi mạo hiểm này bắt đầu trở nên đáng sợ, ngay từ giờ phút này.
“Vâng, tất nhiên là người ta có thể tưởng tượng ra điều đó,” Asbjörn Krag nói tiếp. “Ông có thể lấy ví dụ từ mọi mối quan hệ. Tưởng tượng ra rằng tôi có thể ghét ông vì lý do nào đó là rất dễ. Ví dụ nhé: ông biết một điều gì đó về tôi, điều có thể gây hại cho tôi nếu ông kể nó cho một người khác nghe. Ông có nghĩ là tôi sẽ ghét ông vì lý do đó không? Tôi thì chắc chắc sẽ căm ghét ông cho tới mức tôi muốn ông chết phắt đi cho rồi. Thế thì ông phải thừa nhận với tôi rằng, tôi hoàn toàn có thể dễ dàng có ý muốn đẩy ông xuống một vực sâu trong lúc đang đi dạo như thế này.”
“Ông nói chuyện kỳ lạ quá,” tôi nói, “bây giờ thì tôi lại không hiểu ông muốn nói gì.”
“Tôi nghĩ mình mô tả sự việc rất rõ ràng.”
“Hay là quá rõ ràng,” tôi trả lời. “Asbjörn Krag thân mến ạ, chối cãi không có ích gì đâu. Bây giờ thì tôi tin chắc rằng ông, với lối cư xử của ông, đang theo đuổi một mục đích nhất định.”
Ông ta lại cười, vẫn tiếng cười khô khan khó chịu đó.
“Tôi theo đuổi ý định nào vậy?” Ông ta hỏi.
“Tôi thật sự không biết điều đó.”
Nhưng thực chất thì tôi biết, biết quá rõ, vì tôi đoán được toàn bộ những mối liên quan.
Chúng tôi tiến đến gần vực sâu, nơi người ta chỉ cần xô nhẹ một cái là người họ ghét sẽ biến mất. Vực nằm bên trái của con đường, nhưng tôi đứng phía bên phải Asbjörn Krag.
“Nó đây rồi,” ông ta nói và đứng lại.
Một làn gió lạnh thổi từ vực và ngoài khơi đến chỗ chúng tôi.
“Chúng ta không đi tiếp à?” Tôi hỏi.
Thay vì trả lời, Asbjörn Krag chỉ xuống biển, nơi có hai ngọn đèn màu xanh lá cây chiếu sáng xuyên màn đêm như hai con mắt mèo.
“Dưới kia là chiếc xe sắt, người ta đã lôi được nó lên bờ. Và trên boong tàu cứu hộ, được bọc trong tấm vải buồm, là người chết trên xe. Những cái đèn màu xanh ấy trông thật kỳ dị, có phải không… Trong khi ở đây hết sức tĩnh lặng, không một tiếng động nào từ dưới đó vang được lên dến chỗ chúng ta trên này… Phải, phải… Ông ta đang nằm ở dưới đấy, người chết.”
“Ông có biết ông ta không?” Tôi thì thào.
“Không, và ông cũng không biết nốt. Đó là một người nước ngoài.”
“Thật kỳ lạ.”
“Khi nhìn thấy chiếc xe thì hẳn ông sẽ thấy rằng mọi chuyện rất dễ hiểu.”
“Con người xa lạ ấy là người đêm đêm đi trên chiếc xe sắt à?”
“Đúng! Nhưng chỉ trong những ngày cuối cùng thôi, ông ta chạy xe qua cánh đồng hoang không quá bốn hay năm lần.”
“Thật là khó hiểu. Nhưng ông ta có chạy chiếc xe này trên cánh đồng hoang trong đêm đó không, khi viên kiểm lâm qua đời?”
“Có, ông ta đã làm điều ấy. Khi viên kiểm lâm bị đánh chết thì ông ta ở không xa lắm. Nhưng ông sẽ hiểu được tất cả nhưng điều này khi nhìn thấy chiếc xe sắt.”
Tôi hỏi lại ngay sau đó:
“Ông có ở đó, lúc người ta tìm thấy người đi trên chiếc xe không?”
