Người ta kể lại rằng vào năm 1952, lúc thế giới đang trong cơn khủng hoảng về chiến tranh lạnh - một việc phi lý nhất của thế kỷ 20 - giáo sư Béc-nơ đã nhắc lại trước một cử tọa đông đúc câu nói hài hước không lấy gì làm vui của nhà bác học nổi tiếng Anh-xtanh: “Nếu trong chiến tranh thế giới thứ ba người ta dám dùng bom nguyên tử, thì trong chiến tranh thế giới thứ tư, người ta sẽ đánh nhau bằng chùy”.
Người đương thời đã mệnh danh cho giáo sư Béc-nơ là “Nhà bác học thông thái nhất của thế kỷ 20”, cho nên lời nói của ông ta không có ngụ ý gì đùa cợt. Thư từ các nơi gửi đến tới tấp. Điều đáng tiếc là nhà bác học không trả lời được: mùa thu năm đó, ông đã hy sinh trong khi đang tiến hành đợt nghiên cứu vật lý địa cầu tại Trung Á.
Ít lâu sau, đồng đội của ông là kỹ sư Ni-may-e còn sống sót, kể lại rằng:
- Từ căn cứ đóng trại lúc đó, chúng tôi phải dùng máy bay lên thẳng chở hết trang bị vào sâu trong sa mạc Gô-bi. Giáo sư đi trước mang theo máy móc và chất nổ để nghiên cứu về động đất, còn tôi ở lại trông phần trang bị còn lại. Khi cất cánh động cơ đã bị trục trặc; lên cao đến khoảng 100 mét, máy ngừng hẳn và chiếc trực thăng đã rơi thẳng xuống đất, nổ tan tành không còn một mảnh nào nguyên vẹn. Giáo sư đã biến thành bụi...
Đó là nguyên văn câu chuyện Ni-may-e kể lại cho các nhà báo đang vây kín lấy mình. Các chuyên gia đều cho rằng chuyện đó có thể xảy ra lắm, vì trong không khí loãng và quá nóng ở sa mạc tại vùng núi cao, việc trực thăng rơi nhanh hơn bình thường không có gì là đáng ngạc nhiên. Do rơi quá mạnh, máy bay lên thẳng đã nổ, đem lại những hậu quả bi đát. Đoàn điều tra đến tại chỗ đã xác nhận việc giải thích này.
*
Chỉ có một mình Ni-may-e biết đúng sự thật: sự việc xảy ra khác hẳn. Nhưng ngay cả lúc sắp chết, ông vẫn không tiết lộ điều bí mật của giáo sư Béc-nơ.
Phần sa mạc Gô-bi này không khác gì những miền lân cận. Khắp nơi cũng vẫn đều đều những đụn cát như sóng biển bỗng nhiên trở nên bất động lúc đợt gió cuối cùng đã dồn mặt nước lên nhấp nhô, cũng vẫn thứ cát vàng sào sạo dưới bước chân hay giữa hai hàm răng, cũng vẫn mặt trời chói chang ban ngày, rực hồng lúc chiều đến, và vạch lên bầu trời một quỹ đạo gần như vuông góc với mặt đất không bóng cây, không chim chóc, không một gợn mây và không có cả một hòn sỏi trong cát.
Ngay sau khi đến, lúc họ tìm ra cái giếng đã đào trong lần thám hiểm trước, giáo sư đốt luôn trang sổ tay có ghi tọa độ của địa điểm. Và bây giờ chỉ có sự hiện diện của hai người mới đánh dấu điểm này trên sa mạc. Họ ngồi trên ghế xếp ngay cạnh lều vải. Gần đấy, chiếc trực thăng trông như một chú chuồn chuồn khổng lồ đỏ trên cát, thân và chong chóng phát ra những ánh bạc. Dưới những tia nắng chiều chiếu xiên, sát mặt cát, chiếc lều vải và chiếc máy bay in lên các đụn cát những bóng râm kỳ dị.
Béc-nơ nói với Ni-may-e:
- Một thầy thuốc trung cổ có đề xuất một phương pháp rất đơn giản để kéo dài đời sống vô thời hạn. Chỉ cần tự làm lạnh đông và có thể ở nguyên như thế 90 hoặc 100 năm trong hang ở một nơi nào đấy. Sau đó ta lại có thể tự sưởi ấm lên, hồi tỉnh lại, rồi lại tiếp tục như vậy cho đến những thời đại tươi đẹp hơn. Thật ra thì người ta cũng thắc mắc là tại sao người thầy thuốc đó không thử sống thêm độ một nghìn năm nữa mà lại chết bình thường vào khoảng sáu mươi tuổi.
