Hai năm thấm thoắt trôi qua kể từ ngày huynh trưởng Mông Bá được an táng.
Trong hai năm này, Mông Trọng vẫn như thường lệ, theo Trang Tử học tập các tư tưởng, luận thuyết của Đạo gia và Danh gia. Thế nhưng vào những lúc nhàn rỗi, chàng lại âm thầm nghiền ngẫm các loại binh thư.
Binh thư tức là binh pháp, những tác phẩm binh pháp nổi tiếng nhất đương thời không gì khác ngoài "Tôn Tử Binh Pháp" của Tôn Vũ, "Ngô Tử Binh Pháp" của Ngô Khởi và "Tôn Tẫn Binh Pháp" của Tôn Tẫn.
Tôn Vũ là người nước Tề, nhờ sự tiến cử của bạn thân là Ngũ Tử Tư mà từng giữ chức Quân tư mã ở nước Ngô, huấn luyện quân sĩ khiến quân đội nước Ngô lúc bấy giờ trở nên mạnh mẽ chưa từng có. Ngay cả nước Sở cũng không thể chống đỡ, bị Tôn Vũ và Ngũ Tử Tư công phá tận kinh đô.
Về người bạn thân Ngũ Tử Tư của Tôn Vũ, Mông Trọng từng nghe qua một vài giai thoại.
Ngũ Tử Tư xuất thân là quý tộc nước Sở. Cha ông là Ngũ Xa, thái phó của thái tử Kiến nước Sở, vì bị kẻ gian hãm hại mà cả gia tộc bị Sở Bình Vương hôn ám sát hại sạch.
Sau đó, Ngũ Tử Tư phẫn nộ chạy sang nước Ngô, phò tá Ngô Vương Hạp Lư công phá nước Sở.
Ngày phá Sở, Sở Bình Vương vốn đã qua đời, Ngũ Tử Tư bèn sai quân sĩ đào mộ, dùng roi quất vào thi thể Sở Bình Vương ba trăm cái để báo thù cho cha và anh.
Về sau, Ngô Vương Hạp Lư qua đời, Ngũ Tử Tư phò tá con trai ông là Phù Sai kế vị. Trong thời gian tranh bá giữa Ngô và Việt, Ngô Vương Phù Sai không những không nghe theo lời khuyên của Ngũ Tử Tư mà tiêu diệt Việt Vương Câu Tiễn, trái lại còn tin lời gièm pha của kẻ gian, ban bảo kiếm buộc Ngũ Tử Tư phải tự sát.
Ngũ Tử Tư trong đường cùng đành rút kiếm tự vẫn. Trước khi chết, ông nhờ người móc mắt mình treo lên cửa thành phía Đông, nói rằng muốn tận mắt nhìn thấy quân Việt diệt nước Ngô.
Quả nhiên, chín năm sau khi Ngũ Tử Tư qua đời, nước Ngô bị quân Việt công phá và diệt vong. Việt Vương Câu Tiễn nối tiếp Tề Hoàn Công, Tống Tương Công, Tấn Văn Công, Sở Trang Vương, Tần Mục Công, Ngô Vương Hạp Lư... trở thành vị bá chủ cuối cùng của thời Xuân Thu.
Còn Tôn Vũ, sau khi Ngũ Tử Tư bị Ngô Vương Phù Sai bức tử, ông đã từ bỏ chức Tư mã nước Ngô, không còn mưu tính chuyện chiến tranh cho nước Ngô nữa mà ẩn cư nơi thôn dã, tu sửa tác phẩm binh pháp của mình, chính là "Tôn Tử Binh Pháp".
Về phần Ngô Khởi, ông là người nước Vệ, gia cảnh khá giả. Thời trẻ, để thực hiện hoài bão, ông đã bái vào môn hạ của Tăng Thân - con trai của Tăng Tử (Tăng Sâm), đệ tử của Khổng Tử - để học Nho thuật.
Tuy nhiên, khi mẹ Ngô Khởi qua đời, ông không tuân theo tín điều trung hiếu của Nho gia mà về chịu tang, vì vậy đã bị Tăng Thân trục xuất khỏi môn phái.
Từ đó, Ngô Khởi bỏ Nho học binh, sau khi học thành tài liền sang nước Lỗ.
Lúc bấy giờ nước Tề đánh nước Lỗ, Lỗ Mục Công vốn muốn trọng dụng Ngô Khởi nhưng lại lo ngại vì vợ Ngô Khởi là người nước Tề. Ngô Khởi bèn giết vợ để bày tỏ lòng mình, cuối cùng giúp nước Lỗ đánh bại quân Tề, nhưng bản thân ông lại bị người đời chỉ trích.
Vì bị Lỗ Mục Công nghi kỵ, Ngô Khởi rời nước Lỗ sang nước Ngụy, cuối cùng cũng được thỏa chí tại nước Ngụy. Đội quân Ngụy Vũ Tốt do ông huấn luyện được coi là đội quân mạnh nhất đương thời. Ngô Khởi dựa vào đội quân này đã lập nên thành tích bất bại: "Đại chiến bảy mươi hai trận, toàn thắng sáu mươi bốn, còn lại bất phân thắng bại".