“Có, tôi nhìn thấy ông ta được kéo lên như thế nào. Không phải là một hình ảnh dễ chịu gì. Ở trong nước, mặt của ông ta trắng bệch, thật kỳ lạ, nó giống… vâng, thật ra thì nó giống ai? Ông đã có lần nào nhìn thấy một xác chết ở sau một tấm kính màu xanh lá cây không?”
Những từ ngữ cuối cùng của vị thám tử khiến tôi như bị sang chấn tâm lý.
Bất chợt, tôi có cảm tưởng như mình lại nhìn thấy gương mặt của người chết ở sau cửa sổ… vầng trán trắng… đôi môi đỏ tươi… một cơn chấn động kinh hoàng lan khắp người tôi, và trong khoảnh khắc, tôi như lần nữa trải qua cơn sợ hãi khủng khiếp đêm qua. Cùng lúc, tôi nghe tiếng của Asbjörn Krag ở thật xa:
“Chúng ta không đi tiếp à? Rồi chốc nữa ông có thể nhìn thấy ông ta.”
Nhưng bây giờ tôi lại không muốn xuống dưới đó, bằng bất cứ giá nào. Những ngọn đèn màu xanh ấy khiến tôi nhớ đến ánh lân tinh trong hốc mắt của một cái đầu lâu.
Tôi quay người lại.
“Tôi không đi xuống dưới đó đâu; tôi muốn trở về căn nhà nhỏ của tôi.”
Sau khi bước vài bước, tôi bất chợt đứng lại.
Xa thật xa ngoài kia trong bóng tối, tôi lại nghe được tiếng con chó. Một tiếng sủa ăng ẳng thật to, rồi một tiếng tru thật dài, và sau đó là tiếng sủa kéo dài đầy đe dọa.
“Con chó săn!” Asbjörn Krag nói to. “Ông có nghe thấy tiếng con chó săn không?”
Tiếng sủa vẫn tiếp tục.
Nó như từ một nơi xa vô tận vang lại, như thể đến từ bóng tối ở phía sau chân trời. Tôi lắng nghe: đầu tiên tiếng sủa to dần, rồi lùng bùng và nhỏ lại nhưng càng ngày càng đáng sợ hơn. Cuối cùng, tiếng sủa ấy dường như vang khắp cả bầu trời ở phía đông… Tôi có cảm giác như sự kinh hoàng ấy đang ập vào người mình từ trong bóng tối. Thế nhưng, trong tiếng chó sủa ấy có gì đó đang vẫy gọi, ra lệnh cho tôi… Tôi đi về phía phát ra âm thanh kỳ lạ đó.
Lúc đó, tôi nghe tiếng của Asbjörn Krag ngay sát cạnh tôi:
“Ông đừng đi theo tiếng sủa!” Ông ta gọi tôi.
Mặc dù vậy, tôi vẫn cứ đi.
Tiếng sủa hung dữ ấy bao quanh người tôi như một đám sương mù dày đặc, khiến tôi hết sức bối rối. Tôi có cảm giác như sự kinh hoàng lẩn khuất cả trong không khí, thở hơi thở nóng nực của nó vào tôi…
Tôi vô thức bước về hướng có tiếng sủa. Khi đi đến gần chỗ có những ngôi nhà, tôi lại cảm giác như tiếng sủa ấy lùi ra xa mình hơn, nấp dưới chân trời. Không lâu sau đó, tiếng sủa tắt hẳn, và giờ tôi chỉ còn một mình. Asbjörn Krag đã đi xuống chỗ chiếc xe sắt và cái xác màu xanh. Tôi bước đi nhanh hơn, về căn nhà nhỏ.
Khi đi đến chỗ có thể nhìn thấy được eo biển gần nhà, tôi nhìn thấy ánh sáng trắng chiếu trên mặt biển. Có cái gì đó ma quái trong ánh sáng ấy, gây một ấn tượng kỳ lạ trong sự yên lặng và bóng tối xám đen này. Tôi không hề nghĩ rằng đó là thứ ánh sáng đầu tiên của bình minh đang phản chiếu trên mặt biển.
