Chín Mươi Ba

Lượt đọc: 13387 | 3 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Quyển hai Ba đứa trẻ
I
plus quam civila bella (hơn cả nội chiến)

Mùa hè năm 1792, mưa rất nhiều; mùa hè năm 1793 lại nóng rất dữ. Vì nội chiến, ở xứ Bretagne có thể nói rằng không còn đường sá nữa. Tuy vậy, người ta vẫn đi lại nhờ những ngày hè nắng ráo. Đất khô là đường đi tốt nhất.

Một buổi chiều tháng bảy êm ả, khoảng một giờ sau lúc mặt trời lặn, một người cưỡi ngựa từ phía Avranches, dừng lại trước quán Croix-Branchard ở đầu lối vào thị trấn Pontorson, trước quán có tấm biển mấy năm gần đây người ta còn đọc được giòng chữ này: Rượu táo ngon tha hồ túy lúy. Suốt ngày trời nóng bức, nhưng lúc này đã bắt đầu có gió.

Người khách khoác một chiếc áo choàng rộng phủ kín mông ngựa. Ông ta đội chiếc mũ rộng vành có huy hiệu tam tài, điều đó không phải là không táo bạo ở cái xứ toàn là bụi rậm, huy hiệu là mục tiêu cho những phát súng. Ông ta mặc chiếu áo choàng thắt nút ở cổ, phanh ra để đôi cánh tay được cử động tự do; người ta có thể thoáng thấy chiếc thắt lưng tam tài và hai chuôi súng lục nhô ra ngoài. Một thanh gươm lủng lẳng thò ra khỏi chiếc áo choàng.

Nghe tiếng chân ngựa dừng lại, người chủ quán mở cửa xách đèn lồng kính đi ra. Đấy là lúc tranh tối tranh sáng; ngoài đường còn sáng nhưng trong nhà đã tối như bưng.

Lão chủ quán nhìn cái huy hiệu và hỏi:

- Công dân, ông nghỉ lại đây chứ?

- Không.

- Ông đi đâu bây giờ?

- Đến Dol.

- Nếu như vậy, phải trở lại Avranches hoặc Pontorson.

- Tại sao vậy?

- Vì đang đánh nhau ở Dol.

- À!

Người cưỡi ngựa kêu lên một tiếng, rồi tiếp luôn:

- Cho ngựa tôi một ít lúa mạch nhé.

Lão chủ quán đem cái máng đến, dốc hết một bao lúa mạch vào rồi tháo ngựa, con ngựa vừa ăn vừa thở phì phò.

Câu chuyện giữa hai người lại tiếp tục.

- Công dân, đây là ngựa trưng dụng có phải không?

- Không.

- Của ông à?

- Vâng, tôi đã mua và trả tiền.

- Ông ở đâu đến?

- Paris.

- Không đi thẳng một mạch được chứ gì?

- Không.

- Tôi biết mà, đường sá bị chặn hết. Nhưng xe trạm thì vẫn còn.

- Vâng. Cho đến Alençon. Tôi vừa mới rời xe trạm ở đó.

- Thế à! Rồi xem ít lâu nữa, trên nước Pháp chẳng còn xe nữa. Hết ngựa rồi. Một con ngựa ba trăm quan nay phải trả đến sáu trăm quan, còn rơm cỏ thì đắt quá giá. Trước kia tôi làm đội trạm, thế mà bây giờ đành làm chủ quán. Trên một nghìn ba trăm mười ba đội trạm thì hai trăm xin nghỉ việc. Công dân này, ông đã đi xe theo giá mới phải không?

- Giá mới từ ngày một tháng năm. Đúng thế.

- Đi xe lớn chở khách thì mỗi chặng mất hai hào, xe con hai bánh thì mất hào hai mà xe chở hàng thì năm xu. Có phải ông mua ngựa này ở Alençon không?

- Vâng.

- Hôm nay, ông đi suốt cả ngày ư?

- Từ tảng sáng.

- Và hôm qua?

- Và cả hôm kia nữa.

- Tôi hiểu rồi. Ông đi lối Domfront và Mortain.

- Và Avranches.

- Công dân, nói thật đấy, nên nghỉ lại đi. Ông mệt rồi, ngựa cũng mệt rồi.

- Ngựa có quyền mệt, chứ người thì không.

Lão chủ quán lại chăm chăm nhìn người khách. Một khuôn mặt đạo mạo, bình tĩnh và nghiêm khắc dưới vầng tóc xám.

Lão chủ quán đưa mắt nhìn quãng đường thăm thẳm, vắng teo và hỏi:

- Vậy ông đi một mình như thế à?

- Không. Tôi có hộ vệ.

- Đâu?

- Gươm và súng lục của tôi.

Lão chủ quán đi lấy một thùng nước và cho ngựa uống, rồi trong lúc con ngựa uống nước, lão lại ngắm nghía người khác và nghĩ thầm: “Không hề gì, ông này có vẻ thầy tu”.

Người cưỡi ngựa hỏi tiếp:

- Lão bảo người ta đánh nhau ở Dol à?

- Vâng. Chắc lúc này bắt đầu rồi đấy.

- Ai đánh với ai thế?

- Một cựu quý tộc đánh nhau với một cựu quý tộc.

- Lão bảo sao?

- Tôi nói một cựu quý tộc theo cộng hòa đánh nhau với một cựu quý tộc theo vua.

- Nhưng làm gì còn vua nữa.

- Còn có vua con. Và điều lạ, là hai cựu quý tộc ấy lại là thân thuộc.

Người cưỡi ngựa chăm chú nghe. Lão chủ quán nói:

- Một người trẻ, một người già; chính là cháu đánh nhau với ông bác. Ông bác thì bảo hoàng, cháu thì yêu nước. Ông bác thì chỉ huy phe Trắng, cháu thì chỉ huy phe Xanh. Ái dà! Rồi họ chẳng tha nhau đâu. Một cuộc tử chiến.

- Tử chiến?

- Vâng, công dân ạ. Này, ông có muốn xem cách họ đối đáp với nhau không? Đây là một tờ tuyên cáo mà lão già cho dán khắp nơi, khắp mọi nhà, khắp các cây và cả ngay trước cửa nhà tôi.

Lão chủ quán ghé đèn lại gần một tờ giấy vuông dán trên một cánh cửa và nhờ tờ tuyên cáo in chữ to nên khách ngồi trên mình ngựa có thể đọc được như sau:

Hầu tước Lantenac rất hân hạnh báo cho người cháu của ông ta là ngài tử tước Gauvain biết rằng nếu hầu tước may mắn bắt được ngài tử tước thì sẽ bắn ngay lập tức.

Lão chủ quán lại tiếp:

- Và đây là câu trả lời.

Lão quay lưng, áp đèn soi một tờ tuyên cáo khác, dán trên một cánh cửa bên cạnh đối diện với tờ kia. Người khách đọc:

Gauvain báo trước cho Lantenac là nếu bắt được y thì ông ta sẽ bắn y chết.

Lão chủ quán nói:

- Mới hôm qua, tờ tuyên cáo đầu vừa dán trước cửa nhà tôi thì sáng hôm nay lại đã có tờ thứ hai. Đối đáp tức thời.

Người khách lẩm bẩm như nói với mình những tiếng mà lão chủ quán nghe chẳng hiểu ra sao cả:

- Đúng, hơn là chiến tranh trong nước, đây là chiến tranh trong gia đình. Phải thế và thế là đúng. Những sự hồi xuân vĩ đại của các dân tộc phải trả giá như thế đấy.

Và người khách mắt chăm chú nhìn tờ tuyên cáo thứ hai đưa tay lên mũ chào.

Lão chủ quán lại tiếp tục:

- Công dân ạ, sự việc như thế này: trong các thành phố và các thị trấn lớn chúng ta theo cách mạng, còn thôn quê thì chống lại; có thể nói là ở thành phố người ta là dân nước Pháp và trong các làng mạc, người ta là dân xứ Bretagne. Chính là một chiến tranh giữa thị dân và dân quê. Họ bảo chúng ta là “bọn phệ” và chúng ta gọi họ là lũ “quê kệch”. Bọn quý tộc và thầy tu đều theo họ.

- Không phải tất cả. - Người cưỡi ngựa nói.

- Chính thế, công dân ạ, bởi vì ở đây chính là một tử tước đánh nhau với một hầu tước.

Và lão ta như nói thêm với riêng mình:

- Và đúng là mình đang nói chuyện với một giáo sĩ.

Người cưỡi ngựa hỏi tiếp:

- Thế thì ai thắng?

- Cho tới nay thì tử tước thắng. Nhưng mà cũng vất vả lắm. Lão già cũng ghê lắm, các vị ấy thuộc dòng họ Gauvain, quý tộc ở xứ này. Dòng họ ấy có hai ngành, ngành trên, trưởng ngành là hầu tước De Lantenac, ngành dưới, trưởng ngành là tử tước Gauvain. Hiện nay hai ngành đang đánh nhau. Cây cối thì chẳng thấy thế bao giờ [1] nhưng người thì có thế đấy. Hầu tước De Lantenac rất có uy thế ở xứ Bretagne này, đối với dân quê, đó là một ông hoàng. Hôm ông ta đổ bộ, đã có ngay tám nghìn người theo ông ta. Sau một tuần có ba trăm giáo khu nổi dậy. Nếu ông ta chiếm được một nơi ở ven biển thì quân Anh đã đổ bộ rồi. May thay, lại có ông Gauvain ở đó, mà lại là cháu ông ta, chuyện mới kỳ quái chứ. Ông Gauvain chỉ huy quân đội cộng hòa, và đã chặn đường ông bác lại. Rồi lão già Lantenac, khi vừa đến và tàn sát một toán tù binh, đã sai bắn hai người đàn bà trong đó có một chị có ba đứa con được tiểu đoàn Paris đỡ đầu. Việc này làm cho tiểu đoàn trở nên hung dữ. Đấy là tiểu đoàn Mũ Đỏ. Cái tiểu đoàn dân Paris ấy chẳng còn được nhiều người nữa nhưng họ đều là những tay đâm lê dữ dội. Họ đã sáp nhập vào đoàn quân của ông Gauvain. Không ai cự nổi họ. Họ đang muốn trả thù cho hai người đàn bà và giành lại mấy đứa trẻ. Người ta không hiểu lão già ấy đã làm gì với mấy đứa trẻ kia. Chính cái đó đã làm cho những người lính Paris phát điên lên. Ví thử mấy đứa trẻ không dính dấp vào cuộc chiến tranh này thì cục diện không đến nỗi như thế đâu. Tử tước là người tốt, trẻ tuổi và dũng cảm. Nhưng lão già là một hầu tước kinh khủng. Dân quê gọi cuộc chiến tranh này là cuộc chiến tranh của thánh Michel [2] chống với quỷ Belzébuth [3]. Ông hẳn biết thánh Michel là vị thần ở xứ này. Ngài có riêng một ngọn núi ở giữa biển phía trong vịnh. Ngài đến để đánh chết con quái vật và đem vùi xác nó dưới một ngọn núi khác ở gần đây gọi là núi Tombelaine.

- Vâng - Người cưỡi ngựa lẩm bẩm - Tumba Beleni nghĩa là cái mồ của Belebus, của Bel, của Bélial, của Belzébuth.

- Tôi thấy là ông am hiểu đấy.

Rồi lão chủ quán nói một mình:

- Nhất định rồi, ông ta biết tiếng La-tinh, đúng là một thầy tu.

Rồi lão chủ quán lại nói tiếp:

- A này, công dân ạ, đối với dân quê, thì chính là cuộc chiến tranh vừa nói đó lại tái diễn. Không cần phải nói, đối với họ thì thánh Michel là vị tướng bảo hoàng và con yêu quái Belzébuth là vị chỉ huy yêu nước kia; nhưng nếu có yêu quái thì chính đó là Lantenac và nếu có một vị thiên thần thì đó là Gauvain. À, ông không dùng gì sao?

- Tôi có bình nước với ít bánh. Nhưng lão chưa nói hết với tôi về tình hình ở thị trấn Dol.

- Như thế này. Ông Gauvain chỉ huy quân chinh phạt vùng bờ biển. Mục đích của Lantenac là làm cho khắp nơi nổi loạn, lấy vùng dưới xứ Bretagne dựa vào vùng dưới xứ Normandie, mở cửa cho Pitt và dùng hai vạn quân Anh cùng hai mươi vạn dân quê giúp sức cho đại quân xứ Vendée. Nhưng Gauvain đã chặn đứng kế hoạch đó. Ông ta giữ chặt bờ biển, dồn Lantenac vào nội địa và đẩy quân Anh ra ngoài khơi. Trước kia Lantenac đóng ở đây, nhưng Gauvain đã đánh bật lão ta đi, Gauvain đã chiếm lại Pont-au-Beau, đuổi lão ra khỏi Avranches, Villedieu, chặn không cho lão tới Granville. Gauvain điều quân dồn Lantenac vào khu rừng Fougères và bao vây lão ta ở đó. Tình hình rất tốt. Lão Lantenac đã khôn khéo mở ra một mũi; được tin lão đang tiến quân về phía Dol. Nếu lão chiếm được thị trấn Dol và đặt trên núi Dol một khẩu đội, vì lão cũng có trọng pháo, thì đấy là một chỗ ở bờ biển cho quân Anh đổ bộ và như thế là cả vùng này sẽ rơi vào tay lão. Vì thế không để lỡ một chút, ông Gauvain, một người cương nghị, tự tin, không đợi xin chỉ thị, liền nổi kèn, kéo pháo tập trung quân, tuốt gươm, và trong khi Lantenac xông tới Dol thì Gauvain nhảy bổ vào Lantenac. Hai trận tuyến trên đất Bretagne sắp đụng độ nhau ở Dol. Một cuộc chạm trán nảy lửa. Hiện giờ họ đã ở đấy.

- Từ đây đến Dol phải mất bao nhiêu thì giờ?

- Hành quân có xe pháo ít nhất cũng phải ba giờ; nhưng họ tới đó rồi.

Người khách lắng tai và bảo:

- Quả vậy, tôi nghe như có tiếng đại bác.

Lão chủ quán lắng nghe.

- Đúng rồi, công dân ạ. Và có cả những loại súng ngắn, nghe như xé vải. Ông nên nghỉ lại đây. Đến đấy thì chẳng gặp điều lành đâu.

- Tôi không thể nghỉ lại. Tôi phải đi.

- Không nên đi ông ạ. Tôi chẳng hiểu công việc của ông, nhưng nguy hiểm lắm, nếu như không phải vì người thân nhất trên đời...

- Ấy chính vì thế. - Người cưỡi ngựa trả lời.

- Hình như là con trai của ông...

- Gần thế. - Người cưỡi ngựa đáp.

Lão chủ quán ngẩng đầu lên và tự nhủ:

- Dầu sao cái ông công dân này vẫn có vẻ thầy tu.

Và sau một lúc suy nghĩ:

- Thầy tu, mà ông ta lại có con.

- Đóng lại cương ngựa cho tôi - Người khách bảo - Hết bao nhiêu?

Rồi ông ta trả tiền.

Lão chủ quán xếp cái chậu và thùng nước vào cạnh tường và trở lại bên người khách.

- Vì ông đã quyết định đi thì ông nên nghe tôi. Rõ ràng là ông định đi Saint-Malo. Thế thì chớ đi con đường qua Dol. Có hai đường, một đường qua Dol và một đường men theo biển. Chẳng đường nào ngắn hơn đâu. Con đường ven biển sẽ qua Saint-Georges de Brehaigne, Cherrueix và Hirel-le-Vivier. Ông đi giữa Dol ở phía nam và Cancale ở phía bắc. Đến đầu đường phố này ông sẽ thấy hai lối rẽ; sang trái là đi về Dol còn đi Saint-Georges de Brehaigne thì rẽ tay phải. Ông hãy nghe tôi, nếu ông đi qua Dol thì ông sẽ rơi vào giữa cuộc chém giết. Vì thế không nên rẽ về bên trái mà nên theo lối tay phải.

- Cảm ơn. - Người khách nói.

Rồi ông ta thúc ngựa đi.

Trời đã tối hẳn, người cưỡi ngựa lao vào trong đêm mù mịt. Lão chủ quán nhìn theo đã mất hút.

Khi người khách đến đầu con đường rẽ, ông ta nghe từ xa tiếng lão chủ quán gọi to:

- Đi về bên phải!

Người cưỡi ngựa rẽ sang trái.

Chú thích:

[1] Ý nói cây cối thì chẳng bao giờ hai cành cùng gốc lại đánh nhau. Từ branche trong tiếng Pháp vừa có nghĩa là “ngành họ”, vừa có nghĩa là “cành cây”.

[2] Thiên thần trông coi công việc trị an.

[3] Ma quỷ, tinh ma, láo xược (theo Thánh kinh).

II

Dol

Các vị chức sắc nhà thờ vẫn gọi Dol là thành phố Tây Ban Nha trên đất Pháp, trong xứ Bretagne, nhưng Dol không phải là một thành phố mà chỉ là một đường phố.

Một đường phố lớn, cũ kỹ kiểu gô-tích, hai bên đường rộng thênh thang san sát những dãy nhà có cột chẳng ra hàng lối gì, cái thụt vào, cái nhô ra. Còn lại là một mạng lưới những ngõ ngách nhỏ nối liền với đường lớn và đổ về đó như nhiều con suối đổ vào một dòng sông. Thành phố không có cửa ô, chẳng có tường thành, trống trải, điểm cao là núi Dol, bị bao vây thì không thể nào chống lại được; nhưng đường phố thì có khả năng chống giữ. Những ngôi nhà nhô lên, năm mươi năm trước người ta vẫn còn thấy, và hai dãy hiên giữa hàng cột lớn làm cho đường phố trở thành một vị trí chiến đấu hết sức kiên cố và có thể cầm cự được lâu dài. Bao nhiêu nhà là bấy nhiêu pháo đài; và phải chiếm từng nhà một. Cái chợ cũ xây gần giữa phố.

Lão chủ quán ở Croix-Branchard đã nói đúng, chính lúc lão kể chuyện là lúc phố Dol đang ngập trong một cuộc hỗn chiến điên cuồng. Một trận đọ súng ban đêm đột nhiên nổ ra trong thành phố giữa bọn Trắng tới đây ban sáng và phe Xanh thình lình kéo đến lúc chiều. Lực lượng hai bên chênh lệch nhau, phe Trắng có sáu nghìn quân, phe Xanh chỉ có nghìn rưỡi, nhưng kể về quyết tâm chiến đấu thì hai bên lại ngang nhau. Điều đáng chú ý là chính phía nghìn rưỡi quân đã tấn công phía sáu nghìn.

Một bên là đám ô hợp, một bên là quân đội chính quy. Một bên là sáu nghìn dân quê, trên áo da gắn hình trái tim Chúa, đội mũ tròn buộc những giải băng trắng, trên băng tay viết những châm ngôn Thiên Chúa giáo, thắt lưng đeo tràng hạt, trang bị bằng nhiều chàng nạng hơn là gươm, hoặc bằng súng ngắn, không có lưỡi lê, dùng dây thừng buộc pháo mà kéo, tổ chức kém, kỷ luật kém, trang bị kém, nhưng hết sức cuồng tín. Còn bên kia là một nghìn rưỡi binh sĩ đầu đội mũ chào mào có huy hiệu tam tài, áo thân trước rộng và ve áo to, dây đeo kiếm bắt chéo lại, gươm cong và có chuôi bằng đồng và súng trường cắm lưỡi lê dài, có hàng ngũ thuần thục, và cũng hung dữ, biết tuân lệnh như những người đã từng biết chỉ huy, cũng là lính tình nguyện, nhưng là tình nguyện vì tổ quốc, ngoài ra thì trang phục rách rưới, chân không; bên phía bảo hoàng là những dân quê phiêu lưu, bên phía cách mạng là những vị anh hùng chân đất; ở cả hai phe người chỉ huy là linh hồn của đơn vị, bên bảo hoàng là một lão già, bên cộng hòa là một chàng trai. Một bên là Lantenac, một bên là Gauvain.

Cách mạng có những thanh niên vĩ đại như Danton, Saint-Just và Robespierre và những thanh niên lý tưởng như Hoche và Marceau. Gauvain là một trong những người ấy.

