
NGÀY THỨ NHẤT
Spofforth đã đề nghị tôi công việc này: Nói vào máy ghi âm mỗi buổi tối, sau giờ làm việc, và thảo luận về những gì tôi đã làm trong ngày. Ông đã cấp thêm bóng bồi cho tôi chỉ vì công việc này.
Công việc nhiều lúc buồn tẻ, nhưng dường như có sự tưởng thưởng của nó. Tôi đã làm được đến hôm nay là ngày thứ năm. Đây là lần đầu tiên tôi cảm thấy đủ thoải mái với chiếc máy ghi âm nhỏ để bắt đầu nói về bản thân. Có gì để nói về chính mình nhỉ? Tôi không phải là một người thú vị.
Các cuốn phim rất giòn và phải được nâng niu một cách hết sức cẩn thận. Khi chúng bị gãy - chuyện xảy ra khá thường xuyên - tôi phải mất thời gian tỉ mẩn nối chúng lại. Tôi đã cố gắng yêu cầu trưởng khoa Spofforth phân cho tôi một robot kĩ thuật viên, có thể là một con robot cấp thấp được đào tạo để làm nha sĩ hoặc một loại công việc tỉ mỉ nào đó, nhưng Spofforth chỉ đáp: “Như vậy thì tốn kém quá.” Và tôi tin ông ta nói đúng. Thế nên tôi luồn các cuốn phim vào những chiếc máy cũ kĩ lạ mắt được gọi là “máy chiếu” và đảm bảo rằng chúng được cân chỉnh phù hợp trước khi bắt đầu chiếu lên một màn ảnh nhỏ gắn trên chiếc giường kiêm bàn làm việc của mình. Máy chiếu luôn gây ồn. Nhưng ngay cả tiếng bước chân của tôi hình như cũng ồn ào khủng khiếp dưới tầng hầm của thư viện cổ này. Chưa có ai từng xuống đây, và những bức tường thép không gỉ đã bị rêu phủ đầy.
Khi các từ ngữ xuất hiện trên màn ảnh, tôi dừng máy chiếu và đọc to chúng vào máy ghi âm. Đôi lúc điều này chỉ mất một chút thời gian, với những chữ như “Không!” hoặc “Hết” chẳng hạn, tôi gần như không do dự khi phát âm chúng. Nhưng những lúc khác, có những cụm từ và cách viết khó hơn xuất hiện, tôi phải nghiên cứu khá lâu trước khi chắc chắn về từ ngữ. Một trong những lần gặp khó khăn nhất của tôi là ngay sau một cảnh phim đầy xúc động, thể hiện một phụ nữ trẻ lo lắng ra mặt. Dòng chữ trên nền đen có nội dung đầy đủ là: “Nếu Bs. Carrothers không đến ngay bây giờ, chắc mẹ sẽ phải từ bỏ các giác quan của mình.” Bạn có thể tưởng tượng những rắc rối mà tôi đã gặp phải với câu đó! Và một trường hợp khác là câu: “Chỉ có chim nhại hót ở bìa rừng” được một ông già nói với một bé gái.
Bản thân các bộ phim đôi khi cũng rất hấp dẫn. Tôi đã xem nhiều bộ phim như thế hơn những bộ còn lại. Tất cả đều là phim đen trắng, và có kiểu chuyển động giật cục giống như của con khỉ khổng lồ trong Kong trở lại . Mọi thứ về chúng đều kì lạ, không chỉ là cách các nhân vật di chuyển và phản ứng. Biết nói thế nào nhỉ, có một cảm giác được tham gia vào, cảm giác về những đợt sóng cảm xúc lớn trào dâng trong các cảnh phim. Tuy nhiên, theo những gì tôi biết, chúng đôi khi cũng vô hồn và vô nghĩa như bề mặt nhẵn nhụi của một viên đá. Tất nhiên tôi không biết “chim nhại” là chim gì. Hay “Bs.” nghĩa là gì. Nhưng vượt lên trên những điều làm tôi băn khoăn, trên cả sự lạ lẫm, là ấn tượng cổ xưa của cuộc sống mà chúng truyền tải. Đó là những mẩu cảm xúc mà tôi hoàn toàn không biết đến - những cảm xúc mà tất cả những người thuộc lớp khán giả của những bộ phim xưa này từng cảm nhận, nhưng giờ đã vĩnh viễn mất đi. Sự buồn bã là thứ mà tôi thường cảm thấy nhất. Sự buồn bã. Chỉ có chim nhại hót ở bìa rừng . Sự buồn bã.
Tôi thường ăn ngay tại chiếc giường kiêm bàn làm việc. Một bát xúp đậu lăng ăn kèm thịt khỉ xông khói. Hoặc một thanh đậu nành. Robot tạp vụ đã được lập trình để lấy những thức ăn mà tôi yêu cầu từ căng tin trường. Tôi hay ngồi trên giường, tua đi tua lại một đoạn phim và ăn chậm rãi, cố cảm nhận quá khứ mờ tối theo cách của mình. Có những điều tôi đã xem và không thể quên được. Đôi khi đó chỉ là cảnh một bé gái khóc cạnh một ngôi mộ giữa đồng. Hoặc một con ngựa đứng trên phố, với cái mũ rúm ró trên đầu và đôi tai ló lên. Hoặc cảnh những ông già uống rượu bằng cốc vại và cười không ra tiếng trên màn ảnh. Mỗi khi xem những thứ như thế, tôi bỗng rơi lệ.
Sau nhiều ngày, tất cả những cảm giác ấy biến mất, và tôi chỉ đơn giản là cố đọc cho hết một bộ phim dài hai cuộn từ đầu đến cuối như một cái máy: “Biograph Pictures hân hạnh giới thiệu bộ phim Những lời ai oán của Margaret. Đạo diễn John W. Kiley. Với sự tham gia của Mary Pickford...” và cứ tiếp tục như vậy cho đến “Hết”. Sau đó, tôi tắt máy ghi âm và lấy quả bóng thép nhỏ ra, đặt nó vào ngăn chứa trong chiếc hộp kín khí màu đen dùng để lưu trữ phim. Rồi tôi chuyển sang bộ phim kế tiếp.
Đó là phần cực nhọc của công việc, khi vượt qua ngưỡng chịu đựng, tôi nâng đỡ bản thân bằng cần sa và những giấc ngủ ngắn.
NGÀY THỨ BA
Hôm nay, lần đầu tiên trong đời tôi chứng kiến một vụ tự thiêu tập thể. Hai người đàn ông và một phụ nữ ngồi trước một tòa nhà sản xuất và buôn bán giày trên Đại lộ số Năm. Hình như họ đã tưới một ít chất lỏng dễ cháy lên cơ thể, vì nhìn người họ ướt. Tôi trông thấy họ đúng lúc người phụ nữ châm một chiếc bật lửa vào gấu váy jean của mình và những lưỡi lửa nhợt nhạt bắt đầu khép lại quanh họ như những chiếc cánh của một đóa hoa lớn màu vàng. Chắc họ đã được nhồi nhét đầy các loại ma túy, vì không có bất kì dấu hiệu đau đớn nào hiện diện trên khuôn mặt của họ - chỉ có một kiểu cười - từ khi ngọn lửa nhợt nhạt dưới ánh nắng bắt đầu làm họ đỏ rực lên, cho đến khi nó khiến họ hóa đen. Một số người qua đường đã dừng lại để quan sát. Dần dần một mùi khó ngửi bắt đầu bao trùm khu vực, và tôi bỏ đi.
Tôi đã nghe loáng thoáng về những vụ tự thiêu như vậy, luôn theo nhóm ba người, nhưng chưa từng chứng kiến tận mắt trước đây. Nghe nói chúng thường xuyên diễn ra tại New York.
Tôi đã tìm thấy một cuốn sách - một cuốn sách thực sự! Không phải giống như một trong những cuốn sách mỏng mà tôi từng nghiên cứu ở Ohio và chỉ kể về Roberto, Consuela cùng chú chó Biff , mà là một cuốn sách thực thụ, dày, có thể sờ mó được.
Chuyện đó đơn giản là thế này. Tôi tình cờ mở một trong hàng trăm cánh cửa dọc theo hành lang bằng thép không gỉ rộng lớn bên ngoài phòng mình, và tại đó, ở trung tâm của một căn phòng nhỏ trống không, trong một hộp kính, là cuốn sách lớn, dày dặn này. Tôi nhấc phần nắp chụp của cái hộp bám đầy bụi lên và cầm lấy quyển sách. Nó khá nặng, các trang giấy ngả vàng, khô khốc khi chạm vào. Cuốn sách có tên là Từ điển . Nó chứa cả một rừng chữ.
NGÀY THỨ NĂM
Giờ đây, khi đã bắt đầu duy trì nhật kí này, tôi nhận ra mình để ý nhiều hơn đến những sự việc lạ lùng diễn ra trong ngày so với trước đây - để tối đến tôi có thể kể lại vào máy ghi âm, tôi nghĩ thế. Để ý và suy gẫm đôi khi gây căng thẳng và hoang mang đến mức tôi tự hỏi phải chăng người ta đã tính đến điều đó khi làm ra những chiếc máy ghi âm mà các công dân bình thường gần như không thể sử dụng được. Hoặc dạy chúng tôi ngay từ bé câu châm ngôn này: “Nếu nghi ngờ, hãy quên nó đi.”
Chẳng hạn như, tôi đã ghi nhận một điều kì lạ tại vườn thú Bronx, hay đúng hơn là vài điều kì lạ. Tôi đã đi xe buýt giao cảm đến vườn thú vào các ngày thứ Tư trong một tháng liền và nhận ra mình chỉ nhìn thấy năm đứa trẻ ở đó - và dường như luôn là năm đứa trẻ ấy. Tất cả chúng đều mặc áo sơ mi trắng, luôn ăn kem ốc quế, và - có lẽ đây là điều kì quặc nhất - chúng luôn tỏ ra vô cùng vui vẻ hào hứng khi được đến vườn thú. Những khách tham quan vườn thú khác, bằng tuổi tôi trở lên, thường nhìn chúng một cách lơ đãng và mỉm cười, và khi thấy lũ trẻ chỉ về phía một con vật, một con voi chẳng hạn, rồi hét lên “Hãy xem con voi to lớn này!” thì họ quay sang mỉm cười với nhau, như thể được trấn an. Chuyện này có gì đó rờn rợn. Không biết bọn trẻ có phải là robot không nhỉ?
Và đáng sợ hơn, nếu chúng là robot, thì những đứa trẻ thật đâu rồi?
Mỗi khi đi xem Nhà Bò sát, tôi lại thấy một người phụ nữ mặc váy đỏ. Có lúc cô nằm trên một băng ghế gần lũ cự đà, thiếp ngủ, có lúc cô đi qua đi lại một cách nhàn rỗi. Hôm nay cô cầm một chiếc bánh mì kẹp nhân trên tay và quan sát con trăn khi nó trườn qua các nhánh cây giả, phía sau lớp kính của cái chuồng. Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy thắc mắc về con trăn. Nó luôn luôn trườn qua mấy cái nhánh cây đó. Và theo như tôi còn nhớ từ rất lâu trước đây, khi tôi còn nhỏ (cách đây bao lâu, tất nhiên là tôi không có cách nào biết được) những con rắn lớn trong vườn thú thường ngủ say, hoặc cuộn mình thành một đống ở một góc chuồng, trông giống như đã chết. Tuy nhiên, con trăn ở vườn thú Bronx luôn bò trườn và lè lưỡi khiêu khích những người khách tham quan. Có lẽ nào nó là một robot?
NGÀY THỨ MƯỜI MỘT
Tôi bắt đầu thấy ngợp trước những sự việc đã xảy ra. Tôi cảm thấy run rẩy khi ghi lại điều này, khi kể lại những gì tôi nghĩ về ngày hôm nay. Tuy nhiên, nó quá hiển nhiên, quá rõ ràng, ngay khi tôi nhìn thấy nó. Tại sao tôi chưa bao giờ nghĩ đến nó trước đây?
Đó là cảnh trong một bộ phim. Một người phụ nữ lớn tuổi đang ngồi ở hiên trước (tôi nghĩ đây là từ chính xác) của một ngôi nhà nhỏ tối tăm. Bà ta ngồi trên thứ được gọi là “ghế ngựa” và ôm một đứa bé trong lòng. Sau đó, với vẻ lo lắng, bà bế đứa bé lên và cảnh phim biến mất trong giây lát, như thường khi, rồi dòng chữ này xuất hiện trên nền đen: “Em bé của Ellen bị bệnh bạch hầu!” Và khi từ “em bé” xuất hiện trên màn ảnh, tôi chợt nhận ra từ rất lâu, lâu tới nỗi không nhớ nổi, tôi đã không nhìn thấy một em bé thực thụ! Biết bao nhiêu hoàng , bao nhiêu lam , bao nhiêu hồng : Bao nhiêu năm tôi không đếm nổi đã trôi qua, mà tôi chưa từng gặp một đứa bé nào.
Những đứa trẻ đã đi đâu? Và có ai khác từng hỏi câu hỏi này không?
Thế rồi một giọng nói từ quá trình đào tạo thời thơ ấu của tôi cất lên: “Đừng hỏi - Thư giãn đi.”
Nhưng tôi không thể thư giãn.
Tôi sẽ tạm gác vấn đề này sang một bên và dùng một ít mê dược.
