CHỒN MẬT

Lượt đọc: 9134 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 40

Alex Barr không theo lời mời của gia đình Macmillian trong dịp lễ kỷ niệm ngày đến của những người Thanh giáo[29]. Tâm trí anh xao xuyến khi nghĩ về món gà tây, vì ruột gan anh luôn sôi ùng ục trong điệu nhạc quen thuộc, bất chấp sự thu xếp kinh tế nhờ đó một người với hai mươi lăm xu có thể chén một bữa cơm xa xỉ gồm đậu nướng cứng, xúc xích màu rơm (một), khoai tây nghiền lổn nhổn, món rau cải trộn nhếch nhác, bánh mì không còn chất và cà phê trong suốt ở một quán bình dân có tên là Thompson. Alex Barr mất can đảm ở phút cuối cùng, khi anh nhìn đến chiếc áo sơmi sạch sẽ nhưng đã sờn cổ, bộ vét tiều tụy, đôi giày còn hơn cả mức mềm nhũn và toàn bộ gia sản gồm bảy mươi xu tiền mặt để ăn cho đến cuối tuần. Anh đợi một lúc trong phòng rửa mặt của tòa soạn, rồi khàn khàn giọng giả vờ mình là một ủy viên ban quản trị, đánh lừa tổng đài nối cho anh với máy ở ngoài. Anh tỏ ra hài hước nửa đùa nửa thật khi báo cho Amelia Macmillian rằng tòa báo cử anh đi công tác ngoài thành phố trong dịp lễ Tạ ơn, trắng trợn nói dối về việc đi lấy tin một vụ xử án giết người ở một thành phố đủ xa để không bị phát hiện. Sau đó anh cương quyết gạt Amelia ra khỏi tâm trí và lại bắt đầu cuộc tấn công vào tất cả các tòa báo trong thành phố ngoại trừ tờ báo mà anh đang làm việc.

Ngoài gã người Scandinavia giận dữ vì whisky đã quăng anh ra khỏi văn phòng vì tội đề nghị được làm phóng viên, nói chung Alex đã được tiếp đãi tử tế và nhã nhặn bởi hầu hết những người đàn ông tóc hoa râm với khuôn mặt hồng hào ngồi sau những cái bàn mà người ta biết là “biên tập viên” hay “tổng biên tập” nhờ sự hiện diện của đống ghim và những chồng bản thảo được trân trọng lưu giữ trong những chiếc phong bì màu vàng. Đặc biệt, ở tờ báo buổi chiều nhỏ nhất của thành phố, người ta đã tiếp anh rất dễ chịu. Có lẽ người đồng nghiệp có tên gần giống tên anh - một quyền tổng biên tập - tên là John Barry, chỉ khác Alex một phụ âm. John Barry có cái đầu tròn cắt tỉa tỉ mỉ, khuôn mặt đầy nếp nhăn sâu, hóm hỉnh, tốt bụng, đôi tay nhăn nheo đầy lông, và cái mà Alex nhớ là nụ cười cảm thông chân thành. Alex tới gặp ông ở văn phòng đều đặn vào lúc bốn giờ chiều thứ năm, vì trước đó anh có ca trực ở tờ The Star, và ca trực kết thúc lúc hai giờ chiều. Cứ vào thứ năm Alex lại đến và nhướn đôi lông mày dò hỏi; cứ ngày thứ năm John Barry lại ngước mắt lên khỏi đống giấy má, mỉm cười, và lắc đầu. Nhưng nụ cười luôn ấm áp, và cái gật đầu rõ ràng là thân thiết. Alex Barr không còn cảm thấy khiếp sợ những lần viếng thăm đều đặn hằng tuần đã diễn ra trong nhiều tháng nay. John Barry đã nói với anh rằng khi có chỗ trống, người được nhận sẽ là Alex. Đối với anh, hy vọng đã là nguồn năng lượng thay thế cho thực phẩm; anh biết rằng The News là một tờ báo trẻ và ít nhân viên, với sự luân chuyển nhân lực cao đến mức đáng kinh ngạc và không có người cũ.

Đó là một đêm trước lễ Giáng sinh xám xịt và ẩm ướt, với dấu vết bẩn thỉu của những bông tuyết cũ trong ngày lễ vẫn đông cứng trên những con phố lầy lội khi Alex tới văn phòng tờ The News. Thời gian đó thật khốn khổ. Căn phòng có đồ đạc mà anh thuê có vẻ không thể chịu đựng được, và ít nhất là một lần Alex không thể đắm chìm trong những trang sách. Đối với AlexBarr hình như tất cả mọi người trong thành phố đã về nhà trong những ngày nghỉ, và anh là người duy nhất còn sót lại ở Washington.