Gauvain trạc ba mươi tuổi, vóc người lực lưỡng có cặp mắt nghiêm nghị của một nhà tiên tri và nụ cười của một em bé. Ông ta không hút thuốc, không uống rượu, không văng tục. Ra trận ông ta đem theo đồ trang điểm; ông ta giữ gìn rất cẩn thận móng tay, hàm răng, mái tóc đẹp màu đen nâu. Và những lúc dừng chân, ông ta tự tay giũ trước gió bộ quân phục chỉ huy của mình đã bị đạn bắn thủng lỗ chỗ và bụi bám trắng xóa. Luôn luôn hăng say lao vào đám hỗn chiến, ông ta chưa bao giờ bị thương. Tiếng nói của ông hết sức dịu dàng nhưng lâm thời lại có những giọng sang sảng đột ngột của người chỉ huy. Ông nêu gương nằm đất, dưới gió rét, dưới mưa, trong tuyết, mình cuộn tròn trong áo khoác, đầu gối lên một tảng đá. Một tâm hồn dũng cảm và trong trắng. Lúc tay vung gươm thì nét mặt ông ta thay đổi hẳn. Cái dáng điệu ẻo lả của ông khi lâm trận lại trở nên táo tợn.

Ngoài ra, Gauvain là nhà tư tưởng và triết gia, một bậc hiền nhân trẻ tuổi, trông thấy ông ta thì tưởng là một Alcibiade [1], nghe ông ta nói thì tưởng là Socrate, trong một cuộc đột biến lớn lao như cách mạng Pháp, chàng trai này tức khắc trở thành tướng lĩnh.

Đội quân do ông ta xây dựng, giống như một quân đoàn thời cổ La Mã, một kiểu binh đoàn nhỏ bé nhưng hoàn chỉnh. Có cả bộ binh và kỵ binh; có trinh sát, có lính đào hào, có công binh, có lính làm cầu: và quân đoàn thời cổ La Mã có máy bẫy đá, thì binh đoàn ông ta có trọng pháo. Ba khẩu pháo thắng vào xe làm cho đơn vị mạnh mà vẫn cơ động.

Lantenac cũng là một tướng lĩnh, nhưng ác hơn. Lão ta vừa suy tính kỹ hơn lại vừa táo tợn hơn. Lớp lão tướng thường điềm đạm hơn lớp thanh niên vì họ đã xa buổi bình minh, và họ táo tợn hơn vì đã gần cõi chết. Họ còn gì để mà mất? Rất ít thôi. Do đó mà Lantenac có những cuộc hành quân vừa táo bạo vừa khôn khéo. Nhưng rút cục, và hầu như bao giờ cũng thế, trong cuộc vật lộn dai dẳng giữa một lão già và một thanh niên, Gauvain vẫn chiếm ưu thế. Đó chỉ là hồng vận. Tất cả mọi diễm phúc, cho đến cả loại diễm phúc kinh khủng đều thuộc phần tuổi trẻ. Chiến thắng cũng ưa chuộng tuổi trẻ.

Lantenac giận Gauvain sôi lên, trước hết vì Gauvain thắng lão ta, sau nữa Gauvain lại là thân thuộc của lão. Sao nó lại đi theo bọn Jacobin? Cái thằng Gauvain kia! Cái thằng ranh con! Cháu thừa kế của lão, vì lão không có con, một thằng cháu họ cũng gần như cháu đích tôn! Ông bác ấy đã phải thốt lên: “Ta mà tóm được nó thì ta sẽ giết nó như giết một con chó!”

Vả lại, chính phủ cộng hòa có lý do để lo ngại về lão hầu tước De Lantenac này. Vừa mới đặt chân lên đất liền, lão đã làm rung chuyển khắp vùng. Tên tuổi lão truyền đi khắp Vendée phiến loạn như một làn thuốc súng, và tức khắc, Lantenac trở thành trung tâm. Trong một cuộc nổi loạn như kiểu này, mà tất cả ganh ghét nhau và mỗi người chiếm cứ riêng một bụi rậm, một đường hào, thì một kẻ bề trên xuất hiện có thể liên kết được bọn thủ lĩnh rời rạc, cá đối bằng đầu. Hầu hết bọn tướng lục lâm đều theo Lantenac, và dù ở gần hoặc xa cũng đều tuân lệnh răm rắp.

Chỉ có một người bỏ hắn, đó là Gavard, kẻ đầu tiên đã đi theo hắn. Tại sao vậy? Gavard là một kẻ tâm phúc. Gavard nắm được mọi điều bí mật và đã áp dụng những kế hoạch hành binh kiểu cũ của nội chiến thì Lantenac đến đã thay đổi cả. Ai lại đi kế thừa một người tâm phúc; đi thừa của La Rouarie: Lantenac không thèm xỏ chân vào. Gavard đã bỏ Lantenac để đến với Bonchamps [2].

Về mặt quân sự, Lantenac thuộc trường phái Frédéric II; lão ưa phối hợp lối đánh quy mô với lối đánh du kích. Lão không vừa lòng với một “khối ô hợp” như đội quân Thiên Chúa giáo và bảo hoàng, một đám đông chỉ đi đến chỗ bị tiêu diệt; lão cũng không ưa những toán quân tản mạn trong rừng, trong bụi, chỉ quấy rối được chứ không thể quật ngã kẻ địch. Lối đánh du kích không thể kết thúc hoặc kết thúc một cách thảm hại; lúc khởi sự thì tấn công cả một nền cộng hòa, và rút cuộc thì là cướp giật một chuyến xe ngựa. Lantenac không quan niệm cuộc chiến tranh ở xứ Bretagne này hoàn toàn là trận địa chiến ở đồng bằng như La Rochejaquelein và cũng không hoàn toàn là ở rừng rú như Jean Chouan; không thể theo kiểu Vendée cũng không thể theo kiểu Chouan được. Lão muốn một cuộc chiến tranh thực sự; sử dụng dân quê nhưng phải dựa vào quân đội. Lão muốn vừa có những toán dân quê vũ trang để dùng trong chiến lược, lại vừa có những trung đoàn trong chiến thuật. Lối phục kích và tấn công bất ngờ rất thích hợp với dân quê vũ trang, tán tụ nhanh chóng. Nhưng những toán quân như thế lỏng lẻo lắm; như nước trong lòng bàn tay; lão muốn tạo nên một điểm vững chắc trong cuộc chiến tranh bồng bềnh và tản mạn này; lão muốn bổ sung cho đám quân, man rợ ở rừng núi một đội quân chính quy làm nòng cốt để huy động dân quê. Ý nghĩ thật thâm hiểm và ghê sợ; nếu lão thực hiện được thì loạn Vendée khó mà dẹp nổi.

Nhưng tìm đâu ra một đội quân chính quy? Tìm đâu ra binh lính? Tìm đâu ra những trung đoàn? Tìm đâu ra cả một quân đoàn có sẵn? Chỉ có ở nước Anh. Do đó, ý nghĩ như đinh đóng cột của Lantenac: làm sao đưa quân Anh đổ bộ vào. Thế là, ý thức phe phái đã sụp đổ; chiếc huy hiệu trắng đã che lấp cho chiếc áo đỏ [3]. Lantenac chỉ có một ý nghĩ: chiếm một điểm trên bờ biển và dâng cho Pitt. Vì vậy, khi thấy Dol bỏ ngỏ, lão nhảy xổ đến để chiếm Dol tức là chiếm ngọn núi Dol và từ đó chiếm bờ biển.

Địa điểm ấy thật khéo chọn. Đại bác đặt ở núi Dol sẽ quét sạch cả một vùng từ Fresnois đến Saint-Brelade, buộc hạm đội Cancale không dám tiến gần và biến cả một vùng bãi biển, từ Raz-sur-Couesnon đến Saint-Mêloir-des-Ondes, sẵn sàng chờ một cuộc đổ bộ.

Muốn cho mưu mô có tính chất quyết định đó thành công, Lantenac đem theo hơn sáu nghìn người, chọn những người lực lưỡng nhất và tất cả khẩu đội pháo gồm mười khẩu đại bác hạng nhỏ mười sáu ly, một khẩu đại bác chắp vá lại, cỡ tám ly và một khẩu loại trung đoàn bắn được bốn li-vrơ đạn. Lão dự định đặt một khẩu đội mạnh trên núi Dol theo nguyên tắc là mười khẩu trọng pháo bắn ra một nghìn phát đạn được việc hơn là năm khẩu bắn ra một nghìn năm trăm phát.

Thắng lợi tưởng như đã cầm chắc. Lão có sáu nghìn quân. Chỉ còn lo phía Avranches, quân của Gauvain có một nghìn rưỡi người và mặt Dinan có quân của Léchelle. Léchelle, tuy có hai vạn rưỡi quân thật nhưng lại ở cách xa những hai mươi dặm. Lantenac yên tâm, phía Léchelle có lực lượng lớn nhưng ở xa, còn về phía Gauvain, tuy ở gần nhưng quân số lại ít. Xin nói thêm rằng Léchelle là một anh ngu ngốc và sau này hắn đã nướng cả hai vạn rưỡi quân ở truông Croix-Bataille, và hắn đã tự tử vì cuộc bại trận đó.

Vậy nên Lantenac rất yên trí. Cuộc tiến quân vào Dol rất chớp nhoáng và ác liệt. Hầu tước De Lantenac đã khét tiếng là không biết thương ai. Cho nên khi vào Dol thì không một ai dám kháng cự. Dân chúng khiếp đảm ẩn trong nhà, chận kín cửa lại. Sáu nghìn quân Vendée chiếm đóng các phố, chúng lộn xộn theo lối dân quê, gần như họp chợ, không có hạ sĩ quan hậu cần, không được bố trí chỗ ở, bạ đâu hạ trại đó, nấu nướng ngay ngoài trời, tự do phân tán vào nhà thờ, vứt hết súng ống để lần tràng hạt. Lantenac cùng với vài sĩ quan pháo binh vội vã đi quan sát núi Dol và giao chức phó chỉ huy cho Gouge-le-Bruant.

Tên này đã để lại một dấu tích mờ nhạt trong lịch sử. Hắn có hai tên hiệu, một là Diệt-Xanh, vì những cuộc tàn sát của hắn đối với những người yêu nước, hai là Imânus bởi vì con người hắn có một cái gì ghê tởm không thể tả được. Chữ Imânus nói chệch đi từ một danh từ cổ vùng dưới xứ Normandie là Imânis để chỉ cái gì xấu xa nhất, loài người không thể có, mà lại có nghĩa rùng rợn hoang đường như là ma, quỷ, yêu tinh. Trong một bản thảo cổ đã thấy có viết chữ Imânus đó. Ngày nay, các cụ già ở vùng Bocage cũng không hiểu gì về Gouge-le-Bruant và Diệt-Xanh nghĩa là gì; nhưng các cụ có biết lỗ mỗ về Imânus. Cái tên Imânus còn rớt lại trong những chuyện mê tín ở địa phương. Người ta còn nhắc đến tên Imânus ở hai làng Trémorel và Plumaugat nơi mà tên Gouge-le-Bruant đã để lại vết chân dã man của hắn. Trong vụ loạn Vendée, những kẻ khác chỉ là man rợ nhưng Gouge-le-Bruant là loài tàn bạo. Đó là một thứ chúa mọi, trên người hắn ánh lên vẻ ghê tởm và gần như dị thường của một tâm hồn hoàn toàn không giống bất cứ một tâm hồn nào khác của con người. Trong chiến đấu, hắn dũng cảm một cách khốc liệt rồi dần dần trở nên bạo ngược. Một trái tim đầy rẫy những ngõ ngách quanh co, có khi rất mực trung thành, có khi rất mực cuồng bạo. Hắn có biết suy xét không? Có chứ, nhưng như kiểu rắn bò, theo đường ngoằn ngoèo. Cách suy xét của hắn là đi từ hùng dũng để tới giết người. Thật khó mà đoán được những quyết định của hắn từ đâu mà có, đôi khi những quyết định ấy vĩ đại đến trở thành quái gở. Hắn có thể làm tất cả những việc bất ngờ, khủng khiếp. Ở hắn có cả bạo ngược lẫn hào hùng.

Từ đó, hắn mang cái tên hiệu kỳ quái là Imânus.

Lão hầu tước De Lantenac rất tin cậy ở tính độc ác của hắn.

Độc ác là sở trường của Imânus; đúng thế. Nhưng về mặt chiến lược, chiến thuật thì hắn lại không sở trường bằng và khi phong hắn chức chỉ huy tác chiến, có thể lão hầu tước đã thất sách. Dù sao, lão hầu tước đã để Imânus thay lão xem xét mọi việc.

Gouge-le-Bruant, một tên hiếu chiến hơn một nhà quân sự, dùng để cắt cổ cả một bộ tộc hơn là giữ một thành phố. Tuy nhiên hắn cũng bố trí các đơn vị tiền tiêu.

Vừa chập tối, sau khi lão hầu tước De Lantenac đã quan sát địa điểm dự định đặt khẩu đại pháo và trở về Dol, thì bất thình lình lão nghe tiếng đại bác nổ. Lão chú ý nhìn. Một đám khói đỏ rực bốc lên ở phố lớn. Ở đó đã xảy ra một trận đánh bất ngờ, một trận đột kích, một cuộc tấn công; hai bên đang đánh nhau trong thành phố.

Mặc dầu vốn là người ít hay ngạc nhiên, lúc bấy giờ lão cũng sửng sốt. Lão có tính đến nông nỗi này đâu. Có thể là ai? Nhất định không phải Gauvain. Không thể lấy một mà chọi với bốn được. Hay là Léchelle? Nhưng hành quân chớp nhoáng cách nào! Chưa hẳn là Léchelle mà không thể là Gauvain được.

Lantenac thúc ngựa; trên đường hắn gặp dân phố chạy trốn; hắn hỏi thăm, họ đang hết sức hoảng sợ. Họ kêu lên: Bọn Xanh! Bọn Xanh! Và khi hắn về đến nơi, thì tình thế đã trở nên bất lợi.

Sự việc đã xảy ra thế này.

Chú thích:

[1] Học trò yêu của Socrate, một vị tướng có tài nhưng vô hạnh, có nhiều tham vọng cá nhân.

[2] Quý tộc trẻ, thủ lĩnh quân phiến loạn Vendée, tử trận năm 1794.

[3] Áo đỏ tượng trưng cho dã tâm xâm lược của tướng Pitt, thủ tướng Anh.

 

III

Những binh đoàn nhỏ và những trận đánh lớn

Vừa đặt chân đến phố Dol bọn dân quê, như ta vừa thấy, đã phân tán khắp các ngả trong phố, ai muốn làm gì thì làm, dĩ nhiên là như thế khi “người ta tuân lệnh chỉ vì cảm tình”, đó là lời họ nói. Cách tuân lệnh đó tạo nên anh hùng chứ không tạo thành binh lính. Họ đã cất đại bác và đồ đạc dưới vòm chợ cũ, rồi họ vừa mệt, vừa ăn no uống say, lần tràng hạt, và nằm ngổn ngang trên đường cái làm bộn đường hơn là bảo vệ đường phố. Trời vừa tối thì phần đông đã ngủ, đầu gối lên bọc quần áo, một vài người còn có vợ con nằm bên cạnh; vì đàn bà đôi khi cũng đi theo họ; ở Vendée, đàn bà bụng mang dạ chửa thường làm việc do thám. Đêm đã sang trời tháng bảy, êm ả; các chùm sao lấp lánh trên nền trời xanh và sâu thẳm. Cả đoàn người ô hợp đó bắt đầu ngủ ngon trông giống như một đoàn lữ hành nghỉ chân hơn là một đoàn quân cắm trại. Bỗng nhiên qua ánh hoàng hôn mờ mờ, những người còn thức trông thấy ba khẩu trọng pháo chĩa thẳng ở ngay đầu lối vào phố lớn.

Đó là Gauvain. Ông đã đánh lừa được bọn lính tiền tiêu, đột nhập vào thành phố, dẫn đoàn quân của mình chiếm lấy đầu phố.

Một người dân quê vùng dậy kêu lên: ai, và luôn một phát súng; một phát đại bác đáp lại. Rồi một loạt súng trường giận dữ nổ vang lên. Đám đông đang ngủ dở mắt, chồm dậy. Một cuộc kinh động dữ dội. Họ ngủ dưới trời sao và thức dậy trong lửa đạn.

Giây phút đầu tiên thật là kinh khủng. Không có gì bi đát bằng một đám người lúc nhúc bị đánh. Họ vồ lấy vũ khí. Họ gào thét, họ chạy, nhiều người ngã xuống. Họ bị đột kích bất thần, họ luống cuống, người nọ bắn lẫn vào người kia. Nhiều người trong phố như mất trí chạy khỏi nhà, chạy vào rồi lại chạy ra và lang thang, cuống quít trong đám hỗn loạn. Nhiều gia đình gọi nhau. Trận đánh thảm khốc có lẫn cả đàn bà và trẻ con. Đạn lên, rạch sáng ngời trong bóng tối. Súng bắn từ tất cả các góc tối. Tất cả bốc khói và huyên náo. Xe cộ ngổn ngang khiến cho quang cảnh càng thêm hỗn độn. Ngựa đá hậu cuống cuồng. Người ta dẫm lên cả những thương binh. Người ta nghe thấy những tiếng tru tréo sát mặt đất. Có kẻ chết khiếp, có người mất hồn như ngây dại. Binh lính và sĩ quan tìm nhau. Giữa cảnh hỗn loạn ấy có những bộ mặt lạnh lùng, u ám. Một người đang ngồi sát vào một mảnh tường cho con bú, chồng chị cũng dựa lưng vào bức tường đó, một chân bị gãy, máu chảy dầm dề, vẫn lên đạn bắn vu vơ như để giết ai trong bóng tối trước mặt. Nhiều người đàn ông nằm sấp sát đất, ghếch súng bắn qua các bánh xe ngựa. Thỉnh thoảng lại nổi lên tiếng hò reo ầm ĩ. Những tiếng nổ ầm ầm của đại bác át hết tất cả. Thật là kinh khủng.

Như một cảnh đốn rừng; người ngã chồng chất lên nhau. Quân của Gauvain, nấp kín, bắn ra chắc chắn và bị thương vong rất ít.

Nhưng rồi đám dân quê liều lĩnh và hỗn độn ấy cuối cùng cũng giữ được thế thủ; họ rút vào trong chợ, một cứ điểm rộng và tối mò, một rừng cột bằng đá. Vào đó họ củng cố lại đội ngũ; bởi vì nơi nào giống cảnh rừng cũng đều làm cho họ vững lòng. Imânus làm hết sức mình để thay thế Lantenac. Quân Lantenac cũng có đại bác nhưng Gauvain ngạc nhiên thấy họ không sử dụng; đó là vì những sĩ quan pháo binh đã cùng với lão hầu tước quan sát núi Dol, đám binh lính ở lại chẳng biết xoay xở thế nào với các khẩu súng ấy. Nhưng họ cũng trút được đạn súng trường lên quân xanh đang nã trọng pháo vào họ. Họ bắn rào rào để đương đầu với đạn đại bác. Bấy giờ, chính họ lại thế kín đáo. Họ chất tất cả xe ngựa lớn nhỏ, đồ đạc hành lý, những thùng rượu bỏ trong chợ và mang lên một chiến lũy cao với những khe hở để chĩa mũi súng ra ngoài. Từ những lỗ châu mai đó, lực của họ cũng gây nhiều thiệt hại cho đối phương. Các việc đó được tiến hành rất nhanh chóng. Chỉ trong khoảnh khắc, khu chợ ấy đã có một trận tuyến vững chắc.

Việc này khá nghiêm trọng cho Gauvain. Khu chợ này đột nhiên trở nên thành lũy, thật là điều bất ngờ, trong đó, đám dân quê đã cụm lại và được bảo vệ vững chắc. Gauvain đã thắng trong trận đột kích nhưng thất bại trong ý định đánh tan quân địch. Ông ta xuống ngựa. Tay vòng trước ngực thanh kiếm lăm lăm, vẻ chăm chú, ông ta đứng dưới ánh đuốc đang chiếu sáng khẩu đội pháo, mắt nhìn vào cái đám đen trước mặt.

Dưới ánh đuốc ấy, thân hình cao lớn của ông đã để cho bọn người sau chiến lũy trông rõ. Ông ta đã thành mục tiêu nhưng vẫn không nghĩ đến.

Từ chiến lũy, đạn bắn ra vèo vèo, rơi quanh Gauvain vẫn đứng nghĩ ngợi.

Nhưng ông ta có đại bác chống lại cái loại súng ngắn của địch. Cuối cùng thì đại bác vẫn có thế hơn. Trong chiến đấu, ai có trọng pháo là người ấy thắng. Khẩu đội của ông được sử dụng tốt, vẫn giữ ưu thế.

Đột nhiên, từ khu chợ tối đen, một ánh chớp lóe lên, rồi người ta nghe thấy một tiếng nổ như sét đánh, và một viên đạn đại bác bay đến phá thủng một căn nhà phía trên đầu Gauvain.

Phía chiến lũy đã dùng đại bác để trả lời đại bác. Cái gì đã xảy ra? Một sự kiện mới. Bây giờ hỏa lực đại bác không chỉ ở một bên nữa.

Một viên đạn đại bác thứ hai tiếp đến bắn vào bức tường sát bên cạnh Gauvain. Một viên đạn thứ ba hất mũ ông ta xuống đất.