NGÀY THỨ MƯỜI CHÍN
Mười chín. Đây là con số lớn nhất mà tôi từng sử dụng. Trong đời tôi chưa có thứ gì cần đếm nhiều hơn thế trước đây.
Nhưng tôi nghĩ vẫn có thể đếm các lam và hoàng trong cuộc đời của một con người. Chẳng để làm gì, tất nhiên rồi, nhưng tôi có thể làm điều đó.
Thường thì trong các bộ phim tôi thấy những con số lớn. Chúng hay gắn với các cuộc chiến tranh. Con số 1918 đặc biệt thông dụng. Tôi không rõ nó thể hiện điều gì. Có khi nào là một cuộc chiến tranh kéo dài 1918 ngày không? Nhưng chẳng có gì tồn tại lâu đến thế cả. Tâm trí tôi cuống cuồng nghĩ ra bất cứ thứ gì lâu dài hoặc to lớn hoặc qui mô như thế.
“Đừng hỏi - Thư giãn đi.” Phải, tôi cần phải thư giãn.
Tôi cần nhớ ăn một vài thanh đậu nành và xốt thịt trước khi dùng mê dược. Hai đêm liền tôi đã quên ăn.
Đôi khi vào ban đêm tôi nghiên cứu cuốn Từ điển để học từ mới, và có những lúc điều đó giúp tôi cảm thấy buồn ngủ. Nhưng những lúc khác tôi lại thấy mình bị kích thích bởi chữ nghĩa. Thường thì đó là những từ mà tôi không nắm được định nghĩa - chẳng hạn như “bệnh” hoặc “đại số”. Tôi cứ nhẩm đi nhẩm lại chúng trong đầu, và đọc định nghĩa của chúng. Nhưng các định nghĩa này luôn chứa đựng những chữ mà tôi không hiểu nghĩa khác, khiến tôi càng hứng thú hơn. Và tôi buộc phải dùng mê dược sau tất cả những chuyện đó.
Tôi không biết làm thế nào để thư giãn.
Vườn thú từng giúp tôi thư giãn, nhưng dạo sau này tôi không tới đó nữa vì bọn trẻ con kia. Không phải tôi phản đối robot, dĩ nhiên rồi. Nhưng mấy đứa trẻ đó rất là...
NGÀY THỨ HAI MƯƠI MỐT
Hôm nay tôi đã đến vườn thú và nói chuyện với người phụ nữ mặc váy đỏ. Cô ngồi trên băng ghế gần chuồng cự đà. Tôi ngồi xuống bên cạnh cô và hỏi:
- Con trăn đó là robot à?
Cô gái quay sang nhìn tôi. Có gì đó thật lạ lùng, bí hiểm trong đôi mắt cô - như thể chúng là mắt của một người bị thôi miên. Tôi có thể thấy cô đang suy nghĩ, cô không dùng ma túy. Cô gái không nói gì suốt một lúc lâu, tôi bắt đầu nghĩ cô sẽ không trả lời và sắp thu mình vào trong sự riêng tư trở lại, như cách chúng tôi được dạy khi bị người lạ quấy rầy. Tuy nhiên, ngay khi tôi nhún vai đứng dậy, cô lên tiếng:
- Tôi nghĩ tất cả đều là robot.
Tôi nhìn cô gái, bàng hoàng. Chưa từng có ai nói năng như vậy. Nhưng đó cũng là suy nghĩ của tôi trong nhiều ngày qua. Tôi bối rối đến nỗi đứng dậy bỏ đi, không cả nói lời cảm ơn cô gái.
Khi rời khỏi Nhà Bò sát, tôi lại trông thấy năm đứa trẻ. Chúng đi cùng nhau, tất cả đều cầm kem ốc quế trên tay, đôi mắt mở to đầy háo hức. Tất cả bọn chúng đều nhìn tôi, mỉm cười. Tôi vội quay đi...
NGÀY THỨ HAI MƯƠI HAI
Một trong những điểm hấp dẫn thường xuyên xuất hiện trong các bộ phim là “gia đình”. Đó dường như là một sự thu xếp rất phổ biến vào thời xưa. “Gia đình” là một nhóm người thường xuyên xuất hiện cùng nhau, thậm chí có vẻ như sống cùng nhau. Luôn luôn có một người nam và một người nữ - trừ khi một trong hai người đã chết; nhưng ngay cả như thế thì sau khi chết người đó vẫn thường được nhắc đến, và hình ảnh của người chết (“ảnh chụp”) sẽ được tìm thấy ở gần người sống, trên các bức tường hoặc những thứ tương tự. Tiếp đó là những người trẻ hơn, những đứa con ở nhiều độ tuổi khác nhau. Và điều đáng ngạc nhiên, điều dường như là đặc trưng của những “gia đình” này, nằm ở chỗ người nam và người nữ luôn là bố mẹ của tất cả những đứa con ! Đôi khi cũng có những người lớn tuổi, và họ hình như luôn là bố mẹ của người nam hoặc người nữ kia! Tôi không biết phải nghĩ thế nào về chuyện này. Tất cả mọi người dường như đều có liên quan với nhau .
Không dừng lại ở đó, hầu hết mạch cảm xúc của các bộ phim như vậy dường như đều có mối liên hệ chặt chẽ với sự “có liên quan” ấy. Trong phim chúng được coi là tốt.
Tất nhiên, tôi biết mình không nên cố gắng trở thành người phán xét đạo đức của bất kì ai. Và càng không phải của những người thuộc một thời kì khác. Tôi biết cuộc sống trong phim trái ngược với phương châm “một mình là tốt nhất”, nhưng đó không phải là thứ làm tôi khó chịu. Nói cho cùng, tôi đã từng dành nhiều ngày bên những người khác - thậm chí đã gặp cùng những học viên hàng ngày trong nhiều tuần. Không phải lỗi Vi phạm Cự li tiếp xúc khiến tôi khó chịu ở những “gia đình” đó, mà có lẽ là việc mọi người chấp nhận những rủi ro như vậy. Họ dường như dành rất nhiều cảm xúc cho nhau.
Tôi bị sốc và cảm thấy buồn vì điều đó.
Và họ nói chuyện rất nhiều với nhau. Môi của họ luôn mấp máy, mặc dù không có tiếng nói nào vang lên.
NGÀY THỨ HAI MƯƠI BA
Đêm qua khi đi ngủ tôi đã nghĩ đến những rủi ro mà người xưa đã chấp nhận trong “gia đình” họ, và sáng nay tôi đã xem bộ phim cho thấy những rủi ro đó có thể nghiêm trọng đến mức nào.
Trên màn ảnh, một ông già sắp chết. Ông ta nằm trên một chiếc giường kì dị kiểu cổ tại nhà - không phải trong một trung tâm chờ chết của bệnh viện - và được bao quanh bởi gia đình mình. Trên tường có treo một chiếc đồng hồ quả lắc. Có những cô gái, chàng trai, đàn ông, phụ nữ, người già - nhiều hơn số lượng mà tôi có thể đếm được. Và tất cả đều không vui, tất cả đều khóc. Thế rồi khi ông ta chết, hai trong số những cô gái trẻ hơn tự quăng mình lên người ông ta và thở hào hển trong những tiếng nấc câm lặng. Dưới chân giường có một con chó, và khi người đàn ông chết, nó rúc đầu vào chân tỏ vẻ đau buồn. Rồi chiếc đồng hồ dừng lại.
Toàn bộ cảnh tượng đau đớn không cần thiết đó khiến tôi khó chịu đến nỗi bỏ dở bộ phim và đi đến vườn thú.
Tôi đi thẳng đến Nhà Bò sát, và người phụ nữ đã có mặt ở đó. Ngoài cô chỉ có hai ông già mặc áo len xám đi xăng đan đang hút cần và gật gù trước những con cá sấu trong cái hồ ở trung tâm gian phòng. Cô gái đi lững thững, tay cầm một cái bánh mì sandwich, và dường như không nhìn bất cứ thứ gì.
Tôi vẫn còn chưa hết khó chịu - bởi bộ phim cũng như tất cả những gì đã xảy ra kể từ khi tôi bắt đầu ghi âm nhật kí - và trong một phút bốc đồng, tôi đã đến gần cô để hỏi:
- Tại sao cô luôn ở đây?
Cô gái dừng lại, quay người nhìn tôi với ánh mắt xuyên thấu, bí hiểm đó. Tôi thoáng nghĩ có thể cô đã bị mất trí. Nhưng điều đó là không thể, đội Tầm soát sẽ phát hiện ra nếu cô rơi vào trường hợp đó, và cô sẽ bị tống vào Trại, bị nhồi đầy rượu gin cùng Valium phóng thích kéo dài. Không, cô hẳn phải tỉnh táo. Tất cả những người đi bộ thoải mái giữa những người khác đều tỉnh táo.
- Tôi sống ở đây. - Cô gái đáp.
Không ai sống ở vườn thú cả, theo tôi được biết. Và mọi công việc của vườn thú đều được đảm trách, giống như ở tất cả các cơ quan công cộng, bởi những con robot thuộc loại này hay loại khác.
- Tại sao? - Tôi hỏi.
Đó là một sự Xâm phạm Quyền Riêng tư. Nhưng bằng cách nào đó, tôi cảm thấy qui định đó không áp dụng được ở đây. Có lẽ là do tất cả những loài bò sát đang trườn quanh và uốn éo trong các chuồng kính xung quanh chúng tôi. Cùng những tán lá giả sum suê, xanh mướt trên những thân cây nhân tạo.
- Tại sao không? - Cô hỏi lại, rồi nói tiếp. - Hình như anh cũng đến đây rất nhiều lần.
Tôi cảm thấy mình đỏ mặt:
- Đúng vậy. Tôi đến đây mỗi khi cảm thấy... khó chịu.
Cô gái nhìn tôi chằm chằm:
- Anh không dùng thuốc à?
- Có chứ. Nhưng tôi vẫn đến vườn thú.
- Chà! - Cô gái thốt lên. - Tôi không dùng thuốc.
Giờ thì đến lượt tôi nhìn chằm chằm vào cô. Đó là một chuyện không thể tin nổi.
- Cô không uống thuốc sao?
- Tôi từng làm thế. Nhưng giờ thì chúng làm tôi phát ốm. - Nét mặt cô dịu đi một chút. - Ý tôi là, tôi nôn mửa mỗi khi uống thuốc.
- Nhưng chẳng phải có loại thuốc dành cho chuyện đó hay sao? Ý tôi là, một robot dược sĩ có thể...
- Tôi đoán là có. Nhưng không lẽ tôi không thể nôn ra một viên thuốc chống nôn hay sao?
Tôi không biết mình có nên mỉm cười với điều đó hay không, nhưng tôi đã cười. Mặc dù tất cả chuyện này thật sốc.
- Cô có thể tiêm...
- Thôi quên đi. - Cô nói. - Hãy thư giãn.
Đột nhiên cô quay lại và nhìn về phía chuồng cự đà. Những con cự đà, như mọi khi, thật sống động. Chúng nhảy quanh như những con cóc trong chuồng kính. Cô cắn một mẩu bánh mì và bắt đầu nhai.
- Vậy là cô sống ở đây. Tại vườn thú? - Tôi hỏi.
- Đúng vậy. - Cô ấy đáp giữa những cái nhai.
- Sống như vậy cô không thấy... chán sao?
- Chúa ơi, có chứ.
- Vậy tại sao cô ở lại?
Cô gái nhìn tôi như thể không định trả lời. Tất nhiên, tất cả những gì cô phải làm là nhún vai và nhắm mắt lại, và theo Phép Lịch sự Bắt buộc tôi sẽ để cho cô yên. Bạn không thể xâm phạm Tính cá nhân mà không bị trừng phạt.
Nhưng dường như cô gái quyết định trả lời tôi, và tôi thấy thật cảm kích - tôi không biết tại sao - khi nhận ra cô sẽ trả lời.
Cô đáp:
- Tôi sống ở sở thú. Bởi vì tôi không có việc làm và cũng không có nơi nào khác để sống.
Hình như tôi đã nhìn chằm chằm cô gái trong một phút. Rồi tôi hỏi:
- Tại sao cô không bỏ đi?
- Tôi đã làm điều đó. Tôi đã sống trong Trại lưu giữ Người bỏ cuộc trong ít nhất hai hoàng . Cho đến khi tôi bắt đầu nôn mửa vì hút cần và dùng thuốc.
Tất nhiên tôi đã nghe nhắc đến cần sa của Trại lưu giữ Người bỏ cuộc. Nó được trồng trên những cánh đồng rộng lớn bằng thiết bị tự động và được cho là nặng đến khó tin. Nhưng tôi chưa bao giờ nghe nói có ai phát ốm vì nó.
- Nhưng khi cô tái hòa nhập... cô không được giao việc sao?
- Tôi không tái hòa nhập.
- Cô không...
- Không hề.
Sau đó, cô cho nốt mẩu bánh mì cuối cùng vào miệng và lại quay mặt về phía chuồng cự đà, nhai nhóp nhép. Trong một thoáng, tôi không cảm thấy hoang mang mà chỉ giận dữ. Những con cự đà ngu ngốc nhảy loi choi kia!
Rồi tôi nghĩ, mình nên tố giác cô ta . Nhưng ngay lúc đó tôi cũng biết mình sẽ không làm thế. Đáng lẽ ra tôi cũng phải tố giác vụ tự thiêu tập thể, như bất kì người có trách nhiệm nào. Nhưng tôi đã không làm. Có lẽ chẳng ai làm cả. Chẳng ai bị tố giác nữa.
