Chim Nhại

Lượt đọc: 455 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 10
Hình ảnh

Có lẽ đã là cuối Đông rồi, vì sau khi tôi rời nhà máy sản xuất lò nướng bánh mì, trời không bao giờ lạnh như trước nữa. Và tôi cũng không ốm đau đến mức như vậy nữa, mặc dù tôi vẫn còn khá yếu khi rời bỏ sự yên ấm kinh khủng của nơi đó.

Tôi đi ngày càng nhanh lên phía Bắc, và chỗ thức ăn mà tôi mang theo, mặc dù có mùi vị khó chịu, vẫn tiếp thêm sức mạnh cho tôi. Tôi tiếp tục bắt nghêu, sau đó là trai. Tôi đã xua một con mòng biển khỏi con cá mà nó vừa bắt được và món xúp cá được tôi ăn trong ba ngày. Cuối cùng, tôi thấy mình khỏe mạnh hơn nhiều so với trước đây. Cơ thể tôi trở nên rắn chắc và mạnh mẽ, tôi có thể đi bộ nhanh cả ngày mà không mệt mỏi. Tôi bắt đầu cho phép mình nghĩ về Mary Lou và xem xét khả năng tìm lại cô. Nhưng tôi vẫn còn một chặng đường dài phía trước, tôi biết điều đó. Chỉ là không biết nó sẽ tồi tệ như thế nào.

Thế rồi, một buổi chiều nọ, tôi nhìn thấy trước mặt mình một con đường cắt ngang qua những cánh đồng, chạy xuống tận bờ biển.

Tôi vội chạy đến. Đó là một con đường trải nhựa đã xuống cấp, bị cỏ mọc ở nhiều chỗ, nhưng vẫn có thể đi lại được. Tôi bắt đầu lần theo con đường, bỏ lại bãi biển phía sau.

Giữa những bụi cỏ cao bên vệ đường, tôi thấy một thứ mình chưa từng bắt gặp trước đây: Một tấm bảng chỉ đường. Tôi đã từng biết đến chúng trên phim và trong sách, nhưng trông thấy tận mắt thì chưa. Nó được làm bằng nhựa Permo, với hai màu xanh trắng đã phai mờ, những nét chữ trên đó bị bụi bẩn và dây leo gần như che kín, nhưng khi gạt đám dây leo ra, tôi vẫn có thể đọc.

MAUGRE

RANH GIỚI THỊ TRẤN

Tôi nhìn tấm biển hồi lâu. Có gì đó trong món đồ xưa cũ này làm tôi lạnh sống lưng, bất chấp ánh nắng yếu ớt của một ngày chớm Xuân.

Tôi bế Biff lên tay và tiếp tục đi vòng qua một khúc quanh trên đường.

Trước mắt tôi trải dài một khu nhà bằng nhựa Permo bị cây lá che lấp gần một nửa - phải có đến năm trăm ngôi nhà như thế lấp đầy một thung lũng nhỏ dưới chân tôi. Những ngôi nhà nằm tách biệt với nhau, giữa chúng có lẽ đã từng tồn tại các công viên và đường bê tông. Tuy vậy, tôi không thấy một dấu hiệu nào của con người. Tại trung tâm của thị trấn có hai tòa nhà đồ sộ và một cột đá trắng to lớn.

Khi đi đến gần, tôi bắt đầu vạch những bụi hoa hồng và kim ngân gần như đã chết sạch vì đông giá, và thấy những ngôi nhà từng được sơn màu rực rỡ nay đều đã ngả một màu xám nhờ.

Tôi tiến vào Maugre với một chút run sợ. Ngay cả Biff cũng có vẻ lo lắng, nó cựa quậy trên tay tôi và cào vào quai đeo ba lô. Nơi thị trấn bắt đầu có một con đường mòn uốn lượn xuyên qua bụi rậm giữa các ngôi nhà. Tôi đi theo nó. Tôi không thể xác định được những ngôi nhà có hàng hiên hay không, vì mặt trước của chúng bị cây cối um tùm che phủ. Chỉ một vài trong số đó có cửa ra vào còn nhìn thấy được qua đám cỏ dại và cây kim ngân.

Tôi đi về phía cột đá. Đó dường như là việc nên làm.

Một ngôi nhà tôi đang đi ngang qua có vẻ ít bị che phủ hơn những ngôi nhà khác. Tôi đặt Biff xuống đất, vạch lối xuyên qua thảm thực vật để tiến đến cửa ra vào, bất chấp nhiều lần bị gai hồng cào rách. Nhưng tôi hầu như không để ý đến những vết xước, tôi có cảm giác như đang sống trong một giấc mơ hay đang bị thôi miên.

Sau khi nhổ thêm vài cái cây nữa, tôi loay hoay mở được cửa, và với cảm giác sợ hãi xen lẫn tò mò, tôi bước vào. Tôi đang ở trong một phòng khách lớn và trống trải. Hoàn toàn không có gì. Từ ô cửa sổ nhựa bám đầy bụi bẩn và nấm mốc tỏa ra một thứ ánh sáng mờ ảo.

Nhựa Permo trong mờ là thứ vật liệu bền nhất từng được con người tạo ra. Toàn bộ căn phòng là một khối nhựa đúc liền không mép nối màu hồng, với các góc tường được bo tròn. Không có dấu hiệu nào cho thấy con người từng sống tại đây, nhưng tôi biết với loại chất liệu này thì người ta có thể sống cả trăm lam mà không để lại dấu vết gì - không có vết trầy xước dưới sàn, không có dấu tay trên tường hay mảng khói ám trên trần, không có những vết tích các trò đánh nhau hay đùa nghịch của bọn trẻ, cũng như dấu vết nơi từng đặt chiếc bàn yêu thích của cả gia đình.

Không rõ vì sao mà tôi bỗng cất tiếng hỏi:

- Có ai ở nhà không?

Đó là một câu thoại tôi đã học được trong những bộ phim.

Thậm chí không có cả một tiếng vang đáp lại. Tôi buồn bã nhớ đến những người đàn ông trong phim vừa uống rượu bằng những chiếc ly lớn vừa cười vang. Chỉ có chim nhại hót ở bìa rừng . Tôi bỏ ra ngoài. Biff vẫn đang đợi, và tôi bế nó lên.

Chúng tôi đi tới chỗ cột đá. Càng đi đến gần, con đường càng mở rộng và dễ đi hơn. Chúng tôi đến được khu vực tương đối trống trải nằm giữa hai tòa nhà lớn và cột đá nhanh hơn dự đoán.

Cột đá có màu trắng sáng hơn so với các tòa nhà. Nó rộng khoảng hai mươi mét ở phần chân và cao chừng sáu mươi mét, khá giống với những tượng đài Washington mà tôi đã thấy trong nhiều cuốn sách và bộ phim, và đó là tất cả những gì còn lại của Thủ đô Washington.

Dưới chân cột có một cửa kính cánh đôi bị dây bìm bìm che lấp phân nửa. Khi đi vòng quanh, tôi nhận ra bốn mặt của tượng đài đều có một cửa lớn. Ở mặt thứ tư, tôi thấy những dòng chữ này được viết phía trên cao:

NƠI TRÚ ẨN KIÊM TRUNG TÂM MUA SẮM

TẤT CẢ SINH MẠNG ĐỀU AN TOÀN DƯỚI LÁ CHẮN NÀY

BỘ QUỐC PHÒNG: MAUGRE

Tôi đọc đi đọc lại hai lần. Có phải “lá chắn” chính là cái cột đá? Hoặc một cái gì đó nằm ở bên trong cửa? Tôi đặt Biff xuống và tìm cách mở các cửa. Hai cánh của cái cửa thứ ba trượt mở dễ dàng.

Bên trong cửa là một sảnh rộng với nguồn sáng duy nhất từ các cửa kính hắt vào. Gian phòng có hai cầu thang lớn dẫn xuống dưới nằm ở hai bên, cùng một cầu thang khác nhỏ hơn dẫn lên trên. Tôi ngần ngừ trong giây lát rồi đi xuống cầu thang bên trái. Sau khi đi được sáu, bảy bậc gì đó, ánh sáng bên trên tối dần, nhường chỗ cho ánh sáng nhẹ phát ra từ những bức tường màu vàng ở hai bên cầu thang. Trên một bức tường tôi đọc được mấy chữ:

MỨC ĐỘ BẢO VỆ CHỐNG CHẤN ĐỘNG

Đi xuống thêm khoảng tám bậc nữa, những nguồn sáng nhẹ khác bật lên và tôi đọc được một dòng chữ trên bức tường lúc này mang màu xám:

MỨC ĐỘ BẢO VỆ CHỐNG PHÓNG XẠ

Khi xuống đến chân cầu thang, tôi thấy trước mặt mình một hành lang rộng và dài, với những chùm đèn thủy tinh phát ra ánh sáng hồng nhạt tự động bật lên khi tôi tiến đến gần, và ở hai bên hành lang có những tấm biển đề:

KHU VỰC AN TOÀN - TRUNG TÂM THƯƠNG MẠI

Thế rồi, trong sự kinh ngạc của tôi, âm nhạc du dương cất lên, với tiếng sáo tây và kèn oboe. Ở phía trước, cách tôi chừng năm mươi mét, một tia nước phun lên cao từ một cái hồ lớn, và những ánh đèn đủ màu bắt đầu nhảy múa quanh đó. Tiếng nước đổ xuống vang vọng.

Tôi ngỡ ngàng tiến đến gần đài phun nước. Biff nhảy khỏi tay tôi và chạy tới trước, rồi không ngần ngại nhảy lên thành hồ, cúi đầu xuống uống nước.

Tôi chậm rãi bước tới chỗ nó, khom người, khum hai lòng bàn tay lại để vốc thứ nước mát lạnh đưa lên khuôn mặt khô khốc và nóng bừng của mình, ngửi thử. Nước trong và sạch. Tôi uống một vốc nước, rồi rửa mặt.

Thành hồ được dát hàng ngàn miếng gạch nhỏ hình vuông lấp lánh ánh bạc, với những đường ron trắng, còn dưới đáy hồ là một bức tranh khảm cực lớn làm từ những viên gạch nhỏ màu đen, xám và trắng, thể hiện hình ảnh một con cá voi lưng gù đang vẫy đuôi.

Tia nước phun lên từ một cụm tượng ba con cá heo uốn người vươn cao tạc bằng đá đen. Tôi đã từng thấy một thứ giống như thế này trong quyển sách tranh có tên Các tượng đài thành Rome . Tôi lùi lại quan sát thành hồ lấp lánh bạc, con cá voi to lớn, bầy cá heo, tia nước phun thẳng đứng, cảm nhận những giọt nước li ti bắn vào mặt và cơ thể mình, lắng nghe tiếng sáo. Những sợi tóc con trên gáy tôi dựng lên, và cảm giác gai gai gần như đau đớn lan ra khắp cơ thể tôi.

Nó cũng giống như khi tôi nhìn ngắm đàn chim biển chao liệng, cơn bão trên đại dương xám xịt, hoặc con khỉ Kong đồ sộ trong cú rơi chậm rãi và duyên dáng của nó.

Phía bên kia đài phun nước, hành lang kết thúc tại một ngã ba, với hai cánh cửa lớn ở nhánh bên phải và bên trái. Cánh cửa bên trái có đề dòng chữ:

KHU VỰC KHẨN CẤP

SỨC CHỨA 60.000

Còn cánh cửa bên phải chỉ đề bốn từ:

TRUNG TÂM THƯƠNG MẠI

Cánh cửa này tự động mở ra khi tôi tiến đến gần, và tôi nhìn thấy trước mặt mình trải dài một hành lang rộng rãi lát đá khác. Ở hai bên hành lang có cơ man nào là cửa hàng cửa hiệu. Trong đời mình tôi chưa bao giờ nhìn thấy nhiều cửa hàng đến thế. Tôi đã từng nhìn thấy hàng hóa được trưng bày ở mặt tiền các cửa hàng tại New York, cũng như tại trường đại học nơi tôi sống và giảng dạy, nhưng chưa bao giờ với qui mô và số lượng như thế này.

Cửa hàng gần nhất tên là Sears, và đằng sau lớp kính cong khổng lồ có một gian trưng bày sản phẩm trông thật khó tin. Hơn một nửa trong số đó tôi chưa từng biết đến. Một số quen thuộc với tôi, nhưng cũng có những quả bóng màu sắc, các thiết bị điện tử và những vật thể phát sáng bí ẩn mà theo như tôi biết, có thể là đồ chơi hoặc vũ khí.

Mê mẩn, tôi mở cửa bước vào trong. Tôi đang ở khu vực chỉ có quần áo. Tất cả đều trông mới tinh và được bọc trong một loại màng nhựa trong suốt có thể bảo quản hàng trăm năm.

Quần áo của tôi đã sờn và rách, nên tôi quyết định tìm trang phục mới cho mình.

Khi tôi băn khoăn không biết làm cách nào để tháo lớp nhựa bảo vệ chiếc áo khoác màu xanh lam có vẻ vừa vặn với mình, tôi tình cờ nhìn xuống sàn nhà lát đá dưới chân.

Chúng in đầy những dấu bùn trông còn rất mới.

Tôi quì xuống, thò tay ra chạm vào lớp bùn. Nó còn hơi ẩm.

Đứng thẳng dậy, tôi đưa mắt nhìn quanh. Tôi không thấy gì ngoài những lớp sào treo đầy quần áo, phía sau chúng là các dãy kệ chất nhiều loại hàng hóa đủ màu sắc. Không động tĩnh gì. Khi nhìn xuống sàn, tôi thấy các dấu giày cả mới lẫn cũ ở khắp mọi nơi, đủ kích cỡ và hình dáng.

Biff đang lang thang ở đâu đó, tôi gọi nhưng nó không chạy lại. Tôi bắt đầu lò dò tìm kiếm con mèo dọc theo lối đi. Điều gì sẽ xảy ra nếu chủ nhân những dấu chân này vẫn còn ở quanh đây? Nhưng, rốt cuộc, con người có gì mà khiến tôi phải sợ kia chứ? Hoặc thậm chí một robot, vì không có con nào bám theo tôi từ trại tù, và không có bất cứ điều gì cho thấy các Tầm soát viên hoặc một ai khác đang truy lùng tôi. Nhưng tôi vẫn thấy e sợ - hay “rén”, giống như trong Từ điển tiếng lóng .

Cuối cùng, tôi tìm thấy Biff đang ngấu nghiến một lon đậu khô mở sẵn trên một cái quầy, bên cạnh hàng trăm lon tương tự chưa mở. Biff đang gầm gừ rất lớn, và tôi có thể nghe thấy tiếng răng rắc do những chiếc răng bé xíu đang cắn hạt gây ra. Tôi cầm một cái lon chưa mở. Con mèo thậm chí không buồn nhìn tôi. Không giống như các món thực phẩm đóng hộp mà tôi đã thấy trước đây, trên lon đậu có đề như thế này:

ĐẬU PINTO ĐƯỢC CHIẾU XẠ VÀ ỔN ĐỊNH HẠN SỬ DỤNG: SÁU THẾ KỈ KHÔNG CÓ PHỤ GIA

Ngoài ra nó còn có hình ảnh một đĩa đậu bốc khói cùng một lát thịt lợn xông khói bên trên. Nhưng thứ đậu mà Biff đang ăn ngấu nghiến trông khô khốc và chẳng ngon lành gì. Tôi thò tay bốc một nhúm đậu. Biff ngước lên nhìn tôi và nhe răng gầm gừ, nhưng rồi tập trung ăn tiếp. Tôi bỏ một hạt đậu vào trong miệng và nhai thử. Nó cũng không quá tệ, mà tôi lại đang đói. Tôi bỏ hết nhúm đậu còn lại vào miệng, vừa nhai vừa nghiên cứu lon đậu nguyên vẹn, tìm cách xác định xem làm thế nào mở được nó. Trên nắp lon có hướng dẫn cụ thể, nào là phải ấn vào một chấm màu trắng rồi vừa kéo vừa xoay một miếng nhãn màu đỏ. Tôi cố gắng thử đủ kiểu nhưng vẫn không mở được lon đậu. Trong lúc đó tôi đã nhai hết số đậu trong miệng, và Biff cũng vậy. Cảm giác thèm ăn trong tôi trỗi dậy, tôi nổi cáu với cái lon đậu lì lợm. Với tư cách là người duy nhất trên trái đất này có thể đọc được hướng dẫn mở lon, tôi vẫn bất lực.