Khi Alex bước vào tòa nhà xây gạch màu đỏ của tờ News, lên cầu thang đi về phía phòng sắp chữ đang phát ra những tiếng lách cách, lòng cay đắng tự hỏi tại sao anh lại khốn khổ đến thế. Chẳng có ông già Noel; chẳng có một Bob Crachit cho Tiny Tim của Alex. John Barry là một ông già có bộ mặt đầy nếp nhăn đôn hậu, nhưng ông ta sẽ chẳng bao giờ nhận Alex Barr. Anh dừng lại trước phòng biên tập, gần như đã định quay về.

“À, mà quỉ bắt nó đi, ” anh thầm nhủ. “Mình sẽ chỉ thử một lần này nữa thôi.” Anh đi qua phòng tư liệu bỏ không, qua phòng chuyên mục thể thao vắng vẻ và cả dãy những chiếc máy chữ không người trong căn phòng gần như không có người. John Barry đang ngồi ở một góc, cần cù giở một đống bản thảo, và một trong số những nữ phóng viên, một bà gái già vàng bủng gầy nhom với cái bút chì cắm xuyên qua búi tóc nhỏ, đang gõ máy chữ ở góc phòng một cách chán nản. Trông như thể bà ta ngồi ở văn phòng vào lễ Giáng sinh chỉ vì không còn nơi nào khác để tới. Hoạt động duy nhất có thể thấy rõ ở tòa báo là tiếng lách cách vọng ra từ phòng sắp chữ.

Alex chậm chạp tiến về phía bàn của John Barry. Nghe tiếng chân bước khẽ, John Barry ngẩng lên nhìn, và khuôn mặt nhăn nheo dưới cái đầu bò mộng tóc cắt ngắn nở ra một nụ cười hồ hởi. Ông quay đầu, thật mạnh. Nhưng lần này chuyển động của cái đầu có khác. Nó theo chiều từ trên xuống dưới chứ không phải sang hai bên.

“Tôi vừa định gọi điện cho cậu, ” John Barry nói. “Cậu có việc đấy. Chúng tôi sẽ sa thải một số người và tôi phải đưa một hai nhân viên hợp đồng lên thành biên chế chính thức. Có một chỗ làm hợp đồng buổi tối còn trống nếu cậu muốn - từ nửa đêm tới 8 giờ sáng. Lương là mười lăm đôla một tuần. Cậu vẫn muốn chứ?”

Alex ngập ngừng giây lát, và quyết định nắm lấy cơ hội.

“Không, ” anh nói. “Tôi không muốn nếu đó vẫn chỉ là làm loong toong. Nếu sớm có một chỗ làm chính thức thì tôi sẽ nhận việc chạy loong toong này và sẽ yêu thích nó, mà dù sao đi nữa tiền lương ở đây còn cao hơn ba đôla so với khoản tiền mà The Star trả. Số đó gần bằng khoản tiền thuê nhà của tôi. Nhưng tôi sẽ không nhận nếu công việc đó không có triển vọng thăng tiến trong một tương lai gần, ngài Barry. Tôi đã phát ngán việc đi lấy cà phê và côca rồi.”

John Barry nhìn chàng trai lóng ngóng trong chiếc tơranhcốt xooàng xĩnh, cái nhìn lướt từ khuôn mặt gầy tới đôi giày nát sũng nước.

“Cậu có thể tới làm vào tối nay chứ?” Ông hỏi.

“Tôi có thể tới làm vào tối nay. Nhưng tôi phải báo cho The Star biết trước hai tuần. Nếu tôi có thể rời khỏi đây ngay trước tám giờ thì tôi sẽ kịp ca làm việc ở The Star. Nhưng tôi sẽ không tới nếu cảm thấy ở đây tôi không sớm có cơ hội làm một việc gì đó thật sự.”

“Cậu có thể viết truyện ngắn? Ký? Phóng sự?”

“Tôi có thể viết truyện ngắn. Tôi có thể viết ký. Tôi có thể viết phóng sự. Tôi có thể viết tóm tắt tin chính và tôi nghĩ là tôi biết cách luận bàn về nghệ thuật. Những gì tôi không biết thì tôi có thể học.”

John Barry lại mỉm cười với chàng thanh niên.

“Tôi nghĩ cậu đang nằm trên cái răng của cậu, ” ông nói với vẻ hóm hỉnh hồn hậu. “Nhưng tôi đã xin việc ở đây ít nhiều với cùng một cách như thế. Không khách khí. Trừ việc lúc đó tôi là lái xe taxi, vì không ai nghĩ rằng tôi có gì tốt hơn một nghệ sĩ dương cầm. Tôi thích những kẻ nói dối tháo vát. Được rồi, anh bạn trẻ - tên cậu là gì ấy nhỉ?”

