- Lác-xơ, giúp mình với! Mình không thể thoát ra khỏi nơi này được.
Xtôi-an Máp-ri-cốp đang cố sức chặt các sợi dây leo to bằng cổ tay người.
- Ngay bây giờ! Mình không thể bỏ qua cảnh hấp dẫn như thế này được: chàng kỹ sư Máp-ri-cốp đang đấu tranh chống thiên nhiên hoang sơ của miền Đông Miến Điện!
Tiếng kêu rè rè của chiếc máy quay phim vang lên. Lát sau, một người đàn ông vạm vỡ, tóc cắt ngắn từ trong bụi cây chui ra. Anh ta dừng lại trước Máp-ri-cốp một tầm tay và mỉm cười theo dõi trận chiến đấu của Máp-ri-cốp với dây leo...
- Cẩn thận, Máp-ri-cốp! Khéo không cậu lại tự chặt đứt đầu mình bằng chính con dao đó!
- Cái đầu mình chẳng đáng giá bao nhiêu khi mình đi với các cậu trong cuộc thám hiểm đáng nguyền rủa này... Chà, có thế chứ! - Máp-ri-cốp đã thoát ra khỏi đám dây leo. Mồ hôi chảy ròng ròng trên khuôn mặt to rộng của anh.
- Về trại thôi, tiến sĩ. Trước mặt là rừng rậm, hoàn toàn không đi được.
Họ đi về phía bờ sông. Từ đó vọng đến tiếng nổ của động cơ.
- Cậu nghe thấy không? Đích thị Rô-man đã sửa xong chiếc bếp dầu - chúng ta sắp lên đường được rồi.
- Không hiểu từ đâu sinh ra một gã thủy văn điên rồ như thế nhỉ? - Máp-ri-cốp càu nhàu - Suýt nữa hắn cho chúng ta chết đuối. Thế mà không biết ai lại nói rằng Ba Lan là một dân tộc trầm tĩnh?
- Đừng tức giận nữa! Với cái tính của cậu thì các cuộc tắm nước lạnh là rất có ích đấy.
Trên một dải bờ hẹp ngổn ngang các dụng cụ, bình dầu nhờn, thùng xăng... Một người đàn ông to cao, nước da trắng, mặc quần soóc đang sửa chữa mô-tơ của chiếc thuyền hẹp, dài. Mái tóc anh hung hung rậm rạp, đôi cánh tay rám nắng màu gạch.
- Xem kìa, cả người anh ta đầy dầu máy - kỹ sư mỉm cười - Này Rô-man, cậu đã sửa chữa xong chiếc tàu thủy của Nôi* rồi chứ?
*Theo kinh thánh, sau nạn Đại hồng thủy, thánh Nôi đã dùng một chiếc tàu để cứu loài người và các con vật sống sót.
- Cứ yên tâm! Đến trận Đại hồng thủy sau, nó sẽ được chữa xong - anh chàng Ba Lan vui vẻ đáp lại.
Chẳng bao lâu, ba nhà du lịch lại bơi thuyền đi tiếp. Tiến sĩ Ca-rin muốn đi ngược lên phía trên theo sông nhánh. Qua những người dân địa phương, nhà khảo cổ biết được là có các đầm lầy nào đó giữa rừng rậm không thể đi qua được và ở đó còn có các cư dân rất kỳ lạ, chưa ai được nhìn thấy họ.
Buổi chiều, chiếc thuyền đến một khúc sông rộng. Ở đây bức tường cây cối dày đặc, bỗng đột ngột dãn ra thưa thớt.
- Ngài tiến sĩ, các đầm lầy của ngài kia kìa! - Rô-man thốt lên trịnh trọng.
- Mình tin là chúng tồn tại mà. Linh cảm không bao giờ lừa dối mình - vốn dè dặt, Ca-rin để lộ vẻ xúc động qua giọng nói của mình - Nào, Rô-man, tiến lên phía trước.
- Khẽ chứ, khẽ chứ! - Máp-ri-cốp cố làm cho họ bớt sốt ruột - Các cậu có định ngủ đêm ở trên thuyền không đây? Chúng ta vào bờ đi, Rô-man!
Anh chàng Ba Lan ngoan ngoãn hướng chiếc thuyền đến một cụm cây xanh bao quanh dải cát hẹp. Gần đến bờ, thuyền đâm phải cái gì đó làm các nhà du lịch bị chao mạnh.
- Lại một vụ đắm tàu chăng? - Máp-ri-cốp hỏi có ý châm chọc.
Không trả lời, Rô-man liền nhảy xuống nước. Mức nước ở đó chỉ quá đầu gối. Anh từ từ lội đến mũi thuyền và gọi với một giọng xúc động đột ngột.
- Ca-rin, lại đây nhanh lên! Ở đây có cái dành cho cậu này.