Tôi sực nhớ mình đã đi ngang qua một dãy kệ bày bán các loại dụng cụ. Tôi quay lại chỗ đó. Sự bực bội và cơn đói đã làm tôi quên hết cảm giác e dè, tôi sải những bước chân chắc chắn và ồn ào. Tại đó tôi tìm thấy một cái rìu nhỏ, giống như trong phim Vợ sát thủ ra tay , trừ việc cái rìu này được bọc trong màng nhựa, và tôi cũng không thể mở được nó.

Càng điên tiết, tôi càng thèm ăn chỗ đậu kia. Tôi cố dùng răng xé lớp vỏ bọc của cái rìu, nhưng nó quá chắc. Thế rồi tôi trông thấy một tủ kính cất những cái hộp nhỏ nằm cạnh một dãy kệ khác. Tôi bước sang bên đó, giơ rìu lên cao rồi thả xuống, làm vỡ kính. Vài mảnh kính sắc nhọn còn bám lại trên khung kim loại của tủ kính. Tôi kê màng nhựa bọc chiếc rìu vào đó, và cứa mạnh. Lớp nhựa bắt đầu rách ra. Cuối cùng tôi đã gỡ được nó ra khỏi chiếc rìu.

Sau đó, tôi quay lại chỗ mấy cái lon đậu, bổ rìu vào nắp lon cho tới khi nó bật mở và số đậu bên trong đổ ra ngoài. Tôi đặt rìu xuống quầy và bắt đầu ăn đậu.

Khi ăn đến nhúm đậu thứ ba, tôi nghe thấy một giọng nói trầm trầm cất lên sau lưng:

- Này, anh đang làm cái quái gì vậy?

Tôi quay lại và thấy hai người đứng đó, một ông già râu đen và một phụ nữ mập mạp. Mỗi người dắt theo một con chó to và vũ trang bằng một con dao dài. Hai con chó cũng đang nhìn tôi chăm chú. Chúng thuộc giống chó bạch tạng, với bộ lông trắng và đôi mắt hồng.

Bên cạnh tôi, mèo Biff cong lưng lại và nhe răng với lũ chó. Lúc đó tôi mới nhận ra có lẽ chúng chỉ đang nhìn vào con mèo.

Hai người kia già hơn tôi và cũng mập mạp hơn. Kiểu nhìn của họ vượt qua giới hạn của Quyền Riêng tư, nhưng chủ yếu tò mò hơn là thù địch. Tuy vậy, những con dao dài của họ trông rất đáng sợ.

Trong miệng tôi vẫn còn một ít đậu. Tôi nhai tiếp rồi trả lời họ:

- Tôi đang ăn. Tôi đói.

- Thứ anh đang ăn, nó thuộc về tôi. - Ông già nói.

- Chúng tôi. - Người phụ nữ đế thêm. - Gia đình chúng tôi.

Gia đình . Tôi chưa từng nghe một người nào nói ra hai từ đó, ngoại trừ trong các bộ phim.

Ông già phớt lờ bà ta và hỏi tôi:

- Anh đến từ thành phố nào?

- Tôi không biết. - Tôi đáp. - Tôi đến từ Ohio.

- Hắn có thể đến từ Eubank. - Người phụ nữ nói với ông ta. - Trông hắn giống như một gã Dempsey. Đám đó ốm nhom ốm nhách như nhau.

Tôi đã nuốt xong chỗ đậu trong miệng.

- Hoặc một tay Swisher. - Người đàn ông đáp. - Từ thị trấn Ocean.

Biff thình lình nhảy phóc khỏi cái quầy nó đang đứng và bỏ chạy, nhanh chưa từng thấy. Hai con chó dõi mắt nhìn theo con mèo, kéo căng sợi dây dắt. Chủ nhân của chúng chẳng buồn quan tâm.

- Anh đến từ thị trấn nào trong bảy cái? Và tại sao anh phá luật khi ăn đồ của chúng tôi?

- Và đồng thời xâm phạm thánh địa của chúng tôi? - Người phụ nữ đế thêm.

- Tôi chưa từng nghe nói tới bảy thị trấn. - Tôi đáp. - Tôi là một người lạ tình cờ đi ngang qua đây. Tôi bị đói, và khi tìm thấy chỗ này tôi đã vào. Tôi không hề biết nó là một... thánh địa.

Người phụ nữ trố mắt nhìn tôi:

- Anh không nhận ra một nhà thờ Thánh sống hay sao?

Tôi đưa mắt nhìn những dãy quầy kệ chất đầy hàng hóa bọc màng nhựa, các sào treo quần áo đủ màu sắc, thiết bị điện tử, súng trường, gậy đánh golf và áo khoác.

- Nhưng đây không phải là một nhà thờ. - Tôi bắt bẻ. - Đây là một cửa hàng.

Hai người kia không nói gì một lúc lâu. Một trong hai con chó có lẽ đã mệt mỏi với việc nhìn theo hướng Biff bỏ chạy và nằm xuống sàn, ngáp dài. Con còn lại hít ngửi bàn chân của người đàn ông.

Ông ta thốt lên:

- Đúng là một sự phỉ báng. Cộng thêm sự phỉ báng khi anh ăn đồ thánh mà không được cho phép.

- Tôi xin lỗi. - Tôi lắp bắp. - Tôi hoàn toàn không biết...

Người đàn ông bất ngờ tiến tới và nắm chặt cánh tay tôi với một sức mạnh đáng kinh ngạc, đồng thời kê mũi dao vào bụng tôi. Trong lúc đó, người phụ nữ cũng di chuyển nhanh thoăn thoắt so với vóc dáng bệ vệ của mình và chộp lấy chiếc rìu mà tôi đã sử dụng để mở lon đậu. Chắc bà ta nghĩ tôi có thể dùng nó để tự vệ.

Tôi vô cùng sợ hãi và không biết phải nói gì. Người đàn ông giắt dao vào thắt lưng rồi bẻ quặt hai cánh tay của tôi ra sau lưng, và bảo người phụ nữ lấy cho ông ta một sợi dây. Bà ta đi đến một quầy hàng nằm cách đó vài dãy, nơi có một cuộn dây Synlon lớn, dùng dao cắt đứt một đoạn, rồi bỏ lại cái rìu ở đó. Bà ta đưa sợi dây cho người đàn ông, và ông ta trói hai tay tôi lại với nhau. Hai con chó quan sát tất cả vụ việc với ánh mắt lười biếng. Tôi đã bắt đầu vượt qua nỗi sợ hãi và cảm thấy tương đối bình tĩnh. Tôi đã xem những thứ như thế này trên ti vi, và tôi bắt đầu cảm thấy tình huống này là một thứ mà tôi chỉ đang xem, như thể không nguy hiểm thực sự nào đối với tôi. Nhưng tim tôi đập thình thịch, và tôi có thể nhận ra mình đang run rẩy. Tuy vậy, bằng cách nào đó, tâm trí tôi đã vượt qua chuyện này, và tôi cảm thấy bình thản. Tôi chỉ đang tự hỏi chuyện gì đã xảy ra với Biff, cũng như chuyện gì sẽ xảy ra với nó.

- Hai người định làm gì tôi? - Tôi hỏi.

- Cứ theo thánh thư mà làm thôi. - Ông ta đáp. - Kẻ báng bổ chốn thiêng liêng của ta sẽ bị ném vào Hồ Lửa cháy vĩnh viễn.

- Jesus Christ! - Tôi thốt lên. Không hiểu sao tôi lại nói như thế. Có lẽ là do những lời lẽ trong Kinh Thánh mà ông ta sử dụng.

- Anh vừa nói gì? - Người phụ nữ hỏi lại.

- Jesus Christ.

- Ai cho anh biết cái tên đó.

- Tôi học được từ trong Kinh Thánh . - Tôi đáp. Tôi không nhắc tới Mary Lou cũng như người đàn ông tự thiêu đã gọi tên Jesus.

- Kinh Thánh nào? - Bà ta chất vấn.

- Hắn đang nói dối đấy. - Người đàn ông chen vào, rồi bảo tôi. - Cho tôi xem cuốn Kinh Thánh đó.

- Tôi không mang theo nó ở đây. - Tôi đáp. - Tôi đã phải bỏ nó lại...

Ông ta chỉ nhìn tôi chằm chằm.

Sau đó hai người dẫn tôi ra hành lang chính của Trung tâm thương mại, nơi có đài phun nước, họ giải tôi đi ngang qua các cửa hiệu, nhà hàng, sân thiền, và một nơi có gắn tấm biển đề: NHÀ CHÚA JANE.

Khi chúng tôi đi ngang qua một cửa hiệu lớn có đề chữ DƯỢC PHÒNG, người đàn ông nói:

- Nhìn cách anh run lên thế kia, tôi đoán anh sẽ cần một thứ này.

Ông ta đẩy cửa, và chúng tôi bước vào một nơi có rất nhiều những cái hũ lớn được xếp thành hàng, bên trong đựng đầy những viên thuốc đủ kích cỡ hình dạng. Ông ta tiến đến bên một cái hũ có đề MÊ DƯỢC: KHÔNG GÂY NGHIỆN. ỨC CHẾ SINH SẢN, rồi rút từ trong túi quần ra một cọc thẻ tín dụng cũ mèm đã bạc màu, chọn lấy một cái màu xanh dương nằm dưới cùng, và nhét vào khe nằm bên dưới hũ thuốc.

Những cái hũ bằng thủy tinh này là một dạng máy phân phối đời cũ, rõ ràng không được đẹp đẽ và nhanh chóng bằng những máy bán đồ tự động trên Đại lộ số Năm. Nó mất ít nhất một phút để đọc cái thẻ trước khi trả lại, và cần thêm nửa phút nữa để mở khe cửa nhỏ bằng kim loại ở phần đế, nhả ra một nắm những viên thuốc màu xanh.

Người đàn ông cầm chỗ thuốc lên và hỏi tôi:

- Anh muốn bao nhiêu viên?

Tôi lắc đầu đáp:

- Tôi không dùng chúng.

- Anh không dùng chúng? Thế anh dùng cái quái gì?

- Không gì cả? - Tôi đáp. - Đã lâu rồi tôi không dùng ma túy.

Người phụ nữ xen vào:

- Này anh, sau khoảng mười phút nữa anh sẽ ở trong Hồ Lửa cháy vĩnh viễn. Tôi mà là anh thì sẽ nốc vài viên đấy.

Tôi không nói gì.

Người đàn ông nhún vai. Ông ta nuốt một viên, đưa cho người phụ nữ một viên, rồi cất chỗ mê dược còn lại vào trong túi.

Chúng tôi bước ra khỏi cửa hàng, để lại hàng trăm chai lọ đựng thuốc, và khi chúng tôi rời đi, ánh đèn trong cửa hiệu tự động tắt phụt.

Chúng tôi đi vòng qua một góc tường và một đài phun nước mới xuất hiện, với ánh sáng và điệu nhạc mới, nhẹ nhàng hơn. Nó lớn hơn đài phun nước ban nãy.

Hai bên chúng tôi bây giờ là những bức tường bằng thép không gỉ với những ô cửa nằm rải rác. Trên mỗi ô cửa là một tấm biển. Tôi đọc thử hai cái:

PHÒNG NGỦ B

SỨC CHỨA: 1.600

PHÒNG NGỦ D

SỨC CHỨA: 2.200

- Ai ngủ trong những chỗ này vậy? - Tôi thắc mắc.

- Không ai cả. - Người phụ nữ đáp. - Chúng dành cho người xưa. Thời quá khứ.

- Xưa cỡ nào? - Tôi hỏi lại. - Thời kì nào?

Bà ta lắc đầu.

- Thời cổ đại. Khi họ là những người khổng lồ trên trái đất, và họ sợ cơn thịnh nộ của Đức ngài.

- Họ sợ cơn mưa lửa từ Thiên đàng. - Người đàn ông nói thêm. - Và họ không tin Jesus. Cơn mưa lửa không bao giờ xuất hiện, và bọn họ chết hết rồi.

Chúng tôi đi qua nhiều cánh cửa khác, rồi qua gần một cây số tường thép không gỉ được ghi vỏn vẹn hai chữ “LƯU TRỮ”, trước khi rốt cuộc cũng đến được điểm kết thúc của hành lang, nơi có một cánh cửa lớn đề dòng chữ màu đỏ:

NGUỒN ĐIỆN: CHỈ DÀNH CHO NGƯỜI CÓ PHẬN SỰ.

Người đàn ông lấy từ trong túi ra miếng kim loại nhỏ. Ông ta áp nó vào một hình chữ nhật tương ứng nằm ở trung tâm cánh cửa và tuyên bố:

- Chìa khóa Vương quốc.

Cánh cửa trượt mở ra và một ánh sáng dịu nhẹ được bật lên.

Bên trong cửa có một hành lang nhỏ, và không khí đặc biệt nóng. Những con chó bị bỏ lại bên ngoài và chúng tôi đi theo hành lang đến một cánh cửa khác. Càng đi sâu vào trong thì hơi nóng càng tăng. Tôi bắt đầu đổ mồ hôi và ước gì mình có thể lau trán, nhưng tay tôi vẫn đang bị trói sau lưng.

Chúng tôi đã đến trước cánh cửa. Trên đó có viết những một dòng chữ lớn màu cam:

LỐI TIẾP CẬN MẶT TRỜI NHÂN TẠO

DỰ ÁN HỢP HẠCH SỐ BA: MAUGRE

Người đàn ông áp một tấm thẻ khác vào cánh cửa này và khi nó mở ra, một sức nóng dữ dội phả vào mặt tôi. Có một cánh cửa khác nằm ngay bên trong. Người đàn ông ấn một chiếc thẻ khác vào một cái khe bên cạnh nó, và cánh cửa mở ra khoảng hai mét rưỡi. Một quầng sáng màu cam rực rỡ đằng sau cánh cửa chiếu sáng một gian phòng rộng lớn. Gian phòng không có sàn. Hay đúng hơn, nó có một mặt sàn ngập trong ánh sáng cam. Sức nóng bao trùm lên tất cả.

Giọng nói của người đàn ông cất lên:

- Kia là ngọn lửa vĩnh cửu.

Tôi cảm thấy mình bị đẩy tới từ phía sau, tim tôi gần như ngừng đập và miệng tôi không thốt nên lời. Tôi nhìn xuống và chỉ có thể mở hé mắt trong tích tắc, nhưng cũng đủ lâu để thấy một hố tròn lớn đang ở ngay trước chân tôi, và một ngọn lửa rực sáng như mặt trời nằm sâu bên dưới cái hố đó.

Tiếp đó tôi bị lôi trở lại trên đôi chân mềm nhũn, rồi bàn tay của người đàn ông xoay người tôi lại để đối mặt với ông ta, và ông ta nói khẽ:

- Ngươi có muốn nói lời sau cùng không?

Tôi nhìn khuôn mặt ông ta. Nó đầm đìa mồ hôi và không có chút cảm xúc nào.

- Ta là sự sống lại và cũng là sự sống. - Tôi nói. - Ai tin ta, dầu có chết cũng sẽ được sống.

Người phụ nữ ré lên:

- Chúa ơi, Edgar! Chúa ơi!

Người đàn ông nhìn tôi chăm chú.

- Ngươi học những lời đó từ đâu? - Ông ta hỏi.

Tôi cố tìm điều gì đó để trả lời, nhưng rốt cuộc đành phải nói sự thật, dù có cảm giác ông ta sẽ không hiểu được.

- Tôi đã đọc trong Kinh Thánh .

- Đọc ? - Người phụ nữ thốt lên, - Anh biết đọc Thánh Thư?

Tôi có cảm giác mình sẽ chết vì cái nóng ở lưng nếu không nhanh chóng rời khỏi nơi này. Tôi có thể thấy sự đau đớn trên khuôn mặt của người đàn ông, vì sức nóng hoặc sự nghi ngờ.

