Chín Mươi Ba

Lượt đọc: 13392 | 3 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Quyển tư
Người mẹ
I
tử thần đi qua

Cho đến chiều hôm ấy, người mẹ lang thang suốt cả ngày. Kể ra thì ngày nào chị ta cũng thế: cứ đi mãi, không bao giờ dừng. Giấc ngủ nặng trĩu của chị ta ở một xó nào đấy cũng chẳng phải là dịp nghỉ ngơi, cũng như ăn, gặp đâu ăn đấy chả khác loài chim. Chị ta chỉ ăn và ngủ vừa đủ để khỏi ngã gục.

Đêm qua chị ta nằm ngủ trong một cái nhà kho bỏ hoang, nội chiến đã tạo nên những ngôi nhà đổ nát ấy; giữa cánh đồng vắng vẻ, chị ta thấy bốn bức tường, một cái cửa mở toang, một ít rơm dưới một mái nhà xơ xác, và chị nằm trên ổ rơm ấy, dưới mái nhà ấy, nghe chuột rúc dưới rơm, và nhìn sao mọc qua mái nhà. Chị ta ngủ một giấc; rồi nửa đêm thức dậy chị ta lại đi, cố gắng đi cho được một quãng khá dài trước khi nắng gắt. Đối với những người đi bộ đường xa về mùa hè, đi ban đêm dễ chịu hơn đi ban ngày.

Chị ta cố đi theo đúng con đường ang áng do người dân quê ở Ventortes chỉ cho; chị ta đi mãi về phía mặt trời lặn. Ai gần chị lúc ấy chắc cũng nghe tiếng chị lẩm bẩm luôn miệng: La Tourgue. Cùng với tên ba đứa con, chị ta chỉ còn biết tiếng ấy nữa mà thôi.

Vừa đi, chị vừa nghĩ ngợi. Chị nghĩ đến những biến cố đã qua; chị nghĩ đến tất cả những đau khổ, những điều đã chịu đựng, những cuộc gặp gỡ, những cái ô nhục, những điều kiện, để có chỗ nghỉ chân, để lấy một miếng bánh, có khi chỉ để người ta chỉ đường cho. Một người đàn bà khốn khổ còn đau thương hơn một người đàn ông khốn khổ, vì họ còn là một thứ đồ chơi. Bước đường lưu lạc quả là ghê rợn. Dầu sao, chị cũng coi thường tất cả, miễn là tìm được con.

Hôm ấy chị ta tới một thôn cạnh đường; trời mới tờ mờ sáng, cảnh vật còn chìm trong đêm tối; tuy vậy, vài cánh cửa đã hé mở và có những người tò mò thò đầu ra ngoài cửa sổ. Dân chúng xôn xao như ong vỡ tổ. Đó là do họ vừa nghe thấy tiếng bánh xe lăn và tiếng xích sắt loảng xoảng.

Trên quảng trường, trước nhà thờ, một đám đông hốt hoảng, mắt nghếch lên trời đang nhìn một cái gì từ đỉnh đồi kéo xuống theo con đường đi vào thôn. Đó là một chiếc xe bốn bánh có năm con ngựa buộc xích kéo. Trên chiếc xe chồng chất những thứ giống như những rường nhà dài, ở giữa có cái gì hình dạng khác thường; tất cả được che dưới một chiếc vải bạt nom như một tấm vải liệm. Mười người cưỡi ngựa đi trước, mười người cưỡi ngựa đi sau. Họ đội mũ chào mào, và phía trên vai họ ló lên những mũi nhọn như là gươm tuốt trần. Cả đoàn ấy tiến chậm chạp, vạch một nét đen đâm lên nền chân trời. Tưởng như xe, ngựa, người cùng một màu đen. Phía sau là cảnh ban mai tái nhợt.

Cả đoàn tiến vào thôn và đi vào quảng trường.

Trong lúc chiếc xe đi xuống, trời đã hửng sáng và người ta đã có thể nhìn rõ đoàn người đi lặng lẽ như những cái bóng.

Giữa lúc cỗ xe và lính cảnh sát ấy vào quảng trường, người mẹ khốn khổ lang thang từ phía khác cũng vừa tới và lại gần đám đông. Trong đám đông đã có những tiếng thì thầm hỏi và đáp:

- Cái gì đấy?

- Cái máy chém đấy.

- Ở đâu đến?

- Từ Fougères.

- Đi về đâu?

- Không rõ. Nghe nói đi tới một lâu đài ở phía Parigné.

- Ở Parigné!

- Nó muốn đi đâu thì đi, đừng dừng ở đây là được!

Cỗ xe đồ sộ ấy, đồ đạc bọc kín trong một thứ vải liệm, đoàn ngựa kéo, lính cảnh sát, tiếng xích loảng xoảng, bọn người ngậm tăm, vào lúc mờ mờ sáng, tất cả cảnh ấy như là cảnh ma.

Đoàn người ngựa kéo qua khỏi thôn; thôn nằm trong lòng chảo, con đường vắt qua, một bên dốc xuống, một bên dốc lên; khoảng mười lăm phút sau, dân quê vẫn đứng ngẩn ra như phỗng đã lại thấy cái đoàn kinh tởm kia hiện lên ở trên đỉnh quả đồi ở phía tây. Bánh xe to lộc cộc trên đường ổ gà, giây xích kêu leng keng trong gió sớm, lưỡi gươm lấp lánh; mặt trời đã lên, con đường ngoặt sang phía khác, và tất cả mất hút.

Chính lúc ấy, Georgette trong thư viện, tỉnh dậy bên cạnh hai đứa anh đang còn ngủ, và cất tiếng chào hai bàn chân đỏ hồng của nó.

II

Tử thần lên tiếng

Người mẹ đã nhìn thấy cái vật đen tối ấy đi qua, nhưng không hiểu gì, mà cũng chẳng tìm để hiểu. Trước mắt chị ta chỉ có một mộng ảnh: mấy đứa con của chị mịt mù trong bóng tối.

Rồi chị ta cũng đi ra khỏi thôn, sau đoàn kia một chút và cùng đi một đường, cách một quãng sau tốp lính cảnh sát thứ hai. Bỗng dưng hai tiếng “máy chém” trở lại trong óc chị; “máy chém”, chị ta nghĩ. Michelle Fléchard con người mông muội ấy chẳng biết cái đó là cái gì; nhưng bản năng báo trước, chẳng biết sao chị ta rùng mình một cái, như thấy đi sau cái ấy ghê tởm quá, thế là chị rẽ qua trái, bỏ con đường cái và luồn vào dưới rừng cây khu Fougères.

Dò dẫm một lúc, chị ta thấy một gác chuông và mấy mái nhà, đó là một thôn ở ven rừng, chị ta đi tới đó. Chị ta đói.

Đó là một trong những thôn có đồn bốt của phe cộng hòa.

Chị ta đi tới trước trụ sở thôn.

Dân trong thôn cũng đang xôn xao lo lắng. Một đám người tụ tập chen chúc trước tam cấp trụ sở. Một người đang đứng trên tam cấp, tay cầm một tờ giấy lớn mở rộng, sau lưng có lính hộ vệ bên phải có một tay trống, bên trái có một người cầm lọ hồ và một cái bút quết hồ.

Trưởng thôn đứng ở bao lơn phía trên cửa trụ sở, băng tam tài đeo chéo trên người lẫn trong bộ quần áo dân quê.

Người cầm tờ giấy là người rao tin.

Anh ta đeo đai da chéo trước ngựa với một cái túi, mắc vào đấy điều này chứng tỏ anh ta đã đi từ thôn này qua thôn khác để loan báo khắp nơi.

Vừa lúc Michelle Fléchard tới gần, anh ta căng tờ giấy ra, và bắt đầu lớn tiếng đọc:

- “Nước Cộng hòa Pháp, thống nhất và không thể chia cắt”.

Một hồi trống nổi lên. Cả đám đông lại nhấp nhô. Mấy người đội mũ nồi cất mũ lên; mấy người đội mũ có vành thì ấn mũ xuống. Hồi ấy, trong vùng đó người ta có thể biết chính kiến theo kiểu mũ; mũ có vành là bảo hoàng, mũ nồi là cộng hòa. Tiếng xôn xao tắt đi và người ta nghe đọc:

- “Chiếu theo các mệnh lệnh đã tiếp nhận và quyền hạn được Ủy ban cứu quốc giao cho chúng tôi...”

Lại một hồi trống nữa. Người rao tin tiếp:

- “Và thi hành sắc luật của Viện Quốc ước đặt ra ngoài vòng pháp luật tất cả những tên phiến loạn bắt được quả tang có khí giới trong tay, và kết án tử hình tất cả những ai cho những tên phiến loạn này trú ẩn hoặc để cho chúng thoát ngục...”

Một người dân quê hỏi nhỏ người bên cạnh:

- Này, tử hình là cái gì?

Người đứng bên trả lời:

- Tôi không biết.

Người rao tin vẩy vẩy tờ giấy:

- “Chiếu theo khoản 17, luật ngày 30 tháng 4, ủy thác quyền hành cho các vị đại diện và cấp bộ kế cận giải quyết tội trạng bọn phiến loạn...”

- “Đặt ra ngoài vòng pháp luật...”

Anh ta ngừng một lát và tiếp:

- “Tất cả những kẻ có tên và bí danh sau đây...”

Mọi người lắng tai nghe.

Giọng người rao tin vang to lên:

- “Lantenac, tên cướp...”

- Đức ông đấy.

Một người dân quê lẩm bẩm. Và trong đám đông có tiếng xì xào:

- Đức ông đấy.

Người rao tin lại tiếp:

- “Lantenac, tên cướp, trước đây là hầu tước. Imânus, tên cướp...”

Hai người dân quê đưa mắt nhìn nhau.

- Gouge-le-Bruant đấy.

- Đúng, chính là ông Tiêu-Diệt-Bọn-Xanh đấy.

Người rao tin đọc tiếp danh sách.

- “Grand-Francoeur, tên cướp...”

Đám đông lầm rầm:

- Thầy tu đấy.

- Phải, tu viện trưởng Turmeau.

- Phải, làm linh mục đâu ở phía bên kia rừng La Chapelle.

- Và là kẻ cướp. - Một người đội mũ nồi nói chen vào.

Người rao tin đọc:

- “Boisnouveau, tên cướp. Hai anh em Gậy-Nhọn, hai tên cướp. Houzard, tên cướp...”

- Ông De Quélen đấy - Một người dân quê nói.

- “Panier, tên cướp...”

- Ông Sepher đấy.

- “Place-nette, tên cướp...”

- Ông Jamois đấy.

Người rao tin tiếp tục đọc, không chú ý đến những câu bàn tán ấy:

- “Guinoiseau, tên cướp. Chatenay, tức Robi, tên cướp...”

Một người dân quê nói nhỏ:

- Guinoiseau chính là Le Blond, Chatenay là De Saint-Ouen.

Người rao tin tiếp:

- “Hoisnard, tên cướp...”

Và người ta nghe trong đám đông xì xào:

- Ông De Ruillé đấy.

- Phải, ông Cành-Vàng đấy.

- Ông ấy có người anh chết trận ở Pontorson.

- Vâng, tên là Hoisnard-Malonnière.

- Một thanh niên mười chín tuổi, đẹp trai.

- Xin chú ý - Người rao tin lại tiếp - Đây là phần cuối của bản danh sách. “Belle-Vigne, tên cướp. La Musette, tên cướp. Sabre-tout, tên cướp. Brin-d’Amour, tên cướp...”

Một anh con trai hích tay một cô gái. Cô con gái cười. Người rao tin vẫn tiếp tục:

- “Chante-en-hiver, tên cướp. Le Chat, tên cướp...”

Một người dân quê nói:

- Moulard đấy.

- “Tabouze, tên cướp...”

Một người dân quê nói:

- Gauffre đấy.

- Hai anh em Gauffre - Một người đàn bà chêm vào.

- Người tử tế cả. - Một người lẩm bẩm.

Người rao tin vẩy vẩy tờ giấy và trống lại rung lên.

Người rao tin đọc tiếp:

- “Những tên nói trên đây, bất kỳ bất được ở đâu, sau khi thẩm tra lý lịch, đều đem xử tử hình ngay”.

Mọi người xôn xao.

Người rao tin tiếp:

- “Ai cho những tên này ẩn nấp và giúp chúng trốn thoát sẽ bị đưa ra tòa án quân sự và xử tử hình. Ký tên...”

Bỗng lặng phắc cả.

- “Ký tên: Đại diện Ủy ban Cứu quốc, Cimourdain”

- Một ông thầy tu. - Một người dân quê nói.

- Cha xứ Parigné đấy.

Một thị dân thêm:

- Turmeau và Cimourdain. Một thầy tu trắng và một thầy tu xanh.

- Cả hai đều đen ngòm. - Một thị dân khác nói tiếp.

Thôn trưởng đứng trên bao lơn giơ mũ lên và hô:

- Cộng hòa muôn năm!

Một hồi trống nữa báo rằng người rao tin chưa đọc xong. Quả nhiên anh ta vẫy tay:

- Chú ý! Tờ cáo thị còn bốn hàng cuối cùng đây. Do cấp chỉ huy đạo quân chinh phạt vùng Bờ-Biển-Bắc là tư lệnh Gauvain ký tên.

- Nghe kìa! - Trong đám đông có tiếng nói.

Và người rao tin đọc:

- “Xử tội tử hình...”

Mọi người im lặng.

- “Kẻ nào vi phạm lệnh cấm mọi sự cứu giúp mười chín tên phản nghịch nói trên hiện đang bị bao vây trong tháp Tourgue”.

- Sao? - Có người hỏi.

Tiếng đàn bà. Tiếng một người mẹ.