Khi đã ăn xong, cô gái quay sang tôi và nói:
- Tôi bỏ trốn khỏi trường nội trú sau đó tới đây. Hình như không ai để ý đến tôi.
- Nhưng cô sống bằng cách nào? - Tôi thắc mắc.
- Ồ. Dễ ợt. - Đôi mắt của cô gái bớt xuyên thấu đi một chút. - Chẳng hạn nhé, bên ngoài tòa nhà này, có một máy bán bánh mì sandwich. Loại hoạt động với thẻ tín dụng. Và vào mỗi buổi sáng, một robot phục vụ sẽ đến để chất bánh mì tươi vào máy. Tôi phát hiện ra trong lần đầu tiên đến đây, nửa hoàng trước, rằng robot luôn mang theo nhiều bánh mì hơn sức chứa của máy. Anh ta là một robot cấp thấp, vì vậy anh ta chỉ đứng đó với năm chiếc bánh mì thừa trên tay. Và tôi tước chúng từ anh ta. Đó là những gì tôi ăn trong ngày. Nước thì tôi uống từ các đài phun.
- Và cô không làm việc?
- Anh biết chuyện công ăn việc làm giống như thế nào trong những ngày này rồi đấy. - Cô gái nhìn tôi chằm chằm. - Họ thậm chí phải tắt bớt robot đi để có việc cho chúng ta.
Tôi biết đó là sự thật. Tất cả đều biết, tôi tin vậy. Nhưng chưa ai thực sự nói ra điều đó.
- Cô có thể làm vườn... - Tôi nói.
- Tôi không thích làm vườn. - Cô đáp.
Tôi bước đến và ngồi xuống băng ghế nằm cạnh chuồng trăn. Hai ông già đã rời đi, và chúng tôi chỉ còn lại một mình. Tôi không nhìn cô gái.
- Vậy cô làm gì? - Tôi hỏi. - Cô làm gì khi buồn chán? Ở đây không có ti vi. Và cô không thể sử dụng các Cơ sở giải trí ở New York khi không có thẻ tín dụng. Không có cách nào được nhận thẻ tín dụng nếu không có việc làm...
Không có câu trả lời nào cất lên, và trong một phút tôi đã nghĩ cô không nghe thấy tôi nói. Nhưng rồi tôi nghe thấy tiếng bước chân của cô gái, và trong giây lát sau cô đã ngồi xuống bên cạnh tôi.
- Dạo gần đây. - Cô nói. - Tôi đang cố gắng ghi nhớ cuộc đời mình.
“Ghi nhớ cuộc đời mình.” Cụm từ kì quặc đến mức tôi không thốt nên lời. Tôi chỉ nhìn con trăn đang trườn qua các cành cây, tất cả đều không phải đồ thật.
- Anh nên thử làm chuyện đó. - Cô nói. - Đầu tiên hãy nhớ một điều đã xảy ra, sau đó nhẩm đi nhẩm lại nó. Đó là sự “ghi nhớ”. Nếu duy trì điều đó đủ lâu, tôi sẽ nhớ tất cả và tôi sẽ nghĩ về nó như một câu chuyện, hoặc một bài hát.
Chúa ơi! Tôi thầm nghĩ. Cô ta không thể tỉnh táo được. Nhưng cô ta vẫn ở đây, đội Tầm soát đã để cô ta yên. Thế rồi tôi nghĩ: Là do không dùng ma túy. Điều gì có thể xảy ra với tâm trí cô ta...?
Tôi đứng dậy khỏi băng ghế, cáo lỗi rồi bỏ đi.
NGÀY THỨ HAI MƯƠI TƯ
“Ghi nhớ cuộc đời mình.” Tôi không thể xóa cụm từ này ra khỏi tâm trí. Suốt quãng đường từ Bronx qua Manhattan rồi về đến thư viện trên xe buýt, tôi nhìn vào khuôn mặt của những con người dễ chịu, rụt rè, tẻ nhạt đang ngồi, cẩn thận giữ khoảng cách với nhau, trên những hàng ghế xe buýt, hoặc đi lại trên các đại lộ, né tránh ánh mắt của nhau. Ghi nhớ cuộc đời mình, tôi cứ tiếp tục nghĩ trong đầu. Tôi không thể phớt lờ, dù không thể hiểu hết được ý nghĩa của nó.
Khi xe buýt đến gần thư viện và tôi gửi cho nó mong muốn dừng lại ở cầu thang cuốn phía trước, tôi nhìn thấy một số lượng lớn người trên đường, và đột nhiên một cụm từ khác thay thế cụm từ đã liên tục ám ảnh trong tâm trí tôi nãy giờ: Tất cả những người trẻ tuổi đang ở đâu?
Bởi vì trong đám đông kia không có ai trẻ cả. Mọi người đều ít nhất cũng bằng tuổi tôi. Và tôi lớn tuổi hơn nhiều ông bố trong các bộ phim. Tôi lớn tuổi hơn Douglas Fairbanks trong Thuyền trưởng Blood . Lớn hơn nhiều.
Tại sao không có ai trẻ hơn tôi. Có đầy những người trẻ trong các bộ phim tôi xem. Họ chiếm số lượng áp đảo.
Có chuyện gì bất thường ở đây?
NGÀY THỨ HAI MƯƠI LĂM
Tôi lớn lên tại trường nội trú cùng với những nam sinh và nữ sinh khác, không có lớp nào nhỏ hơn lớp chúng tôi. Chúng tôi là những đứa nhỏ nhất. Tôi không biết có bao nhiêu người trong chúng tôi trong cụm tòa nhà cũ kĩ bằng nhựa Permo gần Toledo đó, vì chúng tôi chưa bao giờ được đếm và bản thân tôi cũng không biết đếm.
Tôi nhớ ở đó có một tòa nhà cũ yên tĩnh được gọi là Tịnh xá Nhi đồng, nơi chúng tôi sẽ đến tham gia buổi huấn luyện về thế giới riêng và sự thanh tịnh trong khoảng một giờ mỗi ngày. Ý tưởng là ngồi giữa một căn phòng đầy trẻ em ở độ tuổi của bạn và quên đi sự hiện diện của chúng, trong khi quan sát những vệt sáng đầy màu sắc chuyển động trên một màn hình ti vi lớn ở cuối phòng. Những liều mê dược nhỏ được phục vụ bởi một robot cấp thấp - Lớp Hai - vào đầu mỗi buổi. Tôi nhớ mình đã phát triển bản thân đến mức có thể vào lớp sau bữa sáng, ở lại một giờ sau khi viên thuốc ngọt ngào tan trong miệng, và lên đường đến lớp học tiếp theo của mình, mà không hề hay biết về sự hiện diện của bất kì ai khác - mặc dù chắc hẳn phải có hàng trăm đứa trẻ khác đi cùng tôi.
Tòa nhà đó đã bị giải thể bởi một đội gồm các cỗ máy lớn và robot Lớp Ba khi chúng tôi tốt nghiệp, chuyển lên chương trình đào tạo thanh thiếu niên. Rồi khi tôi được đưa tới Kí túc xá Người lớn sau đó một lam , Kí túc xá Nhi đồng của chúng tôi cũng bị phá nốt.
Chúng tôi có lẽ là thế hệ trẻ em cuối cùng.
NGÀY THỨ HAI MƯƠI SÁU
Hôm nay tôi lại chứng kiến một vụ tự thiêu khác, vào giữa trưa.
Nó xảy ra tại quán Burger Chef trên Đại lộ số Năm. Tôi thường tới đó để ăn trưa, vì thẻ tín dụng mà tôi được Đại học New York cấp cho phép chi xài nhiều hơn nhu cầu thực sự. Tôi vừa ăn xong chiếc burger rong biển và đang lấy một cốc trà thứ hai từ ấm samovar thì cảm thấy một luồng gió phả tới phía sau lưng mình và nghe ai đó thốt lên “Chúa ơi!” Tôi quay lại với cốc trà trên tay, và ở phía cuối nhà hàng, có ba người ngồi trong ô của họ đang bốc cháy đùng đùng. Ngọn lửa sáng rực trong không gian tối khiến lúc đầu thật khó để nhìn ra ba con người đang cháy. Nhưng dần dần tôi thấy được họ, ngay khi khuôn mặt họ biến dạng và chuyển sang màu đen. Họ đều là những người già - phụ nữ, tôi nghĩ vậy. Và dĩ nhiên chẳng có dấu hiệu đau đớn nào. Trông họ cứ như đang chơi đánh bài, trừ việc bốc cháy đến chết.
Tôi muốn hét lên, nhưng dĩ nhiên tôi đã không làm thế. Tôi cũng định ném cốc trà vào mấy thi thể già nua tội nghiệp ấy, nhưng Quyền Riêng tư của họ không cho phép tôi làm điều đó. Thế nên tôi chỉ đứng nhìn.
Hai robot phục vụ bước ra khỏi bếp và đứng cạnh họ - để bảo đảm ngọn lửa không lan ra, tôi đoán thế. Không một người nào nhúc nhích. Không ai nói gì.
Cuối cùng, khi mùi khét trở nên không thể chịu nổi, tôi rời quán. Nhưng tôi khựng lại khi thấy một người đàn ông đứng nhòm qua cửa kính, quan sát ba kẻ tự thiêu. Tôi đứng cạnh ông ta trong chốc lát. Rồi tôi thốt lên:
- Thật không thể hiểu được.
Người đàn ông nhìn tôi, thoạt đầu với vẻ mặt vô cảm. Sau đó ông ta nhíu mày tỏ ra ghê tởm, nhún vai và nhắm mắt lại.
Mặt tôi đỏ lựng vì xấu hổ khi nhận ra mình đang khóc. Khóc giữa nơi công cộng.
NGÀY THỨ HAI MƯƠI CHÍN
Tôi bắt đầu thực sự viết ra những dòng này. Hôm nay là một ngày nghỉ và tôi không phải xem phim. Điều tôi làm là lấy vài tờ giấy vẽ và một cây bút trong lớp Thể hiện bản thân rồi bắt đầu viết ra những gì được thu âm trong nhật kí của mình, bắt chước các mẫu tự to ở trang đầu cuốn Từ điển . Ban đầu chuyện đó khó đến nỗi tôi cảm thấy mình sẽ không bao giờ theo kịp: Tôi phải tua lại vài từ trong máy ghi âm để viết chúng xuống giấy. Nó nhanh chóng trở thành một cực hình. Và việc cố gắng đánh vần những từ dài là điều khó khăn nhất. Một số từ tôi đã học từ các bộ phim, và may mắn thay, một số từ cực kì dài tôi cũng vừa mới xem trong Từ điển nên có thể tìm thấy chúng ở đó, dù phải mất một chút công sức.
Tôi tin có một nguyên tắc sắp xếp các từ trong Từ điển - để chúng có thể được tìm thấy một cách dễ dàng nhưng tôi chưa nắm bắt được. Có nhiều trang, tất cả các mục từ đều bắt đầu bằng cùng một chữ cái, thế rồi rất đột ngột, chúng chuyển sang bắt đầu bằng một chữ cái hoàn toàn khác.
Sau nhiều giờ viết lách, bàn tay tôi trở nên đau nhức và không thể cầm bút được nữa. Tôi phải uống vài viên giảm đau, nhưng khi uống xong, tôi phát hiện ra chúng làm cho tôi khó tập trung hơn vào việc mình đang làm, khiến tôi quên nhiều mặt chữ.
Tôi từng đoán ma túy có thể tác động lên một con người như thế này, nhưng chưa bao giờ có một chứng cứ đáng thuyết phục đến vậy.
NGÀY THỨ BA MƯƠI MỐT
Hôm nay tôi không đến vườn thú.
Tôi cặm cụi chép các từ ra giấy suốt cả ngày, xuyên trưa, cho đến hiện tại, khi ngoài trời đã tối. Cơn đau ở tay tôi trở nên dữ dội, nhưng tôi không uống giảm đau, và sau một khoảng thời gian, dường như tôi quên bẵng nó. Thật ra có một - nói sao nhỉ? - một sự tưởng thưởng nào đó trong việc tôi ngồi đây, với bàn tay và cổ tay đau nhức, chép từng chữ ra một tờ giấy. Tôi đã chép lại nhật kí đến ngày thứ hai mươi chín, và mặc dù tôi đang ngồi đây, thu âm những điều này, tôi đã bắt đầu nghĩ tới việc lấy thêm giấy vào ngày mai để tiếp tục công việc ghi chép.