“Alex, thưa ông. Tôi nghĩ là ông nhớ được họ của tôi, nó na ná với họ của ông.”

“Tôi nhớ rồi. Và...” ông ngừng một lúc lâu, rồi mỉm cười. “Tôi nghĩ tôi luôn sẵn lòng. Có thể chúng ta sẽ luôn lẫn lộn thư từ của nhau. Cậu đã có tên trong bảng lương. Cậu không phải báo với The Star đâu. Tổng biên tập của cậu là bạn tôi. Tôi sẽ phôn cho ông ấy bây giờ và ông ấy sẽ cởi bỏ xiềng xích cho cậu - không, hãy nhớ là tôi không chấp nhận sự sẵn sàng làm việc mà không cần ký hợp đồng của cậu. Và cậu sẽ được đề bạt ngay khi có chỗ trống trong biên chế, cho dù đó là trang giải trí hoặc phụ nữ. Được chứ?”

“Được ạ. Vậy nhân viên hợp đồng ban đêm của ông thường làm những việc gì?”

“Quấy hồ. Sau đó anh ta học cách hòa thuận với ông già Fitz, trợ lý tổng biên tập ban đêm. Nếu cậu làm được điều đó với Fitz thì tôi sẽ thử cậu với Riley, trợ lý tổng biên tập ban ngày. Nếu cậu làm được điều đó với cả Riley và Fitz thì cậu đã là ứng cử viên cho chính chức vụ của tôi. Tạm biệt, anh bạn trẻ. Hẹn gặp cậu vào sáng mai.”

“Tôi sẽ ở đây vào lúc...“ chiếc điện thoại trên bàn John Barry đổ chuông. John Barry nhấc ống nghe. “Ôi trời ơi, ” ông nói vào điện thoại. “Tôi phải trực ở đây. Chúng tôi đã đóng cửa sớm, và chẳng có ai ở đây ngoài Abigail và...” ông nhìn Alex hơi bối rối “... giữ máy nhé.” Ông đặt ống nghe lên bàn và nhìn Alex Barr.

“Cậu đã bao giờ lấy tin về một vụ cháy thực sự chưa?” Ông hỏi.

“Chưa, thưa ông. Những vụ nhỏ thì rồi.”

“Tốt, một vụ cháy lớn chỉ là một vụ cháy nhỏ mà dễ lấy tin hơn. Một nửa Tây nam Washington sắp bốc cháy. Đây sẽ là một tin giật gân của ngày mai và không còn ai trong tòa soạn ngoài cậu, tôi và Abigail - mà Abigail thì không phải là phóng viên của những vụ việc lớn. Cậu muốn trở thành phóng viên, thật nhanh?”

Alex Barr không trả lời. Anh chỉ gật đầu cộc lốc. John Barry nói vào điện thoại.

“Tôi đã thu xếp được. Tôi sẽ cử một người. Hãy đi khỏi đó khi cậu có thể tìm được ai đấy đủ tỉnh táo để quản lý nhà cửa. Tôi sẽ đi lùng các quán bar để tìm một thợ chụp ảnh. Còn bây giờ tôi sẽ cử tới đó một người mới.” Một lát im lặng, và John Barry lại nói. “Barr. Alex Barr. Tôi vừa mới nhận cậu ta. Phải. Gọi đến đi, và tôi sẽ xem tôi phải làm gì trong tình trạng khẩn cấp nếu anh chàng Barr đến đó kịp.”

Ông gác ống nghe, nhìn Alex Barr và quát lên.

“Đi đi, ” ông nói. “Chạy đi. Đến chỗ phố Bốn và Một nửa và xem chỗ nào có khói nhiều nhất. Cậu có tiền không?”

“Không nhiều, ” Alex nói. “Tôi có vé xe điện...”

“Nếu chúng ta săn tin cho báo, như cái sắp diễn ra bây giờ, thì đừng mất thì giờ với xe điện. Đây là năm đôla. Đi đi, nhanh lên, và gọi lại cho tôi ngay khi cậu tính được số người chết, số thiệt hại, nguyên nhân và hậu quả. Chạy đi!”

Alex Barr vồ lấy tiền và lao ra cửa. Sáu tiếng sau khi anh quay lại cánh cửa ấy, người nhem nhuốc muội than, lông mày cháy xém, anh thấy John Barry vẫn ngồi ở bàn.

Người tổng biên tập nhìn cậu nhân viên mới của mình.

“Làm tốt đấy, cậu bé, ” ông nói. “Chúng ta đã đưa được tin nhanh cho tờ báo. Cậu đọc chính tả khá tốt, ít ra là hơn Abigail. Chuyện diễn ra suốt đêm như thế nào?”