III

Dân quê xì xào

Michelle Fléchard đứng lẫn vào đám đông. Chị ta không nghe được gì cả, nhưng điều không lắng nghe lại lọt vào tai. Tiếng La Tourgue đã lọt tai chị ta. Chị ta ngẩng đầu lên và lặp lại: “Sao? La Tourgue à?”

Người ta nhìn chị. Chị có vẻ ngơ ngác, rách rưới. Có tiếng rì rầm: “Trông có vẻ một mụ kẻ cướp”.

Một người đàn bà dân quê bưng một thúng bánh mì đen đến gần và nói nhỏ với chị ta:

- Im đi.

Michelle Fléchard đờ đẫn nhìn bà kia. Chị ta lại chẳng hiểu gì nữa. Cái tên La Tourgue này lướt qua như một ánh chớp rồi lại mù mịt. Sao, chị ta không có quyền hỏi thăm à? Có gì mà người ta nhìn chị như vậy?

Trong khi ấy, trống đã rung lên hồi cuối cùng, tờ cáo thị đã được dán lên, trưởng thôn đã trở vào trụ sở người giao tin đã đi qua thôn khác và đám đông đã giải tán.

Một nhóm còn đứng lại trước tờ cáo thị. Michelle Fléchard đi tới đó.

Người ta đang bàn tán về những tên người bị đặt ra ngoài vòng pháp luật.

Ở đó có cả dân quê và thị dân, nghĩa là có cả phe Trắng và phe Xanh.

Một người dân quê nói:

- Chẳng hề gì, họ chẳng bắt được hết cả đâu. Mười chín, chỉ là mười chín thôi. Họ chẳng bắt được Priou, chẳng bắt được Benjamin Moulins, chẳng bắt được Goupil ở giáo khu Andouillé.

- Cũng không bắt được Lorieul ở Monjean. - Người khác nói.

Những người khác thêm vào:

- Cả Brice-Denys.

- Cả François Dudouet.

- Đúng, người ở Laval.

- Cả Huet ở Launay-Villiers.

- Cả Grégis.

- Cả Pilon.

- Cả Filleul.

- Cả Ménicent.

- Cả Guéharrée.

- Cả ba anh em nhà Logerais.

- Cả ông Lechandelier De Pierreville.

- Đồ ngốc - Một ông cụ già tóc bạc nghiêm khắc lên tiếng - Họ bắt được hết nếu họ bắt được Lantenac.

- Đã bắt được đâu. - Một anh còn trẻ lẩm bẩm.

Người kia đáp:

- Mất Lantenac là mất linh hồn. Lantenac chết thì Vendée cũng bị tiêu diệt.

- Cái ông Lantenac ấy là ai thế? - Một thị dân hỏi.

Một thị dân khác trả lời:

- Trước là quý tộc đấy.

Một người khác thêm:

- Một trong những tên bắn giết đàn bà.

Michelle Fléchard nghe được nói luôn:

- Đúng đấy.

Mọi người quay lại.

Chị ta nói thêm:

- Vì người ta đã bắn tôi mà.

Câu nói lạ thật. Y như người còn sống mà tự xưng là chết rồi. Mọi người liếc nhìn chị ta.

Quả nhiên nom chị ta thật đáng ngờ. Cái gì cũng động lòng, cũng hoảng hốt, cũng run rẩy như loài vật và quá khiếp đảm đến nỗi chị ta trở nên đáng sợ. Trong nỗi thất vọng của người đàn bà có cái vẻ yếu hèn thật ghê rợn. Người ta tưởng như thấy một con người bị treo ở đầu sợi dây số mệnh. Nhưng người dân quê lại nhìn sự việc một cách đại khái hơn. Một người lẩm bẩm:

- Rất có thể là một con gián điệp.

Bà già hồi nãy nói nhỏ với chị:

- Đừng nói nữa, và đi đi.

Michelle Fléchard trả lời:

- Tôi không làm gì hại cả. Tôi tìm con tôi.

Bà già nhìn những người đang nhìn Michelle Fléchard, vừa lấy ngón tay chỉ vào trán vừa nháy mắt và nói:

- Chị ta ngớ ngẩn đấy.

Rồi người ấy kéo Michelle ra một chỗ và đưa cho một chiếc bánh mì đen.

Michelle Fléchard chẳng cám ơn, nhai ngấu nghiến chiếc bánh.

- Ừ - Mấy người dân quê nói - Chị ta ăn như một con vật, đúng là một người ngớ ngẩn.

Rồi đám người giải tán, kẻ trước người sau.

Ăn xong, Michelle Fléchard nói với bà kia:

- Xong rồi, no rồi! La Tourgue ở đâu?

- Đấy, lại lên cơn rồi! - Người đàn bà kia thốt lên.

- Tôi phải đi đến La Tourgue. Bà chỉ đường cho tôi đi La Tourgue.

- Không bao giờ! Để cho người ta giết chị đi sao? Vả chăng, tôi có biết gì đâu! Ái chà, vậy chị điên thật ư? Này, tội nghiệp, chị có vẻ mệt mỏi lắm. Chị có muốn về nhà tôi nghỉ không?

- Tôi không nghỉ ngơi gì cả đâu.

- Chân chị ta sây sát cả. - Bà kia lẩm bẩm.

Michelle Fléchard tiếp:

- Tôi đã nói với bà là người ta cướp mất lũ con tôi. Một đứa con gái và hai đứa con trai. Tôi ở đằng phía rừng đi lại đây. Hỏi lão Tellmarch về tôi thì rõ. Và hỏi cả người đàn ông mà tôi đã gặp trên cánh đồng phía ấy. Chính cụ ăn xin đã chữa cho tôi khỏi. Hình như tôi đã bị gãy cái gì ấy. Việc đã xảy ra như thế đấy. Còn có ông đội Radoub nữa. Cứ hỏi ông ta, ông ta sẽ bảo. Vì chính ông ta đã gặp chúng tôi trong rừng. Ba đứa. Tôi nói với bà là tôi có ba đứa con. Đứa đầu tiên là René-Jean. Tôi nói có bằng chứng mà. Đứa kia là Gros-Alain, và con bé nữa là Georgette. Chồng tôi chết rồi. Bị người ta giết. Chồng tôi cày rẽ ở ấp Siscoignard. Trông bà phúc hậu. Bà chỉ đường cho tôi. Tôi không điên đâu, tôi chỉ là một người mẹ. Tôi mất con. Tôi đi tìm con. Có thế thôi. Tôi chẳng biết đích xác tôi đi từ đâu đến. Đêm qua tôi nằm ngủ trên ổ rơm, trong một nhà kho. Tôi đi tới La Tourgue đây. Tôi không phải là kẻ trộm. Bà cũng thấy là tôi nói thật. Cần giúp tôi tìm con tôi. Tôi không phải là người ở đây. Tôi đã bị bắn. Nhưng cũng không biết rõ đã bị bắn ở đâu nữa.

Người đàn bà kia gật đầu nói:

- Này, chị nghe tôi. Trong thời buổi cách mạng không nên nói những điều mà người ta không hiểu được. Có khi bị bắt đó.

- Nhưng còn La Tourgue! Bà ơi, vì Chúa Hài đồng, vì Đức mẹ Đồng trinh trên trời, tôi xin bà, tôi cầu khẩn bà, bà chỉ cho tôi đường đi tới La Tourgue.

Người đàn bà kia nổi giận:

- Tôi có biết đâu! Mà có biết tôi cũng không nói! Đó là những nơi nguy hiểm. Đừng đi đến làm gì!

- Tôi cứ đi - Người mẹ ấy nói.

Rồi chị ta bước đi thật.

Người đàn bà kia nhìn theo và lẩm bẩm:

- Phải cho chị ta ăn.

Rồi bà ta chạy theo và đặt một chiếc bánh mì vào trong tay chị ta:

- Này, để ăn bữa tối đấy.

Michelle Fléchard cầm chiếc bánh mì, chẳng đáp gì cả, chẳng ngoảnh đầu lại, và cứ bước tràn.

Chị đi ra khỏi thôn. Qua những nhà cuối cùng, chị ta gặp ba đứa trẻ rách rưới, chân không, đi qua. Chị ta đi lại gần chúng rồi nói:

- Lũ này, lại là hai gái, một trai.

Thấy chúng nhìn tấm bánh, chị ta liền cho chúng.

Lũ trẻ cầm bánh, vẻ sợ hãi.

Chị ta thì đi miết vào trong rừng.

IV

Một sự lầm lẫn

Cũng ngày hôm ấy, trước lúc rạng đông, trong bóng tối mờ mờ trong rừng, trên quãng đường từ Javené đến Lécousse đã xảy ra chuyện này.

Trong miền Bocages toàn là đường trũng, nhất là đường từ Javené đến Parigné đi qua Lécousse, rất khó đi. Lại ngoằn ngoèo nữa. Một cái rãnh thì đúng hơn. Con đường này từ Vitré tới và đã có hân hạnh làm cho cỗ xe của bà De Sévigné nhảy khấp khểnh khi qua đây. Bờ dậu chắn hai bên đường như hai bờ tường. Phục kích thì chẳng còn đâu hơn nữa.

Sáng hôm ấy, một giờ trước khi Michelle Fléchard từ một góc rừng đi tới thôn đầu tiên và gặp cỗ xe ma có cảnh sát hộ tống, thì trong bụi rậm hai bên đường từ Javené đến, sau chiếc cầu trên sông Couesnon, có một đám người lố nhố. Cành lá che kín cả. Họ là dân quê, bận kiểu áo lông mà các vua chúa xứ Bretagne mặc hồi thế kỷ thứ sáu và nay dân quê thế kỷ thứ mười tám mặc kẻ súng, người rìu. Bọn có rìu vừa chặt xong một đống củi khô chỉ còn châm lửa vào nữa thôi. Những người có súng thì nấp hai bên đường chờ đợi. Qua kẽ lá, có thể thấy ngón tay họ đặt sẵn lên cò súng. Họ đang rình. Tất cả các mũi súng chĩa ra ngoài con đường đang sáng dần.

Trong bóng tối lờ mờ ấy, nghe có tiếng người đối đáp nhau.

- Có chắc không?

- Chắc, người ta nói thế mà.

- Nó sẽ qua đây?

- Người ta nói nó đang ở trong vùng này.

- Không cho nó ra thoát khỏi nơi đây.

- Phải đốt nó đi.

- Bọn ta, ba thôn đến làm việc đó.

- Ừ, nhưng có toán quân hộ vệ.

- Tiêu diệt cả quân hộ vệ.

- Nhưng liệu chúng có qua đường này không?

- Người ta bảo thế.

- Vậy thì chúng từ Vitré đến à?

- Sao lại không?

- Ấy thế mà lại nghe nói chúng từ Fougères tới.

- Từ Vitré hay từ Fougères tới cũng đều là từ chỗ bọn quỷ tới cả.

- Đúng.

- Và nhất định nó phải trở về với quỷ.

- Đúng.

- Có phải chúng đi tới Parigné không?

- Hình như vậy.

- Chúng sẽ không tới nơi được.

- Không.

- Không, không, không!

- Chú ý!

Quả thật bây giờ cần im lặng, vì trời đã bắt đầu sáng rõ.

Bỗng bọn người phục kích cùng nín thở: đã nghe có tiếng xe, tiếng ngựa. Họ nhìn qua kẽ lá và nhận ra thấp thoáng trên đường hẻm một chiếc xe dài, một toán quân hộ vệ cưỡi ngựa, và một cái gì trên xe, đang đi về phía họ.

- Nó đấy! - Người nói hình như là đội trưởng.

- Vâng, cả toán hộ vệ nữa - Một người khác nói.

- Bao nhiêu lính hộ vệ?

- Mười hai.

- Hai mươi.

- Mười hai hay hai mươi, cứ giết sạch.

- Chờ cho chúng đến ngang tầm súng đã.

Một lát sau, ở một khúc ngoặt, chiếc xe và toán lính hiện ra.

- Đức vua muôn năm! - Viên chỉ huy đám dân quê hô to.

Trăm phát súng cùng nổ một loạt.

Khi khói đã tan, toán lính hộ vệ cũng tan rã. Bảy người chết, năm người chạy trốn. Đám dân quê chạy tới chiếc xe.

Viên chỉ huy nói:

- Lạ chưa! Không phải máy chém. Một chiếc thang.

Đúng là xe chỉ chở có một cái thang.

Hai con ngựa bị thương đã gục xuống; anh đánh xe không bị họ cố ý bắn, cũng chết.

- Chẳng sao. - Viên chỉ huy nói, một cái thang mà có lính hộ tống là khả nghi rồi. Nó đi về phía Parigné. Chắc là để chúng leo lên tháp Tourgue.

Đám dân quê kêu lên:

- Đốt thang đi.

Rồi họ đốt thang.

Còn chiếc xe ma mà họ chờ đợi thì đã theo một con đường khác và đã cách xa nơi họ tới hai dặm, trong cái thôn mà Michelle Fléchard gặp nó đi qua lúc mặt trời mọc.

V

Tiếng nói giữa cõi hoang vu

Michelle Fléchard sau khi cho ba đứa trẻ chiếc bánh của mình, bèn đi liều qua khu rừng.