- Đúng vậy. - Tôi đáp. - Tôi có thể đọc Thánh Thư. - Tôi nhìn thẳng vào mắt ông ta vào nói thêm. - Tôi có thể đọc bất cứ thứ gì.

Người đàn ông nhìn chằm chằm vào tôi với khuôn mặt co rúm thêm một khoảnh khắc kinh khủng nữa, và sau đó, rất đột ngột, ông ta kéo tôi về phía trước, tránh xa ngọn lửa, đẩy tôi qua cánh cửa phía ngoài rồi đóng lại. Sau đó chúng tôi đi qua cánh cửa thứ hai, và nó tự đóng lại, hơi nóng giảm xuống mức có thể chịu được.

- Được rồi. - Người đàn ông nói. - Chúng ta sẽ đến chỗ cuốn sách. Để xem ngươi có thể đọc nó được không.

Nói đoạn ông ta rút dao và cắt dây trói cho tôi.

- Tôi phải tìm Biff trước đã.

Tôi bắt gặp con mèo khi đi được nửa đường trở về Sears, và bế nó lên.

⚝ ✽ ⚝

Trên đường tôi bị áp giải trong run sợ tới Hồ Lửa, chúng tôi đã đi qua một đài phun nước khác. Khi quay trở lại Sears và đi ngang qua đài phun nước đó một lần nữa, một cảnh phim xưa bỗng hiện lên trong đầu tôi: Trong Vua của các vị vua , nam diễn viên H.B. Warner yêu cầu một người đàn ông tên John “rửa tội” cho mình bằng cách nhúng ướt mình dưới sông. Rõ ràng là tình tiết này mang một ý nghĩa thần bí sâu sắc. Những bước chân của tôi trên hành lang rộng rãi vắng vẻ dẫn đến Trung tâm thương mại dường như thật nhẹ nhàng. Người đàn ông và người phụ nữ vẫn kè sát bên cạnh, nhưng không chạm vào người tôi, hai cánh tay tôi cũng đã được cởi trói. Cả hai con chó đều yên lặng và phục tùng, chúng tôi chỉ có thể nghe thấy tiếng những bước chân đều đặn và đắm chìm trong thứ âm nhạc bay bổng phát ra từ những chiếc loa vô hình. Tiếng róc rách của tia nước phun lên trần theo hình vòng cung giờ đây trở nên rõ ràng hơn.

Tôi nghĩ đến Jesus, với khuôn mặt thanh thản đầy râu ria trên dòng sông Jordan, và đột ngột dừng bước.

- Tôi muốn được rửa tội. Trong đài nước này. - Tôi nói với giọng mạnh mẽ và rành rọt, mắt nhìn chăm chú vào hồ nước hình tròn cạnh đó trong khi những giọt nước li ti bắn vào mặt tôi.

Nơi góc mắt của mình, tôi nhận thấy, như trong một cơn mơ, người phụ nữ quì thụp xuống, chiếc váy jean dài phồng lên khi bà ta làm như vậy. Giọng nói của bà ta lúc này cất lên một cách yếu ớt:

- Chúa ơi! Thánh Thần đã truyền đạt cho anh ta những lời của họ.

Người đàn ông đáp lại:

- Đứng dậy đi Berenice. Hắn có thể đã được mách nước trước đó. Chẳng ai giữ kín các bí mật của nhà thờ.

Tôi quay lại khi người phụ nữ đứng dậy và vuốt lại vạt áo chui đầu trên phần hông rộng.

- Nhưng anh ta nhận ra nguồn nước ngay khi nhìn thấy. - Bà ta nói. - Anh ta biết nơi nào có nước thánh.

- Đã bảo rồi. - Người đàn ông đáp, nhưng trong giọng nói bắt đầu có sự hoài nghi. - Hắn có thể nghe ai đó trong sáu thị trấn kia kể lại. Chỉ vì nhà Baleen không phạm tội không có nghĩa là bọn Grayling cũng thế. Có lẽ Manny Grayling đã kể với anh ta. Quỉ sứ, anh ta có thể là một gã Grayling, một trong số những người mà bọn họ không cho nhà thờ biết.

Người phụ nữ lắc đầu.

- Rửa tội cho anh ta đi, Edgar Baleen. - Bà ta nói. - Ông không thể khước từ bí tích.

- Tôi biết. - Ông ta đáp khẽ trong lúc cởi chiếc áo khoác jean, và nhìn vào tôi với vẻ mặt trang nghiêm. - Ngồi xuống đi. Trên thành hồ.

Tôi ngồi xuống thành của đài phun nước. Người phụ nữ quì xuống cởi giày và vớ cho tôi, trước khi xắn ống quần lên. Sau đó bà ta ngồi bên cạnh tôi. Ông già cũng ngồi cạnh tôi, lúc này không còn áo khoác trên người. Hai người cởi giày và vớ của mình. Họ đã thả hai con chó trắng ra. Chúng đứng đó quan sát chúng tôi và con Biff, lúc này đang cuộn mình nằm dưới sàn.

- Được rồi. - Người đàn ông nói. - Bước vào nguồn nước đi.

Tôi đứng dậy và bước qua thành hồ, nhúng chân xuống nước lạnh. Khi nhìn xuống, tôi thấy những viên gạch lát đáy bể được ghép thành hình một con cá lớn, khá giống con cá tôi đã tìm thấy và ăn trên bãi biển - thân hình óng ánh bạc, với đầy đủ vây và mang. Nước ngập ngang đầu gối tôi, nhưng phần còn lại của cơ thể tôi đã bị nước bắn ướt hết. Nước rất lạnh, vậy mà tôi không hề cảm thấy bất tiện.

Tôi đang nhìn con cá dưới đáy hồ thì hai người kia tiến đến bên cạnh. Người đàn ông cúi xuống, khum hai bàn tay lại dưới nước trong giây lát, rồi đưa chỗ nước chảy long tong lên trên đầu tôi. Tôi cảm thấy hai bàn tay ông ta mở ra trên đầu mình, và nước ùa xuống mặt tôi.

- Ta rửa tội cho con nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. - Ông nói.

Người phụ nữ vươn tới, đặt bàn tay mềm mại của mình lên đầu tôi.

- Amen và vinh danh Chúa. - Bà ta nói khẽ.

Chúng tôi bước ra khỏi đài phun nước. Tôi ngồi xuống đợi cùng với người đàn ông, hai con chó và mèo Biff, trong lúc người phụ nữ đi tới Sears để lấy khăn lau chân cho chúng tôi. Chúng tôi cùng nhau lau chân, mang giày, rồi đi tiếp trong im lặng.

Tôi thậm chí còn cảm thấy nhẹ nhàng hơn trước, cách biệt hơn nhưng đồng thời cũng hiện hữu nhiều hơn, tôi sống trọn vẹn những gì ở bên ngoài lẫn bên trong. Tôi có cảm giác như đã vượt qua một lằn ranh vô hình, một ngưỡng cửa đã chờ đợi từ lúc tôi rời Ohio, và bước vào một vương quốc biểu tượng, nơi cuộc sống của tôi nhẹ nhàng, “như lông hồng”. Nơi chỉ có trải nghiệm của tôi về cuộc sống này mới quan trọng, trải nghiệm thuần khiết không bị ảnh hưởng của chất kích thích. Và nếu trải nghiệm đó đồng nghĩa với cái chết trong Hồ Lửa, thì tôi sẽ phải chấp nhận nó.

Giờ đây khi viết lại những dòng này, tôi tự hỏi liệu đây có phải là suy nghĩ của những người quyết định tự thiêu. Nhưng họ dùng ma túy, nhận thức không còn. Và họ không thể đọc.

Hay đó là hiệu quả của việc rửa tội? Chúa Thánh Thần tồn tại thực sự chăng? Tôi không tin vào điều đó.

Chúng tôi lặng lẽ đi theo hành lang và quay ngược lên cầu thang bộ, ánh đèn sau lưng chúng tôi tắt dần, âm nhạc nhường chỗ cho sự im lặng, và đài phun nước cũng dừng lại khi chúng tôi đi khỏi.

Khi lên đến gần đầu cầu thang, tôi ngoái lại trong giây lát để nhìn xuống Trung tâm mua sắm rộng lớn và vắng vẻ, với những chùm đèn và đài phun nước đang tắt dần, các cửa hiệu vẫn sáng rực như chờ đợi những khách hàng không bao giờ đến. Tôi có thể cảm nhận được vẻ trang trọng buồn bã của nơi đó, cũng như sự rộng rãi, sạch sẽ và trống vắng của nó.

Họ đưa tôi ra bên ngoài vào lúc trời đã tối, và im lặng dẫn tôi tới một trong những tòa nhà lớn nằm gần cột đá. Đó là một công trình có vẻ ngoài chỉn chu với bãi cỏ được cắt tỉa cẩn thận và không có bị cây dại bủa vây xung quanh. Chúng tôi đi vòng ra phía sau của tòa nhà, và tôi thấy một mảnh vườn cùng hàng hiên gỗ lạc lõng được dựng thêm vào nhà, trông giống như một thứ mà tôi đã thấy trong Sự ra đời của một quốc gia .

Chúng tôi bước lên hiên nhà và đi vào bên trong qua cửa ra vào. Tôi thấy mình ở trong một gian phòng rộng lớn có trần nhà cao vút. Trong phòng có khoảng ba mươi người ăn vận giản dị ngồi quanh một bàn gỗ lớn, dường như đang chờ tôi. Mọi người im lặng từ lúc chúng tôi bước vào và tiếp tục giữ im lặng khi hai người kia dẫn tôi đi vòng qua cái bàn. Không khí im lặng hệt như phòng ăn của một trường nội trú, hoặc một trại tù.

Chúng tôi đi qua một hành lang hẹp tới một gian phòng khác, cũng rộng không kém, tại đây có kê nhiều hàng ghế gỗ đối diện với một cái bục. Phía sau bục là một màn hình ti vi to bằng cả bức tường, hiện đang tắt.

Baleen dẫn tôi lên bục. Tại đó có để sẵn một cuốn sách lớn màu đen, và mặc dù chữ trên bìa đã bay mất, tôi biết chắc nó là một cuốn Kinh Thánh .

Sự nhẹ nhõm sảng khoái mà tôi cảm thấy ban nãy đã tan biến. Tôi bối rối đứng đó, mắt quan sát gian phòng yên tĩnh với những chiếc ghế gỗ ọp ẹp, hình ảnh Jesus treo trên tường và màn hình ti vi lớn. Không lâu sau đó, những người khác bắt đầu lục tục kéo vào và ngồi xuống. Những người đàn ông và phụ nữ yên lặng đi thành từng nhóm hai đến ba người, an tọa rồi nhìn tôi với một sự tò mò rụt rè, không nói tiếng nào. Tất cả đều mặc quần jeans và áo sơ mi đơn giản. Vài người đàn ông để râu giống tôi, nhưng hầu hết đều cạo nhẵn. Tôi quan sát họ, khấp khởi hi vọng tìm thấy những người trẻ tuổi, nhưng nhanh chóng thất vọng. Không một ai ít tuổi hơn tôi. Có vài cặp đôi cầm tay nhau trông như tình nhân, nhưng rõ ràng họ đã ngoài bốn mươi.

Khi tất cả ghế đã có người ngồi, Edgar Baleen đứng dậy và đột ngột dang rộng hai tay, lòng bàn tay ngửa lên, cất tiếng:

- Các anh em của tôi.

Mọi người nhìn ông ta với ánh mắt chăm chú, những đôi tình nhân buông tay nhau ra. Hầu hết bọn họ ngồi theo cặp, nhưng ở hàng ghế thứ hai có một phụ nữ trạc tuổi tôi đang ngồi một mình. Cô có vóc người cao ráo, ăn vận giản dị với bộ váy jean và một chiếc tạp dề màu xanh, nhưng vẫn tỏa ra một sức hút kì lạ. Bất chấp căng thẳng, tôi nhận ra mình đang ra sức quan sát cô dù không để lộ. Cô thực sự là một phụ nữ đẹp, tôi có thể nói như vậy. Thật dễ chịu khi được ngắm nhìn cô, quên đi phần nào những gì tôi vừa trải qua tại Hồ Lửa cũng như sắp phải đối mặt. Dù thế nào đi nữa, tôi có cảm giác những khó khăn đã trôi qua, và thoải mái để cho tâm trí mình nghĩ đến người phụ nữ kia.

Khuôn mặt cô được viền quanh bởi mái tóc vàng xoăn nhẹ. Nước da trắng không tì vết nổi bật trên sự thô ráp của bộ trang phục. Đôi mắt cô to tròn, màu sáng, vầng trán cao rộng toát ra sự thông minh.

- Các anh em. - Baleen nói. - Năm nay là một năm tốt đẹp đối với đại gia đình, như tất cả mọi người đều biết. Chúng ta hòa hảo với láng giềng, và nguồn cung ứng của Chúa ở Đại Trung tâm Thương mại vẫn dồi dào phong phú. - Ông ta cúi đầu, giơ hai cánh tay ra trước và nâng lên cao. - Chúng ta hãy cùng cầu nguyện.

Mọi người cùng cúi đầu, ngoại trừ người phụ nữ mà tôi đang quan sát. Cô chỉ hơi nghiêng đầu. Tôi cũng cúi đầu để tránh rắc rối. Đã từng xem những cảnh như thế này trong các bộ phim, tôi biết mình nên cúi đầu và giữ im lặng.

Baleen bắt đầu ngân nga những lời cầu nguyện hình như đã học thuộc lòng:

- Chúa ban cho chúng ta sự an toàn trước những cơn mưa phóng xạ trong quá khứ và trong tương lai. Bảo vệ chúng ta khỏi các Tầm soát viên. Cho chúng ta yêu thương này và tránh cho chúng ta tội Riêng tư. Nhân danh Chúa Jesus, chúng ta cùng cầu nguyện. Amen.

Tôi không thể không giật mình khi nghe thấy mấy từ “tội Riêng tư”. Nó hoàn toàn trái với điều tôi được dạy, nhưng có gì đó trong tôi ủng hộ câu nói đó.

Có một vài tiếng ho và ngọ nguậy sau khi Baleen nói xong, và mọi người ngẩng lên trở lại.

- Chúa đã ban phước cho nhà Baleen, cũng như cho cả bảy gia tộc tại các thị trấn của miền đồng bằng. - Ông ta nói với giọng điệu bình thường trở lại. Ông hơi nghiêng người về phía trước và bấu vào mép bục giảng bằng hai bàn tay nhỏ nhắn, trắng trẻo như của phụ nữ mà tôi chợt nhận ra, bàn tay với các móng được cắt tỉa cẩn thận. Ông hạ giọng nói tiếp, gần như thì thầm. - Và có lẽ giờ là lúc Chúa gửi cho chúng ta một người sứ giả, hoặc một giáo đồ. Một người lạ đã bước vào màn sương của chúng ta, đã vượt qua bài thử lửa trước sự chứng kiến của tôi, và đã cho thấy một sự hiểu biết về Chúa.

Tôi có thể thấy mọi người nhìn vào mình. Bất chấp sự bình tĩnh dường như đã tìm được trong lòng, tôi cảm thấy bối rối. Tôi chưa từng là mục tiêu của sự chú ý như thế này trước đây. Mặt mũi tôi nóng bừng, tôi bỗng ước gì các qui định về Quyền Riêng tư được áp dụng để ngăn mọi người nhìn vào nhau. Có phải đến ba mươi người, tất cả đều nhìn tôi với sự tò mò hoặc nghi ngờ không giấu giếm. Tôi đút tay vào túi cho khỏi run. Biff đang cọ mình vào mắt cá chân tôi. Trong một thoáng tôi thậm chí chỉ muốn nó biến đi khuất mắt và ngừng quan tâm đến tôi.

- Người này đã nói với tôi, rằng anh ấy nắm được kiến thức của thời trước. - Baleen tiếp tục tuyên bố. - Anh ấy nói mình là một Người Đọc.

Một số người tỏ ra ngạc nhiên. Họ nhìn tôi càng chăm chú hơn. Người phụ nữ mà tôi đang để ý hơi chồm tới trước, như để nhìn cho rõ hơn.