Những viên đạn đó đều thuộc cỡ lớn. Chính một khẩu mười sáu ly đã bắn ra.

- Chúng nhằm bắn ngài đấy. - Các pháo thủ kêu lên.

Và họ tắt đuốc. Gauvain, mơ màng, cúi xuống nhặt mũ.

Quả thực có người nào đó nhằm bắn Gauvain, đó là Lantenac.

Lão hầu tước vừa vào chiến lũy qua lối sau. Imânus đã chạy lại báo cáo với hắn:

- Thưa đức ông, chúng ta bị tấn công bất ngờ.

- Ai tấn công?

- Chúng tôi chưa rõ.

- Đường phía Dinan vô sự chứ?

- Tôi chắc vậy.

- Phải chuẩn bị rút lui.

- Thưa đã bắt đầu. Nhiều đứa đã tháo chạy rồi.

- Không tháo chạy mà rút lui. Tại sao không sử dụng trọng pháo?

- Chúng nó cuống cả lên, vả lại sĩ quan vắng cả.

- Ta ra đó xem.

- Thưa đức ông, tôi đã cho rời đến Fougères các hành lý, bọn đàn bà, tất cả những thứ vô dụng. Còn ba đứa trẻ tù binh thì nên thế nào?

- A, đám trẻ ấy à?

- Vâng.

- Chúng là con tin của ta. Sai dẫn chúng đến lâu đài Tourgue.

Nói xong, lão hầu tước đi đến chiến lũy. Người chỉ huy tới, mọi sự thay đổi hẳn. Chiến lũy bố trí không đủ cho cả khẩu đội, chỉ đủ chỗ cho hai khẩu đại bác; lão hầu tước cho ghép hai khẩu mười sáu ly thành khẩu đội. Lão nhoài mình trên một khẩu pháo, quan sát khẩu đội pháo địch, lão trông thấy Gauvain.

- Chính nó rồi! - Lão kêu lên.

Rồi tự tay lão dùng thông nòng, nện thuốc, lắp đạn, sửa lại đường ngắm thật chắc và nổ súng.

Ba lần lão chỉnh hướng cho đúng Gauvain, và đã bắn trượt cả. Phát thứ ba chỉ làm trật mũ.

- Vụng quá! - Lantenac lẩm bẩm - Thấp một tí thì được cái đầu rồi.

Đột nhiên, ngọn đuốc tắt, và trước mặt lão tối như mực.

- Được.

Và quay về phía bọn pháo thủ, lão hô:

- Bắn liên hồi.

Ở bên kia, bên Gauvain tình hình cũng không kém nghiêm trọng. Tình thế nguy ngập. Chiến cuộc đã chuyển sang một hình thái mới. Phía chiến lũy hãy còn ở giai đoạn nã đại bác sang họ. Biết đâu họ lại không sắp chuyển từ phòng ngự sang phản công? Bên địch trừ những tên chết và chạy tháo thân, ít ra cũng còn năm nghìn người mà bên phía Gauvain thì chỉ còn một nghìn hai trăm người đủ sức tác chiến. Bên quân cộng hòa sẽ ra sao nếu địch biết được quân số ít ỏi của họ? Tình thế sẽ đảo ngược. Đang ở thế xung kích, họ sẽ bị xung kích. Nếu phía chiến lũy mở một đợt tấn công thì có thể hỏng tất cả.

Làm thế nào? Không thể tính chuyện tấn công vào chiến lũy ở chính diện nữa. Dùng toàn lực mở một đợt cường kích thì thật là ảo tưởng; một nghìn hai trăm người không thể nào đánh đuổi được năm nghìn người ra khỏi hiểm cứ. Tốc quyết không được, chờ đợi càng bí hơn. Phải kết thúc tình thế ấy. Nhưng bằng cách nào?

Gauvain là người địa phương, ông ta biết rõ phố Dol, ông ta biết phía sau chợ mà quân Vendée đang nấp để bắn ra thông với những ngõ hẹp và quanh co. Ông ta quay lại phía viên phó chỉ huy là đại úy Guéchamp, người về sau nổi tiếng vì đã quét sạch cả khu rừng Consise, nơi chôn nhau cắt rốn của Jean Chouan và chặn quân địch ở bờ chuôm La Chaîne, ngăn không cho chúng chiếm Bourg-neuf.

- Guéchamp - Gauvain nói - Tôi giao nhiệm vụ chỉ huy cho ông. Ông cứ cho trút hết hỏa lực ra. Cứ cho đại bác chọc thủng chiến lũy đi. Giữ chân tất cả đám quân địch kia.

- Rõ! - Guéchamp đáp.

- Tập trung toàn binh đoàn, lên đạn sẵn và chuẩn bị cho họ xung phong.

Ông ta nói thêm vài lời sát tai Guéchamp.

- Rõ! - Guéchamp đáp.

Gauvain hỏi tiếp:

- Trống của ta đủ cả đấy chứ?

- Đủ.

- Chúng ta có tất cả chín tay trống. Ông giữ lại hai, cho tôi bảy.

Bảy tay trống đến sắp hàng lặng lẽ trước mặt Gauvain.

Lúc đó, Gauvain hô:

- Tiểu đoàn Mũ Đỏ theo tôi!

Mười hai người, trong đó có một viên đội bước ra khỏi hàng quân.

- Tôi cần cả tiểu đoàn. - Gauvain bảo.

- Cả tiểu đoàn đây. - Viên đội trả lời.

- Mới có mười hai người.

- Chúng tôi còn lại mười hai người thôi.

- Được! - Gauvain nói.

Viên đội đó chính là Radoub, một chiến sĩ rất tốt và cứng cỏi, người đã thay mặt tiểu đoàn nhận đỡ đầu ba đứa trẻ gặp trong rừng Saudraie.

Ta còn nhớ chỉ có một nửa tiểu đoàn thôi đã bị sát hại ở Herbe-en-Pail và may sao khi ấy Radoub lại không ở trong số đó.

Ở gần đó có một chiếc xe chất đầy rơm khô; Gauvain trỏ tay bảo viên đội:

- Ông đội bảo lính bện rơm quấn vào súng để tránh tiếng động khi chạm vào nhau.

Một phút sau, mệnh lệnh được chấp hành đầy đủ, lặng lẽ trong bóng tối.

- Báo cáo xong. - Viên đội nói.

Gauvain lại ra lệnh:

- Anh em binh sĩ, cởi hết ra.

- Chúng tôi chẳng có. - Viên đội đáp.

Thế là tiểu đoàn Mũ Đỏ với bảy người đánh trống thành mười chín người; Gauvain là người thứ hai mươi.

Gauvain hô:

- Một hàng dọc. Theo tôi. Trống đi theo tôi. Tiếp đến tiểu đoàn. Ông đội, ông sẽ chỉ huy tiểu đoàn.

Gauvain dẫn đầu đoàn quân, và trong khi đại bác hai bên vẫn nổ dòn dã, hai mươi người ấy lướt đi như những cái bóng, tiến sâu vào những phố nhỏ vắng ngắt.

Họ đi một lúc lâu như thế, quanh co men theo các nhà. Trong thành phố, mọi vật như chết; dân phố đều núp cả dưới hầm nhà. Tất cả cửa lớn đều cài then, cửa sổ khép chặt. Không một chút ánh sáng.

Giữa cảnh im lìm ấy, ngoài phố lớn đạn vẫn nổ dữ dội; đại bác vẫn tiếp tục bắn nhau; cả hai bên, khẩu đội cộng hòa và chiến lũy bảo hoàng khạc đạn vào nhau như điên như dại.

Sau hai mươi phút đi quanh co, Gauvain bước vững chắc trong bóng tối, lần đến đầu một phố nhỏ ăn thông ra phố lớn; có điều lúc này họ đã ở phía sau chợ rồi.

Vị trí đã đổi ngược. Về phía bên này, không có chỗ ẩn nấp, đó là một điều sơ hở muôn thuở của những người xây chiến lũy, cả mặt sau chợ bỏ trống và người ta có thể đi qua các hàng cột trong đó đã có vài chiếc xe chứa đồ đạc chuẩn bị chuyển đi. Gauvain và mười chín người đi theo đang đứng trước năm nghìn quân Vendée nhưng không phải ở trước mặt mà lại ở sau lưng.

Ông ta bảo nhỏ với viên đội; họ tháo rơm bện quanh súng; mười hai khinh binh dàn thành thế trận sau góc phố nhỏ và bảy anh lính mang trống đã giơ cao dùi trống chờ lệnh.

Trọng pháo hai bên vẫn trút đạn ngắt quãng từng hồi. Đột nhiên, giữa khoảng cách của hai loạt súng nổ, Gauvain vung kiếm và hô lớn như một tiếng kèn trận nổi lên giữa cảnh im lìm:

- Hai trăm người bên phải, hai trăm người bên trái, còn lại xông vào mặt giữa.

Cả mười hai phát súng nổ và bảy chiếc trống rung nhịp xung phong. Và Gauvain thét lên, tiếng thét ghê sợ của quân đội cộng hòa:

- Lắp lê! Xung phong!

Kết quả thật là dị thường.

Cả cái đám dân quê ấy cảm thấy đã bị đánh tập hậu và tưởng rằng phía sau lưng có một binh đoàn mới. Cùng lúc đó, nghe tiếng trống, toán quân giữ phía đầu phố lớn do Guéchamp chỉ huy cũng chuyển động ồn ào, trống cũng rung nhịp xung phong và chạy lao vào chiến lũy; đám dân quê bị kẹp giữa hai hỏa tuyến. Trong lúc hoang mang cái gì cũng to lớn khác thường; trong cơn hoảng loạn, một tiếng súng lục cũng nghe to như một phát súng đại bác, những tiếng ồn ào nghe như ma kêu quỷ khóc và tiếng chó sủa tưởng như sư tử gầm. Phải nói thêm là rơm bắt lửa nhanh thế nào thì đám dân quê sợ hãi nhanh thế ấy, và nếu lửa bám vào rơm dễ gây nên đám cháy thì nỗi sợ hãi của đám dân quê cũng dễ dàng dẫn đến bại trận. Thật là cả một cuộc tháo chạy không thể nào tả xiết.

Trong chốc lát, khu chợ đã vắng tanh, lính khiếp đảm tan rã trong chốc lát, chỉ huy chẳng làm sao mà ngăn cản được. Imânus bắn một vài tên bỏ chạy nhưng vô hiệu, người ta chỉ nghe tiếng kêu “Mạnh ai nấy chạy!” và đám loạn quân ấy vượt qua đường phố như vượt qua các lỗ rây, tản ra ngoài đồng nhanh như một đám mây bị gió lốc cuốn.

Kẻ thì bỏ chạy về Chateauneuf, kẻ thì chạy về Plerguer, kẻ thì chạy về Antrain.

Lão hầu tước Lantenac đứng nhìn cuộc rút lui tán loạn ấy. Lão tự tay khóa đại bác lại, và rút sau cùng, chậm rãi và lạnh lùng, và lão thốt ra: “Nhất định là bọn dân quê không làm nổi việc. Chúng ta cần phải có người Anh”.

IV

Đây là lần thứ hai

Quân cộng hòa toàn thắng.

Gauvain quay lại nói với anh em trong tiểu đoàn Mũ Đỏ:

- Mười hai người các anh có thể sánh với nghìn người.

Thời ấy, một lời khen của cấp chỉ huy cũng ngang như một tấm huân chương. Theo lệnh Gauvain, Guéchamp truy kích địch ngoài thị trấn và bắt được vô số.

Sau đó, người ta đốt đuốc lên và đi lục soát trong phố.

Tất cả những kẻ không chạy trốn được đều ra hàng. Người ta đốt lửa sáng rực cả phố lớn. Mặt đường ngổn ngang xác chết và người bị thương. Kết thúc một cuộc chiến đấu, bao giờ cũng gay go; một vài nhóm đó đây, tuy đã tuyệt vọng nhưng vẫn cố chống cự, cuối cùng bị chặt, chúng phải hạ khí giới.

Trong đám quân địch tháo chạy hỗn loạn, Gauvain vừa nhận ra một người hết sức dũng cảm, nhanh nhẹn và lực lưỡng như thú rừng không chịu rút mà vẫn bắn chặn, che chở cho bọn khác đang tháo chạy. Hắn sử dụng súng ngắn rất oanh liệt, dùng nòng súng mà bắn, dùng báng súng mà đánh đến gãy. Lúc này, hai tay hắn, một tay cầm súng lục, một tay cầm kiếm. Không ai dám lại gần hắn. Bỗng nhiên, Gauvain thấy hắn lảo đảo rồi tựa lưng vào một cái trụ bên đường. Hắn vừa bị thương. Nhưng hắn vẫn nắm chắc kiếm và súng. Gauvain cắp thanh kiếm dưới nách đi đến chỗ hắn.

- Hàng đi! - Ông ta bảo.

Người kia nhìn Gauvain chằm chặp. Máu từ một vết thương trong người hắn chảy trong lớp quần áo đọng lại thành một vũng to dưới chân.

- Anh là tù binh của tôi. - Gauvain tiếp.

Người kia nín lặng.

- Anh tên là gì?

Người kia trả lời:

- Nhảy [1].

- Anh là một người dũng cảm.

Và ông ta chìa tay ra bắt tay người kia.

Hắn đáp lại bằng một câu:

- Đức vua muôn năm!

Và thu hết tàn lực, hai cánh tay cùng giơ lên một lúc, hắn nhằm bắn một phát vào ngực Gauvain và chém một nhát kiếm trên đầu ông ta.

Hắn làm nhanh như một con hổ; nhưng có một người khác lại còn nhanh hơn nữa. Đó là một người cưỡi ngựa vừa mới đến và đứng đó một lúc mà không ai để ý. Khi trông thấy tên lính Vendée giơ cao thanh kiếm và khẩu súng lên, ông ta nhảy xổ ngay vào giữa tên này và Gauvain. Không có người đó, Gauvain đã chết rồi. Con ngựa hứng lấy phát đạn, người cưỡi ngựa bị thanh kiếm chém trúng, cả hai đều ngã xuống. Tất cả sự việc diễn nhanh vừa kịp cho người kia kêu lên một tiếng.

Tên lính Vendée lúc ấy đã gục xuống bên lề đường.

Nhát kiếm đã chém trúng giữa mặt người cưỡi ngựa; ông ta ngã xuống bất tỉnh. Con ngựa chết ngay.

Gauvain lại gần.

- Người này là ai? - Ông ta hỏi.

Ông ta nhìn kỹ. Máu trên vết thương chảy như xối làm cho mặt người bị thương thành một cái mặt nạ đỏ ngầu. Khó mà biết được rõ mặt người đó. Chỉ nhìn thấy mái tóc màu xám.

- Người này đã cứu ta - Gauvain nói tiếp - Có ai ở đây biết ông ta không?

- Thưa chỉ huy - Một người lính nói - Người này vừa mới vào thành phố được một chốc. Tôi trông thấy ông ta đến.

Ông ta từ đường Pontorson tới.

Viên sĩ quan quân y chạy lại với hộp đồ cấp cứu. Người bị thương vẫn mê man bất tỉnh. Y sĩ khám nghiệm và bảo:

- Một vết thương xoàng thôi. Không việc gì. Có thể liền lại được. Trong vòng tám hôm, ông ta sẽ đi lại được. Một nhát kiếm thật cừ.

Người bị thương mặc áo choàng, mang thắt lưng màu tam tài, có đôi súng lục và một thanh kiếm. Người ta đặt nằm trên một chiếc cáng rồi cởi áo ra. Người ta đem đến một gàu nước lã, y sĩ rửa sạch vết thương, bộ mặt dần dần rõ ra. Gauvain nhìn ông ta rất chăm chú.

- Ông ta có giấy tờ gì không? - Gauvain hỏi.

Y sĩ lần tay vào một bên túi rút ra một chiếc ví đưa cho Gauvain.

Vừa lúc đó, người bị thương nhờ có nước lạnh đã hồi lại. Mi mắt ông ta hơi động đậy.

Gauvain lục chiếc ví của ông ta, thấy một tờ giấy gấp tư, mở ra, đọc:

“Ủy ban cứu quốc. Công dân Cimourdain...”

Gauvain kêu lên một tiếng:

- Cimourdain!

Tiếng kêu ấy làm cho người bị thương mở mắt ra.

Gauvain cuống quít.

- Cimourdain! Thầy ư! Đây là lần thứ hai thầy đã cứu tôi.

Cimourdain nhìn Gauvain. Một niềm vui không tả xiết ánh lên trên bộ mặt đẫm máu của ông ta.

Gauvain quỳ xuống trước mặt người bị thương, thốt lên:

- Thầy tôi!

- Cha của con. - Cimourdain nói.

Chú thích:

[1] Danse-à-l’Ombre (nguyên văn) có nghĩa là “nhảy múa dưới bóng mát”.

V

Giọt nước lạnh

Đã bao nhiêu năm họ không được gặp nhau, nhưng lòng họ nào có bao giờ rời nhau; họ nhận ra nhau ngay tưởng như mới chia tay ngày hôm qua.

Người ta đã tổ chức ngay một y xá ở tòa thị chính phố Dol. Người ta đặt Cimourdain nằm trên một chiếc giường trong một căn phòng nhỏ thông sang gian phòng lớn của thương binh. Y sĩ phẫu thuật đã khâu xong vết thương, buộc hai người chấm dứt việc thổ lộ tâm tình và khuyên nên để Cimourdain ngủ. Vả lại, Gauvain còn bận trăm công nghìn việc, mà đều là những nhiệm vụ, những vấn đề do cuộc chiến thắng nảy ra. Còn Cimourdain nằm lại một mình; nhưng ông ta không ngủ; ông ta đang trong hai cơn sốt, một cơn sốt vì vết thương, một cơn sốt vì sung sướng.

Ông ta không ngủ nhưng cũng không phải là tỉnh. Có thể như thế được không? Giấc mộng của ông ta đã thành sự thực. Cimourdain thuộc hạng người không tin ở sự may mắn, tình cờ, thế mà nay ông lại gặp may. Ông đã tìm thấy Gauvain. Xa nhau khi anh ta còn nhỏ, gặp nhau thấy anh ta đã thành người; ông ta thấy Gauvain ngày nay đã lớn lên, đáng sợ, dũng cảm. Ông ta gặp lại Gauvain kẻ chiến thắng và chiến thắng vì nhân dân. Tại vùng Vendée này, Gauvain là điểm tựa của cách mạng, và chính ông, Cimourdain đã tạo nên cái trụ cột ấy cho nền cộng hòa. Kẻ thắng trận ấy là học trò của ông. Cái mà Cimourdain thấy rạng rỡ trên gương mặt trẻ trung kia, rồi đây có thể được đưa vào điện Panthéon của nước cộng hòa, đó là tư tưởng của mình, của chính bản thân ông; người học trò của ông, con đẻ trí tuệ của ông, giờ đây đã thành một vị anh hùng và ít lâu sẽ đạt tới đỉnh vinh quang. Cimourdain tưởng như chính tâm hồn mình đã hóa thành siêu phàm. Ông ta đã trông thấy tận mắt Gauvain chỉ huy chiến đấu như thế nào, ông ta cũng giống như Chiron [1] được tận mắt nhìn thấy Achille trong chiến đấu. Đây là mối quan hệ bí ẩn giữa ông thầy tu và con xăng-tô, bởi vì thầy tu chỉ có nửa phần xác là người thôi.