Chẳng ai muốn chỉ đường cho, chị ta phải tự lần lấy đường đi vậy. Thỉnh thoảng chị ta ngồi xuống, rồi lại đứng lên, rồi lại ngồi xuống. Chị ta thấy ê ẩm trong bắp thịt rồi đến cả trong xương tủy; cái mệt mỏi của người nô lệ. Quả thật chị ta là kẻ nô lệ. Nô lệ mấy đứa con biệt tin. Phải tìm thấy chúng; mỗi phút trôi qua có thể làm chúng thiệt mạng. Ai đã có một nhiệm vụ như vậy thì chẳng còn có quyền gì nữa; nghỉ lấy hơi cũng chẳng được. Nhưng chị ta đã mệt nhừ. Kiệt sức đến mức ấy rồi bước lên một bước là cả một vấn đề. Còn bước được nữa không? Chị ta đi từ sáng chẳng còn gặp thôn xóm, nhà cửa gì nữa. Lúc đầu chị ta đi đúng đường, rồi đi sai đường, và cuối cùng lạc vào giữa đám cây chỗ nào cũng giống chỗ nào. Đã gần tới đích chưa? Đã đến gần nơi chị ước chưa? Có thể nói rằng chị đang đi trên con đường đau khổ và cảm thấy rã rời ở chặng đường cuối cùng. Liệu ta có ngã xuống và thở hơi thở cuối cùng ở đây không? Đôi khi, chị thấy khó lòng mà bước thêm được một bước nữa; mặt trời đã xế, cảnh rừng tối om, đường mòn xóa nhòa trong cỏ, và chị chẳng biết tính sao. Chị kêu lên, chẳng ai trả lời.

Nhìn quanh mình, chị ta thấy một vùng quang đãng, liền đi về phía đó, và bỗng nhiên thấy mình ra khỏi cánh rừng.

Trước mắt chị là một cái thung lũng hẹp như một con đường hầm, dưới đáy có một giòng nước chảy trong veo giữa các tảng đá. Chị ta bấy giờ mới thấy khát đến rát cổ. Chị chạy tới, quỳ xuống và uống nước.

Nhân khi quỳ xuống, chị đọc kinh.

Và khi đứng dậy, chị tìm phương hướng.

Chị ta bước qua con suối.

Cuối thung lũng là một cao nguyên rộng bao la, cây cối thấp lè tè, chạy xa tắp từ con suối lên đến tận chân trời. Cánh rừng thì cô tịch, cao nguyên thì hoang vu. Trong rừng, sau mỗi bụi cây có thể gặp một người; trên cao nguyên này, mắt nhìn thấu đến đâu cũng chẳng thấy một ai. Vài con chim liệng trên cánh đồng thạch cỏ như muốn tìm chỗ trốn.

Thế rồi, đứng trước cảnh đơn chiếc mênh mông ấy, chị thấy đầu gối chùn lại. Và, như điên như dại, chị hoảng hốt cất tiếng hỏi cảnh hoang vu:

- Có ai đó không?

Và chị chờ tiếng đáp lại.

Có tiếng trả lời.

Một thứ tiếng trầm trầm đục đục nổi lên, từ chân trời xa vọng lại, từ tiếng vang này dội qua tiếng vang khác, giống như tiếng sấm nếu không phải là tiếng súng đại bác; và như tiếng ấy đáp lại tiếng gọi của người mẹ:

- Có.

Rồi lại im lặng như tờ.

Người mẹ đứng lên, như tỉnh lại; có người đấy; hình như bây giờ chị ta đã có người để nói chuyện. Chị vừa uống nước và đọc kinh xong; sức khỏe đã trở lại, chị liền leo lên cao nguyên hướng về phía có tiếng xa xăm, to lớn vừa dội lại.

Bỗng nhiên chị ta thấy tận chân trời ở cách xa một dặm đường nổi lên một tháp cao, trơ trọi giữa cảnh hoang dại, nhuộm đỏ ánh chiều tà sau tòa tháp ấy một giải rừng xanh thấp thoáng trong sương: đó là rừng Fougères.

Tháp hiện ra phía chân trời, ở cùng một điểm đã phát ra tiếng âm vang ban nãy, mà Michelle Fléchard tưởng như tiếng người. Có phải chính tòa tháp đã phát ra tiếng động ấy không?

Michelle Fléchard đã bước lên đỉnh cao nguyên; trước mặt chị bấy giờ chỉ là một cánh đồng bằng phẳng.

Chị đi về phía tháp.

VI

Tình thế lúc ấy

Giờ phút đã đến.

Con người khắc nghiệt đã chộp được kẻ tàn nhẫn.

Cimourdain đã nắm Lantenac trong tay.

Tên bảo hoàng phiến loạn già đã bị giữ tại sào huyệt; dĩ nhiên nó không thể nào thoát được nữa; và Cimourdain muốn rằng tên hầu tước phải bị chặt đầu ngay tại lâu đài của nó, trên đất đai của nó, nói cách khác là trong nhà nó, để cho cái dinh cơ phong kiến trông thấy rơi xuống cái đầu của tên phong kiến, và để nêu gương cho muôn đời sau.

Bởi vậy, ông ta đã sai người đi lấy máy chém ở Fougères về. Người ta vừa thấy nó ở trên đường.

Giết Lantenac là tiêu diệt được cuộc phiến loạn Vendée; tiêu diệt cuộc phiến loạn Vendée là cứu được nước Pháp. Cimourdain không ngần ngại gì cả. Ông ta thấy thoải mái trước sự hung dữ phải làm.

Đời tên hầu tước coi như là kết liễu; về mặt này, Cimourdain rất yên tâm, nhưng ông ta lo về phía khác. Cuộc chiến đấu nhất định sẽ khốc liệt; Gauvain sẽ chỉ huy cuộc chiến đấu và còn muốn lao mình vào đó; trong người chỉ huy trẻ ấy có máu con nhà lính; Gauvain sẽ lăn vào cuộc vật lộn này; miễn là không bị thiệt mạng, Cimourdain cầu mong như thế, Gauvain! Con của ông! Tình thương duy nhất của ông trên quả đất này! Gauvain từ trước đến nay vẫn có hồng phúc, nhưng có hồng phúc nào là bền lâu mãi mãi! Cimourdain run sợ. Cuộc đời ông ta có điều này kỳ lạ là giữa hai Gauvain một người ông muốn cho chết đi, còn một người ông muốn cho sống.

Tiếng súng đại bác vừa thức tỉnh Georgette trong nôi và lên tiếng gọi bà mẹ từ nơi cô tịch xa xôi, không phải chỉ có tác dụng như thế. Có lẽ do người nhắm bắn vô tình hoặc cố ý viên đạn được bắn ra để báo hiệu đã đánh trúng, phá vỡ và giật đi một nửa cái lưới song sắt chấn lỗ châu mai lớn ở tầng thứ nhất tòa tháp. Những người bị vây không còn đủ thì giờ để chữa lại nữa.

Bọn bị vây đã khoác lác. Chúng chỉ có rất ít đạn dược, tình thế của chúng, xin nhắc lại, còn nguy kịch hơn là quân đội bao vây bên ngoài dự đoán. Nếu chúng có đủ thuốc súng thì chúng sẽ cho nổ tháp Tourgue, cả chúng và đối phương ở trong đó là điều chúng mơ ước; nhưng tất cả dự trữ của chúng đã cạn. Chúng chỉ còn chưa đầy ba mươi phát đạn mỗi đầu người. Chúng có nhiều súng dài, súng ngắn, và súng lục, nhưng ít đạn. Chúng đã đem lắp đạn vào tất cả các thứ súng để bắn được liên tục; nhưng bắn như thế thì phỏng kéo dài được bao lâu? Thành ra phải vừa bắn đều tay vừa phải dè sẻn. Cái khó khăn của chúng là ở đó. May sao - một thứ may mắn ghê rợn - cuộc chiến đấu phần lớn diễn ra theo lối đánh giáp lá cà, và dùng gươm dáo. Người ta vật lộn hơn là bắn nhau. Người ta đâm, chém nhau; đó là hy vọng của chúng.

Phía trong tháp có vẻ kiên cố. Trong cái phòng thấp ăn ra lỗ tường bị phá là góc cố thủ, thứ chiến lũy do Lantenac dựng lên một cách tài tình đó chặn đường từ ngoài vào. Phía sau góc cố thủ này để một cái bàn dài đầy các loại súng nạp đạn sẵn có các thứ gươm, búa, dao găm. Không thể lấy thuốc nổ phá tung hầm kín thông với phòng thấp này, tên hầu tước đã bịt kín cửa hầm này lại. Phía trên phòng tháp này là cái phòng tròn của tầng gác thứ nhất, lên đó bằng một cầu thang trôn ốc rất hẹp; trong phòng này cũng đặt một cái bàn đầy vũ khí lắp đạn sẵn, ánh sáng bên ngoài lọt vào theo chỗ lưới sắt đã bị đạn chọc thủng; trên phòng này chiếc cầu thang xoắn ốc dẫn đến một phòng tròn của tầng thứ hai, nơi đây có chiếc cửa sắt nhìn ra tòa nhà xây trên cầu. Gian phòng tầng hai ngày gọi là phòng cửa sắt hay là phòng gương vì ở đấy có treo rất nhiều gương nhỏ vào đầu những chiếc đinh gỉ đóng trên tường đá, một cách trang trí cầu kỳ và man rợ. Các phòng ở phía trên không thể phòng ngự có hiệu quả, nên cái phòng gương này là “vị trí cuối cùng để cho kẻ bị bao vây đầu hàng” như lời nhà kiến trúc Mannesson-Mallet. Vì thế phải chặn không cho kẻ địch lọt vào tới chỗ này.

Gian phòng ở tầng hai đó được soi sáng nhờ các lỗ châu mai; nhưng ở đây còn có một bó đuốc rực lửa cắm vào cái giá bằng sắt giống như cái giá đặt dưới phòng thấp, do Imânus đốt và đặt bên cạnh mồi lửa tẩm lưu huỳnh. Một sự chuẩn bị thật ghê rợn!

Cuối cùng gian phòng tháp, trên một tấm phản dài, có bày thức ăn như trong hang núi thời thần thoại; những dĩa cơm lớn, cháo mì đen, thịt bê băm nhỏ, bánh làm bằng trái cây bọc bột và những bình rượu táo. Ai muốn ăn thì ăn, muốn uống thì uống.

Phát súng đại bác làm chúng ngừng tay. Trước mắt chỉ còn có nửa giờ thôi.

Imânus đứng trên lầu cao, kiểm soát bước tiến của đối phương. Lantenac đã ra lệnh không được bắn và để cho địch đi tới. Lão đã nói:

- Chúng có tất cả bốn ngàn rưỡi người. Chúng còn ở ngoài, có giết cũng vô ích thôi. Cho vào trong rồi sẽ giết. Bên trong chúng với ta sẽ bình đẳng.

Và lão ta vừa cười vừa nói thêm:

- Bình đẳng. Bác ái.

Đã quy ước với nhau là khi nào đối phương bắt đầu hoạt động thì Imânus sẽ thổi tù và báo động.

Tất cả đều im lặng, phục trong góc cố thủ, hoặc trên các bậc thang, chờ đợi, một tay đặt trên súng, một tay lần tràng hạt.

Tình thế mỗi lúc mỗi rõ ràng như sau:

Quân bao vây phải trèo qua lỗ tường thủng phá chiến lũy, đánh chiếm từng gian ba phòng ở ba tầng, giành từng bậc trên cầu thang dưới làn mưa đạn. Bên bị bao vây chỉ có một con đường: chết.

VII

Trận đánh mở màn

Gauvain cũng đang bố trí cuộc tấn công. Ông ta đã căn dặn Cimourdain lần cuối cùng - chúng ta nhớ là ông này phải bảo vệ cao nguyên, không tham gia cuộc tiến công - và ra lệnh cho Guéchamp cùng với đại quân canh phòng trong rừng. Pháo ở khu cao nguyên cũng như pháo trong rừng đều không được bắn nếu đối phương không xông ra ngoài hoặc chạy trốn. Gauvain giành cho mình quyền chỉ huy mũi xung kích vào đột phá khẩu. Chính việc đó làm cho Cimourdain lo lắng.

Mặt trời vừa lặn.

Một tòa tháp đứng ở giữa cánh đồng bằng phẳng cũng giống như một con tàu giữa biển. Tấn công một tòa tháp cũng như tấn công một chiến thuyền. Một cuộc giáp chiến đúng hơn là một cuộc đột kích: không cần đại bác. Chẳng nên làm cái gì vô ích. Bắn đại bác vào những bức tường dày năm thước phỏng có ích gì. Chọc thủng mạn tàu, rồi một bên xông vào, một bên chặn lại, sử dụng búa dao, súng ngắn, nắm tay và răng. Cuộc chiến đấu sẽ diễn ra như thế.

Gauvain cảm thấy không còn cách nào khác đánh chiếm tháp Tourgue. Một cuộc chạm trán ác liệt. Ông ta biết rõ bên trong tháp rất đáng sợ, vì đã từng ở trong ấy khi còn nhỏ.

Ông ta suy nghĩ kỹ lưỡng.

Trong khi ấy, cách ông mấy bước, phụ tá của ông là Guéchamp, tay cầm ống nhòm đang quan sát chân trời phía Parigné. Bỗng Guéchamp kêu to:

- A! Kia rồi.

Câu nói ấy kéo Gauvain ra khỏi cơn mơ mộng.

- Cái gì thế? Guéchamp?

- Báo cáo, có thang rồi đấy.

- Thang cấp cứu à?

- Vâng.

- Kỳ thật! Đến bây giờ mà chưa có thang à?

- Chưa. Tôi đang lo. Liên lạc hỏa tốc cử đi Javené đã trở về.

- Tôi biết.

- Anh ta báo tin đã tìm được ở xưởng mộc Javené chiếc thang đúng kích thước cần thiết, đã trưng dụng và đặt thang lên xe, có mười hai kỵ binh áp tải, và đã chứng kiến cả xe, cả lính, cả chiếc thang đã khởi hành về phía Parigné. Sau đó anh ta mới phóng ngựa về đây.

