JULIE CẢM THẤY MẤT PHƯƠNG HƯỚNG NHƯ HỒI cô ở trong trận báo tuyết mù mịt. Cô đứng bất động nghĩ về những gì Kapu đã làm. Những người chơi trống đã cất trống đi, thức ăn thừa đang được mang về nhà, và đám trẻ con buồn ngủ được bê vào giường. Bố Kapugen và dì Ellen đang dạy Benjamin, Roy, và bé Edna Ulugak những động tác chân và tay của vũ điệu tuần lộc, nhưng Julie chẳng hề nhìn thấy gì. Cô chỉ nhìn thấy số phận kinh khủng cho đàn sói của cô.
Cô thậm chí không nhìn thấy Peter, vẫn đang đi lùi phía sau và theo dõi cô. Trong ánh nắng lờ mờ lúc một giờ sáng, trông anh như thể được đúc bằng đồng vàng.
Julie bước tới chỗ chiếc xuồng vừa cứu được của Kapugen và ngồi xuống. Cô trân trân nhìn dòng sông đang nổi sóng. Nước đã yếu bớt, nhưng những tảng băng khổng lồ vẫn trồi lên, vỡ bung, chìm xuống và lại trồi lên tít phía dưới dòng. Tiếng gầm gừ của mùa băng vỡ thật dễ chịu. Đó là bức tường âm thanh ngăn cô với cuộc vui giờ đã ngủ say của làng Kangik. Cô có thể tập trung vào những việc cần làm cho đàn sói của mình.
Chắc giờ Kapu đã có con, cô nghĩ. Nó sẽ không đi xa chúng, và vì thế cô lập một kế hoạch.
Tâm trí cô lọt vào tiếng loẹt xoẹt từ máy bộ đàm CB của Kapugen.
- Căn cứ Cáo Trắng - cô nghe thấy vậy. - Đây là Căn cứ Cứu hộ Wainwright. Anh hiểu tôi chứ, Kapugen? Hết.
Julie im lặng ngồi nghĩ về Kapu. Cuộc gọi được lặp lại thì cô mới lắc đầu và vội vã đi vào nhà. Cô bật CB.
- Căn cứ Cứu hộ Wainwright, tôi nhận rồi. Kapugen không ở đây. Hết.
- Căn cứ Cáo Trắng. Đây là cuộc gọi tìm kiếm và cứu nạn. Khẩn cấp. Khẩn cấp. Cô tìm ông ấy được không? Hết.
- Tôi sẽ gọi ông ấy. Tôi ra ngoài.
Kapugen là thành viên Đội Tìm kiếm Cứu nạn Dốc Bắc. Người ta cần ông. Julie chạy đi.
Cô tìm thấy bố Kapugen, dì Ellen, và cô Uma đang nhảy trong ánh nắng gần nhà thờ. Bọn trẻ con đã đi, và cô Uma đang hướng dẫn dì Ellen cách di chuyển bàn chân để biểu diễn một điệp khúc đặc biệt trong điệu nhảy của nữ. Dì Ellen làm theo bước chân của cô ấy hết sức điệu nghệ. Julie chạy tới chỗ bố Kapugen.
- Aapa - cô nói. - Đội Tìm kiếm Cứu nạn cần bố.
Kapugen ngừng nhảy và nắm lấy tay dì Ellen, vội vã cùng dì về nhà. Julie chậm rãi theo sau, ngẫm nghĩ những lời nói với bố Kapugen về Kapu và con bò xạ.
Khi cô vào nhà, bố Kapugen đang mặc chiếc áo bay của ông.
- Tin không hay - ông nói. - Một luật sư cùng vợ anh ta từ Barrow đến bị lạc ngoài biển. Trước khi có bão, họ lên xuồng ra khơi đến Vịnh Kuk. Kể từ đó không có tin gì của họ. Bố sẽ bay ra để xem có tìm được họ không.
Ông bước đến máy CB và bật lên.
- Anh Malek - ông nói vào loa - Kapugen đây. Anh nghe tôi nói không?
Ngừng một lúc.
- Tôi nghe rồi, Kapugen, nhưng không rõ lắm. Tôi đang ngủ. Hết.
- Tỉnh táo đi, phi công phụ của tôi - ông nói - và gặp tôi ở lều Quonset. Hai người mất tích ngoài biển. Đi đây.
Ông tắt bộ đàm, hôn dì Ellen, và vỗ má Julie.
- Bố sẽ về - ông nói.
- Aapa. - Julie chạy ra cửa cùng ông. - Con có chuyện phải nói với bố.
- Để sau, để sau - ông nói, và lao vào ánh nắng màu đồng của những giờ khắc còn lại trong ngày.
- Bố con phải tìm họ - dì Ellen nói với theo sau Julie.
- Đất nước này có không ít chuyện buồn.
- Hẳn là vậy rồi - Julie nói, và leo lên iglek.
Dì Ellen đi vào phòng ngủ và buông rèm để dì có thể ngủ được. Đàn chó sủa, máy bay của Kapugen cất cánh, và làng Kangik im phăng phắc. Lễ hội Nalukataq đã kết thúc.
Kapugen đi hai ngày. Khi trở về, ông ủ rũ và trầm tư. Ông dừng lại chỗ nhà kho để kể với bà Marie và vài người đi mua đồ rằng ông đã tìm thấy chiếc xuồng bị lật úp trên một bãi biển hoang vắng. Nó trống trơn. Cuốn nhật ký hải trình của vị luật sư cho biết anh ấy đã quay về khi nhìn thấy cơn bão đã giam chân Julie và dì Ellen. Nó đã đuổi kịp ông ấy. Những người đi chợ lắc đầu khi nghe tin ấy. Họ biết những gì Hilla, vị thần thời tiết, có thể làm, và họ rất buồn.
Tuần tiếp theo Kapugen đi đi về về và bận rộn đến mức không thể nói chuyện với Julie hay tới chỗ bãi quây gia súc. Ông và bác Malek bay đi bay về Barrow vì những vấn đề pháp lý cho gia đình vị luật sư rồi tới các bãi biển và mũi đất vắng vẻ để tìm kiếm xác họ. Bác Malek giao việc quản lý đàn bò cho Peter.
Julie đợi cơ hội nói chuyện với bố Kapugen. Cô đọc thêm một số sách mới mà cô tìm được khi giúp dì Ellen dọn dẹp phòng học cho mùa hè. Cô bắt cá, cho chó ăn, và kiểm tra hàng rào bãi quây. Đến chiều muộn, cô ra lãnh nguyên và ghi chép dấu vết của các loài động vật có vú và các hoạt động của chim chóc. Cô đang thực tập cho kế hoạch cô đã vạch ra.
Đàn uminmak đang trút bỏ lượng lớn qivit khi đổi mùa.
Peter đến nhà nhờ Julie giúp thu gom lông bò. Cô nhận lời, háo hức lấp đầy quãng thời gian cho tới khi cô có thể nói chuyện với bố Kapugen. Khi họ xong việc, cô lại ra lãnh nguyên và lắng nghe những thông điệp từ đàn sói của mình.
Một buổi chiều, hai con bê chào đời, và Julie chạy một mạch về nhà, mái tóc đen của cô tung bay phía sau.
- Dì Ellen - cô nói đầy phấn khởi - Viễn Bắc có thêm hai bạn mới rồi.
- Thêm hai con bò nữa - dì Ellen nói, mỉm cười. - Tốt quá. Tốt quá. Chẳng mấy chúng ta sẽ có một đàn bò đủ lớn để công việc kinh doanh này tự trang trải được. - Dì mở sổ ghi chép và ghi lại những con bê mới sinh. - Chúng là đực hay cái?
- Cả hai đều là con cái - Julie đáp.
- Tốt quá. Thế nghĩa là sẽ có thêm những con bê nữa.
- Chúng ta ăn mừng thôi - Julie nói. - Con sẽ bắt cho dì acbum, loại cá hồi ngon nhất. Chúng bắt đầu từ biển bơi ngược vào sông rồi.
- Tuyệt lắm - dì Ellen nói. - Nhưng nấu theo kiểu Minnesota nhé.
Julie không mất nhiều thời gian bắt cá. Cô lạng cá bằng những động tác khéo léo, rồi nhìn dì Ellen tẩm gia vị và hoa quả sấy mà mẹ dì gửi tới.
- Julie - dì Ellen nói, ngồi thẳng lên sau khi cho cá vào lò nướng - dì để ý những cuốn sách con đang đọc. Con quá tiến bộ không cần phải đến trường ở Kangik mùa đông tới.
- Vậy ư? - Julie nói. - Thế thì thật tệ. Con lại rất muốn được đi học ở đây.
- Con có thể đi học - dì Ellen nói - nhưng không phải ở đây. Trong vòng một năm nữa, Hạt Dốc Bắc sẽ xây một trường trung học ở Kangik, nhưng cho tới khi người ta xây trường, hạt sẽ gửi học sinh trung học Kangik tới Barrow, Anchorage, hoặc Fairbanks. Khi đó con có thể tới Đại học Alaska hoặc thậm chí tới các trường đại học đại lục.
Julie chăm chú lắng nghe.
- Nếu con thích - dì Ellen nói - dì sẽ làm hồ sơ cho con.
- Con sẽ nghĩ về việc đó - Julie đáp mà không mấy hào hứng.
- Con sẽ không đơn độc đâu - dì Ellen thúc giục. - Sẽ có những bạn trẻ Eskimo khác bằng tuổi con. Các con sẽ được khiêu vũ, chơi bóng rổ và bóng chuyền.
Julie im lặng. Dì Ellen cố gắng nghiêm túc.
- Một học trò của dì tốt nghiệp trung học Anchorage năm ngoái. Cậu ấy sẽ theo học Đại học Alaska ở Fairbanks vào mùa thu này. Điều đó không thú vị ư?
- Sinh viên sẽ làm gì sau khi họ tốt nghiệp ạ? - Julie hỏi.
- Hầu hết trở lại Dốc Bắc - dì Ellen đáp. - Có người giờ đã là Giám thị phụ trách các trường học. Một bạn nữa là chủ ngân hàng. Một bạn nữa từ Barrow là chuyên gia ngôn ngữ Ifiupiat và thậm chí còn đang biên soạn một cuốn từ điển Ifiupiat. Có rất nhiều việc để làm ở đây nếu có trình độ. Người Eskimo muốn giữ gìn nền văn hóa của mình và đồng thời học hỏi thêm những kỹ năng hiện đại như sử dụng máy tính và thư viện.
Julie ngồi im như một con thỏ đang bị săn đuổi. Một tuần rưỡi trước có lẽ cô đã nhờ dì Ellen nộp đơn. Còn hôm nay thì cô không thể. Cô có một giao ước với đàn sói của mình. Cô phải cứu chúng.
Dì Ellen bật nhạc giao hưởng. Dì dọn món cá hồi ra.
- Dì sẽ xin học cho con nhé? - Dì hỏi.
- Con phải suy nghĩ đã.
Dì Ellen cảm thấy Julie đang dựng lên một bức tường cảm xúc nào đó, bèn bước tới tờ lịch.
- Em con sẽ đến với nhà ta vào ngày năm tháng Bảy, bác sĩ nói vậy. Chúng ta sẽ nói về việc học hành sau khi em bé ra đời.
Họ im lặng ngồi ăn, nghe tiếng gió đùa giỡn ngoài cửa sổ kèm với tiếng nhạc của dì Ellen.
- Dì Ellen - cuối cùng Julie nói - con thật ích kỷ. Con vẫn chưa làm một món quà cho paipiuraq bé bỏng của mình.
Cô vét sạch đĩa đồ ăn và bỏ đĩa vào một chậu rửa bát.
- Con khâu vá khá tốt - cô nói tiếp. - Con đã từng khâu những chiếc áo trùm parka rất đẹp cho cô Nusan, vợ bạn của bố Kapugen. - Julie mang đôi ủng đạp băng cao su của mình vào. - Dì rửa bát đĩa rồi con sẽ quay lại. Con muốn tới lều Quonset. Bố Kapugen tặng con mấy con chồn ermin trắng. Bố nói để dành cho con. Bố nói bố muốn con làm một thứ gì đó đẹp cho chính con từ những con vật ấy. Nhưng con sẽ làm cho em bé một chiếc áo lông chồn ermin trắng tinh. - Cô mặc áo attigi. - Con sẽ không ích kỷ vậy nữa - cô nói.
- Con chẳng hề ích kỷ mà - dì Ellen trả lời.