Nhà khảo cổ bắt chước Rô-man, nhảy ra khỏi chiếc thuyền. Mũi thuyền độc mộc đâm vào một vật gì đó giống như thân cây. Từ dưới lớp rong sình lầy Rô-man vừa cào ra, hiện lên một mặt đá hoa cương được trang trí hoa văn phức tạp.
- Lạ thật, chính đây là chiếc cột nhà thuộc nền văn minh Mông cổ đại - Ca-rin nhanh chóng xác định - Nhưng nó được đưa từ đâu đến đây? Nào, vào bờ nhanh lên, chúng ta sẽ xác định chỗ này!
Sau nửa tiếng, các nhà du lịch đã dựng xong trại của mình. Họ ném các cành cây tươi vào đống lửa - làn khói hăng hắc xua đám muỗi bay đi. Phảng phất mùi thơm ngon của cà phê và bánh mì nướng. Mấy chiếc võng để ngủ mắc ở phía xa.
Cả nhóm ngồi hút thuốc bên đống lửa. Những tiếng động của rừng nhiệt đới không làm họ lo lắng. Chỉ thỉnh thoảng vang lên tiếng kêu the thé của một con khỉ sợ hãi, hoặc tiếng gọi của một con hươu nào đó làm gián đoạn câu chuyện khiến họ phải lắng nghe.
Đột nhiên, tiếng kêu tuyệt vọng của một người nào đó vang lên làm tất cả bật đứng dậy chộp lấy vũ khí. Ngay tức khắc vọng đến tiếng gầm giận dữ của một con hổ. Rô-man bật chiếc đèn pha cầm tay và luồng ánh sáng chói lòa xuyên thủng màn đêm. Các khách du lịch lao tới chỗ có tiếng gầm điên cuồng của con ác thú và tiếng rên rỉ bất lực của con người.
Sau mấy phút, trong luồng ánh sáng, họ nhìn rõ một con hổ to lớn đang cúi xuống thân thể một người da đen nằm bất động. Con hổ không hề nhìn sang các kẻ thù mới. Ca-rin bắn một loạt súng tự động, con hổ ngã xuống bên cạnh người bị nạn.
Người da đen ngất đi do sợ hãi chứ không phải do vết xước sâu trên bả vai. Máp-ri-cốp thận trọng nâng anh ta lên. Người thổ dân đó mảnh khảnh và nhỏ đến mức trông anh ta giống như một đứa bé trên cánh tay người kỹ sư. Vừa băng bó, ba người vừa chú ý đến các dấu hiệu thoái hóa khủng khiếp của người thổ dân: hai chân ngắn và nhỏ không phù hợp với kích thước thân. Anh ta gần như không có cổ, đầu mọc ngay trên đôi vai gầy gò. Hàm dưới thô thiển một cách kỳ quặc làm cho khuôn mặt của con người này có vẻ của một loài chim.
- Một người đẹp! - Rô-man đùa một cách buồn rầu - Con người bất hạnh này bị đau ốm gì chăng?
- Đó chỉ là hậu quả của sự di truyền những đặc điểm xấu. Điều này thường xảy ra ở những nhóm bộ lạc sống biệt lập - Ca-rin trả lời.
Người bị thương lẩm bẩm điều gì không rõ, vung hai tay lên.
- Có thể cho anh ta uống một ít moóc phin được không? - Kỹ sư đề nghị - Cứ để anh ta ngủ yên, sáng sẽ rõ là cần phải làm gì tiếp.
Rô-man lục tìm trong túi thuốc đi đường. Một lát sau, anh đến, tay cầm ống tiêm.
Ca-rin ném thêm các cành cây và các nhánh lá xanh vào đống lửa. Anh chuyển chiếc đèn pha và khẩu súng tự động gần lại. Anh nóng lòng chờ trời sáng để có thể xem xét một cách bình tĩnh các vật dùng của người bị thương. Thắt lưng gã trông thô thiển - đó là một sợi dây thừng to làm từ sợi vỏ cây cọ. Trên thắt lưng treo lòng thòng các bao dao găm bằng gỗ và một chiếc túi đựng thuốc chứa si-lích và hòn đá đánh lửa.
- Ồ, một người đi săn hổ! - Ca-rin nói với vẻ chế giễu không ác ý. Anh biết tục lệ đốt tay con hổ bị giết để linh hồn ác thú không truy tìm người đi săn. Anh quan sát một cách thích thú con dao găm có cái cán thô sơ và lưỡi dao được rèn một cách tinh xảo. Khi cầm chiếc cung nặng lên tay đôi mắt anh bỗng sáng lên. Chiếc cung lớn này là một hình mẫu tuyệt đẹp ở thời kỳ hưng thịnh của nền văn minh Mông cổ đại vĩ đại. Nó được cấu tạo từ một số thanh tre và có bộ phận nhả tên phức tạp từ chiếc mai rùa được đánh nhẵn bóng. Đầu các mũi tên lớn và ngắn có các hình dạng rất khác nhau.