- Và đã báo cáo như vậy. Anh ta có nói thêm rằng chiếc xe đã thắng cẩn thận và ra đi từ hai giờ sáng, có thể về đây trước khi mặt trời lặn. Tôi biết tất cả những điều đó. Còn gì nữa.

- Thưa tư lệnh, mặt trời đã lặn, và chiếc xe chở thang chưa về.

- Có thể thế không? Nhưng ta phải tấn công. Đến giờ rồi. Nếu chậm, lũ bị vây sẽ tưởng ta tháo lui.

- Thưa tư lệnh, ta có thể tấn công.

- Nhưng chiếc thang rất cần.

- Hẳn thế.

- Nhưng ta chưa có thang.

- Có rồi.

- Thế nào?

- Chính vì vậy mà tôi nói: A! Đây rồi. Xe chưa tới; tôi lấy ống nhòm quan sát con đường từ Parigné đến Tourgue và, thưa tư lệnh, tôi hài lòng lắm. Chiếc xe đang ở kia với đoàn áp tải; xe đang xuống một cái dốc. Tư lệnh có thể xem qua.

Gauvain cầm ống nhòm và nhìn.

- Đúng rồi. Nó đây rồi. Chiều rồi, không nhìn được rõ tất cả. Nhưng nhìn rõ đoàn áp tải, đúng như vậy. Có điều là đoàn áp tải đông hơn chứ không như anh nói, Guéchamp ạ.

- Tôi cũng thấy thế.

- Họ còn cách đây một phần tư dặm.

- Thưa tư lệnh, chiếc thang cấp cứu sẽ tới đây trong vòng mười lăm phút nữa.

- Có thể tấn công được rồi.

Đúng là có một chiếc xe đi tới, nhưng không phải là chiếc xe chở thang như họ tưởng.

Gauvain quay lại, thấy viên đội Radoub, đứng nghiêm hai mắt nhìn xuống, trong tư thế chào nhà binh.

- Cái gì thế? Đội Radoub?

- Thưa công dân tư lệnh, chúng tôi, tất cả anh em trong tiểu đoàn Mũ Đỏ, chúng tôi xin tư lệnh làm ơn...

- Gì thế?

- Cho chúng tôi được chết.

- À! - Gauvain nói.

- Tư lệnh có chiếu cố cho không?

- Nhưng, còn tùy...

- Thế này, thưa tư lệnh. Từ sau trận đánh ở Dol, tư lệnh nuông chúng tôi quá. Chúng tôi còn tất cả mười hai người.

- Thì sao?

- Điều đó làm nhục chúng tôi.

- Các anh là lực lượng dự trữ.

- Chúng tôi muốn là đội tiền đạo.

- Nhưng tôi cần các anh để quyết định thắng lợi cho một cuộc tấn công. Tôi bảo toàn các anh.

- Quá đáng.

- Thôi được. Các anh cùng tiến với đoàn xung kích.

- Tiến sau cùng. Quân đội Paris có quyền đi tiền phong.

- Đội Radoub, tôi sẽ tính đến điều đó.

- Xin tư lệnh tính ngay cho hôm nay. Đây là một dịp. Sắp có ở đó một cuộc ẩu đả quyết liệt. Ai sờ đến tháp Tourgue sẽ bị bỏng tay. Xin cho chúng tôi cái ân huệ ấy.

Viên đội dừng lại, vân vê râu mép, và nói tiếp với một giọng tha thiết:

- Vả lại, trong chiếc lầu này có mấy cháu bé. Đó là những đứa con của chúng tôi, của đơn vị chúng tôi, ba đứa con của chúng tôi. Bộ mặt gớm ghiếc của tên Gribouille-mon-culte-baise, tên Diệt-Xanh, tên Imânus, tên Gouge-le-Bruant, tên Bouge-le-Gruyand, tên Fouge-le-Truand, cái lũ quỷ trời đánh ấy đang dọa dẫm các cháu. Các cháu của chúng tôi. Dù cho trời rung đất chuyển, chúng tôi không muốn sẽ xảy ra điều gì nguy hại cho chúng. Vừa rồi, nhân lúc chưa khởi sự, tôi trèo lên cao nguyên và nhìn thấy chúng ở phía sau chiếc cửa sổ. Vâng, các cháu còn ở đó, đứng trên bờ hào có thể thấy chúng, tôi đã nhìn chúng và đã làm chúng sợ, các cháu thân yêu của chúng tôi. Thưa tư lệnh, nếu một sợi tóc trên đầu bé bỏng của chúng rơi xuống thì tôi, đội trưởng Radoub, tôi sẽ oán cả Chúa. Toàn đơn vị cũng đã nói: một là cứu được các cháu, hai là chết sạch. Đó là quyền của chúng tôi, vâng, chết sạch! Và giờ đây, xin kính chào tư lệnh.

Gauvain bắt tay Radoub và nói:

- Các anh thật dũng cảm. Các anh sẽ tham gia đội xung kích. Tôi chia các anh làm hai. Sáu người đi đầu để mọi người tiến theo, sáu người đi sau để không một ai lùi bước.

- Tôi vẫn chỉ huy mười hai anh em này?

- Tất nhiên.

- Vậy thì xin cám ơn tư lệnh. Vì tôi đi đầu đội xung kích.

Radoub chào theo kiểu nhà binh rồi trở về hàng ngũ.

Gauvain rút đồng hồ ra, ghé tai Guéchamp nói vài lời và đơn vị xung kích bắt đầu được phiên chế.

VIII

Đạo nghĩa và tiếng gầm thét

Cimourdain vẫn chưa trở về vị trí ở trên cao nguyên mà còn đứng bên cạnh Gauvain, ông ta tới gần một người lính kèn và bảo:

- Nổi hiệu kèn gọi tù và đi.

Kèn vang lên, tiếng tù và trả lời.

Một tiếng kèn và một tiếng tù và nữa đối đáp nhau.

- Cái gì thế? - Gauvain hỏi Guéchamp - Cimourdain muốn gì thế?

Cimourdain đã tiến đến gần tháp, một chiếc mùi xoa trắng cầm tay.

Ông cất tiếng:

- Hỡi những người trong tháp, các người biết ta không?

Tiếng nói của Imânus từ trên lầu vọng xuống:

- Có.

Hai bên đối đáp, và người ta nghe thấy như thế này:

- Ta là đặc phái viên của chính phủ cộng hòa.

- Là cựu linh mục của xứ Parigné.

- Ta là đại diện của Ủy ban cứu quốc.

- Là một thầy tu.

- Ta là đại diện của pháp luật.

- Là tên bỏ đạo.

- Ta là đặc sứ của cách mạng.

- Là tên phản đạo.

- Ta là Cimourdain.

- Là quỷ sứ.

- Các người biết ta?

- Chúng ta căm thù ngươi.

- Các người có muốn bắt giữ ta không?

- Chúng ta tất cả mười tám người ở đây sẵn sàng mất đầu để đổi lấy đầu ngươi.

- Thế thì ta đến nộp mình cho các người.

Người ta nghe từ trên lầu cao một tiếng cười man rợ và một tiếng thét:

- Tới đây!

Trại quân im lặng chờ đợi.

Cimourdain nói tiếp:

- Với một điều kiện.

- Gì?

- Nghe đây.

- Nói đi.

- Các người oán ghét ta?

- Đúng.

- Ta thì ta lại yêu mến các người. Ta với các người là anh em.

- Đúng. Caïn.

Cimourdain lại nói tiếp, với một giọng khác thường, vừa cao siêu vừa dịu dàng:

- Các người cứ việc nguyền rủa, nhưng các người hãy nghe. Ta đến đây với nhiệm vụ thương thuyết. Phải, các người là anh em với ta. Các người là những kẻ lầm đường lạc lối đáng thương. Ta là bạn các người. Ta là ánh sáng và ta nói chuyện với sự mê muội. Ánh sáng bao giờ cũng đầy tình nhân ái. Vả chăng, chúng ta đều chẳng là cùng một mẹ, một tổ quốc đó sao? Các người hãy nghe ta. Sau này các người sẽ biết, hoặc con cháu các người sẽ biết rằng những việc đang tiến hành hiện nay đều là do mệnh lệnh từ trên xuống, tất cả mọi việc của Cách mạng đều do Chúa. Trong khi chờ đợi cho tất cả mọi lương tâm, kể cả lương tâm của các người, đều hiểu thấu, cho tất cả mọi cuồng tín, kể cả cuồng tín của chúng ta, đều tiêu tan, trong khi chờ đợi nguồn ánh sáng ấy, có ai thương đến cảnh tối tăm của các người không? Ta tới với các người, nộp đầu ta cho các người; hơn nữa ta giơ tay đón các người. Ta xin các người giết ta đi để cứu các người. Ta có toàn quyền, và ta nói gì, ta làm nấy. Đây là giây phút nghiêm trọng; ta cố gắng lần cuối cùng. Phải, kẻ đang nói chuyện với các người là một công dân và trong công dân ấy có một tu sĩ. Người công dân đánh nhau với các người và tu sĩ kêu van các người. Hãy nghe ta. Số đông các người đều có vợ con. Ta che chở cho vợ con các người. Ta đứng về phía vợ con các người mà chống lại các người. Hỡi những người anh em!

- Cứ thuyết pháp đi! - Imânus cười gằn.

Cimourdain tiếp tục:

- Hỡi anh em, đừng để giờ phút ghê tởm phải đến. Sắp sửa đến lúc chém giết nhau. Số đông chúng ta ở đây sẽ không còn thấy mặt trời ngày mai nữa; phải số đông chúng ta sẽ chết, và tất cả các người sẽ chết. Các người hãy tự cứu mình. Tại sao lại đổ máu vô ích thế? Tại sao lại giết nhiều người khi chỉ cần hai người là đủ?

- Hai? - Imânus hỏi.

- Phải, hai.

- Ai thế?

- Lantenac và ta.

Và Cimourdain cất tiếng:

- Hai người thừa, Lantenac đối với chúng ta, là thừa, ta đối với các người là thừa. Đấy, ta đề nghị như thế này, và các người sẽ thoát chết cả: trao Lantenac cho chúng ta và bắt lấy ta. Lantenac sẽ bị đưa lên máy chém, còn ta, các người muốn làm gì thì làm.

- Thầy tu ơi - Imânus gào lên - Bắt được ngươi, chúng ta sẽ thui nhỏ lửa.

- Được - Cimourdain nói.

Vẫn tiếp:

- Các người sẽ bị tiêu diệt trong tháp này, chỉ trong một giờ nữa các người có thể được sống và tự do. Ta mang lại cho các người một lối thoát các người có chấp nhận không?

Imânus hét vang lên:

- Nhà ngươi không những khốn nạn mà còn điên nữa. Táo bạo thật! Đến quấy rầy người ta, đến để thương thuyết, nhân danh ai. Nộp đức ông cho các người? Như thế là nghĩa thế nào?

- Là đổi lấy đầu của Lantenac, và ta trao ta cho các người...

- Bộ da nhà ngươi. Chúng ta sẽ lột xác ngươi như lột xác một con chó. Không, bộ da ngươi làm gì bằng cái đầu đức ông được. Cút đi.

- Việc xảy ra sẽ ghê rợn. Lần cuối cùng, các người nghĩ kỹ đi.

Trong tháp cũng như bên ngoài ai nấy đều nghe rõ những lời nói ảm đạm ấy, trời đã tối. Lantenac lặng thinh và mặc kệ. Đấy là một đặc tính xấu của bọn chỉ huy và cũng là một trong những quyền hành của người có trách nhiệm.

Imânus thét to:

- Chúng ta đã nói hết ý của chúng ta, không có gì thay đổi cả. Hãy nhận đi, nếu không tai họa sẽ trút lên đầu các người! Thỏa thuận chưa? Chúng ta trao trả cho các người ba đứa trẻ và các người để tất cả chúng ta đi ra tự do, yên ổn.

- Được, cho tất cả, trừ một - Cimourdain nói.

- Ai?

- Lantenac.

- Đức ông! Nộp đức ông! Không bao giờ.

- Chúng ta cần Lantenac.

- Không bao giờ.

- Chỉ có điều kiện ấy mới thương lượng được.

- Thế thì đánh đi.

Im lặng.

Imânus sau khi thổi tù và hiệu, lại trở xuống; Lantenac cầm kiếm trong tay; mười chín người bị vây tụ lại trong căn phòng thấp phía sau góc cố thủ và quỳ cả xuống. Họ nghe tiếng bước chân nhịp nhàng của đội xung kích đang tiến dần về phía tháp trong đêm tối. Tiếng chân cứ mỗi lúc mỗi gần; bỗng chúng thấy như họ đến sát cạnh, sát lỗ tường thủng. Thế là tất cả quỳ xuống, đưa súng lên vai nhằm vào các kẽ hở ở góc cố thủ, và một người, Grand-Francoeur, tức thầy tu Turmeau, đứng lên; thanh kiếm tuốt trần trong tay phải, cây thập ác trong tay trái, trịnh trọng hô:

- Nhân danh Cha, và Con, và Thánh thần!

Họ bắn cùng một lúc, và cuộc chiến đấu mở màn.

IX

Khổng lồ chọi nhau

Cuộc chiến đấu quả là ác liệt.

Trận giáp lá cà này vượt quá sức tưởng tượng của người ta.