Julie bẽn lẽn mỉm cười và hối hả ra ngoài trong ánh mặt trời mát mẻ. Một làn gió êm dịu thổi từ đại dương xa xăm lại. Những khóm lách và lau nhỏ xíu dọc bờ sông là chỗ trú ẩn của đám ngỗng và vịt nằm trong tổ. Ngoài Vịnh Kuk, giờ là một màu lam lục thăm thẳm, những người đàn ông và phụ nữ trên những chiếc thuyền cá đang bắt những con cá hồi và cá hồi trắng đầu tiên trên lộ trình bơi vào đất liền để giao phối và đẻ trứng. Mùa cá voi, vịt, và hải cẩu đã kết thúc; mùa bắt cá vừa bắt đầu.
Nhảy ào qua những vũng bùn, Julie thiết kế chiếc áo trùm parka, chồn ermin trong đầu trong khi cô nhảy chân sáo và chạy tới lều Quonset. Cô không nhìn thấy Peter cho tới khi gần như xô vào anh.
- Julie - anh mỉm cười nói. - Anh đang định đến tìm em. Anh đã thấy đàn sói của em.
Cô dừng sững lại. Đôi mắt cô thực sự lên tiếng: Ở đâu? Chúng hỏi vậy.
- Khoảng bốn mươi dặm phía trên sông Avalik - anh trả lời. - Chúng mang theo thức ăn.
- Tốt quá. Thế nghĩa là chúng đang nuôi một con sói mẹ. Chúng có tổ.
- Anh nghĩ vậy.
- Anh thấy mấy con trưởng thành?
- Ba con.
- Ba - cô nói. - Anh có nghĩ anh nhìn thấy tất cả không? Chú Atik nhìn thấy tám con hồi mùa đông.
- Mùa đông không hợp với chó sói. Không có thức ăn. Có thể một vài con đã chết đói.
Cô cắn môi.
- Em phải tới chỗ chúng. Bốn mươi dặm không đủ xa với một con sói. Chúng sẽ quay lại bắt bò xạ.
Cô định rời đi.
- Em có thể cùng anh tới nhà tạm được không? - Anh hỏi. - Con bê thứ tư sắp sinh rồi, con bò mẹ hành động lạ lắm.
- Em sẽ đến chỗ anh sau - cô nói. - Em đang trên đường đi lấy mấy bộ lông ermin trong số lông thú của bố Kapugen ở lều Quonset. Em sẽ làm cho con của dì Ellen một cái áo choàng thật đẹp.
Peter mỉm cười và nhìn cô qua phía trên cặp kính râm.
- Anh yêu em - anh nói. - Em có yêu anh không?
- Anh Peter Sugluk - cô nói. - Em phải học cho xong trung học và đại học rồi lấy bằng thạc sĩ về tiếng Yupik và Inupiat thì mới có thể nghĩ đến yêu đương.
- Dì Ellen nói chuyện với em à?
- Vâng.
- Dì Ellen cũng đã nói chuyện với anh - Peter nói. - Anh đã nộp đơn vào Đại học Alaska.
- Anh cũng sẽ đi học à? - Julie hỏi, và cười vang. - Anh toàn những điều ngạc nhiên. - Cô đặt tay lên môi. - Em chẳng biết phải nghĩ thế nào về anh.
- Phải, đúng thế - anh nói, ôm choàng lấy eo cô và nhấc bổng cô lên. Anh xoay tròn hai vòng rồi mới đặt cô xuống, hướng về phía lều Quonset.
- Giờ em đi lấy lông ermin làm quà tặng cho em bé đi - anh nói. - Hẹn gặp em ở chỗ nhà tạm.
Julie lấy lại thăng bằng, rồi chạy vòng qua nhà thờ và ngược lối mòn tới lều Quonset. Bước vào bên trong, cô hé nhòm lại chỗ Peter. Chiếc áo attigi trắng của anh bay phần phật khi anh chạy. Anh cứ như một con chim cắt đang lao mình về tổ.
Mình thích anh ấy, Julie tự nhủ. Đúng vậy. Nhưng cô không rời mắt khỏi anh cho tới khi anh khuất khỏi tầm nhìn.
⚝ ✽ ⚝
Đã nửa đêm. Tiếng động cơ máy bay rền rền từ xa, càng lúc càng lớn và thấp xuống, và cuối cùng tắt ngấm. Julie lắng nghe từ trên iglek của mình và chờ đợi. Bố Kapugen và dì Ellen đang trở về sau khi đến gặp bác sĩ ở Barrow. Julie không hề ngủ kể từ lúc vầng mặt trời nửa đêm nhuộm cả lãnh nguyên một màu cam, vì hôm nay là ngày cô sẽ nói với bố Kapugen rằng Kapu đã giết một con bò xạ. Gần một tuần đã trôi qua kể từ sự cố ấy. Cô rất sợ nhưng rất kiên quyết.
Dì Ellen bước vào trước tiên và nhón chân đi qua iglek, cho rằng Julie đang ngủ say. Dì đi qua phòng với hai chân vẫn còn đi tất, vấn mái tóc đỏ của dì lên đỉnh đầu. Khi đã vấn gọn tóc và buộc lại, dì vục lấy một xoong nước từ cái thùng nhựa ba mươi gallon đặt bên cạnh tủ lạnh.
Dì Ellen mang theo một cốc nước sông sạch mát lạnh. Kể từ đợt băng vỡ, người dân làng Kangik lại có thể lấy nước từ sông Avalik.
Dì Ellen đánh răng chỗ bồn tráng men và đổ nước xuống bồn rửa trong bếp. Cuối cùng dì đi vào phòng ngủ.
Julie nghe tiếng nước chảy xuống ống và trút xuống đất dưới gầm nhà. Cô nghe thấy tiếng nước róc rách chảy đi. Đây là thứ âm thanh của mùa hè. Nước từ bồn rửa không còn đóng băng trong cái phễu thủy tinh dưới gầm nhà.
Bố Kapugen mở cửa và bước vào. Julie nhích ra mép iglek.
- Aapa - cô thì thào - con có chuyện cần nói với bố.
Cô gần như mắt chạm mắt với ông.
- Eedie, Miyax xinh đẹp - ông nói, và nháy mắt. - Vậy là con có người yêu rồi phải không?
- Aapa - cô nói, mặc kệ lời ông. - Làm ơn nghiêm túc nào.
- Ee-lie - ông nói, và hôn lên má cô. - Có phải con muốn lấy chồng không?
Ông gạt một lọn tóc của cô ra sau.
- Aapa, Aapa. - Julie tụt khỏi iglek và đứng trước mặt ông. - Con muốn bố bình tâm nghe những gì con phải nói với bố đây.
Bố Kapugen có vẻ ngơ ngác.
- Bố không phải lúc nào cũng vậy sao?
- Đàn sói đã giết một con bò.
Vẻ lấp loáng vui tươi biến mất trong mắt Kapugen. Sau một lúc im lặng trầm ngâm, ông quay người và đi sang gian sảnh qanitchaq. Ông mặc áo bay và nhặt khẩu súng săn sói lên.
- Xin bố đừng - Julie nài nỉ. Cô theo ông bước ra ánh mặt trời lúc hai giờ sáng. - Xin bố đừng - cô lại cầu khẩn.
- Không ích gì đâu - ông trả lời, theo đường tới lều Quonset và chiếc máy bay của mình. - Chúng ta cần bò xạ.
- Xin bố, bố Kapugen, aapa của con. - Julie chạy chân trần bên cạnh ông. - Con sẽ ngăn đàn sói tránh xa bò. Xin bố đừng bắn chúng. Chúng đã cứu mạng con.
Cô dừng lại và vươn tay về phía ông.
- Chẳng ích gì đâu - ông nhắc lại, nhưng bước chân chậm hẳn.
Mắt Julie giàn giụa nước. Cô hối hả bắt kịp ông.
- Con xin mà, aapa, chuyện này sẽ không bao giờ xảy ra nữa. Sẽ không bao giờ xảy ra nữa. Con biết phải làm gì.
- Có lẽ những con thú ăn thịt không phải là đàn sói đã cứu con - Kapugen nói, rất muốn tin điều này, mặc dù ông biết chỉ có một đàn ở giữa Wainwright và vùng núi.
- Chính là chúng. Xin đừng bắn chúng - cô trả lời. - Anh Peter đã nhìn thấy đàn sói. Một con màu bạc và một con màu xám. Con đầu đàn màu đen.
- Nhưng bố đã bắn con đầu đàn màu đen của con mà.
- Con màu đen là con của nó. Bố cũng đã bắn trúng nó, nhưng không nặng lắm. Con đã chăm cho nó khỏe lại. - Cô ngập ngừng. - Con đặt tên nó theo bố. Tên nó là Kapu. Nó là một thủ lĩnh cừ.
- Bò xạ phải sống - Kapugen nói. - Chúng ta cần tiền cho dân làng.
- Chú Atik có hải mã, bác Malek có cá voi. Trứng vịt và trứng ngỗng ở khắp nơi trong đám lau sậy bờ sông. Cá hồi trắng và cá hồi đang bắt đầu trở về.
- Chúng ta không thể săn bắt mãi mãi đâu - Kapugen nói. - Động vật hoang dã đang biến mất khỏi trái đất. Chúng ta phải tìm một phương thức mới để sống ở Bắc Cực. Phải có công việc làm ăn. Bò xạ là công việc của chúng ta đấy.
Kapugen chậm bước lại thành nhịp đi bộ đầy do dự. Gương mặt ông toát lên nét buồn bã mà Julie không tài nào chịu nổi khi nhìn ông.
- Chẳng ích gì đâu - ông nói thêm một lần nữa. - Bố phải bắn hạ những con sói giết bò.
- Hãy để con đi với chúng - cô nói. - Con biết phải làm gì. Bố từng nói chuyện được với sói. Cũng như bố, con đã học ngôn ngữ của chúng khi con ở cùng chúng trên lãnh nguyên. Con sẽ bảo chúng chỗ có tuần lộc và đưa chúng đi tìm tuần lộc. Chúng sẽ làm vậy.
Kapugen đưa những ngón tay sạm nắng gió của mình gãi gãi lông mày, như thể đang thay đổi ý định. Rồi quyết tâm của ông trở lại và ông sải bước tới lều Quonset. Julie chạy theo ông.
- Xin bố, hãy để con thử - cô van nài. - Nếu con không thành công, khi đó con sẽ chấp nhận. Con xin mà, aapa.
Kapugen để cô bắt kịp ông.
- Ở Minnesota - ông nói - sói được bảo vệ. Không ai bắn hạ chúng, chúng rong ruổi trong rừng bắt hươu, nai sừng tấm và một động vật người ta gọi là hải ly. Nhưng khi một con sói mò vào đất của người và giết hại gia súc, thì các quan chức môi trường của chính phủ sẽ đến và bắn hạ nó. Họ bắn những con cạnh tranh với loài người. Họ nghĩ vậy là công bằng. Đó là cách thức giữa con người và sói ở Minnesota.
- Nhưng ở đây thì không vậy - Julie nói. - Chúng ta khác. Chúng ta biết mọi thứ đều từ mặt đất mà ra và phải sống để tất cả chúng ta cùng có thể sống được.
- Nhưng không như vậy khi chúng ta sống như người da trắng. - Kapugen ngừng bước. - Người Eskimo - ông nói, giọng ông trầm hẳn khi ông nhấn từng từ thật cẩn trọng - giờ đây sống theo luật Minnesota.
- Những quy tắc cũ là tốt nhất - Julie nói.
- Bố đã dạy con như vậy phải không nhỉ?
- Bố đã dạy con như vậy, aapa.
- Bố sai rồi.
Những đám mây mỏng đang hình thành phía trên vùng vịnh lúc mặt trời bắt đầu cái vòng tròn bất tận của mình quanh phần đỉnh của thế giới lần nữa. Julie và cha cô nhận ra như vậy, vì họ chú ý đến mọi đám mây.
- Nắng rồi - Julie nói. - Con có thể đi được.
- Vậy con sẽ đi cùng chúng à? - Kapugen nói khẽ.
- Con sẽ đi với chúng.
- Và con sẽ làm gì?
- Con không rõ cho tới khi con nói chuyện với chúng.
- Con sẽ đi như thế nào? Con không thể dắt theo đàn chó.
- Đi bộ ạ, cho tới khi tìm được chúng. Sau đó con sẽ đi như chúng đi.
Cô sụp xuống trên cả hai tay và chân và nhảy nhót nhẹ xung quanh Kapugen, ư ử và rên rỉ như một con sói.
- Con thật sự học được ngôn ngữ của chúng rồi - ông nói, dịu dàng kéo cô đứng lên. - Đi tới chỗ chúng đi. Bố biết cố gắng của con sẽ vô ích. Sói không biết tài sản của con người. Chúng chỉ thấy con mồi phù hợp của chúng và bắt nó. Sói phải là sói.