Béc-nơ chớp mắt với một nụ cười, xoi chiếc tẩu thuốc lá và cắm một điếu thuốc mới vào, nói tiếp:
- Thời trung cổ... Thế kỷ 20 không tưởng tượng nổi chúng ta đang thực hiện những ý nghĩ ngông cuồng nhất của thời đó. Chất ra-đi đã trở thành viên đá mầu nhiệm có thể biến thủy ngân hoặc chì thành vàng. Chúng ta chưa tạo ra được động cơ vĩnh cửu vì điều đó trái với quy luật tự nhiên, nhưng chúng ta đã tìm ra những nguồn năng lượng nguyên tử tự mình tái tạo... Một ý nghĩ khác: năm 1666, gần như toàn châu Âu đón chờ ngày tận thế. Nguyên nhân đó là ý nghĩa huyền dịch của con số “666” và lòng tin mù quáng vào tập Tân kinh. Nhưng bây giờ, ý nghĩ về ngày tận thế có cơ sở vững chắc. Đó là bom nguyên tử và khinh khí... Tôi đang nói về sự đông lạnh... Ý nghĩ ngây ngô của người thầy thuốc trung cổ ngày nay đã có ý nghĩa khoa học. Ni-may-e, chắc cậu đã nghe đến việc sinh trễ do Lơ-ven Hước tìm ra năm 1701. Nội dung là làm chậm quá trình sinh sống bằng lạnh, hay trong một vài trường hợp bằng cách khử hết nước. Lạnh và khô đã làm chậm rất nhiều các phản ứng hóa học và sinh học. Đã từ lâu các nhà bác học đã thử cho cá và dơi chịu sinh trễ; lạnh không làm chết cá mà bảo tồn, tất nhiên là với điều kiện không đi quá giới hạn... Còn có một trạng thái khác, đó là cái chết lâm sàng. Thú vật và người thật ra chưa chết ngay sau khi tim ngừng đập hay bộ máy hô hấp ngừng hoạt động, mà có thể còn ở vào tình trạng chết lâm sàng.
Chiến tranh vừa qua đã cho các thầy thuốc có dịp nghiên cứu tận cùng hiện tượng này. Họ còn thành công trong việc làm sống lại một số thương binh nặng sau khi tim đã ngừng đập đến vài phút. Nên nhớ rằng đó là những người bị tử thương! Cậu là chuyên gia vật lý và có thể cậu không biết...
- Tôi có nghe nói. - Ni-may-e gật đầu trả lời.
- Cậu có thấy rằng chữ “chết” mất hết ý nghĩa ghê rợn khi có kèm theo từ ngữ y học “lâm sàng”. Nói cho đúng ra có nhiều trạng thái trung gian khi từ sống sang chết; ngủ, hôn mê, sinh trễ. Trong các trạng thái đó, cơ thể người ta hoạt động chậm lại. Đây là vấn đề tôi đã nghiên cứu trong những năm vừa qua. Muốn cho sự sống của con người trở nên hết sức chậm cần phải đưa sinh trễ đến giới hạn, nghĩa là đến cái chết lâm sàng. Tôi đã thành công. Lúc đầu cũng có một số nhái, thỏ và các giống vật thí nghiệm khác bị chết. Sau đó, khi đã minh xác được các quy luật chủ đạo về lạnh đông và chế độ lạnh đông, tôi quyết định cho con khỉ độc Mi-mi của tôi “chết” trong một thời gian.
- Thế mà tôi vẫn trông thấy nó! - Ni-may-e thốt lên - Nó vẫn tươi vui, nhảy nhót trên ghế và ngửa tay xin đường...
- Đó là sự thật, - Béc-nơ ngắt lời anh đắc thắng. - Nhưng trước đó nó đã nằm trong một chiếc quan tài nhỏ đặc biệt, đầy ắp máy móc kiểm tra ở chung quanh và được làm lạnh gần đến 0°C.
Bằng một cử chỉ nôn nóng, Béc-nơ lại lấy ra một điếu thuốc và tiếp tục kể:
- Cuối cùng tôi đã tiến hành cuộc thí nghiệm quan trọng nhất và cần thiết nhất; tôi tự mình chuyển sang trạng thái sinh trễ tột độ hồi năm ngoái. Cậu có nhớ hồi đó người ta bảo là giáo sư Béc-nơ ốm nặng không? Tôi còn ở trong tình trạng hơn cả ốm nặng nữa. Tôi đã chết trong sáu tháng, và Ni-may-e này, cậu có biết không, đó là một cảm giác rất đặc biệt, nếu ta muốn định nghĩa sự hoàn toàn không có cảm giác là như thế! Trong giấc ngủ bình thường người ta vẫn tiếp tục cảm thông với nhịp đập của thời gian mặc dù là chỉ thoang thoảng. Ở đây thì không có gì cả. Tôi chỉ cảm thấy hơi bất tỉnh như là uống thuốc ngủ. Rồi chỉ có yên lặng và tối tăm. Rồi sau đó trở lại với cuộc sống. Bên kia... chẳng có gì hết...
Béc-nơ ngồi duỗi thẳng chân một cách vô tư, các cánh tay gày guộc vòng sau cổ rám nắng. Sau đôi kính, mắt ông có vẻ nghĩ ngợi.
- Mặt trời... một khối cầu chói lòa yếu ớt chiếu sáng một góc nhỏ của không gian vô tận. Chung quanh nó có nhiều quả cầu khác nhỏ hơn và nguội... Trên một quả cầu đó có nhân loại, một bộ lạc động vật thông minh. Họ đã xuất hiện như thế nào? Đã có biết bao nhiêu truyền thuyết và lập luận về vấn đề này!
Một điều hiển nhiên: muốn có nhân loại phải có một tai biến lớn, một sự rung chuyển địa lý của hành tinh chúng ta làm thay đổi các điều kiện sinh sống của động vật bậc cao, tức là loài khỉ. Tất cả mọi người đều thống nhất cho rằng tai biến đó là thời kỳ băng giá! Việc Bán cầu Bắc nguội lạnh đi nhanh chóng và những nguồn thức ăn gốc thực vật khan hiếm dần khiến cho loài khỉ phát triển nhất đã phải cầm lấy đá và quả chùy để kiếm thịt, đã bắt buộc chúng thích nghi với lao động và yêu thích lửa.