Thế rồi, với một cú vung tay cường điệu về phía tôi, Baleen yêu cầu:

- Hãy bước tới Cuốn sách về sự sống và đọc lên. Nếu anh có thể đọc.

Tôi nhìn ông ta, cố tỏ ra bình thản, nhưng tim đập thình thịch và hai đầu gối run lên. Chừng này con người tụ tập lại một chỗ! Tôi đã không mong đợi điều này xuất hiện, nhưng khi nó ập đến, tôi dường như quay trở lại với con người của tôi ngày xưa - trước Roberto và Consuela, trước Mary Lou, trước khi vào tù, trốn thoát rồi tự lực cánh sinh như kẻ nổi loạn. Ngay cả lúc còn là một giảng viên nhút nhát chuyên giảng dạy về việc kiểm soát tâm trí bằng những gì tôi đã học thuộc và nhai đi nhai lại nhiều lần, tôi vẫn bị căng thẳng trước sự hiện diện của những lớp đông nhất - với mười tới mười hai học viên cùng tham gia. Dù tất cả bọn họ đều được giáo dục kĩ lưỡng để tránh nhìn vào mắt tôi trong khi nghe giảng.

Bằng cách nào đó tôi cũng xoay sở để đi được vài bước tới bục giảng kinh, nơi cuốn Kinh Thánh được đặt ở đấy. Tôi suýt giẫm phải Biff. Baleen tránh sang bên cạnh nhường chỗ cho tôi và nói:

- Hãy đọc từ đầu.

Với bàn tay run run, tôi mở trang bìa của cuốn sách và thầm biết ơn khi được nhìn xuống, tránh ánh mắt của giáo đoàn. Tôi im lặng nhìn trang giấy một lúc. Trên đó có in chữ, nhưng không hiểu sao các chữ cái dường như chẳng có ý nghĩa gì. Một số thì to, số khác lại nhỏ. Tôi biết mình đang nhìn một trang tựa đề, nhưng không thể nào bắt tâm trí làm việc được. Tôi tiếp tục quan sát. Đây không phải là một ngôn ngữ nước ngoài, tôi biết, nhưng tâm trí tôi không tài nào sắp xếp được các chữ cái thành chuỗi có ý nghĩa. Chúng dường như chỉ là những vết mực trên trang giấy ngả vàng. Tôi đã ngừng run rẩy, lúc này toàn thân tôi cứng đơ. Mọi chuyện kéo dài một cách không thể chấp nhận được. Trong đầu tôi hiện lên một hình ảnh đáng sợ, che lấp trang giấy đang mở trên chiếc bục giảng kinh bằng gỗ sồi: Quầng lửa vàng cam bên dưới cái hố sâu ở trung tâm thương mại. Lõi hạt nhân có thể làm thân thể tôi bốc hơi trong nháy mắt. Đọc đi , tôi tự nhủ. Nhưng tôi vẫn tắc tị.

Tôi có thể cảm thấy Baleen tiến đến gần. Tim tôi như muốn ngừng đập.

Thế rồi, bất thình lình, một giọng nữ trong trẻo, mạnh mẽ cất lên từ phía trước mặt tôi:

- Hãy đọc đi. Đọc cho chúng tôi nghe đi, người anh em.

Tôi kinh ngạc ngẩng lên, và nhận ra giọng nói thuộc về người phụ nữ xinh đẹp cao ráo đang ngồi một mình kia. Lúc này cô nhìn thẳng vào tôi bằng ánh mắt cầu khẩn.

- Anh có thể làm được mà. - Cô nói. - Hãy đọc cho chúng tôi nghe đi!

Tôi đưa mắt nhìn vào trang sách trở lại. Mọi thứ bỗng thật đơn giản. Những mẫu tự in hoa lớn bằng mực đen choán gần hết trang giấy ghép thành hai từ: KINH THÁNH.

Tôi đọc lên thành tiếng:

- Kinh Thánh .

Tiếp đó, tôi đọc dòng chữ nhỏ hơn bên dưới:

- Tóm lược và cập nhật cho độc giả hiện đại .

Rồi tôi đọc nốt dòng chữ cuối trang:

- Phiên bản rút gọn của Reader’s Digest, Omaba. 2123.

Đó là tất cả những gì được in trong trang sách. Tôi mở trang tiếp theo, đặc kín chữ, và bắt đầu đọc với chất giọng điềm tĩnh hơn:

- Sáng thế, bởi Moses. Ban đầu Chúa tạo ra trời và đất, nhưng đất không có hình dạng và không có ai sống trên đó. Sự tối tăm bao trùm cho tới khi Chúa nói “Hãy cho ta một chút ánh sáng!” và ánh sáng xuất hiện...

Tôi tiếp tục đọc, mỗi lúc một dễ dàng hơn. Nó không hề giống cuốn Kinh Thánh tôi từng đọc ở trại tù, nhưng cuốn đó lâu đời hơn.

Khi đọc hết trang, tôi ngẩng lên.

Người phụ nữ xinh đẹp đang nhìn tôi, mắt mở to và miệng hơi há ra. Nét mặt cô giống như đang thán phục hoặc ngưỡng mộ.

Một lần nữa tôi cảm thấy bình yên. Tôi bỗng thấy mệt mỏi, kiệt quệ và bất lực, đến mức tôi đứng gục đầu ngay trên bục, mắt nhắm, để cho tâm trí trở nên trống rỗng và chỉ còn lại những lời này:

Đời tôi nhẹ tựa lông hồng

Đợi chờ cơn gió tử thần mang đi

Tôi nghe thấy tiếng kéo ghế khi những người đàn ông và phụ nữ đứng dậy, nối tiếp bởi những bước chân rời khỏi gian phòng một cách lặng lẽ. Nhưng tôi không ngẩng lên.

Cuối cùng, tôi cảm thấy một bàn tay mạnh mẽ nhưng dịu dàng đặt trên vai mình và mở mắt ra. Đó chính là Edgar Baleen.

- Này Người Đọc. - Ông nói. - Đi với tôi.

Tôi nhìn ông ta đăm đăm.

- Người Đọc, anh đã vượt qua thử thách. Anh đã được rửa tội. Anh không cần phải sợ Hồ Lửa nữa. Anh cần được nghỉ ngơi.

Lúc đó tôi mới thở hắt ra và đáp:

- Phải, phải. Tôi cần nghỉ ngơi đôi chút.

⚝ ✽ ⚝

Thế là tôi đã từ trại tù đến đây, trở thành “Người Đọc” cho một cộng đồng Công giáo, giống như một dạng thầy tu. Trong vài tháng kể từ lúc đó, tôi đã đọc Kinh Thánh cho họ vào các buổi sáng và buổi tối, trong khi họ im lặng lắng nghe. Tôi đọc, họ nghe, không ai nói gì.

Giờ đây viết lại những dòng này trong ngôi nhà của mình ở Maugre, đơn độc và bình an, được ăn ngon ngủ kĩ, tôi gần như đã quên những điều kì dị khi sống cùng gia đình Baleen. Những kí ức về Mary Lou và những bộ phim câm trở nên sống động và hiện hữu nhiều hơn, dù tôi sắp phải đi đọc kinh buổi tối. Từ sau giờ đọc kinh sáng, cả ngày hôm nay tôi đã dành cho việc viết lách. Tôi sẽ ngừng lại để cho Biff ăn, rồi uống một ly whisky. Ngày mai tôi sẽ cố hoàn tất chương đời này của mình. Và thuật lại câu chuyện buồn về Annabel.

Đêm đầu tiên, Edgar đưa tôi lên một căn phòng trên gác để ngủ, và bỏ tôi lại ở đó. Có hai chiếc giường trong phòng, với phần đầu giường được làm bằng những cái ống đồng trông giống như nơi ông già nằm chết khiến đồng hồ ngừng lại và con chó khóc than trong một bộ phim. Tôi tháo giày và cứ thế để nguyên quần áo trèo lên giường. Mèo Biff cuộn mình nằm dưới chân tôi, trên lớp chăn, ngủ ngay lập tức. Tôi thèm được như nó. Dù rất mệt mỏi và được nằm trên chiếc giường êm ái nhất, trên tấm nệm dày và dưới lớp chăn chần in hoa lớn với cái mác “SEARS - LÔNG VŨ CAO CẤP” được may ở mép viền màu hồng, tôi vẫn không tài nào chợp mắt được. Trong đầu tôi có quá nhiều thứ. Nằm giữa căn phòng tối với các giác quan được mài sắc bởi sự mỏi mệt, tôi bắt đầu hình dung về đủ thứ trong quá khứ với một sự sáng suốt khác thường. Nó giống như một sự kiểm soát tâm trí mà tôi từng nghiên cứu và giảng dạy ở Ohio, với những ảo ảnh rõ nét, tuy nhiên nó không được ma túy trợ giúp và tôi không kiểm soát được nó.

Tôi thấy hình ảnh Mary Lou ngồi trên sàn thư viện đọc sách, thấy những khuôn mặt vô hồn của các học viên lớn tuổi trong lớp học nhỏ của mình ở Ohio, những đôi mắt của họ cụp xuống khi họ ngồi đó trong bộ áo jean thụng với tâm trí lâng lâng thư thái. Tôi cũng thấy trưởng khoa Spofforth cao lớn, thông minh, đáng sợ, với nước da nâu sẫm và suy nghĩ không thể đoán định. Tôi thấy mình trong hình dáng một đứa trẻ, đứng giữa khoảng sân rộng phía bên ngoài kí túc xá dành cho thiếu niên của trường nội trú. Trước đó tôi bị phạt Cô lập một ngày vì vi phạm sự Riêng tư khi chia sẻ thức ăn của mình với một đứa bạn. Theo qui định Cô lập, tôi buộc phải đứng im và bị đụng chạm - vào mặt, tay hoặc ngực - bởi mọi đứa trẻ đi ngang qua sân. Tôi co rúm trong lòng với mỗi cái đụng chạm, và mặt tôi nóng bừng vì nhục nhã.

Rồi trong đầu tôi hiện lên hộp Riêng tư, đó là chỗ ngủ đầu tiên tôi còn nhớ, với chiếc giường hẹp, cứng ngắc như của một tu sĩ, tiếng nhạc vọng ra từ những vách tường cách âm bằng nhựa Permo, và tấm thảm Riêng tư nhỏ trên sàn, nơi tôi lầm rầm cầu nguyện để “Người dẫn lối giúp tôi phát triển hướng nội, vượt qua vui thú và trầm lặng mà tới cõi Niết Bàn. Để cho tôi không bị tác động bởi bên ngoài...” Tôi nhớ tới chiếc ti vi cá nhân to bằng cả bức tường đã dạy tôi cách rũ bỏ hoàn toàn, bỏ lại thân xác trẻ con nhiều giờ đồng hồ trong khi những hình ảnh về lạc thú, niềm vui và sự bình yên xuất hiện chớp nhoáng trên màn hình ba chiều lộng lẫy của nó, còn cơ thể tôi chỉ hoạt động để đưa lên não các hóa chất cần thiết cho sự thụ động trống rỗng, đến từ những viên thuốc mà tôi sẽ uống theo tín hiệu nhắc trên ti vi, khi ánh sáng màu tím oải hương của mê dược xuất hiện.

Tôi thường xem ti vi từ bữa tối cho đến khi đi ngủ, và tiếp tục mơ về nó: Rực rỡ, mê hoặc, một sự lấp đầy trong tâm trí thoát xác của tôi.

Khi nằm đó trong căn phòng ngủ cũ kĩ kì lạ, vào cuối cái ngày mà tôi được rửa tội và suýt bị thiêu rụi trong lò lửa hạt nhân, đọc Sáng Thế Kí cho những con người xa lạ, tôi không thể ngủ được vì không còn kiểm soát được trí tưởng tượng. Tôi chìm trong khao khát về sự đơn giản mà phần đời quá khứ mang lại, khi còn là một đứa trẻ thực sự trong thế giới hiện đại. Tôi rất muốn. Tôi thèm những viên mê dược, cần sa và các chất kích thích thần kinh khác, thèm trải nghiệm Sự Thanh thản do chất hóa học và truyền hình mang lại, cũng như những lời cầu nguyện tôi gửi tới “Người Dẫn Lối” - bất kể người đó là gì, cùng giấc ngủ êm đềm, đầy mộng mị dưới tác dụng của thuốc trong căn phòng nhựa nhỏ bé ấy - có điều hòa không khí, yên ắng, an toàn trước những bối rối, khao khát, bồn chồn và tuyệt vọng tạo nên cuộc sống mới của mình. Tôi không muốn sống với thực tại nữa, nó quá nặng gánh. Một gánh nặng lớn lao, đáng buồn.

Tôi nghĩ đến con ngựa già trong phim, với đôi tai ló lên qua hai cái lỗ của chiếc mũ rơm. Và câu Chỉ có chim nhại hót ở bìa rừng . Tôi nghĩ đến chính mình và Mary Lou, có lẽ là thế hệ con người cuối cùng trên trái đất, một nơi không có trẻ em và không có tương lai. Tôi thấy những khuôn mặt bốc cháy trong quán Burger Chef, tuân theo sự diệt vong không tránh khỏi của loài người bằng cách thức rực lửa của họ.

Tôi buồn vô hạn. Thế nhưng tôi không khóc.

Tôi thấy những khuôn mặt robot vô cảm và nghiêm khắc chăm sóc chúng tôi khi còn bé, khuôn mặt của thẩm phán tại buổi điều trần, và của Belasco, với đôi mắt thông thái, già nua, giễu cợt đang cười với tôi.

Cuối cùng, khi tôi cảm thấy các hình ảnh sẽ không ngừng ùa vào đầu óc mệt mỏi của mình, tôi bật chiếc đèn đầu giường chạy pin lên, tìm cuốn Cẩm nang bảo trì và sửa chữa robot của Audel, rồi mở trang trống cuối sách, nơi tôi đã chép vài bài thơ vào đó trước khi rời khỏi trại tù. Tôi đọc lại bài thơ Lũ người rỗng mà Mary Lou và tôi đang đọc lúc Spofforth xông vào bắt tôi:

Và thế giới kết thúc như thế

Và thế giới kết thúc như thế

Và thế giới kết thúc như thế

Không ồn ào, tựa một tiếng rên.

Với sự chân thực của mình, bài thơ chẳng an ủi được gì, nhưng cũng giúp xua đi những hình ảnh trong đầu tôi. Thế rồi, ngay khi tôi đang trở nên thư thái nhờ đọc một bài thơ của Robert Browning, một sự việc rất dị thường xảy ra.

Cánh cửa phòng tôi bật mở và con trai của Baleen, Roderick, bước vào. Anh ta không nói không rằng mà chỉ gật đầu với tôi. Sau đó anh ta cởi quần áo ngay giữa phòng, không thèm đếm xỉa đến Quyền Riêng tư, Sự Khiêm nhường hay Quyền Cá nhân của tôi, cứ thế anh ta cởi cho đến khi phơi trần lớp da trần trụi lông lá của mình, vừa làm vừa ngâm nga khe khẽ. Anh ta quì gối bên chiếc giường còn lại và lớn tiếng cầu nguyện:

- Lạy Chúa quyền năng nhất và tàn nhẫn nhất, xin tha thứ cho những ưu phiền và tội lỗi khốn khổ của con, xin hãy khiến con trở nên khiêm nhường và xứng đáng. Vinh danh Jesus. Amen.

Xong việc, anh ta lên giường, co người lại, và gần như ngay lập tức cất tiếng ngáy.

Trước đó tôi đã gật gù trong vô thức khi nghe thấy cụm từ “Tội Riêng tư” mà Baleen nhắc đến, nhưng một sự xâm phạm sống sượng của người khác trong phòng mình như thế này thì thật quá đáng. Chưa kể tôi đã ở một mình suốt thời gian dài trên bờ biển, chỉ với con Biff làm bầu bạn.

Tôi cố đọc thơ tiếp, nhưng những ngôn từ trở nên vô nghĩa và tôi không thể thư giãn.