Những chuyện bất ngờ vừa qua, lại thêm bị mất ngủ vì vết thương, làm cho Cimourdain như trào lên một niềm say sưa bí ẩn. Một vận mệnh trẻ trung đang vươn lên, lộng lẫy, và điều làm Cimourdain vui thêm là ông ta có toàn quyền đối với vận mệnh ấy. Chỉ cần thêm một chiến thắng như chiến thắng vừa qua là Cimourdain sẽ chỉ nói một tiếng là chính phủ cộng hòa trao ngay cho Gauvain một quân đoàn. Không có gì choáng váng bằng sự ngạc nhiên thấy tất cả đều thành công. Đó là thời mà mỗi con người đều nuôi một giấc mộng về quân sự. Ai cũng muốn gây dựng nên một đại tướng. Danton thì muốn gây dựng cho Westermann, Marat thì muốn gây dựng cho Rossignol, Hébert thì muốn gây dựng cho Ronsin, còn Robespierre thì lại muốn dìm tất cả những người ấy. Tại sao lại không thể là Gauvain? Cimourdain tự hỏi như vậy. Và ông ta nghĩ ngợi. Một tiền đồ không giới hạn đang mở ra trước mắt ông. Ông ta đi từ giả thiết này đến giả thiết khác. Bao nhiêu những chướng ngại đều biến cả, một khi người ta đã đặt chân lên cái thang danh vọng ấy thì không khi nào dừng lại, người ta sẽ tiến lên, không ngừng, đi từ con người bình thường để tới vì sao sáng lạn. Một đại tướng chỉ là người chỉ huy các quân đoàn; một thủ lĩnh quân sự vĩ đại phải đồng thời là một nhà lãnh đạo tư tưởng. Cimourdain mơ ước Gauvain sẽ trở thành một thủ lĩnh vĩ đại. Giấc mơ thoáng qua nhanh, Cimourdain tưởng như trông thấy Gauvain đang đánh đuổi quân Anh trên biển cả; đang trừng phạt các vua phương bắc trên sông Rhin; đang đẩy lùi Tây Ban Nha ở vùng núi Pyrénées; đang đứng trên đỉnh Alpes ra hiệu cho dân thành La Mã nổi dậy, trong Cimourdain có hai con người, một con người có tình và một con người u uất; cả hai đều thỏa mãn. Vì cứng rắn là lý tưởng của ông, nên đối với ông, Gauvain vừa oai hùng vừa đáng sợ. Cimourdain đang nghĩ đến những cái cần phải hủy diệt đi trước khi xây dựng, và ông nghĩ rằng, lúc này không phải lúc biểu lộ tình cảm, Gauvain người có “tầm vóc thời đại”, như bấy giờ người ta thường nói. Cimourdain hình dung Gauvain nghiền nát dưới chân mình những bóng tối của thời đại, bao bọc trong ánh hào quang, trên đầu rực rỡ sao băng, dang rộng đôi cánh lý tưởng của công lý, của lẽ phải, của tiến bộ, với một thanh kiếm trong tay, thiên thần nhưng sứ mệnh là hủy diệt.

Trong lúc đang ngây ngất trong giấc mơ qua cánh cửa hé mở, ông thoáng nghe người ta đang nói chuyện ở phòng quân y bên cạnh, ông nhận ra tiếng của Gauvain. Cimourdain lắng nghe. Có tiếng chân bước. Tiếng một vài người lính hỏi:

- Thưa chỉ huy, chính tên này đã bắn vào ngài. Trong khi không ai trông thấy, hắn đã lê vào một cái hầm rượu. Chúng tôi đã tìm được hắn. Chính hắn đấy.

Rồi Cimourdain nghe được mẩu chuyện giữa Gauvain và người kia.

- Anh bị thương à?

- Tôi bị thương nhưng còn đủ sức khỏe để cho các ông đem bắn.

- Đặt người này nằm vào giường. Hãy băng bó cho anh ta, săn sóc anh ta, chữa cho anh ta.

- Tôi muốn chết.

- Anh sẽ sống. Nhân danh vua, anh đã muốn giết ta; nhân danh thể chế cộng hòa, ta tha cho anh.

Một nét buồn thoáng qua trên vầng trán Cimourdain. Ông ta như giật mình tỉnh giấc và lẩm bẩm một cách não nùng bi đát:

- Quả là một người khoan hồng.

Chú thích;

[1] Nhân vật trong thần thoại Hy Lạp, thuộc giống xăng-tô (nhân mã), nửa người, nửa ngựa, thầy học của Achille.

VI

Vết thương khỏi, nhưng trái tim vẫn rướm máu

Một vết rạch ở mặt cũng chóng khỏi; nhưng ở nơi khác còn có một người bị thương nặng hơn Cimourdain nữa. Đó là người đàn bà bị bắn đã được lão ăn mày Tellmarch nhặt được trong cái ao ở trại Herbe-en-Pail.

Vết thương của chị Michelle Fléchard nguy hiểm hơn Tellmarch tưởng, cùng với lỗ thủng phía trên vú còn có lỗ thủng xương bả vai. Cùng một lúc với viên đạn làm gãy xương quai xanh, một viên đạn khác xuyên qua vai. Tuy nhiên, nhờ phổi không hề gì nên chị ta có thể khỏi được. Tellmarch là một “ông thầy”, dân quê gọi thế, có nghĩa là lão biết một ít về thuốc, một ít về mổ xẻ, và một ít về tà thuật. Lão săn sóc người đàn bà bị thương trong cái hang thú của lão, trên cái ổ bằng rong biển với các thứ bí mật mà người ta gọi là thuốc vặt, và nhờ lão mà chị Fléchard đã sống.

Xương quai xanh nối liền lại được, vết thương ở ngực và vai đã kín lại. Sau một tuần, người đàn bà đã bình phục.

Một buổi sáng, chị ta tựa vào lão Tellmarch bước được ra khỏi hang thú. Chị ta đến ngồi sưởi nắng dưới gốc cây. Tellmarch biết về chị ta rất ít, vết thương trên ngực chị đòi hỏi phải im lặng, và từ lúc gần như hấp hối cho tới khi khỏi bệnh, chị ta mới chỉ nói được đôi ba tiếng. Khi chị ta muốn nói thì Tellmarch lại bắt chị ta phải im; những lúc ấy, chị ta mơ màng có vẻ bướng bỉnh, và Tellmarch nhận thấy trong con mắt chị ta nhiều ý nghĩa xót xa đang day dứt. Buổi sáng hôm đó, chị ta đã khỏi gần như có thể bước đi được một mình. Lão Tellmarch chất phác đã chạy chữa cho chị ta như tình cha con lúc này sung sướng nhìn chị mỉm cười, nói:

- Người ta đứng được rồi. Người ta chẳng còn thương tích nữa.

- Còn ở trong lòng. - Chị ta bảo.

Rồi chị ta nói tiếp:

- Thế là cụ không biết chúng nó ở đâu ư?

- Ai kia? - Tellmarch hỏi.

- Các con tôi.

Tiếng “thế là” ấy nói lên biết bao nhiêu ý nghĩa, điều đó có nghĩa là “cụ chẳng nói gì về các con tôi, bao nhiêu ngày cụ ở bên cạnh tôi mà không cho tôi mở miệng nhắc đến chúng nó, cụ không cho tôi nói năng gì mỗi khi tôi muốn phá tan không khí im lặng, cụ có vẻ sợ tôi nhắc đến chúng nó, như thế nghĩa là cụ chẳng có điều gì để nói với tôi về chúng nó”. Nhiều lúc, trong cơn sốt, trong cơn mê sảng, chị ta đã gọi con và chị ta đã thấy rõ, vì trong cơn mê, người ta vẫn nhận xét, lão già không trả lời gì chị cả.

Vì quả thật, Tellmarch cũng chẳng biết nói gì với chị. Mà cũng chẳng dễ gì nói chuyện với một bà mẹ về những đứa con mất tích của người ta. Với lại, lão biết gì? Chẳng biết gì hết. Lão chỉ biết rằng một người mẹ đã bị bắn, người mẹ đó lão đã trông thấy nằm trên đất, khi lão đem về nhà thì gần như một cái xác không hồn, cái xác ấy có ba đứa con mà lão hầu tước De Lantenac, sau khi sai bắn người mẹ, đã bắt chúng đem đi. Tất cả tin tức lão nhặt được mới chỉ có thế. Những đứa trẻ ấy giờ ra sao? Có còn sống không? Hỏi han mãi, lão cũng chỉ biết rằng trong ba đứa trẻ, có hai đứa con trai và một đứa con gái vừa mới cai sữa. Chẳng còn biết gì hơn nữa. Lão đã tự đặt bao nhiêu câu hỏi về lũ trẻ không may ấy, nhưng lão không thể giải đáp được. Dân địa phương mà lão hỏi thăm cũng chỉ biết lắc đầu. Đức ông De Lantenac là một người mà người ta không thích nói động đến.

Người ta không thích nói đến Lantenac và người ta cũng không thích nói chuyện với Tellmarch. Dân quê thường có cái lối ngờ vực riêng của họ. Họ không thích Tellmarch. Lão ăn mày Tellmarch là một người đáng ngại. Có việc gì mà lão cứ luôn luôn nhìn lên trời? Và hàng giờ không nhúc nhích như vậy thì lão làm gì và lão suy nghĩ gì? Quả là kỳ dị. Trong cái xứ đang chiến tranh, đang xung đột, đang thiêu đốt, nơi mà tất cả mọi người chỉ có một chuyện là tàn phá, chỉ có một việc là chém giết, trong cái xứ mà người ta đua nhau đốt nhà, cắt cổ cả một gia đình, tàn sát cả một đồn lính, làm cỏ cả một thôn xóm, trong cái xứ mà người ta chỉ nghĩ chuyện phục kích, lừa nhau vào cạm bẫy và chém giết lẫn nhau, thì cái lão già cô độc ấy cứ mải mê với trời đất, chìm đắm trong cái yên tĩnh mênh mông của cảnh vật, đi hái các thứ cây cỏ, chỉ bận bịu với hoa lá, chim chóc và trăng sao, cái lão ấy nhất định là kẻ nguy hiểm. Rõ ràng, lão ta không có lý trí; lão chẳng phục kích, cũng chẳng bắn vào ai. Do đó mà đối với lão người ta thấy sờ sợ.

- Lão ấy điên đấy! - Những người qua đường thường bảo thế.

Vì vậy, Tellmarch không chỉ là con người cô độc mà là một con người bị xa lánh.

Không ai hỏi lão một lời, và người ta cũng ít khi trả lời lão. Vì vậy lão đã không hỏi han được tất cả những điều lão cần biết. Chiến tranh đã lan đi nơi khác, người ta đã đi đánh nhau ở nơi xa, lão hầu tước De Lantenac đã mất hút ở phương nào rồi và trong tâm trạng Tellmarch lúc đó muốn cho lão biết là có chiến tranh thì chiến tranh phải đặt chân lên người lão.

Sau tiếng “các con tôi”, lão Tellmarch thôi không mỉm cười nữa và người mẹ kia lại nghĩ ngợi. Cái gì xảy ra trong tâm hồn người mẹ ấy? Chị ta như chìm dưới đáy vực thẳm. Đột nhiên, chị ta nhìn lão Tellmarch và lại thét lên, giọng nói gần như căm giận:

- Các con tôi!

Lão Tellmarch cúi đầu xuống như một kẻ phạm tội.

Lão đang nghĩ đến tên hầu tước De Lantenac, nhưng hắn thì chắc hẳn không tưởng gì đến lão và rất có thể, hắn cũng không biết là có lão nữa. Lão nhận ra điều đó và tự nhủ thầm: “Bọn lãnh chúa, khi nguy biến thì họ biết đến mình; thoát nạn rồi thì họ chẳng biết mình là ai”.

Và lão lại tự hỏi: “Nhưng thế thì tại sao ta lại cứu cái tên lãnh chúa kia?”

Rồi lão lại tự trả lời: “Vì đó là một con người”.

Tới đó, lão lại suy nghĩ thêm giây lát, rồi lại hỏi mình: “Có chắc thế không?”

Rồi lão lại tự nhắc lại câu nói chua chát:

- Nếu ta biết trước!

Tất cả câu chuyện này đè trĩu lên lão; vì cái điều lão đã làm, lão thấy như có một cái gì bí ẩn. Lão càng nghĩ càng thấy đau đớn. Vậy ra làm một điều thiện có khi lại hóa ra làm điều ác. Cứu con sói là giết con cừu. Chắp cánh cho con diều hâu thì phải chịu trách nhiệm về vuốt nhọn của nó.

Quả là lão cảm thấy mình có tội. Nỗi giận dữ vô tình của người mẹ ấy là đúng.

Tuy thế, việc cứu sống người đàn bà này cũng an ủi lão về việc đã cứu tên hầu tước.

Nhưng còn những đứa trẻ?

Người mẹ cũng đang nghĩ ngợi. Hai dòng tư tưởng ấy xuôi chảy bên cạnh nhau và, tuy không thổ lộ ra, nhưng hẳn đã gặp gỡ nhau trong cơn suy tưởng âm thầm.

Nhưng rồi người mẹ lại nhìn chăm chắm vào lão Tellmarch, cái nhìn thăm thẳm âm u.

- Có lẽ nào mà lại xảy ra cơ sự này. - Chị ta nói.

- Suỵt! - Lão Tellmarch đặt một ngón tay lên miệng ra hiệu.

Chị ta vẫn nói:

- Cụ cứu tôi là sai rồi, tôi giận cụ lắm. Tôi muốn chết đi, vì chết thì chắc sẽ gặp chúng nó. Tôi sẽ biết chúng ở đâu. Chúng sẽ chẳng thấy tôi, nhưng tôi sẽ ở bên cạnh chúng nó. Chết đi thì còn có thể che chở cho chúng.

Lão cầm lấy tay chị ta và bắt mạch.

- Bình tĩnh lại đi, không khéo lại lên cơn sốt đấy.

Chị ta hỏi lão, giọng hơi xẵng:

- Bao giờ thì tôi có thể ra đi được?

- Chị ra đi à?

- Vâng. Đi.

- Nếu biết điều, thì mai đi được. Nếu không, thì chưa biết bao giờ.

- Biết điều nghĩa là thế nào?

- Nghĩa là tin ở Chúa.

- Chúa! Chúa đã đem các con tôi đi đâu?

Rồi chị ta nhớn nhác. Giọng nói trở nên hết sức dịu dàng.

- Cụ hiểu cho - Chị ta nói - Tôi không thể cứ như thế này. Cụ không có con, nhưng tôi đã có chúng nó. Khác nhau lắm. Người ta không thể phán đoán về một việc khi người ta không biết nó là cái gì. Cụ không có con cái gì, phải không?

- Không - Lão Tellmarch trả lời.

- Còn tôi, tôi chỉ có các con tôi thôi. Không có chúng nó, tôi có còn là tôi nữa không? Tôi muốn người ta giải thích cho tôi biết tại sao bây giờ tôi lại không có các con của tôi. Tôi cảm thấy như có một việc gì đã xảy ra vì tôi không hiểu được. Người ta giết chồng tôi, người ta bắn tôi, nhưng biết vậy thôi, tôi chẳng hiểu sao cả.

- Thôi - Lão Tellmarch bảo - Lại lên cơn sốt rồi. Đừng nói nữa.

Chị ta nhìn lão, rồi im lặng.

Từ hôm đó, chị ta không nói gì nữa.

Tellmarch được người ta nghe theo quá cả ý muốn của mình. Chị ta ngồi hàng giờ dưới chân tường xiêu vẹo vẻ mặt đờ đẫn, chị mơ màng và lặng thinh. Sự im lặng thường an ủi được những tâm hồn bình dị khi gặp cảnh vô cùng đau đớn, thâm trầm và bi thảm. Chị ta hình như không muốn hiểu biết gì nữa. Đến một độ nào đó, người thất vọng không hiểu nổi sự thất vọng của mình nữa.

Lão Tellmarch nhìn chị ta, cảm động. Trước cảnh đau thương ấy, con người già lão kia có những ý nghĩ như đàn bà. Phải rồi! Lão tự nhủ. Mồm chị ta không nói nhưng đôi mắt đã nói thay, ta biết chị ấy chỉ có một định kiến. Chị đã từng làm mẹ, đã từng nuôi con. Chị ta không thể cam chịu được. Chị ta nhớ cái con bé mà cách đây không bao lâu chị còn cho bú. Chị ta nhớ nó, nhớ nó, nhớ nó.

Thực vậy, còn gì thú vị bằng khi một cái miệng con trẻ bé xíu đỏ hồng nó lôi kéo tâm hồn ta từ trong da thịt ta ra, và nó biến cái sống của ta thành cái sống của nó.

Về phần lão, Tellmarch cũng lặng thinh và hiểu rằng trước một nỗi tuyệt vọng như thế, lời nói nào cũng bất lực. Khi người ta có một định kiến thì sự im lặng thật là đáng sợ. Và khi một người mẹ đã có một định kiến thì làm thế nào cho họ nghe theo lẽ phải được? Tình mẫu tử là khăng khăng một mực: không thể bàn cãi gì nữa. Cái gì làm cho một người mẹ được cao siêu, chính là vì người mẹ là một người có thú tính, có thú tính một cách kỳ diệu. Người mẹ không còn là người đàn bà nữa, họ là giống cái.

Những đứa con cũng là những con vật nhỏ.

Do đó, trong người mẹ có một cái gì vừa thấp lại vừa cao hơn lý trí. Người mẹ có một cái khiếu đánh hơi rất thính. Cái ý chí bao la, mù mịt của tạo hóa nằm trong người mẹ và điều khiển họ. Mù quáng nhưng rất minh mẫn.

Lúc này, lão Tellmarch muốn làm sao cho người đàn bà khốn khổ kia nói lên; nhưng không làm thế nào được. Một lần, lão nói với chị ta:

- Khốn khổ, lão già rồi, lão không bước nổi nữa. Đi chưa cùng đường thì lực đã tận. Chỉ đi một khắc là chân đã chùn lại, thế là lão phải nghỉ; nếu không, lão có thể sẽ cùng đi với chị. Kể ra thì lão không đi được lại là cái hay. Đi với chị, có lẽ lão giúp chị thì ít mà gây nguy hiểm cho chị thì nhiều. Ở đây, người ta làm lơ cho lão; nhưng gặp bọn Xanh, chúng sẽ nghi lão là dân quê phiến loạn và gặp dân quê thì họ lại nghi lão là phù thủy.

Lão chờ đợi xem chị ta trả lời thế nào. Chị ta cũng chẳng buồn ngước mắt nhìn lên nữa.

Một định kiến thường dẫn đến sự điên rồ hoặc đến hành động anh hùng. Nhưng một người đàn bà quê mùa khốn khổ kia có thể có được hành động anh hùng gì? Chẳng có gì hết. Chị ta có thể làm mẹ, và thế thôi. Mỗi một ngày qua, chị ta lại chìm sâu hơn vào trong cơn mơ tưởng. Lão Tellmarch vẫn theo dõi chị ta.

Lão tìm cách làm cho chị ta có việc; lão đem cho chị ta kim chỉ, một cái khâu tay; kết quả là chị ta bắt đầu may vá, điều ấy làm cho lão vui lòng; chị ta vẫn nghĩ ngợi, nhưng chị ta làm việc, đó là dấu hiệu sức khỏe đã hồi phục; chị ta ngày càng khỏe lên; chị ta vá quần áo, vá ; nhưng mắt chị vẫn lờ đờ. Vừa may vá, chị ta vừa cất tiếng hát nho nhỏ, âm thầm. Chị ta lẩm bẩm những tên người, rất có thể là tên mấy đứa trẻ, nhưng tiếng không rõ lắm, lão Tellmarch không thể nghe được. Có lúc chị bỗng ngừng lại và lắng nghe tiếng chim kêu như là đàn chim sắp mách tin gì mới vậy. Chị ta theo dõi thời tiết. Đôi môi chị mấp máy. Chị ta nói lẩm bẩm một mình. Chị ta khâu một cái túi và chứa đầy hạt dẻ. Một buổi sáng, lão Tellmarch thấy chị ta ra đi, vơ vẩn nhìn đăm đăm vào những nơi sâu thẳm của núi rừng.

- Chị đi đâu? - Lão hỏi.

Chị ta trả lời:

- Tôi đi tìm chúng nó.

Lão cũng không tìm cách giữ chị ta lại nữa.

VII

Hai cực của chân lý

Sau một vài tuần lễ nhộn nhịp của cuộc nội chiến, trong vùng rừng Fougères chỉ còn nghe nói về chuyện hai người trái ngược nhau, nhưng lại cùng làm một nhiệm vụ, nghĩa là cùng đứng về phe cách mạng, chiến đấu bên nhau.

Cuộc đọ sức man rợ ở Vendée vẫn tiếp tục nhưng phái bảo hoàng đã thất bại. Riêng khu vực Ille-et-Vilaine, nhờ người chỉ huy trẻ tuổi trên mặt trận Dol đã đem cái gan dạ của nghìn rưỡi người chiến sĩ yêu nước chiến thắng cái gan dạ của sáu nghìn người bảo hoàng, cho nên cuộc nổi loạn, nếu không nói là tắt hẳn thì cũng đã hết sức giảm sút và hết sức bị giới hạn. Người chỉ huy trẻ tuổi ấy đã thu được nhiều thắng lợi kế tiếp theo đó và từ những thắng lợi liên tiếp nảy ra một tình huống mới.

Cục diện đã đổi thay, nhưng một sự rắc rối đặc biệt lại xảy ra.