- Có thể chấp thuận được đấy, - Ni-may-e tán thành.
- Nhưng tại sao lại có cuộc tấn công của băng giá này? Tại sao sa mạc này và cả Xa-ha-ra lại biến thành sa mạc mà trước đây có một thời ở tại những nơi này đời sống động vật và thực vật phát triển mạnh mẽ? Chỉ có một giả thiết được xem là lô-gích, đó là ý kiến đề xuất rằng các thời kỳ băng giá có liên quan đến sự chuyển trục của Trái Đất. Giống như mọi con quay có hình dạng không được lý tưởng, sự quay của Trái Đất cũng chịu một sự chuyển trục, nghĩa là quay hết sức từ từ theo những vòng tròn trong vũ trụ. Tôi nói là hết sức từ từ vì mỗi vòng như vậy nó phải quay mất hai mươi sáu nghìn năm.
Giáo sư dùng que diêm vẽ một hình en-líp lên cát, mặt trời ở tâm và quả cầu tượng trưng cho Trái Đất với trục nằm nghiêng.
- Cậu xem đây! Độ nghiêng của trục Trái Đất so với trục en-líp, như cậu đã biết, là 23,5° và trục Trái Đất vẽ ra trong vũ trụ một hình nón mà góc tâm như thế này... Cậu bỏ qua việc mình nhắc lại những điều mà chúng ta đã biết rõ, Ni-may-e nhé, nhưng đây là một điều luôn làm mình suy nghĩ. Nói đúng ra thì không phải là chuyện chuyển trục Trái Đất và Trái Đất làm gì có trục. Điều quan trọng là trong thời gian hàng nghìn năm, Trái Đất đã thay đổi vị trí so với Mặt Trời.
Cách đây 40 nghìn năm, Mặt Trời ở về phía Bán cầu Nam, và nơi chúng mình ở tại phương bắc, băng giá đã xâm chiếm Trái Đất. Hồi đó tại nhiều nơi, và đặc biệt có thể là ở Trung Á, đã xuất hiện người-khỉ. Họ tụ họp thành tập thể do điều kiện địa vật lý khắc nghiệt. Cũng chính trong khi xảy ra chu kỳ chuyển trục này đã phát sinh ra các loài thảo mộc đầu tiên. Mười ba nghìn năm sau, khi các Bán cầu Nam và Bắc đã đổi chỗ so với Mặt Trời, nhiều bộ lạc khác cũng xuất hiện ở Bán cầu Nam.
Thời kỳ băng giá mới ở Bán cầu Bắc sẽ bắt đầu vào khoảng mười hai hay mười ba nghìn năm sắp tới. Loài người ngày nay đã mạnh hơn trước rất nhiều, và có thể chống chọi lại được với sự đe dọa đó, với điều kiện... là đang còn tồn tại. Nhưng tôi chắn rằng lúc đó loài người sẽ không còn nữa. Chúng ta chạy ngày một nhanh, với tốc độ nhanh nhất mà khoa học cho phép, tới chỗ... diệt vong. Tôi đã trải qua hai lần chiến tranh thế giới; trong lần đầu tôi làm lính và lần thứ hai tôi ở Mai-đa-nếch. Tôi đã tham dự vào các cuộc thử bơm nguyên tử và bom khinh khí, mặc dầu như vậy tôi vẫn chưa thể tưởng tượng ra chiến tranh thứ ba sẽ như thế nào. Thật là khủng khiếp! Nhưng điều khủng khiếp hơn là có những người tuyên bố với một độ chính xác khoa học là chiến tranh đó sẽ bắt đầu trong chừng ấy tháng nữa; rằng sẽ có việc ném bom nguyên tử hàng loạt xuống các trung tâm công nghiệp của đối phương; rằng người ta sẽ thấy hình thành những sa mạc phóng xạ mênh mông. Và chính những nhà bác học nói ra những điều đó! Hơn nữa, họ còn tính toán làm cách nào để đạt được mức độ ô nhiễm phóng xạ của đất, nước và không khí có hiệu quả nhất. Gần đây tôi có dịp đọc một cuốn sách khoa học Mỹ; trong sách người ta chứng minh rằng muốn làm tung khối đất phóng xạ đến mức tối đa phải cho bom nguyên tử cắm sâu xuống đất ít nhất là năm mươi thước Anh*. Đó là một giấc mơ khoa học thật rùng rợn! - Béc-nơ lấy hai tay ôm đầu.
*Thước Anh (phút) = 30,48cm
Mặt trời đã lặn và đêm xuống ngột ngạt. Vài ngôi sao mờ đơn độc, không buồn cả đến nhấp nháy, rải rác trên bầu trời ngày càng tối thẫm. Sa mạc cũng tối thẫm và chỉ phân biệt được với trời là không có sao.
Giáo sư đã trở lại bình tĩnh và nói bằng một giọng đều đều, trầm tư, làm cho Ni-may-e cảm thấy ớn lạnh ở lưng mặc dầu trời rất nóng.
