Chuyến Du Hành Ngược Thời Gian

Lượt đọc: 668 | 2 Đánh giá: 9/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
MƯỜI BA “Ô-XCA-RƠ”
iu-mét-vê-đép (liên xô)​ (nguyên tác: чертова дюжина "оскаров" của юрий медведев)

Tôi ngồi bên chiếc bàn có hình bầu dục kỳ quái hao hao giống quỹ đạo với hai mặt trời. Có sáu bàn như vậy trong khách sạn, nhưng bàn tôi ở chỗ thuận tiện hơn cả. Thứ nhất, bên cạnh, trong chiếc thùng gỗ là cây cọ, dù cằn cỗi nhưng khá đẹp, đang đứng lặng lẽ, mà tôi lại yêu những cây cảnh trong phòng. Thứ hai, tôi trông thấy hết những người đi vào và đi ra. Thứ ba, tôi có thể ngắm cảnh biển chiều tà mà không vướng. Tôi thấy sóng biển xuất hiện, lớn dần, dâng lên và tung ngọn trắng xóa đến tận những tảng đá cạnh bờ và vỡ tan khi đập vào chúng.

Trong khách sạn nhỏ vắng khách; vào giờ này, những người đi nghỉ đang thiu thiu trên cát nóng, hoặc uể oải đánh bài, giết thì giờ bằng những trò chơi rỗi rãi. Cái vui nhờ men rượu xảy ra muộn hơn, khoảng sau tám, chín giờ, còn lúc này, ở bàn bên trái một cụ già hưu trí đang ngồi giải bài đố chữ, thỉnh thoảng lại nhấm nháp li cô nhắc; còn bàn bên phải, cạnh cửa sổ mở toang là đôi trai gái, có lẽ đang yêu, nói chuyện thì thầm và chốc chốc lại cười rộ lên như pháo nổ.

Người khách mới vào việc đầu tiên là đến quầy hàng; ở đấy thậm chí không thèm nhăn mặt, ông ta nốc đến ba phần tư cốc vốt ca, sau đó ngồi xuống bàn bên cạnh, mặt hướng về phía tôi, lưng quay ra biển và chờ người phục vụ. Đến lúc đấy tôi mới có thể nhìn kỹ ông ta. Tóc ông ta đen và lượn sóng, từ trán đến đỉnh đầu nhẵn thín. Trong đôi mắt lồi màu xám linh lợi luôn luôn đảo từ chỗ này qua chỗ khác lại biểu hiện một nỗi buồn tuyệt vọng. Bức chân dung được bổ sung thêm chiếc mũi thon hơi gồ, đôi môi sưng húp mầu mận chín và đôi tai vểnh khác thường. Đôi tai vểnh này gây nên một ấn tượng buồn cười, dường như chủ chúng đang lắng nghe tất thảy.

Ông ta rỉ tai người phục vụ vừa đến điều gì đó, và chẳng mấy chốc trước mặt ông đã có chai rượu lạnh và đĩa thức ăn gì đấy. Khoảng mười phút sau, toàn thân đỏ tía và người lừ đừ, ông dùng những ngón tay múp míp vuốt thẳng điếu thuốc lá và hỏi với sang tôi:

- Có thể châm nhờ điếu thuốc không?

Tôi im lặng gật đầu, ông ta đi lại gần, châm thuốc; và sau khi nhả ra một đám khói, ông nói:

- Bật lửa của cậu có hạng đấy. Ngoại hạng, đúng là bếp nguyên tử. Không thể tìm được cái thứ hai như thế. Tôi nói thật là cậu gặp may đấy, anh bạn ạ... Tôi gọi “cậu” mà không xin phép có được không?

- Không hề gì - tôi trả lời - Còn bật lửa bằng ti-tan đấy.

- Tốt lắm, vừa đẹp, vừa quý. Kim loại hiếm, hình như tôi có nghe là người ta dùng nó làm áo quần cho thợ lặn, quần áo bảo hiểm vũ trụ cùng những thứ khác. Và làm cả những mũi khoan vĩnh cửu... Tôi thấy cậu không uống rượu mà chỉ dùng nước chanh. Hay chúng ta làm tí tửu nhân cuộc gặp gỡ này nhỉ?

Trong khi tôi đang suy nghĩ về câu nói cuối của ông, ông đã nhanh nhẹn chuyển qua bàn tôi chai rượu lạnh và đĩa thức nhắm. Tôi thẳng thừng từ chối vốt-ca, và ông uống luôn cho cả hai chúng tôi.

- Ừ, bật lửa đẹp thật - ông nói và chậm rãi nhai lạp xưởng - Nhưng mà quái lạ, nó có những bảy núm, để làm gì lắm thế?

- Không phải bảy, mà là tám - tôi mỉm cười - tùy thuộc vào người hút là ai. Cái núm vàng này dành cho kẻ độc thân, màu đỏ cho người có vợ, màu xanh cho người đã ly dị, màu bạc cho những người mê bóng đá, v.v..

Khi cười, mồm ông rộng đến tận mang tai, do đó tai càng vểnh hơn, và ông giống hệt con dơi.