Muốn tìm những cảnh tương tự, có lẽ phải trở lại những cuộc đấu kiếm mà Eschyle [1] đã miêu tả, hoặc những cuộc chiến tranh thời phong kiến; những cuộc “tấn công bằng vũ khí ngắn” ấy đến tận thế kỷ mười bảy còn tồn tại, khi bên tấn công vượt thành bằng thang dây; theo lời viên đội già ở tỉnh Alentejo thì đó là những cuộc tấn công ác liệt: “Sau khi bắn đạn cháy vào thành có hiệu quả rồi, quân bao vây nhảy vào, mang theo những tấm ván đóng đầy lưỡi dao bằng sắt cùng những chiếc khiên, lá chắn, rất nhiều lựu đạn, họ xô đẩy quân bị vây và chiếm lĩnh tất cả những nơi cố thủ của họ”.

Điểm tấn công thật là kinh khủng. Đó là một loại lỗ thủng mà tiếng nhà nghề gọi là hang ngầm, nghĩa là một đường thủng xuyên qua một bức tường dày chứ không phải là một kẽ nứt rộng miệng và lộ thiên. Thuốc súng đã phá tường như khoan vào đá. Mìn nổ mạnh, đến nỗi ngôi tháp bị nứt một đường cao trên mười thước, nhưng lỗ thủng ăn thông vào căn phòng thấp chỉ giống như một nhát dao đâm chứ không giống một nhát búa bổ.

Đó là một nhát đâm vào sườn tháp, một vết thương dài, như một cái giếng đặt nằm ngang, một đường hẻm nằm ngoằn ngoèo, như một khúc ruột xuyên qua một bức tường dày bốn thước, hoặc một đường ống ngổn ngang những chướng ngại vật, cạm bẫy, mìn nổ, xông vào đó thì trán đập phải đá, chân dẫm lên vôi vữa và sỏi, mắt tối như bưng.

Quân tấn công đứng trước cái cửa ngõ đen ngòm ấy, như cái miệng vực mà hàm răng trên hàm răng dưới là những tảng đá của bức tường bị xé ra; miệng cá mập cũng không nhiều răng bằng cái miệng ghê rợn ấy. Thế mà phải vào trong cái lỗ ấy rồi lại chui ra.

Phía trong, súng nổ liên hồi, phía ngoài là lũy cố thủ. Phía ngoài tức là căn phòng thấp ở tầng dưới. Mức man rợ của cuộc giao tranh ấy chỉ có thể ví với cảnh đụng độ giữa công binh đặt mìn và công binh phá mìn trong hầm kín mít, cảnh chém giết giáp lá cà bằng búa trên boong tàu trong các trận thủy chiến. Đánh nhau dưới đáy hố sâu là tột độ của sự khủng khiếp. Chém giết nhau với cái trần nhà úp trên đầu thật là kinh khủng. Giữa lúc đợt quân tấn công thứ nhất tràn vào, cả cái lũy cố thủ chớp sáng rực lên khác nào sét nổ trong lòng đất. Sấm sét phía tấn công đáp sấm sét của ổ phục kích. Gauvain hô: Xung phong! Lantenac tiếp: Chặn đứng lại! Rồi tiếng Imânus: Anh em xứ Maine, theo tôi! Rồi tiếng gươm loảng xoảng, đập vào nhau chan chát và đạn liên tiếp trút ra giết từng loạt. Bó đuốc treo trên tường chập chờn chiếu vào cảnh khiếp đảm này. Chẳng còn phân biệt được gì nữa; mọi người tràn ngập trong đêm tối tờ mờ ánh lửa đó, điếc tai, mù mắt, điếc vì tiếng ồn, mù vì khói. Những người bị loại khỏi cuộc chiến đấu nằm ngổn ngang giữa đống gạch đá; người ta bước lên xác chết, dẫm lên những vết thương, xéo nát những chân tay bị gẫy; thương binh rú lên vì đau đớn; những người hấp hối cắn vào chân những người bước lên họ. Đôi khi cả chiến trường lặng ngắt, còn ghê sợ hơn cảnh ồn ào. Người ta vật lộn nhau, thở hồng hộc, nghiến răng, rên rỉ, nguyền rủa, rồi tiếng ồn ào như sấm dậy lại trở lại. Một suối máu từ trong tháp qua lỗ thủng chảy ra ngoài, tràn trong bóng tối. Vũng máu đen ngòm ấy bốc hơi trong cỏ, ngoài trời.

Có thể nói rằng chính cái tháp khổng lồ đã bị thương và đang chảy máu.

Điều lạ nhất là bên ngoài vẫn không nghe một tiếng động. Trời tối mịt và trên cánh đồng, trong rừng, chung quanh pháo đài đang bị tấn công, yên tĩnh đến ghê rợn. Bên trong là địa ngục, bên ngoài là nhà mồ. Một khối người nhảy bổ vào nhau, tiêu diệt nhau trong bóng tối; đạn nổ từng tràng, tiếng thét, tiếng rú điên cuồng, tất cả những tiếng hỗn độn ấy chìm dưới khối tường và những vòm cuốn, thiếu không khí để cho tiếng động truyền đi, và thêm vào cảnh chém giết là cảnh ngột ngạt. Phía ngoài tháp, những tiếng ấy nghe không rõ lắm. Trong lúc này, mấy đứa trẻ vẫn ngủ yên.

Cuộc tàn sát cứ tăng dần. Lũy cố thủ vẫn giữ vững. Không có gì khó phá bằng loại chiến lũy hình chữ V này. Phía bị vây kém về số lượng, nhưng lợi thế hơn. Đội xung kích chết rất nhiều. Họ sắp thành hàng dài bên ngoài dưới chân tháp rồi từ từ chui vào lỗ tường thủng và cứ ngắn dần, như một con rắn chui vào hang.

Gauvain, với những điều khinh suất của một viên chỉ huy trẻ, đang ở trong gian phòng thấp, giữa cuộc hoảng chiến, chung quanh súng nổ loạn xạ. Ông ta có cái tự tin của con người chưa hề bao giờ bị thương.

Khi ông ta vừa quay lại để ra lệnh thì một luồng lửa đạn lóe lên, chiếu vào một khuôn mặt sát bên ông. Ông ta kêu lên:

- Cimourdain! Thầy đến đây làm gì?

Chính là Cimourdain thật. Ông ta đáp:

- Tôi đến để gần anh.

- Nhưng thầy vào đây sẽ hứng lấy cái chết.

- Vậy anh thì sao?

- Tôi cần ở đây. Thầy thì không.

- Vì anh ở đây nên tôi cũng cần ở đây.

- Không, thầy ạ...

- Có chứ, con!

Và Cimourdain vẫn đứng bên cạnh Gauvain.

Xác chết chất đống trên nền gian phòng thấp.

Lũy cố thủ chưa bị phá vỡ nhưng số đông tất nhiên cuối cùng phải thắng. Bên cố thủ nấp kín; mười người bên tấn công ngã xuống để đổi lấy một người bên bị vây, nhưng quân tấn công cứ thế nhau mà vào. Quân tấn công cứ tăng lên và bọn bị vây giảm sút dần.

Mười chín người bị vây đứng cả sau lũy cố thủ, cuộc chiến đấu đang diễn ra ở đó. Đã có người chết và bị thương. Còn chừng mười lăm người nữa đang chiến đấu. Một tên hung hãn nhất, tên Chante-en-Hiver, bị thương nặng. Đó là một người dân xứ Bretagne, thấp lùn, tóc quăn, thuộc loại bé choắt nhưng dai sức. Hắn bị thủng mắt và gãy quai hàm. Hắn còn đi được. Hắn lê dọc cầu thang xoáy ốc để lần lên tầng trên, hy vọng đến được đó mà cầu nguyện và chết.

Hắn dựa vào tường, cạnh lỗ châu mai, để gắng thở một chút.

Phía dưới, cuộc chém giết trước lũy cố thủ mỗi lúc thêm rợn. Trong một khoảng khắc, giữa hai loạt súng nổ, Cimourdain cất tiếng:

- Các người! Để cho máu chảy nữa làm gì? Các người chẳng còn hy vọng gì nữa. Hàng đi. Các người thử nghĩ, chúng ta những bốn nghìn năm trăm con người tấn công, các người chỉ có mười chín, nghĩa là hơn hai trăm người chọi một. Hãy hàng đi.

- Chấm dứt cái trò ba hoa ấy đi - Hầu tước Lantenac đáp.

Và hai mươi tiếng súng nổ trả lời Cimourdain.

Lũy cố thủ không cao lên đến trần; điều đó cho phép bọn bị vây đứng ở trên bắn xuống, nhưng cũng cho phép những người bao vây ở ngoài trèo qua được. Gauvain thét:

- Xung phong vào lũy cố thủ! Ai xung phong?

- Tôi - Đội viên Radoub trả lời.

Chú thích:

[1] Eschyle (525 - 426 TCN): Thi hào người Hy Lạp.

X

Radoub

Quân tấn công bỗng ngẩn người ra. Radoub đã chui qua lỗ tường thủng cùng với những người đi đầu trong mũi xung kích: anh là người thứ sáu và trong số sáu người của tiểu đoàn Paris thì bốn người đã ngã. Sau khi anh kêu lên: tôi, người ta thấy Radoub không tiến lên mà lùi lại, cúi lom khom gần như bò giữa chân mọi người, qua lỗ tường thủng đi ra. Anh trốn chăng? Một người như thế mà trốn sao? Như thế nghĩa là thế nào?

Ra ngoài lỗ tường thủng Radoub dụi cặp mắt bị khói làm mờ đi, như muốn xua đi cảnh ghê rợn và tối tăm; rồi dưới ánh sao, anh đứng nhìn bức tường ngôi tháp. Anh gật đầu đắc ý, có ý nói ta không nhầm!

Radoub đã để ý là bức tường bị mìn nổ làm rạn nứt một đường dài từ lỗ hổng lên đến chỗ lỗ châu mai tầng thứ nhất, một viên đạn đại bác đã phá tung cái lưỡi sắt, trấn song lơ lửng; một người có thể chui lọt.

Một người có thể chui qua, nhưng ai có thể leo lên tới đó? Cứ theo đường nứt thì leo lên được nhưng phải là giống mèo.

Radoub là người như thế đấy. Anh thuộc vào loại người mà Pindare [1] gọi là “những lực sĩ lanh lợi”. Người ta có thể vừa là lính kỳ cựu vừa là trang thanh niên; Radoub đã từng là quốc dân quân, tuổi chưa đến bốn mươi, một lực sĩ nhanh nhẹn.

Radoub đặt khẩu súng dài xuống đất, bỏ tấm da khoác và cởi áo ngoài, chỉ giữ lại hai khẩu súng lục ở thắt lưng và cây kiếm trần kẹp giữa hai hàm răng. Chuôi của hai khẩu súng lục nhô lên phía trên thắt lưng.

Trút hết những cái vô ích, và trước hàng trăm con mắt của đoàn quân tấn công còn đứng ngoài lỗ tường thủng theo dõi trong bóng tối, Radoub bắt đầu leo lên những tảng đá ở đường nứt rạn như trèo lên các bậc thang. Không đi giày lúc này lại hóa tốt; không gì trèo nhạy bằng chân không; anh quắp ngón chân vào kẽ đá, dùng nắm tay rút mình lên và co đầu gối lại, bặm môi trèo chẳng khác gì leo trên một hàng răng cưa. Anh nghĩ: “May mà chẳng có ma nào trong căn phòng gác một, nếu không, người ta chẳng để cho mình leo thế này”.

Anh phải leo như thế suốt. Càng lên cao càng bị vướng bởi hai chuôi súng, đường nứt càng hẹp lại càng khó trèo, vực mỗi lúc một sâu thêm, nhìn xuống càng dễ choáng, dễ ngã.

Cuối cùng, anh lên đến gờ lỗ châu mai rồi gạt tấm lưới sắt đã cong lại và bật ra, kẽ hở thừa sức lọt vào; anh nhún người một cái mạnh, đầu gối dựa vào gờ tường, một tay nắm lấy khúc chấn song bên phải, một tay nắm khúc chấn song bên trái, rồi nhô nửa mình lên trước lỗ châu mai, lưỡi kiếm chắn ngang miệng, và nhờ hai nắm tay, anh treo mình lơ lửng trên vực sâu. Chỉ cần nhảy một bước và anh lọt vào gian phòng gác một.

Nhưng một mặt người xuất hiện trong lỗ châu mai. Radoub đột nhiên thấy trong bóng tối hiện ra một cái gì kinh khủng: một con mắt bị chọc thủng, một cái quai hàm bị gãy, một cái mặt nạ đầy máu.

Cái mặt nạ ấy chỉ còn một con ngươi nhìn anh.

Cái mặt nạ ấy có hai bàn tay: hai bàn tay ấy từ bóng tối giơ ra về phía Radoub, một tay giật lấy hai khẩu súng ngắn giắt ở thắt lưng, tay kia giật lưỡi kiếm cắn giữa hai hàm răng anh.

Radoub bị tước hết vũ khí. Đầu gối anh tuột trên thành cửa sổ ngả ra ngoài, hai nắm tay quắp vào trấn song hầu như không còn đủ sức giữ anh, và sau lưng anh là vực thẳm sâu mười ba mét.

Cái mặt nạ ấy và đôi bàn tay ấy, chính là Chante-en-Hiver. Chante-en-Hiver, bị khói từ dưới bốc lên làm nghẹt thở, đã cố bò lên khỏi lỗ châu mai; ở đây khí trời đã làm hắn tỉnh lại, đêm mát cũng đã làm cho máu đông lại, hắn đã hồi sức đôi chút; đột nhiên hắn thấy trước lỗ châu mai hiện lên nửa thân trên của Radoub; bấy giờ Radoub, hai tay đang bám chặt lấy song cửa, không còn cách nào khác là buông tay rơi xuống vực thẳm, hoặc để cho người kia tước khí giới, Chante-en-hiver ghê rợn và bình tĩnh đã cướp lấy súng và kiếm của anh.