“Một chyện khá dài, ” Alex nói và ngồi xuống cái bàn gần nhất. “Một gã say nào đó đã ngã vào cây thông Nôen và làm toàn bộ một khối nhà bốc cháy. Lửa lan ra. Mùi thật khủng khiếp. Giống như bếp một quán ăn lớn với người đầu bếp say rượu. Và điều thực sự kinh hoàng với tôi là những đứa trẻ chết, những con gà tây chết và những con búp bê chết.”

“Ý cậu định nói gì, những đứa trẻ chết, những con gà tây chết và những con búp bê chết?” John Barry đẩy ghế ra sau, bắt chéo tay trước ngực và nhìn Alex Barr.

“Nó thật sự đánh mạnh vào tôi. Là thế này, những đứa trẻ bị chết nằm trên mặt đường, bên cạnh là những con gà tây cháy dở và những con búp bê nhỏ bị nung chảy. Tất cả nằm xếp hàng. Cả bọn trẻ, gà tây, búp bê. Hàng nọ sau hàng kia - chạy dài trên trên bãi cỏ nhỏ đáng thương đã bị lửa thiêu trụi.”

“Cậu có thể viết như thế không?” John Barry hỏi.

“Tôi có thể viết như vậy, ” Alex Barr nói. “Tôi có thể dùng cái máy chữ nào?”

“Hãy viết như thế, ” John Barry nói. “Chỉ cần viết như thế thôi, và cậu có thể dùng bất kỳ cái máy chữ nào ở đây. Hãy viết những gì cần nói.” Ông rút ngăn kéo bàn, và lấy ra một cút rượu lúa mạch. “Trông cậu phờ phạc quá. Làm một ngụm chứ?”

Alex Barr nhìn người chủ mới của mình. Anh mỉm cười. Nét hồng đã trở lại trên gương mặt, và mùi thịt cháy không còn khét lẹt đến thế trong mũi anh nữa.

“Tôi muốn để dành đến khi viết xong bài báo, ông chủ, ” anh nói. “Còn sau đó thì tôi sẽ rất sẵn lòng.”

Alex Barr ngồi xuống và đánh máy câu chuyện của mình một cách hung hãn và mau lẹ bằng hai ngón tay trên chiếc máy chữ hiệu Underwood của một người nào đó. Cứ xong một trang anh lại đưa bản thảo cho John Barry. Khi anh viết xong chữ “Hết” ở trang cuối cùng, thì chỉ còn mười lăm phút nữa là đúng nửa đêm.

Anh vươn vai, gãi lưng, ngáp và đi đến bàn của John Barry. John Barry nhìn trang cuối cùng và lại rút ngăn kéo ra lần nữa.

“Tôi rất không cho phép các nhân viên tạp vụ uống rượu trong khi làm việc,” ông nói và đưa cái chai cho Alex Barr. “Nhưng vì cậu chỉ làm việc có một đêm, nên tôi sẽ không để ý. Đây này, hãy uống cho ngon lành, vì đến tám giờ sáng mai cậu sẽ bị đốt cháy.” Ông lại mỉm cười, nụ cười rạng rỡ ấm áp làm những nếp nhăn của ông giãn ra và bừng sáng. “Cậu đã có một công việc mới.”

Alex không bị sặc khi uống một ngụm lớn thứ rượu làm bằng lúa mạch thô rẻ tiền. Anh đưa trả lại cái chai, và nói ngắn ngọn: “Cảm ơn. Nhân viên khuấy hồ của ông thường ngồi ở đâu?”

“Các phóng viên của tôi không phải khuấy hồ, ” John Barry nói, chìa bàn tay to lớn, đầy lông và nhăn nheo ra. “Chúng tôi để công việc đó cho những nhân viên tạp vụ. Người chụp ảnh kịp có mặt để chụp đấy chứ?”

“Tôi nghĩ thế, ” Alex Barr nói. “Tôi đã bảo anh ta cần chụp cái gì. Chúng tôi bị mất ánh sáng rất nhanh. Sẽ không có nhiều ảnh nhưng ảnh có thể đẹp nếu người của ông biết cái gì đó về tốc độ tạo hình. Đến khi xong tôi đã làm nổ một hai cái bóng đèn cho anh ta. Anh ta sẽ làm ảnh sớm cho số báo đầu tiên.”

Hôm sau câu chuyện của Alex chiếm toàn bộ trang nhất, chỉ với một hai thay đổi nhỏ. Những cái bóng đèn mà anh làm nổ đã có tác dụng tốt; cả Alex và người chụp ảnh đều được nhận giải thưởng báo chí năm đó cho câu chuyện của họ về những đứa trẻ chết, những con búp bê chết và những con gà tây chết.

[29] Người Thanh giáo: Những tín đồ Thanh giáo Anh đến Mỹ năm 1620 và thành lập khu kiểu dân Plymouth ở bang Massachusset.

« Lùi
Tiến »