Thế rồi, ngạc nhiên thay, một lúc sau tôi ngủ thiếp đi và thức giấc vào giữa buổi sáng hôm sau, với đầu óc tươi tỉnh lại. Roderick đã đi khỏi, còn Biff đang ở trong một góc phòng, dùng chân nghịch một cuộn dây vải. Ánh nắng chiếu vào xuyên qua lớp rèm ren. Tôi có thể ngửi mùi thức ăn sáng dưới lầu.

Có một phòng tắm chung lớn cuối hành lang dài bên ngoài phòng ngủ của tôi. Edgar Baleen đã chỉ chỗ cho tôi trước khi dẫn tôi vào phòng ngủ. Trên cánh cửa phòng tắm có một tấm biển bằng kim loại ngả xanh đề chữ NAM. Trong phòng có sáu chậu rửa và sáu bồn cầu, tất cả đều bằng sứ trắng sạch sẽ. Tôi rửa ráy hết mức có thể rồi chải lại râu tóc. Tôi cần tắm, nhưng không biết phải tắm ở đâu. Quần áo tôi cũng sờn cũ và bẩn thỉu hết cả. Những món đồ mới mà tôi lấy đã bị bỏ lại ở Sears. Sau đó, tôi theo cầu thang lớn phía trước đi xuống và bước vào trong nhà bếp.

Trên vòm cửa bằng đá của tòa nhà có khắc dòng chữ TÒA ÁN MAUGRE. Hôm trước nó không làm tôi chú ý, nhưng giờ đây đứng trong bếp, tôi hình dung căn phòng này, cũng như căn phòng nơi tôi đọc Kinh Thánh , từng là phòng xử án trong thế giới cổ đại: Rộng rãi và có trần cao, với các vòm cửa sổ hẹp và cao ở những cạnh dài của gian phòng. Chiếc bàn to lớn hiện đang trống trơn nằm án ngữ giữa phòng nom như đã được đẽo gọt từ lâu nhờ một chiếc cưa máy, xung quanh bàn có đặt những băng ghế thô kệch.

Dọc theo một bức tường, phía dưới các cửa sổ, có một cái bếp lò lớn màu đen, củi chất ở mỗi bên, cùng các quầy bếp bằng gỗ đã lên nước bóng, mòn nhẵn sau những lần cọ rửa. Bếp lò có những cánh cửa tráng men trắng, và ở mỗi bên của chúng đều treo một dãy xoong chảo lớn, kéo dài gần một nửa chiều dài căn phòng. Ở bức tường đối diện là tám chiếc tủ lạnh trắng chạy bằng pin hiệu KENMORE. Cạnh tủ lạnh là một bồn rửa dài và sâu. Hai người phụ nữ đang đứng rửa bát tại đó, lưng quay về phía tôi, trong bộ váy màu xanh lam dài chạm đất.

Mọi thứ dường như hoàn toàn khác so với tối hôm trước. Trên bàn có để những bát hoa tulip vàng mới cắt, căn phòng tràn ngập ánh sáng ban ngày và thơm nức mùi thịt xông khói pha lẫn hương cà phê. Hai người phụ nữ không nhìn về phía tôi, mặc dù tôi dám chắc họ đã nghe thấy tiếng bước chân của tôi trên sàn nhà không lót ván.

Tôi đi về phía bồn rửa và tần ngần trong giây lát, trước khi lên tiếng:

- Tôi xin lỗi.

Người phụ nữ thấp lùn với mái tóc bạc trắng quay lại nhìn tôi, nhưng không nói gì.

- Tôi đang tự hỏi liệu có thể ăn chút gì đó được không.

Bà ta nhìn tôi một giây rồi quay lại, với tay lấy một chiếc hộp màu vàng từ cái kệ phía trên bồn rửa và đưa cho tôi. Trên hộp có đề: CÀ PHÊ SINH TỒN, DẠNG HÒA TAN. BỘ QUỐC PHÒNG: MAUGRE. ĐÃ CHIẾU XẠ CHỐNG HỎNG.

Trong khi tôi đang đọc, bà ta lấy cho tôi một cái cốc sành lớn và một chiếc thìa từ khay đựng bát đĩa bên cạnh bồn rửa.

- Dùng cái ấm samovar kia. - Bà ta nói, hất hàm về phía bếp lò bên kia phòng.

Tôi đi đến đó và pha cho mình một cốc cà phê đen đậm đặc, sau đó ngồi vào bàn và bắt đầu nhấm nháp từng ngụm.

Người phụ nữ còn lại mở tủ lạnh lấy thứ gì đó ra rồi quay người đi ngang qua phòng đến bếp. Tôi nhận ra cô chính là người phụ nữ mà tôi đã ngắm nhìn hôm trước, người đã động viên tôi đọc. Cô không nhìn tôi. Chắc cô ngại.

Cô mở một cái cửa lò, lấy gì đó từ bên trong ra, cho vào một cái đĩa, rồi mang đến bàn. Vẫn né tránh ánh mắt tôi, cô đặt món đó xuống trước mặt tôi cùng một đĩa bơ và một con dao. Những chiếc đĩa khá nặng và có màu nâu đậm.

Tôi ngẩng lên hỏi cô:

- Đây là gì vậy?

Cô nhìn tôi, ngạc nhiên vì tôi không biết, có lẽ vậy.

- Bánh cà phê đấy. - Cô đáp.

Tôi chưa từng nhìn thấy thứ này trước kia và loay hoay không biết phải làm thế nào. Cô cầm lấy con dao, cắt một miếng bánh, rồi phết bơ lên đó và đưa cho tôi.

Tôi nếm thử. Bánh nóng, ngọt và có nhiều hạt. Nó cực kì ngon. Khi tôi ăn xong, cô lại làm cho tôi một miếng nữa và mỉm cười e thẹn. Hình như cô đỏ mặt, một việc hơi kì lạ vì tối hôm trước cô tỏ ra khá mạnh dạn.

Bánh và cà phê rất ngon, sự rụt rè của cô cũng tương ứng với những điều tôi đã được dạy về người khác, nên tôi đánh bạo bắt chuyện với cô bằng giọng thân thiện:

- Cô làm món bánh này đấy à?

Cô gật đầu và đáp:

- Anh có muốn ăn trứng tráng không?

- Trứng tráng á? - Tôi hỏi lại.

Tôi đã từng nghe về nó trước đây, nhưng chưa nhìn thấy bao giờ. Nó có liên quan đến trứng.

Khi thấy tôi không nói tiếp, cô tiến đến tủ lạnh và lấy ra ba quả trứng lớn, đồ thật. Tôi chỉ được ăn trứng thật vào những dịp hiếm hoi, chẳng hạn trong lễ tốt nghiệp trường nội trú. Cô đem trứng tới bếp lò, đập nó vào một cái bát sành màu nâu, rồi bắc chiếc chảo nhỏ đáy nông lên bếp, cho bơ vào đun chảy. Cô đánh trứng mạnh tay, đổ vào chảo, đảo chảo nhanh tay trên bếp trước khi dùng một chiếc nĩa để lật trứng. Cô rất đẹp trong khi làm bếp. Sau đó cô nhấc chảo ra khỏi bếp, đem tới bàn, và nghiêng chảo trút một mảnh trứng hình bán nguyệt vào đĩa ăn của tôi.

- Ăn nó bằng nĩa nhé. - Cô nói.

Tôi cắn thử. Ngon tuyệt. Tôi im lặng ăn nốt. Cho đến giờ, tôi vẫn tin trứng tráng và bánh cà phê là những món ăn ngon nhất mình từng được thưởng thức trong đời.

Tôi càng cảm thấy dạn dĩ hơn sau khi ăn và ngẩng lên nhìn cô, lúc này vẫn đang đứng cạnh đó. Tôi hỏi:

- Cô có thể chỉ tôi cách làm trứng tráng được không?

Cô có vẻ bị sốc và không nói gì.

Từ chỗ bồn rửa, người phụ nữ kia lên tiếng:

- Đàn ông không nấu nướng.

Cô gái bên cạnh tôi ngập ngừng trong giây lát, rồi nhẹ nhàng đáp:

- Anh này thì khác, Mary. Anh ấy là một Người Đọc.

Mary không buồn quay lại.

- Chỗ của đàn ông là ở ngoài đồng, làm những công việc Chúa giao. - Bà nói.

Cô gái đứng bên cạnh tôi có vẻ dè dặt, nhưng có chính kiến. Cô phớt lờ bà ta và nói với tôi:

- Anh đã đọc những dòng chữ viết trên hộp cà phê đúng không?

- Vâng. - Tôi đáp.

Cô đi lấy cái hộp ở chỗ bếp lò, nơi tôi bỏ nó lại.

- Anh đọc cho tôi nghe đi. - Cô yêu cầu.

Tôi làm theo. Cô lắng nghe rất chăm chú, và khi tôi đọc xong, cô hỏi:

- Maugre là gì?

- Tên của thị trấn này. Tôi nghĩ thế.

Cô há hốc mồm.

- Thị trấn này có tên sao?

- Tôi nghĩ là có.

- Ngôi nhà này có tên đấy. - Cô nói. - Baleena.

Tôi quyết định viết nó như vậy. Cái tên đã không được viết ở bất cứ đâu trước khi tôi viết nó cho ông Edgar mãi sau đó.

- Hừm, Baleena ở thị trấn Maugre. - Tôi đáp.

Cô trầm ngâm gật đầu, rồi tiến đến tủ lạnh lấy ra một bát tô đầy trứng. Sau đó cô bắt đầu chỉ cho tôi cách làm món trứng tráng.

Tôi đã làm quen Annabel Baleen như thế.

⚝ ✽ ⚝

Sáng hôm đó Annabel đã dạy tôi tráng trứng và làm bánh phồng. Cô còn làm một ổ bánh cà phê, chỉ tôi cách nhào bột và sử dụng men. Bột bánh được cất trong một cái thùng lớn để bên dưới quầy bếp. Cô cho biết nó được “trồng ngoài đồng”. Những thành viên khác trong gia đình đang ở ngoài đó.

Annabel luôn phụ trách bếp. Theo lời Annabel thì công việc đó được giao cho cô bởi vì cô là một “người cô đơn”. Người phụ nữ kia được chỉ định giúp cô dọn dẹp sau các bữa ăn. Vào những lúc khác, cô chăm sóc vườn hoa bên ngoài ngôi nhà. Annabel từng làm việc vài năm ngoài đồng, nhưng cô ghét công việc đó và ghét chuyện không ai nói năng gì khi làm việc. Khi người phụ nữ lớn tuổi phụ trách bếp ăn qua đời, Annabel đã xin làm và được đồng ý. Cô nấu ăn tính đến giờ đã được mười ba năm. Lúc đầu với tư cách một phụ nữ đã kết hôn, và hiện tại, một góa phụ. Tính thời gian theo năm và “kết hôn” không còn là những khái niệm mới mẻ đối với tôi nữa, và mặc dù khá lạ khi nghe chúng từ cô, tôi hiểu cô đang nói về điều gì.

Ngoài bột và trứng, tất cả những nguyên liệu nấu ăn khác đều đến từ kho dự trữ của Trung tâm thương mại. Annabel nhờ tôi đọc nhãn của các gói men, một lọ tiêu, các lon hạt hồ đào chiếu xạ. Tất cả đều có ghi BỘ QUỐC PHÒNG: MAUGRE.

Trong khi chỉ cho tôi cách nấu ăn, Annabel tỏ ra trầm lặng và dễ chịu, cô không hỏi câu nào trừ lúc yêu cầu đọc các nhãn hàng. Đã có vài lần tôi muốn hỏi về bản thân và gia đình cô, cũng như làm thế nào họ lẩn tránh lối sống hiện đại, nhưng mỗi khi định hỏi, tôi lại nhủ thầm: Đừng hỏi, thư giãn đi , và có vẻ như đó là một lời khuyên tốt. Annabel rất xinh đẹp, những động tác của cô trong nhà bếp đầy khéo léo và duyên dáng. Thật vui khi được xem cô làm việc.

Tuy thế, càng gần đến buổi trưa, Annabel càng tỏ ra lo âu hơn, và thậm chí còn hơi buồn. Cuối cùng cô mở một cái ngăn tủ nằm dưới quầy bếp, lấy ra một chiếc hộp lớn màu xanh và đưa cho tôi nhờ đọc hộ.

Từ VALIUM được viết bằng các chữ cái lớn trên đó và phía dưới là dòng chữ nhỏ hơn: Thuốc ức chế sinh sản, Ban kiểm soát Dân số Hoa Kì. Chỉ uống theo hướng dẫn của thầy thuốc.

Khi tôi đọc tới đó, Annabel hỏi ngay:

- Thầy thuốc là gì?

- Một loại thầy lang cổ xưa nào đó. - Tôi đáp, không chắc lắm.

Và tôi bỗng nghĩ: Có khi nào đây là lí do khiến trẻ em không còn được sinh ra nữa? Chẳng lẽ tất cả thuốc an thần và mê được đều có tác dụng ức chế sinh sản như thế?

Annabel uống hai viên thuốc với một ngụm cà phê rồi đưa cái hộp cho tôi. Thấy tôi lắc đầu, và cô nhìn tôi thắc mắc, nhưng không nói gì. Cô chỉ nhét vài viên Valium vào túi tạp dề rồi cất chiếc hộp vào tủ. Sau đó cô nói:

- Tôi phải nấu bữa trưa.

Trong một tiếng đồng hồ tiếp theo, cô làm việc với tốc độ chóng mặt, vừa nấu hai nồi súp vừa làm bánh mì kẹp phô mai với những lát bánh mì đen lớn mà cô cắt bằng dao. Tôi hỏi xem mình có thể giúp được gì không, nhưng dường như cô thậm chí không nghe thấy câu hỏi. Cô dọn bàn ăn với những chiếc đĩa lớn màu nâu và các bát súp. Cố gắng tỏ ra hữu ích, tôi bê một chồng đĩa từ tủ ra đến bàn và nói:

- Những chiếc đĩa này rất khác thường.

- Cảm ơn anh. - Cô nói. - Tôi đã làm chúng đấy.

Điều đó khiến tôi bất ngờ. Tôi chưa bao giờ nghe nói về bất cứ người nào làm ra những thứ như bát đĩa. Chưa kể ở Sears có hẳn một khu với toàn những đĩa và dụng cụ ăn uống. Tôi không hề biết có người tự tay làm các thứ.

Khi thấy tôi có vẻ ngạc nhiên, cô cầm một đĩa lên và lật lại. Dưới đáy đĩa có một dấu hiệu mà tôi thấy rất quen thuộc.

- Cái gì vậy? - Tôi hỏi cô.

- Đó là dấu ấn của tôi trên những món đồ gốm mình làm. Một dấu chân mèo. - Cô cười khẽ. - Anh cũng có một con mèo.

Cô nói đúng. Đó là dấu vết mà Biff để lại khi nó bước đi trên cát, nhưng nhỏ hơn.

Sau đó, Annabel nói tiếp:

- Chồng tôi và tôi từng nuôi một con mèo. Nó là con mèo duy nhất ở đây. Nhưng nó đã chết trước khi chồng tôi qua đời. Một trong những con chó đã giết nó.

- Ôi trời. - Tôi thốt lên và bắt đầu sắp đĩa ra bàn.

Một lúc sau tôi nghe có tiếng động bên ngoài và ngẩng lên nhìn qua cửa sổ. Hai chiếc xe buýt giao cảm cũ kĩ màu xanh lá cây dừng bánh, cánh đàn ông và lũ chó lặng lẽ bước xuống.

Tôi đi ra ngoài và thấy họ rửa ráy dưới mấy cái vòi nước ở sau nhà. Họ giữ im lặng và cẩn thận từng động tác. Tôi khá ngạc nhiên. Tôi đã chờ đợi kiểu cười giỡn và té nước giống như các tù nhân. Ngay cả lũ chó cũng yên lặng rúc vào bên cạnh chủ nhân, thỉnh thoảng đưa đôi mắt hồng liếc nhìn tôi.

Từ vườn hoa và một số khu nhà phụ nơi họ làm việc, cánh phụ nữ tiến đến và nhập bọn cùng với nhóm đàn ông. Tất cả lục tục vào bếp rồi ngồi xuống các băng ghế. Ông Baleen ra hiệu cho tôi ngồi vào chỗ. Tôi ngồi xuống băng ghế ít người ngồi nhất mà mình tìm được.