Trong khắp vùng này của miền Vendée, nền cộng hòa đã thắng, đó là điều không còn nghi ngờ gì nữa; nhưng nền cộng hòa nào, cuộc chiến thắng vừa tạo nên đã xuất hiện hai hình thái cộng hòa, cộng hòa khủng bố và cộng hòa khoan hồng, một bên muốn chiến thắng bằng tàn khốc và một bên chủ trương chiến thắng bằng nhân từ. Bên nào hơn? Hai hình thái đó mà đại biểu là hai người, một người thì muốn giải quyết ôn hòa, một người thì không hề khoan nhượng, mỗi người đều có một phạm vi ảnh hưởng và quyền thế của mình, người này là chỉ huy quân sự, người kia đại diện chính phủ; trong hai người đó, ai là kẻ sẽ thắng? Trong hai người đó thì người đại diện chính phủ có những chỗ dựa rất lớn; ông ta đến công cán trong các tiểu đoàn của Santerre mang theo mệnh lệnh đáng sợ của Công xã Paris: “Không dung tha, không để sống sót”. Để khuất phục tất cả dưới quyền lực của mình, ông ta lại có thêm sắc lệnh của Viện Quốc ước là “xử tử hình tất cả những ai tự ý tha hoặc để cho một tên cầm đầu bọn phiến loạn thoát ngục”, được Ủy ban cứu quốc giao cho toàn quyền hành động và một mệnh lệnh bắt mọi người phải tuân theo ông ta, mang chữ ký ROBESPIERRE, DANTON, MARAT. Người kia là quân nhân, chỉ có cái sức mạnh là lòng thương người.

Ông ta chỉ có hai cánh tay đập tan kẻ thù và một tấm lòng để tha thứ cho họ. Là kẻ chiến thắng, ông ta tưởng mình có đủ quyền tha cho kẻ chiến bại.

Do đó nảy ra một sự xung đột ngấm ngầm, nhưng sâu sắc giữa hai người. Hai người là hai đám mây khác nhau, cả hai đều chiến đấu chống bọn phiến loạn, nhưng mỗi bên mang theo một luồng sấm sét riêng, bên này là chiến thắng, bên kia là khủng bố.

Khắp miền Bocage người ta chỉ bàn tán đến họ và điều làm cho mọi người thêm lo âu là hai người đó tuy hết sức đối lập nhau nhưng đồng thời lại gắn bó với nhau rất chặt chẽ. Hai đối thủ đó lại là hai người bạn thân thiết. Không có thứ cảm tình cao thượng, sâu xa nào có thể làm cho hai trái tim gần gũi nhau hơn thế; con người dữ tợn đã cứu sống con người hiền lành, do đó ông ta mang một vết sẹo dài trên mặt. Hai người đó là hiện thân của cái chết và sự sống; một bên là nguyên tắc khủng khiếp bên kia là nguyên tắc ôn hòa và họ yêu thương nhau. Vấn đề thật lạ lùng. Ta hãy hình dung Oreste từ bi với Pylade hà khắc [1]. Đó cũng là ông Thiện anh em với ông Ác [2].

Cần nói thêm rằng một trong hai người ấy mà người ta gọi là ông “ác”, lại huynh đệ bác ái hơn mọi người; ông ta băng bó cho những kẻ bị thương, săn sóc những người đau yếu, ngày đêm miệt mài trong những xe quân y và trong bệnh viện, xúc động khi thấy các em nhỏ chân không có, ông không giữ gì riêng cho mình, hiến tất cả cho những người nghèo khổ. Ông ta xông xáo vào nơi trận địa, đi hàng đầu đơn vị và giữa trận đánh ác liệt, người ông vũ trang đầy đủ giắt bên thắt lưng một thanh gươm và hai khẩu súng lục, mà như không vũ trang gì hết, vì không bao giờ người ta thấy ông rút kiếm hoặc đụng đến súng. Ông ta đương đầu với gươm đạn nhưng không đánh trả lại ai. Người ta đồn trước kia ông là thầy tu.

Hai người đó, một là Gauvain, một là Cimourdain.

Đó là tình thân ái giữa hai con người và sự thù địch giữa hai nguyên tắc; thật là một tâm hồn cắt làm đôi và chia xẻ. Gauvain đã tiếp thu một nửa tâm hồn của Cimourdain, nhưng đó là cái nửa hiền từ. Hình như Gauvain đã tiếp nhận cái phần trắng, còn Cimourdain thì giữ lại cái phần đen cho mình. Do đó đã xảy ra sự bất hòa sâu kín. Cuộc xung đột âm thầm đó không thể không nổ ra. Một buổi sáng họ đã khai chiến.

Cimourdain nói với Gauvain:

- Hiện nay tình hình đến đâu rồi?

Gauvain trả lời:

- Thầy cũng biết rõ như tôi. Tôi đã đánh tan các bè lũ Lantenac. Hắn chỉ còn một nhúm người, hắn đã bị dồn vào khu rừng Fougères. Trong tám hôm nữa hắn sẽ bị vây chặt.

- Và mười lăm hôm nữa thì sao?

- Hắn sẽ bị bắt.

- Rồi sao nữa?

- Thầy đã thấy tờ tuyên cáo của tôi chưa?

- Rồi. Nhưng thế nào nữa?

- Hắn sẽ bị xử bắn.

- Vẫn còn khoan hồng, phải cho nó lên máy chém.

- Tôi thì, tôi xử tử theo cách nhà binh. - Gauvain nói.

- Và ta, ta sẽ xử tử theo lối cách mạng. - Cimourdain đáp lại.

Rồi Cimourdain nhìn thẳng vào Gauvain và hỏi:

- Tại sao anh lại sai thả bọn cô mụ ở nhà tu kín Saint-Marc-le-Blanc?

- Tôi không đánh nhau với đàn bà. - Gauvain trả lời.

- Bọn đàn bà ấy thù địch với nhân dân. Và đã là kẻ thù thì một người đàn bà bằng mười người đàn ông. Tại sao anh lại không chịu đưa ra Tòa án cách mạng cái lũ thầy tu cuồng tín đã bị bắt ở Louvigné?

- Tôi không đánh nhau với những người già.

- Một tên thầy tu già tệ hơn một tên trẻ. Cuộc nổi loạn sẽ nguy hiểm hơn nếu do bọn đầu bạc ấy thuyết giáo. Người ta tin ở những nếp da nhăn nheo, Gauvain ạ, không nên có cái lối thương hại không phải cách. Những kẻ giết vua chính là những người giải phóng cho dân tộc. Phải theo dõi tháp Temple.

- Tháp Temple ư? Tôi sẽ giải thoát thái tử khỏi tháp ấy. Tôi không đánh nhau với trẻ nhỏ.

Mắt Cimourdain trở nên nghiêm khắc.

- Gauvain, anh nên biết rằng cần đánh nhau với đàn bà khi người đàn bà ấy tên là Marie - Antoinette [3], đánh nhau với người già khi hắn là giáo hoàng Pie VI [4], đánh nhau với đứa trẻ khi nó là Louis Capet.

- Thưa thầy, tôi không phải là nhà chính trị.

- Nhưng hãy cố gắng đừng trở thành một kẻ nguy hiểm. Tại sao khi tấn công đồn Cossé, lúc tên phản nghịch Jean Treton cùng đường mạt lộ, một mình cầm gươm đâm xổ ra chống với cả một đoàn quân, anh đã hô: Đội ngũ tản ra. Cho nó chạy?

- Bởi vì không ai lại dùng một nghìn rưỡi người để giết một người.

- Tại sao ở Astillé, khi thấy đồng đội sắp giết tên phiến loạn Joseph Bézier bị thương đương kéo lê dưới đất, anh lại hô: Tiến lên! Việc đó mặc ta! Và anh đã bắn một phát súng chỉ thiên?

- Vì không ai lại đi giết một người đã ngã xuống.

- Thế là anh đã sai lầm. Hiện nay cả hai tên ấy đang chỉ huy những toán quân phiến loạn; Joseph Bézier chính là tên Hai Râu và Jean Treton chính là tên Chân-Bạc. Cứu sống hai tên đó, anh đã tạo nên hai kẻ tử thù cho nền cộng hòa.

- Thật ra, tôi muốn tạo cho nền cộng hòa những người bạn chứ không phải là những kẻ thù.

- Tại sao, sau chiến thắng ở Landéan, anh lại không cho đem bắn ba trăm tên dân quê bị bắt làm tù binh?

- Bởi vì Bonchamp đã tha tù binh cộng hòa, tôi muốn người ta cũng nói được rằng bên cộng hòa cũng khoan hồng đối với tù binh bảo hoàng.

- Vậy thì, nếu anh bắt được Lantenac, anh sẽ thả nó chứ?

- Không.

- Tại sao? Anh đã thả ba trăm dân quê phiến loạn kia mà?

- Dân quê là những kẻ dốt nát; còn Lantenac thì biết rõ việc hắn làm.

- Nhưng Lantenac là thân thích của anh?

- Nước Pháp còn thân gấp bội.

- Lantenac là một người già.

- Lantenac là kẻ ngoại lai. Lantenac không có tuổi. Lantenac cầu viện quân Anh. Lantenac là kẻ ngoại xâm. Lantenac là kẻ thù của tổ quốc. Cuộc đọ gươm giữa hắn và tôi chỉ có thể kết thúc nếu hắn chết, hoặc tôi chết.

- Gauvain, anh hãy nhớ lấy lời đó.

- Tôi đã nói thế rồi.

Một lát im lặng, và cả hai đều nhìn nhau.

Rồi Gauvain lại tiếp:

- Cái năm 93 này sẽ là một năm được ghi lại bằng máu.

- Hãy cẩn thận! - Cimourdain kêu lên - Những nhiệm vụ khủng khiếp đang còn. Chớ nên kết tội cái gì không thể kết tội được. Đã bao giờ bệnh hoạn lại là lỗi của thầy thuốc? Phải, đặc điểm của cái năm vĩ đại này chính là ở chỗ không thương xót. Tại sao vậy? Vì đó là một năm của cao trào cách mạng. Cái năm chúng ta đang sống đây chính là hiện thân của cách mạng. Cách mạng có một kẻ thù là chế độ cũ, và cách mạng không thương hại cái chế độ ấy, cũng như nhà phẫu thuật có một kẻ thù là chứng hoại thư, và ông ta không thương hại nó. Cách mạng phải nhổ tận gốc cái chính thể quân chủ trong tên vua, cái lớp thượng lưu trong tên quý tộc, nạn chuyên chế trong bọn võ biền, nạn mê tín trong bọn thầy tu, sự tàn nhẫn trong quan tòa, nói tóm lại, là phải quét sạch cái tàn bạo trong tất cả các tên tàn bạo. Cuộc phẫu thuật thật kinh sợ, và cách mạng đã thực hiện rất vững tay. Làm việc đó phải hy sinh bao nhiêu da thịt lành mạnh hãy thử hỏi Boerhave [5] xem ông ta nghĩ sao. Cắt ung nhọt đi thì bao giờ lại chẳng mất một ít máu? Dập tắt một đám cháy nào đó, có bao giờ lại không phải hy sinh cho nó vài chỗ sát lửa đỏ. Những tất yếu kinh khủng đó là điều kiện của thắng lợi. Nhà phẫu thuật cũng giống như anh đồ tể; một người trị bệnh cũng có thể giống như một đao phủ. Cách mạng phải dốc lòng với sứ mệnh tất yếu của nó. Cách mạng có cắt xẻo đấy, nhưng lại cứu sống. Sao! Anh lại muốn xin cách mạng tha cho loại siêu vi trùng! Anh lại muốn cách mạng khoan dung cho loài nấm độc! Cách mạng không nghe đâu. Cách mạng đã nắm được quá khứ và sẽ kết liễu nó. Cách mạng rạch một vết sâu vào văn minh và từ đó loài người sẽ khỏe mạnh hơn. Anh đau khổ ư? Hẳn rồi. Trạng thái đó sẽ kéo dài bao lâu? Bằng thời gian tiến hành phẫu thuật. Sau đó anh sẽ sống. Cách mạng cắt cái thối nát cho loài người. Do đó, mới có cái năm 93 đẫm máu này.

- Nhà phẫu thuật thì bình tĩnh - Gauvain nói - Nhưng những con người mà tôi trông thấy thì lại hung hãn.

- Cách mạng - Cimourdain đáp lại - cần những bàn tay táo bạo. Nó khước từ những kẻ run tay. Nó chỉ tín nhiệm ở những kẻ thật cứng rắn. Danton là người đáng sợ. Robespierre là người không khuất phục. Saint-Just, con người sắt đá. Marat, không đội trời chung với kẻ thù. Gauvain, anh hãy thận trọng. Những người đó rất cần thiết. Họ có giá trị bằng những quân đoàn. Họ sẽ làm cho cả châu Âu khiếp sợ.

- Và có lẽ rồi cả tương lai cũng phải khiếp sợ họ. - Gauvain đáp.

Ông ta ngừng lại, rồi thêm:

- Vả lại, thưa thầy, thầy đã lầm, tôi không buộc tội ai cả. Theo tôi, cái quan điểm cách mạng chính xác nhất là không ai có trách nhiệm cả. Chẳng có ai vô can mà cũng chẳng có ai là thủ phạm. Louis XVI chỉ là một con cừu bị ném ra giữa đám sư tử. Nó muốn chạy, nó muốn thoát, nó tìm cách tự vệ; nó cắn, nếu có thể. Nhưng không phải ai muốn làm sư tử cũng được. Sự chống chọi nhất thời của nó bị coi là tội ác. Con cừu tức giận nhe răng. Đàn sư tử kêu lên: đồ phản phúc! Và xé xác con cừu. Ăn xong, chúng tại đánh lẫn nhau.

- Con cừu là một con vật.

- Thế những con sư tử, thì là gì?

Câu chất vấn đó đã làm cho Cimourdain suy nghĩ. Ông ta ngửng đầu lên và trả lời:

- Những con sư tử đó là lương tri. Những con sư tử đó là tư tưởng. Những con sư tử đó là nguyên tắc.

- Chúng đã gây ra khủng bố.

- Một ngày kia, cách mạng sẽ thanh minh cho sự khủng bố này.

- Nên lo rằng sự khủng bố ấy lại bôi nhọ cách mạng.

Rồi Gauvain lại tiếp:

- Tự do. Bình đẳng. Bác ái. Là những giáo lý của hòa bình và hòa hợp. Tại sao lại khoác cho nó một bộ mặt đáng sợ? Chúng ta muốn gì? Thu phục các dân tộc vào một chế độ cộng hòa toàn thế giới. Thế thì không nên làm cho họ sợ. Cần gì phải nạt nộ? Các dân tộc cũng như giống chim, không đem con bù nhìn ra mà dứ được đâu. Không nên làm điều ác để làm điều thiện. Lật đổ ngai vàng không phải để giữ lại đoạn đầu đài. Các vua chúa phải chết để cho các dân tộc sống. Lật đổ ngai vàng nhưng phải tha cho mạng người. Cách mạng là sự đồng tâm nhất trí chứ đâu phải là sự khiếp sợ. Những con người thiếu độ lượng đã thực hiện sai những tư tưởng nhân ái. Hai tiếng ân xá theo tôi là một từ đẹp nhất trong ngôn ngữ loài người. Tôi chỉ muốn đổ máu khi máu mình cũng phải đổ. Tóm lại tôi chỉ biết chiến đấu, và tôi chỉ là một quân nhân. Nhưng nếu người ta không thể tha thứ thì chẳng cần chiến thắng để làm gì. Ở mặt trận, chúng ta là kẻ thù của quân thù, nhưng sau khi chiến thắng thì ta và họ là anh em.

- Nên thận trọng! - Cimourdin nhắc lại lần thứ ba - Gauvain, tôi coi anh hơn con đẻ. Nên thận trọng!

Và ông ta nói thêm, dáng nghĩ ngợi:

- Trong thời đại như thời đại chúng ta, lòng thương có thể là một hình thức của phản bội.

Nghe hai người trò chuyện ta tưởng như đây là cuộc đối thoại giữa thanh kiếm và lưỡi rìu.

Chú thích:

[1] Theo thần thoại Hy Lạp, Oreste là người đã giết mẹ để báo thù cho cha, thế mà Pylade vẫn tha thứ cho Oreste.

[2] Nguyên văn: “Thần Arimane anh em với thần Ormus”. Theo tôn giáo Ba Tư, hai ông thần đó là ông Thiện và ông Ác.

[3] Vợ Louis XVI.

[4] Giáo hoàng từ 1775 - 1799.

[5] Herman Boerhave (1668 - 1738): Bác sĩ phẫu thuật người Hà Lan nổi tiếng ở châu Âu.

VIII

Người mẹ đau thương

Trong lúc đó, người mẹ đi tìm con.

Chị ta cứ thẳng trước mặt mà đi. Chị ta sống bằng cách nào? Không thể nói được. Tự chị ta cũng không biết nữa. Chị ta cứ đi ngày này qua đêm khác; chị xin ăn, chị ăn cỏ, nằm đất, ngủ giữa trời, trong bụi cây, dưới đêm sao, một đôi khi dưới mưa và gió rét.

Chị ta lảng vảng làng này qua làng khác, ấp nọ đến ấp kia để dò tin tức. Chị ta dừng lại trước mọi nhà. Chiếc áo ngoài đã rách mướp. Có lúc được người ta tiếp, có khi bị người ta đuổi. Không vào được các nhà thì chị ta lại ra rừng.

Chị ta chẳng hiểu thung thể, mù tịt tất cả, trừ thôn Siscoignard và giáo khu Azé, đi chẳng đúng đường có khi quay lại lối cũ, bắt đầu đi lại quãng đường đã đi qua, đi nhiều quãng đường vô ích. Khi thì lần theo hè phố, có khi theo vết xe bò, có khi theo những con đường mòn trong rừng. Giữa cuộc sống lang thang vô định, chiếc áo tồi tàn của chị ngày càng rách nát. Lúc đầu, chân còn có, dần dần phải đi chân không, rồi đến lúc đôi chân rớm máu.

Chị ta đi qua vùng chiến tranh, qua tên đạn mà không nghe thấy gì, không trông thấy gì, không tìm cách tránh, chỉ tìm con. Khắp nơi loạn lạc chẳng còn đâu có cảnh sát, xã trưởng, chính quyền. Chị ta chỉ biết hỏi thăm người qua lại.

Chị ta hỏi:

- Ông bà có thấy ở đâu đây có ba đứa trẻ không?

Những người qua lại ngửng đầu nhìn chị. Chị ta nói:

- Hai cháu trai, một cháu gái.

Rồi chị ta lại tiếp:

- René-Jean, Gros-Alain, Georgette ấy mà? Ông bà không thấy chúng nó ư?

Chị ta lại thêm:

- Thằng anh lên bốn tuổi rưỡi, còn bé út mới hai mươi tháng.

Chị ta hỏi lại:

- Ông bà có biết chúng nó đâu không? Người ta bắt mất con tôi mà.

Mọi người chỉ biết nhìn chị ta thôi.

Biết không ai hiểu mình, chị ta lại phân trần:

- Chúng nó là con đẻ của tôi mà. Vì thế tôi mới hỏi thăm.

Người ta lại ai đi đường nấy. Chị ta bèn dừng lại, không hỏi han gì nữa và mười ngón tay cứ cào cấu vào ngực.

Tuy nhiên, một hôm một người dân quê dừng lại nghe. Con người tốt bụng ấy suy nghĩ một lúc, rồi nói:

- Xem nào? Ba đứa trẻ à?

- Vâng.

- Hai đứa con trai?

- Và một cháu gái.

- Chị tìm chúng à?

- Vâng.

- Tôi nghe nói có một ông lớn đã bắt ba đứa trẻ đi theo ông ta.

- Người đó ở đâu? - Chị ta kêu lên - Con tôi ở đâu?

Người dân quê trả lời:

- Chị cứ đi đến La Tourgue.

- Có đúng là ở đấy tôi sẽ tìm thấy con tôi không?

- Có thể.

- Ông bảo...?

- La Tourgue.

- La Tourgue là cái gì?

- Là...

- Xóm làng? Lâu đài? Hay là ấp trại?

- Tôi chưa đến đấy bao giờ.

- Có xa không?

- Không gần đâu.

- Ở phía nào?

- Về phía Fougères.

- Đến đấy thì phải qua lối nào?

- Đây là Ventortes - Người dân nói - Chị sẽ bỏ Ernée ở bên trái và Coxelles ở bên phải rồi đi qua Lorchamps và Leroux.

Rồi người dân quê chỉ tay về phía tây.

- Cứ thẳng trước mặt mà đi mãi về phía mặt trời lặn.

Người kia chưa kịp buông tay xuống, chị ta đã vội bước đi.

Người dân quê nói theo chị ta:

- Cẩn thận đấy. Ở đấy họ đang đánh nhau.

Chị ta không quay lại để đáp lời và cứ lủi thủi đi về phía trước.

IX

Nhà ngục ở tỉnh nhỏ

1. La Tourgue

Bốn mươi năm trước đây, ai qua khu rừng Fougères, vào theo lối Laignelet và ra lối Parigné, khi tới ven khu rừng sâu thẳm này sẽ gặp một cảnh tượng thật ảm đạm. Ra khỏi khu rừng rậm thì La Tourgue hiện lên đột ngột trước mặt họ.