Một trận đọ sức khủng khiếp bắt đầu, trận đọ sức giữa một người bị tước khí giới và một người bị thương. Tất nhiên kẻ chiến thắng chỉ có thể là kẻ đang bị thương. Một viên đạn cũng đủ ném Radoub xuống cái vực sâu đang há miệng dưới chân.

May cho Radoub, Chante-en-Hiver một tay bận nắm cả hai khẩu súng, nên đã không bóp cò được, hắn chỉ có thể sử dụng thanh kiếm. Hắn đâm một nhát vào vai Radoub. Mũi kiếm làm Radoub bị thương đồng thời cứu sống anh.

Radoub không còn khí giới nhưng còn đủ sức lực, coi thường cái vết thương không ăn sâu đến xương, liền đu về phía trước, buông song cửa nhảy vào trong.

Tại đây anh mặt đối mặt với Chante-en-Hiver, tên này đã vứt gươm ra đằng sau và hai tay hai khẩu súng. Chante-en-Hiver rướn mình, nhằm vào Radoub đang ở trước miệng súng, nhưng cánh tay hắn yếu đi đang run lẩy bẩy, hắn chưa bắn ngay.

Radoub lợi dụng phát ấy, cười vang lên.

- Nào! Đồ con trừu! Mày tưởng đem cái mặt ngoáo ộp của mày ra dọa tay chắc? Mẹ kiếp! Sao nhà người ta phá cái mặt mày ghê đến thế!

Chante-en-Hiver nhằm bắn.

Radoub tiếp:

- Chẳng phải đùa đâu, cái mặt mày bị đạn nó phá nát đẹp quá! Con ơi, chúng đã phá cái bộ mặt của mày rồi. Nào thì mày nhả đạn đi, đồ nỡm.

Tiếng súng nổ và tiếng đạn sạt sát đầu Radoub, hớt mất nửa cái tai. Chante-en-Hiver giơ khẩu thứ hai nhưng Radoub không để cho nó có thì giờ ngắm bắn nữa.

- Tao mất một cái tai đủ rồi. Mày đã làm tao bị thương hai lần. Nào, chơi vào!

Radoub nhảy xổ vào Chante-en-Hiver đẩy cánh tay nó lên thẳng cho viên đạn bay đi phía khác rồi túm lấy và vặn một vòng cái quai hàm nát của nó. Chante-en-Hiver rú lên một tiếng ngất đi.

Radoub bước qua, bỏ mặc nó nằm gần cửa.

- Bây giờ thì tao đã cho mày rõ cái tối hậu thư của tao rồi, mày đừng cựa quậy nữa. Nằm đó, đồ bò sát hung dữ. Mày cũng biết là bây giờ tao chẳng cần giết mày làm gì. Cho mày tùy ý bò dưới đất làm bạn với đôi dép của tao. Mày chết đi, đời mày cũng đến thế thôi. Chốc nữa mày sẽ biết là cha xứ của mày chỉ toàn nói nhảm với mày. Về với địa ngục, dân quê!

Rồi anh nhảy vào trong phòng ở gác một.

- Chả thấy đếch gì! - Anh lầu bầu.

Chante-en-Hiver giãy giụa và rú lên trong cơn hấp hối.

Radoub quay lại.

- Im đi! Mày làm ơn im đi. Mặc xác mày. Tao chẳng thèm kết liễu đời mày. Để cho tao yên.

Và băn khoăn, anh ta lùa tay vào trong tóc, mắt vẫn nhìn Chante-en-Hiver.

- Chà! Bây giờ ta làm gì đây? Được đấy, nhưng thế là ta mất hết vũ khí. Ta chỉ có hai viên đạn. Đồ súc sinh, mày đã làm phí đạn của ta. Lại còn cái khói làm cho mắt cay xè!

Rồi anh đụng phải cái tai rách.

- Ái! - Anh kêu lên.

Rồi anh tiếp:

- Mày tước của ông mất một tai, tưởng bở lắm đấy! Thật ra, tao cũng không quý nó bằng cái khác đâu, nó chỉ là đồ trang trí thôi. Mày cũng làm xước vai tao, nhưng chẳng sao. Tử đi, dân quê, ta tha thứ cho mày đấy.

Anh lắng nghe. Tiếng vang dội ở phòng dưới thật là kinh khủng. Cuộc chiến đấu ác liệt hơn bao giờ hết.

- Phía dưới đánh khá đấy. Thế mà chúng vẫn gào “đức vua vạn tuế”. Chúng chết một cách quý phái.

Chân anh đụng phải thanh kiếm nằm dưới đất. Anh nhặt lên, nói với Chante-en-Hiver, bây giờ đã nằm im và có lẽ đã chết:

- Mày thấy không, người rừng kia, đối với tao, kiếm hay cái gì cũng thế thôi. Nhưng tao cần hai khẩu súng. Đồ man rợ, ma bắt mày đi! Chà! Mình làm gì bây giờ? Đứng đây thì chẳng được tích sự gì cả.

Anh tiến vào trong phòng, cố nhìn cho rõ và dò phương hướng. Bỗng nhiên, trong bóng tối, sau cây cột giữa nhà, anh thấy một cái bàn dài và trên bàn ấy có cái gì lấp lánh. Anh mò mẫm. Toàn là súng dài súng ngắn, đặt thành hàng ngay ngắn, như chỉ còn chờ bàn tay cầm lấy; đó là kho dự trữ mà những kẻ bị vây chuẩn bị cho đợt chiến đấu thứ hai; Cả một kho vũ khí. Radoub kêu lên:

- Tuyệt!

Rồi anh nhảy xổ tới, mặt mày rạng rỡ và dữ tợn.

Bên cạnh bàn đầy vũ khí là cửa cầu thang thông với các tầng trên và dưới mở toang. Radoub bỏ cây kiếm xuống, cầm lấy hai khẩu súng lục, mỗi khẩu có hai viên đạn, bắn bừa một lúc qua phía dưới cửa vào trong cầu thang xoắn ốc rồi anh tiếp tục nhả đạn với một khẩu súng dài và một khẩu miệng loa kèn đầy đạn. Súng này khạc ra mười lăm viên đạn cùng một lúc. Rồi Radoub lấy sức thét to vào cầu thang: Paris muôn năm!

Và nắm lấy một khẩu súng miệng loa kèn lớn hơn, anh chĩa xuống dưới vòm cầu thang quanh co và đứng đợi.

Cảnh hoảng hốt ở phòng dưới không thể tả được. Tình trạng đột biến này làm tan rã khí thế cầm cự.

Trong ba loạt đạn của Radoub, hai viên đạn đã trúng đích; một viên giết Houzard tức De Quélen. Lão hầu tước kêu lên:

- Chúng ở phía trên!

Tiếng kêu ấy làm cho bọn cố thủ bỏ chạy, tán loạn hơn một đàn chim hoảng hốt, giành nhau chạy thoát thân vào cầu thang. Lão hầu tước cũng giục bọn này tháo chạy.

- Nhanh lên! Thoát là dũng cảm. Lên tầng hai cả! Lên đó rồi sẽ đánh lại.

Lão ra khỏi phòng sau cùng. Sự can đảm ấy cứu lão.

Radoub núp trên đầu cầu thang, ngón tay để sẵn trên cò súng nhằm bắn bọn rút lui. Những tên đầu tiên chạy lên đến vòng cầu thang bị đạn quạt vào giữa mặt, lăn ra chết. Nếu lão hầu tước chạy trong số đó thì đã chết rồi. Trước khi Radoub có thì giờ cầm một khẩu súng khác thì những tên đi sau đã vượt qua, lão hầu tước đi sau cùng và chậm hơn. Chúng tưởng tầng thứ nhất đầy quân địch nên chạy thẳng lên tầng hai, tức là phòng gương. Đấy chính là nơi có cánh cửa sắt, có mồi dẫn lửa tẩm lưu hoàng, nơi Lantenac sẽ phải đầu hàng hoặc chết.

Gauvain cũng ngạc nhiên như bọn kia về tiếng súng nổ ở cầu thang, và cũng không biết sự viện trợ ấy từ đâu đến, ông ta thừa cơ, cùng đồng đội vượt qua lũy cố thủ, và thúc kiếm vào tận lưng bọn địch, dồn chúng lên tận tầng thứ nhất.

Đến đây ông gặp Radoub.

Radoub chào theo kiểu nhà binh và nói:

- Xin một phút, thưa tư lệnh. Tôi đã làm thế đấy. Tôi nhớ đến trận Dol. Tôi đã làm như tư lệnh. Tôi kẹp địch giữa hai hỏa lực.

- Học trò giỏi. - Gauvain vừa nói vừa cười mỉm.

Ở lâu trong tối, mắt đã quen bóng tối như mắt chim đêm, Gauvain bỗng nhận ra mặt Radoub đầy máu.

- Nhưng anh bạn, anh bị thương rồi.

- Xin tư lệnh đừng lo. Thêm hay bớt đi một tai thì đã hề gì? Tôi còn bị một nhát kiếm nữa, nhưng chả cần. Khi người ta đập vỡ một ô cửa kính, thế nào cũng bị sứt da một chút. Với lại, không phải chỉ có máu tôi đâu.

Họ tạm dừng lại trong gian phòng tầng thứ nhất do Radoub chiếm lĩnh được. Người ta mang tới chiếc đèn dầu. Cimourdain đã theo kịp Gauvain. Hai người hội ý. Quả thật cũng có điều phải suy nghĩ. Quân bao vây không nắm được điều bí mật của bên bị vây; họ không biết bọn kia thiếu đạn; thuốc súng cũng đã cạn; gác hai là nơi chống đỡ cuối cùng, họ còn ngại cái cầu thang có gài mìn.

Điều chắc chắn là kẻ định không thể thoát ra được. Những kẻ còn sống sót đó như đã bị khóa chặt. Lantenac đang nằm trong bẫy chuột. Tin chắc như vậy nên họ muốn giành chút thì giờ tìm một cách kết thúc tốt nhất. Đã có khá nhiều thương vong. Phải cố gắng đừng mất mát quá nhiều trong đợt tấn công cuối cùng này. Đợt tấn công sau cùng này nguy hiểm hơn nhiều. Chắc là họ sẽ phải chịu đựng một loạt đạn đầu gay go.

Cuộc chiến đấu ngừng lại. Quân bao vây đã làm chủ tầng cuối cùng và tầng gác thứ nhất, đang chờ lệnh của chỉ huy để tiếp tục. Gauvain và Cimourdain bàn bạc. Radoub lặng lẽ chứng kiến cuộc trao đổi ý kiến.

Anh đánh bạo chào lối nhà binh, dáng bẽn lẽn:

- Thưa tư lệnh!

- Gì thế, Radoub?

- Tôi có quyền được một phần thưởng nhỏ chăng?

- Được lắm, anh muốn gì?

- Tôi muốn là người lên gác trước nhất.

Người ta không thể từ chối anh. Vả lại anh có thể làm mà không cần xin phép.

Chú thích:

[1] Pindare (521 - 441 TCN): Thi hào cổ Hy Lạp chuyên ca ngợi các lực sĩ.

XI

Những kẻ tuyệt vọng

Trong khi những người ở tầng thứ nhất đang bàn bạc thì những người ở tầng thứ hai dựng chướng ngại vật. Thắng thì hung dữ bại thì điên rồ. Hai đoàn người ở hai tầng gác sắp chạm trán nhau kịch liệt. Càng gần chiến thắng, người ta càng say sưa. Tầng dưới đầy hy vọng, đó là sức mạnh lớn nhất của con người.

Niềm tuyệt vọng đang ở tầng trên.

Một niềm tuyệt vọng lặng lẽ, lạnh lùng, bi thảm.

Bọn bao vây chạy vào phòng này, ngoài đó ra không còn đâu nữa; điều lo lắng đầu tiên đối với chúng là chặn đường vào. Đóng chặt cửa lại là vô ích, lấp lối cầu thang còn tốt hơn. Trong trường hợp này, một chướng ngại vật qua đó thấy rõ địch và đánh địch còn tốt hơn là một cánh cửa đóng kín.

Ngọn đuốc mà Imânus cắm trong giá trên tường cạnh mồi dẫn lửa tẩm lưu huỳnh chiếu sáng bọn chúng.

Trong phòng ở gác hai có một chiếc hòm gỗ sồi, to và nặng dùng để chứa quần áo trước lúc phát minh ra kiểu tủ có ngăn kéo.

Chúng kéo lê chiếc hòm ấy, và dựng đứng ở cửa cầu thang. Chiếc hòm khớp vào cửa và bịt hẳn lối vào. Phía trên chỉ còn một khoảng hẹp, một người có thể chui lọt, rất lợi để bắn tỉa bên tấn công từng người một. Chưa chắc đã có ai dám liều tiến vào đấy.

Cửa bịt rồi, chúng được nghỉ một chốc.

Chúng điểm lại con số, trong số mười chín tên chỉ còn bảy, kể cả Imânus. Trừ Imânus và lão hầu tước ra, tất cả đều bị thương.

Năm tên bị thương vẫn rất hăng máu vì trong không khí ác chiến người bị thương mà chưa chết vẫn có sức đi đi lại lại như thường, đó là Chatenay tức Robi, Guinoiseau, Hoisnard Cành-Vàng, Brin-d’Amour và Grand-Francoeur.

Còn thì chết cả.

Chúng không còn đạn dược nữa. Túi đạn đã dốc cạn. Chúng đếm đạn. Bảy người mà còn mấy viên? Bốn.

Đã đến giờ phút chúng chỉ còn ngã gục thôi. Chúng bị dồn vào một cái dốc vực thẳm, há hốc và kinh khủng. Khó lòng mà đứng vững trên bờ vực ấy. Trong khi đó, cuộc tấn công lại tiếp tục nhưng từ từ và chắc chắn. Người ta đã nghe những tiếng báng súng của quân bao vây gõ vào từng bậc thang một để dò đường lên.