Khi tất cả mọi người ngoại trừ Annabel đã ngồi vào chỗ, họ đồng loạt cúi đầu trên đĩa ăn của mình, và ông Baleen bắt đầu cầu nguyện, thoạt đầu giống như những lời của Rod vào đêm hôm trước:

- Lạy Chúa quyền năng nhất và tàn nhẫn nhất, xin tha thứ cho những ưu phiền và tội lỗi khốn khổ của chúng con. - Nhưng ông triển khai nó theo cách khác. - Hãy giữ an toàn cho chúng con trước cơn mưa hạt nhân từ Thiên Đường và tội lỗi của Những Người Thời Cũ. Hãy cho chúng con biết và cảm nhận sự thống trị tuyệt đối của Ngài đối với sinh mệnh con người, trong thời đại cuối cùng này.

Mọi người ăn trong im lặng. Tôi cố bắt chuyện với người đàn ông ngồi cạnh bằng cách khen ngợi món xúp, nhưng ông ta phớt lờ tôi.

Không một ai cảm ơn Annabel vì bữa ăn.

Tôi dành cả buổi chiều đọc sách trong phòng.

Vào bữa tối, tôi vui vì được gặp lại Annabel, dù cô quá bận rộn với việc phục vụ thức ăn nên không thể trò chuyện được. Tôi quan sát khuôn mặt cô mỗi khi có thể, và không hiểu sao nó đượm buồn, u uất trong lúc cô đặt thức ăn lên bàn và dọn dẹp những chiếc đĩa. Cô làm việc rất siêng năng. Lẽ ra nên có thêm ai đó phụ giúp cô ngoài công việc rửa bát.

Sau bữa tối, tôi hi vọng được gặp Annabel và trò chuyện với cô, nhưng Baleen đã lùa tôi sang phòng đọc Kinh Thánh , còn cô thì ở lại trong bếp để rửa bát đĩa.

Chiếc ti vi lớn trong phòng đã được bật khi chúng tôi bước vào. Những hàng ghế cũng mau chóng được lấp đầy bởi những người đàn ông và phụ nữ trong gia tộc Baleen. Họ im lặng chờ đợi. Ti vi chiếu một truyện video - loại chương trình truyền hình cũ hiếm hoi thuật lại một câu chuyện hợp lí và mạch lạc, do diễn viên đóng. Thật khó để xác định được các diễn viên trong đó là người thật hay robot. Chuyện kể về một cô gái trẻ bị bắt cóc và cưỡng hiếp bởi một nhóm những kẻ chống đối Quyền Riêng tư trốn thoát khỏi một Trại lưu giữ Người Bỏ cuộc. Mặc dù những chương trình tương tự đã là một phần quá trình đào tạo ngày bé của tôi, tôi vẫn cảm thấy ghê tởm nó, theo một cách mà tôi không ngờ tới trước đó vài năm.

Chương trình mới đi được nửa đường tôi đã nhắm nghiền mắt lại và không xem nữa. Tôi chỉ nghe thấy những tiếng hộc khe khẽ thỉnh thoảng vang lên từ những người ngồi xung quanh. Ngay từ đầu tất cả bọn họ dường như đã bị cuốn vào câu chuyện trên màn hình. Thật kinh khủng.

Sau khi chương trình truyền hình kết thúc với cảnh các Tầm soát viên giải cứu cô gái, căn cứ theo tiếng nhạc phát ra, ti vi được tắt đi, và tôi được mời lên bục đọc Kinh Thánh .

Tôi đọc đến phần viết về Noah mà tôi đã nhớ từ lúc ở trong tù. Noah là một người đàn ông được Chúa chọn cứu khỏi chết đuối trong trận lụt lội tàn sát mọi sự sống trên trái đất. Có một đoạn trong đó viết như thế này:

“Chúa bảo Noah: ‘Sự gớm ghiếc của toàn bộ loài người đã quá rõ ràng đối với ta, vì do chúng mà trái đất đầy rẫy sự hung bạo. Ta dự định tiêu diệt chúng.”

Khi tôi đọc đến đó, ông già đứng bên cạnh tôi hô lớn:

- Amen!

Và những người khác cũng đồng thanh:

- Amen!

Chuyện đó thật đáng kinh ngạc, nhưng tôi tiếp tục đọc.

Sau buổi đọc kinh tôi đã hi vọng có thể trò chuyện với Annabel, nhưng Baleen dẫn tôi xuống Trung tâm thương mại và chờ đợi trong lúc tôi chọn cho mình một số quần áo mới tại Sears. Tôi muốn nán lại thêm để quan sát những món đồ của thời trước được bày trong cửa hàng rộng lớn, nhưng ông khước từ và chỉ đáp gọn lỏn:

- Đây là nơi linh thiêng.

Dù ông không nói ra, nhưng tôi cảm thấy tốt nhất không nên để bị bắt gặp lảng vảng một mình dưới này một lần nữa.

Nhưng tôi vẫn có ý định quay lại. Tôi không còn sợ các qui định như trước đây đã từng. Và tôi cũng không sợ Edgar Baleen.

Chúng tôi rời khỏi Trung tâm thương mại. Với chiếc quần jeans mới tinh mặc cùng áo cổ lọ màu đen, tôi cảm thấy phấn chấn lạ lùng, và khi chúng tôi đi nốt đoạn đường ngắn quay về nhà dưới ánh trăng, tôi bỗng nảy ra một ý.

- Ông có phiền không nếu tôi giúp Annabel công việc bếp núc một thời gian? Tôi không giỏi việc đồng áng cho lắm.

Câu nói không hoàn toàn chính xác. Đơn giản là tôi ghét làm đồng.

Baleen dừng bước, im lặng một lúc. Rồi ông đáp:

- Anh nói nhiều.

Tôi cảm thấy hơi phật ý.

- Tại sao không? - Tôi hỏi lại.

- Nói nhiều thì giá trị ít.

Tôi tự hỏi chuyện đó thì liên quan gì. Sau khi im lặng hồi lâu, Baleen lên tiếng:

- Cuộc sống vốn nghiêm túc, Người Đọc ơi.

Tôi gật đầu, không biết nói gì, và điều đó dường như xoa dịu Baleen, vì ông nói tiếp:

- Anh có thể giúp Annabel.

⚝ ✽ ⚝

Annabel không nghĩ nói nhiều thì giá trị ít, nhưng cô là người duy nhất trong số họ cảm thấy như vậy. Trên phương diện nào đó, cô không thuộc về họ. Ban đầu cô là người nhà Swisher, một trong số Bảy Gia tộc, và đổi họ thành Baleen khi cưới một trong những người con trai lớn của Edgar. Người nhà Swisher nói nhiều hơn, nhưng đẻ ít hơn so với nhà Baleen. Chỉ còn lại có ba người mang họ Swisher, hai ông lão cao tuổi, và một bà già lú lẫn, mẹ của Annabel. Họ sống tại Nhà Swisher nằm cách đó vài dặm về phía Bắc, và cung cấp xăng cho gia tộc Baleen để đổi lấy thực phẩm, quần áo từ Trung tâm thương mại. Những gia đình còn lại của các thị trấn miền đồng bằng đều ít người và yếu thế hơn nhà Baleen. Tất cả đều làm đồng một chút. Người nhà Baleen, theo lời Annabel, ngoan đạo hơn những gia đình khác, nhưng tất cả bọn họ đều là “người Công giáo”.

Tôi hỏi cô về phản ứng của mọi người trước câu chuyện về Noah. Tôi vẫn còn hình dung một cách sống động hình ảnh cô với mái tóc vàng búi sau đầu, tách cà phê trong tay, đôi mắt xanh xám rụt rè và buồn bã, khi cô đáp:

- Là do cha chồng tôi. Ông ấy cứ nghĩ mình là một nhà tiên tri. Ông cho rằng việc không có đứa trẻ nào được sinh ra chính là bởi Chúa Trời đang trừng trị thế giới vì những tội lỗi của nó - cũng giống như với Noah. Mọi người đều biết câu chuyện về Noah. Mẹ tôi từng kể cho tôi nghe, nhưng khác với phiên bản anh đọc. Bà không đề cập việc ông ta uống rượu, cũng như về những người con trai của ông ta.

- Có phải ông Baleen trông chờ mình được cứu, giống như Noah?

Annabel mỉm cười.

- Tôi không rõ. Tôi không biết làm thế nào chuyện đó có thể xảy ra được. Ông ấy đã quá già để có con.

Tôi hỏi cô một câu hỏi mang tính cá nhân nhiều hơn. Thật khó để tôi quen với việc xâm phạm Quyền Riêng tư, mặc dù người nhà Baleen không tuân thủ qui định đó.

- Chuyện gì đã xảy ra với chồng cô? - Tôi hỏi.

Cô nhấp một ngụm cà phê.

- Tự sát. Cách đây hai năm.

- Ôi trời!

- Chồng tôi cùng hai người anh em khác đã uống ba mươi viên mê dược rồi tưới xăng lên người và châm lửa.

Tôi ngỡ ngàng. Cũng giống như điều tôi đã chứng kiến ở New York, trong quán Burger Chef.

- Ở New York người ta cũng làm như vậy. - Tôi nói.

Cô cụp mắt xuống.

- Chuyện đó diễn ra ở đây, trong tất cả các gia đình. Chồng tôi muốn tôi tham gia cùng họ. Tôi bị ý tưởng đó hấp dẫn, nhưng quyết định từ chối. Tôi muốn sống lâu hơn một chút. - Cô đứng lên khỏi chiếc bàn mà chúng tôi đang ngồi để bê đĩa tới bồn rửa. - Ít ra tôi cũng nghĩ mình muốn sống.

Tôi lặng người khi nhận thấy sự mệt mỏi đột ngột trong giọng điệu của Annabel.

Sau khi dọn dẹp bàn ăn, cô rót cho mình một cốc cà phê khác và ngồi xuống trở lại.

Một lát sau tôi hỏi:

- Cô có nghĩ đến việc kết hôn một lần nữa không?

Cô nhìn tôi với ánh mắt buồn bã.

- Chuyện đó không thể được. Để cưới một người nhà Baleen, anh phải... còn trinh. - Cô hơi đỏ mặt và cụp mắt xuống.

Cuộc nói chuyện này khá lạ lẫm đối với tôi, vì tôi chưa bao giờ gặp những người đã từng kết hôn trước đây. Nhưng tôi đã quen với những điều như vậy nhờ sách báo và phim ảnh, tôi biết việc một người đàn ông kết hôn với một “phụ nữ thất bại” giống như Gloria Swanson thường bị coi là một Sai lầm - dù tôi không nghĩ rằng một góa phụ nên bị coi là “thất bại”. Tuy nhiên, tất cả những chuyện như thế về cơ bản là xa lạ với những gì tôi được dạy. Tôi đã được dạy rằng “Tình dục chớp nhoáng là tốt nhất.” Tôi chỉ mới chớm nhận ra rằng thế giới có thể đầy những người không được hưởng sự giáo dục như của tôi.

Lúc đó đã là giữa buổi sáng, và tôi còn nhớ đó là lần đầu tiên mình cảm thấy một sự hấp dẫn tình dục nơi Annabel. Cô ngồi yên tại chỗ với gương mặt u uất, tay cầm một trong những cái cốc lớn bằng gốm mà cô đã để tôi xem quá trình chế tạo trong cái lán nhỏ nằm ở phía bên kia vườn hồng. Tôi đã tròn mắt quan sát cô ngồi bên bàn xoay, kinh ngạc trước những thao tác chắc chắn khi nặn cục đất sét ướt thành một hình trụ hoàn hảo. Bàn tay và cổ tay cô dính đầy bùn đất, mọi sự khéo léo của cô đều dồn hết vào công việc. Lúc đó tôi vô cùng tôn trọng và ngưỡng mộ cô, nhưng không cảm thấy gì về mặt thể xác.

Còn khi ngồi với nhau bên chiếc bàn lớn, tôi nhận ra mình đang rạo rực. Tôi đã thay đổi. Mary Lou đã thay đổi tôi. Những bộ phim, những cuốn sách, nhà tù và quãng thời gian sau đó cũng làm tôi thay đổi. Điều cuối cùng mà tôi muốn làm với Annabel là tình dục chớp nhoáng. Tôi muốn làm tình với cô, nhưng quan trọng hơn, tôi muốn chạm vào cô, muốn xoa dịu những nỗi buồn dường như đang chiếm giữ tâm trí cô.

Annabel đặt cốc cà phê xuống bàn và nhìn ra ngoài cửa sổ. Tôi vươn bàn tay ra, nhẹ nhàng đặt nó lên cánh tay cô.

Cô lập tức giật tay mình ra, làm đổ chỗ cà phê còn lại.

- Đừng. - Cô nói mà không nhìn vào tôi. - Anh không được phép làm như vậy.

Cô đi lấy một cái giẻ ở bồn rửa và lau sạch chỗ cà phê bị đánh đổ.

⚝ ✽ ⚝

Trong vài tuần lễ sau đó, Annabel vẫn tỏ ra dễ chịu, nhưng giữ khoảng cách. Cô dạy tôi làm bánh pudding bắp từ những hạt bắp đông lạnh, bánh cheesecake, dưa chuột ngâm giấm, kem, xúp và ớt bột. Tôi bày bàn ăn cho bữa trưa và bữa tối, nấu xúp rồi phụ cô dọn dẹp. Một số đàn ông trong nhà nhìn tôi với ánh mắt kì lạ vì tôi làm công việc đó, nhưng không ai trong số họ nói ra, và tôi thực sự không quan tâm họ nghĩ gì. Tôi rất thích nó, dù khá chạnh lòng khi nhận ra công việc lặp đi lặp lại khiến Annabel buồn chán như thế nào. Thỉnh thoảng tôi khen ngợi tài nấu nướng của cô, và điều đó dường như giúp ích được đôi chút.

Có lần, khi chúng tôi ở một mình, tôi hỏi Annabel về nỗi buồn của cô. Mặc dù không hề có yếu tố thể xác trong mối quan hệ của chúng tôi, tôi cũng cảm nhận được sự thân thiết với cô nhờ những việc chúng tôi làm cùng nhau, và nhờ cảm giác rằng hai chúng tôi sẽ không bao giờ giống với người nhà Baleen.

- Sao lúc nào em cũng có vẻ không được vui? - Một hôm tôi đã hỏi cô như thế, khi chúng tôi chiếu xạ bánh cà phê để bảo quản.

Tôi bọc bánh bằng các túi nhựa, còn Annabel vận hành chiếc máy giúp hàn túi rồi chiếu ánh sáng màu vàng lên chúng.

Thoạt đầu tôi tưởng cô sẽ không trả lời. Nhưng rồi cô nói:

- Em từng là một bé gái hạnh phúc. Em thường xuyên ca hát. Và em rất thích nghe mẹ kể chuyện. Những thứ như thế trong nhà Swisher nhiều hơn hẳn so với tại đây, - Cô khoát tay chỉ căn bếp rộng lớn vắng vẻ.

- Em không muốn quay về đó sao? - Tôi hỏi.

- Chẳng ích gì. Bây giờ họ đều đã quá già.

- Em nên để anh dạy em đọc chữ. - Tôi đề nghị. Chúng tôi đã từng bàn về chuyện đó.

- Thôi. - Annabel đáp. - Em quá bận. Và em cũng không nghĩ mình cố được. - Cô mỉm cười rụt rè. - Nhưng em thích nghe anh đọc . Nghe cứ như... một thế giới khác.

Tôi đã bọc xong những cái bánh cuối cùng và đưa cho cô, trước khi rót cho mình một cốc cà phê. Tôi đưa mắt nhìn ra vườn, về phía chuồng gà.

- Có phải cái chết của chồng làm em buồn hay không?

- Không phải đâu. - Cô đáp. - Chồng em chưa bao giờ... quan trọng đối với em. Ít nhất là từ sau khi em phát hiện ra mình không thể có con. Em luôn khao khát có con. Lẽ ra em đã là một người mẹ tốt.