Cây đèn vẫn còn đứng đó và cháy sáng…
Tôi vô cùng căng thẳng, các dây thần kinh căng ra tột độ, giống như bị hàng ngàn mũi kim nhỏ và nóng đỏ châm chích vào.
Tôi vui mừng vì tấm rèm đã được kéo sẵn, bởi như thế, gian phòng của tôi đã được ngăn cách với thế giới bên ngoài. Sau khi thẫn thờ lục lọi trong mớ giấy tờ, tôi ngồi lên chiếc ghế bập bênh. Điều này trấn an tôi đôi chút, vì chiếc ghế trống cứ gây cho tôi cảm giác có người sẽ chui lên đó ngồi mỗi khi tôi quay mặt đi. Vì vậy tôi muốn ngồi vào chỗ đó.
Tôi ngồi vào đó, đung đưa và ngẫm nghĩ, mắt nhìn chằm chằm vào khẩu súng ngắn trên bàn, nơi phản chiếu những tia sáng lấp lánh về phía tôi. Tôi đã nghĩ mình có thể sống như thế này bao nhiêu tiếng nữa, trước khi phát điên lên…
Lúc đó, tôi lại nghe thấy tiếng của lũ bọ tử thần.
Lần này tôi không giật mình nữa, mặc dù tiếng động ấy liên tục thay đổi vị trí và kêu quanh tôi như một con côn trùng dạn dĩ. Giống như có một người vô hình đang bước quanh tôi, một người mà tôi không nhìn thấy nhưng nghe được tiếng chạy của chiếc đồng hồ bỏ túi của họ. Bây giờ người ấy đứng đây… Bây giờ người ấy đi chậm sang bên phải… Bây giờ người ấy lại đứng yên ở gần cây đèn. Trong giây lát, khẩu súng lấp lánh của tôi như tối đi, giống như có một cái bóng trùm lên nó. Nhưng rồi khẩu súng ấy lại ánh lên chất thép và tôi nghe tiếng bọn bọ tử thần rời xa. Không, điều này không làm tôi hoảng sợ thêm chút nào, ngược lại, tôi trở nên bình tĩnh hơn, vì tôi biết nguyên nhân của hiện tượng này.
Tại sao Asbjörn Krag nhất định muốn dẫn tôi đi xem chiếc xe sắt và người lạ đã chết ấy ngay trong đêm nay? Tôi nhớ lại câu chuyện tầm phào kỳ lạ của ông ta trên đường đi, khi ông ta buộc tôi phải nghe về cách hành xử của kẻ giết người. Ông ta luôn muốn tôi tới nơi đó, nơi mà người ta chỉ cần đẩy nhẹ ai đó một cái - một cử động hết sức bất ngờ và dễ dàng - là đủ để đưa một người khiến mình khó chịu sang thế giới bên kia… Tại sao ông ta lại cứ thế rời đi khi tôi quay mặt sang hướng đông và đi tới nơi phát ra tiếng tru của con chó ấy?
Đi theo âm thanh đó… giờ thì tôi lại nhớ đến tiếng tru ấy, và mọi giác quan của tôi bắt đầu run lên vì ám ảnh bởi âm thanh hung dữ đáng sợ của con thú ấy… Tất nhiên, đó là con chó ở một trang trại nào đó, phải, tôi chắc chắn như vậy, nhưng tôi vẫn ám ảnh về con chó săn của viên kiểm lâm. Tôi nhìn thấy người đó ngay trước mặt tôi với mái tóc dài mềm mượt, đôi mắt mở to ngạc nhiên. Trong khoảnh khắc này, tôi lập tức hiểu rằng, tốt thôi, tiếng sủa ấy khác chi một tiếng gọi và một lời cảnh báo!
Bất chợt, tôi ngừng đung đưa chân, ngồi đó và lắng nghe. Tôi nghe thấy một tiếng động từ bên ngoài. Một cành cây bị gãy, có tiếng sột soạt trong bụi rậm. Không phải tiếng gió thổi, nó giống như có một ngón tay dài lướt qua lá cây.
