Trong thời gian gần đây, người ta đồn đại rằng ông Ba-in-đơ, sau khi đã mải mê trong lĩnh vực mà ông gọi là những tìm kiếm khoa học - triết học, thì nay lại say sưa “làm trò quỷ thuật” trong cái ông gọi là phòng thí nghiệm của mình. Nhìn bề ngoài, đó là một ông già phúc hậu, dễ gần, tầm vóc trung bình với nước da hồng hào. Thế nhưng thật ra, nói xin lỗi, đáng lẽ phải có một người nào đó bắt ông ta đình chỉ ngay cái gọi là nghiên cứu này. Stim-xơ, tài xế tắc-xi, chỉ mong muốn như vậy. Cho đến nay gã vẫn ấm ức khi nhớ lại báo chí hồi đó đã mô tả gã như một tên sát nhân cỡ lớn và gọi gã bằng cái tên giễu cợt là “con quái vật sau vô lăng”. Ngoài Ba-in-đơ, còn có hai người cứ nghe nhắc đến tên là gã lại bực mình: cô Suy-di - mà gã đã từng là người chồng chưa cưới của cô ta, và anh cảnh sát Cát-xi-di có mặt trong câu chuyện này. Toàn bộ câu chuyện bắt đầu bằng những sự kiện chẳng có gì đáng chú ý, từ những thí nghiệm của ông Ba-in-đơ. Sau khi đã làm việc suốt cả cuộc đời tại công ty năng lượng địa phương, ông về hưu và dành toàn bộ thời gian rỗi rãi để đọc sách và suy ngẫm về những điều đọc được. Ông ngốn ngấu một cách tham lam những cái khôn ngoan mà những bộ óc siêu phàm đã để lại cho nhân loại, như Kan-tơ, Lét-ních, Anh-xtanh, Ro-téc-phoc-đơ. Ông say mê tìm hiểu những ngành khoa học mà người ta đã từ lâu quên lãng. Nhưng chính ông cũng không dám đánh giá hết những kết quả ông đã đạt được. Chính xác là như vậy.
Vậy là, trong một ngày đẹp trời, ông Ba-in-đơ đáp xe tắc-xi. Stim-xơ ngồi sau tay lái, gã không biết rằng ông khách vừa làm xong các thí nghiệm và đã nắm được cách áp dụng định luật “tính thẩm thấu của một vật thể này sang vật thể khác” mà cho tới lúc đó người ta vẫn coi là một vấn đề triết học trừu tượng. Tất cả những kinh nghiệm loài người đã tích lũy được đều khẳng định rằng hai vật thể không thể chồng vào nhau một cách hoàn toàn, nghĩa là, trong một thời gian nhất định nào đó, không thể chiếm cùng một thể tích trong không gian. Nhưng ông Ba-in-đơ ngày từ đó đã cho rằng điều ấy hoàn toàn có thể xảy ra. Ông đã tìm được một phương pháp chưa ai biết tới. Ông đã tiến hành vô số thí nghiệm về vấn đề này. Ông sung sướng với những kết quả thu lượm được. Và ông đi đến nhà người bạn, ông Mac-pha-đen, để kể về phát minh mới của mình.
Vào năm giờ chiều ngày ba tháng năm 1984, đi đến góc phố, nơi đường Bli-xơ và Ken-vin giao nhau, ông Ba-in-đơ nhìn thấy một chiếc tắc-xi đỗ ở lề đường. Ép chặt một cuộn gì đó bọc trong tờ báo, ông leo lên xe, nói địa chỉ người bạn. Vì gã lái xe nhìn ông cau có, ông nhắc lại địa chỉ một lần nữa.
- Nghe rồi. Không điếc đâu - Stim-xơ càu nhàu và với bộ mặt khó thương đưa chiếc xe vào dòng xe đang chuyển động. Vải bọc đệm ghế trong xe vừa bẩn thỉu, vừa rách nát. Ghế sau bị thủng đến nỗi có lúc lò xo lòi hẳn ra và chọc vào mông khách. Nhưng ông Ba-in-đơ không hề để ý: ông nghĩ đến cái thắng lợi của mình trong cuộc tranh cãi ngày xưa với người bạn của ông. Vật chứng minh cho sự thắng lợi đó được bọc trong tờ báo nằm bình yên trên đùi ông.