- ... Có thể có khả năng là bom nguyên tử không làm nổ tan quả đất. Nhưng nó sẽ làm cho khí quyển bị nhiễm xạ ở mức độ đặc biệt cao. Và cậu đã biết ảnh hưởng của sự nhiễm xạ đến việc sanh đẻ. Chỉ trong vài thế hệ, vết tích của nhân loại sẽ biến thành những vật thoái hóa không tồn tại được vì các điều kiện sinh tồn sẽ trở nên vô cùng khắc nghiệt đến không thể nào tưởng tượng được. Cũng có thể con người lại có thì giờ phát minh ra những phương tiện hủy hoại còn hoàn thiện hơn và tinh vi hơn. Càng xảy ra chậm, chiến tranh thứ ba càng khủng khiếp. Trong suốt đời tôi, tôi chưa bao giờ thấy con người bỏ qua một cơ hội đánh nhau... Vì vậy, đến lúc mà chu kỳ sắp kết thúc, sẽ không còn những sinh vật biết suy nghĩ trên quả cầu vũ trụ của chúng ta nữa.
Giáo sư giang tay về phía những đụn cát bất động:
- ... Hành tinh này sẽ tiếp tục bay chung quanh mặt trời rất lâu nhưng hoang vắng và yên lặng như bãi sa mạc này. Sắt sẽ bị ăn mòn, nhà cửa sẽ sụp đổ. Rồi một cơn băng hà khác đến sẽ xóa sạch mọi dấu vết của nền văn minh khốn khổ của chúng ta ... Quả đất lúc đó sẽ được quét sạch và chờ đợi sự ra đời của một nhân loại mới. Hiện nay chúng ta hạn chế rất nhiều sự phát triển của tất cả muông thú, chúng ta sẽ hủy diệt hết các loài vật quý. Khi mà loài người không còn nữa, thế giới loài vật được giải phóng sẽ bắt đầu phát triển mãnh liệt về cả hai mặt: số lượng và chất lượng. Lúc bắt đầu thời lỳ băng giá thứ hai, loài khỉ lớp trên sẽ được chuẩn bị khá đầy đủ để bắt đầu biết suy nghĩ. Và như vậy là một nhân loại mới sẽ nẩy sinh ra. Có thể họ sẽ may mắn hơn chúng ta.
- Xin lỗi giáo sư - Ni-may-e thốt lên - nhưng quả đất không phải chỉ có bọn mất trí và những người tình nguyện tự sát!
- Đúng thế - Béc-nơ trả lời với một nụ cười âu sầu - Nhưng chỉ một thằng điên cũng có thể gây ra tác hại đến mức một nghìn người khôn ngoan không bù đắp lại được. Về phần tôi, tôi muốn quan sát sự xuất hiện của loài người mới. Chiếc rơ-le thiết bị của tôi - Béc-nơ hất đầu về phía giếng nơi đựng chất đồng vị phóng xạ các-bon mà một nửa thời gian hủy thể sẽ là khoảng tám nghìn năm - rơ-le đã được chuẩn bị để hoạt động một trăm tám mươi thế kỷ. Khi hết thời hạn đó, mức độ phóng xạ của chất đồng vị này đã giảm xuống đến mức làm các lá của điện kế chạm vào nhau và đóng mạch lại. Đến khoảng thời kỳ này, sa mạc lại sẽ trở thành một vùng cận đới xanh tốt, có đầy đủ điều kiện thuận lợi cho sự sống của những người-khỉ mới.
Ni-may-e giật mình và nói một cách bồi hồi:
- Đồng ý rằng bọn tội phạm chiến tranh là tụi mất trí, nhưng còn giáo sư? Quyết định của giáo sư phải chăng không phải là một việc điên rồ? Tự làm lạnh đông trong mười tám nghìn năm!
- Ôi dào! Việc gì phải đơn giản hóa? - Giáo sư đáp một cách bình tĩnh - Đây không phải là một việc làm lạnh đông đơn giản mà là cả một hệ thống đo lường: làm lạnh, ngủ, kháng sinh nhằm bảo đảm sự sống sót của tôi sau những năm dài ở trong tình trạng chết lâm sàng.
- Nhưng đây là một việc tự sát! - Ni-may-e kêu lên - Giáo sư không thể thuyết phục được tôi thay đổi ý kiến. Bây giờ cũng vẫn chưa muộn...
- Không, mức độ hiểm nghèo cũng chẳng lớn hơn bất kỳ một cuộc thí nghiệm nào khác... Vả lại cậu cũng biết là cách đây khoảng bốn mươi năm ở Xi-bê-ri người ta đã tìm ra xác một con ma mút ở khu vực lạnh đông vĩnh cửu. Thịt nó được giữ gìn tốt đến nỗi chó chịu ăn một cách ngon lành. Nếu trong điều kiện thiên nhiên may rủi mà con ma mút vẫn còn tồn tại được hàng chục nghìn năm thì tại sao tôi lại không thể tồn tại trong những điều kiện đã được nghiên cứu và kiểm nghiệm kỹ lưỡng một cách khoa học. Những chiếc cặp nhiệt bán dẫn cậu chế ra sẽ cho phép biến đổi nhiệt thành dòng điện một cách đơn giản và chắc chắn, sẽ bảo đảm cả chuyện phát lạnh. Mình hy vọng là nó sẽ an toàn trong mười tám nghìn năm đó, phải không?
Ni-may-e nhún vai.
- Tất nhiên! Cặp nhiệt đó hết sức đơn giản và điều kiện trong giếng rất thuận lợi: nhiệt độ ổn định và không bị âm..... Cứ chặt đầu tôi đi nếu nó không tồn tại được như con ma mút. Nhưng còn những máy móc dụng cụ khác? Chỉ cần một chiếc không hoạt động nữa trong thời gian mười tám nghìn năm đó...