- Sói có biết những ranh giới đấy - Julie nói. - Chúng có lãnh thổ săn mồi như chúng ta. Chúng đánh dấu và kiểm soát những khu vực đó. Thật tiếc là bò xạ của chúng ta trong lãnh thổ của Kapu. Nó nghĩ chúng là của nó.
Kapugen choàng quai súng quanh cổ và để cho khẩu súng treo trên lưng mình.
- Vô ích - ông nói.
- Bố sẽ để con thử chứ? - Cô hỏi.
- Bố không thể từ chối - ông nói, chạm lên mái tóc đen óng ả của cô với sự âu yếm của một con sói với con non. - Bố sẽ để con thử. - Ông kiễng chân lên, rồi hạ xuống trên gót chân. - Nếu chúng lại giết bò nữa, bố sẽ đành phải theo luật ở Minnesota thôi.
- Vâng - cô nói. - Nhưng bố sẽ không phải làm vậy đâu.
Cô đưa cườm tay lau mắt và cảm ơn ông bằng một nụ cười đẫm lệ.
Kapugen choàng tay quanh vai cô và họ đi bộ trở lại nhà, hắt những cái bóng màu tía đổ dài trước mặt.
- Cầm theo khẩu .22 của con - ông nói khi họ về đến nhà. - Bố sẽ đưa đạn cho con.
- Con không muốn dùng khẩu .22 - Cô nhớ đến những tiếng súng đã giết chết Amaroq và nỗi sợ hãi mà đàn sói của cô luôn có trước súng ống.
- Ngoài kia có lũ gấu xám - Kapugen nói tiếp. - Cứ bắn lên trời. Như thế sẽ dọa được chúng.
Julie gật đầu.
- Có lẽ con sẽ mang theo - cô nói, nhớ lại con gấu xám đã tấn công cô. Nếu không phải vì Amaroq và đàn của nó, có lẽ giờ cô đã không ở đây.
Kapugen không nói gì thêm cho tới khi ông đặt tay lên nắm đấm cửa gian qanitchaq.
- Bố sẽ đi theo con - ông nói. - Con CB của bố sẽ tìm được lối đi của con và dẫn bố tới chỗ con. Nó đánh hơi rất giỏi, phải. Nó có thể ngửi thấy mùi hải cẩu cách xa bốn dặm và tìm được nó.
- Cho con hai tuần - cô nói. - Đủ thời gian để tìm được chúng.
Kapugen gật đầu lần nữa. Ông hiểu. Người ta phải kiên nhẫn với Bắc Cực.
Julie bỏ ra mấy giờ tiếp theo chuẩn bị cho chuyến đi của mình. Cô lấy thực phẩm, túi dao ulu cùng dầu cá voi, và một bộ quần áo để thay. Cô hát ư ử trong khi làm công việc chuẩn bị. Cô nhìn về phía trước khi lại được tự do đi bộ trên lãnh nguyên rộng mở. Lần này, cô sẽ đi mà không còn sợ chết đói.
Khi cô đã gói ghém hành trang xong xuôi, cô ra ngoài và ghim những bộ lông ermin trắng lên một tấm ván. Cô cẩn thận cắt thành từng dải bằng dao ulu. Cô ngồi xuống và khâu các dải da thành một tấm da đẹp duy nhất. Tất cả lớp lông bảo vệ lấp loáng nằm về một hướng. Cô dựng khối lông chồn lên và hít một hơi. Tấm vải lông chồn ermin sẽ đẹp mê hồn. Cô choàng nó quanh vai mình, rồi chạy tới chỗ gương của dì Ellen phía trên bồn rửa bát. Lớp lông màu trắng tuyết khiến làn da nâu dịu của cô rạng rỡ và đôi mắt đen của cô thêm sáng. Cô mang tấm da tới iglek và nhét vào bên dưới tấm da gấu xám. Cô sẽ hoàn thành tấm vải khi em bé chào đời. Việc đó sẽ mang lại may mắn cho em bé. Cô nằm xuống iglek và thiếp ngủ.
Nhiều giờ sau, hành lý trên vai, cô bước ra ngoài. Cô đã đọc đúng tín hiệu mây. Không khí quang đãng, trời không mây. Đường chân trời lung linh.
Ít nhất quãng thời gian ngày dài ba tháng này sẽ rất đẹp. Cô đi ra lối mòn ven sông. Ở đó cô lấy totem Amaroq ra khỏi túi và áp lên má mình. Rồi cô bắt đầu hành trình của mình.
Khi cô đến bãi quây gia súc, cô thấy Peter và gọi anh. Anh vẫy tay và chạy lại đón cô. Nụ cười rạng rỡ của anh nói rõ rằng anh rất vui được gặp cô.
- Con bê non sinh rồi - anh nói. - Lại một cô bé nữa.
Julie mỉm cười, nhưng cô không nhận xét gì. Cô chỉ có một suy nghĩ trong đầu.
- Nói lại với em xem, anh Peter Sugluk - cô nói. - Lần cuối anh nhìn thấy đàn sói ở đâu?
Peter mô tả một khúc cong trên sông và dọc bờ biển toàn đá trắng.
- Anh nhìn thấy chúng đi ở đó.
- Quanh đó có loài hoa đẹp nào không? - Cô hỏi.
- Ee-lie, để anh nghĩ xem nào, có đấy. Mà sao em hỏi vậy?
- Ánh Bạc rất thích hoa quanh hang của nó. Chúng có thể làm hang đâu đó gần hoa. Bờ sông có cao không?
- Cao đấy.
- Chúng thích làm hang trên cao để có thể nhìn ra toàn bộ vùng đất.
Peter khoanh tay trước ngực và gõ gõ đầu mình. Mắt anh lấp lánh vẻ thán phục kiến thức của cô. Rồi nét mặt anh thay đổi.
- Chú Kapugen nói gì? - Anh lo lắng hỏi.
- Nói rằng bố sẽ để em thử cứu chúng - cô trả lời. - Bố sẽ cho em thử cơ hội này. Bố sẽ phải bắn hạ chúng nếu chúng lại giết bò.
- Kế hoạch của em là gì? - Peter hỏi.
- Em sẽ đưa chúng tới chỗ tuần lộc, bất kể chúng ở đâu - cô nói.
- Em sẽ làm việc đó như thế nào? - Anh hỏi.
- Với lập luận của sói - cô trả lời.
Peter cười ngoác và thò tay vào túi áo attigi của mình.
- Cầm lấy thứ này - anh nói, trao cho cô một vật nhỏ được đẽo bằng ngà hải mã. Nó treo trên một sợi dây.
- Đẹp quá - cô nói. - Cái gì vậy?
- Một cái còi sóc đất - anh trả lời. - Anh làm đấy. Nó sẽ giúp vui cho em khi em thấy nản.
Cô lật chiếc còi trên tay, rồi choàng nó quanh cổ mình.
- Một cái còi sóc đất - cô nói, hất cằm và nhìn lên anh với đôi mắt cười vui. - Em sẽ nghĩ về anh khi em thổi còi.
- Đó chính là mục đích thật sự của nó đấy - anh nói. - Làm cho em nghĩ đến anh. - Anh khoanh tay lại. - Và em sẽ nghĩ đến anh khi em thổi còi - anh quả quyết với cô, và cười.
- Em chắc là em sẽ không thể khác được - cô nói. - Quả là một món quà thú vị. Một cái còi sóc đất.
Peter cười lớn, hàm răng trắng bóc của anh sáng lóa trên làn da nâu. Những cái đuôi chồn ermin trên đôi ủng của anh nhảy nhót.
- Lẽ ra anh sẽ đi với em - cuối cùng anh nói - nhưng bố Malek cần anh.
- Em phải đi một mình - cô nói. - Đàn sói là bạn em.
Julie nhìn phóng ra lãnh nguyên và hướng đôi ủng của cô về phía đàn sói.
Cô bước nhẹ quanh những khoảng tuyết nhỏ khi cô lần theo dòng sông Avalik tiến về phía đầu nguồn. Gót chân cô chỉ hơi chạm đất khi cô đi. Cô nhảy tránh qua những khóm anh túc và vẫy tay với con chim sẻ tuyết bay lên từ những khóm hoa.
Đi bộ một ngày qua khỏi trại vịt, Julie gặp một con chồn đang đứng trên hai chân sau, móng vuốt xếp trước ngực. Nó không còn khoác bộ lông chồn ermin mùa đông màu trắng của mình nữa, mà là một lớp lông màu nâu vàng hợp với lãnh nguyên mùa hè. Nó táo tợn chắn đường cô. Julie giậm chân dọa nó. Nó nhe hàm răng sắc ra và rít lên nhưng không bỏ chạy.
Julie tiến lại gần hơn. Khi cô còn cách nó hơn nửa mét, cô dừng lại.
- Tao là con người - cô nói. - Tại sao mày không sợ tao nhỉ? Có phải vì mày chưa bao giờ nhìn thấy người phải không?
Cô giơ hai cánh tay lên và đung đưa từ bên này sang bên kia.
- Có thấy tao rất to lớn không?
Con chồn rung rung bộ ria và vẫn chẳng nhúc nhích.
- Hãy học cách sợ những động vật hai chân đi - cô nói. - Họ bắn những con chồn nhỏ vào mùa đông và biến chúng thành những chiếc áo khoác chồn ermin lộng lẫy.
Con chồn mắt sáng, mặt nhọn vẫn đứng nguyên, cho nên cô đá cho nó một cú và đi tiếp.
Ngày hôm sau Julie đi qua một con cú tuyết nằm trên tổ. Cũng như con chồn, con chim to lớn màu trắng có đôi mắt to màu vàng chẳng hề sợ cô. Nó để mặc Julie đến gần như sát mấy con chim non còn lông tơ của nó rồi mới chịu đứng bật dậy.
Julie ngẫm nghĩ về những gì cô thấy. Các loài vật đang nói chuyện với cô. Con cú và con chồn đều nói chúng không sợ con người vì chúng hiếm khi nhìn thấy họ. Chúng nói rằng Julie đang ở thế giới hoang dã nơi con người không xuất hiện. Ở lãnh địa như thế, cô biết, chó sói Bắc Cực nuôi con của chúng.
Một con hồng tước bay lên từ một đám cỏ với một ít lông thú trong mỏ. Julie xoay nhìn quanh. Đó là lông sói. Cô nhìn xuống. Cỏ bị uốn rạp bởi những cái chân mềm, không phải móng guốc sắc. Cô đi theo cái lối mòn không dễ phát hiện ấy và đến được chỗ ngủ của một con sói. Những búi lông trong đó có màu đen. Kapu đã ở đây. Lối mòn cô đi theo là của nó. Tinh thần cô phấn chấn hẳn.
Cúi thật thấp, chú ý đến từng lá cỏ bị giẫm xuống, cô lần theo dấu chân của Kapu từ chỗ ngủ của nó đến khúc cong trên sông. Ở đó, trước mặt cô là bãi biển đá trắng mà Peter đã nói đến. Những dấu chân mất hẳn trên cuội. Cô đi tiếp ngược dòng sông. Hai vệt đi của sói xuất hiện trên bùn, rồi ba, sau đó là rất nhiều, cứ như thể đàn sói đang chơi đùa. Cô vòng qua một khúc ngoặt, và trước mặt cô là một bờ sông phủ cát rất cao. Quét nhìn một lượt thật cẩn thận, cô nhận ra một chỗ tối om - một cái hang. Ngay bên trên, một vườn anh túc vàng rập rờn trong gió.
- Đây rồi - cô nói. Cô để hành lý lên một khối cuội dưới lòng sông nơi cô có thể nhìn rõ cái hang và ngồi xuống. Suốt vài tiếng, cô ngồi im hoàn toàn, thậm chí còn không quay đầu.
Chẳng thấy gì di chuyển chỗ hang. Nhưng khắp nơi xung quanh đó có rất nhiều hoạt động. Những loài chim nhỏ của lãnh nguyên đang chăm chút tổ của chúng. Chim sẻ cựa dài và chim sẻ đất, chim hồng tước và chim choắt vỗ cánh bay lên và vọt lên bờ sông rồi lại vút nhanh xuống. Julie tiếp tục ngồi im. Kế hoạch của cô sẽ có tác dụng. Cái hang này là hang sói con, không như hang mùa hè có hai lối ra vào nơi lần đầu cô gặp Amaroq và gia đình của nó. Những con sói non của Kapu vẫn còn bé, và thế lại hay.