Tôi cân nhắc một chút trước khi đáp:

- Nếu như em ngưng uống thuốc...

Trước đó tôi đã nói với cô về những điều ghi trên nhãn hộp Valium.

- Muộn quá rồi. Em thực sự... kiệt quệ với tất cả chuyện này. Và em cũng không nghĩ mình có thể sống ở đây mà không có thuốc.

- Annabel này, chúng ta có thể cùng nhau rời khỏi đây. Và nếu em ngưng uống thuốc một hoàng , em sẽ có thể mang thai. Con của anh.

Annabel nhìn tôi rất lạ. Tôi không thể đoán được cô đang nghĩ gì trong đầu. Cô không đáp.

Tôi bèn tiến đến bên cô, và đưa tay nắm lấy đôi vai cô, cảm nhận những chiếc xương bên dưới lớp vải áo. Lần này cô không dịch ra xa.

- Chúng ta khác những con người này. Chúng ta có thể sống cùng nhau, và có thể có con cái.

Khi cô nhìn vào mắt tôi, tôi nhận ra cô đang khóc.

- Paul, em không thể đi theo anh trừ phi Edgar Baleen gả em cho anh và làm lễ kết hôn cho chúng ta tại nhà thờ.

Tôi nhìn cô, không biết phải nói gì. Những giọt nước mắt của cô làm tôi buồn. “Nhà thờ” ở đây là cửa hàng Sears. Nó được dùng cho đám cưới và đám ma. Trước kia những đứa trẻ từng được rửa tội tại đó, trong cùng cái đài phun nước nơi tôi được rửa tội.

Cuối cùng tôi cũng tìm được từ để nói.

- Anh không phải người nhà Baleen. Và em cũng thế.

- Đúng, nhưng em không bao giờ có thể sống trong tội lỗi cùng một người đàn ông. Chuyện đó... trái đạo đức.

Trong lời nói của Annabel chất chứa nhiều cảm xúc hơn những gì tôi có thể đối phó. Tôi đã biết thế nào là “sống trong tội lỗi”, nhờ xem những bộ phim câm. Nhưng tôi không hiểu làm thế nào cô biết được khái niệm đó.

- Không nhất thiết phải “sống trong tội lỗi”. - Tôi nói. - Chúng ta có thể tự làm lễ. Tại Trung tâm thương mại, vào ban đêm, nếu em muốn.

- Không đâu, anh Paul. - Cô nói và đưa tạp dề lên lau mắt.

Tim tôi như tan vỡ khi thấy cử chỉ đó của cô. Tôi yêu Annabel vì khoảnh khắc đó.

- Sao vậy, Annabel?

- Anh Paul, em từng nghe nói về những người đàn bà thích... làm tình. - Cô cụp mắt xuống sàn. - Chuyện gian dâm đối với bọn họ là bình thường. Ngoại tình ấy. Nhưng phụ nữ miền đồng bằng là những người Công giáo.

Tôi không biết phải hiểu điều đó như thế nào. Tôi biết “Công giáo” là chữ dùng cho những người tin rằng Jesus là Chúa Trời. Nhưng theo tôi hiểu sau những gì đọc được trong Kinh Thánh , Jesus dường như rất khoan dung đối với hành vi tình dục. Tôi còn nhớ khi một số người muốn trừng trị những phụ nữ ngoại tình, Jesus đã không đồng tình với họ.

Dẫu vậy, tôi không cố tranh luận với Annabel, có lẽ bởi trong cái cách cô nói ra chữ “Công giáo” có gì đó rất dứt khoát. Thay vào đó tôi chỉ nói với cô:

- Anh không biết liệu mình có hiểu điều em đang nói không.

Cô nhìn tôi, nửa van lơn nửa giận dữ. Rồi cô đáp:

- Em không thích tình dục, Paul. Em ghét nó.

Tôi không biết phải nói gì.

Chuyện chỉ dừng tại đó giữa Annabel và tôi trong phần còn lại của mùa Xuân. Chúng tôi không bàn đến nó nữa, nhưng vẫn làm việc cùng nhau, và hiểu nhau ngày một nhiều hơn. Tôi cảm thấy gần gũi với cô hơn với bất kì người nào khác trong đời - thậm chí hơn cả Mary Lou, người mà tôi đã ngủ cùng nhiều lần và cùng tận hưởng những khoái cảm sâu đậm. Annabel quá tử tế. Tôi muốn khóc khi nhớ lại cô đã tử tế đến mức nào và buồn bã ra sao, hay khéo tay như thế nào. Tôi có thể mường tượng hình ảnh cô đứng bên bàn xoay, bên bếp lò, hoặc cho gà ăn, với chiếc tạp dề xanh bay phất phơ trong gió, tay đưa lên vén một sợi tóc lòa xòa trước trán. Tôi có thể hình dung cô đứng đối diện với tôi ngày hôm đó, với hai dòng lệ tuôn xuống má, và bảo rằng cô không thể sống cùng tôi.

Chính cô là người đã diệt bọ chét cho Biff, người luôn chuẩn bị bữa sáng cho tôi mỗi đầu ngày, khi tôi từ trên phòng bước xuống. Chính cô đã nói với tôi rằng tôi nên cân nhắc sửa sang ngôi nhà cũ kĩ này để ở. Cô là người đầu tiên đưa tôi đi xem nó, tại một vách đá trông ra biển nằm cách cột đá Maugre một dặm.

Đây là ngôi nhà cô biết đến từ khi còn bé, từng có một ẩn sĩ sống tại đây trước khi qua đời nhiều năm về trước. Bọn trẻ con tin rằng nó bị “ma ám”. Annabel đã nói với tôi rằng cô từng bước vào đây vì bị thách, nhưng cô sợ đến nỗi không thể ở đây lâu hơn một phút.

Giờ đây tôi nghĩ đến cô bé Annabel khi ngồi trong phòng khách và quan sát xung quanh mình, cảm tưởng như trước mặt tôi là một đứa trẻ sợ hãi. Nếu nơi này bị ma ám, chính cô là người đang ám nó. Một đứa trẻ xinh xắn, nhút nhát và yêu ca hát.

⚝ ✽ ⚝

Tôi yêu Annabel. Tình cảm tôi dành cho cô khác với thứ mà tôi đã, và ở một mức độ nào đó, vẫn đang dành cho Mary Lou. Điều Annabel cần là một cách thức sử dụng tài năng và nghị lực của mình. Cô làm rất nhiều việc, nhưng không ai cảm ơn cô vì chuyện đó, và hầu như mọi thứ cô làm đều có thể được thực hiện bởi một robot Lớp Ba mà không một người nhà Baleen nào có thể nhận ra; tất cả những món ăn cô nấu với rất nhiều tình yêu và kĩ năng, tất cả những công việc dọn dẹp, rửa bát, làm đồ gốm trong nhiều năm trời. Nhưng không một ai nói lời cảm ơn.

⚝ ✽ ⚝

Tôi phải viết thật nhanh những dòng này, trước khi cảm xúc làm tôi tê liệt trong buổi sáng đầu Hè hôm nay, khi tôi đã đi gần đến đoạn cuối phần đời này trong nhật kí.

Annabel và tôi cứ tiếp tục như thế, làm bếp cùng nhau, rồi trò chuyện sau khi tôi đọc kinh sáng. Tôi học được nhiều thứ ngoài nghệ thuật nấu ăn và sự nghiêm túc trong tình dục, những thứ không chỉ có ở Annabel mà còn là một phần cơ bản trong nền văn hóa của bảy thị trấn miền đồng bằng. Annabel không biết người nhà Baleen đến từ đâu. Cô chỉ biết nhiều thế hệ về trước họ từng là những nhà thuyết giáo lưu động, cho đến khi Kinh Thánh và khả năng đọc chữ dần dần bị mai một. Annabel đã được sinh ra trong gia đình Swisher, nhưng mẹ của cô khi còn trẻ từng là một người du mục. Người nhà Swisher đã từng trình diễn các bài hát tôn giáo, nhưng “Dịch Vô Sinh” đã khiến ông già Baleen cấm họ hát khi Annabel còn là một cô bé. Cô là đứa trẻ cuối cùng được sinh ra tại các thị trấn.

Tôi không bao giờ tìm cách làm tình với cô nữa. Tôi đã từng nghĩ mình nên thử, nhưng sau khi Annabel nói với tôi về cảm giác của cô đối với chuyện ấy, tôi trở nên bối rối và hoang mang. Tôi sẽ nhớ về Annabel và Mary Lou, những người tôi từng yêu và biết mình không thể với tới được. Không hiểu sao như thế lại tốt. Sẽ chẳng có nguy cơ nào.

Ít ra tôi đã nghĩ như thế cho đến một buổi sáng khi đi vào bếp tôi thấy mọi thứ rất bừa bộn, vụn bánh mì và vỏ trứng vương đầy trên bàn và trong bồn rửa, sau khi các thành viên trong gia đình tự chuẩn bị bữa sáng cho mình. Annabel không có ở đó. Tôi đi ra ngoài tìm cô.

Cô không ở trong chuồng gà. Tôi đi vòng qua Baleena để tới nơi tôi có thể quan sát thị trấn Maugre hoang vắng, bị chôn vùi dưới thảm thực vật. Không có dấu hiệu của sự sống ở đó. Tôi đang định đi về phía đài tưởng niệm thì, do linh tính mách bảo, tôi mở cửa xưởng gốm.

Một mùi kinh khủng bốc ra. Một cái xác quắt queo đơ cứng với làn da cháy đen và thứ từng là tóc giờ là một khối than dính vào hộp sọ, đang quay lưng về phía tôi, mặt hướng về bàn xoay. Hai cánh tay duỗi thẳng về phía trước và bàn tay vẫn nắm chặt mép bàn.

Cùng với mùi thịt cháy là mùi xăng nồng nặc trong lán.

Tôi quay lưng và chạy một mạch ra biển. Ngồi trên bờ, tôi cứ nhìn mặt nước không rời mắt, cho đến khi Rod Baleen tìm thấy tôi đêm đó.

⚝ ✽ ⚝

Hôm sau chúng tôi chôn cất cô. Tôi được cử đi cùng Rod và một ông già tên Arthur để lấy một cỗ quan tài.

Các cỗ quan tài được để ở một tầng sâu hơn của Trung tâm thương mại, nơi tôi chưa biết tới. Trên cầu thang dẫn xuống đó, tôi thấy một tấm biển đề TẦNG TRÚ ẨN SÂU.

Tại đó có một nhà kho đầy những cỗ quan tài, tất cả đều được làm bằng kim loại sơn màu xanh lá cây. Trên mỗi cái đều được sơn dòng chữ BỘ QUỐC PHÒNG: MAUGRE. Chúng được chất thành những hàng gọn ghẽ cao đến tận trần trong căn phòng mang tên NHÀ QUÀN.

Thay vì đi ngược lên cầu thang, chúng tôi mang cỗ quan tài rỗng sang một hành lang nằm ở phía bên kia của nhà kho. Chúng tôi chui qua một vòm cửa với biển đề KHU GIẢI TRÍ, sau đó đi ngang qua một hồ bơi lớn cạn trơ đáy và một ô cửa có đề chữ PHÒNG ĐỌC THƯ VIỆN. Dù đang rất đau buồn trong lúc im lặng khiêng cỗ quan tài xấu xí gớm ghiếc, tim tôi vẫn đập loạn xạ khi nhìn thấy tấm biển đó, và phải cố kìm mình lại để không bỏ quan tài của Annabel ngay tại đó rồi lao qua ngưỡng cửa.

Cuối hành lang có một cánh cửa lớn với tấm biển NHÀ ĐỂ XE. Rod đẩy cửa và chúng tôi bước vào một gian phòng đầy những chiếc xe buýt giao cảm. Chúng đậu cạnh nhau, hết hàng này đến hàng khác. Tất cả những chiếc mà tôi quan sát được mặt trước đều mang dòng chữ CHỈ PHỤC VỤ MAUGRE VÀ VÙNG PHỤ CẬN.

Ở cuối phòng, cuối một hàng xe buýt dài, có một cửa trượt cánh đôi đủ lớn để một chiếc xe buýt có thể đi qua. Rod ấn vào một cái nút bấm trên tường ngay cạnh đó, và hai cánh cửa mở ra. Chúng tôi khiêng quan tài qua cửa rồi đi vào một chiếc thang máy lớn đưa chúng tôi trở lại với ánh sáng ban ngày qua lối cửa phía sau cột đá. Chúng tôi đi tới xưởng gốm, nơi những người phụ nữ đã cố gắng hết sức có thể để làm cho cơ thể của Annabel trở nên coi được. Họ đã mặc cho cô một chiếc váy đen mới và một chiếc tạp dề màu xanh lam. Nhưng tôi chẳng còn nhận ra một tí gì của Annabel nơi cái xác được chúng tôi đặt vào quan tài.

Có một chiếc bình nhỏ khá đẹp nằm trên kệ trong xưởng gốm. Annabel đã nói với tôi rằng cô làm nó nhiều năm về trước, nhưng ông già Baleen không chịu để cho nó được sử dụng trong nhà bếp vì nó “quá mỏng manh”. Tôi đi lấy cái bình và đặt nó vào quan tài, trong vòng tay của Annabel. Sau đó, tôi đóng nắp quan tài và cài chặt lại.

⚝ ✽ ⚝

Tang lễ được cử hành tại Sears. Quan tài của Annabel được đưa xuống thang máy trên một chiếc xe buýt giao cảm. Tôi biết ơn ông già Baleen vì ông đã để tôi khiêng quan tài. Ông chưa bao giờ nói ra, nhưng tôi nghĩ ông ít nhiều biết về tình cảm mà tôi dành cho Annabel.

Chúng tôi ngồi trên những chiếc ghế trong khu bán giày với ánh đèn được giảm sáng. Edgar Baleen phát biểu gì đó trước khi đưa cho tôi cuốn Kinh Thánh và bảo tôi đọc.

Tôi đã mở nó ra, nhưng không đọc theo những gì được in trên giấy. Thay vào đó, tôi nhìn cỗ quan tài của Annabel trước mặt và thốt lên:

- “Ta là sự sống lại và cũng là sự sống,” Chúa đã nói như thế. “Ai tin ta, dầu có chết cũng sẽ được sống.”

Những từ ngữ đó không giúp tôi nhẹ lòng. Tôi muốn Annabel còn sống và ở bên tôi. Tôi nhìn tất cả những con người ở trước mặt mình trong tư thế cúi đầu tôn kính, không cảm thấy chút hiệp thông nào với họ lẫn với đức tin của họ. Không có Annabel, một lần nữa tôi trở nên cô đơn.

Nghĩa trang nằm cách Maugre vài dặm về phía Bắc, gần đường cao tốc bốn làn xe. Có hàng nghìn bia mộ nhỏ bằng nhựa Permo màu trắng trơn không một dòng chữ viết. Chúng tôi đưa Annabel ra nghĩa trang bằng một chiếc xe buýt giao cảm.

Đêm đó khi mọi người đã ngủ, tôi khẽ khàng rời khỏi nhà, đi xuống Trung tâm thương mại và tìm đến thư viện. Đó là một gian phòng rộng hơn căn bếp nhà Baleen, với bốn bức tường đều được phủ kín bởi những cuốn sách. Tóc con sau gáy tôi dựng lên khi tôi đứng đó giữa đêm, trong căn phòng im ắng, với hàng ngàn hàng vạn cuốn sách xung quanh.

Tôi nhét hai cuốn sách nhỏ vào túi: Tuổi trẻ , của Joseph Conrad, và Tôn giáo và sự trỗi dậy của chủ nghĩa tư bản , của R. H. Tawney. Sau đó tôi đi tới nhà để xe buýt và dành một tiếng đồng hồ để đọc những tấm biển phía trước đầu xe. Tất cả đều là:

CHỈ PHỤC VỤ MAUGRE VÀ VÙNG PHỤ CẬN.