Béc-nơ đứng dậy và vươn vai một hồi lâu.
- Với những máy móc dụng cụ khác thì thời gian dài đó chẳng nghĩa lý gì. Chúng chỉ hoạt động hai lần: sáng mai và sau mười tám nghìn năm nữa, vào đầu chu kỳ đời sống sau trên hành tinh chúng ta. Trong toàn bộ thời gian còn lại, chúng sẽ nằm trong buồng với tôi trong trạng thái được bảo vệ.
- Thưa giáo sư, giáo sư vẫn tin chắc về ngày tận thế?
- Tin như thế cũng rùng rợn thật, - Béc-nơ trả lời một cách trầm tư. - Cậu thấy đó, mình không những là một nhà khoa học mà còn là một con người và muốn tự kiểm nghiệm lấy... Thôi ta đi ngủ đi, ngày mai còn phải làm nhiều việc...
*
Tuy rằng mệt nhưng tối hôm đó Ni-may-e ngủ không yên. Có thể là vì nóng hay vì ấn tượng do cuộc nói chuyện với giáo sư, nhưng dù sao đi nữa thì vẫn không ngủ được. Rạng sáng, khi những tia nắng đầu tiên mới chạm đến lều vải, Ni-may-e thức dậy nhẹ nhõm hơn. Béc-nơ nằm bên cạnh kỹ sư vội mở mắt:
- Thế nào, ta bắt tay vào việc chứ?
Dưới đáy giếng, không khí lành lạnh và nhìn lên, người ta thấy một mảnh trời tròn xanh một cách lạ lùng. Ngay tại đáy, giếng được đào rộng thành một chiếc hầm trong đó mấy ngày vừa qua hai người đã lắp đặt các thiết bị. Những dây cáp lớn xuyên sâu vào thành cát của giếng được nối liền với các bộ cặp nhiệt. Béc-nơ kiểm tra hoạt động của các dụng cụ lần cuối cùng. Theo lời đề nghị của ông, Ni-may-e đã khoét rộng phần trên của giếng thành một chiếc hàm ếch, đặt vào đó một khối thuốc nổ nối liền xuống buồng bằng một sợi dây cáp. Bây giờ mọi việc đã đâu vào đấy, họ trở lại mặt đất. Giáo sư châm thuốc hút và phóng mắt nhìn quanh.
- Hôm nay sa mạc đẹp tuyệt đấy nhỉ? Có lẽ như thế là mọi việc đều đã xong xuôi. Trong vài giờ nữa, tôi sẽ tự gián đoạn cuộc sống. Tôi sẽ làm cái việc mà cậu gọi là tự sát không kèm ngụ ý đùa cợt. Phải nhìn vào những sự việc một cách đơn giản hơn. Cuộc đời một con người là một điều bí ẩn mà người ta không bao giờ ngừng tìm kiếm ý nghĩa, một đoạn trong cuộn phim vô tận của thời gian. Như vậy đời tôi sẽ gồm có hai “cảnh”, có thế thôi. Cậu hãy nói một chuyện gì đó trước khi chúng mình chia tay vì chúng ta cũng hiếm có dịp nói chuyện như thế này, nói cho vui.
Ni-may-e cắn môi yên lặng.
- Nói thật ra thì tôi... biết nói gì với giáo sư? Tôi vẫn còn chưa tin là giáo sư sẽ làm chuyện này. Tôi không dám tin.
- Hừ! Thế là cậu đã làm mình bớt xúc động - Béc-nơ vừa nói, vừa cười - Khi có người nào lo lắng cho mình thì mình cảm thấy ít ghê rợn hơn. Đừng kéo dài buổi chia tay vì sẽ nặng nề cho cả hai người. Khi trở về, cậu hãy dàn cảnh tai nạn máy bay lên thẳng như chúng ta đã quy ước với nhau. Cậu cũng hiểu rõ rằng sự bí mật tuyệt đối là điều kiện cần thiết của thí nghiệm này. Mười lăm ngày nữa những cơn bão mùa thu sẽ bắt đầu... Xin từ biệt cậu... Đừng nhìn mình như vậy vì mình sẽ còn sống sau tất cả mọi người! - Và giáo sư chìa tay cho Ni-may-e.
- Trong buồng chỉ dự kiến có một chỗ thôi ạ? - Đột nhiên kỹ sư hỏi.
- Đúng, chỉ có một chỗ... - Béc-nơ trả lời, mắt ánh lên một biểu hiện trìu mến... - Mình bắt đầu lấy làm tiếc là đã không thuyết phục cậu sớm hơn, - giáo sư vừa nói thêm vừa đặt chân vào bậc thang đầu tiên dẫn xuống giếng - Năm phút nữa, cậu hãy tránh xa giếng! - Một lúc sau, chiếc đầu bạc của giáo sư biến mất vào trong miệng giếng.
Béc-nơ vào buồng, đóng chặt cửa lại, mặc bộ quần áo như kiểu của thợ lặn có rất nhiều ống nối vào và nằm lên một lớp chất dẻo đúc theo hình người mình. Ông thử động đậy: không có chỗ nào cấn cái! Trước mặt ông, ngay tầm mắt, là bảng điều khiển, trên bảng các đèn hiệu sáng cho biết rằng tất cả mọi máy móc đều sẵn sàng hoạt động.