Rất cẩn thận, rất chậm rãi, Julie dựng chiếc lều mà cô làm từ con tuần lộc Amaroq hạ được cho cô nhiều tháng trước. Sau đó cô trải tấm da lót nền và nằm xuống đợi đàn sói của mình.
Sau nhiều giờ, cô nghe thấy có tiếng kêu ngập ngừng, rồi tiếng thút thít ai oán. Đó là Kapu. Tim cô đập nhanh hơn. Nó đi rất nhanh dọc mép nước. Bàn chân to và những cẳng chân dài của nó ướt vì nước sông hắt tới, còn thân hình màu đen của nó tạo thành một nét đậm nổi bật trên bờ cát. Nó không hề nhìn hay ngửi thấy cô. Trong tâm trí nó chỉ có một thứ - cái hang. Nó đi thẳng tới đó, đầu và đuôi vểnh cao, lớp lông lấp loáng trong ánh mặt trời, và trên mặt là nụ cười của sói. Nó là một con vật tuyệt vời.
Đuôi nó bắt đầu ve vẩy khi còn cách cửa hang mười mấy mét và không hề ngừng cho tới khi nó tới nơi. Đến đó, nó thút thít vẻ dỗ dành. Con sói trắng chui ra. Nó không phải Ánh Bạc, mẹ của Kapu. Julie biết Ánh Bạc rõ như cô biết bố Kapugen và dì Ellen. Chuyện gì đã xảy ra với Ánh Bạc? Phải chăng nó đã chết vì thiếu thức ăn trong mùa đông và mùa xuân?
Cô còn chưa kịp nghĩ thêm về chuyện này thì một con sói non lông nham nhở thò mõm ra khỏi hang và thút thít rồi chạy tới chỗ bố nó. Nó cũng đen giống như Kapu. Mõm nó ngắn và tù. Nó có bàn chân to và thân hình chũn chĩn, khiến Julie rất muốn chạy tới nhấc bổng nó lên mà ôm.
Con mẹ chào đón Kapu bằng cách liếm má nó; rồi nó đẩy con mình trở lại hang. Julie đặt tên cho con sói trắng là Aaka, tức bà mẹ. Cô đặt tên cho con sói con là Amy theo tên người bạn qua thư của cô là Amy. Cô đã trên đường tới thăm người bạn qua thư của mình thì bị lạc và cuối cùng gặp được Amaroq cùng đàn của nó trên lãnh nguyên. “Amy” cô thì thầm với mình khi nhìn con sói non láu lỉnh. Khi cô về nhà, cô sẽ viết thư cho bạn mình và kể với cô bạn rằng có một con sói con được đặt tên cô ấy. Amy giờ đã có anatiq , một vật trùng tên. Cô thích điều đó.
Kapu nhìn lên và trông về phía hang. Nó sủa tiếng kêu của loài sói giống như loài chó báo hiệu “này, xem ai đến kìa”. Julie quay đầu thật nhẹ nhàng và thấy một con sói trưởng thành thứ ba đang tong tả chạy về. Cô lập tức nhận ra Zing, cậu em trai của Kapu. Miệng nó ngậm theo một con sóc đất. Zing nhảy vọt qua đám anh túc và thả con mồi trước cửa hang, một món đồ chơi cho Amy. Suốt thời gian còn lại của mùa hè, Amy sẽ hình thành các kỹ năng của nó bằng những món quà như vậy từ lãnh nguyên.
Sự hiện diện của Zing nói cho Julie rất nhiều điều về đàn sói cũ của cô. Hoặc Ánh Bạc đã chết hoặc Kapu đã rời khỏi nó để tìm một bạn đời và đem theo người bạn và người anh em khỏe mạnh của mình, Zing. Sói cần đối tác. Một con sói không thể hạ gục con mồi lớn. Đâu đó trên lãnh nguyên trơ trụi, hai anh em đã gặp Aaka và mời nó gia nhập đàn. Julie hình dung ra trận chiến để giành nó. Trận chiến sẽ rất chóng vánh. Kapu to lớn và thông minh hơn Zing. Nó sẽ gầm gừ, nhe răng nanh ra, thậm chí ngoạm lấy khoang cổ Zing. Zing sẽ nằm ẹp xuống đất và phơi phần lông bụng màu trắng ra, đó chính là lá cờ xin hàng. Nó sẽ chấp nhận thất bại của mình, sau đó đứng lên và liếm mặt Kapu. Chúng sẽ lại là bạn bè của nhau.
Aaka và Kapu sẽ thành cặp, và cả ba sẽ tạo thành một đàn săn mồi và rong ruổi trong lãnh thổ tám mươi dặm vuông của chúng để tìm kiếm thức ăn. Con bò xạ của Kapugen là con mồi dễ hạ qua hàng rào đã bị phá đổ.
Ngay trước khi lũ sói con ra đời, cả ba con sói trưởng thành sẽ đào một cái hang ở lưng chừng bờ sông. Hang sẽ khá nông, vì sói Bắc Cực phải mất nhiều năm mới đào được một cái hang sâu trong lớp đất đóng băng vĩnh cửu cứng như đá.
Julie thắc mắc về số lượng sói non. Khi thức ăn khan hiếm, sói sẽ sinh ít con hơn; có khi chẳng sinh con nào nếu chúng đang chết đói. Cô không nghĩ năm nay sẽ có nhiều sói non, và chẳng mấy cô đã được minh chứng là mình đúng. Khi Aaka ra khỏi hang để duỗi mình và thực hiện một chuyến phóng chân cẳng cho thư giãn, Julie có thể nhìn vào tận phía sau và đáy cái hang năm đầu tiên này. Chỉ có một con sói non. Mùa đông rất khắc nghiệt với sói cũng giống như người dân làng Kangik.
Zing đến gần Aaka nhưng bị Kapu đẩy lui lại. Kapu đứng vượt trên Zing, đầu ngẩng cao, một chiếc nanh nhe ra, một biểu hiện thân thiện nhắc cho người anh em của mình rằng Aaka là bạn đời của nó. “Hãy giữ khoảng cách”, nó đang nói vậy. Zing cụp tai và đuôi rồi bỏ đi.
Gió đổi hướng, Kapu nghếch mũi về phía lòng sông. Nghiêng đầu sang một bên, nó đánh hơi. Nó lại đánh hơi. Đôi tai nó chĩa về phía trước. Nó đã ngửi thấy mùi Julie. Cô nhúc nhích và nó nhìn thấy cô. Nhất thời nó đăm đăm nhìn; sau đó, đuôi vẫy rối rít, nó vén môi như mỉm cười và cào cào hai chân trước xuống đất.
- Kapu - cô gọi - em nhớ chị mà.
Miệng hé ra, cô phát ra những tiếng ư ử để cho nó biết cô mừng biết bao vì nó không quên cô.
Kapu tung tăng chạy về phía cô, rồi dừng lại. Nó hất đầu ra sau và hú lên một giai điệu trầm bổng kéo dài bắt đầu như tiếng gầm gừ của gấu và vút lên thành tiếng gió rít. Nó đang nói rằng một thành viên của đàn ở đây. Julie hú, hòa nhịp với nó. Giờ Zing đã nhìn thấy cô và hé cái môi đen của nó phía trên một chiếc răng nanh và gầm gừ.
- Zing, chị đây mà - Julie nói, và ư ử bày tỏ rằng cô yêu quý nó.
Zing ngoáy đuôi. Nó chạy lại phía cô, nhìn thẳng vào mắt cô, nói rằng cô là gia đình nó và được chào đón.
Kapu đầy phấn khích. Nó lao vút như một con ó biển xuống bờ biển và chạy trở lại chỗ Julie. Cô ném cho nó chiếc găng tay của mình. Nó bắt lấy, lẳng lên không, và lại bắt lấy. Nó chạy thành vòng tròn và thả cái găng xuống. Julie cười và nhặt cái găng lên. Kapu chẳng hề mất đi khiếu hài hước ngay cả khi nó đã làm bố và thủ lĩnh đàn của mình.
Zing chạy vòng quanh Julie vài lần, rồi nằm xuống gần cô. Nó xoay đầu và khép hờ mắt, nói rằng mọi sự đều ổn khi có nó. Người chị em lạ mặt của nó trở lại. Kapu nằm ẹp xuống trước mặt cô và vắt chéo chân. Nó đăm đăm nhìn cái găng. Julie giấu nó đi. Kapu ngẩng đầu và dựng đứng tai chĩa về phía trước. Nó muốn cái găng. Nó nhỏm dậy và đứng vượt trên cô, cố gắng thể hiện uy thế.
Julie cười to và ném găng cho nó.
Không thấy thêm con sói trưởng thành nào gia nhập đàn, cũng chẳng thấy có thêm con sói non nào xuất hiện. Chỉ có hai con trưởng thành săn mồi, Kapu và Zing. Aaka phải bảo vệ con của mình. Câu chuyện rất rành rẽ để Julie đọc hiểu. Các thành viên khác của đàn ban đầu hoặc đã gia nhập với các đàn ở xa hoặc gây dựng đàn của riêng mình giống như Kapu. Hoặc chúng đã chết - cuộc sống của một con sói rất nguy hiểm.
Mặt trời di chuyển vòng tròn trên đỉnh thế giới hai lần, và với mỗi vòng, Julie lại dịch gần hơn tới hang sói. Kapu và Zing không bận tâm, nhưng Aaka thì có. Nó trở nên bồn chồn mỗi lần Julie nhích lên trước. Nó gầm gừ và nhe răng. Julie ném cho nó một chiếc găng, nhưng Aaka không chơi đùa. Nó đang tỏ ra là một trở ngại - nhưng nó lại là con sói quan trọng nhất trong kế hoạch của Julie. Cô phải chiếm được niềm tin của Aaka nếu cô định giúp đàn sói của mình.
Julie rất kiên nhẫn. Cô lùi lại vài thước và lặng lẽ đi theo chu trình ăn, ngủ và chờ đợi. Đến buổi sáng thứ năm, Kapu bới một chỗ ngủ cách lều của Julie khoảng hơn một mét. Nó xoay tròn rồi lại xoay tròn, và nằm xuống ngủ.
Aaka chứng kiến việc này từ lối vào hang. Sau một lúc lâu, nó lần xuống triền sông và tiến lại chỗ Kapu. Nó nằm xuống bên cạnh và gác đầu lên lưng Kapu. Nó nhìn dòng sông từ đôi mắt nâu vàng điềm tĩnh của mình. Cuối cùng, nó ngoáy tai và nhìn Julie. Julie nhìn nó. Aaka nhìn đi chỗ khác. Julie cũng nhìn đi, nhưng vẫn liếc nhìn qua khóe mắt. Rất chậm rãi, rất thận trọng, Aaka ngoái đầu và nhìn thẳng vào mắt Julie. Cô không nhìn đi chỗ khác. Tim Julie nhói lên niềm hạnh phúc. Bằng việc nhìn vào mắt cô, Aaka nói rằng nó chấp nhận Julie vào gia đình nó. Mọi việc sẽ ổn thỏa.
Kể từ lúc đó trở đi, Aaka thôi gầm gừ với Julie, và sau giấc ngủ tiếp theo Julie chuyển lều của mình gần như lên hẳn tận cửa hang sói. Aaka làm bạn với cô nhưng không để Amy ra ngoài và chơi đùa. Đó là vấn đề tiếp theo. Julie không chỉ cần tình bạn của Aaka mà cả của Amy nữa.
Suốt thời gian này, Kapu và Zing đi vắng nhiều giờ để săn sóc đất, thỏ chân tuyết, cáo, chim ptarmigan - bất cứ thứ gì chúng tìm được. Có một đợt đi săn kéo dài rất lâu, và Julie sợ rằng Kapu cùng Zing quay trở lại bãi quây gia súc để tìm bò xạ. Cô thở phào nhẹ nhõm khi chúng trở về với một con thỏ chân tuyết cho Aaka.
Nửa đêm trời có nắng, hôm sau Julie bị đánh thức bởi những tiếng rên rỉ và sủa gióng giả của đàn sói. Kapu kéo xác một con mồi về hang, và chúng đang thảo luận việc đó theo cách bí mật của chúng. Cái xác đã rất lâu và nham nhở đến mức Julie không dám chắc đó là giống gì, nhưng cô thấy khá giống một con tuần lộc non.
Cô rất mừng. Nếu có con non thì đàn tuần lộc không thể ở xa được. Đêm muộn hôm đó, khi đàn sói đã bỏ cái xác, Julie quan sát nó thật kỹ. Con vật có đeo một cái vòng phát sóng vô tuyến quanh cổ giống như cái chú Atik đã mô tả.
Cô tháo vòng và rửa sạch dưới sông. Một cái thẻ trên đó ghi: Xin hoàn trả cho Cục Thú săn và Cả Alaska, Fairbanks, AK. Cô cất vào ba lô của mình. Cô sẽ làm đúng như vậy.