Có một thứ không ngừng nhấn nhá trong đầu tôi. Đó chính là cụm từ “Ghi nhớ cuộc đời mình” mà người phụ nữ ở Nhà Bò sát đã nói hôm nọ. Khi chép lại nó chừng một tiếng trước, tôi có thể thấy điều gì đó trong những con chữ, điều khiến tôi mất một lúc mới nắm bắt được hoàn toàn. Việc mà tôi đang làm chính là ghi nhớ cuộc đời mình. Viết ra giấy không giống như nói vào máy ghi âm, nó là một hành động trí não mà người phụ nữ đó gọi là “ghi nhớ”. Tôi dùng tay sau khi chép hết cụm từ “Ghi nhớ cuộc đời mình”, và quyết định làm một việc nho nhỏ. Tôi lấy cuốn Từ điển , lật trang cho tới khi các mục từ đều bắt đầu bằng mẫu tự “G”, và xem xét chúng. Một lúc sau tôi nhận ra có một kiểu sắp xếp nhất định, vì những từ bắt đầu bằng “G” và tiếp nối bởi “H” đều ở cạnh nhau. Tôi tiếp tục mày mò cho tới khi, sau một hồi tìm kiếm, tôi tìm thấy từ “Ghi nhớ”. Nó được định nghĩa là “hành động học thuộc lòng”. Lạ lùng thay, người ta dùng từ “lòng”, “học thuộc lòng”. Dù không hiểu cặn kẽ, nhưng từ “lòng” có vẻ phù hợp, vì tôi biết trong lòng mình luôn luôn tiếp nhận mọi thứ. Luôn như vậy.
Trong đời hình như tôi chưa bao giờ thấy, nghe và suy nghĩ một cách sáng rõ đến thế. Có khi nào là do hôm nay tôi không dùng ma túy? Hay là do hành động viết lách này? Cả hai đều mới mẻ và liên quan mật thiết với nhau đến nỗi tôi không thể chắc chắn là do cái nào. Thật lạ lùng khi cảm thấy như vậy. Có một sự say mê trong đó, nhưng linh cảm rủi ro cũng khiến tôi khá hoảng sợ.
NGÀY THỨ BA MƯƠI BA
Đêm qua tôi mất ngủ. Tôi nằm thức trên giường, mắt nhìn trân trối lớp thép không gỉ trên trần nhà. Vài lần tôi đã định gọi robot tạp vụ để yêu cầu cung cấp mê dược, nhưng rồi tôi quyết tâm không làm như thế. Có vẻ như tôi thích tận hưởng sự mất ngủ. Tôi ngồi dậy một lúc, rồi bắt đầu đi lại quanh phòng. Nó khá sáng sủa với một tấm thảm dày và nặng màu tím. Một bàn làm việc được gắn với giường ngủ của tôi, và trên bàn là cuốn Từ điển . Mọi ý nghĩa được khóa trong các từ ngữ, và cùng với nó là sự hoài niệm quá khứ!
Tôi quyết định đi ra ngoài. Đêm đã khuya. Ngoài đường không còn ai, và mặc dù New York khá an toàn, tôi vẫn cảm thấy căng thẳng, thậm chí có phần sợ hãi. Trong đầu tôi có một suy nghĩ mà tôi không thể gạt bỏ, và tôi đã quyết định không dùng mê dược. Tôi dùng ý nghĩ để triệu tập một chiếc xe buýt giao cảm, rồi ra lệnh cho nó chở mình tới vườn thú Bronx.
Ngồi một mình trên xe, tôi quan sát qua cửa sổ trong khi nó đảo một vòng qua những khu nhà và bãi đất trống của Manhattan. Tôi nhìn ánh đèn trong các tòa nhà, nơi một số người vẫn còn đang ngồi xem ti vi. New York rất yên bình, đặc biệt là vào ban đêm, nhưng tôi nghĩ tới những con người đang xem ti vi, những mảnh đời ấy, và tự nhủ, Họ chẳng biết gì về quá khứ của chính họ, cũng như của bất kì ai khác . Dĩ nhiên điều đó là sự thật, tôi luôn biết như vậy. Nhưng trong đêm khuya, trên chiếc xe buýt chạy xuyên qua New York hướng tới vườn thú, tôi càng cảm nhận điều đó rõ hơn, và tính chất lạ lùng của nó bắt đầu làm tôi choáng ngợp.
Nhà Bò sát tối om nhưng không bị khóa. Tôi gây ra tiếng động khi mở cửa bước vào và nghe thấy cô gái ngạc nhiên cất tiếng:
- Ai đó?
- Là tôi đây. - Tôi đáp.
Tôi nghe thấy tiếng cô gái khẽ thốt lên rồi nói:
- Chúa ơi! Giờ thì cả vào ban đêm.
- Vâng. - Tôi đáp.
Sau đó tôi thấy một ngọn lửa hộp quẹt hiện lên, chập chờn trước khi ổn định lại, và nhận ra cô gái vừa thắp một ngọn nến. Chắc cô lấy nó ra từ trong túi. Cô đặt ngọn nến lên băng ghế.
- Ồ, thật mừng là cô có nến. - Tôi nói.
Hình như cô nằm ngủ trên ghế, vì cô duỗi người trước khi đáp:
- Lại đây. Anh có thể ngồi xuống đây.
Tôi bèn tiến lại ngồi cạnh cô. Tôi có thể cảm thấy đôi tay mình run rẩy. Tôi thầm mong cô không để ý điều đó. Suốt một lúc lâu chúng tôi im lặng ngồi trên ghế. Tôi không thể nhìn thấy lũ bò sát trong các ngăn chuồng bằng kính, chúng cũng không gây ra tiếng động nào. Căn phòng hoàn toàn im lặng. Ánh nến chuyển động trên khuôn mặt cô gái. Cuối cùng cô cất tiếng:
- Lẽ ra anh không được vào vườn thú ban đêm.
- Cô cũng thế.
Cô gái nhìn xuống đôi tay của mình đang đặt trên đùi. Có gì đó dễ thương trong cử chỉ ấy. Tôi đã từng xem nó nhiều lần trong các bộ phim. Mary Pickford . Cô ngước lên nhìn tôi. Ánh mắt mãnh liệt của cô được ánh nến làm dịu đi đôi chút.
- Sao anh lại đến đây? - Cô hỏi.
Tôi nhìn cô một lúc trước khi đáp:
- Là do câu nói của cô hôm nọ. Tôi không thể gạt nó ra khỏi đầu. Cô đã nói rằng cô đang ghi nhớ cuộc đời mình.
Cô gái gật đầu.
- Lúc đầu tôi không hiểu ý nghĩa của câu nói đó. - Tôi nói tiếp. - Nhưng giờ tôi nghĩ mình đã hiểu. Thật ra, tôi cũng đang cố gắng làm việc đó, hoặc một điều tương tự như thế. Không phải quãng đời thơ ấu, không phải lúc ở trường nội trú hay trên đại học, mà quãng đời hiện tại của tôi, vừa bắt đầu cách đây chưa lâu. Tôi đang cố ghi nhớ nó. - Tôi ngừng lại, không biết phải nói tiếp như thế nào.
Cô gái chăm chú quan sát khuôn mặt tôi.
- Vậy thì tôi không phải người duy nhất. - Cô nói. - Có lẽ tôi đã khởi xướng một điều gì đó.
- Phải, có lẽ vậy. Nhưng tôi có một thứ cô sẽ thấy hữu ích. Cô biết máy ghi âm là gì không?
- Hình như có. Có phải là thứ anh nói vào đó và nó lặp lại không? Giống như khi anh gọi tới thư viện để hỏi thông tin và giọng nói trả lời anh không phải của một người trực tiếp nói ra ngay lúc đó, mà của ai đó đã nói từ trước.
- Ừ, đại loại thế. Tôi có một chiếc máy ghi âm. Tôi nghĩ có thể cô sẽ muốn dùng thử nó.
- Anh có đem nó theo không? - Cô hỏi.
- Có.
- Tốt. - Cô nói. - Chuyện này thú vị thật, nhưng chúng ta cần ánh sáng.
Cô đứng dậy rời khỏi vùng sáng của ngọn nến. Tôi nghe tiếng cô mở một thứ gì đó. Rồi một tiếng tách vang lên, gian phòng tràn ngập ánh sáng. Các ngăn chuồng bằng kính bỗng sáng lòa, và cùng với chúng là tất cả các loài bò sát, từ cự đà, trăn, thằn lằn xanh, cho đến cá sấu nâu. Tất cả im lìm không nhúc nhích giữa đám cây cối giả. Cô gái quay lại ngồi cạnh tôi. Lúc này tôi có thể nhìn thấy mái tóc cô rối bù, da mặt cô có những vết hằn do nằm ngủ trên băng ghế. Nhưng cô vẫn có vẻ tươi tắn và rất tỉnh táo.
- Chúng ta cùng xem xét chiếc máy ghi âm nào. - Cô nói.
Tôi lục trong túi và lấy máy ra.
- Nó đây. Tôi sẽ chỉ cho cô cách thức hoạt động của nó.
Chúng tôi đã ngồi đó suốt một giờ đồng hồ. Cô gái bị mê hoặc bởi chiếc máy ghi âm và xin phép được giữ nó một khoảng thời gian, nhưng tôi đáp rằng điều đó không thể được, tôi cần nó cho công việc của mình, và máy ghi âm rất khó kiếm. Suýt nữa tôi đã kể với cô về việc đọc chữ và ghi chép, nhưng có gì đó đã ngăn tôi lại. Có lẽ tôi sẽ kể cho cô nghe vào một thời điểm khác. Khi tôi nói đã đến lúc mình phải về, cô hỏi:
- Nhà anh ở đâu? Anh làm việc tại đâu?
- Tại Đại học New York. - Tôi đáp. - Nhưng tôi chỉ làm công việc thời vụ trong mùa Hè này. Tôi sống ở Ohio.
- Anh làm công việc gì ở trường đại học?
- Tôi làm việc với các cuộn phim xưa. Cô có biết phim là gì không?
- Cuộn phim á? Không. - Cô đáp.
- Các cuộn phim cũng giống như băng hình ấy. Chúng ghi lại những hình ảnh chuyển động. Chúng được sử dụng trước khi người ta phát minh ra ti vi.
Đôi mắt cô mở to.
- Trước cả khi ti vi được phát minh sao?
- Phải. - Tôi đáp. - Thời xưa lắc xưa lơ, khi ti vi còn chưa ra đời.
- Chúa ơi. - Cô thốt lên. - Làm sao anh biết được chuyện đó?
Thật ra, dĩ nhiên là tôi không biết, nhưng qua các bộ phim đã xem, tôi đoán chúng xuất hiện trước khi ti vi được phát minh, bởi vì trong nhà của các gia đình trên phim chẳng bao giờ có chiếc ti vi nào cả. Khái niệm về sự tiếp nối của các sự kiện và hoàn cảnh - rằng mọi thứ không phải lúc nào cũng giống như hiện tại - là một trong những điểm lạ lùng và gây ngỡ ngàng khi tôi biết được những thứ mà tôi chỉ có thể gọi là quá khứ.
- Thật kì lạ khi nghĩ đến chuyện đã có lúc ti vi không tồn tại. - Cô gái nói. - Nhưng tôi cảm thấy có thể hiểu được. Tôi cũng cảm thấy rằng mình có thể hiểu được rất nhiều điều kể từ khi bắt đầu ghi nhớ cuộc đời mình. Rằng chuyện này xảy ra sau chuyện kia và trên đời có một thứ được gọi là sự thay đổi.
Tôi nhìn cô ấy.
- Trời ơi, đúng thế. - Tôi nói. - Tôi hiểu cô muốn nói gì.
Sau đó tôi cầm lấy chiếc máy ghi âm của mình và ra về. Chiếc xe buýt vẫn đang đợi tôi. Trời đã bắt đầu sáng. Vài con chim đang hót, và bất giác tôi nghĩ, chỉ có chim nhại hót ở bìa rừng . Nhưng lần này, tôi không cảm thấy buồn bã.
Khi bắt đầu đi về phía chiếc xe buýt, tự dưng tôi cảm thấy lúng túng. Như thể cô gái vừa giúp tôi một việc tuyệt vời. Sự căng thẳng khiến tôi phải đến đây giữa đêm khuya giờ đã tan biến như thể tôi vừa dùng hai viên Nembucaine... Nhưng không biết làm thế nào để cảm ơn cô, tôi đành chỉ quay vào trong tòa nhà và nói “chúc ngủ ngon” trước khi ra về một lần nữa.
- Khoan đã. - Cô gái nói.
Tôi quay lại đối diện với cô.
- Tại sao anh không đưa tôi đi cùng?
Câu nói gây ra một cú sốc cho tôi.
- Để làm gì? - Tôi hỏi. - Cô muốn làm tình à?
- Biết đâu đấy. Nhưng không nhất thiết. Tôi muốn... sử dụng máy ghi âm của anh.
- Tôi không biết nữa. - Tôi nói. - Tôi có một thỏa thuận với trường đại học. Tôi không chắc...
Đột nhiên khuôn mặt cô gái thay đổi. Nó trở nên méo mó một cách đáng sợ trong cơn tức giận, giống như trên khuôn mặt của một số diễn viên trong phim.
- Tôi tưởng đâu anh khác. - Giọng cô run rẩy, nhưng có kiểm soát. - Tôi cứ tưởng anh không quan tâm đến việc Vi phạm. Các Qui định ấy.
Sự tức giận của cô khiến tôi lo lắng. Thể hiện sự giận dữ ở nơi công cộng - theo một nghĩa nào đó, chúng tôi đang ở nơi công cộng - là một trong những Vi phạm tồi tệ nhất. Gần tệ như việc tôi khóc bên ngoài quán Burger Chef vậy. Nhớ lại vụ khóc lóc của mình, tôi không biết phải nói gì.
Cô hẳn đã coi sự im lặng của tôi là lời phản đối, hoặc là sự khởi đầu của việc rút vào phạm vi cá nhân, vì cô đột nhiên nói:
- Chờ đã.