- Chiếc cung! Anh ta lấy ở đâu ra một công trình thô sơ như thế này nhỉ? Người bị thương hoàn toàn không giống với thổ dân sống trong các rừng rậm của Miến Điện đến bây giờ vẫn còn sử dụng cung tên. Đúng hoàn toàn không có khả năng hình dung được một mối quan hệ vào đó giữa anh ta và các bộ lạc địa phương. Các đầm lầy được tách riêng ra bởi các khu rừng rậm không đi lại được, cách xa làng xóm hàng trăm cây số.
Còn cái cột bằng đá hoa cương rơi vào đây như thế nào? Quả người thổ dân bị thương này rất khác với chủng loại nhân chủng học cổ đại đã được xác định...
Ca-rin không tìm được câu trả lời cho các câu hỏi đặt ra. Vừa thu xếp để ngồi cho thoải mái bên đống lửa anh vừa cố gắng nghĩ về một cái gì khác. Nhưng đến cuối phiên trực, trong đầu anh vẫn mung lung các ý nghĩ, cái này mâu thuẫn với cái kia.
Anh thức dậy do cảm giác là có người nào đó nhìn anh chằm chằm. Thực vậy, một đôi mắt đen sáng rực đang theo dõi anh, khi gặp ánh mắt anh, nó khép lại ngay. “Một tên láu cá - nhà khảo cổ nghĩ và đứng dậy khỏi chiếc võng - anh chàng định bỏ chạy”. Anh vươn vai, bước đến đống lửa đã tắt. Rô-man trực cuối cùng cũng đang rửa mặt.
- Anh bạn chúng ta định bỏ chạy - Ca-rin nói với Rô-man. Anh cúi xuống người bị thương, thận trọng nắm lấy vai anh ta và lắc nhẹ - không có một phản ứng nào. Chỉ có khuôn mặt là méo xệch đi vì đau.
Anh chàng Ba Lan mỉm cười quan sát người thổ dân.
- Anh bạn tội nghiệp tưởng anh là con hổ đấy - Rô-man nói đùa sau khi vỗ nước lên mặt.
- Này, chúng tôi là bạn của anh, nghe rõ không? - Ca-rin thốt ra bằng một thứ thổ ngữ nào đó. Người thổ dân vẫn không biểu lộ một dấu hiệu nào của sự sống. Nhà khảo cổ thử nói bằng nhiều thổ ngữ quen thuộc, cho đến khi người thổ dân bỗng mở mắt ra, ngạc nhiên vì nghe có người nói với anh ta bằng tiếng mẹ đẻ của mình.
- Chúng tôi là bạn của anh - Ca-rin nhắc lại - Bộ lạc của anh ở đâu? Chúng tôi sẽ đưa anh về bộ lạc của anh. Anh nghe thấy không, làng xóm của anh ở đâu?
- Ở kia, chỗ mặt trời mọc - người bị thương trả lời sau khi khóc ti tỉ như trẻ con.
- Tôi đau. Rất đau...
Tình trạng sức khỏe của anh ta thật xấu. Cơn sốt làm ảnh hưởng đến toàn cơ thể gầy gò của anh ta. Sau khi ăn sáng qua loa và cho người thổ dân ăn, các nhà du lịch quyết định phải nhanh chóng đi tới phía làng. Họ làm một chiếc cáng bằng võng và nhóm người ít ỏi đó nhanh chóng khuất trong rừng rậm. Để đi được nhanh, họ chỉ mang theo vũ khí, đài vô tuyến xách tay và thức ăn cho một hai ngày. Đồ đạc còn lại, họ xếp lên thuyền buộc thật chắc, cách bờ khoảng mười mét. Tất nhiên trên vai nhà khảo cổ còn có một chiếc máy quay phim lắc lư nhè nhẹ.
Khoảng hai giờ sau, con đường trong rừng bớt rậm rạp. Trước mắt các nhà du lịch hiện ra một bức tranh mà họ ít chờ đợi được nhìn thấy ở đây. Dưới chân một ngọn núi không cao một thành phố lớn bằng đá hiện ra trăng trắng. Nhà cửa trong thành phố được phân bố gần như thành vòng tròn đều đặn bao quanh một ngọn đồi nhỏ. Ở giữa nổi lên một ngôi đền cao giống như cái bọng ong mái vòm, phía trên thu hẹp, hướng lên bầu trời tựa như tháp nhà thờ đạo Hồi. Mái của đền được chống đỡ bằng bốn pho tượng béo lùn. Mỗi chiếc đầu tượng tròn có ba mắt lồi nằm ở phía trước và hai bên.