Một ngày nữa trôi qua và Julie vẫn không thể tiếp cận Amy. Con sói mẹ giữ rịt con của mình ngay cả khi chính nó đã rất thoải mái với Julie. Julie tự hỏi tại sao, nhưng rồi cô nhớ rằng sói không nghĩ như con người. Chúng suy nghĩ bằng mùi và âm thanh cũng như hình ảnh. Điều này khiến chúng hoặc cắt liên hệ hoàn toàn hoặc, nếu chúng lựa chọn vậy, cảnh giác đến mức có thể cảm nhận được sự gây hấn. Cô quyết định rằng Aaka thấy cảnh giác và đã đọc được kế hoạch của cô trên nét mặt hoặc ánh mắt cô - và không thích điều đó.
Julie nghĩ cách làm bạn với Amy. Việc con sói con tin tưởng cô là điều cực kỳ cần thiết cho bước tiếp theo của cô. Cô đang suy nghĩ về những gì cần làm thì Aaka ngồi xuống cạnh cô. Julie ư ử vui vẻ với nó. Aaka cũng ư ử, rồi quay đi và nhìn về phía hang. Amy đang ngồi bên ngoài chỗ cửa hang dưới khóm anh túc. Julie kêu ư ử. Con sói non nhổm lên và chạy lại chỗ cô. Nó vớ lấy dây ủng của cô và kéo, gầm gừ vẻ hung tợn trong khi vẫy đuôi rối rít. Rồi nó nhìn Julie và lấy hai chân trước cào cào mặt đất để nói: “Mình chơi nào.” Cô rất muốn nhấc bổng con sói đáng yêu lên nhưng ánh mắt Aaka nói rằng nó chưa sẵn sàng cho việc đó.
Amy sủa giắng giả. Julie cũng sủa đáp lại. Cô chìa ra một khúc xương lấy từ xác con tuần lộc. Amy dùng răng ngoạm lấy và kéo. Nó gầm gừ vẻ khoái chí, kéo mạnh hơn, rồi buông ra. Julie ngã ngửa ra sau. Sau một màn co kéo và ném rồi nhặt khúc xương nữa, Aaka đứng lên và dẫn Amy quay lại hang. Vậy là một rào cản lớn đã được vượt qua. Julie nhắm mắt lại và thở phào nhẹ nhõm. Mọi việc đang rất tiến triển.
Ngày hôm sau khi Kapu và Zing lên đường đi săn, Aaka lại dẫn Amy tới chỗ Julie. Julie nhặt khúc xương và huơ huơ trước mặt Amy, nó ngoạm lấy và lắc lấy lắc để. Họ co kéo và đuổi nhau trong khi Aaka bước ra và duỗi mình trong nắng. Nó nhắm mắt lại để nói rằng rốt cuộc nó hoàn toàn tin tưởng Julie.
- Tao vuốt ve mày được chứ? - Julie thì thào với Amy.
Con sói non xoay đầu đầy tò mò và Julie nhẹ nhàng chìa tay rồi vùi những ngón tay mình vào lớp lông mềm. Cô gãi gãi cái đầu nhỏ bé và đôi tai nhọn. Amy nhắm mắt lại và Julie rụt tay về. Amy thúc đầu nó vào tay cô đòi gãi nữa. Julie lại âu yếm nó, rồi chìa khúc xương ra. Amy ngoạm lấy, lôi thật mạnh, và buông ra. Julie lại ngã ngửa, và lần này con sói non nhảy chồm lên người cô. Amy ăng ẳng, còn Julie cười vang, cả hai lăn lộn trên bãi cuội. Aaka chẳng hề ngẩng đầu lên.
Được một lúc, Aaka đứng lên, lắc người, duỗi mình, và ngáp. Rồi, chẳng hề nhìn lại, nó ve vẩy đuôi và chạy đi.
Aaka lao vút ra lãnh nguyên như một con chim xổng chuồng. Nó chạy thành vòng tròn, đuổi theo những hạt cói bông, rồi biến mất sau khúc quanh trên sông. Julie đứng lên, tim cô đập rộn, niềm hy vọng của cô dâng cao. Cô nhìn thấy Aaka băng mình trên lãnh nguyên lần theo dấu Kapu và Zing. Julie thấy rằng cô sắp chiến thắng. Aaka tin tưởng để cô làm người trông trẻ.
Amy chơi với khúc xương được một lúc, rồi trườn vào lòng Julie. Nó rên ư ử và Julie hát vang những bài hát của mình cho tới khi con chó con thở phào và chìm vào giấc ngủ say. Khi đó Julie bế nó lên và đưa nó trở lại hang.
Em bé của cô đã ngủ say, Julie cầm khẩu .22 và đi vào bụi cỏ. Cô sục sạo một lúc mới nhìn thấy một con chim ptarmigan và bắn nó. Đây cũng là một phần kế hoạch của cô. Khi cô trở lại hang, Amy đã thức dậy. Nó hít ngửi con chim, lắc lắc con mồi, rồi thả xuống và nhìn Julie như hỏi nó nên làm gì với con mồi.
Julie vặt lông chim và đưa cho con chó con một miếng ngon. Amy liếm liếm, rồi ngoạm lấy trong hàm răng sắc nhọn của mình và nhai nuốt. Nó quay lại xin thêm. Lần này Amy nhận cả con chim, rồi ăn sau khi đã nghiền vụn, cả xương xẩu và tất thảy, bằng hàm răng và bộ vuốt nhỏ bé nhưng rất khỏe của mình.
Con sói non quyết định để một chiếc cánh làm đồ chơi. Nó lắc cái cánh trước mặt Julie. Khi Julie chộp lấy, Amy giằng đi và chạy thành vòng tròn. Julie đánh lừa nó bằng cách chìa khúc xương tuần lộc ở một tay. Amy buông cái cánh chim để lấy khúc xương, và Julie lấy được cái cánh. Thấy thế Amy ngồi xuống. Nó sẽ không chơi nữa, thậm chí khi Julie đưa cái cánh cho nó. Suốt thời gian còn lại khi những con sói săn mồi vắng mặt, Amy phớt lờ Julie.
- Mày không thích như vậy, có phải không Amy? - Julie nói với nó. - Mày không thích bị đánh lừa. Tao xin lỗi nhé.
Để đền bù sai lầm của mình, Julie cho nó một miếng thịt tuần lộc khô. Amy nhìn qua thứ đó như thể miếng thịt chẳng hề tồn tại. Thậm chí nó dường như chẳng hề thấy Julie. Những lúc như thế này, tâm trí của con sói đi đâu nhỉ? Julie thắc mắc. Tít ra lãnh nguyên ư? Hay ra phía sông? Cô không biết nữa.
Ngày hôm sau Amy lại chơi đùa. Những gì đã hiện diện trong tâm trí sói của nó hôm qua chẳng hề hiện diện ngày hôm nay. Nó rời khỏi những con sói trưởng thành và nô đùa với Julie, nhai dây ủng của cô, vòi vĩnh được gãi và âu yếm. Khi cả hai đã thân thiết như chị em, Julie mới nhẹ nhàng, dịu dàng bế nó lên. Con sói non nép mình lại. Julie liếc nhìn Aaka. Nó nằm nghiêng hoàn toàn chẳng bận tâm. Julie vô cùng phấn khởi. Cô đưa Amy xuống sông. Kapu và Zing thức giấc, duỗi mình, ngáp, và lắc mình. Sau một tiếng tru ngắn, chúng tất tả chạy đi săn mồi. Aaka đi cùng chúng, mặc kệ Amy trên tay Julie. Julie đã là một thành viên của đàn sói.
Khi đàn sói về hang, bụng chúng tròn vo vì thức ăn và chúng ngủ một lúc lâu. Cuối cùng, khi chúng tỉnh dậy, Kapu mở màn nghi thức thủ lĩnh. Nó làm việc này vào mỗi buổi sáng của loài sói. Nó đứng vượt trên Zing, con này cúi đầu và liếm má Kapu. Rồi Kapu ngậm lấy mõm nó và lắc nhẹ. Aaka tiến lại gần, tai cụp, đầu cúi, và Kapu nghểnh đầu vượt hẳn đầu nó. Con sói cái liếm liếm nó ở dưới cằm và dọc theo cổ nó để nói rằng nó là một thủ lĩnh tuyệt vời. Kapu, như mọi con sói đầu đàn, rất cần sự cam đoan từ bầy đàn của nó. Xong việc này, nó thong thả chạy tới chỗ cao nhất trên bờ sông, tạo tư thế thật đĩnh đạc, và tru lên. Zing và Aaka cũng tru theo. Amy kêu ăng ẳng. Chúng đang hát bản nhạc của mình suốt nhiều phút. Suốt bản hòa tấu, lũ chim ồn ào im bặt còn bọn sóc đất rút xuống những đường hầm và hang ngầm chằng chịt của chúng. Khi chúng kết thúc, Zing quay sang Aaka và ngoạm lấy mõm nó để nói với nó rằng mình có địa vị cao hơn con sói cái.
Aaka nhanh chóng chấp nhận điều đó.
Buổi tối hôm đó khi những con sói săn mồi đi vắng, Julie đặt Amy vào ba lô của mình và mang nó đi dọc bờ sông để tìm một con chim khác làm thức ăn. Con sói non không hề tìm cách chui ra khỏi ba lô; thay vào đó, nó nhìn ngó thế giới xung quanh, dường như rất thích thú với chỗ ngồi trên cao của mình. Julie đi cả một quãng dài mà chẳng tìm được bất kỳ thứ gì và bắt đầu quay về hang sói thì thấy một con sóc đấu nhào xuống một trong rất nhiều lối vào thành phố ngầm của nó.
- Peter - cô nói. - Em đang nghĩ tới anh.
Rồi cô rút chiếc còi ra khỏi áo và thổi.
Eeekk-chirp. Hai con sóc đất ló đầu ra khỏi một cái hang. Cô lại thổi. Thêm ba con nữa xuất hiện. Cô càng thổi, càng có nhiều sóc xuất hiện. Amy kêu ăng ẳng và Julie đặt nó xuống đất. Cô lại thổi còi; một cái đầu nữa ló lên. Con sói non vồ tới, và tất cả đám sóc đất biến mất.
- Một món quà thật đặc biệt, anh Peter - cô nói, và cười khanh khách. - Thứ này sẽ rất có ích.
Kapu, Aaka, và Zing trở về, lần này bụng chúng trống không Julie đi tới khu vực sóc đất và thổi còi. Lũ sóc đất nhô lên. Đàn sói trông thấy, ve vẩy đuôi, và ăn ngấu nghiến.
- Ee-lie, Kapu - cô nói khi nó đã ăn no nê - đến lúc đi thôi.
Những đám mây lướt nhanh trên bầu trời màu xanh dương. Lũ chim đang bay về tổ để chăm lũ chim con đói bụng. Julie thu xếp hành trang của mình.
Cô nhấc Amy lên và đặt vào ba lô. Khi Julie lên đến đỉnh bờ sông phía trên hang sói, Aaka mở mắt ra. Julie cứ đi tiếp. Aaka đứng lên. Nó cảm nhận được một thái độ mới ở Julie. Kapu tỉnh giấc. Zing đứng lên. Tất cả đều nhìn Julie đi về phía nam cùng với Amy trong ba lô của cô. Aaka tong tả đi theo họ.
Kapu bám theo, rồi đến Zing.
Con sói non của chúng đang đi đâu đó, và chúng sẽ đi cùng nó.
Julie ngoái lại những người bạn của mình.
- Chúng ta sẽ có một chuyến đi dài tới vùng núi - cô nói. - Bọn tuần lộc ở đó. Các bạn có thể ăn no nê.
Cô đi nhanh hơn. Kapu, Aaka, và Zing cũng đi nhanh hơn.
⚝ ✽ ⚝
Mới đầu Julie nghĩ thứ ánh sáng trắng rực rỡ ở chân trời là những đám mây hắt ánh mặt trời, nhưng khi cô đi tiếp, chúng trở nên rắn chắc và cô nhận ra mình đang nhìn thấy Dãy núi Brooks hùng vĩ. Cô dừng lại để nghỉ và đón nhận cái sức mạnh tinh thần của dãy núi; rồi cô đi tiếp về phía nam theo hướng sông Colville.
Trong lúc đi, cô hát bài “Miền Viễn Bắc” và “Hạt đậu chạy lách tách!” - bài hát cô đã sáng tác năm ngoái trên lãnh nguyên. Amy và những người thân ủ rũ của nó dường như lắng nghe và mỉm cười theo lời hát của cô. Thỉnh thoảng một cái đuôi lại ve vẩy khi cô hát một nốt cao.