- Cậu cũng biết đùa đấy, anh bạn ạ. Rõ ngay cậu là con người nghệ thuật, có thể nói là tay ăn chơi. Áo khoác của cậu cũng loại tốt, riêng khóa đã đến hai chục chiếc, không ít hơn. Chắc lại vớ được đâu đó ở nước ngoài hả? - Ông ngả người rất điệu ra ghế và nheo mắt - Cậu muốn tôi đoán cậu làm nghề gì không? Làm phim? Không đúng à? Thế chắc ở vô tuyến truyền hình? Lại trật? Chế tạo đài? Cũng không phải nốt? Tất là phóng viên báo chí?

- Tôi nghiên cứu các dân tộc và giống người cổ. Lịch sử học, dân tộc học cổ đại, sự giao tiếp cổ. Nếu không hiểu, tôi có thể giải thích. Những vấn đề giao tiếp qua lại về phương diện lịch sử - tôi nói một cách khô khan.

- Thế thì Crưm đối với cậu là kho báu! - Ông ta mừng rỡ - Không xa đây lắm, ở A-lu-sta hiện giờ người ta đang khai quật một pháo đài cổ. Cậu hãy tưởng tượng nó còn nguyên vẹn hoàn toàn, tường cao khoảng năm mét, nguyên cả những lâu đài, những bức tượng, bích họa - tuyệt đẹp! Chắc cậu không phải là người ở đây? Cậu từ đâu đến đây nghỉ? Từ Mát-xcơ-va? Từ Ki-ép?

- Tôi đến đây công tác, nghiên cứu khảo cổ. Còn bản thân sinh ở kia - Tôi khoát tay vu vơ về phía quầy hàng - từ vùng Bắc cực, đến được chỗ chúng tôi không dễ gì.

- Ừ, mà tôi trông cậu như xác chết, người nhợt nhạt, ha ha! Tôi biết tất cả mọi người ở phương Bắc đều như thế cả. Nhưng không sao, chẳng mấy chốc mặt trời ở đây sẽ thui cháy cậu, như nướng chả ấy - Ông uống cạn ly rượu và nói ngọt ngào, giống như đang tự lắng nghe bản thân: - Còn tôi là Giư-lê-vin, cậu hãy tưởng tượng, chính I-liu-sa Giư-lê-vin! Cho nên, con bọ bác học ạ, cậu gặp may đấy.

- Cái họ tương đối hiếm - tôi cố nói cho nhã nhặn hơn.

Ông như hoàn toàn sôi lên, vì bực tức:

- Và cậu muốn nói rằng cậu không biết gì về I-liu-sa Giư-lê-vin chứ gì? Và sau điều này mà cậu dám tự gọi mình là người có văn hóa à? Và cả về Mi-sa Bác-cốp-xki cũng chẳng nghe đến bao giờ hả?

- Họ Bác-cốp-xki thường gặp hơn, nhất là ở U-crai-na - tôi nói.

Ông nhắm đôi mắt nẩy lửa lại, hai tay ôm đầu và lắc lư bên này sang bên nọ.

- Vị công dân này dớ dẩn. Và không biết người ta lấy những kẻ như thế vào khoa học làm gì cơ chứ? Anh ta ngồi trong khách sạn, nhợt nhạt như thây ma, uống nước chanh và không biết gì đến những người tốt nhất trong xã hội. Nhưng ta sẽ giúp kẻ tâm thần này tỉnh lại - Ông ta mở mắt ra và ngừng lắc lư - Mi-sa Bác-cốp-xki là đạo diễn của “Cuộc đổ bộ lên Sao Thổ” - Bộ phim nổi tiếng khắp thế giới. Người đã được nhận mười ba “Ô-xca-rơ” ấy. Nhưng đừng nói rằng cậu lại cũng không biết gì về “Ô-xca-rơ”, không có tôi chết vì cười đấy.

- Ông chẳng chết đâu - tôi nói, và sau một lúc im lặng, tiếp: - Năm năm nay tôi đi khảo sát ở một thành phố lớn rất cổ ở phương Bắc, vì thế mà tôi không biết nhiều tên mới. Còn cái tên “Ô-xca-rơ” thì nó gặp tương đối...

- Tương đối! Tương đối! - ông ta vun tay ngắt lời tôi - Đứa trẻ nào cũng biết, “Ô-xca-rơ” là giải thưởng, mà là giải thưởng nổi tiếng khắp thế giới này. Ở Hô-li-út, hàng năm người ta trao “Ô-xca-rơ” cho những nhà làm phim nổi tiếng nhất. Phê-li-nhi, An-tô nhi-ô-nhi, Béc-gman, Li-da Mi-nhe-li, Pôn Xcô-phin-đơ đã được nhận. Còn Biu-nhiu-en một lúc nhận liền bốn “Ô-xca-rơ’”, hai giải cho “Gac-gan chiu-a” còn hai cho “Pan-ta-griu-e-li-a”. Ông đã thể hiện Ra-bơ-le thành công nhất. Thế đấy, “Cuộc đổ bộ lên Sao Thổ” chiếm tất cả “Ô-xca-rơ” của ba năm tiếp - Mi-sa Bác-cốp-xki mang về mười ba tượng vàng, hiểu chưa? Một đống phát sợ. Cả thế giới từ bấy đến nay đang ngơ ngác mặc dù bao nhiêu thời gian đã qua - Ông ta nhổm lên, gập người qua bàn, ghé vào tôi hạ giọng đến thì thầm: - Mà thực tế tất cả giải thưởng đáng lẽ vẫn trao - thử đoán cho ai? Đến già cậu cũng không đoán nổi - cho tôi! Cho I-liu-sa Giư-lê-vin này, nếu tôi nói dối, tôi cứ là con gián! Nào cùng uống tí chút chứ? Tôi sẽ còn gọi thêm chai nữa, uống cho có bạn, như người ta thường nói.