Thoạt nhìn, tưởng như trong thành phố chỉ có trẻ con. Nhưng các nhà du lịch chỉ cần lại gần hơn thì một nhóm đàn ông được vũ trang bằng những chiếc cung lắp sẵn đã vây quanh họ. Ca-rin vội nói với họ rằng các nhà du lịch và họ là bạn của nhau, họ liền bỏ vũ khí xuống. Song họ chỉ thực sự yên tâm khi nhìn thấy trên chiếc cáng có đồng bào của mình.
Cả ngày các nhà du lịch được dẫn đi thăm thành phố đó. Một thành phố bị phá hủy và bị bỏ rơi, chìm ngập trong rác rưởi. Những ngôi nhà đẹp đẽ của nền kiến trúc hấp dẫn xưa kia đã biến thành cảnh đổ nát thảm hại. Chỉ có ngôi đền được giữ gìn bởi sự chăm nom không mệt mỏi của các thổ dân đã đứng vững trước thời gian.
Cứ nhìn vào người dân cũng đủ để xác định nguyên nhân hoang tàn của thành phố. Tất cả bộ lạc mang trên mình các đặc điểm của sự thoái hóa khủng khiếp. Các cử động lười biếng và mệt mỏi của mọi người đã giải thích một cách hùng hồn tất cả. Trong bộ lạc kỳ lạ này, các quái thai nhiều đến mức những người khỏe mạnh cũng chưa chắc có thể nuôi nổi chúng, mặc dù trong rừng rậm nguồn thức ăn khá phong phú. Các nhà du lịch đã rơi vào một thế giới khó tin là có thật. Cái thế giới đó sẽ kết thúc bằng cái chết chậm chạp, khủng khiếp.
Ca-rin suốt ngày không ngồi yên một chỗ. Anh chụp ảnh ngôi đền và một số ngôi nhà được giữ gìn, đồng thời anh chụp ảnh tất cả trẻ con, người lớn mà anh thuyết phục được. Nhưng anh không vào được sâu phía trong đền. Các thổ dân tỏ ra không hài lòng khi anh chỉ vừa mới đến gần chiếc cửa lớn. Chẳng còn cách nào khác, đành phải chờ cơ hội thuận lợi vậy.
Đến tối, nhà khảo cổ mệt đến mức vất vả lắm mới đến được ngôi nhà dành cho khách ở quảng trường. Nhưng anh không thể nghỉ ngơi được. Khi bóng tối đổ xuống, trước ngôi đền có các đống lửa lớn bùng cháy. Cả bộ lạc tản ra xung quanh các đống lửa. Nhưng không có một điệu múa dữ dội nào cả. Các thổ dân ngồi hiền hòa ở trong chỗ của họ và hát một bài hát ngân dài, buồn bã nào đó. Những tiếng trống đơn điệu đệm theo khiến cho bài hát càng thêm nặng nề, u uất.
- Bắt đầu một buổi lễ tôn giáo nào đó - Ca-rin nói, quên cả mệt mỏi - Buổi lễ này giống như lễ hiến sinh, có lẽ sẽ tiến hành vào sáng mai.
- Còn mình thì nghĩ rằng sẽ được nhìn thấy một điệu nhảy đúng mốt - Rô-man khéo dài giọng ngao ngán - Ca-rin này, dù sao họ cũng sẽ nhảy múa một chút chứ?
Nhưng nhà khảo cổ không nghe Rô-man nói. Anh rút ra một cuốn sổ tay và bắt đầu viết lia lịa.
- Những lời của bài ca này rất hay song cũng rất huyền bí - Ca-rin nói khi các thổ dân tản về nhà. - Bài hát nói về thời kỳ bộ lạc còn hùng mạnh. Sau đó kể về một cuộc hành quân kéo dài qua các rừng rậm, có lẽ đó là một trong những cuộc di dân của bộ lạc. Tiếc rằng trong bài hát không nói gì về các nguyên nhân gây ra cuộc di dân đó. Trong thời gian di chuyển, họ thấy xuất hiện “một ông thần bằng sắt, rực lửa, gầm gừ”. Ông giận dữ vì họ rời bỏ thành phố đá của mình. Khi đó họ đi đến vùng “nước lớn” và xây dựng ở đó một thành phố mới to hơn thành phố cũ. Hình như nội dung bài hát là như vậy. Họ xây cho ông thần một ngôi đền to. Nhưng ông thần vẫn không tha thứ cho bộ lạc và tiếp tục nguyền rủa họ không tiếc lời. Chỉ có lẽ hiến sinh mới ghìm được cơn giận của thần.
- Cậu ngạc nhiên cái gì! - Rô-man nói - Tất cả các vị thần đều nổi giận khi trong công việc của bộ lạc có cái gì đó không ổn. Thông thường những người tư tế hay giải thích sự thất bại của mình như vậy.
- Quả vậy, nhưng mình chưa từng nghe thấy bài hát nào của thổ dân nói về ông thần bằng sắt - Ca-rin bác lại, - chính điều đó khiến mình băng khoăn.