Cô tìm kiếm phân tuần lộc và dấu móng của chúng. Dấu móng thường là những hình bán nguyệt, bị chẻ ở giữa và dài khoảng mười phân. Móng huyền ở chân trước sẽ để lại hai chấm phía sau mỗi vệt chân. Cô không hề thấy dấu hiệu tuần lộc.
Đàn sói kiên nhẫn đi theo con sói non của mình. Chúng không bận tâm nhiều về chuyện tại sao Amy lại nằm trong ba lô. Nó vẫn trong tầm mắt, và chỉ cần có vậy là được. Chúng thong thả đi theo, vừa nhìn ngắm cảnh quan vừa hít ngửi không khí.
Thỉnh thoảng Kapu lại chạy một vòng rộng để tìm thú săn. Nó đã tới vùng đất này nhiều lần. Nó và đàn của nó, cũng như những con sói khác của Bắc Cực, biết rõ mọi hồ nước, bụi cỏ, và động vật cỡ lớn trên lãnh thổ rộng lớn của chúng. Kapu có thể kiểm tra cả một vạt lãnh nguyên rộng lớn chỉ bằng mũi của mình, vì nó có thể ngửi thấy mùi con mồi từ cách xa hơn mười dặm.
Julie rất mừng trước khứu giác thấy tất cả của Kapu. Đàn tuần lộc hẳn phải đâu đó rất gần. Một con non không đi lang thang xa khỏi mẹ nó, và cái mũi của Kapu có thể “thấy” chúng từ rất xa trước mắt cô. Cô khẩn trương đi tới.
Amy im lặng nằm trong ba lô. Con sói non đã đủ lớn để chú ý đến tiếng nói của quyền lực. Một tiếng gừ, một tiếng rít, hay một tiếng sủa gắt từ Julie, là Amy sẽ thôi tìm cách ngoi ra khỏi ba lô và nằm im.
Cái bầu đoàn kỳ lạ ấy vượt gần ba mươi dặm trong một quỹ đạo mặt trời rồi mới chịu dừng lại ngủ. Đàn sói không hề mệt mỏi, nhưng Julie thì mệt. Cô ngồi xuống một gò đất ẩm có cỏ mọc và duỗi hai chân ra. Cô nhai thịt tuần lộc khô và cảm nhận sự trường cửu của dãy núi vươn cao phía trên mình. Trong những hàng cây xanh thẫm kia là nơi trú ngụ của thế giới hoang dã. Chúng sống cuộc đời của mình ở đó, sinh sôi và cứ thế tiếp tục. Cô rất thích dãy núi.
Dưới chân cô, lũ chim nhỏ bé kêu liếp chiếp, nhào xuống và bay quanh cô, nhắc cho cô nhớ đến một trận bão tuyết. Muỗi kêu vo ve nhưng không hề đốt. Cô chẳng hề có mùi với giống muỗi to lớn Bắc Cực. Một giống muỗi nhỏ hơn sẽ gây bệnh cho cô khi cô đến Colville trừ phi cô thoa kín mình bằng dầu cá, thứ cô đã nhớ mang theo.
Julie nghỉ lại, nhưng đàn sói thì không yên. Chúng đi tới đi lui, hít ngửi và xoay xoay tai. Một lúc sau, chúng nằm xuống, tai vểnh lên.
Khi chúng có vẻ đã yên, Julie bế Amy ra khỏi ba lô và đưa nó tới chỗ Aaka để bú. Nhưng Aaka không thể cho nhiều sữa. Nó đã không được ăn no suốt nhiều tháng. Sau vài lần mút đầy khó chịu, Amy bỏ cuộc. Nó nhìn quanh tìm Kapu và rúc mũi vào khóe miệng bố để đòi thức ăn. Cái dạ dày trống rỗng. Bố nó chẳng có gì để cho nó. Amy rên rỉ đau khổ. Julie đứng lên, nạp đạn khẩu .22, và đá đám cỏ.
Cô trở lại với một con thỏ chân tuyết và đưa nó cho Aaka. Con sói cái xé con mồi và chia cho Amy. Kapu và Zing ngủ để bảo tồn năng lượng.
Julie cũng đi ngủ. Cô ngả tấm da tuần lộc của mình ra và thiếp ngủ khi chưa kịp cởi ủng. Nhiều tiếng sau, cô bị đánh thức bởi tiếng kêu ai oán của một con cắt lớn. Cô ngồi dậy. Lũ cắt ăn rất nhiều vịt và ngỗng. Vịt và ngỗng sống nhờ nước. Tiếng con cắt nói với cô rằng cô và đàn sói của mình đang ở gần sông Colville - và lũ tuần lộc.
Đột nhiên con cắt gập cánh và lao vút về phía đông. Một túm lông xoay tròn trong không trung, và Julie nhổm quỳ lên. Kapu ngẩng đầu, đánh hơi, rồi đứng hẳn lên. Nó lao vút về phía con mồi của con cắt. Con cắt đập cánh khi Kapu đến gần và bay lên, bỏ lại con ngỗng. Kapu tiến lại chỗ đó và dùng miệng ngoạm lấy. Rồi nó thả xuống và chạy trở lại chỗ nghỉ. Nó nằm xuống và liếc nhìn từng thành viên trong đàn như nói: «Tôi không lấy thứ đó - anh chị em cũng đừng lấy.»
Con cắt lượn trở lại. Nó đã nhìn thấy Kapu bỏ đi khỏi bữa ăn của nó và nằm xuống. Khi Kapu nằm im, con cắt mới đáp xuống con mồi của mình như một vì sao băng. Dùng móng vuốt chộp lấy con mồi, nó đập đôi cánh khỏe của mình và lao vút đi.
- Tại sao em lại làm vậy, Kapu? - Julie hỏi. - Tại sao em lại bỏ con ngỗng chứ? Em đâu có ăn gì suốt nhiều ngày rồi, nhưng em lại để thức ăn cho con cắt.
Mắt Kapu rất dịu dàng. Nó nhìn Julie, rồi duỗi người nằm nghiêng và nhìn bầu trời.
- Kapu - Julie thì thầm - có phải em biết những gì người Eskimo biết phải không? Có phải em để con cắt lớn ăn và sống bởi vì cộng đồng lãnh nguyên cần loài cắt phải không? Có phải đó là lý do em không cướp thức ăn của nó phải không? Chị tin là như vậy. Người già nói sói hy sinh không chỉ vì gia đình nó, mà còn vì toàn bộ môi trường.
Julie đứng lên, đặt Amy vào ba lô, và đi tiếp. Aaka theo sát phía sau cả hai. Kapu và Zing chạy vòng ra rồi quay lại chạy theo Julie, luôn luôn để con sói non trong tầm mắt, như thể lũ sói non là thứ duy nhất để đàn sói tồn tại. Và vào thời điểm này trong năm, Julie biết, đúng là như vậy. Kế hoạch của cô đã có tác dụng.
Vài tiếng sau, Julie đến chân dãy Brooks. Phía trên đầu họ, những ngọn núi đồ sộ tuyết phủ chen kín nửa bầu trời. Julie đã tới căn nhà mùa đông của một đàn tuần lộc phía tây. Cô leo lên một cái gò để nhìn quanh. Phía dưới cô là một vệt xanh ngoằn ngoèo.
- Sông Colville - cô reo to, và chạy xuống dốc để tìm tuần lộc.
Nhưng chẳng hề có dấu móng tuần lộc. Không hề có những cặp sừng như những chiếc thang móc lên bầu trời.
Cô ngồi xuống khóc, nhưng chủ yếu là suy nghĩ. Dường như chẳng có gì nhiều để tiếp tục. Nhưng cô phải làm. Cô đã ra ngoài suốt mười một đêm rồi, nhưng bò xạ của làng Kangik cũng chỉ cách đàn sói một ngày rong ruổi thôi. Cô phải đưa đàn sói tới gần Đèo Anaktuvuk, nơi chú Atik nói đã nhìn thấy tuần lộc. Con đèo còn cách gần hai trăm dặm nữa, nhưng cô phải đi. Cô bế Amy ra khỏi ba lô cho nó chạy chơi, bắn hạ một con chim ptarmigan cho con sói non, và chợp mắt một chút. Rồi cô thu dọn hành trang và đi về phía một bờ dốc đứng phía trên dòng sông.
Đàn sói đi theo con sói non. Bàn chân chúng di chuyển êm ái, chúng dường như lơ lửng trên một biển gió. Đột nhiên Kapu dừng lại. Nó đã để lại mùi trên mọt khóm cỏ, phun nước tiểu vào một cây liễu lùn, và chạy trở lại chỗ Julie. Nó cào một vệt sâu trên mặt đất. Cô nhún vai và đi tiếp. Đàn sói không đi theo. Julie kiên nhẫn phát ra những tiếng ư ử. Kapu sủa váng lên.
- Đi nào, đi nào - Julie thúc giục. Kapu tru lên và chạy theo đúng con đường nó vừa chạy. Zing cũng chạy theo đường đó và để lại mùi trên cỏ và liễu.
Aaka chạy theo vệt ấy, quay lại, và đè chân trước lên ba lô của Julie khi nó cố gắng ngoạn lấy Amy. Julie gầm gừ. Aaka thu mình lại. Julie vội vàng xin lỗi và ôm lấy con sói mẹ dịu dàng.
- Chúng ta phải đi tiếp - cô nói vẻ thúc giục, và lại đi.
Đèo Anatukvuk còn cách mười đêm nữa, và bố Kapugen có lẽ đã lên đường đi tìm cô. Ông sẽ nhanh chóng tìm ra cô nhờ con CB theo dấu cô. Cô không muốn thế. Cô phải đưa đàn sói tới một nguồn thức ăn mới trước khi cô gặp cha mình. Đầy quyết tâm, cô bế Amy ra ngoài ba lô và ôm nó trên tay khi tiến về phía đông nam.
Cô lại vượt qua cái ranh giới vô hình.
Sói Kapu sủa và đứng nguyên tại chỗ. Nó sẽ không đi theo. Zing cũng sủa, còn Aaka rên rỉ. Julie cứ đi tới. Chúng kêu ăng ẳng và gọi Amy, nhưng chúng không vượt qua ranh giới. Cứ như thể có một bức tường cỏ khổng lồ đã được dựng lên và chúng thông thể vượt qua. Chúng chạy ngược xuôi, nhưng không chạy về phía con đèo. Khi Amy tìm cách vặn vẹo chuồi khỏi tay Julie, Aaka tong tả vượt đường ranh giới vô hình để đón nó. Kapu vừa sủa vừa gầm gừ, vén môi lên để lộ ra không phải một mà cả hai chiếc răng nanh. Aaka quay lại. Nó không dám di chuyển để đón Amy nữa, mặc dù Julie càng lúc càng di chuyển xa hơn, quyết tâm buộc chúng phải đi theo.
Chúng không đi. Cả ba đứng trên gò đất nhìn cô. Rồi Kapu ngẩng đầu và tru lên một tiếng bi thương trầm trầm. Zing hòa tiếng với nó, và Aaka kêu lên một tiếng đau đớn, dịu dàng. Với đàn sói, bài ca của chúng kể về việc mất đi những thành viên yêu quý. Với Julie, nó nói về nỗi đau đớn, và cô phải quay lại chỗ chúng.
Khi cô vượt qua ranh giới vô hình, những cái đuôi vẫy rối rít và những cái lưỡi sói liếm lấy tay cô. Cô ngồi xuống và tính toán xem phải làm gì. Rồi Kapu nằm ẹp xuống và gác đầu lên hai chân trước. Nó đăm đăm nhìn về phía vùng đất trũng phía sông.
Với cách đó, cuối cùng Julie cũng nhận ra những gì ba con sói đang nói. Cái ranh giới vô hình, được đánh dấu bằng nước tiểu và những dấu móng vuốt, là nơi kết thúc lãnh thổ của đàn sói. Chỉ cần vượt một bước là chúng đã phá bỏ điều kiêng kỵ của sói. Lòng cô trĩu nặng. Cô không thể cùng đàn sói của mình tới được vùng đất của tuần lộc.
Đầy thất vọng, cô ôm lấy Amy bé bỏng, nó liếm cằm cô, rồi nhìn mẹ nó. Kapu rảo chạy một quãng ngắn và ngoạm lấy mõm Zing, rồi mõm Aaka. Chúng ve vẩy đuôi và cụp tai cùng đuôi như thể đồng ý với nó. Aaka hất đầu và xoay chuyển đôi tai. Dần dần, Julie nhận ra một thông điệp quan trọng đang được gửi đi, nhưng cô không biết đó là gì.