Không còn đường thoát nữa. Chuồn lối thư viện ư? Sáu khẩu đại bác, nạp đạn sẵn đang chĩa vào đấy. Qua tầng trên ư? Ích gì? Các phòng ở tầng này đều dẫn ra sân thượng. Đến đó thì chỉ còn có nước nhảy từ trên đỉnh tháp xuống dưới đất mà thôi.

Bảy tên sống sót của đám yêng hùng ấy thấy mình bị cầm tù trong những bức tường đang che chở chúng nhưng sẽ nộp mạng chúng cho đối phương. Chúng chưa bị bắt; nhưng chúng đã thành tù nhân rồi.

Lão hầu tước cất tiếng:

- Các bạn, thế là hết!

Im lặng một lát, lão tiếp:

- Grand-Francoeur, hãy trở lại là thầy của Turmeau.

Tất cả quỳ xuống, tay cầm tràng hạt. Tiếng báng súng của quân bao vây tiến lại gần sát.

Grand-Francoeur, mặt đầy máu vì một viên đạn lướt qua đầu và bóc mất da sọ, đưa tay phải giơ cao cây thập ác. Lão hầu tước, vốn không tin, cũng quỳ một gối xuống.

Grand-Francoeur nói:

- Ai nấy hãy lớn tiếng xưng tội. Đức ông xưng trước.

Lão hầu tước đáp:

- Tôi đã giết người.

- Tôi đã giết người. - Hoisnard nói.

- Tôi đã giết người. - Guinoiseau nói.

- Tôi đã giết người. - Brin-d’Amour nói.

- Tôi đã giết người. - Chatenay nói.

- Tôi đã giết người. - Imânus nói.

Và Grand-Francoeur nói tiếp:

- Nhân danh Cha, và Con, và Thánh thần, ta tha tội cho các người, cho linh hồn các người được cứu rỗi.

- A-men! - Tất cả mọi người trả lời.

Lão hầu tước đứng dậy:

- Bây giờ, chúng ta cùng chết.

- Và giết. - Imânus nói.

Tiếng báng súng bắt đầu rung chuyển chiếc hòm chắn ngang cửa.

Tên thầy tu nói:

- Hãy nghĩ tới Chúa. Trần thế không còn là gì đối với các người nữa.

- Vâng - Lão hầu tước nói tiếp - Chúng ta đã xuống mồ.

Tất cả cúi đầu và lấy tay đấm ngực. Chỉ có lão hầu tước và tên thầy tu vẫn đứng thẳng. Mắt dán xuống đất, lão thầy tu cầu nguyện, những người dân quê cầu nguyện, còn lão hầu tước thì mơ màng. Chiếc hòm như bị búa nện vào, tiếng vang lên rùng rợn.

Giữa lúc ấy, một giọng nói sang sảng mạnh mẽ, bỗng vang lên sau lưng họ:

- Thưa đức ông, tôi nói có sai đâu.

Tất cả mọi người quay đầu lại, ngạc nhiên.

Một cái lỗ vừa mở ra giữa bức tường.

Một tấm đã ghép chặt với các tấm khác, nhưng không trát vữa, và phía trên phía dưới có chốt đinh, vừa xoay tròn vừa mở ra một lỗ hổng trong bức tường, để lộ hai lối đi, một lối bên phải, một lối bên trái, tuy hẹp nhưng cũng đủ cho một người chui qua. Phía sau cái cửa bất ngờ này, thoáng thấy những bậc đầu tiên của một cầu thang xoáy ốc. Một mặt người hiện ra giữa lỗ hổng.

Lão hầu tước nhận ra Halmalo.

XII

Cứu tinh

- Anh đấy à? Halmalo?

- Vâng, thưa đức ông, đức ông thấy rõ là có những tảng đá biết quay và ta có thể thoát khỏi nơi này. Tôi tới vừa kịp, nhưng cũng phải nhanh lên. Mười phút nữa, tất cả chúng ta sẽ ra giữa rừng.

- Chúa là cao cả. - Tên thầy tu nói.

- Xin đức ông thoát đi. - Tất cả mọi người đồng thanh kêu lên.

- Các người ra trước. - Lão hầu tước nói.

- Đức ông ra trước đã. - Turmeau nói.

- Tôi ra sau cùng.

Lão hầu tước nói tiếp, giọng nghiêm khắc:

- Đừng có nhường nhau nữa. Chúng ta không có thì giờ để kiểu cách. Các người đã bị thương. Ta ra lệnh cho các người phải sống và chạy thoát. Mau lên, cứ theo đường này. Cám ơn Halmalo.

- Thưa hầu tước, chúng ta chia tay nhau? - Turmeau nói.

- Ở dưới kia; hẳn rồi. Chỉ thoát ra được từng người một thôi.

- Đức ông có thể định cho một chỗ hẹn không?

- Có. Một quãng trống trong rừng. Quãng La Pierre-Gauvaine, các anh biết chỗ ấy chứ?

- Chúng tôi biết cả.

- Trưa mai, tôi sẽ ở đó. Ai còn đi được sẽ tới đó.

- Vâng, chúng tôi sẽ tới.

- Và chúng ta sẽ tiếp tục chiến đấu. - Lão hầu tước nói.

Nhưng Halmalo tì tay xuống tấm đá và nhận thấy nó không chuyển nữa. Cửa không thể đóng lại được. Anh ta nói:

- Thưa đức ông, nhanh lên, bây giờ tấm đá ì ra rồi. Tôi đã mở được lối ra nhưng không đóng lại được.

Quả thật, tấm đá lâu ngày hình như đã tê liệt trong bản lề. Từ nay không thể đẩy nó chuyển được nữa.

Halmalo tiếp:

- Thưa đức ông, tôi định đóng lại để khi bọn Xanh vào, chúng sẽ không thấy ai nữa và không hiểu gì hết, tưởng là tất cả đã tan ra khói rồi. Nhưng tấm đá lại không muốn thế. Kẻ thù sẽ thấy lối ra còn bỏ ngỏ và có thể sẽ đuổi theo chúng ta. Xin đừng chậm trễ một phút nào nữa. Mau lên, tất cả xuống cầu thang.

Imânus đặt tay lên Halmalo:

- Anh bạn, phải bao nhiêu thời giờ mới ra khỏi đường này và được yên ổn giữa rừng.

- Không ai bị thương nặng chứ? - Halmalo hỏi.

Tất cả trả lời:

- Không.

- Thế thì mười lăm phút là đủ.

Imânus hỏi lại:

- Như vậy, nếu mười lăm phút nữa bọn chúng vào tới đây thì sao?

- Chúng có thể đuổi theo ta, nhưng không kịp.

Lão hầu tước nói:

- Nhưng chỉ năm phút nữa là chúng sẽ vào đây, cái hòm cũ này chẳng vướng chân chúng được lâu đâu. Mấy báng súng là phá được ngay. Mười lăm phút! Ai có thể cản được chúng trong mười lăm phút?

- Tôi - Imânus nói.

- Anh?

- Vâng, tôi. Trong sáu người năm người đã bị thương. Tôi thì chưa sướt da.

- Tôi cũng thế - Lão hầu tước nói.

- Đức ông là chỉ huy, tôi là lính. Chỉ huy và lính khác nhau.

- Tôi biết thế, mỗi người một nhiệm vụ.

- Không, thưa đức ông, ngài và tôi, chúng ta cùng chung một nhiệm vụ! Thoát khỏi nơi này.

Imânus ngoảnh lại đồng đội:

- Các bạn, trước hết là phải đánh bại kẻ địch và cản chúng đuổi theo chúng ta chậm chừng nào hay chừng ấy, Tôi còn đầy đủ sức lực, tôi chưa mất một giọt máu nào, không bị thương, tôi sẽ chống đỡ lâu dài hơn một người nào khác.

Các bạn đi hết đi, để khí giới lại cho tôi. Tôi sẽ sử dụng tốt đấy. Tôi bảo đảm ngăn chúng trong nửa tiếng đồng hồ. Có tất cả mấy súng lục nạp đạn?

- Bốn.

- Bỏ hết xuống đất.

Cả bọn làm theo.

- Tốt. Tôi ở lại. Chúng sẽ chạm trán với tôi. Bây giờ thì các bạn đi đi, mau lên.

Trong tình thế căng thẳng đến cực độ những câu cảm ơn cũng bằng thừa. Chỉ vừa đủ thì giờ để họ bắt tay Imânus.

- Sẽ chóng gặp nhau. - Lão hầu tước nói với Imânus.

- Không, thưa đức ông, tôi mong rằng không. Khó gặp lại nhau. Vì tôi sẽ chết.

Tất cả theo nhau đi vào cầu thang chật hẹp, người bị thương đi trước. Trong khi đoàn người vẫn đi xuống, lão hầu tước rút bút chì trong sổ tay ra và viết vài chữ lên tấm đá bây giờ không chuyển động được nữa và để lộ lối đi ra rộng hoác.

- Thưa đức ông, mời ngài đi, chỉ còn ngài nữa thôi. - Halmalo nói.

Và Halmalo bước xuống.

Lão hầu tước đi theo anh ta.

Một mình Imânus ở lại.

XIII

Đao phủ

Bốn khẩu súng lục đặt trên đá lát phòng, vì phòng này không có sàn gỗ. Imânus cầm hai khẩu, mỗi tay một khẩu.

Hắn né mình đi về phía cầu thang có chiếc hòm chắn ngang và che kín.

Quân bao vây sợ một điều bất ngờ, một cái gì cuối cùng sẽ nổ tung ra, tai họa cho bên thắng cũng như bên bại. Đợt tấn công lúc đầu càng sôi nổi bao nhiêu thì đợt cuối cùng này càng từ từ thận trọng bấy nhiêu. Họ không thể, và có lẽ họ không muốn phá mạnh chiếc hòm; họ đã dùng báng súng phá hỏng đáy và dùng lưỡi lê đâm hỏng nắp, và qua những lỗ thủng ấy, họ cố quan sát gian phòng trước khi đánh liều xông vào.

Ánh đèn của họ chiếu sáng cầu thang xuyên qua những lỗ ấy.

Qua một lỗ, Imânus thấy một tròng mắt đang nhìn. Hắn chĩa nòng súng ngay vào chỗ ấy và bóp cò. Súng nổ và Imânus sung sướng nghe một tiếng kêu rùng rợn. Viên đạn đã chọc thủng mắt, xuyên qua đầu, và người lính vừa nhìn vào phòng ngã lộn xuống cầu thang.

Quân bao vây đã phá rộng hai chỗ phía dưới nắp hòm và đã khoét ra hai lỗ châu mai, Imânus lợi dụng một lỗ ấy, luồn cánh tay vào và bắn nhào vào quân bao vây một phát thứ hai. Có lẽ phát đạn này xuyên qua nhiều người vì có nhiều tiếng kêu lên như thể có ba hay bốn người chết hoặc bị thương, và trên cầu thang, có tiếng người lộn xộn ngã xuống và chạy lùi về phía sau. Imânus vắt hai khẩu súng đã hết đạn, lấy hai khẩu còn lại, rồi mỗi tay một khẩu, bắn vào lỗ thủng ở chiếc hòm.

Hắn quan sát hiệu quả của hai phát đạn vừa rồi. Quân bao vây ở cầu thang đã lùi xuống. Những người sắp chết đang quằn quại trên các bậc. Cầu thang cuốn xoáy ốc nên hắn chỉ nhìn thấy được ba hoặc bốn bậc.

Imânus chờ xem.

“Lợi thời gian đấy”. Hắn nghĩ.

Cùng lúc đó, hắn thấy một người nằm sấp, bò lên theo các bậc cầu thang, và phía dưới một đầu người khác hiện ra sau chiếc cột giữa. Imânus nhằm vào cái đầu này và bắn. Một tiếng kêu, người lính ngã xuống, và Imânus chuyển từ tay trái qua tay phải khẩu súng cuối cùng có lắp đạn.

Vừa lúc ấy, hắn thấy đau nhói lên, và đến lượt hắn rú lên. Một lưỡi kiếm thọc vào ruột hắn. Nắm tay, chính nắm tay của người lính bò khi nãy vừa thọc qua lỗ châu mai phía dưới hòm và ấn lưỡi kiếm vào bụng Imânus.

Vết thương thật ghê rợn. Bụng bị xẻ ra từ bên này qua bên kia.

Imânus chưa ngã. Hắn nghiến răng và nói:

- Được!

Rồi, lảo đảo, hắn lê người, lùi đến chỗ có ngọn đuốc đang cháy bên cửa sắt, bỏ súng xuống, nắm lấy bó đuốc, tay trái nâng mớ ruột đã sổ ra, tay phải hạ đuốc xuống, hắn châm lửa vào mồi tẩm lưu huỳnh.

Lửa bén mồi bắt đầu cháy. Imânus thả ngọn đuốc vẫn còn cháy ra giữa nhà, rồi cầm lại khẩu súng và ngã xuống sàn, nhưng hắn gượng lại và lấy hết hơi thở tàn ghé miệng thổi vào mồi lửa. Ngọn lửa bén nhanh, luồn qua dưới tấm cửa sắt, và bắt vào tòa nhà xây trên cầu.

Sau cái thành công ghê tởm ấy, thích thú với tội ác hơn là tự hào về hành động anh dũng của hắn, vừa rồi là anh hùng, lúc này chỉ còn là một tên sát nhân đang hấp hối và cười mỉm.