Không phải là La Tourgue lúc còn phồn thịnh mà là La Tourgue đã điêu tàn. La Tourgue đã nứt nẻ, thủng dột, sứt mẻ, đổ nát. Một dinh cơ điêu tàn. Không còn quang cảnh nào thê lương hơn thế nữa. Chỉ còn lại một cái tháp tròn cao đứng lẻ loi ở một góc rừng như một tên gian phi. Cái tháp nát dựng trên một khối đá tảng dốc đứng, gần như xây theo kiểu kiến trúc La Mã, trông cũng có vẻ chững chạc và vững chắc; cái khối lực lưỡng ấy là hình ảnh của một cái gì hùng mạnh lẫn với cái điêu tàn. Trông nó gần giống với kiểu kiến trúc La Mã, bởi vì nó thuộc kiểu Roman, khởi công từ thế kỷ thứ chín, và hoàn thành vào thế kỷ thứ mười hai, sau cuộc viễn chinh thập tự thứ ba. Cứ nhìn những cửa tò vò xây bằng đá cũng biết cái tháp ấy dựng vào thời đại nào. Tới gần tháp, leo lên dốc, người ta sẽ nhìn thấy một lỗ tường thủng, chui vào trong thì thấy rỗng không. Nó tựa như một chiếc kèn trận bằng đá đặt đứng trên mặt đất. Trong lòng tòa lâu đài, từ trên xuống dưới nom thông thống, không có mái, không có trần, không có sàn chỉ có những mảnh vòm cuốn và ống khói lò sưởi cùng những khung cửa tạc hình chim ưng; nhìn lên cao, thấy còn sót lại những đàn quạ khắc trong đá hoa cương và mấy cây đà để lại dấu vết những tầng lầu cũ; trên những cây đà ấy đầy cứt chim đêm; tường đồ sộ, dưới chân dầy tới năm mét và trên nóc dầy bốn mét; đây đó, dấu vết những khung cửa cũ còn để lại những lỗ thủng, qua đó có thể nhìn thấy những bậc cầu thang mờ mờ ở mé trong bức tường tối om. Đi vào đây lúc chiều hôm thì người ta nghe tiếng cú mèo, chim huýt gió, sếu và dơi, dưới chân thì toàn gai góc, đá, rắn rết; trên đầu, qua cái vành tròn tối đen của đỉnh tháp giống như một cái miệng giếng lớn, thì thấy trời cao.

Theo truyền thuyết địa phương, trên tầng thượng của tháp có những cửa bí mật bằng một tảng đá lớn như các cửa mộ vua chúa xứ Juda, tảng đá quay xung quanh một cái trục, mở ra rồi khép lại, và lẩn kín vào trong tường; lối kiến trúc này được nhập cảng qua các cuộc viễn chinh thập tự cùng với kiểu kiến trúc hình cung nhọn. Khi các cửa ấy đã đóng thì không tài nào tìm ra được vì nó lẫn với đá xây tường. Ngày nay, người ta còn thấy các cửa ấy trong các đô thị bí ẩn vùng núi Anti-Liban, những đô thị thoát khỏi nạn động đất ở mười hai tỉnh thành dưới thời Tibère.

2. Lỗ tường thủng

Lỗ tường thủng, có thể chui qua để vào di tích hoang tàn này vốn là một lỗ mìn. Với một người nào hiểu cách đánh mìn như các ông Errard, Sardi và Pagan, thì cái lỗ mìn ấy phá rất khéo. Hốc đặt thuốc nổ, hình mũ giáo sĩ, có sức công phá tương đương với sức chịu đựng của tòa tháp mà người ta định phá. Hốc ấy đựng được đến gần hai tạ thuốc nổ. Người ta đi vào bằng một con đường hẻm ngoằn ngoèo tốt hơn đường thẳng; mìn nổ phá khối đá làm lộ ống dẫn mồi lửa, đường kính cỡ quả trứng gà. Sức nổ đã phá bức tường tạo thành một lỗ sâu, đủ cho quân bao vây có thể vào lọt. Qua nhiều thời đại, tháp canh này đã chịu đựng nhiều cuộc bao vây đúng quy cách và mang trên mình nhiều vết thương; các vết đạn ấy không cùng một thời gian; mỗi kiểu đạn in dấu riêng lên mặt thành, từ đạn bằng đá ở thế kỷ mười bốn đến đạn bằng sắt của thế kỷ mười tám - tất cả đã khắc sâu vào tháp canh. Lỗ tường thủng mở đường vào nơi trước đây là tầng cuối cùng của tòa tháp. Đối diện với lỗ tường thủng, mặt tường bên kia lộ ra một cái cửa huyệt, cái huyệt ấy đục trong đá và ẩn sâu dưới chân móng tháp tận phía dưới tầng cuối cùng.

Cái huyệt đó bị lấp đến ba phần tư, năm 1855 nhờ công lao của ông Auguste Le Prévost, nhà nghiên cứu đồ cổ ở Bernay, mới được bới ra.

3. Ngục tối

Huyệt này là một ngục tối. Lâu đài nào cũng có ngục tối. Cũng giống kiểu các hầm hành hình khác xây cùng thời. Huyệt này có hai tầng; tầng trên, qua cửa huyệt vào là một gian phòng xây cuốn khá rộng, ngang tầm với tầng dưới của lâu đài. Trong phòng tường bị cày lên hai đường song song với nhau từ bên này sang bên kia qua cả vòm trần, vết hằn rất rõ khiến ta liên tưởng đến hai vết bánh xe. Quả thật, chính là hai vết bánh xe. Chính là hai bánh xe đã đào thành hai cái rãnh đó. Xưa kia, dưới thời phong kiến, chính phòng này là nơi hành hình xé xác bằng một phương pháp ít huyên náo hơn lối ngựa xé. Ở đây có hai bánh xe vừa khỏe vừa lớn đến nỗi chạm sát tường và vòm trần; người ta buộc vào mỗi bánh xe một chân và một tay kẻ bị hành hình, rồi người ta quay hai bánh xe ngược chiều nhau, xé xác người ấy ra. Phải quay thật mạnh để bánh xe chạm vào đá ở chỗ nào thì đào thành rãnh ở chỗ đó. Ngày nay, ở lâu đài Vianden vẫn còn một cái phòng như thế.

Bên dưới căn phòng này có một căn phòng khác nữa. Phòng ấy mới thật là ngục tối. Vào đó không phải qua cửa mà qua một lỗ hổng; nạn nhân, trần truồng, bị buộc dây vào hai nách và dòng dưới qua một lỗ thông khoét trên nền đá với căn phòng bên trên. Nếu như kẻ kia còn sống thì người ta ném thức ăn xuống cái lỗ thông ấy. Ngày nay ở lâu đài Bouillon vẫn còn một lỗ thông như thế.

Gió lùa vào từ lỗ thông đó. Phòng bên dưới đào dưới tầng cuối của tòa lâu đài giống một cái giếng hơn là một căn phòng, ăn ra chỗ mạch nước, do đó gian phòng tràn ngập gió lạnh buốt. Ngọn gió ấy giết chết người tù bên dưới và nuôi dưỡng người tù bên trên. Nó khiến cho nhà ngục dễ thở. Người tù bên trên, mò mẫm dưới vòm mái chỉ được hưởng không khí từ lỗ thông ấy mà thôi. Vả lại, kẻ nào vào đó hoặc rơi xuống đó thì không bao giờ ra nữa. Ở đó người ta mặc cho người tù liệu mà tránh cái lỗ đó. Bước chân hụt một cái, thì người tù ở tầng trên trở thành người tù ở tầng dưới. Điều đó là tùy mình. Với kẻ nào ham sống thì cái lỗ thông kia là tai họa; kẻ nào buồn nản thì cái lỗ thông ấy lại là phương tiện giải thoát. Tầng trên là nhà ngục, tầng dưới là nhà mồ. Hình thái chồng chéo giống hệt cái xã hội thời đó.

Ông cha chúng ta gọi cái đó là “cái chôn hố”. Ngày nay, cái đó đã mất đi, cái tên ấy đối với chúng ta chẳng có ý nghĩa gì nữa. Nhờ Cách mạng, chúng ta nghe mấy tiếng đó với vẻ thản nhiên.

Bên ngoài tháp, trên lỗ tường thủng, bốn mươi năm trước đây là lối ra vào duy nhất, ta nhìn thấy một khuôn cửa to hơn các cửa châu mai xung quanh, ở đó còn treo một tấm rèm sắt đã bị bật tung ra và sụt xuống.

4. Ngôi nhà trên cầu

Đối diện với lỗ tường thủng, một cái cầu đá ba nhịp không hư hỏng lắm nối với tháp. Trên cầu có một ngôi nhà giờ đây chỉ còn sót lại ít di tích. Ngôi nhà ấy mang dấu vết của một đám cháy nay chỉ còn lại khung nhà đen xịt, ánh sáng lọt qua và ngôi nhà bên cạnh tháp ấy giống như một bộ xương đứng ngay cạnh một con ma.

Ngày nay, cái dinh cơ hoang tàn bị tàn phá hết, chẳng còn lại dấu vết gì nữa. Cái mà bao thế kỷ, bao vua chúa đã dựng nên, chỉ cần một người dân quê phá trong một ngày.

La Tourgue, dân quê gọi tắt như thế có nghĩa là Tháp-Gauvain, cũng như người ta gọi La Jupelle thay cho La Jupellière và tên một tướng cướp lưng gù Pinson-le-Tort là Pinson-le-Tortu.

La Tourgue, bốn mươi năm trước đây là một dinh cơ hoang tàn, nay chỉ còn là một cái bóng ma nhưng năm 1793 lại là một pháo đài. Đó là cái pháo đài cũ kỹ của dòng họ Gauvain, nó chắn ở phía tây con đường vào khu rừng Fougères; khu rừng ấy ngày nay không còn rậm rạp như xưa.

Người ta đã xây dựng thành trì ấy trên một khối diệp thạch, loại đá tảng này có rất nhiều giữa Mayenne và Dinan, nằm rải rác ở khắp các cánh rừng y như thể là có những thần khổng lồ xưa kia đã quăng đá vào đầu nhau.

Tháp là pháo đài; dưới chân tháp là một khối đá tảng, dưới chân khối đá là một dòng nước, cứ tháng một thì biến thành thác và đến tháng sáu thì cạn khô.

Xây dựng giản đơn như thế, pháo đài ấy, thời trung cổ, gần như không thể nào hạ nổi. Cái cầu đã làm cho thành trì yếu thế đi. Trước kia, dòng họ Gauvain không xây cầu. Từ bên ngoài vào người ta đi qua một tấm ván rệu rã, khi cần chỉ một nhát rìu là sập. Lúc dòng họ Gauvain mới chỉ là tử tước thì họ cho thế là được; nhưng khi họ được phong tước hầu, và khi họ rời bỏ cái hang hốc này để vào triều thì họ xây ba nhịp cầu trên dòng thác, như vậy thì từ phía cánh đồng đi vào dễ dàng, đồng thời từ đó đi lại với vua chúa cũng dễ dàng. Các ông hầu tước hồi thế kỷ mười bảy và các bà hầu tước hồi thế kỷ mười tám không muốn là con người bất khả xâm phạm nữa. Họ không muốn tiếp tục truyền thống của cha ông nữa; họ rập theo Versailles [1].

Trước mặt tháp, về phía tây, có một cao nguyên nối với cánh đồng; cao nguyên này nằm gần tháp, chỉ còn cách có một cái hào rất sâu có dòng nước chảy, một nhánh của sông Couesnon. Cái đầu nối pháo đài với cao nguyên, xây trên những cột trụ rất cao. Trên những cột trụ ấy, người ta xây một tòa nhà theo kiểu kiến trúc Mansard như ở Chenonceaux ở thoải mái hơn bên tháp. Nhưng tập quán thời đó hết sức gò bó; các ông lớn vẫn giữ tục lệ ở trong những phòng trên vọng lầu giống như những căn ngục tối. Ngôi nhà trên cầu cũng là thứ lâu đài nhỏ, ở lối vào có một hành lang dài gọi là phòng canh, trên phòng canh là thư viện và trên thư viện là vựa rơm rạ. Nhiều cửa sổ dài kính nhơ bằng thủy tinh Bohême, giữa các cửa sổ có một hàng cột, trên tường chạm trổ hình huy chương; có ba tầng: tầng dưới cùng chứa súng và giáo mác; tầng giữa chứa sách, tầng trên cùng chứa những bao lúa mạch và rơm rạ; cách sắp đặt ấy hơi man rợ và cũng rất quý phái.

Cạnh đó, tòa tháp trông dữ tợn.

Nó cao đến dễ sợ át hẳn ngôi nhà diêm dúa kia. Từ trên sân thượng, có thể xả súng xuống cầu.

Hai công trình ấy, cái thì thô lỗ, cái thì xinh xắn, mâu thuẫn với nhau hơn là đi đôi với nhau. Hai kiểu kiến trúc không ăn nhịp với nhau; hai vòng bán nguyệt tưởng là phải giống nhau, nhưng còn gì khác nhau hơn là kiểu vòm rômăng với kiểu vòm cổ điển. Ngôi tháp ấy xứng với núi rừng lại thật xa lạ với cái cầu kề bên chỉ xứng với cung đình. Khác nào một tướng lục lâm khoác tay hoàng đế. Nhìn toàn cụm thật ghê rợn. Từ hai dáng nghi vệ hòa vào nhau ấy toát ra một cái gì thật hung bạo.

Về mặt quân sự, cái cầu khiến cho tòa tháp dễ thất thủ, tô điểm thêm nhưng lại làm mất khả năng tự vệ; được phần trang trí thì mất sức mạnh. Cái cầu khiến cho tòa tháp ngang tầm với cao nguyên. Từ phía khu rừng đánh vào thì tòa tháp ấy vẫn rất kiên cố, nhưng từ phía cánh đồng đánh vào thì tháp rất dễ bị hạ. Xưa kia chưa có cái cầu thì tòa tháp chi phối qua cao nguyên nhưng nay thì, ngược lại, tòa tháp bị cao nguyên chi phối; kẻ địch chiếm được cao nguyên thì chẳng mấy chốc làm chủ cái cầu. Thư viện và vựa rơm rạ lợi cho địch và bất lợi cho pháo đài. Thư viện và vựa rơm rạ giống nhau ở chỗ là sách và rơm đều dễ bốc cháy. Đối với kẻ bao vây định dùng chiến thuật hỏa công thì đốt Homère hoặc đốt một bó rơm cũng vậy thôi, miễn cháy là được. Khi người Pháp đốt cháy thư viện Heidelberg, họ đã chứng minh cho người Đức chân lý ấy, và người Đức khi đốt cháy thư viện Strasbourg cũng chứng minh cho người Pháp chân lý ấy. Tháp Tourgue có thêm cái cầu ấy về mặt binh pháp thật là một sai lầm; nhưng thế kỷ thứ mười bảy, dưới thời Colbert và Louvois [2], các vị hoàng thân Gauvain ấy cũng như các hoàng thân De Rohan hoặc De La Trémoille cho rằng họ không bao giờ bị vây nữa. Tuy thế, những người xây dựng cầu cũng đã dự phòng ít nhiều. Trước hết, họ đã dự kiến hỏa hoạn; ở bên dưới ba cửa sổ ngảnh về mé hạ lưu con sông, họ đã treo nằm ngang một chiếc thang cấp cứu lớn vào những móc sắt mà cách đây nửa thế kỷ vẫn còn thấy, chiếc thang ấy dài bằng chiều cao của hai tầng nhà mé cầu và vượt quá ba tầng nhà bình thường; sau nữa, họ cũng dự kiến bị đột kích nên họ đã ngăn cầu và lâu dài bằng một cửa sắt nặng và thấp. Cửa sắt ấy nằm lọt trong khung vòm cửa tò vò và khóa bằng một chiếc chìa khóa rất lớn cất kín một chỗ, chỉ có chủ nhân biết mà thôi. Và một khi cửa đã đóng, thì nó có thể bất chấp đòn húc và gần như coi thường cả đạn đại bác.

Phải qua cái cầu mới tới cửa sắt ấy, và qua cửa sắt ấy mới vào bên trong tháp được, không có lối nào khác.

5. Cái cửa sắt

Tầng thứ hai của lâu đài nhỏ xây trên cầu nhờ có những trụ đá nên cao ngang tầm với tầng thứ hai của tháp. Chính ở tầm cao ấy mà cái cửa sắt đã được đặt cho thêm chắc chắn.

Về phía cầu, cửa sắt mở lối vào thư viện, và về phía tháp, thì mở lối vào một gian phòng lớn, trần xây cuốn, có cột trụ ở giữa. Gian phòng này, như đã nói, là tầng thứ nhì của vọng lầu. Nó cũng tròn như hình tháp. Ánh sáng bên ngoài chỉ lọt qua những lỗ châu mai dài nhìn ra cánh đồng. Tường trông rất thô lậu, không trát, để lộ các lớp đá xếp rất cân đối. Từ tầng dưới người ta leo lên bằng một cầu thang xoáy trôn ốc xây trong tường, cách bố trí này rất đơn giản, vì bức tường dầy tới năm mét. Vào thời trung cổ, người ta đánh chiếm từng phố một để chiếm cả thành phố, đánh chiếm từng ngôi nhà một để chiếm một đường phố, đánh chiếm từng phòng một để chiếm một ngôi nhà. Đối với một pháo đài cũng phải bao vây chiếm dần từng tầng một. Về mặt này tháp Tourgue đã được bố trí khôn khéo, lên xuống rất quanh co, khó khăn. Từ tầng này đi lên tầng khác, người ta phải qua một cầu thang xoáy trôn ốc rất khó bước lên, các cửa lớn đều nằm chéo góc và không cao quá tầm người, phải cúi đầu xuống mới qua được; mà cúi đầu tức là giơ sọ cho người ta nện, vì ở mỗi cửa, kẻ bị vây sẵn sàng chờ đợi quân bao vây.

Bên dưới phòng tròn có trụ có hai phòng tương tự, đó là tầng gác thứ nhất và tầng nhà dưới bên trên còn ba tầng nữa. Trên cùng sau phòng chồng lên nhau ấy là sân thượng lát đá, và lên sân thượng phải đi qua một cái chòi hẹp.

Người ta đã phải đục bức tường dầy năm mét để đặt tấm cửa sắt, và tấm cửa gắn chặt vào đó, như bị bó trong một đường ống khum, như vậy là khi cửa đóng lại thì ở hai bên cửa lối sang cầu cũng như lối lên tháp, hình thành một cái cổng sâu tới hai mét; khi cửa mở các cổng ấy thông với nhau thành một lối vào có nóc xây cuốn.

Dưới vòm cổng phía cầu, có một cửa nhỏ đục trong tường ở chân cầu thang xoắn ốc dẫn vào hành lang tầng thứ nhất phía dưới thư viện; đây lại thêm một trở ngại nữa cho quân bao vây. Về phía cao nguyên lâu đài nhỏ xây trên cầu kết thúc bằng một bức tường dốc đứng và cầu bị cắt ở đấy. Một cầu rút, tựa vào cái cửa thấp làm cho cầu thông với cao nguyên, và do mặt đất bên ngoài cao hơn nên khi hạ xuống bao giờ cầu rút cũng nghiêng vào trong; cầu rút ấy dẫn vào hành lang tức là phòng canh gác. Khi quân bao vây chiếm lĩnh được hành lang đó, chúng phải ra sức chiếm lĩnh cái cầu thang xoắn ốc dẫn lên tầng hai.

6. Thư viện

Thư viện là một gian phòng dài và rộng ngang với cầu và chỉ có một cửa vào là cửa sắt, phía trong có một cánh cửa giả bọc dạ xanh, che khuất cổng vòm và chỉ cần đẩy nhẹ là đi vào tòa tháp. Tường thư viện, suốt từ trên xuống dưới và từ trên trần xuống tận sàn đều có tủ kính đóng theo kiểu đồ mộc đẹp thế kỷ thứ mười bảy. Sáu cửa sổ lớn, mỗi bên tường ba cửa trên mỗi nhịp cầu một cửa, chiếu sáng thư viện. Qua những cửa sổ đó từ bên ngoài và từ cao nguyên người ta nhìn thấu vào trong thư viện. Trên tường, giữa hai cửa sổ, trên những bệ bằng gỗ sồi chạm trổ, đặt sáu bức tượng của các nhân vật cổ Hy Lạp và danh nhân Pháp bằng cẩm thạch.