- Cậu là một người kỳ cục thật, nhà khảo cổ ạ - Máp-ri-cốp bật cười - Cả cái làng cổ đại này đối với cậu còn ít phải không, Ca-rin? Cậu còn muốn gì nữa nào? Sáng mai chúng ta cần phải lên đường để trở về trạm du lịch đúng hạn.
- Mình sẽ ở lại - Ca-rin trả lời cương quyết, - Mình không thể bỏ qua buổi nghi lễ này. Mình muốn quay phim nó.
Ngay trước lúc mặt trời mọc cả bộ lạc đã tập trung trước ngôi đền. Mọi người đều trang điểm đẹp đẽ. Nhưng những bộ quần áo màu sắc rực rỡ chỉ làm nổi bật lên các nét dị hình của thân thể, khiến họ càng trở nên thảm hại.
Khi các tia mặt trời đầu tiên mạ vàng lên nóc ngôi đền thì cánh cửa đồ sộ từ từ mở ra. Cả bộ lạc bắt đầu hát bài lễ ca và bước theo sau những người tư tế tiến vào trong đền. Ca-rin cùng với các bạn mình vội nhập vào đám rước. Thậm chí, họ còn may mắn là những người đầu tiên bước vào đền. Nhưng khi vừa bước qua ngưỡng cửa họ sững lại vì ngạc nhiên. Ở phía sâu trong đền có một cái gì đó nhìn xa giống như con người. Một quái vật khổng lồ cấu tạo từ kim loại, có màu xám mờ, chân rất ngắn, đầu tròn hình cầu, trên đó ánh lên bốn thấu kính lôi. Cái vật giống như người đó đứng trong một cái hố tròn bằng đá, có các bức tường thẳng đứng và trơn nhẵn, chắc để nó không bò ra được. Cái phần đi lại đồ sộ của người máy (vì thực ra, đây là người máy) giống như chiếc xe tăng. Có lẽ các thổ dân đã phát hiện ra sự giống nhau nào đó giữa người máy và các vị thần của họ nên đã tôn thờ người máy.
Người máy khá hoàn thiện không phải chỉ bằng vẻ ngoài: ngay từ phút đầu, các nhà du lịch đã khẳng định điều đó. Khi mọi người xuất hiện, người máy từ từ quay đầu lại và một trong những “con mắt” lạnh nhạt và không chớp của nó lóe sáng, chiếu thẳng vào họ. Từ phía trong bằng kim loại nghe rõ tiếng gầm gừ báo điều dữ. Quái vật máy bắt đầu chuyển sang sắc thái đỏ - vàng dường như trong người nó có một ngọn lửa đang bốc cháy. Và khi con vật dâng lễ bị trói chạm tới người máy thì một tia chớp chói lòa lóe lên. Chính vào lúc đó Máp-ri-cốp chú ý đến ánh sáng đó được phát ra từ chiếc máy định lượng trong túi mình.
- Chạy khỏi đây nhanh lên! Ở đây có bức xạ rất mạnh! - anh thét lên.
Các thổ dân hốt hoảng khi những người da trắng cố đẩy họ ra khỏi ngôi đền. Sau khi nghe những lời thuyết phục của Ca-rin, tất cả mới chịu ra khỏi ngôi đền. Các tư tế là những người cuối cùng rời khỏi ngôi đền, ánh mắt họ không báo hiệu điều gì tốt đẹp. Người cuối cùng vừa bước ra khỏi ngưỡng cửa, tiếng gầm gừ im bặt...
- Điều kỳ lạ gì vậy? - Rô-man trấn tĩnh lại rồi lúng túng thốt lên.
- Người máy - Máp-ri-cốp trả lời - thậm chí trẻ con cũng rõ.
- Ông thần bằng sắt gầm gừ - Ca-rin tiếp lời - Nhưng bằng cách nào nó gầm gừ và phát lửa ra thế nhỉ?
- Rất đơn giản - Máp-ri-cốp giải thích bằng cái giọng gần như chính anh chế tạo ra người máy này - sự gầm gừ và thay đổi màu sắc chỉ nhằm làm cho kẻ thù khiếp sợ, còn tia chớp xuất hiện khi tiếp xúc với vật nào đó. Một sự phóng điện bình thường.
Người tù trưởng cùng với các bô lão tiến lại phía Ca-rin. Trong khi người tù trưởng kể lại điều gì đó cho Ca-rin, các thổ dân mỉm cười đồng tình.
- Ông ấy trấn an chúng ta - nhà khảo cổ dịch - ông nói để chúng ta yên tâm, không việc gì phải sợ vị thần của họ. Từ đời xửa đời xưa, họ vẫn tiến hành lễ hiến sinh và người máy giết chết con vật cũng đúng như vậy. Người máy không làm điều gì xấu đối với họ, bởi vậy không nên lo sợ, cần quay vào đền.