Sau khi đi hết phố Vec-non, chiếc xe chạy bon bon trên đường Duy-puy. Ba-in-đơ lòng đầy hân hoan: thế là cuối cùng ông đã trả lời được câu hỏi đã bao ngày không để cho ông ăn ngon ngủ yên. Nghiên cứu về khả năng thẩm thấu của các vật thể, ông đã đụng chạm với các tài liệu nhiều lần và lần nào cũng kích thích đầu óc ông một ước muốn: áp dụng nó vào thực tế. Trình bài luận điểm của mình với Mac-pha-đen, con người có bản chất hoài nghi, ông đã nghe thấy câu trả lời: “Cực kỳ vô lý”. Ông Ba-in-đơ khẳng định rằng giải quyết được vấn đề này sẽ là thắng lợi to lớn của phương pháp tư duy nạp. Mac-pha-đen chỉ bĩu môi chế giễu. “Tôi sẽ chứng minh để bác thấy tôi đúng” - đã có lần ông Ba-in-đơ trịnh trọng tuyên bố như vậy. Chính bây giờ đây ông đang sửa soạn làm điều đó.
Phấn khởi lạ thường, ông lại mở cuộn giấy để ngắm nghía lần nữa tác phẩm của mình. Hóa ra ở bên trong là một miếng da hươu mềm hình dạng méo mó, có lẽ xưa kia nó dùng để phủ lên chiếc đi-văng trong phòng khách. Hình vẽ in trên đó, hầu như đã chẳng còn lại gì, mô tả một màn trong vở kịch “Hai-a-vát”. Hiện nay tấm da, xin lỗi, chỉ thích hợp để làm dẻ lau kính ô tô, nhưng ông Ba-in-đơ nhìn nó với vẻ trìu mến lộ liễu, vì chính nó là câu trả lời cho câu hỏi hóc búa.
Bất thình lình, một chiếc tắc-xi khác xuất hiện trước xe ông Ba-in-đơ đang đi. Để khỏi đụng vào chỗ để hành lý của chiếc xe đó, người tài xế dùng hết sức lực ấn vào pê-đan. Phanh rít lên. Bánh xe nghiến trên đường, và ông Ba-in-đơ trượt khỏi chỗ ngồi. Stim-xơ chửi rủa người lái xe kia bằng một tràng những lời lẽ thô bỉ.
- Tôi phong cho nó những cái tên xứng đáng đấy chứ? - gã nói với người khách của mình.
Không thấy có tiếng trả lời.
Quay đầu lại, gã thấy chiếc ghế sau trống không. Người khách đã “bốc hơi” tự bao giờ.
Qua khỏi ngã tư ồn ào. Stim-xơ dừng xe lại. Gã mở cửa sau, nhìn vào bên trong xe. Trên sàn cũng chẳng thấy người khách. Thay vào đó là những đồ vật sau đây trên tấm da hươu; một chiếc đồng hồ quả quít bằng vàng, một ít tiền gồm tiền bạc và tiền đồng, một con dao nhíp, một bao đựng kính bằng kim loại, chìa khóa cửa, khóa thắt lưng.
Stim-xơ tức giận: “Thằng đểu. Nó muốn quỵt tiền của mình đây mà. Dứt khoát đồng hồ này hỏng”.
Gã nhét chiếc đồng hồ và tiền vào túi, còn các thứ khác quẳng xuống đường. Stim-xơ định vứt luôn miếng da hươu. (“Lại còn cái phải gió này nữa”), nhưng chợt nhớ ra rằng, cô vợ chưa cưới của mình, Suy-di, đã bao lần chê bai “nội thất” của chiếc xe này. Lại còn bà mẹ của cô ta nữa chứ, cũng lấy quyền bà nhạc mà nhiếc móc gã mãi về chuyện ấy. Nhìn tấm da hươu đặt trên ghế sau, gã bỗng thấy nó còn tạm được việc: bịt chỗ rách cho cái lò so khỏi lòi ra.
Cảm thấy thỏa mãn, gã lái xe đến tiệm cầm đồ để bán chiếc đồng hồ, sau đó lại tiếp tục làm cái nghề cố hữu của mình là chở khách. Y như chẳng có gì xảy ra.