Cô bước nhanh ra khỏi Nhà Bò sát trong khi tôi đứng đó, không biết phải làm gì. Giây lát sau cô quay trở lại, cầm theo một cục đá to bằng bàn tay mình. Chắc cô đã lấy nó từ một trong mấy cái bồn hoa phía ngoài. Tôi ngẩn ra nhìn.
- Hãy để tôi chỉ cho anh thấy thế nào là Vi phạm và Qui tắc cư xử. - Cô nói.
Đoạn cô lùi lại và đập cục đá vào mặt kính phía trước của chuồng trăn. Thật đáng kinh ngạc. Một tiếng động lớn vang lên và mặt trước của cái chuồng sụp vào bên trong. Một mảnh kính lớn hình tam giác rơi xuống sàn nhà cạnh chân tôi, vỡ tan tành. Trong khi tôi kinh hoàng đứng đó, cô bước đến gần cái chuồng, thò tay vào trong và kéo con trăn ra. Tôi rùng mình. Sự tự tin của cô thật đáng nể. Điều gì sẽ xảy ra nếu con vật không phải là robot?
Cô lôi đầu con vật ra ngoài, banh miệng nó ra, và cúi xuống để nhìn vào trong. Sau đó, cô chìa cho tôi xem cái đầu trăn đang há miệng đầy dữ dằn. Chúng tôi đã đúng. Trong họng nó là cục pin hạt nhân không thể lẫn vào đâu được của một robot Lớp D.
Quá kinh hoàng trước những gì cô gái làm, tôi không thể thốt nên lời.
Và trong lúc chúng tôi đứng đó, với tư thế có lẽ trông giống như một cảnh trong bộ phim xưa - cô đắc thắng bê con trăn còn tôi kinh hãi nhìn mức độ thiệt hại mà cô vừa gây ra - thì một tiếng động đột ngột vang lên phía sau lưng tôi. Tôi quay lại đúng lúc cánh cửa trên tường nằm giữa hai trong số các chuồng bò sát bật mở. Một robot an ninh cao lớn, kiêu hãnh bước ra ngoài. Vừa tiến về phía chúng tôi, anh ta vừa tuyên bố với giọng lồng lộng:
- Hai người đã bị bắt. Hai người có quyền giữ im lặng và...
Cô gái tỉnh bơ ngước nhìn robot cao to hơn hẳn mình và ngắt lời anh ta:
- Biến đi, robot. - Cô nói. - Câm mồm lại và biến đi.
Robot an ninh im bặt, không nhúc nhích.
- Robot. - Cô ra lệnh. - Mang con trăn chết tiệt này đi sửa đi.
Thế là robot an ninh đưa tay ra, đỡ lấy con trăn từ tay cô gái và lặng lẽ rời khỏi phòng, biến vào trong bóng tối.
Tôi không biết mình cảm thấy gì khi chứng kiến sự việc. Nó hơi giống như khi xem những cảnh bạo lực trong một số bộ phim, chẳng hạn như cảnh trong Không dung thứ , với các tòa nhà bằng đá đồ sộ đổ sập. Bạn chỉ ngây ra nhìn và không cảm thấy gì.
Nhưng sau đó tôi bắt đầu suy nghĩ, và nói với cô gái:
- Đội Tầm soát...
Cô nhìn tôi. Khuôn mặt cô bình thản một cách đáng ngạc nhiên:
- Anh phải biết cách đối phó với những con robot như thế. Chúng được làm ra để phục vụ con người. Giờ đây mọi người dường như đã quên mất điều đó.
Để phục vụ con người? Nghe cũng có vẻ đúng.
- Nhưng còn đội Tầm soát?
- Đội Tầm soát có dò tìm nữa đâu. - Cô gái đáp. - Anh nhìn tôi đây này. Bọn chúng chẳng hề phát hiện ra tôi. Tôi đã ăn cắp bánh mì. Đã ngủ ở nơi công cộng. Đã rời Trại lưu giữ Người bỏ cuộc mà không hề Tái hòa nhập.
Tôi im lặng, sự sững sờ có lẽ đang hiện rõ trên gương mặt tôi.
- Đội Tầm soát chẳng phát hiện được cái quái gì đâu. Có khi chưa từng phát hiện được gì cũng nên. Mà cần gì phải làm thế. Mọi người được dạy dỗ kĩ lưỡng từ bé đến nỗi chẳng ai dám làm gì.
- Người ta tự thiêu mình đến chết. - Tôi nói. - Thường xuyên.
- Thế đội Tầm soát có ngăn được chuyện đó không? Tại sao các Tầm soát viên không phát hiện được những con người đang mất cân bằng và có ý định tự sát để ngăn cản họ?
Tôi chỉ biết gật đầu. Cô nói đúng, dĩ nhiên rồi.
Tôi đứng nhìn các mảnh kính vỡ dưới sàn, rồi nhìn cái cây giả bị gãy trong chuồng trăn. Sau đó tôi nhìn cô gái đứng đó, giữa Nhà Bò sát, trong thứ ánh sáng nhân tạo rực rỡ, với vẻ bình thản, không hề bị ảnh hưởng bởi ma túy, và hoàn toàn mất trí, tôi e là thế.
Cô gái nhìn vào chuồng trăn. Có một quả gì đó treo lủng lẳng trên một nhánh cây trong chuồng. Cô thình lình đưa tay vào trong với tới cái quả, rõ ràng là có ý định hái nó.
Tôi nhìn cô gái chằm chằm. Cành cây khá cao, và cô phải kiễng chân, với tay hết mức có thể, chỉ để chạm được phần dưới quả bằng đầu ngón tay mình. Ánh đèn từ bên trong chuồng chiếu qua lớp váy của cô, khiến cho những đường nét cơ thể hiện lên rõ mồn một. Nó rất đẹp.
Cô đã hái quả xong và đứng đó như một vũ công trong giây lát. Sau đó, cô hạ nó xuống ngang bằng với ngực và lật trở trên tay, quan sát. Thật khó mà xác định đó là quả gì. Có lẽ là một loại xoài. Trong một thoáng tôi nghĩ cô sắp ăn thử, dù tôi biết chắc đó là đồ nhựa, nhưng rồi cô đưa nó cho tôi.
- Cái này chắc chắn không thể ăn được. - Cô nói với giọng điệu bình thản đến bất ngờ, cam chịu.
Tôi đỡ lấy nó từ tay cô.
- Tại sao cô lại hái nó? - Tôi hỏi.
- Tôi cũng không biết. - Cô đáp. - Cảm thấy đó là điều cần làm thôi.
Tôi nhìn cô gái hồi lâu, không nói gì. Bất chấp những nếp nhăn do tuổi tác và thiếu ngủ trên khuôn mặt, và bất chấp mái tóc không được chải chuốt, cô vẫn rất xinh đẹp. Nhưng tôi không cảm thấy ham muốn cô - tôi chỉ kinh ngạc. Và hơi sợ hãi.
Sau đó, tôi nhét quả xoài nhựa vào túi rồi nói:
- Tôi sẽ quay lại thư viện và dùng một ít mê dược.
Cô quay mặt về phía cái chuồng trống không.
- Vâng. - Cô nói. - Chúc ngủ ngon.
⚝ ✽ ⚝
Khi quay trở về phòng mình, tôi đã đặt quả xoài lên trên cuốn Từ điển , rồi nốc ba viên mê dược. Và ngủ tới tận trưa hôm nay.
Quả xoài vẫn nằm ở đó. Tôi muốn nó mang một ý nghĩa gì đó, nhưng không tìm ra.
NGÀY THỨ BA MƯƠI BẢY
Bốn ngày không thuốc. Và chỉ hai điếu cần một ngày - một sau bữa tối, một trước khi đi ngủ. Chuyện này thật lạ. Tôi cảm thấy căng thẳng, và phấn khích, theo một cách nào đó.
Tôi thường xuyên bồn chồn và phải đi lại trên hành lang phía bên ngoài phòng, trong tầng hầm thư viện. Các hành lang dài vô tận, rối rắm như mê cung, rêu phong và hơi ẩm thấp. Khi đi ngang qua các cánh cửa, thỉnh thoảng tôi mở một cái để nhòm vào bên trong, nhớ lại lúc mình tìm thấy cuốn Từ điển , và gần như sợ rằng sẽ tìm thấy một thứ gì đó. Tôi không chắc mình muốn tìm thấy bất cứ thứ gì. Tôi đã có đủ những thứ mới mẻ kể từ khi đến đây.
Nhưng trong các căn phòng chẳng có gì. Một số có những giá sách chiếm trọn bức tường từ sàn lên tận trần, nhưng các ngăn hoàn toàn trống rỗng. Tôi nhìn quanh, trước khi đóng cửa phòng lại và đi tiếp trên hành lang. Mùi mốc luôn hiện diện.
Cánh cửa của các căn phòng có màu sắc khác nhau nên tôi có thể phân biệt được. Phòng tôi có cửa màu tím, tiệp màu với tấm thảm bên trong.
Khi tôi lần đầu tới đây, cảm giác bước đi giữa tòa nhà mênh mông hoang vắng này thật đáng sợ. Nhưng giờ tôi lại cảm thấy một chút yên tâm nhờ nó.
Tôi không còn ngủ trưa như trước đây nữa.
NGÀY THỨ BỐN MƯƠI
Bốn mươi ngày. Tất cả đều đã được viết ra và đặt ngay ngắn trên bàn làm việc trước mặt tôi. Bảy mươi hai trang giấy mĩ thuật. Tất cả đều được tôi chép tay.
Đây là thành tựu lớn nhất trong cuộc đời tôi. Phải, tôi đang sử dụng cụm từ đó: Một thành tựu lớn. Việc học đọc của tôi là một thành tựu. Không ai biết chuyện đó trừ tôi. Spofforth không biết chuyện đó. Nhưng Spofforth là một robot, và một robot có thể học mọi chuyện. Nhưng robot chẳng thể đạt thành tựu gì, robot được tạo ra để làm công việc phải làm, và không thể khác đi.
Hôm nay tôi đã xem vài bộ phim, và gần như không nhớ được từ nào khi đọc vào máy ghi âm.
Tôi không thể gạt hình ảnh cô gái ra khỏi đầu. Tôi thấy cô trên phông nền cây cối và dương xỉ trong những cái chuồng kính phía sau lưng, tay đưa cho tôi quả xoài nhựa.
NGÀY THỨ BỐN MƯƠI MỐT
Hầu hết các quán Burger Chef đều có kích thước nhỏ và xây bằng nhựa Permo, nhưng riêng cái ở Đại lộ số Năm to hơn và làm bằng thép không gỉ. Nó có trang bị đèn màu đỏ trên những cái bàn hình hoa tulip và phát ra tiếng đàn balalaika từ mấy cái loa. Ở hai đầu của quầy tự phục vụ màu đỏ có để những chiếc ấm samovar to bằng đồng, và đội bồi bàn gồm các robot nữ Lớp Bốn được quàng những cái khăn trùm đầu màu đỏ.
Sáng nay tôi đến đó dùng điểm tâm bao gồm trứng tổng hợp đánh nhuyễn và trà nóng. Trong khi tôi xếp hàng chờ phục vụ, người đàn ông đứng trước tôi, một người thấp lùn mặc bộ đồ thể thao màu nâu với khuôn mặt lãnh đạm, cố yêu cầu món Siêu khoai chiên vàng. Ông ta cầm thẻ tín dụng trong tay, tôi nhận thấy nó màu cam, dấu hiệu cho biết ông ta là một nhân vật quan trọng.
Robot phục vụ đứng sau quầy bảo ông khách hàng rằng Siêu khoai chiên vàng bị cấm dùng trong bữa sáng. Đột ngột rũ bỏ vẻ mặt lãnh đạm, ông ta chất vấn:
- Cô nói vậy là sao? Tôi có ăn sáng đâu?
Nữ phục vụ nhìn dán mắt xuống mặt quầy một cách ngu ngơ và đáp:
- Siêu khoai chiên vàng chỉ bán kèm với Siêu món. - Cô ta vừa nói vừa nhìn sang phía một robot giống hệt đang đứng bên cạnh. Cả hai đều có cặp lông mày dính liền bên trên cái mũi. - Chỉ bán kèm với Siêu món. Phải không, Marge?
Tôi nhìn ra phía sau quầy và thấy cả đống khoai tây chiên đựng trong các túi nhựa nhỏ.
Marge đáp:
- Siêu khoai chiên vàng chỉ bán kèm với Siêu món.
Robot đầu tiên quay nhìn ông khách trong giây lát trước khi cụp mắt xuống trở lại.
- Siêu khoai chiên vàng chỉ bán kèm với Siêu món. - Cô ta nói.
Ông khách nổi đóa:
- Được thôi, vậy thì tôi gọi Siêu món cùng với nó.
- Cùng với Siêu khoai chiên vàng?
- Phải.
- Tôi xin lỗi, thưa ông, nhưng máy làm Siêu món hôm nay bị hỏng. Chúng tôi có trứng tổng hợp, thịt khỉ xông khói, và bánh mì nâu vàng.
Trong một thoáng nom ông khách như sắp sửa hét lên. Nhưng thay vào đó, ông ta chỉ thò tay vào túi áo ngực, lấy ra một hộp đựng thuốc nhỏ ánh bạc, và nuốt chửng ba viên mê dược màu xanh lá cây. Giây lát sau, khuôn mặt ông ta đã lãnh đạm trở lại. Ông ta gọi món bánh mì.