- Điều đó hoàn toàn không được! - Máp-ri-cốp kêu lên - Cậu hãy nói với họ là ở trong đền nguy hiểm và tìm cách giải thích cho họ rõ.
Ca-rin trao đổi khá lâu với người tù trưởng. Bây giờ các bô lão không cười nữa, mà chú ý lắng nghe người da trắng nói. Sau đó họ im lặng quay trở về bộ lạc.
- Người máy đó lấy năng lượng điện ở đâu ra nhỉ? - Ca-rin hỏi - Bất kỳ ác quy nào cũng sẽ phải hết. Nếu đúng như lời người tù trưởng nói thì vị thần của họ ở trong đền từ rất lâu rồi.
- Trong người máy có lò phản ứng hạt nhân - Máp-ri-cốp trả lời quả quyết - Sự bức xạ đã chứng minh đầy đủ điều đó. Vả lại, không có nguồn năng lượng nào khác có thể hoạt động chừng ấy thời gian mà lại không cần được nạp lại...
- Lần đầu tiên mình nghe nói về người máy nguyên tử - Ca-rin nói một cách hoang mang - Vậy thì đã xảy ra.
- Đích thị điều đó đã xảy ra - Máp-ri-cốp ngắt lời - Một vị khách từ vũ trụ. Chỉ không rõ là vị đó đã bị mai táng ở đây từ bao giờ.
Rô-man khoát tay.
- Một vị khách! Vâng, và cùng với lòng thù hận nữa chứ! Có lẽ, nên tặng cho nó một loạt đạn?
- Cậu điên à? - Kỹ sư công phẫn - Bằng ấy năm con người đã gắng sức chế tạo ra bộ não điện tử, còn cậu lại muốn tiêu diệt vị sứ giả này. Biết bao nhiêu điều thú vị có thể biết được từ kết cấu của người máy!
- Tất nhiên! Thậm chí mình còn ngạc nhiên là tại sao cậu không bắt tay vào nghiên cứu ngay đi? - Anh chàng Ba Lan tiếp tục - Vị ấy sẽ đón tiếp cậu bằng âm nhạc và pháo hoa nữa kia đấy.
- Chính vì thế những người ở đây mới có hình thù quái gở như vậy - sau một lát im lặng, Ca-rin lên tiếng.
- Các cậu thử hình dung xem - Máp-ri-cốp đáp lại - biết bao nhiêu lần họ đã kéo cái gánh nặng này qua các rừng rậm, không nghi ngờ vào số phận khủng khiếp nó mang đến cho họ. Những người dũng cảm nhất đã chết ngay sau một lần chạm vào nó. Hoảng sợ trước cái chết khủng khiếp của họ, mọi người đã làm một cái cáng lớn - các bài hát tôn giáo của họ đã kể về điều đó - và kéo nó tới đây. Có thể, chính lúc đó họ đã xây cái ang bằng đá đó để chứa nó. Họ đặt nó vào đó để nó không bỏ chạy. Mình nhận thấy phần đi lại của nó rất tốt. Và trong suốt thời gian này từ lò phản ứng hạt nhân của người máy phóng ra các tia phóng xạ gây tử vong. Thực ra, lượng phóng xạ không đủ để gây chết người ngay, song đủ để mang lại những tổn hại không thể sửa chữa được. Mỗi lần họ ca tụng nó bằng các bài hát thần thánh của mình thì nó lại phóng ra các dòng tia vô hình. Sau đó, bắt đầu sinh ra các quái thai và bộ lạc tiếp tục sinh sôi nẩy nở để rồi kết cục có được một chủng loại như ngày nay...
- Họ đi tới đây, xây dựng xong thành phố đá rất nhanh, - Ca-rin dường như tiếp tục câu chuyện đã được nhiều người biết - những người thợ lành nghề còn sống, thành phố mang dáng hình đẹp đẽ và nổi danh mãi mãi bởi những công trình xây dựng đặc biệt. Nhưng rồi những người thợ lành nghề chết đi. Từ những bàn tay không tự nhiên của con, cháu họ chỉ tạo ra một sự tương tự thô kệch so với các kiệt tác cũ. Tỷ lệ tử vong tăng lên một cách đột ngột. Quả bấy giờ người máy chỉ chiếu tia phóng xạ vào họ trong các buổi lễ hiến sinh. Nhưng điều đó đủ để trẻ con trông có vẻ quái dị hơn bố mẹ chúng. Một thế hệ không có sinh lực, lười biếng, thờ ơ, không có đủ khả năng đấu tranh với thiên nhiên và những điều kiện sống khắc nghiệt... xuất hiện. Thành phố mất dần đi vẻ huy hoàng của mình và bắt đầu điêu tàn...
- Một cuộc sống ác nghiệt biết bao! - Rô-man ngắt lời vẻ đồng cảm - Kéo lê trên đôi vai của chính mình cái chết và tôn thờ nó như thần thánh. Những con người bất hạnh! Nhưng vì sao người máy có thể có mặt ở đây? Cậu nói gì về điều đó. - Rô-man hướng về phía Máp-ri-cốp, hỏi.