Và chai rượu lạnh thứ hai lập tức đến ngồi chễm chệ trên chiếc bàn hình bầu dục giống như quỹ đạo hành tinh với hai mặt trời của chúng tôi.

- Tiếc là cậu không biết dùng, tội nghiệp - Giư-lê-vin nói một cách tiếc rẻ - Dù sao tôi cũng hiểu cậu, ai mà chẳng có điểm yếu của mình. Nghiêm chỉnh mà nói thì tôi mới bắt đầu uống nhiều ở thời gian cuối, đặc biệt là cả tuần này, tất nhiên, sau cuộc nói chuyện với Bác-cốp-xki. Chuyện không ổn lắm với thằng chó má này.

- Mà là chuyện gì thế? - Tôi quan tâm một cách miễn cưỡng.

- Chuyện phức tạp lắm. Nếu đã thế, tôi sẽ kể hết với cậu có đầu có cuối. Cái gì đó ở cậu làm tôi có cảm tình, dù cho cậu không nghiện rượu. Nhưng tôi có thể ngồi gần cậu hơn được không, cậu không phản đối chứ? Như thường nói “cả vách cũng có tai...”. Bây giờ hãy im lặng. Tôi sẽ nói hết như lúc xưng tội. Tâm hồn khao khát được thổ lộ hết, có thể sau đó sẽ nhẹ nhàng hơn.

Việc là thế này. Từ bé tôi đã được phú một thiên bẩm đối với tiếng nước ngoài. Các môn khác cố lắm mới được ba lên bốn điểm. Nhưng đến tiếng Anh, tiếng Pháp thì các giáo viên mừng không để đâu cho hết với tôi. Bẩm sinh đã là người đa ngữ, cậu không còn nghi ngờ. Khoảng mười tuổi, tôi đã nhẹ nhàng vượt qua sáu thứ tiếng, trước khi vào đại học, tôi đã nắm vững khoảng ba mươi, không ít hơn. Người ta bế tôi trên tay, trước các hội nghị chuyên đề quốc tế, người ta giới thiệu tôi như một kỳ vật. Còn đối với tôi thì sao? Học một thứ tiếng - xoẹt cái là xong. Chỉ cần nghe năm, sáu câu bằng một thứ tiếng bất kỳ nào, thì ngay trong đầu tôi, ở đây này, hãy nhìn nơi cái u ấy, bắt đầu có tiếng tí ta tí tách khe khẽ, giống như người máy làm việc. Tách tách - và đã có một ngôn ngữ mới, tất nhiên là phần cơ bản, còn những chi tiết chỉ là việc góp nhặt... Nhưng có lẽ cậu nghĩ là I-liu-sa đang nói dóc với cậu, đang kể chuyện cổ tích. Nhìn mắt cậu, tôi thấy cậu không tin. Thì cậu cứ thử tôi xem. Cứ việc thử! Đã là người nghiên cứu các dân tộc, các giống người cổ, chắc là cũng biết dù chỉ một ngôn ngữ cổ. Thì cứ nói vài ba mươi chữ để thử, chúng ta cũng chẳng mất gì.

Tôi mỉm cười và bắt đầu đọc một đoạn tôi thích trong “Ma-ha-bơ-ra-ta”, bằng tiếng Phạn sử thi.

Tôi đọc đến hết một chương trong “Tình chung thủy vợ chồng” và nhìn Giư-lê-vin thăm dò. Ông ngồi với mắt lim dim dường như đang mơ màng. Thế nhưng, thú thực, tôi kinh ngạc khi ông trả lời:

- Tôi không biết thứ tiếng này. Nó rất cổ - Ông cũng trả lời bằng tiếng Phạn, hơn nữa, và đấy là điều chủ yếu, bằng tiếng Phạn sử thi! Ông phát âm sai, đặt câu không đúng lắm, nhưng đã xảy ra điều kỳ diệu: ông nói bằng thứ tiếng mà ít ai trên trái đất biết đến.

Tôi nói với ông mấy câu từ trong “Gia-ga-me-sa”. Và sau mấy phút, tôi tự khẳng định: Con người say mèm này có khả năng nói bằng tiếng của những người Su-ma-rơ cổ!