NGÀY THỨ BỐN MƯƠI HAI
Tôi đã đưa cô ấy về thư viện! Lúc này cô đang ngủ trên tấm thảm dày, trong một căn phòng trống ở cuối hành lang.
Để tôi kể lại đầu đuôi sự tình.
Tôi đã quyết định sẽ không bao giờ quay lại vườn thú nữa nhưng hôm qua tôi không thể ngưng nghĩ đến cô gái. Không phải chuyện tình dục, hay khái niệm “tình yêu” mà nhiều bộ phim nói đến. Tôi chỉ có thể lí giải rằng cô là người thú vị nhất tôi từng gặp.
Có lẽ, nếu chưa học đọc, tôi sẽ không thấy cô thú vị, mà chỉ thấy sợ.
Hôm qua sau bữa trưa tôi đã đi xe buýt tới vườn thú. Đó là một ngày thứ Năm, do vậy trời có mưa. Phố sẽ không một bóng người, ngoại trừ vài robot cấp thấp đang đi gom rác, tỉa cây trong các công viên và vườn tược công cộng.
Cô không có mặt trong Nhà Bò sát khi tôi đến. Tôi sững người, sợ rằng cô hẳn đã bỏ đi và mình không bao giờ được gặp cô nữa. Tôi cố gắng ngồi xuống và chờ đợi, nhưng rồi bồn chồn đến độ phải đứng lên đi lại. Đầu tiên tôi xem mấy con bò sát. Chuồng trăn đã được sửa, nhưng con trăn không có trong đó. Thay thế cho nó là bốn, năm con rắn chuông. Chúng nhiệt tình rung đuôi với sự háo hức giống y như của mấy đứa trẻ con ăn kem mà tôi từng thấy phía ngoài.
Một lúc sau tôi thấy mệt mỏi với những sinh vật chộn rộn đó, và nhận ra mưa đã tạnh, tôi bèn bước ra ngoài.
Đứa trẻ, hay đúng hơn là một trong số những đứa trẻ đó, đang đứng trên một lối đi. Vì gần như không có người nào đi xem vườn thú vào một ngày mưa, chắc nó đã quyết định chỉ tập trung vào việc diễn trò cho tôi xem. Nó bước tới chỗ tôi và nói:
- Xin chào anh. Xem thú thật là vui đúng không?
Tôi đi ngang qua nó, không trả lời. Tôi có thể nghe thấy nó bám theo sau trong lúc men theo một lối đi đến hòn đảo nhỏ dành cho ngựa vằn có hào nước bao quanh.
- Này anh! - Đứa trẻ cất tiếng. - Hôm nay lũ ngựa vằn trông thật đáng yêu.
Có gì đó trong câu nói đánh thức một cảm xúc mà tôi đã không cho phép mình có từ khi còn bé: Sự giận dữ. Tôi quay người, nhìn thẳng xuống khuôn mặt bầu bĩnh lấm tấm tàn nhang, điên tiết:
- Biến đi, robot.
Thằng bé không nhìn tôi. Nó nói tiếp:
- Lũ ngựa vằn...
- Biến đi.
Thằng bé quay gót và, rất đột ngột, nó nhảy chân sáo bỏ sang một lối đi khác.
Tôi cảm thấy hài lòng. Mặc dù tôi không hoàn toàn chắc chắn nó là một robot. Nghe đồn các robot có thể được nhận diện nhờ vành tai nhuộm màu, nhưng cũng như mọi người, trong đời tôi đã nghe cả đống tin đồn không chính xác.
Tôi cố tập trung chú ý vào bầy ngựa vằn trong chốc lát. Nhưng tôi không thể giữ tâm trí mình ở lại với chúng, vì những cảm xúc hỗn loạn đang có trong lòng: Một mặt tôi mừng rỡ vì đã bịt miệng được đứa trẻ đó hay là con robot đó - mặt khác, tôi có những cảm xúc lẫn lộn về người phụ nữ, trong đó trội hơn cả là nỗi sợ rằng cô đã bỏ đi. Hay có khi nào cô bị phát hiện?
Bầy ngựa vằn có vẻ biếng nhác. Có lẽ điều đó chứng tỏ chúng là ngựa thật.
Một lát sau, tôi bỏ đi, và khi ngẩng lên nhìn con đường phía trước, về phía một đài phun nước xám xịt, tôi thấy cô đang tiến lại chỗ mình, trong bộ váy đỏ, trên tay cầm một bó hoa thủy tiên vàng. Tôi dừng bước, và trong một thoáng tôi có cảm giác như thể tim mình ngừng đập.
Cô gái cầm hoa đi đến gặp tôi và mỉm cười.
- Chào anh.
- Chào cô. Tên tôi là Paul.
- Tôi là Mary. Mary Lou Borne.
- Cô đã ở đâu thế? Tôi vừa ghé qua Nhà Bò sát.
- Tôi đi dạo. Tôi đi dạo trước bữa trưa và bị mắc mưa.
Lúc đó tôi mới nhận ra bộ váy đỏ và mái tóc cô ướt đẫm.
- Ồ. - Tôi nói. - Tôi cứ sợ rằng cô đã... đi.
- Ý anh là bị phát hiện á? - Cô gái mỉm cười. - Chúng ta quay lại nhà nuôi rắn ăn bánh mì thôi.
- Tôi ăn trưa rồi. Và cô nên thay quần áo khô.
- Tôi không có quần áo khô. Bộ váy này là thứ duy nhất tôi có.
Tôi ngần ngừ giây lát. Rồi tôi nói ra câu đó. Tôi không biết nó từ đâu ra, nhưng tôi đã nói ra:
- Hãy cùng tôi đi tới Manhattan, tôi sẽ mua cho cô một bộ váy.
Cô gần như không tỏ ra ngạc nhiên chút nào.
- Tôi vừa mới lấy một cái sandwich...
Tôi mua cho cô gái một chiếc váy từ máy bán hàng tự động trên Đại lộ số Năm. Đó là một chiếc váy màu vàng, may bằng thứ vải đẹp đẽ mà người ta gọi là Synlon. Trong khi chúng tôi đi xe buýt tới đó thì tóc cô đã kịp khô, và trông cô thật rạng rỡ. Cô vẫn đang cầm hoa. Những bông hoa rất hợp với màu của chiếc váy.
Tôi học được từ “rạng rỡ” đó từ một bộ phim của Theda Bara. Trong phim, một nhà quí tộc và người hầu cận ngắm nhìn Bara trong bộ váy đen cầm những bông hoa trắng bước xuống cầu thang lượn cong. Người hầu đã nói, theo như lời thoại xuất hiện trên màn ảnh: “Đẹp. Đẹp dữ dội!” Còn nhà quí tộc thì gật đầu khẽ đáp: “Cô ấy thật rạng rỡ !”
Chúng tôi không nói gì nhiều trên xe buýt. Khi tôi đưa cô vào căn phòng làm việc kiêm chỗ ngủ của mình, cô ngồi xuống chiếc sofa nhựa đen và nhìn quanh. Căn phòng rộng rãi có nội thất đủ màu - tấm thảm tím, tường dán giấy hoa, và ánh đèn sáng dịu. Tôi rất hãnh diện về nó. Tôi còn muốn có một cái cửa sổ, nhưng đây là một tầng hầm - tầng hầm thứ năm, thật vậy - nên không thể có cửa sổ được vì nó nằm quá sâu dưới đất.
- Cô thấy thế nào? - Tôi hỏi.
Cô gái đứng dậy và chỉnh lại ngay ngắn một tấm tranh vẽ vài bông hoa.
- Nó hơi giống với một nhà chứa Chicago. - Cô đáp. - Nhưng tôi thích nó.
Tôi chưa hiểu.
- Nhà chứa Chicago là gì? - Tôi hỏi lại.
Cô gái nhìn tôi và mỉm cười.
- Tôi cũng không biết. Bố tôi thường nói như vậy.
- Bố cô? Cô có bố à?
- Đại loại thế. Khi tôi trốn khỏi trường nội trú, một ông già lớn tuổi đã chăm sóc tôi. Ngoài sa mạc. Tên ông ấy là Simon, và mỗi khi nhìn thấy thứ gì đèm đẹp, như cảnh hoàng hôn chẳng hạn, ông ấy lại nói “Cứ như một nhà chứa Chicago.”
Cô ngắm nhìn bức tranh vừa chỉnh lại. Rồi cô quay lưng đi về chỗ của mình trên chiếc sofa.
- Tôi uống chút gì được không? - Cô hỏi.
- Rượu mạnh không làm cô mệt chứ?
- Gin tổng hợp thì không. - Cô đáp. - Miễn là tôi không uống quá nhiều.
- Được thôi. Tôi nghĩ mình có thể tìm được một ít.
Tôi ấn vào cái nút bấm trên bàn để gọi robot tạp vụ. Khi anh ta xuất hiện gần như ngay lập tức, tôi bảo anh ta mang cho chúng tôi hai ly gin tổng hợp và đá.
Khi robot phục vụ quay đi, cô gái gọi:
- Khoan đã, robot. - Đoạn cô quay sang nhìn tôi. - Sẽ không sao nếu tôi ăn chút gì chứ? Tôi phát ốm món sandwich của vườn thú rồi.
- Tất nhiên. - Tôi đáp. - Xin lỗi vì tôi đã không nghĩ ra.
Tôi hơi bất ngờ với cách mà cô nắm quyền chủ động, nhưng đồng thời cũng hài lòng khi được tiếp đón cô, nhất là khi thẻ tín dụng của tôi còn chưa được sử dụng gì mấy.
- Máy bán thức ăn ở căng tin có món sandwich kẹp thịt khỉ xông khói và cà chua khá ngon đấy.
Cô nhíu mày.
- Tôi không bao giờ ăn thịt khỉ xông khói. - Cô đáp. - Bố tôi từng ghê tởm món thịt khỉ. Thịt bò nướng được không? Nhưng đừng kẹp vào bánh mì.
Tôi quay sang nói với robot phục vụ:
- Cậu có thể mang cho chúng tôi một đĩa bò nướng cắt lát được không?
- Được chứ. - Robot đáp. - Tất nhiên rồi.
- Tốt. - Tôi nói. - Đem thêm cho tôi một ít củ cải mini và rau diếp cùng với thức uống nhé.
Robot lui ra, và suốt một phút đồng hồ căn phòng chìm trong một sự im lặng lúng túng. Tôi khá ngạc nhiên với điều đó, và thật ra tôi có phần hài lòng. Đôi khi Mary Lou dường như không có một chút nhạy cảm nào.
Tôi lên tiếng phá vỡ sự im lặng:
- Cô đã bỏ trốn khỏi trường nội trú à?
- Vào tuổi dậy thì. Tôi đã bỏ trốn nhiều lần.
Tôi chưa từng nghĩ ai đó có thể nghĩ đến việc bỏ trốn khỏi trường nội trú. Không, không phải. Tôi còn nhớ, hồi bé, tôi đã nghe bọn con trai khoác lác về chuyện chúng sẽ “bỏ trốn” ra sao, do chúng bị đối xử bất công bởi một giáo viên robot hay đại loại thế. Nhưng không một ai làm chuyện đó. Ngoại trừ Mary Lou, hình như thế.
- Cô không bị phát hiện sao?
- Lúc đầu tôi đinh ninh mình sẽ bị phát hiện. - Cô ngả người trên ghế, thư giãn. - Tôi sợ khủng khiếp. Tôi đã đi nửa ngày đường, tìm thấy một thị trấn cũ bỏ hoang trong sa mạc. Nhưng đội Tầm soát không hề xuất hiện. - Cô chậm rãi lắc đầu. - Đó là lúc tôi nhận ra có lẽ các Tầm soát viên không thực sự làm việc. Và anh không cần phải nghe lời lũ robot.
Tôi nhăn mặt, nhớ lại sự việc đã xảy ra với mình tại trường nội trú, khi bị cấm túc bởi một robot.
- Anh biết đấy, họ dạy chúng ta rằng robot sinh ra là để phục vụ con người. Nhưng chữ “phục vụ” mà họ dùng nghe cứ như “kiểm soát” vậy. Bố Simon của tôi bảo đó là kiểu nói ngoại giao.
- Kiểu nói ngoại giao?
- Tức là một dạng nói dối ấy. Bố Simon đã rất già khi tôi gặp ông ấy. Bố chết vài hoàng sau khi tôi dọn đến ở với ông. Răng ông rụng sạch, tai thì nghễnh ngãng. Ông đã nói cho tôi biết nhiều điều được học từ bố của mình, hoặc từ ai đó, và chúng rất cũ kĩ.
- Ông ấy có được đào tạo ở trường nội trú không?
- Tôi không biết. Tôi chưa từng nghĩ tới việc hỏi bố chuyện đó.
Robot phục vụ quay lại cùng với thức ăn và đồ uống. Cô gái cầm đĩa thịt bò bằng một tay, tay kia cầm ly rượu gin tổng hợp, và chọn tư thế thật thoải mái trên sofa. Cô uống một ngụm rượu, khẽ rùng mình khi nuốt xuống, rồi nhón lấy một miếng thịt và ăn theo cung cách tự nhiên đầy mới mẻ đối với tôi. Tôi chưa từng thấy ai ăn bốc như thế.