- Có thể nhờ một thiết bị mở ra khi rơi. Ý kiến đó không có gì mới.
- Người máy đến đây nhằm mục đích gì? - Rô-man nhìn Máp-ri-cốp như một dự thẩm viên.
- Thu thập thông tin trên một hành tinh lạ. Chắc chắn là người máy không đến đây theo ý thích của mình.
- Nhưng người máy sẽ quay về để truyền tin như thế nào?
- Thì các trạm giữa các hành tinh vẫn truyền tin từ vũ trụ về đấy thôi. Và người máy cũng sẽ truyền tin từ đây đi như vậy. Chẳng hạn, vào thời điểm khi hai hành tinh cùng nằm trong không gian ở vị trí thuận tiện nhất cho việc đó.
- Mình chịu thua - Rô-man khoát tay, nhưng sau một lát suy nghĩ, anh kêu lên: - Khoan đã, khoan đã. Nếu như người máy có mục đích như các cậu nói thì tại sao chính nó lại tiêu diệt những sinh vật cao cấp mà đáng ra nó phải tìm cách tiếp xúc?
- Mình cũng ngạc nhiên về điều đó - Kỹ sư mỉm cười chua xót, nhưng ánh mắt anh hoàn toàn nghiêm nghị - Thực chất, “sinh vật cao cấp” là cái gì? Nếu như tự đặt mình vào địa vị người máy...
- Về vấn đề này khảo cổ học sẽ hỗ trợ kỹ thuật - Ca-rin nhận xét - Lẽ dĩ nhiên, đó phải là các đối tượng sinh vật có mức phát triển phù hợp với mức phát triển của các sinh vật chế tạo ra người máy và phái nó tới đây.
- Chính thế! - Máp-ri-cốp tán thành - Không thể có cách so sách nào khác. Tất cả những sinh vật còn lại nó phải sợ vì họ có thể tiêu diệt nó. Đối với nó, họ là các thú dữ hoang dã. Nó được lập chương trình như vậy. Còn nếu như nó gặp các sinh vật có lý trí và bắt được tín hiệu thông tin của họ thì nó sẽ truyền tin đó đi theo cách thức phù hợp (mình còn chưa biết bằng cách nào), khi đó những người chế tạo ra nó sẽ bay tới đây. Nếu không tự bản thân họ mất thời gian để đến hành tinh chúng ta làm gì? Thay vào đó họ sẽ tìm trong vũ trụ các hành tinh khác, nơi họ hy vong có nền văn minh phát triển và họ sẽ bay tới đó. Mình không khẳng định giả thiết của mình đúng, nhưng mình đã lý giải lô-gích các sự việc.
- Tuy nhiên có thể về phía mình, người máy đã báo tin về là đã gặp được những sinh vật có lý trí mà nó phải tìm thì sao? - Ca-rin giả định.
Máp-ri-cốp bỗng tái mặt vì nỗi xúc động bị kiềm chế một cách khó nhọc.
- Mình không dám nói về điều đó mặc dù chính nó không để cho mình yên - Máp-ri-cốp thú nhận - Nhưng chúng ta sẽ hiểu nhau như thế nào? Như thế nào nhỉ?
- Như thế nào à, cứ hiểu như thế! Nhưng người máy thậm chí, có cho ai đến gần đâu! - Rô-man lại nổi nóng. Đột nhiên anh nâng khẩu tiểu liên lên bắn một loạt vào không khí.
- Sao cậu giở chứng như thế? - Máp-ri-cốp ngạc nhiên.
Rô-man im lặng chỉ tay về phía quảng trường. Ở đó các binh sĩ của bộ lạc cùng với những chiếc cung lắp sẵn tên vừa kêu lên sợ hãi, vừa chạy khỏi quảng trường. Sau họ là những thổ dân còn lại đang hốt hoảng tìm nơi ẩn náu.
- Chúng ta đã làm gián đoạn buổi lễ tôn giáo - Ca-rin vừa nói vừa nạp đạn vào súng tiểu liên - cho nên họ sẽ nổi giận.
- Cậu hãy giải thích cho họ rõ ông thần yêu quý của họ là cái gì - anh chàng Ba Lan đề nghị.
- Rô-man à, họ không có đầu óc hài hước đâu. Sau vài phút nữa họ sẽ giết chúng ta mặc dầu chúng ta có súng tiểu liên. Mình cam đoan với cậu rằng những chiếc cung trong tay họ là cái vũ khí rất đáng tin cậy.
- Chiếc đài vô tuyến! - Đột nhiên Máp-ri-cốp hét lên bằng một giọng the thé, ít khi thấy ở anh - Chúng ta sẽ liên lạc với họ bằng đài vô tuyến. Điều đơn giản như vậy mà tại sao mình không nghĩ ra ngay?