Khoa chân múa tay ở cạnh vỉa hè, bà mẹ Suy-di đã nhận ra chiếc tắc-xi của gã. Chửi thầm trong bụng, nhưng Stim-xơ vẫn phải ghé xe vào và mở cửa sau. Bà già đẫy đà này ì ạch leo vào xe, thở hổn hển và gieo mình xuống ghế.
- Con gái tôi nhờ bảo rằng hôm nay nó chẳng đến gặp anh được đâu . - Bà ta ra vẻ quan trọng nói.
Gã lầu bầu trong miệng:
- Hừ, lại không thể à?
- Không - Bà ta khẳng định. Cởi xong đôi giầy, nặng nề đặt lưng nằm thoải mái trên ghế sau, tỏ ý muốn được đưa về tận nhà. Trong bụng chẳng muốn một tí nào, nhưng Stim-xơ đành phải ấm ức chịu đựng. Bà ta vốn có ảnh hưởng rất lớn với con gái.
Dừng xe trước ngôi nhà quen thuộc (lúc này hẳn Suy-di vẫn chưa về), gã tài xế quay lại chào bà nhạc tương lai. Gà sững sờ. Trong xe chẳng có một ai. Trên ghế có: những đồng tiền bạc và đồng, chiếc nhẫn đính hôn, hộp đựng sáp bôi môi, ghim băng gài cooc-sê, trâm cài đầu, vài thứ đồ nữ trang rẻ tiền sáng lấp lánh.
Trên sàn xe còn trơ trọi đôi giày ngoại cỡ.
Từ miệng Stim-xơ phát ra những tiếng chửi rủa khàn khàn. Đờ đẫn nhìn quanh, gã nuốt khan không khí, rồi lại mở máy, tăng ga lái xe đi theo bản năng.
Những chuyện bất thường hôm nay cứ phảng phất một cái gì đó ma quái. Stim-xơ dừng xe lại và thận trọng xem xét chiếc xe. Tấm da hươu phủ trên mặt ghế nom cũng khá nổi. Ngoài nó và những đồ vật đã nói trên, trong xe chẳng còn gì nữa. Sàn xe không có lấy một lỗ nhỏ nào để có thể nói bừa rằng bà mẹ Suy-di chui qua đó. Có đi nữa, bà cũng chẳng dám rời khỏi xe lúc xe đang chạy. Mà dù dám, đời nào bà già hà tiện này lại bỏ lại đôi giày còn mới đến thế. Gã lái xe tắc-xi tin chắc rằng có một sức mạnh bí hiểm nào đó, không thể giải thích được, đã can thiệp vào việc làm của gã.
Để khỏi phải nghĩ ngợi, Stim-xơ ghé vào quán và làm mấy vại bia. Chẳng phải là nhà trí thức, những gì phải suy nghĩ chút ít cũng đủ làm gã đau đầu. Gã không thể gặp ai để nhận vài lời khuyên bảo; ai lại tin gã về những câu chuyện khó tin như thế?
- Mình chẳng có tội lỗi gì hết - gã vừa lầm bầm vừa nhìn vào vại bia vàng sánh - Chẳng có tội gì hết. Có thế thôi. Nhưng liệu Suy-di có tin mình không nhỉ? Đành phải bảo là hôm nay không gặp bà mẹ cô ta. Không gặp. Có thế thôi.
Chỉ nghĩ có bấy nhiêu nhưng, cũng chiếm của gã khá nhiều thời giờ. Khi Stim-xơ lái xe ra phố đông thì đã gần chín giờ tối. Chín rưỡi, gã dừng xe lại khi cột tín hiệu bật đèn đỏ ở ngã tư đại lộ E-vec-xơ. Một người gọi xe, mở cửa sau và leo lên.
- Này, ai cho anh lên xe đấy? Tôi không chở khách nữa đâu.
Thay cho câu trả lời, một vật lạnh và cứng đã dí sát vào lưng gã. Một giọng nói đầy đe dọa ghé sát vào tai:
- Ngồi yên, anh bạn. Đừng nghĩ đến chuyện hô hoán. Đừng quay lại nhìn.
Đèn đỏ đã chuyển sang xanh. Ngay lúc đó, Stim-xơ thấy tiếng kêu cứu “Kẻ cướp! Bắt lấy chúng”. Gã buộc phải tăng tốc độ vì vật kim loại lạnh ngắt ngày càng ấn mạnh vào lưng. Gã hoàn toàn không dám nghĩ đến việc chống cự. Sau khi đi một quãng đường khá xa, gã mới đánh bạo hỏi:
- Lái đi đâu?