- Anh biết đấy, bố Simon có lẽ đã biến tôi thành một kẻ ăn thịt bò. - Cô nói tiếp. - Ông từng chôm mấy con gia súc trên các trang trại tự động hóa, hoặc thỉnh thoảng đi săn thú hoang.
Tôi chưa từng nghe tới chữ này.
- “Chôm” nghĩa là “ăn trộm” hả? - Tôi hỏi lại.
Cô gật đầu:
- Tôi cũng đoán thế.
Cô nhón lấy một miếng thịt nữa, rồi đặt cái đĩa xuống sofa, bên cạnh mình. Cô cầm miếng thịt trên tay và uống một ngụm rượu.
- Đừng hỏi tôi về đội Tầm soát. - Cô nói. - Vì chẳng có đội nào.
Cô uống một hơi cạn ly rượu.
- Bố Simon từng nói là cả đời ông chưa từng trông thấy một Tầm soát viên hay nghe nói ai đó bị phát hiện.
Chuyện đó thật sốc, nhưng nghe có vẻ thật. Tôi không còn trẻ, cũng chưa từng thấy hay biết ai đó bị phát hiện. Nhưng tôi cũng chưa từng biết người nào muốn mạo hiểm.
⚝ ✽ ⚝
Sau đó chúng tôi ngưng nói chuyện một lát và cô tập trung vào việc ăn nốt chỗ thịt trên đĩa. Tôi chỉ ngồi nhìn cô ăn, trong lòng vẫn còn chưa hết kinh ngạc trước mức độ thú vị, cũng như vẻ ngoài hấp dẫn của cô, và việc tôi đã đưa được cô về đây ở với mình.
Tôi nghĩ đến tình dục, tất nhiên rồi, nhưng có cảm giác nó sẽ chưa diễn ra ngay. Tôi hi vọng là không, vì tôi nhút nhát hơn đa phần mọi người trong chuyện đó. Mặc dù cô có sức hấp dẫn mạnh mẽ - điều này rõ ràng hơn bao giờ hết sau khi tôi uống xong chỗ rượu gin của mình - giờ đây tôi quá e sợ trước những chuyện như vậy.
Thế rồi sau một khoảng thời gian có vẻ rất dài, cô nói:
- Cho tôi xem lại chiếc máy ghi âm của anh.
- Tất nhiên rồi. - Tôi đáp, đoạn tiến lại bàn làm việc để lấy nó.
Bên cạnh chiếc máy là quả xoài giả mà cô đã hái trong chuồng trăn. Hình như cô chưa để ý tới nó kể từ lúc bước vào phòng.
Mặc kệ quả xoài, tôi cầm lấy chiếc máy ghi âm và đưa cho cô gái.
Cô vẫn còn nhớ cách thức hoạt động của nó.
- Anh có phiền không, nếu tôi thu âm một chút?
Tôi bảo cô cứ tự nhiên. Sau đó tôi yêu cầu robot tạp vụ mang thêm rượu gin và đá, rồi nằm dài trên giường, lắng nghe trong lúc cô nói vào máy ghi âm.
Phải mất một lúc tôi mới nhận ra điều cô đang làm. Cô nói một cách chậm rãi, ru ngủ, và không thể hiện cảm xúc. Điều cô làm, về sau này tôi nhận ra, chính là kể lại “cuộc đời” mình theo như đã “ghi nhớ” - lặp lại những câu từ mà cô đã thuộc:
“Tôi còn nhớ một cái ghế ở cạnh giường. Tôi còn nhớ một chiếc váy xanh mà tôi mặc đến lớp. Mọi người cố gắng ăn mặc khác biệt với người khác để thể hiện tính Cá nhân. Nhưng tôi thấy tất cả chúng tôi đều như nhau.”
“Tôi rất sáng dạ trong các môn học, nhưng tôi ghét chúng.”
“Tôi còn nhớ một cô gái tên Sarah, khuôn mặt đầy mụn trứng cá. Sarah là người đầu tiên nói với tôi về tình dục. Cô ta đã làm chuyện đó trong lúc một số đứa khác quan sát. Nghe thật... sai trái.”
“Sa mạc bao quanh nơi chúng tôi sống, và bọn quái vật Gila thỉnh thoảng vẫn lẻn vào kí túc xá để ngủ. Các robot sẽ đi bắt chúng và đem ra ngoài. Tôi cảm thấy những con thằn lằn to xác ngu ngốc đó thật đáng thương. Ở Nhà Bò sát, họ không có con Gila nào, nhưng tôi nghĩ lẽ ra họ nên có...”
Câu chuyện cứ thế tiếp diễn. Lúc đầu tôi còn quan tâm, nhưng một lúc sau tôi thấy buồn ngủ. Ngày hôm nay thật dài. Và tôi không quen uống rượu như thế này.
Trong lúc cô đang nói vào máy ghi âm, tôi ngủ thiếp đi.
Khi tôi choàng tỉnh vào buổi sáng thì cô đã đi. Lúc đầu tôi hoảng hốt nghĩ rằng có thể cô đã đi hẳn. Nhưng rồi tôi đi tìm kiếm trong những căn phòng nằm dọc theo hành lang và, sau vài căn phòng trống, tôi tìm thấy cô. Cô đang cuộn mình nằm ở giữa phòng, trên một tấm thảm dày màu cam, ngủ ngon lành như một đứa trẻ. Tim tôi cảm thấy ấm áp. Tôi cảm thấy mình giống như... một người cha . Và cả một người tình nữa.
⚝ ✽ ⚝
Sau đó tôi quay lại phòng mình và dùng bữa sáng, trước khi bắt tay vào viết những dòng này.
Khi xong việc, tôi sẽ đánh thức cô dậy, và hai chúng tôi sẽ đi ra nhà hàng để ăn trưa.
NGÀY THỨ BỐN MƯƠI BA
Sau khi đánh thức Mary Lou, tôi đưa cô đi ngược lên Đại lộ số Năm bằng thảm lăn, sau đó chúng tôi ăn trưa trong một quán chay. Chúng tôi dùng món rau chân vịt và đậu.
Hai chúng tôi đã không hề uống viên thuốc nào hay hút điếu cần nào, và rất ngạc nhiên khi nhận thấy những người khác tỏ ra lơ mơ, gà gật đến thế nào. Ngoại trừ các robot đang chờ đợi chúng tôi, tất nhiên rồi. Một cặp lớn tuổi ngồi ở bàn bên cạnh cứ nhắc đi nhắc lại những lời nói của mình như thể đang giả vờ đối thoại. Ông già nói “Florida là nơi tuyệt vời nhất” và bà già đáp “Tôi không nhớ tên ông”, rồi ông già lại nói “Tôi thích Florida” trong khi bà hỏi lại “Tên ông là Arthur, đúng không?” Cuộc nói chuyện cứ diễn ra như thế trong suốt bữa ăn. Chắc họ đã từng quan hệ tình dục với nhau, nhưng không thể gắn kết với nhau theo cách khác. Những cuộc nói chuyện như vậy không hề hiếm thấy, nhưng trước mặt Mary Lou, khi mà chúng tôi có đủ thứ chuyện để kể cho nhau, với đầu óc tỉnh táo sáng suốt, nó đặc biệt đáng chú ý. Và đáng buồn nữa.
NGÀY THỨ BỐN MƯƠI SÁU
Mary Lou đã ở đây ba ngày. Hai ngày đầu tiên cô ngủ đến trưa, sau khi đã dặn tôi không quấy rầy cô. Tôi dành buổi sáng làm việc với một bộ phim về những người đàn ông ở trần và sống trên những chiếc thuyền buồm có thể vượt đại dương. Chủ yếu bọn họ đánh nhau với dao và kiếm. Họ nói những lời như “Ôi chao!” và “Ta là chúa tể các vùng biển”. Phim cũng khá thú vị, nhưng Mary Lou choán nhiều chỗ trong tâm trí tôi đến mức tôi không chú ý nhiều tới bộ phim.
Tôi chỉ làm việc vào các buổi sáng trong hai ngày đó, vì không hiểu sao tôi cảm thấy ngần ngại không muốn để cho cô thấy mình đang làm việc. Tôi không rõ lí do, nhưng tôi không muốn cô biết về việc đọc chữ.
Sang đến buổi sáng ngày thứ ba, cô bước vào phòng tôi, trên tay cầm một cuốn sách. Nom cô thật đáng kinh ngạc: Cô mặc bộ quần áo ngủ tôi cho mượn, với chiếc áo không cài nút để hở một khoảng da giữa hai bầu ngực. Cổ cô đeo một chiếc thánh giá. Tôi có thể nhìn thấy được rốn cô.
- Anh xem tôi tìm được gì này! - Cô giơ cuốn sách ra với tôi.
Chiếc áo ngủ xô lệch khi cô làm động tác đó, và một bên núm vú của cô thoáng lộ ra. Tôi cảm thấy bối rối. Có lẽ trông tôi như một thằng ngốc đứng đó, cố gắng để không nhìn chằm chằm. Tôi nhận thấy cô đi chân đất.
- Cầm lấy. - Cô gần như ấn cuốn sách vào tay tôi.
Sau vài giây lúng túng, tôi đỡ lấy nó. Đó là một cuốn sách mỏng, không có bìa cứng như tôi tưởng mọi cuốn sách đều có.
Tôi đưa mắt nhìn bìa sách. Hình vẽ trên đó có hai màu vàng và xanh dương đã phai mờ, và chẳng có ý nghĩa gì. Đó là một kiểu hoa văn gồm các ô vuông sáng và sẫm màu xen kẽ nhau, với một số hình thù kì dị xuất hiện trên đó. Tiêu đề của cuốn sách là Cờ tàn cơ bản, và tên tác giả là Reuben Fine.
Tôi mở sách. Các trang giấy đã ngả vàng in đầy những sơ đồ nhỏ gồm các ô vuông trắng đen, cùng một lô kí hiệu dường như vô nghĩa.
Tôi nhìn Mary Lou trở lại sau khi đã trấn tĩnh đôi chút. Chắc cô đã nhận thấy cách cư xử của tôi, vì cô cài nút áo lại. Cô đang luồn các ngón tay vào trong tóc, cố gắng chải lại cái đầu.
- Cô lấy cái này ở đâu? - Tôi hỏi.
Cô nhìn tôi, ngẫm nghĩ. Rồi cô nói:
- Có phải... có phải đây là một cuốn sách không?
- Phải. - Tôi đáp. - Cô tìm thấy nó ở đâu?
Cô vẫn không rời mắt khỏi cuốn sách trên tay tôi. Rồi cô thốt lên:
- Jesus Christ!
- Sao cơ?
- Tôi buột mồm thôi. - Cô đáp, đoạn nắm lấy tay tôi và bảo. - Đi nào, tôi sẽ chỉ cho anh xem chỗ tôi tìm thấy nó.
Nắm lấy tay cô gái, tôi ngoan ngoãn đi theo như một đứa trẻ. Sự tiếp xúc làm tôi thấy ngượng và muốn buông ra, nhưng không biết phải làm thế nào. Cô có vẻ rất quyết tâm và mạnh mẽ, còn tôi thì bối rối và hoang mang.
Cô dẫn tôi men theo hành lang đi xa hơn những chỗ tôi từng tới trước đó, vòng qua một góc tường, và qua một cánh cửa đôi, trước khi đi vào một hành lang khác. Dọc theo nó có rất nhiều cánh cửa, một số đang mở. Các căn phòng có vẻ trống trải.
Hình như đoán được suy nghĩ của tôi, cô hỏi:
- Anh có từng đi xa đến thế này bao giờ chưa?
Không hiểu sao tôi cảm thấy xấu hổ vì mình chưa từng làm vậy. Nhưng tôi không bao giờ nghĩ đến việc sục sạo các căn phòng. Chuyện đó có vẻ không đàng hoàng. Thấy tôi không đáp, cô nói:
- Tôi sẽ đóng các cánh cửa lại sau. - Rồi cô tiếp lời. - Đêm qua tôi không ngủ được, do đó tôi đã dậy và bắt đầu khám phá. - Cô bật cười. - Bố Simon luôn nói “hãy kiểm tra các thứ quanh con, bé cưng.” Thế là tôi đi lang thang qua các hành lang như Macbeth phu nhân, mở xem các căn phòng. Hầu hết chúng đều trống rỗng.
- Macbeth phu nhân là ai vậy? - Tôi cố gắng bắt chuyện.
- Là một người hay đi loanh quanh trong bộ đồ ngủ. - Cô đáp.
Ở cuối đoạn hành lang mới, có một cánh cửa lớn màu đỏ đang mở. Cô gái dẫn tôi vào bên trong, và chỉ khi đã ở trong phòng, cô mới buông tay tôi ra.
Tôi nhìn quanh. Những bức tường thép không gỉ được che phủ bởi các ngăn kệ dường như được thiết kế để cất sách. Tôi đã từng thấy một căn phòng giống như vậy trong một bộ phim, chỉ khác là căn phòng kia có những bức tranh lớn trên một bức tường, cùng với nhiều cái bàn và đèn. Trong căn phòng chúng tôi đang ở, không có gì khác ngoài những chiếc kệ. Hầu như tất cả đều trống rỗng và bị bao phủ một lớp bụi dày. Trên sàn có một tấm thảm đỏ với những vết mốc lớn. Nhưng tại một bức tường cuối phòng phải có đến hàng trăm cuốn sách.