Và rồi chúng nói với cô. Chúng chạy lên lãnh nguyên và vút đi như những bóng chim.
- Humpf- cô nói to. - Mình lại phải trông trẻ.
Cô ôm lấy Amy bụ bẫm.
Sau khi trải tấm da tuần lộc ra, cô cùng Amy nô đùa với cỏ rồi mới cho nó một miếng thịt tuần lộc khô. Con sói non gầm gừ và ăn đầy khoan khoái. Julie nằm sấp duỗi dài.
Cằm đặt trên tay, cô ngắm nhìn dòng sông. Lãnh thổ của tuần lộc bên kia lẽ ra đã là căn nhà mới cho đàn sói của cô. Giờ không thể như vậy được. Cô không thể đưa đàn sói của mình vượt qua dòng sông. Lãnh thổ của chúng đã hết. Cô phải để chúng tùy thuộc vào số phận của chúng.
Julie chớp mắt. Có một chỗ lõm sâu trên đám rêu nước. Sức ép của một vệt chân đã ép nước bắn ra khỏi đám rêu và để lại một cái hố. Cô ngồi dậy và đi tới chỗ đó.
- Nai sừng tấm - cô nói, đứng bên trên một vệt chân độ mười phân. Vết móng guốc không xòe rộng như của tuần lộc, nhưng sắc nét và dài hơn. Cô tìm thấy nhiều vết chân hơn nữa. Chúng dẫn xuống vùng đất trũng dưới sông. Julie giơ cao hai tay đầy phấn khởi. Tuần lộc là loài lang thang di chuyển từ bắc xuống nam Alaska theo một vòng tròn khép kín khổng lồ, nhưng nai sừng tấm thì khác. Một con nai sừng tấm hiếm khi di chuyển quá tám dặm cách xa nơi sinh của nó.
- Nai sừng tấm - cô nhắc lại. - Đàn sói sẽ sống.
Nhưng nai sừng tấm sống ở vùng đất trũng dọc các con sông, và bằng cách nào đó cô phải đưa đàn sói của cô qua cái ranh giới vô hình để xuống vùng đất trũng ven sông.
Có gì đó chuyển động. Julie chăm chú nhìn sang bờ bên kia sông Colville. Phía trên những cây liễu cao ba mét, một con sói đang chạy thong thả, và Julie nhận ra tại sao đàn sói của cô không đi tiếp. Bờ sông bên kia là một đàn sói khác. Julie bất động quan sát chúng.
Thêm một con sói xám nhập bọn với con sói bạc. Nó nhấc chân để lại dấu mùi, cho thấy đó là một con đực. Cặp sói đánh hơi không khí. Gió mang mùi Julie tới chỗ chúng. Chúng ngoảnh đầu và nhìn cô, nhưng không thể xác định được vị trí của cô bằng mắt chúng. Con sói đực lại đi tiểu, sau đó thong thả chạy dọc cái đường biên giới vô hình của nó. Đường biên của nó cũng ở phía trên vùng đất của nai sừng tấm.
Chuyện gì vậy nhỉ? Julie tự hỏi. Có một đàn sói ở đằng kia và một đàn ở chỗ này và một không gian rộng lớn ở giữa nhưng chẳng có đàn nào tiến vào. Và nơi đó toàn nai sừng tấm. Cô nhớ bố Kapugen từng nói với cô rằng một số bộ lạc người da đỏ thiết lập những hành lang ở giữa các vùng lãnh thổ của họ nơi không ai có thể đi tới mà không sợ chết. Qua nhiều năm, vùng đất không người này trở thành một khu bảo tồn muông thú. Các loài động vật bị săn bắt quá nhiều sẽ rút tới hành lang an toàn và theo thời gian, phục hồi số lượng của chúng. Khi có quá nhiều hươu và nai sừng tấm đến mức các hành lang không duy trì nổi, chúng bị buộc phải chạy vào đất của người da đỏ và lại bị săn bắt. Khi người da trắng thay đổi luật đất đai, người da đỏ bị đói. Có vẻ như đàn sói cũng có những dàn xếp tương tự.
- Giờ tao phải làm gì đây? - Cô hỏi Amy, đang ngủ say trong ánh nắng.
Đầu óc Julie quay cuồng. Những con sóc đất non trồi lên, ríu rít ầm ĩ. Những con chim non chui ra khỏi tổ, tự đi kiếm thức ăn. Lũ lữ thử đẻ rất nhiều, nên đám chồn, cáo, cú, chim ưng và chim cướp biển tha hồ no nê. Những đàn ngỗng ức trắng cùng ngỗng non kêu quàng quạc dọc triền sông. Tháng Bảy, gọi là tháng Inukkukaivik) tháng các loài động vật nuôi con, đang đến với Bắc Cực.
Julie nằm xuống bên Amy và ngủ.
Nhiều tiếng sau, ba con sói trở về trông rất no nê, bụng chúng tròn vo. Amy chạy lại chỗ mẹ và rúc mõm vào khóe miệng nó, như nói: “Thức ăn, cho con thức ăn”, Aaka bèn làm vậy. Julie mỉm cười. Năm ngoái cô gần như chết đói, rồi mới học được cách xin đàn sói thức ăn. Chính Kapu đã dạy cô rằng sói bố mẹ mang thức ăn về nhà cho sói non trong bụng và rằng tất cả những gì một con sói non cần làm là rúc vào khóe miệng con sói trưởng thành và nó sẽ ọe ra.
Đàn sói duỗi mình trong ánh nắng sảng khoái. Julie mừng vì chúng đã có ăn, nhưng cô biết rõ rằng bữa ăn này chỉ là một bữa ăn nhẹ. Một con sói trưởng thành cần ngót nghét ba cân thức ăn mỗi ngày. Xương sườn của chúng bắt đầu lộ ra dưới lớp lông. Thời gian đang cạn dần.
Và đàn sói của cô không thể bắt được nai sừng tấm.
Mặt trời đang xuống thấp dần dọc đường chân trời qua mỗi buổi đêm, báo hiệu rằng bóng tối sắp trở lại Bắc Cực. Nó cũng nói lên những điều khác nữa. Ánh sáng quanh mặt trời có màu vàng đục. Julie biết rất rõ màu này. Một màn sương rất dày đang tiến dần vào từ phía bờ biển. Chẳng mấy chốc cô sẽ không thể nhìn thấy chân mình. Rõ ràng đàn sói cũng biết điều này, vì chúng ăn tất cả những gì chúng tìm được, giờ chúng đang đào chỗ cho một giấc ngủ dài.
Khi Kapu xoay tròn để nằm xuống, Julie tự hỏi không rõ nó có biết về những con sói ở bên kia sông không. Cô cần biết rõ hơn. Với tai, râu, mũi và đuôi của nó, nó liên tục giám sát đàn sói kia và thông báo hoạt động của chúng cho Zing và Aaka. Nó biết đích xác những gì đang diễn ra, và cuối cùng mới nói với Julie. Nó thôi đào chỗ ngủ và đăm đăm nhìn qua sông. Lông nó dựng đứng trên đầu và cổ, rồi dựng dọc xuống đến chót đuôi. Julie nhìn tới chỗ nó đang nhìn. Cặp sói phía xa đang nhích dần qua đường ranh giới vô hình. Vì chúng ở quá xa không nghe được Kapu tru nên nó cảnh báo chúng lùi lại bằng tai và lông cổ. Chúng nhìn thấy sự đe dọa của nó và quay lui. Đàn sói bên kia sông chui vào đám cỏ và nằm xuống.
Julie ôm gối và suy nghĩ. Một màn sương giờ đã thấy rõ phía chân trời. Màn sương âm thầm tiến về phía họ, một đợt sóng đặc quánh đang xóa nhòa cảnh vật. Nó có thể kéo dài vài ngày, thậm chí hàng tuần liền. Cô có một kế hoạch mới.
Khi đàn sói của cô ngủ hẳn, cô đứng lên. Nhón chân, cô vượt đường ranh giới vô hình và vụt chạy. Kapu lập tức đứng lên. Nó lao vút tới ranh giới của nó nhưng không phát ra một tiếng động. Trạng thái đã thay đổi theo màn hăm dọa dựng lông của Kapu.
Julie nhận thấy ở triền sông, những cây liễu và lách bị xén cụt bởi răng nai sừng tấm; dấu móng to tướng của chúng xới đất khắp mọi nơi. Lũ linh miêu thấp thoáng trong đám cỏ, và mấy phiến đá phẳng là chỗ đi vệ sinh gọn ghẽ của đàn sói.
Nhưng đàn sói của cô sẽ chết đói. Khẩu .22 của cô không thể bắn hạ một con nai sừng tấm. Sẽ chỉ kích thích nó tấn công. Bỗng nhiên cô biết mình phải làm gì. Cô phải đuổi một con nai tới chỗ đàn sói. Thậm chí chỉ một con nai sẽ giúp chúng được ăn no trong nhiều ngày, giúp cô có thời gian nghĩ một kế hoạch để phá bỏ điều cấm kỵ và đưa Kapu cùng đàn của nó tới vùng đất màu mỡ chưa có sói.
Cô đi thật khẽ. Ở cả hai bờ sông, những con sói nhìn theo cô. Đột nhiên Kapu vừa tru vừa sủa dữ dội và gay gắt - một lời cảnh báo. Julie quay lại. Một con nai sừng tấm đực đang chạy bổ xuống phía cô.
Không có chỗ để nấp. Những cây liễu nằm rải rác ở đây và không cao hơn cô bao nhiêu. Cô bị phơi mình ở mọi phía. Con nai đực đang xông tới giơ cao cặp sừng khổng lồ. Cái nọng của nó lúc lắc dưới cằm, và lòng trắng trong mắt nó ánh lên. Julie biết tốt hơn không nên quay người chạy. Với tất cả các con thú, một con vật bỏ chạy càng kích thích chúng đuổi theo. Cô không cần kích thích một cuộc tấn công.
Cô làm điều duy nhất có thể. Cô đối mặt với nó, và khi con nai khổng lồ gần như lao bổ vào cô, cô nhảy tránh sang một bên. Nó sầm sập vụt qua, không thể nhanh chóng xoay mình và húc cô. Cách độ mấy chục mét, nó chậm lại và xoay người.
Rồi nó hạ sừng xuống, cào cào móng, và lại xông tới. Tiếng ồn, Julie nghĩ, tạo ra tiếng ồn. Cô ngả đầu ra sau và hú lên. Kapu, Zing, và Aaka cùng hú theo.
Con nai dừng lại, mũi phì phì, và nhìn lên bờ dốc. Đàn sói lại hú. Nó xoay người và bỏ chạy. Giờ Julie cảm nhận được những gì tất cả những loài ăn thịt cảm thấy - ham muốn đuổi theo con vật đang bỏ chạy. Hú và hét to, cô lùa con vật to lớn ra khỏi vùng đất trũng dưới sông, chạy qua đám liễu và lên lãnh nguyên mù sương. Đàn sói truy đuổi liền.
Kế hoạch của cô đã thành công. Giờ cô phải nghĩ cách phá bỏ điều cấm kỵ. Cô không thể ở dưới vùng trũng sông suốt mùa đông để đuổi nai sừng tấm ra khỏi cái hành lang không có sói cho Kapu được.
Câu trả lời duy nhất là hợp nhất hai đàn sói làm một.
Cô cởi ủng và lội xuống dòng sông lạnh ngắt, lựa những chỗ nước nông nhất. Màn sương vẫn còn khá xa phía dòng sông. Julie tính toán rằng cô có đủ thời gian để ve vãn hai con sói và tìm hang chúng. Cô sẽ kết bạn với con sói non bên kia và mang nó xuống khu vực hành lang. Sau đó cô sẽ quay lại và đón Amy mang tới vùng đất trũng. Những con sói trưởng thành sẽ phải xuống tìm chúng. Có thể sẽ có một cuộc đánh nhau dữ dội, nhưng Kapu, cô tin chắc vậy, sẽ thắng. Điều đó sẽ khiến hai con sói mới tuân lệnh Kapu. Điều cấm kỵ sẽ bị phá bỏ. Chúng sẽ săn nai sừng tấm trong khu vực hành lang và không đến làng Kangik tìm bò xạ nữa.
Cô băng qua đám lách và liễu, vạch ra kế hoạch, thì một con sói đột ngột xuất hiện trước mặt cô.
- Ánh Bạc - Julie nói. - Ánh Bạc, là cậu rồi.