Tôi không phải là người biết nhiều thứ tiếng. Nhưng những đoạn trích dẫn trong các tư liệu cổ dĩ nhiên tôi thuộc lòng, hơn nữa, đó là nghề nghiệp của tôi - biết lịch sử kỹ hơn những người khác. Tôi đọc cho ông nghe những bài cổ xưa bằng thổ ngữ Bu-an, Ken-tơ, A-ra-mây, Bin-đy-cu-sơ, On-ve-rơ, Ta-tran - và ông ta đã thắng bất kỳ lần thử thách nào.

Cuối cùng, bị xúc phạm, tôi nói với ông bằng thứ tiếng cực kỳ phức tạp và cổ mà đối với các chuyên gia nghiên cứu cũng là một mớ hỗn tạp vô nghĩa, hoàn toàn khó hiểu. Bài này tôi phát hiện được lúc khai quật thành phố ở phương Bắc, và thú thật, chính tôi cũng chỉ mới tí chút bắt đầu giải mã.

Thế mà Giư-lê-vin lại thắng, khi dịch khá chính xác bài này đến tận câu cuối cùng hơi bí ẩn!

“Người làm thế có đúng không, hỡi Người mang ánh sáng thông thái, khi chu du khắp cả Thiên hà? Rường cột của Trí tuệ như Người là để khai phá những thế giới trong bản thân, chứ không phải là đi tìm mình trong các thế giới”.

- Tin chưa? - Ông hỏi buồn bã - Của trời cho, không hơn không kém như thường nói. Mà cũng chỉ vì cái của đáng nguyền rủa này mà cuộc đời tôi mới lộn nhào.

Việc là thế này: Tôi đang học năm thứ ba. Tháng năm, ngay trước khi nghỉ hè, Bác-cốp-xki ghé vào chỗ chúng tôi, hắn chưa nổi tiếng lắm, dù đã chiếm được giải “Ngôi sao pha lê” ở Vê-nê-xi-a. Hắn đến và quyến rũ tôi theo. Hóa ra, tôi rất cần cho hắn. Hắn ta lúc ấy mới chỉ bắt đầu quay “Cuộc đổ bộ lên Sao Thổ”, báo chí, phát thanh, truyền hình sặc sụa lên vì nó. Chẳng lẽ cậu không nhớ sao? Lạ thật... Nào là sự kiện cực kỳ vĩ đại! Khoa học viễn tưởng! Mười tám triệu rúp dành cho nó đấy, không thiếu cô-pếch nào. Chỉ riêng vai phụ đã hơn sáu nghìn người! Diễn viên của hơn hai mươi nước. Bác-cốp-xki mời tôi đến làm việc với hắn cả mùa hè, hắn không muốn có một đoàn nhiều phiên dịch. Còn tôi, thằng ngốc cắn phải bả, mặc dù phải nói là hắn trả cho tôi rất hậu, thậm chí tôi cũng không phải nói là bao nhiêu nữa, vì thế nào cậu cũng không tin. Và tôi cũng được thấy nhiều... Cậu có lẽ thường ra nước ngoài chứ, người anh em khảo cổ?

- Trước kia thường phải đi nhiều hơn so với bây giờ. Sắp tới tôi lại chuẩn bị sang Pa-ri - tôi nói.

- Ô là là, Pa-ri! - Giư-lê-vin khoát tay - Tôi sang đấy khoảng hai chục lần không ít hơn. Nhưng cái đó là sau này, hè năm sau. Còn đầu tiên chúng tôi cùng Bác-cốp-xki bay sang Ô-xtơ-ra-li-a, ở đấy quay chút ít gì đó trực tiếp. Sau một tuần, chúng tôi đã ở Tây Tạng chụp ảnh các đền chùa. Rồi Hô-nô-lu-lu, rồi Nam Mỹ, Cu-xcô, đế quốc In-cơ cổ. Bác-cốp-xki là con trẻ của thiên nhiên, trong đầu hắn đầy những dự định, liên tưởng. Hôm nay ở Grê-na-đa, mai đã Nhật Bản, ngày kia... Nói chung, tôi rơi vào bẫy của hắn, giống như con cá vàng trong chuyện cổ tích của Pu-skin. Ra nước ngoài! Các khách sạn lớn! Những cuộc tiếp kiến! Rượu thập cẩm! Phỏng vấn!... Đành phải xin phép nghỉ học dài hạn, tôi đã quá say mê phim ảnh đáng nguyền rủa. Mà thôi, ai kể hết được, bây giờ tôi nói đến cái chủ yếu.

Hãy chú ý nghe tôi. Nhưng hãy thề, hãy thề là không bao giờ và không một lời, không nửa lời với ai? Cậu có thề không? Thôi được. Không cần thề, tôi cũng tin cậu, cậu có cái gì đó làm tôi mến, dù cậu không dùng rượu.