- Nhìn kìa! - Mary Lou nói và chạy tới chỗ giá sách. Cô lướt tay rất nhẹ nhàng trên một ngăn kệ. - Bố Simon từng nói với tôi rằng trên đời có rất nhiều sách, nhưng tôi không hình dung nổi chúng nhiều đến như vậy.
Do đã biết một chút về những cuốn sách, tôi cảm thấy thoải mái hơn, và kiểm soát tình hình tốt hơn, khi chậm rãi tiến đến gần để xem xét chúng. Tôi lôi một cuốn ra khỏi kệ. Trên trang bìa là một phiên bản khác của cùng một mẫu hoa văn các hình vuông như thế, với tiêu đề Paul Morphi và kỉ nguyên vàng của cờ vua . Bên trong là những sơ đồ giống hệt những sơ đồ trong cuốn sách kia, nhưng nó có nhiều chữ viết theo lối bình thường hơn.
Tôi đang mở cuốn sách và cố gắng đoán xem từ “cờ vua” có thể mang nghĩa gì, thì giọng nói của Mary Lou cất lên:
- Chính xác thì người ta làm gì với một cuốn sách?
- Chúng ta đọc nó.
- À! - Cô thốt lên, rồi hỏi tiếp. - “Đọc” nghĩa là gì?
Tôi gật gù, bắt đầu lật các trang sách và đáp:
- Một số trong các kí hiệu này biểu thị âm thanh. Và âm thanh tạo thành các từ. Cô nhìn vào các kí hiệu và âm thanh vang lên trong tâm trí. Sau khi cô đã thực hành đủ nhiều, chúng bắt đầu nghe giống như một người đang nói. Nói, nhưng là nói thầm.
Cô gái nhìn tôi chằm chằm một lúc lâu. Sau đó, cô lấy một cuốn sách trên kệ, có phần hơi lúng túng, và mở nó ra. Chắc cô thấy lạ và khó sử dụng, giống như tôi đã từng cách đây một hoàng . Cô xem xét các trang, cảm nhận chúng bằng những đầu ngón tay, sau đó đưa cuốn sách cho tôi với vẻ mặt khó hiểu.
- Tôi chẳng hiểu gì. - Cô nói.
Tôi giải thích lại từ đầu. Rồi tôi nói thêm:
- Tôi có thể đọc thành tiếng những gì được viết. Đó là công việc hiện tại tôi đang làm.
Cô nhíu mày.
- Tôi vẫn chưa hiểu. - Cô nhìn tôi, rồi nhìn các cuốn sách trên những giá kệ bằng thép, trước khi hướng mắt xuống tấm thảm mốc meo dưới sàn. - Công việc của anh là... đọc. Những cuốn sách?
- Không. Tôi đọc cái khác. Thứ được gọi là phim câm. - Tôi đỡ lấy cuốn sách từ tay cô. - Tôi có thể đọc thành tiếng những gì có thể đọc được trong này. Có lẽ như vậy sẽ dễ hiểu hơn đối với cô.
Cô gật đầu. Tôi mở cuốn sách ở phần giữa, rồi bắt đầu đọc:
- b4 b5 nối tiếp bởi biến thể Lasker được ưu tiên hơn nhiều bởi vì, dù lấy lại được tốt của mình, quân Trắng sẽ không thực hiện được một cuộc tấn công áp đảo. Như chúng ta sẽ thấy, sau nước đi thứ chín của quân Trắng, chúng ta đạt đến một thế cờ đã biết, mà hầu hết những người có chuyên môn đều cho là thuận lợi cho quân Trắng.
Tôi nghĩ mình đã đọc khá tốt, gần như không bị vấp váp với những từ không quen thuộc. Nhưng tôi không hiểu đoạn văn đó nói gì.
Mary Lou đã tiến đến bên cạnh tôi và áp cơ thể cô vào người tôi, trong khi tôi đang đọc. Cô chăm chú quan sát trang sách. Sau đó cô ngước lên nhìn mặt tôi và hỏi:
- Có phải anh đang thuật lại những gì nghe thấy trong đầu qua việc chỉ nhìn vào sách?
- Phải. - Tôi đáp.
Khuôn mặt chúng tôi đang ở gần nhau một cách đáng ngại. Cô dường như đã quên hết mọi qui định về Quyền Riêng tư - nếu cô từng biết đến chúng.
- Và phải mất bao lâu để đọc thành tiếng mọi thứ... - Cô nắm lấy cánh tay tôi, khiến tôi phải tranh đấu để không giật nảy người và lùi ra xa. Ánh mắt cô vô cùng mãnh liệt, như chúng thỉnh thoảng vẫn trở nên như thế một cách đáng ngại. - Để đọc thành tiếng tất cả những gì anh nghe thấy trong đầu khi nhìn hết tất cả các trang giấy của cuốn sách này?
Tôi hắng giọng, hơi dịch người ra xa cô gái một chút.
- Nguyên một ngày trời, tôi nghĩ thế. Nếu cuốn sách dễ đọc, và cô không đọc thành tiếng, thì sẽ nhanh hơn.
Cô tước quyển sách trong tay tôi và giơ nó ra trước mặt mình, nhìn nó một cách dữ dội đến mức tôi tưởng đâu cô có thể đọc thành tiếng chỉ bằng cách tập trung. Nhưng cô không làm được. Cô chỉ thốt lên rằng:
- Chúa ơi! Sẽ cần rất... rất nhiều bóng bồi để ghi âm chừng này? Quá nhiều... thông tin?
- Phải. - Tôi đáp.
- Chúa ơi. Chúng ta nên làm... chuyện đó với tất cả chỗ sách này. Anh dùng từ gì nhỉ?
- Đọc.
- Phải. Chúng ta nên đọc tất cả chỗ này.
Cô bắt đầu vơ lấy một ôm đầy sách, và tôi cũng ngoan ngoãn làm theo. Chúng tôi mang chỗ sách về phòng tôi.
NGÀY THỨ BỐN MƯƠI TÁM
Tôi dành phần còn lại của buổi sáng để đọc cho cô nghe nhiều cuốn sách khác nhau. Nhưng thật khó để tôi tiếp tục giữ tập trung. Tôi gần như chẳng hiểu chúng viết gì. Chúng tôi đổi hết cuốn sách này sang cuốn sách khác, nhưng vẫn chỉ toàn là cờ vua.
Vài giờ sau, cô ngắt lời tôi và bảo:
- Tại sao mọi cuốn sách đều viết về cờ vua vậy?
Tôi đáp:
- Tôi có một số sách viết về những thứ khác ở nhà tôi, tại Ohio. Một vài cuốn viết lại những câu chuyện. - Thế rồi đột nhiên tôi nảy ra một ý đáng lẽ phải nghĩ tới từ trước. Tôi có thể tìm hiểu về từ “cờ vua” trong cuốn Từ điển .
Nói đoạn tôi mở ngăn kéo tủ, lấy nó ra và bắt đầu lật giở cho đến khi bắt gặp những mục từ bắt đầu bằng mẫu tự C. Tôi tìm thấy nó gần như ngay lập tức. “ Cờ vua: một trò chơi dùng bàn dành cho hai người. ” Họ còn vẽ cả hình minh họa cảnh hai người đàn ông ngồi bên một cái bàn. Bàn chơi có các ô vuông trắng đen cùng với những thứ mà tôi được biết là “quân cờ” trên đó.
- Đây là một loại trò chơi. - Tôi nói. - Cờ vua là một trò chơi.
Mary Lou nhìn hình vẽ.
- Trong sách có hình người cơ à? - Cô hỏi lại. - Giống như trên các bức tường của bố Simon á?
- Một số sách có rất nhiều tranh ảnh thể hiện con người và các thứ. - Tôi đáp - Những cuốn sách dễ, giống như cuốn tôi đã dùng để học đọc, trang nào cũng có hình thật lớn.
Cô gật đầu. Rồi cô ngước lên nhìn tôi chăm chú:
- Anh sẽ dạy tôi đọc chứ? Với những cuốn sách có hình vẽ lớn trong đó?
- Tôi không có chúng ở đây. Tôi đã để chúng lại Ohio.
Khuôn mặt cô xụ xuống:
- Vậy là ở đây anh chỉ có sách về... cờ vua?
Tôi lắc đầu, rồi nói thêm:
- Còn những cuốn khác. Đây là một thư viện.
- Ý anh là những cuốn sách về con người?
- Phải.
Khuôn mặt cô lại sáng bừng lên:
- Chúng ta đi tìm đi.
- Tôi mệt rồi.
Tôi mệt thật, do việc đọc sách và tìm kiếm loanh quanh.
- Coi nào. - Cô nài nỉ. - Chuyện này quan trọng mà.
Thế là tôi đồng ý và đi tìm kiếm thêm trong các căn phòng cùng cô.
Chúng tôi dành cả tiếng đồng hồ để đi qua các hành lang và mở các cánh cửa. Mọi căn phòng đều trống rỗng, dù một số có các giá kệ kê dọc theo tường. Mary Lou hỏi tôi:
- Những căn phòng trống này dùng để làm gì vậy?
Tôi đáp:
- Trưởng khoa Spofforth nói rằng thư viện sẽ bị phá dỡ. Tôi đoán đó là lí do các phòng đều để trống.
Tôi đoán cô đã biết nhiều tòa nhà ở khắp New York đã được lên lịch phá dỡ từ lâu trước khi chúng tôi ra đời, nhưng rốt cuộc chẳng bị sao cả.
- Phải. - Cô nói. - Một nửa số công trình của vườn thú cũng vậy. Nhưng tất cả những căn phòng này được dùng vào việc gì?
- Tôi không biết. Để cất sách chăng?
- Nhiều sách tới vậy sao?
- Tôi không biết.
Thế rồi, ở cuối một hành lang dài, đặc biệt nhiều rêu phong, nơi một số bóng đèn trên trần không còn sáng rõ, chúng tôi bắt gặp một cánh cửa màu xám có gắn tấm biển đề KHO LƯU TRỮ. Chúng tôi đẩy cửa với một chút khó khăn. Nó nặng hơn nhiều so với những cái cửa khác và được niêm phong xung quanh. Hợp sức nhau đẩy, chúng tôi mở được nó ra, và tôi lập tức bị bất ngờ bởi hai điều. Không khí bên trong có mùi lạ - mùi cũ kĩ - và có những bậc thang đi xuống phía dưới. Tôi cứ nghĩ rằng mình đã ở tầng sâu nhất của thư viện. Chúng tôi bước xuống các bậc cầu thang, và tôi suýt trượt ngã. Chúng bị đóng lớp bụi dày màu vàng, trơn trượt. Tôi kìm mình lại vừa kịp lúc.
Khi chúng tôi đi xuống, mùi không khí còn nồng hơn, cũ hơn.
Dưới chân cầu thang là một hành lang. Trên trần có gắn một số bóng đèn, nhưng chúng rất mờ. Đoạn hành lang khá ngắn kết thúc bằng hai cánh cửa. Một cái đề THIẾT BỊ, còn cái kia ghi SÁCH kèm một dòng chữ nhỏ hơn ĐỂ TÁI CHẾ. Chúng tôi đẩy cửa bước vào. Ban đầu không có gì ngoài bóng tối và mùi thơm dịu của không khí phía sau cánh cửa. Sau đó, bất thình lình, các bóng đèn bật sáng, và Mary Lou thốt lên một tiếng khe khẽ.
Gian phòng rất lớn và có sách ở khắp mọi nơi.
Bạn không thể nhìn thấy bất kì bức tường nào vì các giá kệ được chất đầy sách. Sách còn được xếp chồng lên nhau ở giữa phòng, và chất thành nhiều đống dọc theo bức tường trước các giá kệ. Chúng có đủ màu sắc và kích cỡ khác nhau.
Tôi đứng đó, không biết phải làm gì hay nói gì. Tôi đang cảm thấy một điều gì đó giống như thứ mà một số bộ phim mang lại - cảm giác rằng mình đang đối diện với các làn sóng cảm xúc lớn lao từng được cảm nhận bởi những người giờ đây đã chết, những người hiểu được những thứ mà tôi không hiểu.
Tất nhiên, tôi biết đã từng có những cuốn sách trong thế giới xa xưa, và hầu hết trong số chúng có lẽ là từ cái thời trước khi có ti vi, nhưng tôi không nghĩ lại có nhiều sách như vậy.
Trong khi tôi đứng đó với cảm giác không thể gọi tên trong lòng, Mary Lou đi về phía một chồng những cuốn sách lớn, mỏng, không cao bằng những cuốn khác. Cô với tay như cách mà tôi đã thấy cô hái quả xoài giả trong lồng trăn ở Nhà Bò sát, và cẩn thận lấy cuốn sách trên cùng xuống. Cô lúng túng cầm nó bằng cả hai tay và nhìn chằm chằm cái bìa. Sau đó, cô cẩn thận mở các trang bên trong. Tôi có thể trông thấy trong sách có nhiều hình ảnh. Cô nhìn chăm chú một vài trang sách. Sau đó cô lên tiếng:
- Những bông hoa!
Đoạn cô gấp cuốn sách lại và đưa cho tôi.
- Anh có thể... đọc những gì được viết trên này không?
Tôi cầm lấy nó từ tay cô và xem cái bìa. Những loài hoa dại Bắc Mĩ . Tôi nhìn cô.
- Paul này, em muốn anh dạy em đọc chữ. - Cô nói một cách nhẹ nhàng.