Trong thư viện toàn những sách tầm thường. Chỉ một cuốn nổi tiếng. Đó là một cuốn sách cổ, khổ giấy gấp tư, với những trang khắc gỗ, nhan đề in chữ lớn: Thánh Barthélémy, phụ đề: Kinh phúc âm theo lời kết của thánh Barthélémy, có lời bạt của nhà triết học Cơ Đốc giáo Pantoenus về vấn đề bản phúc âm này có phải là ngụy thư không và thánh Barthélémy có phải chính là Nathanaël không. Cuốn sách này, coi như bản độc nhất, được đặt trên một cái bàn ở giữa phòng. Hồi thế kỷ trước, người ta hay tò mò đến xem.

7. Vựa rơm rạ

Vựa rơm rạ cũng như thư viện, dài bằng cầu và sát mái nhà, như một gian chợ lổn ngổn rơm rạ, ánh sáng lọt vào qua sáu khung cửa sổ, không có vật trang trí nào khác ngoài hình chạm trổ. Khuôn mặt thánh Barnabé trên cửa vào phía dưới có đề câu thơ này.

Barnabus sanctus falcem jubet ire per herbam [3].

Như vậy đây là một tòa tháp cao và rộng có sáu tầng với mấy lỗ châu mai rải rác; lối ra vào duy nhất là một cái cửa sắt thông với một cái cầu trên đó xây một lâu đài nhỏ có cầu rút đóng lại; đằng sau tòa tháp là rừng rậm, đằng trước là cao nguyên thạch thảo, cao hơn cầu và thấp hơn tháp, dưới gầm cầu là một cái hào sâu và hẹp ngăn cách cao nguyên với tháp, mọc đầy cỏ rậm, mùa đông biến thành thác lũ, mùa xuân thành con suối, mùa hè thành cái hố đá lởm chởm.

Tháp Gauvain, còn gọi là tháp Tourgue, là như thế.

Chú thích:

[1] Cung điện của các vua Pháp.

[2] Colbert: Bộ trưởng Bộ Tài chính dưới thời Louis XVI, con người tiêu biểu cho sự xâm nhập của giai cấp tư sản Pháp vào đời sống chính trị. Louvois: Một Bộ trưởng có nhiều công lao trong việc tổ chức vũ trang cho nhà nước phong kiến Pháp thế kỷ XVII.

[3] Tiếng La-tinh có nghĩa là “thánh Barnabé vung liềm cắt cỏ”.

X

Những đứa con tin

Tháng bảy trôi qua, tháng tám đã tới, một luồng hào khí dữ dội lướt trên khắp nước Pháp; hai bóng ma vừa sang bên kia thế giới, Marat với con dao cắm ngập sườn; Charlotte Corday cụt đầu; tình hình trở nên khủng khiếp. Còn quân Vendée bị đánh thua trong chiến lược lớn, chúng rút vào chiến lược nhỏ - như chúng tôi đã nói, lại càng đáng sợ; lúc này, trận tuyến đã lan rộng, rải rác trong các khu rừng; sự tan rã của đạo quân đông đúc gọi là cứu Chúa và bảo hoàng bắt đầu; một sắc lệnh điều quân đoàn Mayence đến Vendée; tám nghìn quân Vendée bị tiêu diệt ở Ancenis; chúng bị đẩy lùi khỏi Nantes bị đuổi khỏi Montaigu, bị trục xuất khỏi Thouars, bị đánh tán loạn ở Noirmoutier, Cholet, Mortagne và Saumur; chúng rút khỏi Parthenay, rời bỏ Clisson, mất Châtillon, mất một lá cờ ở Saint-Hilaire, bị thua ở Pornic, ở Sables, ở Fontenay, ở Doué, ở Château-d’Eau, Ponts-de-Cé, bị thất bại ở Luçon chúng rút khỏi Châtaigneraye, tan rã ở Roche-sur-Yon; nhưng một mặt chúng uy hiếm La Rochelle, mặt khác, ở trong vùng biển Guernesey, một hạm đội Anh theo lệnh của tướng Craig chở nhiều trung đoàn lính Anh lẫn lộn với những sĩ quan giỏi của hải quân Pháp, chỉ còn chờ ám hiệu của hầu tước De Lantenac là đổ bộ lên đất Pháp. Cuộc đổ bộ này có thể đem lại thắng lợi cho quân phiến loạn bảo hoàng. Pitt, vốn là một nhà chính trị bất lương: sự phản bội trong lĩnh vực chính trị cũng như con dao găm cắm lẫn trên giá vũ khí; Pitt dùng dao găm đâm vào nước ta, đồng thời phản bội Anh; làm ô danh tổ quốc cũng tức là phản quốc; nước Anh dưới quyền Pitt và do Pitt điều khiển theo đuổi một cuộc chiến tranh bẩn thỉu. Họ do thám, ăn gian nói dối, đánh trộm, giả mạo, chẳng từ một việc xấu xa nào; hằn thù đi đến những thủ đoạn chi li. Họ tích trữ đầu cơ cả mỡ bò, giá lên đến năm quan một lạng; ở Lille, người ta bắt được một người Anh, trong người có mang thư của Prigent, tay sai của Pitt ở Vendée, trong đó viết: “Tôi yêu cầu ngài không tiếc tiền. Chúng tôi hy vọng các vụ ám sát sẽ được thực hiện khéo léo. Trong công việc này những thầy tu trá hình và đàn bà là những người rất đắc lực. Ngài gửi ngay tới Rouen sáu mươi ngàn bảng và tới Caen năm mươi ngàn”. Ngày 1 tháng 8, Barère đã đọc thư này trước Viện Quốc ước. Parein và sau này Carrier đã trừng trị các mưu toan điên đảo ấy bằng những hành động khốc liệt, man rợ. Quân đội cộng hòa miền Metz và miền nam yêu cầu đi tiêu diệt quân phiến loạn. Một sắc lệnh ban hành cho thành lập hai bốn đại đội xung kích đi đốt sạch các bờ bụi, rào lũy vùng Bocage. Khủng hoảng đến cực điểm. Chiến tranh dập tắt ở nơi này lại bùng lên ở nơi khác. Không dung tha! Không bắt tù binh! là khẩu lệnh cả của hai phe. Lịch sử tràn ngập trong tăm tối hãi hùng.

Trong tháng tám ấy Tourgue bị bao vây.

Một buổi tối, trên trời sao vừa mọc, trong cái tĩnh mịch của đêm hè oi bức, rừng không một chiếc lá lay động, ngoài đồng không một ngọn cỏ run rẩy, bỗng một tiếng tù và từ trên tầng cao của tòa tháp rúc lên và xuyên qua cái tĩnh mịch của bức màn đêm vừa buông xuống.

Ở bên dưới một tiếng kèn đồng đáp lại.

Bên trên tháp, một người cầm súng; phía dưới trong bóng tối, một trại quân.

Trong bóng tối, xung quanh tháp Gauvain lố nhố những bóng đen. Đó là đoàn quân hạ trại. Vài ánh lửa bắt đầu nhóm lên dưới các gốc cây trong rừng và giữa đám thạch thảo trên đồi, và rải rác trong bóng đêm, những điểm sáng lập lòe tựa hồ như dưới đất trên trời đều nhấp nhánh các vì sao. Những ngôi sao của chiến tranh ảm đạm làm sao! Phía cao nguyên, trại quân kéo dài ra tận cánh đồng và phía rừng thì ẩn sâu vào những bụi cây rậm rạp. Tháp Tourgue bị vây kín.

Phạm vi rộng lớn của trại quân bao vây chứng tỏ quân số rất đông.

Họ xiết chặt pháo đài, về phía tháp thì tiến sát chân gò đá tảng, còn về phía cầu thì đến tận đường hào.

Lại có tiếng tù và thứ hai tiếp theo là tiếng kèn đồng.

Tiếng tù và hỏi và tiếng kèn đồng đáp lại.

Tiếng tù và ấy có ý hỏi trại quân: có thể nói chuyện với các người được không? Tiếng kèn đồng trả lời: được.

Thời đó, Viện Quốc ước không coi quân Vendée là đối thủ giao chiến cho nên đã có sắc lệnh cấm thương thuyết với “quân đạo tặc”, người ta tìm cách thay thế các cuộc thương thuyết mà luật pháp quốc tế cho phép trong chiến tranh thông thường và cấm ngặt trong nội chiến. Do đó trong trường hợp này, có vẻ như là có sự giao ước giữa tiếng tù và của dân quê và tiếng kèn đồng của quân đội. Tiếng tù và thứ nhất mới là nhập đề, tiếng thứ nhì là đặt vấn đề: các người có muốn nghe không? Nếu sau tiếng tù và thứ nhì mà kèn không vang lên, như vậy là từ chối; nếu kèn đáp lại, tức là đồng ý. Như thế có nghĩa là ngừng chiến trong chốc lát.

Sau khi tiếng kèn trả lời tiếng tù và thứ nhì, người đứng trên lầu cao bắt đầu nói, người ta nghe thấy thế này:

“Hỡi các người đang nghe ta nói, ta là Gouge-le-Bruant, biệt hiệu là Diệt-Xanh, bởi vì ta đã giết vô số bên các người, lại có tên là Imânus bởi vì rồi đây ta còn giết các người nhiều hơn nữa; ở trận Granville một nhát gươm chém vào nòng súng của ta đã chặt ta cụt một ngón tay và ở Lavan các người đã chặt đầu cha mẹ ta cùng em gái Jacqueline của ta mới mười tám tuổi. Lai lịch của ta thế đấy.

Ta nói chuyện với các người nhân danh đức ông hầu tước Gauvain De Lantenac, tử tước De Fontenay, hoàng thân xứ Bretagne, vị chúa tể của vùng Bảy Khu Rừng và là chủ soái của ta.

Trước hết các người cần biết rằng trước khi đến cố thủ trong cái tháp này, mà các người đang vây hãm, đức ông hầu tước đã phân công tác chiến cho sáu vị tướng soái là sáu vị phó tướng của người; khu vực nằm giữa đường đi Brest và đường đi Entrée giao cho Delière; khu vực giữa Roё và Laval giao cho Treton; dọc miền trên sông Maine Thượng giao cho Jacquet, tục gọi là Taillefer; vùng lâu đài Gontier giao cho Gaulier, biệt danh là Grand-Pierre; vùng Craon có Lecomte; Fougères có ngài Dubois-Guy và tất cả vùng Mayenne có ngài De Rochambeau; cho nên nếu các người có chiếm được pháo đài này thì chiến tranh cũng chẳng chấm dứt và dù cho đức ông hầu tước có chết đi thì xứ Vendée của Chúa và Đức vua cũng chẳng bao giờ chết cả.

Các người nên hiểu những điều ta vừa nói là để cảnh cáo trước các người. Đức ông đang ở bên cạnh ta. Ta là cái loa để truyền đi lời của ngài.

Hỡi các người đang vây hãm chúng ta, hãy yên lặng.

Và đây là những điều mà các ngươi cần nghe rõ.

Chớ quên rằng cuộc chiến tranh mà các người đã gây ra với chúng ta là phi nghĩa. Chúng ta là những người dân sống trên xứ sở của chúng ta, chúng ta chiến đấu vì chính nghĩa và chúng ta sống bình dị trong sạch theo ý muốn của Chúa như ngọn cỏ dưới sương non. Chính phe cộng hòa đã tấn công chúng ta, nhiễu loạn nông thôn, đốt cháy nhà cửa mùa màng, bắn phá các ấp trại, buộc vợ con chúng ta chân trần trốn tránh trong các bờ bụi, rừng núi, giữa lúc những con chim bạc má mùa đông đang còn ca hát.

Hỡi các người đang đứng đấy và đang nghe ta nói, các người đã lùng bắt chúng ta trong rừng và các người đang vây hãm chúng ta trong tháp này; các người đã giết hoặc đuổi toán loạn những kẻ theo chúng ta; các người có đại bác; các người đã tập hợp thêm quân các đồn trại Mortain, Barenton, Teilleul, Landivy, Evran, Tinteniac và Vitré, như vậy là các người có bốn nghìn rưỡi quân để tấn công chúng ta; và chúng ta chỉ có mười chín người để tự vệ.

Chúng ta hiện có đủ lương thực và đạn dược.

Các người đã nổ được một quả mìn, phá được một mảnh đá tảng và tạo nên một lỗ trong tường, dưới chân tháp, không lộ thiên, qua đó các người có thể vào được; tháp vẫn kiên cố và đứng thẳng, chụp lên cái lỗ hổng của các người.

Hiện giờ, các người đang sửa soạn tấn công.

Và chúng ta, trước hết là đức ông hầu tước, hoàng thân xứ Bretagne, viện trưởng tu viện Sainte-Marie xứ Lantenac, tại đó hoàng hậu Jeanne đã đặt ra lễ cầu nguyện hằng ngày, sau nữa đến những vị khác đang bảo vệ tháp, trong đó có ngài tu viện trưởng Turmeau trong chiến tranh lấy tên là Grand-Francoeur, rồi đến bạn ta là Guinoiseau người chỉ huy Trại-Xanh, bạn Chante-en-Hiver chỉ huy trại Lúa Mạch, bạn La Musette chỉ huy trại Kiến và ta, một dân quê sinh ở thị trấn Daon, nơi có giòng suối Moriandre tất cả chúng ta có một điều muốn nói với các người.

Hỡi các người dưới chân tháp, hãy nghe đây.

Trong tay chúng ta có ba tù binh: ba đứa trẻ. Ba đứa trẻ đó do một trong những tiểu đoàn của các người đỡ đầu và chúng nó là của các người. Chúng ta sẽ trao lại cho các người ba đứa trẻ đó.

Với một điều kiện.

Là để cho chúng ta được tự do ra khỏi vòng vây.

Nếu các người từ chối, hãy nghe cho rõ, các người chỉ có thể tấn công bằng hai cách; qua lỗ hổng ở chân tường về phía rừng; hoặc từ chiếc cầu về phía cao nguyên. Tòa nhà trên cầu cáo ba tầng: ở tầng dưới cùng thì ta, Imânus, đang nói chuyện với các người đây, ta đã cho xếp sáu tấn hắc ín và hàng trăm bó cỏ khô; tầng trên cùng thì chứa rơm; tầng giữa thì chứa đầy sách và giấy; cánh cửa sắt từ chiếc cầu thông vào lâu đài đã đóng chặt và chính Đức ông giữ chìa khóa, còn ta, ta đã đục dưới cánh cửa một cái lỗ, cái mồi tẩm lưu huỳnh xuyên qua đó, một đầu cho vào một tấm hắc ín, và đầu kia thì ở phía trong tháp, vừa tầm tay ta; ta muốn châm lửa khi nào cũng được. Nếu các người từ chối không để chúng ta ra khỏi thì ba đứa trẻ kia sẽ bị nhốt trong tầng thứ hai, kẹp giữa tầng có mồi tẩm lưu huỳnh cùng hắc ín và tầng lầu chứa đầy rơm, có cánh cửa sắt sẽ bị đóng chặt lại. Nếu các người tấn công phía cầu thì chính tay các người sẽ thiêu hủy lâu đài; nếu các người tấn công cả hai mặt qua cầu và qua lỗ chân tường thì cả hai bên cùng châm lửa, và trong bất cứ trường hợp nào, ba đứa trẻ kia cũng sẽ chết.

Bây giờ thì các người nhận lời hoặc từ chối.

Nếu các người chấp nhận, thì chúng ta ra.

Nếu các người từ chối; ba đứa trẻ phải chết.

Ta đã nói hết”.

Người đứng nói trên tháp đã im lặng.

Bên dưới một tiếng thét lên:

- Chúng ta từ chối.

Tiếng nói ấy cộc lốc và gắt gao, một tiếng nói khác tuy kiên quyết nhưng bớt cứng rắn hơn thêm vào:

- Chúng ta để cho các người hai mươi bốn tiếng đồng hồ để suy tính mà đầu hàng không điều kiện.

Một phút im lặng rồi người vừa nói lại tiếp:

- Giờ này, ngày mai nếu các người không chịu đầu hàng, chúng ta sẽ tấn công.

Và tiếng nói ban đầu lại tiếp:

- Khi đó thì quyết chẳng dung tha.

Đáp lại tiếng nói ghê sợ đó, từ trên tháp một tiếng khác trả lời. Người ta trông thấy một hình cao lớn đang cúi xuống giữa hai khe tường; nhờ ánh sao sáng người ta nhận ra bộ mặt hung tợn của hầu tước De Lantenac đang đưa mắt như tìm ai trong bóng tối và thét lên:

- Ô kìa, mày, thầy tu!

- Đúng, chính tao đây hỡi tên phản bội kia! - Tiếng nói gay gắt ở phía dưới đáp lại.

XI

Ghê sợ như chuyện thời cổ

Giọng nói căm thù là giọng Cimourdain; giọng trẻ hơn và kém triệt để là giọng Gauvain.

Lão hầu tước De Lantenac đã không lầm khi nhận ra thầy tu Cimourdain.

Chỉ trong mấy tuần lễ, ở xứ này, khi cuộc nội chiến trở nên ác liệt thì, như ta đã biết, Cimourdain đã lừng danh; một thứ tiếng tăm thảm đạm. Người ta bảo: Ở Paris có Marat, ở Lyon có Châlier, ở Vendée có Cimourdain. Trước kia, người ta kính trọng linh mục Cimourdain bao nhiêu thì bây giờ người ta chửi rủa bấy nhiêu; đó là hậu quả khi chiếc áo thầy tu đã lộn trái. Cimourdain đã khiến người ta khiếp sợ. Những kẻ khắc nghiệt đều là những kẻ bất hạnh, ai chứng kiến những hành vi của họ thì lên án, nhưng nếu ai biết được lương tâm của họ thì cũng có thể miễn thứ cho họ được. Lycurgue không được phân tích kỹ thì cũng giống Tibère [1].

Dù thế nào thì cả hai người, lão hầu tước De Lantenac và cha xứ Cimourdain cũng ngang nhau trên cán cân căm thù, bọn bảo hoàng nguyền rủa Cimourdain không kém gì phe cộng hòa phỉ nhổ Lantenac. Mỗi người đều được phe đối lập xem như quái vật; thậm chí trong khi ở Grandville, Prieur De La Marne treo thưởng lấy đầu Lantenac thì ở Noirmoutier, Charette cũng treo thưởng lấy đầu Cimourdain.

Cũng nên nói rằng, ở góc độ nào đó thì hai người, hầu tước và nhà tu hành cũng chỉ là một con người. Chiếc mặt nạ bằng đồng hun của cuộc nội chiến có hai hình dáng, một hướng về dĩ vãng, một hướng về tương lai, nhưng cũng bi thảm như nhau. Lantenac là hình dáng thứ nhất và hình dáng thứ hai là Cimourdain; có điều là cái nhếch mép chua chát của Lantenac như phủ bóng đen tăm tối, còn trên vừng trán quyết liệt của Cimourdain như bừng lên một ánh bình minh.

Trong lúc đó, Tourgue bị vây hãm được hưởng một lúc hoãn chiến.

Nhờ có Gauvain, như ta đã thấy hai bên thỏa thuận ngừng bắn trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ.

Vả lại đúng như Imânus đã biết được, lúc này, nhờ Cimourdain trưng tập thêm quân, Gauvain đã có trong tay bốn nghìn rưỡi người, gồm vệ quốc quân và bộ đội xung phong; với số quân đó, Gauvain đang bao vây Lantenac trong tháp Tourgue, lại còn chĩa vào pháo đài cả mười hai khẩu đại bác, sáu khẩu đặt chìm ở rìa rừng nhằm tòa tháp, sáu khẩu đặt nổi trên cao nguyên nhằm về phía cầu. Gauvain còn cho bắn mìn và đã phá được một lỗ hổng dưới chân tường tháp. Bởi vậy, ngay khi hết hai mươi bốn tiếng ngừng bắn, cuộc chiến đấu sẽ diễn ra như sau.

Trên cao nguyên và trong rừng có bốn nghìn rưỡi quân.

Trong lâu đài, mười chín.

Lịch sử có thể tìm thấy tên tuổi của mười chín kẻ bị bao vây đó trên những tờ cáo thị đặt họ ra ngoài vòng pháp luật. Có thể về sau, chúng ta sẽ gặp tên tuổi họ.

Để chỉ huy bốn nghìn rưỡi quân, gần như một quân đoàn, Cimourdain muốn phong Gauvain lên chức tướng. Gauvain đã khước từ: “Để khi nào bắt được Lantenac sẽ hay. Tôi chưa có gì xứng đáng”.

Giữ những chức vụ chỉ huy quan trọng với cấp bậc nhỏ đó là phong cách dưới chính thể cộng hòa. Sau này, Bonaparte cũng vừa là trung đội trưởng pháo binh đồng thời là tổng chỉ huy quân đoàn Ý.