Không thấy trả lời, Stim-xơ cho xe đi chậm và quay lại nhìn.
Trong xe chẳng có ai hết.
Mở cửa sau, Stim-xơ nhìn lên tấm da hươu: một súng lục, một chiếc bình bằng bạc, hơn ba mươi cái đồng hồ, ba mươi tư chiếc nhẫn vàng.
Lúc này thì hoảng sợ thực sự, gã tài xế ngồi sau vô lăng và lái về nhà. Dừng xe ở sân, gã bước vào nhà với đầu óc nặng nề.
Sáng ra, một hồi chuông điện thoại đánh thức Stim-xơ dậy. Nhấc ống lên, gã nghe Suy-di nức nở báo cho gã biết mẹ cô đêm qua không thấy về, cũng chẳng gọi điện thoại. Ngoài phố mưa như trút.
- Anh cũng không gặp mẹ - Stim-xơ lúng túng ngắt lời - Mà tại sao em không đến chỗ hẹn?
Suy-di vẫn thổn thức và nói rằng đã nhờ Cat-xi-di đi dò hỏi hộ và anh ta cho biết không thấy có tên mẹ cô trong số những người gặp tai nạn. Suy-di cũng nhờ Stim-xơ đi tìm xem có cái gì xảy ra với mẹ mình không.
Nhưng Stim-xơ chẳng phải là một thằng ngốc để bị dây dưa vào chuyện ấy, chỉ thoáng nghĩ đến ngày hôm qua đã đủ làm gã phát nhức đầu.
- Nghe anh nói đây, Suy-di. Anh cần phải đi kiếm tiền để còn lo liệu đám cưới của chúng mình chứ. Mưa lại đang tầm tã, anh biết tìm mẹ ở đâu? Tự cụ khắc lần về thôi. Chắc chỉ chơi bời quanh đây chứ đi đâu.
Khi gã ra đến đường, mưa làm thành một bức tường dày đặc. Thời tiết này tha hồ mà kiếm tiền, vậy mà Stim-xơ vẫn không cảm thấy vui lên chút nào. Xem xét lại xe, gã thấy nó đã sạch bóng, không còn lại một tang chứng gì. Lúc này đã chín giờ sáng.
Đến mười rưỡi, chẳng phải chỉ lưng mà toàn thân Stim-xơ ướt đẫm. Đâu phải vì mưa. Vì sợ. Hết người khách này đến người khách khác, leo lên xe, nói địa chỉ, ngồi yên trong xe và đi. Rồi sau đó, lại biến đâu mất. Chẳng hiểu theo hướng nào. Không biết vì nguyên nhân gì.
Đến mười một giờ, qua làn mưa, Stim-xơ trông thấy Cát-xi-di đang làm nhiệm vụ. Thấy chiếc xe quen thuộc, người cảnh sát ra hiệu cho gã dừng lại. Stim-xơ hất hàm về phía ghế sau, ý nói đang có khách và phóng vụt qua làm vũng nước bắn tung tóe. Gã về thẳng nhà. Bây giờ đâu phải lúc để cảnh sát ngồi kè kè bên cạnh. Nhìn quanh, Stim-xơ đưa xe vào sân và kiểm tra lại: bốn chiếc va li, một cái ví, ba đôi giày phụ nữ, một bó hoa hồng đỏ rực rỡ, một con gà làm sẵn. Gã móc túi đặt vào ngăn kéo bàn mười sáu cái đồng hồ, vừa nam vừa nữ, bốn cái nhẫn, mười một chiếc vòng đeo tay, mười chiếc kẹp tóc và kim băng.
Cất xong chừng ấy “chiến lợi phẩm”, gã bỗng thấy bực mình:
- Ma quỷ nào xui khiến thằng Cát-xi-di dẫn xác đến thế không biết - gã nhìn chiếc va li, cằn nhằn - Chắc nó tưởng rằng mình làm thịt con mụ béo hôm qua đấy thôi.