Giáo sư mân mê nút điều khiển ngòi nổ và một lúc sau, ấn vào nút. Một sự lay động nhẹ và giếng đã bị lắp kín. Bằng một động tác cuối cùng, Béc-nơ đóng mạch hệ thống làm lạnh và gây mê, đặt tay mình vào đúng vị trí trên chỗ nằm, mắt nhìn thẳng vào quả cầu sáng chói trên trần và bắt đầu đếm từng giây...
Một tiếng nổ trầm vang lên rồi một cột cát và bụi nhỏ bốc lên bên trên giếng. Bây giờ buồng của Béc-nơ đã bị vùi sâu dưới đất mười lăm mét... Ni-may-e nhìn quanh. Đơn độc giữa sa mạc bỗng nhiên trở thành yên lặng, kỹ sư cảm thấy bắt đầu hoảng sợ: ông đứng lặng yên giây lát rồi chầm chậm bước về phía chiếc trực thăng.
Năm ngày sau, khi đã hoàn thành cẩn thận việc phá nổ chiếc máy bay, kỹ sư đến một thành phố Mông Cổ nhỏ.
Một tuần lễ nữa trôi qua, rồi đến những trận gió mùa thu nổi lên đùn cát chỗ này sang chỗ khác, xóa sạch mọi dấu vết. Và chẳng mấy chốc, cát đã phủ kín chỗ nghỉ chân cuối cùng của đoàn Béc-nơ. Bây giờ trở đi không tài nào tìm ra được địa điểm này trong phong cảnh xung quanh...
Tia sáng lục leo lét và mờ ảo từ từ hiện lên trong bóng tối. Khi nó ngừng lung linh, Béc-nơ hiểu đó là đèn báo hiệu của chiếc rơ-le phóng xạ. Thế là nó đã hoạt động!
Dần dần giáo sư hồi tỉnh. Bên trái, ông thấy kim đồng hồ thế kỷ dừng lại giữa các số 190 và 200. “Bây giờ là vào những thế kỷ thứ 200”. Ông nghĩ và cảm thấy xúc động mạnh.
Ông thận trọng cử động tay, chân, cổ, mở và ngậm miệng lại. Ông vẫn điều khiển được thân thể mình, chỉ có chân trái còn hơi tê một ít. Có thể là tư thế nằm của ông không đúng lắm hay nhiệt độ đã tăng lên quá nhanh... Béc-nơ cử động mạnh hơn để cho hết tê rồi ngồi dậy và quan sát máy móc. Kim các vôn kế ở vị trí thấp nhất: năng lượng đã được dùng vào việc sưởi ấm. Béc-nơ đóng mạch tất cả các bộ phận nhiệt điện để nạp điện lại, lập tức kim vôn kế bắt đầu lên.
Giáo sư nhớ ngay đến Ni-may-e: các bộ phận nhiệt điện vẫn tốt. Nghĩ đến đây, một cảm xúc kỳ lạ và đau lòng xâm chiếm lấy ông. “Ni-may-e đã chết từ lâu, giờ đây chẳng còn lại người nào...”
Mắt giáo sư dừng lại ở quả cầu treo trên trần: quả cầu màu thẫm và không chiếu sáng nữa. Béc-nơ cảm thấy mất bình tĩnh và nhìn lại các vôn kế một lần nữa, các bình điện vẫn chưa đủ điện, nhưng nếu đấu với các bộ nhiệt điện thì may ra cũng có thể đủ năng lượng để trở lại mặt đất. Béc-nơ thay áo quần và qua một lỗ cửa thông ở trần ngồi vào chiếc xe khoan đất để sẵn ở đấy.
Các động cơ điện rú lên và chiếc xe rời khỏi trần bắt đầu xoáy vào đất và từ từ trèo lên. Béc-nơ cảm thấy dễ thở hơn... Cuối cùng không còn tiếng đá xiết vào vỏ kim loại nữa: xe đã lên đến mặt đất. Giáo sư cầm lấy một chiếc chìa vặn để mở các ốc bắt cửa. Nhưng ốc đã rỉ, phải khá mất công và dập các ngón tay mới mở được. Cuối cùng, một luồng ánh sáng xanh nhạt lọt qua các khe. Thêm một ít cố gắng, và giáo sư bước ra khỏi xe.
Xung quanh là một khu rừng tối tăm, tĩnh mịch, chiều xuống lành lạnh. Chiếc xe khoan đất đã chui lên cạnh một gốc cây lớn có tán lá rậm rạp mỏng dần lên phía trên cao trên nền trời buổi hoàng hôn. Béc-nơ cảm thấy sởn gai ốc khi nghĩ rằng cái cây này có thể mọc sang phía trái năm mươi cen-ti-mét. Ông lại gần và sờ nắn thân cây. Vỏ cây xốp, hết sức ẩm. “Cây này thuộc họ nào nhỉ? Phải chờ đến sáng mới phân biệt được”.
Giáo sư trở lại chỗ chiếc xe khoan đất và kiểm tra lại tất cả những thứ dự trữ: đồ hộp, nước, địa bàn, súng ngắn. Ông châm thuốc hút. “Cho đến lúc này, mọi việc đều có vẻ đã xảy ra như mình dự đoán trước, - ông phấn khởi nghĩ. - Sa mạc đã biến thành rừng... Cần phải kiểm tra xem đồng hồ nguyên tử có hoạt động thực không. Nhưng bằng cách nào?”