Chúng tôi quay phim không xa đây lắm, gần Xu-đác, cách khoảng mười - mười hai cây số gì đó trong một khe núi gần biển. Quang cảnh quay mở đầu - những người của Trái Đất đổ bộ xuống Sao Thổ. Mà thế nào là dựng cảnh phim, chắc cậu cũng đã biết, mà nếu không biết cũng chẳng sao. Hãy hình dung một khe núi tương đối rộng, có suối reo, có sóng biển vỗ rì rào. Trên đỉnh đồi là mẫu một chiếc tàu vũ trụ, người ta dựng chỉ một phần ba tàu. Để quay phim một phần ba là đủ, còn lại là công việc của các nhà quay phim. Dọc bờ là cỏ, cây kỳ lạ làm bằng nhựa pô-li-ê-ti-len. Còn trên phần lớn khe núi là những mẫu lều tàn tạ của thổ dân Sao Thổ.

Theo ý định của biên kịch, khi người Trái Đất bay đến đấy, ở đó còn đang là thời kỳ đồ đá. Sự dã man, cuộc đấu tranh với thú dữ, thổ dân mặc khố - khán giả chắc mê mệt với những cảnh như vậy, tôi nói đúng không? ... Để thêm sức thuyết phục, các họa sĩ dàn cảnh dựng nên mẫu cuộc sống hoang dại theo tranh trong tập bản đồ màu nổi tiếng thế giới “Lịch sử Châu Phi” của Gốc-đôn Oai-dơ. Theo đó mà làm lều, quần áo và vũ khí của bộ lạc Nga-lơ sống ở Nam Phi. Đừng ngạc nhiên, phim chỉ truyền là sự bịa đặt ...

Tôi nhớ là cảnh quay không đạt. Qua hai đêm quay mất mười tám lần mà Bác-cốp-xki vẫn không bằng lòng: không phải thế này, không như thế kia, lúc hắn ở trường quay chẳng khác gì một kẻ ngớ ngẩn. Mọi người mệt lử, còn hắn ta cứ như không. Vì quá căng thẳng, mắt trái tôi bắt đầu giật giật, chắc là huyết áp tăng.

Chiều tối thứ ba tôi quyết định ngủ một chốc. Thỏa thuận với Bác-cốp-xki là đánh thức tôi dậy vào lúc nửa đêm, khi đã chiếu sáng và hóa trang xong, tóm lại là trước khi quay. Còn tôi đã ranh ma tìm chỗ ngủ - cậu thử đoán ở đâu? Hết đời cũng chịu - trong khoang tàu vũ trụ của chúng tôi. Ở đấy, đi văng êm như đệm lông chim, hàng đống khí cụ khó hình dung nổi, còn đêm tỉnh dậy; qua cửa kính trong suốt là mặt trăng, sao trên trời phương Nam rất to, cứ như mình rơi vào thế giới khác. Cái chính là, tiếng kêu từ trường quay nghe không rõ, dù cho Bác-cốp-xki gào không ít, cổ họng hắn ta cứ như được mạ bằng thiếc, còn tôi cứ ngủ trong im lặng và bình thản.

Tôi tỉnh dậy bất ngờ. Giống như tôi bị điện giật hay bị một con gì đó cắn. Theo thói quen, tôi nhìn đồng hồ. Mười một rưỡi. Ánh sáng màu tím nhạt rực rỡ tràn qua buồng kính tàu vũ trụ. Chẳng lẽ, tôi nghĩ, các vị phụ trách ánh sáng quyết định đánh thức tôi bằng kiểu này: các vị là thích chơi trội. Tôi nhỏm dậy khỏi đi văng, lại gần cửa buồng - và không còn tin vào chính mắt mình nữa. Ngay trên khe núi chúng tôi, một vật lớn, tròn giống như con sứa, đường kính chừng 200 mét, toàn thân phủ đầy những ngọn đèn nhiều màu sắc, treo lơ lửng và tỏa xuống khe núi màu tím nhạt. Thú thực, đang mơ ngủ, tôi không xác định được ngay nó là gì, thậm chí trong đầu thoáng có ý nghĩ ngộ nghĩnh. Tôi nghĩ, chẳng lẽ Bác-cốp-xki đã biết cách thỏa thuận với người nào đó để làm nên một vật như thế cho cảnh phim? Và ngay đấy, tôi bỗng nổi gai ốc: một sự im lặng tuyệt đối, thậm chí tôi nghe rõ tiếng tích tắc của đồng hồ mình. Và cũng chính cái lặng thinh đó làm tôi lạnh sống lưng.

Để treo được chiếc máy cỡ ấy giữa trời mà không gây ầm ĩ, lộn xộn thì khoa học Trái Đất của anh chưa đạt tới, người bác học anh em ạ. Và một cái khác làm tôi kinh hoàng đến tận tim: ánh sáng quỷ quái kia hoàn toàn không có bóng. Biết đâu, vòm kính nhựa tổng hợp có thể là sai lệch phối cảnh và như thế mắt có thể nhầm. Tôi mở nắp và thò nửa người ra ngoài. Và đúng thế thật, con sứa treo lơ lửng giữa không trung, hơn nữa, trong im lặng hoàn toàn. Thậm chí trạm điện đi-ê-den của chúng tôi cũng im bặt. Và tất nhiên, không có một cái bóng nào ...