Giận quá, Stim-xơ cho xe chạy đi ngay tìm viên cảnh sát. Trông giống như một nhân viên giữ trật tự, trong chiếc áo loang loáng nước mưa, nét mặt Stim-xơ méo xệch. Gã phanh xe lại. Cát-xi-di đành phải kể cho gã biết Suy-di đang lo điên người lên và hỏi gã tài xế hôm qua có gặp bà mẹ cô gái này không?
Stim-xơ gắt gỏng:
- Tôi đã bảo cô ấy rằng tôi không gặp, mặc dù bà già lắm điều ấy không bỏ lỡ một dịp nào để nguyền rủa tôi. Anh cho rằng tôi ăn thịt bà ấy chắc?
Cát-xi-di không trả lời. Mà cần gì phải trả lời những câu hỏi đại loại như thế?
Suốt buổi chiều, từng ấy sự việc lại diễn ra: khách lên xe, nói địa chỉ rồi lại biến đi như trong giấc mơ, để lại trên ghế một vài thứ đồ gì đó. Có điều những thứ ấy dù đã cũ hoặc đang dùng dở nhưng bao giờ cũng đáng tiền hợp số tiền họ phải trả. Chán ngấy với cái trò đùa dai dẳng này, đến cuối cùng, Stim-xơ cảm thấy ghét cay ghét đắng tất cả khách hàng của mình. Gã mệt nhoài khi mang những chiếc va li và ví tiền vào nhà.
Buổi tối, Stim-xơ gọi điện thoại cho Suy-di và hỏi bà mẹ cô ta đã về chưa. Chưa, vẫn chưa về. Chẳng để ý gì đến nỗi đau khổ của Suy-di, gã mời cô cùng đi giải trí ở một tiệm nào đó. Cô gái giận sôi lên, mắng cho gã một trận bằng những lời nặng nề khiến gã lại phải nghĩ đến những chuyện xảy ra. Làm thế nào bây giờ nhỉ? Hay là vứt luôn chiếc xe đáng nguyền rủa này đi? Ý nghĩ đó đủ làm gã hoảng sợ. Không được. Sẽ chết đói mất. Đó không phải cách giải quyết vấn đề.
Stim-xơ không thể tìm ra nguyên nhân sự xúi quẩy bí ẩn này. Gã quên luôn cái điều có thể là chìa khóa để tìm hiểu điều bí mật: đó là sự biến mất đầu tiên của ông Ba-in-đơ. Biến đi rồi, ông ta để lại miếng da hươu trải trên ghế để “hút” tất cả hành khách, chỉ “bỏ quên” lại những đồ vật bằng kim loại. Mà dù có biết vậy Stim-xơ cũng không thể đoán ra. Phải rồi, chính gã đã hoàn toàn quên cái ông Ba-in-đơ ấy.
Sang đến ngày thứ ba, người ta vẫn không tìm thấy bà mẹ của Suy-di. Do đó Suy-di tự nhiên thấy ác cảm với người chồng tương lai một cách khó giải thích. Theo lời cô, Stim-xơ đã không hề quan tâm đến việc mẹ cô mất tích. Suy-di đã nói tất cả với Cat-xi-di. Liên hệ với Phòng ghi nhận tai nạn, Cat-xi-di ngạc nhiên khi biết trong thời gian gần đây, số người trong thành phố bị mất tích tăng lên một cách rõ rệt. Cat-xi-di tự thấy mình có nhiệm vụ khám phá bí mật này. Anh cho rằng cần bắt đầu từ vụ bà mẹ Suy-di, và thế là anh liền theo dõi Stim-xơ.
Vào cuối ngày thứ tư, Stim-xơ thấy một bài tường thuật với nhan đề “52 người bị mất tích! Ai bắt cóc họ?” đăng trên các báo chí.
Báo chí vạch rõ rằng tất cả những người bị mất tích bí ẩn đều đáp xe tắc-xi. Do đó thân nhân của những người bị nạn đề nghị cảnh sát cần phải áp dụng các biện pháp kiên quyết nhất: tạm giữ và tham vấn các tài xế tắc-xi. Đọc xong, Stim-xơ rất bực bội.
Họ muốn gì thế này? Thẩm vấn à? Họ muốn gây sự với mình chắc?
Xé vụn tờ báo, gã đi lại nơi đỗ xe của mình. Mới qua vài phố; một người đàn ông đẫy đà, đã đứng tuổi, thở khò khè dừng xe gã lại. Sau khi ngồi đàng hoàng, ông ta mở tờ báo buổi chiều, hỏi gã bằng một vẻ sợ hãi giả tạo:
- Tôi hy vọng rằng ông không phải là “con quái vật sau vô lăng” chứ?