Vận mệnh của tòa tháp Gauvain thật lạ lùng: một Gauvain tấn công nó, một Gauvain bảo vệ nó. Do đó, về mặt tấn công có phần nào dè dặt, nhưng phía kháng cự thì không, bởi vì ngài De Lantenac là hạng người chẳng kiêng nể gì, và hơn nữa, lâu nay ngài thường ở Versailles, chẳng mê tín gì về tháp Tourgue mà ngài cũng chẳng quen thuộc gì mấy. Bây giờ ngài chạy trốn vào đây là vì đường cùng, thế thôi; ngài có thể phá nó đi mà không chút đắn đo. Gauvain thì trân trọng nó.

Điểm yếu của pháo đài là cái cầu; nhưng trong thư viện trên cầu có lưu trữ gia phả; nếu tấn công về phía đó thì chiếc cầu sẽ bị thiêu hủy; đối với Gauvain thì đốt gia phả tức là tấn công vào tổ tiên. Tourgue là trang viên của dòng họ Gauvain; bao nhiêu thái ấp ở xứ Bretagne đều có nguồn gốc ở tháp này, cũng như các thái ấp của nước Pháp đều gốc ở tháp Louvre; nơi đây, biết bao kỷ niệm của dòng họ Gauvain. Chính Gauvain cũng sinh ra ở đấy; bây giờ đây trưởng thành, số phận éo le lại đưa Gauvain về tấn công cái dinh lũy cổ kính đã từng đùm bọc mình thuở bé. Liệu Gauvain có cam chịu bất hiếu đến mức đang tâm thiêu ra tro cái dinh cơ này không? Cái nôi thuở bé có thể còn ở một góc nào đó trong thư viện. Bao nhiêu suy nghĩ là bấy nhiêu cảm xúc. Đứng trước nơi chôn nhau cắt rốn, Gauvain mủi lòng. Ông quyết định chừa cái cầu ra, chỉ bố trí không để kẻ nào ra lọt bằng con đường này và để một khẩu đội pháo trấn áp cầu, còn ông chọn để tấn công phía bên kia. Mìn đã nổ phá một lỗ thủng ở chân tháp.

Cimourdain để mặc Gauvain bố trí; lẽ ra phải ngăn chặn cách bố trí ấy vì ông nghiêm khắc cả với tàn tích của chế độ cũ và không chủ trương khoan hồng đối với nhà cửa cũ cũng như với con người. Gượng nhẹ đối với một lâu đài là đã bắt đầu sự khoan dung. Mà khoan dung chính là điểm yếu của Gauvain. Ta đã biết là Cimourdain luôn luôn theo dõi và ngăn ngừa Gauvain trên cái dốc thảm hại này. Tuy vậy, chính bản thân ông khi trông thấy lại tháp La Tourgue cũng không khỏi chạnh lòng thầm kín và lấy làm bực bội khi thú với mình điều đó; ông xúc động trước thư phòng xưa kia ông đã tập cho Gauvain đọc trong những quyển sách vỡ lòng; ngày trước ông là cha xứ ở làng Parigné bên cạnh; chính Cimourdain cũng đã sống trên tầng gác sát dưới mái lâu đài nhỏ xây trên cầu; chính trong thư viện ấy, ông đã ấp trong lòng cậu bé Gauvain đang bập bẹ đánh vần; chính giữa bốn bức tường cũ kỹ kia, ông đã nhìn thấy cậu học trò thân yêu, đứa con của tâm hồn mình lớn lên cả về thể xác lẫn trí tuệ. Thư viện bên trong kia, bốn bức tường kia ấp ủ biết bao nhiêu công lao săn sóc của ông đối với cậu bé Gauvain bây giờ nên đốt phá đi chăng? Cimourdain khoan hồng. Nhưng không phải là không chút hối hận.

Ông để mặc cho Gauvain bố trí tấn công ở phía bên đối diện. La Tourgue có mặt man rợ là tòa tháp và mặt văn minh là thư viện. Cimourdain cho phép Gauvain chỉ được pháo kích ở phía man rợ.

Như vậy, giữa cao trào cách mạng, ngôi nhà cổ bị một người trong họ tấn công, lại một người trong họ bảo vệ, như đang quay về với lề thói phong kiến. Những cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn là tất cả lịch sử thời trung cổ. Ở Goths cũng như ở Hy Lạp đều có những Eteocles và Polynices, và Hamlet hành động ở Elseneur cũng như Oreste đã hành động ở Argos [2].

Chú thích:

[1] Licurgue là quan lập pháp thành Sparte nước Hy Lạp cổ đại. Ông ta đi thăm nhiều nước nên học được nhiều điểm đem về làm luật lệ cho xứ sở. Còn Tibère là một bạo chúa cổ La Mã.

[2] Eteocles và Polynices: Tên hai anh em tiêu biểu cho những cuộc huynh đệ tương tàn. Hai người giết nhau và thần thoại Hy Lạp truyền rằng, đến chết, ngọn lửa trên giàn hỏa cũng chia làm hai ngọn. Hamlet: Nhân vật trong một tác phẩm cùng tên của Shakespeare giết chú để trả thù cho cha bị chú giết. Elsineur là tên một đô thị của Đan Mạch, nơi xảy ra chuyện Hamlet. Oreste trong thần thoại Hy Lạp, cùng em giết mẹ để báo thù cho cha, sau làm vua Argos và Sparte, hai đô thị lớn của Hy Lạp cổ.

XII

Bố trí cấp cứu

Suốt đêm, cả hai bên đều chuẩn bị.

Khi cuộc đàm phán vừa mới dứt, Gauvain cho gọi viên chỉ huy phó lại.

Cũng cần biết một chút về Guéchamp ông ta là một nhân vật thứ yếu, thật thà, can đảm, tài trí tầm thường, làm lính tốt hơn là chỉ huy, thông minh đến mức chỉ biết có nhiệm vụ không cần biết gì khác, chẳng bao giờ xúc động, không thể bị bất cứ loại cám dỗ nào cám dỗ, kể cả tiền tài làm táng tận lương tâm, tình thương làm mờ công lý. Trong tâm hồn và trái tim con người ấy như có hai cái chao đèn là kỷ luật và mệnh lệnh, như một con ngựa hai bên mắt che kín, chỉ được bước trên quãng đường mà nó còn trông thấy. Nó bước ngay ngắn nhưng đường nó đi bị thu hẹp.

Ngoài ra đấy là một người tin cậy được; chỉ huy cứng rắn, chấp hành nghiêm chỉnh.

Gauvain ra lệnh hết sức nhanh cho Guéchamp:

- Guéchamp, cần một cái thang.

- Thưa chỉ huy, chúng ta không có thang.

- Cần phải có một cái.

- Để leo vào?

- Không, để cấp cứu.

Guéchamp suy nghĩ và đáp lại:

- Tôi hiểu; nhưng để dùng vào việc ấy thì cái thang phải cao lắm.

- Ít nhất phải với đến tầng ba.

- Vâng, có thể xấp xỉ như thế.

- Và phải quá một chút để nắm chắc thành công.

- Đúng thế.

- Nhưng sao lại không có thang?

- Thưa chỉ huy, vì ngài không tính đến việc tấn công tòa tháp từ cao nguyên; ngài chỉ cho vây chặt phía đó thôi; ngài định tấn công không phải phía cầu mà phía tháp. Quân sĩ chỉ chuẩn bị đánh mìn mà không chuẩn bị dụng cụ để leo. Vì vậy chúng ta không có thang.

- Cho làm ngay một cái.

- Một cái thang cao ba tầng lầu không thể làm trong chốc lát được.

- Cho nối nhiều chiếc thang ngắn lại.

- Nhưng mà phải có thang đã.

- Phải kiếm cho kỳ được.

- Không có đâu. Khắp nơi dân quê phá hết cả thang, lại còn tháo tung cả xe bò và phá hết cầu.

- Đúng thế, chúng muốn làm tê liệt nền cộng hòa.

- Chúng muốn chúng ta không thể sử dụng một chiếc xe, không qua sông, không leo tường được.

- Dù sao cũng phải kiếm cho được một chiếc thang.

- A, tôi nghĩ ra rồi, ở Javené, gần khu Fougères có một xưởng mộc lớn. Chắc ở đó, có thang.

- Không nên để lỡ một chút.

- Bao giờ thì ngài cần đến thang?

- Ngày mai, chậm lắm là vào giờ này.

- Tôi sẽ phái một lính kỵ mã hỏa tốc đến Javené, mang theo lệnh trưng dụng. Ở Javené cũng có một đồn quân kỵ mã họ sẽ cử một toán hộ tống. Ngày mai, chiếc thang có thể có ở đây trước lúc mặt trời lặn.

- Được, thế là đủ - Gauvain nói - Tiến hành mau. Thôi được.

Mười phút sau, Guéchamp đã trở lại báo cáo với Gauvain:

- Thưa chỉ huy, giao liên hỏa tốc đã đi Javené.

Gauvain trở lên cao nguyên đứng rất lâu, mắt đăm đăm nhìn chiếc cầu với lâu đài nhỏ vắt ngang đường hào. Đầu hồi lâu đài, chỉ có một cửa thấp mà chiếc cầu rút đóng lại khi kéo lên, đối diện với bờ hào dốc đứng. Từ cao nguyên đi xuống chân trụ cầu, phải lần theo bờ hào dốc đứng ấy, cứ lần từng bụi cây, không khó khăn lắm. Nhưng một khi đã ngồi dưới hố thì kẻ tiến công sẽ hứng lấy đạn của cả ba tầng lầu trút xuống. Tình hình vây hãm lúc đó khiến Gauvain thấy rõ là phải mở cuộc tấn công qua lỗ tường phía tháp, không còn cách nào khác.

Gauvain bố trí cẩn mật không để cho đối phương thoát; ông ta thắt chặt vòng vây quanh tháp Tourgue; dồn các tiểu đoàn sít nhau như những mắt lưới, đến nỗi không có một vật gì có thể lọt qua được. Gauvain và Cimourdain phân công chỉ huy vây hãm pháo đài Gauvain phía rừng, Cimourdain, phía cao nguyên. Họ đã đồng ý là phía rừng, có Guéchamp phụ lực, sẽ tấn công theo lỗ tường, còn Cimourdain sẽ châm lửa tất cả các ngòi của khẩu đội nổi, chăm chú quan sát chiếc cầu và đường hào.

XIII

Hoạt động của lão hầu tước

Trong lúc bên ngoài chuẩn bị tấn công thì bên trong cũng chuẩn bị chống lại.

Có một sự trùng hợp trên thực tế khi một tòa tháp cũng còn gọi là một cái thùng, và có khi người ta dùng mìn đánh vào tháp cũng như dùng mũi nhọn chọc vào chiếc thùng. Bức thành có thể chọc thủng như người ta chọc một lỗ nước trong thùng chảy ra. Điều đó đã đến với tháp Tourgue.

Hai hoặc ba tạ thuốc nổ đã chọc thủng bức tường đồ sộ từ bên này qua bên kia, từ chân tường xuyên qua bức tường ở phần dày nhất, rồi phá ra ở tầng dưới pháo đài một cái cửa tò vò nham nhở. Từ bên ngoài quân tấn công lại dùng đại bác bắn vào lỗ thủng, thoát rộng thêm để xung kích xông lên dễ dàng.

Tầng dưới cùng, chỗ lỗ thủng phá vào là một gian phòng lớn hình tròn, trống rỗng, có một trụ giữa đỡ vòm trần. Căn phòng ấy, rộng nhất so với tất cả các phòng của tòa tháp, đường kính đến hơn mười mét. Mỗi tầng của tòa tháp đều có một gian phòng tương tự nhưng không rộng bằng, có nhiều lỗ châu mai trong các khuôn cửa nhỏ. Tầng dưới cùng không có lỗ châu mai, không có cửa tò vò, không có cửa sổ; ánh sáng và không khí hầu như không có.

Cửa vào các hầm ngầm, làm bằng sắt nhiều hơn là gỗ ở tầng dưới cùng này. Ở đây còn một cửa nữa đi lên cầu thang dẫn đến các phòng ở tầng trên. Tất cả các cầu thang đều xây lẩn vào trong tường.

Nhờ cái lỗ tường thủng do họ phá, những người tấn công có cơ lọt được vào gian phòng thấp, chiếm được gian phòng này còn phải chiếm cả tòa tháp.

Trước đây, ở trong gian phòng thấp người ta không thở nổi. Không một ai ở trong đó hai mươi bốn tiếng đồng hồ mà không chết ngạt. Nhưng lúc này, nhờ lỗ tường hổng nên cũng có thể sống được.

Vì vậy, bọn bị vây cũng không bịt lỗ tường thủng lại. Vả lại, bịt kín làm gì? Đạn đại bác lại phá ra thôi.

Chúng đóng lên tường một chân đèn bằng sắt, rồi cắm vào đó một bó đuốc, soi sáng cả gian phòng.

Bây giờ thì bố trí phòng ngự trong đó như thế nào?

Lấp lỗ tường thủng lại thì dễ, nhưng vô ích. Bố trí một tuyến tốt hơn. Một phòng tuyến cố thủ là một chỗ ẩn nấp có góc lõm, một loạt chiến lũy hình chữ V cho phép tập trung hỏa lực vào mũi xung kích, và tuyến ngoài không bịt lỗ tường thủng mà lại bịt ở bên trong. Vật liệu không thiếu; chúng xây một phòng tuyến cố thủ có khe hở để đặt nòng súng. Góc phòng tuyến cố thủ tựa vào trụ giữa; hai cánh kéo dài đến sát hai bên tường. Xong xuôi, chúng tìm chỗ thuận lợi để đặt mìn.

Lão hầu tước điều khiển tất cả. Lão vừa tổ chức, vừa ra lệnh, vừa hướng dẫn, vừa sai phái, một con người thật đáng sợ.

Lantenac thuộc loại võ quan thế kỷ thứ mười tám, loại người ở tám chục tuổi vẫn cứu nổi các đô thành. Lão giống như bá tước Alberg đã gần trăm tuổi còn đánh đuổi được bọn Ba Lan ra khỏi thủ đô Riga [1].

- Dũng cảm lên, các bạn! - Lão hầu tước nói - Đầu thế kỷ này, vào năm 1713, ở Bender, vua Charles XII, cùng ba trăm quân Thụy Điển cố thủ trong một căn nhà đã đương đầu nổi với hai vạn quân Thổ.

Chúng dựng chướng ngại vật ở hai tầng dưới, tăng phòng thủ ở các phòng, đục lỗ châu mai ở các phòng ngủ, chẹn cửa bằng rầm nhà và dùng vồ nện chặt lại; có điều là phải để ngỏ con đường cầu thang xoáy trôn ốc đi lên các tầng trên, vì bọn chúng cũng phải có lối đi lại; chẹn cầu thang, thì ngăn được quân tấn công nhưng đồng thời cũng chẹn cả mình. Những ổ đề kháng bao giờ cũng có nhược điểm như thế.

Lão hầu tước không biết mệt, lực lưỡng như thanh niên, tự mình vác cả những cây cột, khuân đá, làm gương cho mọi người, mó tay vào mọi việc, chỉ huy, giúp đỡ, xuề xòa cười đùa với các đám người dữ tợn ấy, mà vẫn luôn luôn giữ được cốt cách ông lớn kiêu kỳ, thân mật, lịch sự, dữ tợn.

Không ai dám cưỡng lại lão. Lão nói: “Trong số các anh, nếu có một nửa nổi lên phản kháng thì ta sẽ bắt nửa kia bắn chết và ta sẽ chống cự đến cùng với số còn lại”. Những chuyện đó khiến người ta tôn sùng thủ lĩnh.

Chú thích:

[1] Thủ đô Lettonie.

XIV

Hành động của Imânus

Trong lúc lão hầu tước bận về phía lỗ tường hỏng và tòa tháp thì tên Imânus lo phía cầu. Từ lúc bắt đầu bị bao vây, theo lệnh lão hầu tước, Imânus đã cho tháo chiếc thang cấp cứu treo ngang bên ngoài, phía dưới cửa sổ tầng thứ hai và tự tay mang vào cất trong thư viện. Có lẽ Gauvain muốn tìm thang để thay thế cho cái thang đó. Các cửa sổ của tầng thứ nhất vẫn gọi là phòng cảnh vệ đều được phòng thủ bằng ba lần chắn song sắt xây gắn trong đá, không ai có thể ra vào được.

Các cửa sổ thư viện không có chấn song, nhưng lại rất cao. Imânus đem theo ba tên khác, có thể làm mọi việc. Đó là Hoisnard, tức là Cành-Vàng, và hai anh em Gậy-Nhọn. Imânus cầm một cái đèn ló, mở tấm cửa sắt ra, xem xét kỹ lưỡng ba tầng nhà xây trên cầu. Hoisnard Cành-Vàng, vốn có người em bị bên cộng hòa giết, cũng là một tên quyết liệt như Imânus.

Imânus xem xét tầng trên chứa đầy cỏ và rơm, rồi tầng dưới trong đó hắn cho đặt thêm mấy cái hỏa lò bên cạnh những thùng hắc ín; hắn cho đặt đống cỏ khô sát vào mấy tấn hắc ín rồi kiểm soát kỹ lưỡng dây mồi tẩm lưu hoàng, một đầu ở trong nhà trên cầu và một đầu ở trong tháp. Hắn đổ vung vãi hắc ín nước trên sàn, dưới những thùng hắc ín và cỏ khô, rồi nhúng một đầu mồi tẩm lưu hoàng vào; hắn lại cho khuân ba cái nôi có René-Jean, Gros-Alain và Georgette đang ngủ ngon, đặt vào thư viện, nơi tầng dưới thì đầy hắc ín và tầng trên thì đầy rơm khô. Chúng khuân mấy cái nôi thật nhẹ tay để lũ trẻ khỏi thức giấc.

Đó là mấy cái nôi vùng quê, loại nôi thấp bện bằng mây đặt ngay trên mặt đất, như vậy đứa trẻ có thể tự mình bước ra khỏi nôi không cần có giúp đỡ. Bên mỗi chiếc nôi, Imânus cho đặt một bát xúp và một cái thìa gỗ. Chiếc thang cấp cứu tháo khỏi móc sắt, được đặt nằm trên sàn nhà sát chân tường; Imânus cho xếp ba chiếc nôi nối nhau ở sát tường đối diện với thang. Rồi nghĩ rằng có gió lùa càng tốt, hắn mở toang sáu cửa sổ thư viện. Lúc đó là một đêm hè, trong xanh và ấm áp.

Imânus sai anh em Gậy-Nhọn mở rộng cửa sổ các tầng trên và tầng dưới ra, hắn đã chú ý đến một cây dây leo, già và chết khô màu nâu đậm, ở mặt phía đông tòa nhà, phủ kín khắp một bên cầu từ trên xuống dưới và leo chung quanh cửa sổ của ba tầng lầu. Hắn nghĩ rằng cái cây này cũng chẳng hại gì cả. Imânus đưa mắt một lượt cuối cùng; xong đâu đó, bốn người ra khỏi nhà và trở về tháp. Imânus đóng tấm cửa sắt thật chặt, ngắm nghía cái ổ khóa to đáng sợ, rồi nhìn cái mồi tẩm lưu huỳnh dẫn qua một cái lỗ do hắn đục ra; từ giờ phút này trở đi, đó là vật duy nhất nối liền cầu và tòa tháp, rồi hắn gật đầu hài lòng. Dây mồi ấy bắt đầu từ gian phòng tròn trong tháp, chui qua tấm cửa sắt và vòm cửa, đi xuống theo bậc thang tầng dưới cùng của ngôi nhà trên cầu, vòng theo những bậc thang xoáy trôn ốc, bò theo sàn hành lang ở tầng hai và kết thúc ở đống cỏ khô trên cái ao hắc ín. Imânus đã tính toán phải mất mười lăm phút kể từ khi châm lửa bên trong tháp mồi lửa mới cháy đến đám hắc ín lênh láng ở tầng dưới thư viện. Sắp xếp và kiểm tra xong, hắn đem trả cái chìa khóa cửa sắt cho lão hầu tước và lão bỏ vào túi.

Cần phải theo dõi mọi hoạt động của bọn tấn công. Imânus liền ra đứng gác ở chòi canh trên sân thượng, chiếc tù và giắt ở thắt lưng, một mắt dán về phía rừng, một mắt nhìn về phía cao nguyên. Hắn đã để sẵn trên thành cửa tò vò vọng canh, gần bên hắn một túi thuốc súng, một túi đầu đạn và những tờ báo cũ mà hắn xé ra để quấn vỏ đạn.

Mặt trời mọc soi rõ khu rừng có tám tiểu đoàn, người nào cũng gươm bên sườn, túi vải trên lưng, súng lắp lê, sẵn sàng xung kích; trên cao nguyên lù lù một khẩu đội pháo với đầy đủ xe tải, túi thuốc đạn; hộp đầu đạn; trong tháp có mười chín người đang nạp đạn các loại súng ngắn, súng dài; và trong ba chiếc nôi, ba đứa trẻ đang ngủ say.

« Lùi
Tiến »