Sao mắt cậu lạnh như băng vậy? Không tin à? Cậu nghĩ đấy là điều bịa đặt, chuyện nhảm nhí của kẻ say ư? Hãy gượm. Cậu còn chưa nghe điều ấy, còn chưa đến điều chính.

Tôi kỹ lưỡng nghiên cứu Giư-lê-vin. Tay ông ta như đang bị kinh giật, trên trán lấm tấm mồ hôi, còn có thể nhận thấy mắt trái bắt đầu giật giật.

- Vâng, chưa đến cái chính đâu. Chính ra tôi không nên thò nửa người ra ngoài, không nên. Họ đã nhận ra tôi, và lập tức một chùm ánh sáng vàng nhọn ụp xuống chỗ tôi vừa thò ra.

Đừng hỏi tôi thế nào, nhưng tôi lập tức bị lôi ra khỏi buồng tàu, như bị những cái vòi vô hình cuộn lấy, và tôi bay bổng lên không - Cậu tưởng tượng xem! - bay bổng lên không trung và bơi đến chỗ con sứa. Tia sáng vàng hút tôi vào như một cái ống. Người khác ở địa vị tôi lúc ấy chắc chết ngất, ít ra cũng bất tỉnh nhân sự. Còn tôi thì như không. Một sự tỉnh táo đến lạnh lùng ở trong óc, giống như khi mất ngủ.

Cậu tin không, tôi nhận thấy tất cả: những con bướm đêm bay lạc vào tia sáng vàng bị dính theo như thế nào, y như dính vào mật đặc, và tia sáng chỉ có đến tôi, còn sau tôi là mầu đen kéo dài, trống rỗng và im lìm. Nhưng điều không thể hình dung nổi là phía dưới, trong khe núi. Cậu có biết chuyện cổ tích về những tên phù thủy độc ác đã biến cả những vương quốc chìm vào giấc ngủ? Một cảnh như thế tôi thấy phía dưới, khi bơi đến bên con sứa.

Phía dưới, như có phép mầu của chiếc đũa thần, tất cả đoàn quay phim của chúng tôi đờ ra. Các nhân vật chính đứng đờ trong tư thế khó diễn tả nhất: Búc-vin thế là không kịp uống hết cốc nước cam mà anh ta thích, Pôn Nhiu-men ngồi với chiếc mũ rộng vành giơ cao, A-len Đờ-lông đang buộc dây áo quần bảo hiểm. Ca-chi-a, Pa-xca-lê-va đang thì thầm gì đó với Gi-na Lô-lô-brít-gi-đa, Ba-nhi-ô-nhi, Grê-gô-ri Péc, Ma-xtrôi-an-nhi và Áp-tan-đin Lê-gia-va, như mọi lần, đang ẩu đả ván bài. Diễn viên dự bị, hàng trăm vai phụ - tất cả, tất cả đều chết lặng như những pho tượng. Và không chỉ mọi người. Con chó Ca-dơ-biếc lạc đến tình cờ, con vật hiền lành nặng nề, to như con bê đang nhảy qua sông, thế là bị treo trong không khí. Trên tán cây dâu tằm hai con cú nằm xoài như gặp phải vật cản vô hình. Ánh sáng tím nhạt như một cái lồng phủ lên tất cả. Xem đây, tay tôi tựa như có kiến bò, nhớ lại mà ghê rợn, còn lúc ấy, cậu có thể không tin, lông mày tôi không thèm động. Đợi tí, tôi nhấm giọng một chút, cổ lại khô mất rồi.

Nó là thế này. Tôi bơi lại chỗ con sứa, gần phần trên của nó. Tia sáng điềm nhiên đẩy tôi qua tường. Cậu tin nổi không, như qua bãi lầy. Nhoáng cái và bãi lầy khép lại, như không có chuyện gì xảy ra, mà sờ thì tường hình như bằng đồng, tôi kịp lướt tay qua.

Tôi lọt vào trong vật kỳ quái này, nhìn thấy một phòng dài, hoặc là hành lang, hoặc quái quỷ biết là gì, chỉ nhớ là những tia lửa màu tím lấp lánh trên tường. Nhìn lại mình: may quá, chân tay còn nguyên vẹn, còn chính tôi như ở trong một quả bóng bay màu vàng. Nhìn thấy vỏ mà dùng ngón tay chọc lại trống không, không có gì cả, đúng là ảo thuật, anh bạn ạ.

Cuối hành lang xuất hiện hai bóng người, lùn tịt, chân ngắn như chó lùn, cao lắm là mét rưỡi, vai cũng rộng từng ấy, áo bảo hiểm không rõ mặt, chỉ lộ hai khe mắt. Còn dưới chân là bánh xe gì đó, giống bánh ròng rọc của ta, tôi nhìn không được kỹ. Họ di chuyển trên những bánh xe này khá nhẹ nhàng, dù không quen đối với mắt người ngoài.

Họ lại gần tôi và vẫy tay: kiểu như nói, xin lỗi, xin hãy đi cùng chúng tôi. Còn tôi thì cũng chẳng mất gì, tự trấn an bằng một hy vọng: có thể tôi đang ngủ và nằm mê; tôi thường còn mơ thấy nhiều điều rùng rợn hơn thế.