Rừng không rậm lắm và ở khoảng giữa các cây có những ngôi sao lấp lánh. Nhìn sao, Béc-nơ nẩy ra ý nghĩ: nếu đồng hồ chạy đúng thì vào thời điểm hiện tại sao Chức nữ phải ở vào vị trí của sao Bắc đẩu trước đây.
Ông cầm lấy địa bàn và tìm được một cây cao có cành thấp, bèn trèo lên một cách nặng nhọc, cành cây cào vào mặt. Nghe tiếng động, một con chim vụt bay đi và kêu lên một tiếng chói tai, cánh đập phải mặt ông, tiếng kêu còn âm vang mãi trong rừng. Mệt gần đứt hơi, giáo sư ngồi lại ở cành cây cao nhất và ngẩng đầu lên.
Trời đã về đêm. Bầu trời đầy sao hoàn toàn xa lạ đối với Béc-nơ. Ông đưa mắt tìm những chòm sao thân thuộc: sao Gấu mẹ và chòm sao Cat-xi-ô-pê biến đi đằng nào nhỉ? Chẳng thấy chúng đâu cả, nhưng mà là đúng thôi. Trải qua hàng nghìn năm, sao đã đổi chỗ so với Trái Đất và bản đồ sao hoàn toàn đổi thay. Chỉ có dãy Ngân Hà là vẫn vươn dài giải bụi rực rỡ. Béc-nơ nhìn vào chiếc kim địa bàn mờ sáng chỉ phương Bắc và nhìn theo: ở rất thấp, trên chân trời, sao Chúc nữ - ngôi sao sáng của bầu trời - lấp lánh màu lục! Gần đó, những sao nhỏ hơn nhấp nháy tạo nên một hình ảnh sai lạc về chòm Thiên nga.
Không còn nghi ngờ gì nữa: Béc-nơ đang ở vào đầu chu kỳ phát triển mới, vào những thế kỷ thứ 200…
Một đêm thao thức suy nghĩ, Béc-nơ không ngủ được và sốt ruột đợi chờ bình minh đến. Cuối cùng, sao trời nhạt màu và dần biến đi, cây cối hiện rõ trong một màn sương xám. Giáo sư quan sát lớp cỏ rậm và cao mà chân mình đang xéo lên. Đây là rêu nhưng mà là một loại rêu khổng lồ! Dự đoán của ông đã được xác minh: sau thời kỳ băng giá, đây là họ phi-li-xi-nê, loại thảo mộc sơ đẳng nhất và dai nhất đang phát triển.
Mỗi lúc một say sưa, Béc-nơ tiến bước trong rừng, chân quấn vào trong đám thân rêu cao và mềm mại, dày ướt đẫm sương. Chắc chắn là trời đã sang thu: Lục, đỏ, da cam, và vàng. Béc-nơ để ý đến những cây cao vút vỏ màu đỏ đồng và tán lá tươi xanh thẫm khác biệt hẳn với chung quanh. Ông lại gần để xem. Cây này giống cây thông nhưng lá không phải loại dạng kim mà sù sì và sắc cạnh, thơm mùi nhựa.
Rừng dần dần tỉnh giấc. Gió ban mai bắt đầu thổi, lá cây xào xạc, sương mù bị xua tan. Mặt trời đã lên cao quá vòm cây, trông cũng không thay đổi gì sau 180 thế kỷ. Vẫn là tinh tú rực chói ấy!
Giáo sư tiếp tục đi, vấp vào rễ cây và chốc chốc lại phải sửa kính vì mỗi khi ông làm một động tác gì mạnh nó lại tụt xuống mũi. Đột nhiên ông nghe tiếng cành cây gãy và tiếng gầm gừ. Hình thù một con thú đầu hình nón thấp thoáng sau cây. “Một con lợn rừng” - Béc-nơ nghĩ - Nhưng nó không bình thường. Nó còn có thêm một chiếc sừng nhọn trên mõm. Nhìn thấy ông, nó đứng yên trong giây phút rồi trốn vào sau cây và gào ầm lên “Ồ nó sợ người” - Giáo sư lại nghĩ khi thấy con vật chạy trốn. Bỗng ông ngây người ra: trên lớp rêu đẫm sương xám rõ ràng có vết chân người đi đất!
Giáo sư ngồi xuống quan sát: vết chân bằng phẳng, dấu ngón chân cái tách riêng hẳn ra. Vừa có người qua đây! Béc-nơ quên tất cả mọi việc, và để xem được rõ, ông lần theo bước chân. “Có người, khỏe và nhanh nhẹn, nếu căn cứ vào phản ứng của lợn rừng sợ hãi họ”.
... Cuộc gặp gỡ thật bất ngờ. Vết chân dẫn ông đến một khu rừng thưa. Ở đây lúc đầu Béc-nơ nghe những giọng nói the thé và thấy nhiều con vật mình đầy lông xám vàng, lưng hơi gù đứng trên cành cây và nhìn về hướng giáo sư vừa xuất hiện. Béc-nơ dừng lại và không còn nhớ là phải thận trọng, đứng ngắm nghía loài vật hai chân đó một cách thích thú. Không còn gì phải nghi ngờ, đó là những chú khỉ đang biến hóa thành người qua những bàn tay có năm ngón, trán thấp lướt về phía sau lông mày, cằm nhô dài ra dưới chiếc mũi bé. Béc-nơ để ý thấy hai con trong bọn chúng mặc một loại áo lông thú vắt choàng qua vai.