Stim-xơ giật mạch cần chuyển tốc độ cho xe chồm lên và phóng như điên trên đường phố. Gã đang ở trong cơn giận dữ đến cực điểm. Đã chín giờ năm mươi phút tối. Ánh sáng đủ màu sắc từ các tủ kính của những gian hàng chiếu qua xe làm nét mặt gã trở nên dữ tợn. Đến một ngã tư, gặp đèn đỏ, xe của Stim-xơ phải dừng lại. Từ phía sau, một chiếc xe tuần tra của cảnh sát cũng đỗ ngay bên cạnh. “Chính hắn đây rồi,” - Cat-xi-di nói với người lái xe của mình, mở cửa bước ra và nhòm vào cửa kính xe Stim-xơ.
Stim-xơ giật mình. Bất giác gã quay lại nhìn ông khách to béo vừa rồi. Cũng như những trường hợp khác, ông ta đã biến đi đâu mất. Trên miếng da hươu có: một chiếc máy nghe cho người điếc, đồng hồ, bút máy, những đồng tiền bạc, mấy chiếc khuy quần, vài cái răng vàng giả, khóa thắt lưng.
Cat-xi-di không đợi mời, ngồi ngay sau lưng Stim-xơ. Anh ra lệnh:
- Về đồn cảnh sát. Tao theo dõi mày đã mấy hôm nay. Đừng nghĩ là trốn được khỏi tay tao.
Stim-xơ suýt nữa thì chết nghẹn vì phẫn nộ. Sao lại bất công như vậy. Nhưng dù sao cũng phải về sở cảnh sát thôi. Chiếc xe đi tuần đang theo dõi gã từng bước.
Mãi sau Stim-xơ mới uất ức kêu lên:
- Tôi có tội gì mà anh bắt tôi?
Nhưng không thấy trả lời nữa.
*
Lúc này, sau một thời gian nhất định, mặc dù chưa hoàn toàn bình tĩnh, Stim-xơ đã khai thật tất cả những gì xảy ra trong mấy ngày qua. Người ta đã khám xét kỹ càng căn hộ của gã. Cảnh sát đã phát hiện ra những đồ vật rõ ràng là của những người bị mất tích. Trong số những đồ vật đó còn được bổ sung thêm khẩu súng lục của Cát-xi-di, cái còi của anh ta, huy hiệu cảnh sát, đôi còng khóa tay, quân hàm và một vài dụng cụ chuyên dùng của cảnh sát. Những thứ này được đặt trong một tủ kính để tưởng niệm người cảnh sát tận tụy đã đột ngột hy sinh.Stim-xơ bỗng trở nên nổi tiếng. Cả nước điều biết đến gã: “Tên giết người bí mật”. “Con quái vật sau vô lăng”.
Thế là gã lái xe Stim-xơ bị đưa ra tòa, với tội trạng giết bảy mươi mốt người, lẽ ra là bảy mươi hai, vì người ta chưa kể đến chính ông Ba-in-đơ. Mặc dù có tiếng kêu phản kháng tuyệt vọng của bị cáo, người ta vẫn tống gã vào tù, không ai có quyền bảo lãnh.
Báo chí làm rùm beng, thêu dệt mọi chuyện giật gân xung quanh cá nhân Stim-xơ.
Nhưng rồi vụ án được lật ngược trở lại một cách bất ngờ. Anh chàng Cát-xi-di khập khà khập khiễng bước vào sở cảnh sát. Anh ta kể lại rằng chẳng hiểu vì sao anh ta bị bay ra khỏi chiếc xe tắc xi khi xe đang chạy về sở. Sau khi hoàn hồn, anh mới phát hiện ra là đã mất quân hàm, còi, khẩu súng, khóa tay và các đồ vật khác. Nhấc chân khỏi mặt đất, anh thấy ủng chẳng còn một chiếc đinh nào bị rời ra từng mảnh. Anh cho rằng cần phải viết điều này vào báo cáo.