Tôi đi cùng họ chừng mười lăm phút, không ít hơn: Một lần nữa, chúng tôi lại xuyên qua tường, vì ở đó không có lấy một cái cửa nào cả, ngồi đung đưa trên xe tời, đi lên đâu đó rồi sau lại hạ xuống, thậm chí còn đi đầu xuống dưới - đúng là viễn tưởng! Và khi chúng tôi đi sâu vào lòng con sứa, tôi bắt đầu để ý nghe họ trò chuyện, và bỗng nghe trong đầu mình, đây này, chỗ có u ấy, tiếng tí ta, tí tách khe khẽ. A, tôi nghĩ, máy trong đầu tôi đã bắt đầu làm việc! Thổ ngữ họ hiện dần qua màn sương đối với tôi, tôi cảm thấy và tôi bắt đầu hiểu những con chó lùn của tôi đang bàn cãi điều gì...

Anh bạn, cậu có thể không tin, đôi lúc đã xảy ra những sự trùng hợp như thế nào. Hãy nghe tôi cho kỹ và đừng kinh ngạc. Thì ra, đó là một đoàn quay phim từ hành tinh khác đến đây, đến Trái Đất. Thế kỷ trước tổ tiên họ đã đến thăm những người hoang dã của chính bộ lạc Nga-lơ sống ở Nam Phi, tôi đã nói với cậu. Và, về cuộc viếng thăm nọ, họ định dựng một bộ phim lớn, như phim sử thi chiến tranh của ta, quay tại chỗ. Thế nhưng chưa bay đến châu Phi, họ trông thấy cảnh dựng của chúng tôi trong khe núi, nhận ra những cái lều hoang dã, những thổ dân Nga-lơ mình bôi lem luốc đang hung dữ vung rìu, nhảy điệu múa trận.

Tất nhiên, họ liền chú ý xem: từ đâu mà ở vùng này bỗng dưng có người Nga-lơ, nếu thế kỷ trước họ sống ở châu Phi? Họ tự chuyển đến đây hay bị bộ lạc kẻ thù hung dữ nào xua đuổi? Tóm lại, họ quyết định làm sáng tỏ đầu đuôi, họ hạ xuống và làm tất cả dân bản xứ mê ngủ trong một thời gian. Bao giờ ngay từ đầu họ cũng xử sự như thế trước khi đặt quan hệ với những nền văn minh phát triển thấp hơn. Họ kiểm tra, xem dân bản xứ có bệnh ho lao, đau mắt hột, kiết lị, nói chung, có vi trùng gây bệnh hay không. Tôi không dám bảo đảm chi tiết cuộc trò chuyện của họ, nhưng ý chính thì nắm tương đối chính xác, tự cậu cũng biết khả năng của tôi đối với tiếng cổ và các thứ tiếng khác thế nào rồi...

Chúng tôi đi dọc hành lang và cuối cùng dừng lại trước bức tường phẳng lì, màu xanh nhạt, không rõ là màng mỏng hay là tường nữa. Và chúng tôi lại xuyên qua, giống như qua bãi lầy vậy. Vừa qua xong, tôi bỗng đứng sững lại như trời trồng: trong phòng lớn hình cầu bao nhiêu là chó lùn, áng chừng trăm rưởi, nếu không nói là nhiều hơn. Áo quần bảo hiểm của họ ánh lên màu vàng, thậm chí tôi phải nheo mắt lại vì chói không chịu nổi. Ở đấy các thiết bị đáng kinh ngạc làm sao! Những màn hiện hình tuyệt diệu! Nhìn vào đó, trong lòng vừa kinh sợ, vừa thích thú, không biết là lạc vào thiên đường hay địa ngục. Trên trần đầy những hình thù kỳ dị đủ sắc màu như cầu vồng, loại giống ếch, loại như rắn, loại nữa giống bướm, có loại nói chung không ra hình thù gì. Có những chậu, những thùng trong suốt với cây cỏ bên trong, tất nhiên nếu đó là cây, điều mà tôi hết sức nghi ngờ. Mà chắc cậu cũng không tin hết, tất cả bác học đều khốn khổ vì sự tẻ nhạt, tất cả đều là những người buồn ngấy, tôi nói có đúng không?

Giư-lê-vin lấy khăn mùi xoa cũ nhàu nát ra, lau mồ hôi, thở dài và tiếp tục lời thú nhận của mình:

- Tất cả bọn họ ngồi, chính xác hơn là nằm, trong những chiếc ghế bành, có vẻ giống ghế của các bác sĩ nha khoa trong phòng làm việc. Còn một người đứng trên chỗ cao hơn. Tôi lập tức nhận ra đó là nhân vật chính và thầm gọi là Chỉ huy. Chỉ huy to, cao gấp đôi những người khác. Thử hình dung một tên cướp cao hai mét rưỡi và vai cũng từng ấy. Cứ cho loại này ra sân khúc côn cầu thì một mình anh ta đủ quét sạch cả đội nhà nghề Ca-na-đa, đến một dấu vết của những kẻ hay ẩu đả ấy cũng không còn... Nhưng thôi, tôi sẽ không đi lạc đề nữa.