Tôi quay trở lên cửa hàng Sears để tìm một miếng ván, chút sơn đen và một cái cọ. Tôi kẻ chữ ANNABEL SWISHER lên bảng, rồi vụng về dùng búa và đinh tìm thấy trong cửa hàng đóng nó vào một cái cọc. Sau đó tôi lấy một chiếc xe buýt của nhà Baleen để đi tới nghĩa trang, và đóng cọc xuống đất, ngay phía đầu nấm mộ của Annabel. Khi xong việc, tôi yêu cầu chiếc xe buýt đưa mình tới New York. Chiếc xe chỉ chạy tới đường dẫn vào cao tốc rồi dừng lại. Nó không thể chạy xa hơn.

⚝ ✽ ⚝

Suốt đêm hôm đó tôi thức đọc cuốn sách của Joseph Conrad nhưng chỉ hiểu được phần nào. Sáng hôm sau, Mary và một người phụ nữ tên Helen chuẩn bị bữa sáng. Tôi ăn cùng với mọi người trong nhà.

Sau bữa sáng, tôi nói với Edgar rằng tôi muốn dọn tới ngôi nhà này, và ông không phản đối. Thật ra hình như ông đã chờ đợi một điều như thế từ phía tôi.

Được làm hoàn toàn bằng gỗ đỏ và kính, ngôi nhà từ lâu đã trở thành nơi trú ngụ cho lũ chuột và chim chóc. Tôi dọn sạch các tổ chim trong khi Biff phụ trách bầy chuột theo cách thức mà tôi chỉ có thể mô tả bằng từ “chuyên nghiệp”. Nó xua con chuột cuối cùng ra khỏi nhà sau một tuần.

Những món đồ cũ đều đã bị mục, tôi chất thành đống trên bãi biển và châm lửa đốt, trong đầu nghĩ tới Belasco và những phút giây sảng khoái ở Carolina.

Lẽ ra tôi không được phép lấy đồ của Sears, nhưng suốt một tuần lễ đêm nào tôi cũng xuống đó mà không ai phản đối. Tôi nghĩ miễn mình đừng làm công khai thì gia đình Baleen sẽ chẳng nói gì. Sự nghiêm chỉnh về tình dục của họ có lẽ cũng như thế, nếu Annabel và tôi trở thành một cặp tình nhân kín đáo có khi họ cũng không nói gì. Mà có lẽ họ cũng đã nghĩ chúng tôi là như vậy.

Tôi lấy đồ nội thất, dụng cụ nhà bếp và giá sách từ cửa hàng Sears. Sau đó tôi bắt đầu thu thập sách từ thư viện.

Sau đám tang, sự đau buồn khiến tôi chỉ muốn ra đi, nhưng mong muốn đó đã tự lắng xuống theo thời gian. Tôi đoán là nhờ những cuốn sách. Tôi quyết định sẽ hoàn tất việc đọc của mình và cập nhật cuốn nhật kí trong ngôi nhà bên bờ biển này. Sau đó, tôi sẽ quyết định xem mình nên tiếp tục tìm kiếm Mary Lou hay ở lại. Hay ra đi và tìm một nơi chốn hoàn toàn mới - đi về phía Tây chẳng hạn, đến Ohio và xa hơn thế.

⚝ ✽ ⚝

Trong một cuốn sách tìm được ở dưới Trung tâm thương mại, tôi đã biết trong thế giới xưa kia, mùa tiếp sau mùa Hè được gọi là “mùa tàn của năm”. Cụm từ đó thật đẹp đẽ và gây ấn tượng sâu sắc trong tôi.

Những hàng cây trên bờ biển phía ngoài ngôi nhà đã bắt đầu mất đi sắc xanh, chúng chuyển sang màu vàng và đỏ cam qua từng ngày. Màu xanh của bầu trời giờ đây nhạt hơn, và tiếng kêu của bầy mòng biển dường như cũng xa xôi hơn. Trong không khí buổi sáng đã có một chút hơi lạnh khi tôi đi dạo trên bãi biển vắng vẻ. Thỉnh thoảng tôi lại phát hiện những con nghêu vùi mình trong cát, nhưng không đào chúng lên. Tôi đi bộ và chạy trong tiết Thu - mùa tàn của năm, càng ngày càng nghĩ đến việc rời khỏi Maugre để tiếp tục đi lên phía Bắc, tới New York. Nhưng tôi có một chỗ ở đẹp tại đây và tự cung tự cấp nhờ các thực phẩm lấy ở Trung tâm thương mại. Tôi đã trở thành một người nấu ăn giỏi. Nếu muốn bầu bạn, tôi có thể đi thăm nhà Baleen và đọc kinh cho họ, như thỉnh thoảng tôi vẫn làm. Họ khá vui mừng khi gặp tôi, dù có vẻ như họ nhẹ nhõm khi tôi ra về.

Chuyện đó thật kì lạ. Tôi đoán họ đã chờ đợi một điều kì diệu nào đó xảy ra khi bắt đầu được nghe người ta đọc Kinh Thánh và khai mở bí mật cho họ - thông điệp của cuốn sách bí hiểm mà họ tôn thờ. Nhưng chẳng có phép màu nào, và thật mau chóng, họ đánh mất sự quan tâm của mình. Tôi nghĩ để hiểu hết ý nghĩa của những điều được viết cần một sự tập trung và thành tâm mà không ai trong số họ có được - ngoại trừ ông già Edgar Baleen, có lẽ vậy. Họ sẵn sàng chấp nhận không thắc mắc sự mộ đạo nghiêm ngặt, sự im lặng, những tiết chế về tình dục, cùng một vài mẩu chuyện về Jesus, Moses và Noah, nhưng họ bị choáng ngợp trước nỗ lực cần có để hiểu được tài liệu vốn là nguồn gốc thực sự của tôn giáo họ theo.

Có lần tôi hỏi Edgar vì sao ở Maugre không có robot, ông nói:

- Chúng tôi đã mất mười năm để loại bỏ đám sứ giả Satan đó khỏi nơi này.

Tuy vậy, khi tôi hỏi ông ta họ đã làm điều đó như thế nào, Edgar không đáp. Họ có thể dành ra mười năm trời cho một việc như thế, nhưng không chịu tranh thủ lúc tôi đang hiện diện để tìm hiểu ý nghĩa thực sự của “Satan” - từ mà giờ đây tôi đã biết có nghĩa là “kẻ thù”.

Trước khi Annabel chết, tôi đã nghĩ mình đủ bằng lòng để sống cùng họ. Thức ăn cũng rất ngon: Khoai tây nghiền, bánh nghìn lớp, bánh qui và thịt lợn xông khói (họ chưa bao giờ nghe nói tới thịt khỉ xông khói), trứng tráng và các loại xúp: Xúp gà, xúp rau, xúp đậu, xúp bắp cải và xúp đậu lăng, tất cả đều được dọn nóng kèm bánh qui giòn.

Cũng có những lúc tôi cảm thấy rõ rệt một điều mà mình đã học được trong tù - cảm giác thuộc về một cộng đồng. Tôi có thể ngồi bên chiếc bàn trong bếp với toàn thể gia đình Baleen xung quanh, lặng lẽ ăn xúp và thấy một sự ấm áp lan tỏa từ bụng ra khắp cơ thể, cảm nhận sự hiện diện của những con người trầm tĩnh, mạnh mẽ và cần cù. Họ đụng chạm nhau khá nhiều - chỉ là những cử chỉ nho nhỏ, chẳng hạn như đặt một bàn tay lên cánh tay người khác, hoặc khẽ chạm khuỷu tay vào nhau trong lúc ngồi quanh bàn ăn. Họ cũng chạm vào tôi, thoạt đầu với một chút rụt rè, nhưng rồi thoải mái và dễ dàng hơn. Những trải nghiệm với cánh đàn ông trong tù đã chuẩn bị cho tôi trước điều này, và tôi dần dần thích nó, thậm chí cần nó. Chính vì thế mà thỉnh thoảng tôi vẫn quay về, để chạm vào họ và cảm nhận sự hiện diện đầy nhân tính của họ.

Nhưng khác với những gia đình từng thấy trong phim, người nhà Baleen nói chuyện với nhau rất ít. Sau những giờ đọc kinh buổi tối, màn hình ti vi khổng lồ sau lưng tôi sẽ được bật lên. Chiếc máy phát chạy bằng xăng đặt trên sàn nhà kêu phành phạch, và những hình ảnh ba chiều đầy màu sắc của các chương trình rèn tâm trí xuất hiện - những hình thù trừu tượng, những màu sắc ma mị, âm nhạc ám ảnh - hoặc của các chương trình về tình dục và thống dâm, các chương trình thử lửa. Mọi người ngồi xem trong im lặng, cũng giống như tại trường nội trú và đại học, cho đến giờ đi ngủ. Thỉnh thoảng họ đứng lên đi sang bếp lấy một miếng gà chiên, một lon bia và ít đậu (bia và đồ nhắm được đem về từ Trung tâm thương mại trên những chiếc xe cút kít mỗi mười ngày) nhưng từ trong bếp không bao giờ vọng ra tiếng trò chuyện. Không ai muốn phá vỡ không khí mà các chương trình mang lại.

Tuy vậy, dù đã xem ti vi rất nhiều lần trước đó, tôi cảm thấy mình không còn có thể xem mà không suy nghĩ. “Thả hồn vào màn hình”. Chúng tôi đã được dạy như vậy. Nó cũng là một điều căn bản như “Đừng hỏi, thư giãn đi”. Nhưng tôi không thể làm như vậy được nữa. Tôi không còn muốn giữ im lặng những suy nghĩ trong đầu, hoặc sử dụng tâm trí như phương tiện để tiếp nhận những khoái cảm rời rạc. Tôi muốn đọc, muốn suy ngẫm, và nói chuyện.

Sau cái chết của Annabel, thỉnh thoảng tôi lại bị cám dỗ trước việc sử dụng những viên mê dược mà họ để khắp nơi trong nhà trên những chiếc đĩa kẹo bằng gốm của cô, nhưng rồi tôi lại nghĩ đến Mary Lou và quyết định của mình lúc được đề nghị uống mê dược trước khi bị giải tới “Hồ Lửa vĩnh cửu” - và không đụng tới chúng nữa.

Thật tuyệt khi cảm nhận được sự ấm áp của một gia đình, khi thức dậy vào ban đêm trong căn phòng mà tôi chia sẻ với Rod và nghe thấy tiếng ngáy khe khẽ của anh ta, cảm nhận được sự hiện diện của tất cả những người khác trong nhà. Đôi khi tôi cảm thấy điều gì đó rất hay ho trong tôi đang bắt đầu hình thành. Nhưng rồi chiếc ti vi lớn được bật lên, hoặc mọi người dán mắt vào những màn hình riêng trong phòng mình, và tôi lại cảm thấy như muốn phát điên vì không được nói chuyện - không được đối thoại. Những tù nhân mà tôi đã sống cùng nói chuyện với nhau bất cứ khi nào họ có thể, nhưng họ phải chờ đợi cơ hội để làm điều đó, như lúc chạy xuống bãi biển chẳng hạn. Còn người nhà Baleen thì khác. Họ hài lòng với sự bầu bạn, nhưng không có gì để nói ngoại trừ thỉnh thoảng thốt lên “Vinh danh Chúa”.

Vì vậy, tôi gặp họ vừa đủ để duy trì sự tiếp xúc tối thiểu với con người. Điều đó dường như cũng đủ đối với tôi. Kể từ khi chuyển đến đây vào giữa mùa Hè, tôi đã nghe các đĩa nhạc lấy từ Sears, ghi nhật kí vào cuốn sổ lớn của Sears và đọc sách. Tôi đọc sách vào ban ngày trên ban công nhìn ra đại dương, với Biff - giờ đã lớn hơn rất nhiều - ngồi bên cạnh. Hoặc vào ban đêm, dưới ánh đèn dầu trong phòng khách lớn ở tầng trệt. Tôi đã đọc hơn một trăm cuốn sách. Tôi cũng nghe đi nghe lại các đĩa nhạc giao hưởng của Mozart, Brahms, Prokofiev và Beethoven, các đĩa nhạc thính phòng, các vở opera và nhiều tác phẩm đa dạng của Bach, Sibelius, Dolly Parton, Palestrina và Lennon. Đôi khi, hơn cả sách vở, âm nhạc giúp mở rộng cảm nhận của tôi về quá khứ. Và sự mở rộng này, sự lớn mạnh của việc hướng tới những gì khác hơn thứ từng là cái tôi nhỏ bé được đào tạo ở trường nội trú, của mong muốn quay ngược thời gian và gặp lại những thế hệ đồng loại đã sống trên cùng trái đất này, đã tạo nên đam mê duy nhất của tôi trong những tháng ngày dài cô đơn.

Bây giờ tôi đang ngồi bên chiếc bàn bếp bằng gỗ sồi của mình để viết những dòng nhật kí này vào một cuốn sổ mới, với một cây bút bi của Sears. Biff nằm cuộn tròn trên ghế cạnh tôi, ngủ ngon lành. Trên bàn trước mặt tôi là nửa chai J.T.S. Brown Bourbon, một bình nước và một cái ly. Trời đã xế chiều, và ánh nắng thu vẫn đang chiếu qua khung cửa sổ bên trên bồn rửa. Hai ngọn đèn dầu được treo trên trần nhà, ngay phía trên bàn, và tôi sẽ thắp chúng khi cần. Sau khi viết thêm một chút, tôi sẽ nấu một ít thức ăn cho Biff, và tiếp đó, nếu có đủ xăng, tôi sẽ cho chạy máy phát điện dưới tầng hầm để nghe một hoặc hai đĩa nhạc.

Khi tôi bắt đầu cuốn nhật kí này, tôi dự định sẽ tóm tắt tất cả những gì tôi đã học được về lịch sử loài người và cách mà nó đi đến một sự kết thúc. Nhưng đối mặt với viễn cảnh phải thực sự bắt tay vào viết, sau khi đã suy nghĩ về nó quá lâu, tôi lại thấy nao núng. Tôi nhiều lần bị chế ngự bởi mong muốn có Mary Lou ở bên cạnh, và lúc này cũng vậy, khi tôi nghĩ tới khó khăn của nhiệm vụ đang chờ đợi mình. Không nghi ngờ gì nữa, Mary Lou thông minh hơn tôi. Cô có thể không đủ kiên nhẫn như tôi trong khi học, nhưng tôi muốn có được sự lanh lợi và mạnh mẽ của tâm trí cô, cũng như khả năng nắm bắt nhanh chóng của cô. Ngoài ra, Mary Lou cũng có một sự nhiệt tình mà tôi không có.

Tôi không biết mình có còn yêu cô nữa hay không. Một khoảng thời gian dài đã trôi qua và rất nhiều sự kiện đã xảy ra kể từ đó. Và tôi vẫn còn đang tiếc thương Annabel.

Khi viết ra những dòng chữ này, tôi bắt gặp chính mình đang nhìn chằm chằm những dấu vết ở cổ tay, hai vết sẹo trắng đánh dấu nơi những chiếc vòng an ninh cứa vào da thịt tôi sau cú cắt của lưỡi dao trong nhà máy.

Lúc đó tôi sẵn sàng chết, sẵn sàng mất máu đến chết dưới nhát dao đó hoặc tự thiêu bằng xăng, góp tên mình vào danh sách những vụ tự sát thê thảm. Lẽ ra tôi đã có thể chết vì cô đơn, vì mất Mary Lou.

Nhưng rồi tôi đã không chết. Và một phần trong tôi vẫn yêu Mary Lou, dù đã lâu tôi không đi lên phía Bắc để tìm cô. Thỉnh thoảng tôi nghĩ đến việc tìm con đường có các chuyến xe buýt liên tỉnh chạy qua, và bắt một chiếc đến New York, giống như cách tôi đã làm khi rời Ohio trước đây khá lâu. Nhưng như thế quá điên rồ. Máy quét trang bị trên những chiếc xe buýt này rất có thể sẽ phát hiện ra tôi là kẻ đào tẩu. Hơn nữa, tôi không còn thẻ tín dụng. Nó đã bị tước mất khi tôi vào tù.

Tôi thật khác với chính tôi lúc đó! Cơ thể tôi cũng mạnh mẽ hơn hẳn. Và tôi không còn e sợ nữa.

Tôi sẽ rời Maugre sớm. Trong khi mùa tàn của năm chưa kết thúc.

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của walter tevis