Hắn lẩm bẩm:

- Chúng sẽ nhớ mãi đến ta. Giết mấy đứa trẻ của chúng, ta sẽ trả thù cho ấu chúa của ta đang bị giam ở ngục Temple.

XIV

Imânus cũng thoát kiếp

Trong khoảnh khắc đó, một tiếng động lớn vang lên. Chiếc hòm bị đẩy mạnh đổ xuống và nhường lối đi cho một người cầm kiếm, nhảy xổ vào trong phòng.

- Ta Radoub đây; ai muốn thử tí nào? Chờ đợi chán lắm. Ta liều thôi. Chẳng sao, ta vừa đâm thủng ruột một đứa rồi. Bây giờ, ta đánh tất cả chúng mày. Có ai theo ta hay không, ta chẳng cần biết. Chúng mày bao nhiêu người?

Quả là Radoub, và chỉ có một mình anh. Sau việc Imânus bắn ở lối cầu thang, Gauvain, sợ có mìn ngầm, đã cho lui quân và hội ý với Cimourdain.

Radoub đứng ở bậc cửa phòng, tay cầm kiếm, trong cảnh tối mò mà cây đuốc sắp tắt còn chiếu le lói, lặp lại câu hỏi:

- Ta có một mình thôi, chúng mày bao nhiêu?

Không nghe trả lời, anh tiến vào. Một tia sáng từ mồi lửa tàn chốc chốc bùng lên, có thể nói đó là những tiếng nấc của ánh lửa, chiếu sáng cả gian phòng.

Radoub soi mặt vào một tấm gương nhỏ treo trên tường:

mặt mày đẫm máu, vành tai gần đứt lòng thòng bên má:

- Khiếp quá! - Anh thốt ra.

Rồi anh ngoảnh lại, ngạc nhiên vì thấy căn phòng trống rỗng.

- Chẳng có ai! Quân số không.

Anh nhìn thấy tấm đá quay ngang, lỗ hổng và cầu thang.

- À ta hiểu rồi. Chúng chuồn rồi. Các bạn ơi vào đây tất cả; chúng biến cả rồi. Chúng đã tháo chạy hết, chuồn rồi, vù rồi, cút rồi. Cái tháp cũ rích như một chiếc hũ, đã rạn nứt rồi. Đấy, cái lỗ chúng nó đã chui ra, quân súc sinh. Với những trò như thế này thì biết đến bao giờ mới tiêu diệt hết bọn Pitt và Cobourg [1]. Quỷ sứ đã cứu chúng! Chẳng còn đứa nào cả.

Một phát súng nổ, một viên đạn trượt qua cùi tay Radoub và đập bẹt vào tường.

- À, còn có người. Cậu nào chào mình lịch sự thế?

- Ta - Một tiếng cất lên.

Radoub nhô đầu ra trước và nhận thấy trong cảnh tranh tối tranh sáng một vật gì, đấy là Imânus.

- A ta túm được một thằng. Lũ kia trốn rồi, nhưng còn mày, mày trốn đằng trời.

- Chắc không? - Imânus đáp.

Radoub tiến lên một bước, rồi dừng lại.

- Hè, cái tên nằm dưới đất kia, mày là đứa nào?

- Tao là người nằm dưới đất và khinh thường tất cả những đứa đang đứng.

- Cái gì trong tay phải mày?

- Súng lục.

- Còn tay trái?

- Ruột tao.

- Tao bắt mày.

- Tao đố mày.

Nói xong Imânus cúi xuống mồi lửa đang cháy, thổi hơi cuối cùng vào đám lửa, rồi tắt thở.

Một lát sau Gauvain, Cimourdain và mọi người đều đã vào trong phòng. Tất cả nhìn thấy lỗ hổng. Họ lục soát các ngõ ngách, quan sát cái cầu thang, dẫn ra một lối thoát theo đường hào. Họ xác nhận là bọn giặc đã trốn. Họ lay xác tên Imânus. Tên này đã chết. Gauvain tay cầm chiếc đèn xem xét tấm đá đã mở đường cho bọn bị vây. Ông ta đã nghe nói đến tấm đá xoay này, nhưng vẫn cho đó là chuyện bịa.

Bỗng ông ta thấy mấy chữ viết bằng bút chì; ông ta ghé đèn lại và đọc:

Tạm biệt, ngài tử tước. Lantenac.

Guéchamp đã tới bên Gauvain. Đuổi theo bọn địch dĩ nhiên là vô ích, bọn chúng đã thoát từ lâu rồi; xứ sở, bờ bụi, hào rãnh, dân cư ủng hộ chúng; chắc chúng đã đi xa; chẳng có cách nào tìm ra chúng, và cả cánh rừng Fougères là một nơi trú ẩn mênh mông. Làm gì bây giờ. Phải làm lại tất cả. Gauvain và Guéchamp trao đổi với nhau nỗi thất vọng và những điều ức đoán.

Cimourdain lắng nghe, nét mặt nghiêm nghị không nói một lời.

- À này, Guéchamp, còn chiếc thang? - Gauvain hỏi.

- Thưa tư lệnh, thang chưa tới.

- Nhưng chúng ta đã thấy một chiếc xe có lính cảnh sát hộ tống kia mà?

Guéchamp trả lời.

- Xe không mang thang tới.

- Thế nó mang gì tới?

- Máy chém. - Cimourdain trả lời.

Chú thích:

[1] Pitt (1759 - 1806), Thủ tướng nước Anh và Cobourg (1737 - 1815), Hoàng thân, Thống chế nước Áo; là những kẻ thù của Cách mạng Pháp.

XV

Không nên bỏ đồng hồ và chìa khóa vào cùng một túi

Lão hầu tước Lantenac không phải đã đi xa như họ tưởng. Tuy nhiên, lão ta cũng đã hoàn toàn yên ổn và ngoài vòng truy nã của họ.

Lão đi theo Halmalo.

Cầu thang mà Halmalo cùng lão bước xuống, theo sau những kẻ chạy trước, nối sát với đường hào và mấy vòm cầu bằng một ngách hẻm có mái khum khum. Ngách dẫn tới một chỗ mặt đất tự nhiên nứt sâu, chia làm hai ngả, một ngả ra hào, một ngả ra rừng. Con đường nứt dưới đất ấy tuyệt nhiên không thể nhận ra được, vì nó lượn quanh co dưới cây cối kín mít, không thể lùng bắt được một người đã lọt xuống đó. Một người vượt ngục lọt vào con đường nứt ấy chỉ cần đi ngoằn ngoèo như một con rắn là không tìm thấy nữa. Lối vào con đường hẻm bí mật gai góc mọc dầy chi chít đến mức những người xây dựng con đường hầm này cũng thấy không cần phải che kín bằng cách khác nữa.

Bây giờ lão hầu tước cứ ung dung bước. Lão ta cũng không phải lo trá hình nữa. Từ khi trở về xứ Bretagne, lão ta không bao giờ rời bộ quần áo dân quê, lão cho rằng phục sức ấy làm tăng vẻ uy nghi của lão. Lão ta không đeo kiếm nữa và vứt bỏ cả dây lưng da.

Khi Halmalo và lão hầu tước bước từ ngách hẻm đi vào con đường nứt dưới đất, thì năm người kia, Guinoiseau, Hoisnard Cành-Vàng, Brin-d’Amour, Chatenay và Turmeau đã đi qua chỗ đó rồi.

- Mấy ông kia chẳng mấy chốc mà đã cao chạy xa bay rồi - Halmalo nói.

- Anh cũng làm như họ đi - Lão hầu tước nói.

- Đức ông muốn tôi từ giã đức ông?

- Đúng thế, tôi đã bảo anh như thế rồi. Trốn một mình là tốt nhất. Chỗ nào một người vượt được thì hai người không lọt được. Đi cặp đôi sẽ làm người ta để ý. Anh sẽ làm tôi bị bắt hoặc tôi sẽ làm anh bị bắt.

- Đức ông thuộc vùng này chứ?

- Thuộc.

- Đức ông vẫn giữ nơi hẹn ở Pierre-Gauvaine?

- Ngày mai, buổi trưa.

- Tôi sẽ tới đó. Chúng ta sẽ tới đó.

Halmalo ngừng lại.

- À, thưa đức ông, tôi cứ nghĩ lại hồi ngài và tôi ở giữa biển, chỉ có hai người, tôi muốn giết ngài là chúa đất của tôi, đáng lẽ ngài có thể nói ra cho tôi rõ, thế mà ngài cũng không nói! Ngài thật là con người khác thường.

Lão hầu tước nói tiếp:

- Nước Anh. Không còn con đường nào khác nữa. Trong mười lăm ngày nữa, người Anh phải có mặt tại đất Pháp này.

- Tôi còn nhiều điều phải trình lại với đức ông. Tôi đã hoàn thành những việc đức ông ủy thác.

- Ngày mai chúng ta sẽ bàn tới tất cả những cái đó.

- Vâng, ngày mai, kính chào đức ông.

- À! Anh có đói không?

- Có lẽ, thưa đức ông. Tôi hối hả đi tới nơi cho kịp đến nỗi quên không biết hôm nay đã ăn chưa.

Lão hầu tước rút trong túi ra một thỏi sô-cô-la bẻ đôi đưa cho Halmalo một nửa, và ăn ngay một nửa kia.

Halmalo nói:

- Thưa đức ông, bên phải là đường hào, bên trái là rừng.

- Được. Anh để mặc tôi. Anh đi đi.

Halmalo vâng lệnh, và lao vào trong bóng tối. Nghe có tiếng bụi cây sột soạt rồi lại vắng ngắt. Vài giây sau, đã không thể tìm được ra dấu vết anh ta. Đất vùng Bocage này lởm chởm và chằng chịt cây cối hỗ trợ cho người đi trốn. Vào đấy không phải là ẩn nấp, mà là biến đi. Chính vì chúng trốn tránh nhanh nhẹn và dễ dàng như vậy cho nên quân đội ta rất ngần ngại trước bọn phiến loạn ở Vendée, chúng luôn luôn chạy dài và đến là tài trốn tránh.

Lão hầu tước đứng yên lặng. Lão thuộc hạng người luôn luôn cố gắng để không rung cảm gì cả; nhưng lão không thể tránh được xúc động khi được thở không khí tự do, sau khi đã thở cái không khí sặc sụa mùi máu và chém giết. Thấy mình hoàn toàn thoát nạn sau khi đã cầm chắc cái chết trong tay; thấy mình an toàn sau khi đã sát miệng lỗ, thoát khỏi cái chết và trở lại cuộc sống, ngay đối với một người như Lantenac, cũng là một xúc cảm mạnh mẽ; và tuy lão đã trải qua nhiều phen tương tự, tâm hồn bình thản ấy cũng không khỏi bị lay chuyển trong khoảnh khắc. Lão tự thú với mình là rất hài lòng. Lão kìm ngay cái tình cảm gần giống như một niềm vui ấy.

Lão rút đồng hồ ra. Mấy giờ rồi?

Lão rất ngạc nhiên, vì thấy mới mười giờ. Khi người ta vừa trải qua một biến cố, trong đó phải giải quyết rất nhiều vấn đề, thì người ta hay sửng sốt vì thấy những giây phút đầy sự việc ấy, cũng chẳng dài hơn những giây phút khác. Tiếng súng cảnh cáo đã nổ trước lúc mặt trời lặn một chút; và nửa giờ sau, tháp Tourgue đã bị quân tiến công vây chặt, khi ấy vào khoảng từ bảy đến tám giờ, trời đã chập choạng tối. Thế là cuộc chiến đấu khổng lồ đó, bắt đầu từ tám giờ, và đến mười giờ thì đã kết thúc. Tất cả thiên anh hùng ca ấy đã xảy ra trong thời gian một trăm hai mươi phút. Đôi khi một tốc độ chớp nhoáng chen lẫn vào các tai vạ. Những biến cố thường rút ngắn một cách kỳ lạ như vậy.

Nghĩ cho kỹ thì chỉ trái lại thế mới đáng làm cho chúng ta ngạc nhiên; trong hai tiếng đồng hồ sự chống chọi của một nhóm người hết sức ít ỏi đối với một số đông như vậy thật là phi thường, và đúng là cuộc chiến đấu của mười chín người chống với bốn nghìn người ấy, không phải là ngắn, mà cũng không kết thúc một cách chóng vánh.

Nhưng đã đến lúc phải đi, Halmalo có lẽ đã đi xa, lão hầu tước thấy không cần phải đứng lại đó lâu như vậy. Lão lại bỏ đồng hồ vào trong túi áo; nhưng không bỏ vào trong cái túi lúc nãy, vì lão vừa để ý rằng chiếc đồng hồ đụng phải chiếc chìa khóa cửa sắt mà Imânus đã đưa cho lão. Mặt kính đồng hồ có thể vỡ; rồi lão sẵn sàng lẩn vào rừng. Vừa lúc sắp rẽ sang phía trái lão thấy hình như có một tia ánh sáng mờ mờ xuyên tới.

Lão quay lại và qua những bụi cây in rõ nét lên trên một nền lửa đỏ lão thấy cả một vùng ánh sáng lớn rọi trong đường hào. Lão chỉ cách đường hào có vài bước. Lão đi tới đó. Nhưng nghĩ lại, thấy phơi mình ra chỗ ánh sáng ấy chẳng ích gì, bất kể là ánh sáng gì cũng không có lợi cho lão. Theo hướng mà Halmalo đã chỉ, lão bước mấy bước về phía rừng.

Bỗng nhiên, đang ở dưới đống gai góc sâu kín lão nghe thấy trên đầu một tiếng kêu rất lớn; tiếng kêu ấy hình như phát ra từ mép cao nguyên, phía trên đường hào. Lão hầu tước ngước mắt lên và dừng lại.

« Lùi
Tiến »