Vài giờ sau, tại một khu phố, người ta tìm thấy người đàn ông to béo đã đứng tuổi, nằm trên vỉa hè hầu như chẳng có dấu hiệu nào của sự sống. Ông ta kể lại rằng ông ta đã đùa cợt với anh tài xế khiến anh này nổi giận, quẳng ông xuống đường. Trong túi ông bị mất chiếc máy nghe, bút máy, đồng hồ, và khuy quần cũng rơi đâu mất cả.
Cứ thế, trong một thời gian ngắn, lần lượt xuất hiện những nạn nhân của “con quái vật sau vô lăng”, người nào người nấy đều lôi thôi lếch thếch. Chẳng ai nghĩ là mình đã được mọi người tìm kiếm lâu dài: “Tôi ngồi vào tắc-xi, rồi từ đó bị quẳng ra ngoài. Tôi đành phải đến sở cảnh sát để thuật lại về việc đã bị lăng mạ như thế nào”. Trong bốn giờ, xuất hiện chín trong số những người “mất tích” năm ngày về trước, trong sáu giờ, xuất hiện thêm mười lăm người biến mất sáu hoặc bảy ngày về trước. Một ngày sau “tìm” thêm 59 người. Khi đối chứng với Stim-xơ, người nào cũng khẳng định rằng chính gã có lỗi trong tai nạn của họ.
Tỏ ra sáng suốt, cảnh sát nhận định: Những người mất tích càng muộn bao nhiêu thì xuất hiện càng sớm bấy nhiêu. Khi cái bà già béo tròn, mẹ cô Suy-di nổi cơn tam bành bước vào sở cảnh sát, kêu ầm lên là thằng Stim-xơ khốn kiếp ăn cắp của bà một cái nhẫn rất quý, đôi giày còn mới nguyên, lại giật cả cái kim băng cài cooc-sê nữa, thì mọi người đều biết rõ là vụ lộn xộn này sắp đến hồi kết thúc.
Nhưng sự kết thúc không đơn giản. Ông Ba-in-đơ tỉnh dậy ở ngay giữa đường, nơi xe cộ nườm nượp chạy qua. Ông nhớ lại rằng chiều ngày ba tháng năm, vào khoảng năm giờ, ông đi đến nhà ông Mac-pha-đen. Lúc ông tỉnh dậy thành phố đã vào đêm. Túi ông không còn đồng hồ, mấy thứ vặt vãnh, và quần cũng bị tụt. Ba-in-đơ mò về nhà mình, cách đấy chừng hai ngã tư. Nhặt tờ báo người ta gài qua cửa, ông mới ngạc nhiên nhận thấy rằng đã là mười bốn tháng năm. Trong tờ báo này có bài tường thuật về sự kiện những ngày qua.
Ông Ba-in-đơ pha một ấm trà khá đặc, rót vào tách và bắt đầu tập trung suy nghĩ. Ông nhớ rằng mình đã đi khỏi nhà, ngồi vào tắc-xi và sau khi mở cuộn giấy ra, trìu mến ngậm miếng da hươu. Chính miếng da này đã giúp ông chứng minh tính chất thẩm thấu của các vật thể trong thực tế.
Dựa vào những tri thức kỹ thuật và thực nghiệm, ông Ba-in-đơ có thể giải thích vấn đề cho mọi người không chút khó khăn. Nhưng sự việc này không phải chỉ đáng chú ý theo quan điểm khoa học, mà chúng còn rất đáng chú ý cả về mặt pháp lý nữa. Bảy mươi mốt người đều có quyền đưa ông ra tòa. Nghĩ đến đấy, ông giật nảy mình. Ông quyết định ngậm miệng, chẳng hé răng với bất cứ ai.
Ngay hôm sau, ông đến thăm ông Mac-pha-đen. Ông này mừng rỡ thốt lên:
- Trời đất ơi. Bác vẫn sống thật đấy ư? Tôi đọc báo thấy nói bác là vật hy sinh đầu tiên của “con quái vật sau vô lăng” cơ mà? Bác mất tích ở đâu thế?
- Để yên tôi kể cho mà nghe.
Ông Ba-in-đơ tường thuật lại cho ông bạn toàn bộ sự việc, vạch rõ những điều bí hiểm của sự thẩm thấu của vật thể này qua vật thể khác.