Thế là tất cả đã diễn ra như ông dự đoán. Béc-nơ bỗng nhiên thấy tiếc rẻ là chỉ đơn độc có một mình. “Chu kỳ đã khép kín: những sự việc xảy ra cách đây hàng chục nghìn năm bắt đầu tái diễn...”
Đúng lúc này, một người-khỉ tiến lại phía Béc-nơ và phát ra một tiếng kêu hách dịch. Béc-nơ để ý thấy tay nó cầm một chiếc chùy nặng bằng đoạn cây khúc khuỷu. Chắc nó là tên đầu đàn vì tất cả những con khác đều tiến theo nó. Chỉ đến lúc này giáo sư mới cảm thấy nguy hiểm. Lũ người khỉ tiến lại với dáng nặng nề nhưng vẫn khá nhanh và khệnh khạng trên đôi chân cụt của chúng. Giáo sư nổ súng lên trời và chạy về phía rừng.
Đó là một sai lầm. Nếu ông ta chạy ra chỗ đất trống có lẽ là người khỉ khó đuổi kịp ông vì chân chúng còn chưa thích hợp với kiểu đi đứng của người. Nhưng trong rừng, chúng có đủ mọi điều kiện thuận lợi. Với những tiếng kêu đắc thắng, chúng chuyền cành từ cây nọ sang cây kia. Vài con đu đưa tung người như bay. Con đầu đàn tay cầm chùy dẫn đầu cả bọn.
Giáo sư nghe tiếng reo vui thú và giận dữ của chúng ngay sau lưng mình: chúng đã đuổi sát nút. “Giống như một cuộc lột da - ông bỗng nghĩ - Đáng lý đừng chạy trốn, kẻ chạy trốn bao giờ cũng bị đánh gục...” Tim ông đập thình thịch, mồ hôi vã ra như tắm, chân mềm nhũn. Bỗng nhiên, ông hết cả sợ hãi, suy nghĩ một cách vô cùng sáng suốt: “Tại sao phải bỏ chạy? Tại sao lại phải đi trốn? Thí nghiệm thế là đã thành công!” Và ông dừng lại, tựa lưng vào một gốc cây, quay mặt đối mặt với những con vật đuổi theo mình. Con đầu đàn vẫn chạy trước và huơ chùy. Giáo sư kịp nhìn thấy đôi mắt nhỏ tí xíu của nó giận dữ và sợ sệt dưới những chiếc lông mày nhỏ và rậm, với nếp nhăn man rợ. Tấm da nó đeo ở vai trái có một chỗ bị cháy. “Ơ kìa! Chúng nó đã biết dùng lửa!” Nhưng con đầu đàn đã đến bên ông, gào lên một tiếng và phang quả chùy vào đầu giáo sư, ông quỵ xuống, mặt đầy máu. Béc-nơ bất tỉnh giây lát, và khi hồi tỉnh, ông thấy bầy người-khỉ chạy đến, con đầu đàn giơ cao chùy giáng quả cuối cùng, một ánh bạc thoáng qua nền trời.
“Dù sao đi nữa, nhân loại cũng đã tái sinh” - ông thoáng nghĩ trong giây phút tỉnh táo trước khi một phát chùy mới cắt đứt khả năng suy nghĩ của ông.
Vài ngày sau Công báo Viện Hàn lâm Khoa học Toàn cầu thông báo một tin sau đây:
“... Ngày 12 tháng 9 năm 18.879 của K.N.T. (Kỷ nguyên Người Tự do), người ta tìm thấy một người bị thương trong khu dự trữ châu Á, vùng sa mạc Gô-bi cũ. Người này bất tỉnh và được chuyển bằng máy bay i-ông về trung tâm hồi sinh gần nhất. Ông ta chưa tỉnh lại nhưng không còn nguy hiểm nữa.
Việc khảo sát trán và hệ thống thần kinh cũng như áo quần đang mặc đã cho phép kết luận ông ta là người thuộc vào những thế kỷ đầu tiên của Kỷ nguyên chúng ta. Hiện nay chưa thể xác định được làm sao một người của thời ấy với trình độ khoa học thấp kém hồi đó lại có thể sống sót trong hơn mười tám nghìn năm. Một phái đoàn đặc biệt của Viện Hàn lâm đang tiếp tục tìm cứu trong Khu dự trữ để xác minh vấn đề này.
Chúng ta biết rằng từ nhiều thế hệ nay các nhà sinh vật đã tiến hành những thí nghiệm nhằm mục đích kiểm tra lại mức độ đúng đắn của lý thuyết nguồn gốc và tập thể con người tại Khu dự trữ Gô-bi. Họ đã thành công trong việc tạo ra một loại người khỉ an-tơ-rô-bô-ít và loài pi-tê-can-tơ-rốp đã sống cách đây vài trăm nghìn năm. Một nhóm người-khỉ này hiện nay sống gần nơi vừa tìm ra “Người quá khứ”. Có thể cuộc gặp gỡ của ông ta với chúng đã kết thúc một cách bi thảm cho người “khách” của chúng ta.
Vụ khảo cổ của Viện Hàn lâm đã được giao trách nhiệm tăng cường việc giám sát Khu dự trữ. Cần phải đặc biệt quan tâm không để cho giống người-khỉ này dùng dụng cụ làm việc của chúng để giết chóc. Điều này sẽ có ảnh hưởng không tốt đến sự hình thành trí thông minh của chúng.
Chủ tịch Viện Hàn lâm Toàn cầu.
PHƯỚC HIỀN dịch