Vài phút sau, Máp-ri-cốp đã điều chỉnh một chiếc đài vô tuyến điện nhỏ. Chiếc kim đỏ từ từ di chuyển trên thang chia độ. Thỉnh thoảng người kỹ sư dừng lại giây lát lắng nghe và các bạn anh nhìn anh chờ đợi. Anh lại tiếp tục tìm làn sóng. Bỗng đôi mắt anh vụt sáng lên rạng rỡ. Anh vừa nói vừa thở hổn hển:
- Hình như mình đã bắt được sóng. Chưa bao giờ mình lại nghĩ rằng người máy hoạt động trên làn sóng đó. Phải rồi, chính là người máy!
Rô-man nhảy bổ về phía cửa đền để quan sát, còn Máp-ri-cốp truyền tín hiệu đầu tiên. Sau vài giây, có tín hiệu đáp lại - sự lập lại chính xác của tín hiệu truyền đi. Lúc ấy Rô-man liền ra hiệu gọi các bạn mình.
- Hãy giữ liên lạc! - Anh chàng Ba Lan thì thào khi các bạn chạy đến với mình - Người máy ngừng gầm gừ mặc dầu mình đang đứng ngay trước mắt của nó.
Người máy đứng bất động, chỉ có cái đầu dường như tìm kiếm cái gì, quay đi quay lại ngày càng nhanh. Thân người máy trở nên xám đục. Và khi Máp-ri-cốp vừa gõ tiếp cần phát tín hiệu thì trên ngực người máy bắt đầu từ từ mở ra một chiếc màn ảnh màu xanh lam. Chẳng bao lâu, trên màn ảnh hiện ra hình ảnh một hành tinh mà xung quanh có bốn vệ tinh với kích thước khác nhau quay nhịp nhàng.
- Làm thế nào biết được những bí mật gì ẩn náu sau màn ảnh này? - Rô-man nói, anh hoàn toàn quên mất mối ác cảm của mình đối với người máy.
- Hãy tin là chúng ta sẽ khám phá ra các bí mật đó - Máp-ri-cốp trả lời - Có thể, không chóng đâu và cũng không dễ dàng, nhưng chúng ta sẽ khám phá ra. Cho đến bây giờ người máy vẫn chưa hiểu là chúng mình truyền đi cái gì, chắc là nó không nghiên cứu ngôn ngữ của Trái Đất lúc ở nhà. Tuy nhiên, vừa mới nhận được những tín hiệu theo một trình tự lô-gích, tức thì nó tạm ngừng phản ứng bảo vệ và dùng màn ảnh để bày tỏ thiện chí của mình.
- Có phương tiện kỹ thuật, các cậu dễ dàng hơn biết bao - Rô-man mỉm cười và ngoảnh lại nhìn. Các thổ dân tiến đến gần anh, họ không rời mắt khỏi màn ảnh của vị thần kim loại. Có lẽ họ nghĩ rằng, đó là sự biểu lộ lòng khoan ái đó đối với ba người da trắng, vì vậy các cung tên của họ đã được hạ xuống một cách hòa bình.
- Bây giờ chúng ta rõ là cần phải làm gì - Máp-ri-cốp tiếp tục - Trước tiên, cần phải làm cho người máy hiểu chúng ta, sau đó sẽ hỏi nó cặn kẽ. Chỉ lúc đó chúng ta mới đạt được việc liên hệ với những người cử nó đến Trái Đất. Rõ ràng là, không có lời mời chính thức, họ sẽ không đến thăm đâu.
- Cậu chuẩn bị giao thiệp với người máy bằng thổ ngữ địa phương hay bằng một thứ ngôn ngữ phương Tây nào thế? - Ca-rin hỏi dò, giữ vẻ mỉa mai của mình, thậm chí cả trong lúc không bình thường như thế này.
- Có những loại ngôn ngữ chính xác hơn - kỹ sư trả lời - ngôn ngữ toán học và các định luật vật lý. Nó sẽ hiểu được những ngôn ngữ đó. Các chuyên gia sẽ tìm ra phương pháp mà bằng phương pháp đó người máy gửi tin đến hành tinh của nó để liên lạc với những người chế tạo ra nó.
Trong khi họ nói chuyện, cách xử sự của người máy không thay đổi. Nó nhanh chóng chuyển dịch cái phần đi lại của mình mong muốn tiến lại gần họ hơn. Nhưng không có sự giúp đỡ của người khác không bao giờ nó có thể thoát ra khỏi cái lồng đá của mình. Có một cái gì đó cảm động và to lớn trong tất cả hành động ấy và các nhà du lịch cảm thấy điều đó. Hai nền văn minh, cho đến bây giờ vẫn chưa biết gì về nhau, đã vượt qua thời gian và không gian, xiết chặt tay nhau...
PHẠM THỊ HẠNH dịch