Ánh Bạc nhìn Julie và nhíu mày. Nó dường như đang nói rằng nó không ngạc nhiên trước sự hiện diện của cô, rằng nó đã biết cô đến Colville từ rất lâu rồi. Nó vẫy đuôi một lần, xoay người, và thong thả chạy đi. Julie đàng hoàng đi sau nó bằng cả bốn chi. Một con sói nữa đi cùng Ánh Bạc, và cô không muốn đe dọa nó bằng cách đi hai chân như một thợ săn. Tai Ánh Bạc xoay tròn nói cho Julie biết cô đang hành xử đúng.
Họ đi trong đám lách và liễu lùn, Ánh Bạc di chuyển như một dòng suối ngoằn ngoèo. Julie di chuyển như một vũ công Eskimo đang kể câu chuyện của một người sói sống trước khi con quạ biến cả thế giới từ bóng tối sang ánh sáng. Cô cũng thò tay vào túi và xoa xoa totem Amaroq.
Ánh Bạc dừng lại đánh hơi một vết chân sói, thong thả chạy đi vài thước, và ngồi xuống. Julie ngồi xuống và ư ử thể hiện tình cảm, cô chìa cái găng của mình ra. Mùi Kapu thấm đẫm chiếc găng, và Julie hy vọng nó sẽ cho Ánh Bạc biết rằng Kapu đang ở gần đó. Ánh Bạc đánh hơi cái găng, ngó sang bên kia sông, rồi nhìn lại cái găng. Nó chẳng hề phấn khởi trước mùi của Kapu. Julie hiểu rằng nó đã biết rất rõ con trai mình ở đó.
Họ ngồi im lặng cạnh nhau. Trong lúc Ánh Bạc dùng lưỡi liếm sạch móng vuốt của mình, Julie tìm kiếm cái hang chỗ bờ sông toàn đá. Cô chẳng tìm thấy gì, cũng không thấy con sói non nào xuất hiện. Rõ ràng Ánh Bạc và bạn đời mới của nó đã điều chỉnh trước sự khan hiếm thức ăn bằng cách không sinh con.
Đột nhiên bạn đời của Ánh Bạc đứng lên. Julie nuốt khan. Nó chỉ cách chưa đầy ba mét. Những cây liễu lùn nơi nó núp mình chỉ chạm tới cái bụng trắng của nó. Nó to lớn, thân hình nó lẳn, mặt nó đanh. Tuy nhiên, nó nhỏ con hơn Kapu. Vậy là tốt rồi. Con đầu đàn luôn là con lớn nhất. Kapu sẽ chiến thắng trận chiến giành quyền thủ lĩnh nếu cô có thể hợp nhất chúng với nhau. Julie đặt tên cho con sói kia là Xương Thô. Cô ư ử, tỏ ý thân thiện với nó. Nó phớt lờ cô bằng cách nhìn mông lung xuống phía sông.
Ánh Bạc đứng dậy và dịch thân sau nó về phía Julie, ngẩng đầu lên, và nhắm mắt lại. Julie biết nó muốn gì. Rất thận trọng cô chìa tay và gãi gãi lưng Ánh Bạc ngay phía trên đuôi, vị trí sói và chó đều rất thích được gãi. Ánh Bạc rên lên vẻ khoan khoái.
- Tớ ước rằng - Julie rầu rầu nói khi cô thúc những móng tay của mình và xoa mạnh - cậu và Kapu sẽ cùng nhau săn nai sừng tấm.
Xương Thô bước vài bước và chăm chú nhìn qua sông. Julie nhìn theo ánh mắt nó. Kapu và Zing đang đứng ngay phía sau đường biên giới vô hình. Tai và lông cổ chúng dựng đứng. Mắt chúng ghim chặt vào Xương Thô. Nó trừng mắt nhìn lại. Julie ngẫm nghĩ về một quyết định lớn đang hình thành; rồi Xương Thô đột nhiên trừng ánh mắt, xoay tai, và bước lại gần Julie hơn. Nó hít ngửi mùi cô như thể đang đọc thông điệp nào đó mà cô mang tới từ bên kia sông.
Julie tự hỏi: Phải chăng Kapu không gọi cô về vì nó đã gửi theo cô một thông điệp bằng mùi?
Xương Thô đăm đăm nhìn qua sông và phát ra những tiếng ư ử thân thiện.
Ánh Bạc nhảy vọt tới trước.
Kapu và Zing vọt qua đường biên giới vô hình và xông xuống vùng đất trũng.
Xương Thô và Ánh Bạc nhảy ùm xuống sông, khiến nước bắn cao cả mét lên không.
Bốn con gặp nhau, trao đổi tín hiệu, và đuổi theo một con nai sừng tấm mà Julie không hề nhìn thấy. Trên lãnh nguyên chỉ còn Aaka và Amy.
Con nai hiểu tiếng gọi của thần chết. Nó nhấc bộ móng guốc đồ sộ và chạy cuống cuồng, sừng và đầu ngả ra sau. Đàn sói vọt tới sườn nó. Chúng tỏa tròn ra và khép lại, bám sát con mồi không tiếng động. Kapu ra hiệu bằng mắt. Đàn sói vào vị trí để chuẩn bị hạ thủ.
Rồi Kapu dừng sững lại trên đường chạy, những con khác cũng vậy. Nó ra hiệu chấm dứt cuộc săn. Thở hổn hển, môi vén lên như cười, cả bốn con nhìn con nai một lúc, sau đó quay người và thong thả bỏ đi. Con nai chậm bước, nhìn lại, và như thể chưa có chuyện gì xảy ra, nó cúi đầu. Nó tỏ ra chẳng sợ sệt gì. Kẻ săn mồi và con mồi, qua hàng nghìn năm, dường như đều đã quen với sự sống và cái chết.
Vừa đuổi con nai sừng tấm, bốn con sói chạy xuống bờ sông toàn cuội, tai vểnh lên, đuôi vung vẩy phía sau. Chúng chạy bên nhau như thể trong vũ trụ này chẳng có gì quan trọng hơn việc chạy giỡn. Julie như rơi vào trạng thái xuất thần. Dường như chúng đang thực hiện một nghi thức của loài sói. Chúng không giết con nai, chỉ cùng đuổi theo nó. Giờ đây dường như chúng đang chạy vui, như thể đang thực hiện quy luật đầu tiên của chúng - hợp tác. Một người già từng nói với Julie việc này theo cách khác: “Tất cả chúng ta ở đây vì nhau; người Eskimo, các loài vật, dòng sông, băng, mặt trời, cây cỏ, chim chóc, và cá. Chúng ta tôn vinh sự hợp tác.” Julie cảm thấy đó chính là những gì chúng đang thực hiện.
Thông qua những tín hiệu bí ẩn nào đó, đàn sói nói với nhau chúng sẽ hợp lực và trở thành một đàn. Và, dường như với Julie, cô là sứ giả đưa tin. Làm thế nào mọi việc như vậy thì cô không biết.
Julie lội qua vùng nước lấp loáng, đi lại ủng, và bằng cả bốn chi, cô leo lên triền sông tới vùng đất vốn chỉ thuộc về Kapu và đàn của nó. Cô nhìn ra khung cảnh bằng phẳng để xác định con nai sừng tấm mà cô đuổi cho đàn sói của mình. Giờ chẳng thấy nó đâu cả. Rõ ràng nó đã bỏ xa đàn sói, vì một con nai sừng tấm luôn có thể làm được vậy. Cô chẳng bận tâm. Điều kiêng kỵ đã được phá bỏ và có đủ thức ăn cho sói ở vùng đất trũng. Cô sẵn sàng lên đường.
Aaka và Amy không nhìn cô khi cô thu dọn hành trang. Chúng đứng im nhìn theo đàn bốn con sói săn mồi phía dưới. Rồi, theo một tín hiệu nào đó từ Kapu, Aaka bước tới trước và ư ử với Amy, rồi chúng cùng thong thả chạy xuống vùng đất trũng dòng sông.
Julie nhìn sáu con sói hít ngửi và liếm nhau, ve vẩy đuôi, và thảo luận những vấn đề của sói. Xong xuôi, chúng bắt đầu dùng mũi tìm kiếm trong không khí.
- Nghi thức hay không có nghi thức - Julie nói - chúng đều đói.
Cô rút chiếc còi của Peter từ trong áo choàng parka và bước xuống triền dốc tới một cái gò trơ trụi nơi lũ sóc đất sống. Cô thổi một tiếng kêu chít chít. Một con sóc xuất hiện. Cô lại thổi. Một con nữa ló ra khỏi hang và nhìn quanh. Xương Thô lao vọt tới chỗ đó. Julie thổi thêm nhiều giai điệu. Gò đất xuất hiện nhiều sóc. Kapu nhập bọn với Xương Thô. Zing theo chân Kapu, dọa cho một con sóc chui tọt xuống lỗ. Nhưng đàn sói không bắt chúng. Chúng đùa với lũ sóc, đuổi chúng chui xuống khi Julie thổi còi gọi chúng ra. Julie cười. Đàn sói dường như cũng đang cười, khi chiếc còi cứ kêu và lũ sóc đất cứ xuất hiện. Cô tự hỏi Peter đã nghĩ ra âm điệu gì để gọi được lũ sóc bé xíu chui ra khỏi lòng đất. Rồi cô nhớ cô từng ngoáy ngoáy ngón tay hồi hè năm ngoái trên lãnh nguyên để bắt chước tín hiệu đuôi của những con sóc bé nhỏ. “Mọi việc đều ổn - xung quanh không có kẻ thù, ra ngoài đi.” Cô nhận ra rằng Peter đã tạo ra tiếng gọi của lũ sóc đất cũng báo hiệu: “Mọi việc đều ổn. Ra đi nào.”
Đột nhiên, cuộc vui kết thúc. Xương Thô ở quá gần Aaka. Kapu gầm gừ với nó. Xương Thô nhe hẳn cả răng hàm ra. Kapu nhảy bổ tới và ngoạn lấy cần cổ nó. Nó lắc lắc và nhả ra. Hai con gầm gừ khi cùng dựng bờm lông, nhe răng, và vờn vờn nhau. Đột nhiên Kapu quật Xương Thô xuống đất và đứng ưỡn người bên trên nó, im lặng nhe ra những chiếc răng nanh. Rồi nó bước lùi lại và Xương Thô khép nép đứng dậy, đầu cúi thấp hơn Kapu, đuôi nó gần như sát đất. Tai nó ép sát trên đầu. Cuộc đấu giành vị trí thủ lĩnh đã kết thúc. Kapu là thủ lĩnh của cả đàn. Màn sương phủ xuống chúng.
Cả năm con sói trưởng thành quây lại thành vòng tròn và cất tiếng tru. Amy sủa ăng ẳng. Bài hát lan qua dòng sông và dội lại từ các vách đá và dãy đồi. Bài hát tràn trề sự công bằng của trái đất. Julie cảm nhận được sự hòa hợp ấy và cũng cất tiếng hát.
Khi một trận gió lạnh thổi tan màn sương đi để vầng mặt trời lúc nửa đêm hé ra, Julie thu dọn hành trang để về nhà. Một con quạ vụt xuống từ trên trời và liều lĩnh rà sát đàn sói của cô. Nó ré lên, tiếng gọi tập hợp của giống loài nó. Không phát ra một âm thanh, trên những đôi cánh đen xòe rộng, thêm ba con quạ xuất hiện, rồi bảy con nữa.
- Những con chim khôn ngoan - Julie nói. Cô chẳng hề nhìn thấy một con quạ nào kể từ ngày đầu ra lãnh nguyên. - Chúng biết những gì sắp diễn ra.
Một con cáo đỏ xuất hiện. Nó bám theo lũ quạ, biết rằng chúng có thể tìm được thức ăn từ trên cao. Nó sẽ chia phần những gì chúng tìm được.
- Nhưng chưa có thức ăn đâu - Julie nói to, cảm thấy khó xử. Hai con nai sừng tấm đã bị truy đuổi, nhưng chưa con nào bị hạ. Lũ quạ và cáo biết điều gì đó mà cô không biết. Có lẽ, cô tự nhủ, khúc hợp xướng ấy của đàn sói nói cho cuộc sống trên lãnh nguyên biết rằng giờ chúng có năm con sói trưởng thành, chứ không chỉ ba, và chúng đã sẵn sàng săn con mồi lớn như loài sói vẫn làm.
Julie vác ba lô lên vai và rời khỏi Colville. Cô thấy hài lòng vì đàn sói của mình có đủ thú săn để sống được nhiều tháng, có lẽ cho tới khi lũ tuần lộc trở lại. Cô nhìn xuống ủng của mình, và mỉm cười, cô hướng mũi ủng về phía nhà, về phía Peter Sugluk - cô ngạc nhiên thừa nhận như vậy.