Ngay sau đó, có tiếng đập mạnh và nhanh vào cửa sổ. Tiếng động này tôi đã nghe thấy trước đây; chắc chắn là một con chim bay ngược sáng và đâm mỏ vào tấm kính, tôi thầm nghĩ.
Nhưng ngay sau đó tôi lại nghe được tiếng gõ vào tấm kính - lần này là hai tiếng đập mạnh và to, khiến người ta liên tưởng đến tiếng bẻ khớp.
Tôi đứng phắt dậy, với tay cầm lấy khẩu súng. Tôi cảm nhận được báng súng lạnh như băng trong tay mình. Giờ tôi không còn nghi ngờ nữa, tôi biết mình phải làm gì.
Tôi muốn giật phăng tấm rèm cuốn đi. Tôi có cảm giác rằng mình đã biết trước những gì sẽ xảy ra. Ngay khi nhìn thấy tấm kính đen như mực, tôi muốn nhảy lui lại. Một hình ảnh lướt qua tâm thức tôi: một người thuần phục thú trong vườn thú, mở cửa chuồng rồi chạy ra khỏi đường đi của con thú to lớn bí ẩn khi nó bắt đầu đuổi. Giờ trên cửa sổ lại có tiếng gõ nữa, lần này lớn hơn và đáng sợ hơn.
Tôi cầm lấy sợi dây giũ tấm rèm cuốn, kéo mạnh xuống rồi thả ra. Tấm rèm cuốn lao nhanh lên trên với một tiếng kêu vang.
Tôi loạng choạng bước lại giữa phòng.
Gương mặt ấy lại hiện ra trên mảnh kính tối đen ở dưới cùng: độc ác và rõ ràng, cái miệng đỏ tươi, cái trán trắng bệch, đối diện với tôi.
Nhưng bây giờ tôi che mặt mình lại, chế ngự nỗi sợ và bước tới gần cửa sổ, sục sôi nỗi căm hờn. Tôi không nhìn thấy gì khác ngoài gương mặt ấy, đồng thời cảm nhận được sức nặng từ khẩu súng ngắn trong tay mình, cảm thấy rõ một cơn thịnh nộ hung dữ đang trào dâng. Tôi muốn nói to điều gì đó, một lời thề thốt, một câu nguyền rủa, nhưng rốt cuộc lại không nói được gì. Tiếng ồng ộc phát ra trong miệng tôi, giống như đang phun máu.
Rồi tôi giơ khẩu súng lên, nhắm vào gương mặt ấy, gần cửa sổ hết mức có thể, và siết cò.
Súng không nổ.
Tiếng vang yếu ớt trong trẻo của kim loại xuyên qua đầu tôi như một nhát đâm.
Tôi lại siết cò.
Nhưng súng vẫn không nổ.
Gương mặt đáng sợ vẫn đứng trân trân bình thản sau tấm kính, không biểu lộ cảm xúc nào, mi mắt không khép, cặp mắt trừng trừng nhìn tôi, trắng bệch và chết chóc.
Tôi siết cò lần thứ ba.
Vẫn không nổ.
Vẫn cảm giác khó chịu đó, tựa như có một cái đinh nhọn bằng kim loại đâm xuyên qua thần kinh của tôi.
Nhưng giờ thì gương mặt ấy bắt đầu trở nên mờ ảo, đôi môi đỏ tươi trở nên xám ngoét và cái trán trắng bệch mờ dần đi. Tôi hạ khẩu súng ngắn xuống. Gương mặt dần dần biến mất, như bị màn đêm nuốt dần, nuốt dần, cho tới khi cuối cùng nó phủ trùm lên như một tấm màn đen thật dày. Cuối cùng, tôi không nhìn thấy gì ngoài màn đêm và ánh sáng phản chiếu yếu ớt trên những tấm kính phía trên cùng, do thứ ánh sáng trắng xa lạ chiếu lên từ biển cả.
Tôi đứng đó một lúc lâu, nhìn trừng trừng vào tấm kính, hoàn toàn bối rối trước những gì vừa trải qua.
Rồi tôi nhìn xuống khẩu súng và mở ổ đạn ra.
Ổ đạn trống rỗng, tất cả đạn đã được lấy ra.