Chiến tích nổi tiếng nhất của Ngô Khởi chính là trận Âm Tấn, dùng năm vạn quân Ngụy đánh bại năm mươi vạn quân Tần, chiếm đoạt hơn năm trăm dặm đất ở Hà Tây của nước Tần.
Phải nói rằng, mặc dù "đạo đức cá nhân" của Ngô Khởi khó tránh khỏi bị người đời chê trách, nhưng trong việc trị quân, ông đích thực là một danh tướng hiếm có trên đời.
Binh pháp do Ngô Khởi soạn ra chính là "Ngô Tử Binh Pháp".
Còn về Tôn Tẫn, chuyện khiến người đời bàn tán nhiều nhất chính là ân oán giữa ông và người đồng môn Bàng Quyên.
Cùng là đồng môn, cùng là đệ tử của Quỷ Cốc Tử, Tô Tần dùng khích tướng pháp khích lệ Trương Nghi, khiến Trương Nghi trở thành bậc đại trượng phu "một giận mà chư hầu sợ". Thế nhưng Bàng Quyên vì đố kỵ với Tôn Tẫn, sau khi biết tin Tôn Tẫn xuống núi đã lừa ông sang nước Ngụy, khiến ông phải chịu Tẫn hình và Kình hình.
Về sau, Tôn Tẫn nhờ giả điên giả khờ mới giữ được mạng sống. Mãi đến khi sứ giả nước Tề là Điền Kỵ đến nước Ngụy, Tôn Tẫn tìm mọi cách gặp được Điền Kỵ, khẩn cầu ông giúp mình thoát khỏi lồng giam. Điền Kỵ rất trân trọng tài năng của Tôn Tẫn nên đã giúp ông trốn khỏi nước Ngụy.
Từ đó, Tôn Tẫn trở thành mưu sĩ của Điền Kỵ.
Sau này trong trận Quế Lăng, vì nước Ngụy đánh nước Triệu, nước Tề ra lệnh cho Điền Kỵ dẫn quân đánh Ngụy cứu Triệu. Tôn Tẫn đề xuất chiến thuật "Vây Ngụy cứu Triệu", nhờ đó đánh bại Bàng Quyên và bắt sống được ông ta.
Tiếp đó trong trận Mã Lăng, vì nước Ngụy đánh nước Hàn, nước Tề sau khi nhận lời cầu viện của nước Hàn lại một lần nữa thi triển chiến thuật "Vây Ngụy cứu Triệu" của Tôn Tẫn, đánh vào kinh đô Đại Lương của nước Ngụy, đồng thời phục kích Bàng Quyên ở Mã Lăng Đạo. Bàng Quyên vì hận mình hai lần bị Tôn Tẫn đánh bại nên đã phẫn uất tự sát.
Phải nói rằng, trong thời gian nước Ngụy có được Bàng Quyên, nước Ngụy từng có dấu hiệu trỗi dậy, nhưng lại bị thế lực nước Tề đại diện bởi Điền Kỵ và Tôn Tẫn đè bẹp, từ đó nước Ngụy không thể gượng dậy nổi.
Sau sự kiện đó, Tôn Tẫn biên soạn một bộ binh thư, đó là "Tôn Tẫn Binh Pháp".
Tuy nhiên, ngoài những bộ "Tôn Tử Binh Pháp", "Ngô Tử Binh Pháp", "Tôn Tẫn Binh Pháp" mà người đời ai cũng biết, trong kho sách của Trang Tử thực ra còn có vài bộ binh thư không hề kém cạnh, ví như "Thái Công Binh Pháp" do Thái Công Vọng soạn, hay "Tư Mã Binh Pháp" do Tư Mã Nhương Thư soạn.
Thái Công Vọng tức Khương Thượng, hay Lữ Vọng, tục gọi là Khương Tử Nha, một trong những công thần lớn nhất giúp nhà Chu diệt nhà Ân Thương, là tiên tổ của nước Tề họ Khương, là bậc thánh hiền binh gia xuất hiện trước cả Tôn Tử. Nhưng vì Khương Tử Nha cũng thuộc Đạo gia, nên tác phẩm của ông cũng được xếp vào Đạo gia.
Còn Tư Mã Nhương Thư, tức Điền Nhương Thư, là hậu duệ của dòng họ Điền (họ Trần) ở nước Trần, cũng là bậc đại gia giỏi dùng binh nhất nước Tề sau thời Thái Công.
So với ba bộ "Tôn Tử Binh Pháp", "Ngô Tử Binh Pháp" và "Tôn Tẫn Binh Pháp", thì "Tư Mã Binh Pháp" và "Thái Công Binh Pháp" vốn luôn là báu vật được nước Tề cất giữ. Thế mà Trang Tử lại có thể sưu tầm được một phần của hai bộ binh thư này, dù không đầy đủ, cũng là một chuyện khiến người ta cảm thấy vô cùng khó tin.