Ông bảo, những nguyên tử cấu tạo nên những vật thể rắn nhất rất nhỏ, nhưng khoảng cách giữa chúng lại tương đối lớn. Nói cách khác, giữa các nguyên tử của bất kỳ chất rắn nào cũng có những khoảng trống, khác nào một đám mây: vẫn có thể để cho những nơ-tơ-rôn và tia vũ trụ xuyên qua một cách tự do. Thế nhưng hai đám mây không thể xuyên qua nhau giống như hai vật thể rắn. Những nguyên tử của đám mây không bay tản mát khắp nơi vì chúng bị “treo lơ lửng” trong những tiểu phân không khí. Trong khi đó, những nguyên tử chất rắn lại liên kết chặt chẽ với nhau nhờ trường điện tử do từng nguyên tử tạo ra. Nếu như có cách nào khử được khả năng chống đối của nó trong trường hợp, thì trong cấu tạo chất rắn sẽ xuất hiện vô số những khoảng trống mà qua đó một vật thể khác kém rắn hơn có thể thấm vào.
- Chính tôi cố gắng tiến hành những thí nghiệm của mình theo chiều hướng này - ông Ba-in-đơ nói tiếp - Triệt tiêu được hoàn toàn tính kháng trở của trường ngăn cản sự xâm nhập của các vật thể khác là điều tôi chưa làm được, nhưng tôi đã thành công khá dễ dàng trong việc trung hòa nó. Tôi đã tìm cách xử lý được một tấm da hươu bằng phương pháp đặc biệt khiến nó có khả năng xô đẩy qua nó hầu như tất cả mọi vật. Nói “hầu như” là vì những đồ vật bằng kim loại vẫn chưa “tuân lệnh” tôi, chúng cứ ở ỳ tại chỗ. Vào ngày hôm đó, ngày mồng ba tháng năm, tôi định đến bác để chứng minh điều này.
- Thôi được rồi. Và từ đấy bác mất tích đi đâu? Nếu như tin vào những điều đó...
- Thì tôi đang kể đây. Bác biết đấy, điện từ trường giữ từng nguyên tử một ở vị trí của mình nhờ các lực tác dụng tương hỗ theo ba chiều thẳng góc với nhau: chiều ngang, chiều dọc và chiều cao. Nếu ta “nhét” một nguyên tử “lạ” vào giữa chúng, thì lập tức trường sẽ đẩy bật nguyên tử này ra. Khi tôi trung hòa được các lực ấy, chúng vẫn tiếp tục đẩy bằng tác dụng theo những hướng thẳng góc với nhau, buộc nguyên tử này chuyển động theo một hướng mới.
- Theo hướng mới? Nhưng thực ra đó đã là chiều thứ tư.
- Đó cũng là chiều thứ tư, nhưng hoàn toàn bất ngờ: chiều thời gian. Khi tôi ngã lên tấm da hươu. Những nguyên tử của tấm da này tác dụng lên những nguyên tử tạo ra chính bản thân tôi, buộc tôi phải chuyển động trong thời gian. Chúng ném tôi về phía trước, vào ngày thứ 12 kể từ lúc đó. Đối với bác, cũng như những người khác, ngày ấy chính là ngày hôm nay.
Những nguyên tử các chất được xử lý theo phương pháp của tôi sẽ dần dần mất đi các tính chất của chúng. Cho nên càng ngày, chúng gửi những người khác vào khoảng cách thời gian càng ngắn hơn. Nhận định theo những thông tin trên báo chí, những người “làm vật thử nghiệm” cuối cùng là vào ngày hôm kia. Có lẽ là lúc này đây, những nguyên tử của tấm da hươu đã trở lại trạng thái như trước kia và không để người lọt qua nữa.
- Bác nghĩ thế à?
- Tôi e chính là như vậy đấy. Tất nhiên là tôi có thể khôi phục lại hoàn toàn tính thẩm thấu của nó, nhưng nào có ích gì trong thực tế? Tốt hơn hết là tôi tập trung nghiên cứu phép phân thân…
- Phép phân thân? Lại còn trò gì nữa đây?
- Bác hiểu không - ông Ba-in-đơ nói với giọng sôi nổi - có một quan điểm triết học, cho rằng cùng một đối tượng có khả năng có mặt (tồn tại) đồng thời ở nhiều vị trí khác nhau. Bác thử tưởng tượng xem, nếu tôi tìm cách đưa khả năng ấy vào thực tế thì sẽ thú vị biết chừng nào!
QUỐC TUẤN dịch