Thực ra, những binh thư này không phải do Trang Tử sưu tầm, mà là do người bạn chí cốt Huệ Thi của ông thu thập. Nghe nói khi Huệ Thi làm tướng quốc nước Ngụy, ông rất thích đọc sách luận khắp thiên hạ, tàng thư cực kỳ phong phú. Sau này Huệ Thi thất thế, chuẩn bị sang nước Sở, ông đã nhờ người chuyển tặng những cuốn sách này cho Trang Tử. Vì vậy trong kho sách của Trang Tử mới có nhiều loại sách tạp nham đến thế, ngoài sách Đạo gia còn có luận thuyết của Danh gia, Nho gia, Binh gia, Pháp gia, v.v.
Ví như "Lão Tử", "Dịch", "Chu Dịch", ví như "Quỷ Cốc Tử", "Liệt Tử", "Dương Chu", hay như "Pháp Kinh" do danh tướng nước Ngụy là Lý Khôi biên soạn, v.v., có thể nói là cực kỳ phong phú.
Nhưng Trang Tử có từng đọc qua những cuốn sách này hay không thì không ai biết được.
Về việc này, Mông Trọng không dám xác nhận, bởi chàng biết, dù Trang Tử có cất giữ những tác phẩm này, không có nghĩa là ông không có thành kiến với chúng, ví dụ điển hình nhất chính là Nho gia.
Hai năm qua, khi nghiền ngẫm mấy bộ binh pháp đó, Mông Trọng cũng gặp phải không ít băn khoăn, nhưng chàng không dám thỉnh giáo Trang Tử. Bởi từng có lần Trang Tử đi ngang qua, thấy chàng đang xem binh pháp thì lông mày nhíu chặt, lộ rõ vẻ không hài lòng.
Nguyên nhân chẳng qua là vì Trang Tử hy vọng đệ tử Mông Trọng có thể "buông bỏ" mối thù của huynh trưởng Mông Bá, đừng dấn thân vào thế tục mà hãy nhất tâm theo đuổi đại đạo.
Đáng tiếc là hai năm vẫn chưa đủ để Mông Trọng quên đi mối ân oán này.
"A Trọng."
Hôm nay, khi Mông Trọng đang xem "Thái Công Binh Pháp", Nhạc Tiến bước vào phòng chàng, nhắn lại: "Phu tử gọi đệ đến chính đường."
"Vâng."
Nghe vậy, Mông Trọng đặt thẻ tre trong tay xuống, đứng dậy.
Mông Trọng nay đã mười bốn tuổi, vóc dáng đã gần bằng người trưởng thành, cộng thêm việc mấy năm nay chàng không ngừng rèn luyện thân thể nên người trông khá vạm vỡ. Chỉ là khi chàng khoác lên mình bộ y phục rộng thùng thình, tay cầm thẻ tre, có lẽ hầu hết mọi người đều nghĩ chàng chỉ là một thư sinh trói gà không chặt, chứ ít ai biết rằng Mông Trọng thực ra sở hữu võ nghệ có thể so tài với Vũ Anh, Mông Hổ, Hoa Hổ và những người khác.
Một lát sau, Mông Trọng đến chính đường nơi Trang Tử ở. Trong chính đường, trên chỗ ngồi của Trang Tử bày đầy những thẻ tre.
Những thẻ tre này chính là tác phẩm "Tiêu Dao Du" mà Trang Tử đã viết trong gần hai năm qua, là bài viết mà hai năm trước, khi Mông Trọng lần đầu đi du ngoạn cùng Trang Tử, ông đã viết trên tay áo.
Thực ra nửa năm trước, Trang Tử đã viết xong "Tiêu Dao Du", nhưng bản thân ông không hài lòng, vì vậy trong thời gian sau đó, Trang Tử luôn sửa đi sửa lại luận thuyết này cho đến tận hôm nay.
Tuy nhiên lúc này, thấy trên gương mặt Trang Tử tràn đầy nụ cười mãn nguyện, nghĩ chắc là bài "Tiêu Dao Du" này đã được sửa đến mức khiến vị Trang phu tử này hài lòng, nên ông mới vội vã gọi đệ tử tâm đắc nhất là Mông Trọng đến.
Quả nhiên, sau khi nhìn thấy Mông Trọng, Trang Tử chỉ vào những thẻ tre đó, ra hiệu cho Mông Trọng ngâm đọc.
"Bắc Minh có cá, tên gọi là Côn. Côn to lớn, chẳng biết rộng mấy ngàn dặm. Hóa thành chim, tên gọi là Bằng. Lưng chim Bằng, chẳng biết rộng mấy ngàn dặm. Phấn cánh bay lên, đôi cánh như đám mây rủ xuống từ bầu trời. Loài chim này, khi biển chuyển động thì sẽ dời về Nam Minh. Nam Minh, chính là Thiên Trì..."