Họ quay ghế bành của mình về phía chúng tôi. Còn Chỉ huy, cao lêu đêu, hỏi rất nghiêm khắc những người đưa đường của tôi, thế này, thế kia, tại sao để sót, tại sao tên dã man này lại không bị mê ngủ cùng với tất cả những kẻ khác? Nói chung là cạo lông, cạo gáy họ. Mấy con chó lùn của tôi thanh minh nói rằng không ai dự đoán là tôi lại trốn trong cái tàu vũ trụ dở dang trên đồi, còn khi nhận ra tôi, bố trí lại máy gây mê thì quá muộn, nó đã được sử dụng hết hoàn toàn cho đoàn quay phim bất hạnh của tôi.

Ông ta nghiêm khắc cảnh cáo họ, và sau đó nói tiếp: “Thôi được, trong điềm gở cũng có điều lành. Hãy mang tên thổ dân này đi, khi nó đã ở đây, và làm thí nghiệm các bệnh tật, các bệnh truyền nhiễm và những thứ bẩn thỉu khác. Gây mê - ông ta nói - ở trong phòng giải phẫu, mổ bụng, nghiên cứu kỹ lưỡng gan, tỳ và ruột. Mổ sọ, xem thử não, còn sau đó ghép lại như cũ, và xóa hết trí nhớ về những sự kiện xảy ra đêm nay”.

Kẻ độc ác hành tinh khác đã ra lệnh như thế đấy, từ bấy đến nay cứ nghĩ đến nó là người tôi lại giật nẩy - khi nói những lời này thì Giư-lê-vin đúng như bị điện giật - Tất cả các khoa học nhà anh nó thế. Các anh dùng dao mổ để mổ xẻ ếch, gắn các đầu cho chó, gây dịch hạch cho lợn bể. Vì lợi ích, như thường nói, của sự tiến hóa. Còn ở đây tôi thay thế con lợn bể cho người ta thí nghiệm. Để cho người ta rạch bụng và mổ sọ tôi ư? Không, tôi cần phải chống chọi để giữ cái thân mình - tôi thầm quyết định.

“Những người anh em - tôi van lạy và đầm đìa nước mắt. - Hỡi những người anh em quý giá cùng chung trí tuệ! Hãy ban ơn cho tôi! Đừng lấy tôi làm thí nghiệm, vì Chúa! Vì sao lại có sự phỉ báng thế này đối với một kẻ chưa vợ!”.

Cần nói rằng tôi cũng học được đôi điều lúc quay phim, đạt được ít nhiều khái niệm sơ đẳng của nghệ thuật diễn viên, việc này chẳng khó gì. Tôi quỳ sụp xuống, gào rống thảm thiết, vái họ sát đất, xé quần áo trên người và tôi bỗng đánh hơi thấy điều không lành. Câu chuyện giữa họ lập tức câm bặt. Chỉ huy gieo mình xuống ghế bành, còn cả hai người dẫn đường của tôi tụt lùi cách xa tôi khoảng hai chục mét, y như bị bò liếm. Tôi nhìn thấy Chỉ huy vặn tay quay trên áo bảo hiểm, và tôi, nằm gọn trong quả bóng bay, được chuyển thẳng đến chỗ ông ta trên chỗ cao. Ông ta hỏi tôi rất nghiêm khắc, rằng từ đâu mà tôi biết tiếng họ. Còn tôi chẳng giấu gì hết, tôi cũng chẳng mất gì, và tôi kể lại rất thành thật, rằng đó là năng khiếu bẩm sinh đối với các thứ tiếng. Nói thẳng với cậu, không phải lập tức họ tin tôi ngay, thậm chí còn bắt tôi thi giống hôm ấy. Cuộc thi kết thúc thế nào, tất nhiên, cậu đoán được chứ?

- Đoán được - tôi nói.

- Tôi kể hết với họ một cách chi tiết nhất về sự tồn tại cuộc sống ở Trái Đất - Mẹ hiền. Tôi miêu tả tất cả về cuộc quay phim của chúng tôi, giải thích điều băn khoăn của họ về người Nga-lơ. Nhưng chỗ này tôi đã hớ. Ma quỷ nào xui tôi ba hoa là theo kịch bản, thổ dân mọi rợ của chúng tôi là những người sống trên Sao Thổ. Nói đến đây, thì ở đấy xảy ra một điều mà trong chuyện cổ tích không có, bút không thể miêu tả nổi: tiếng ầm ĩ, tiếng cười sặc sụa, tiếng rống, tiếng kêu tức giận nổi lên. Từ ghế bành, những con chó lùn nhảy chồm dậy, áo bảo hiểm khua loảng xoảng, thậm chí có cả mùi gì khen khét, chắc là dây điện bị cháy... Anh bạn, chắc cậu không tin, những việc như thế nào đã xảy ra. Hãy chú ý nghe tôi và hãy kinh hoàng: hóa ra những con chó lùn của tôi, là ai cậu thử nghĩ xem? - là dân Sao Thổ! Qua mắt, tớ thấy cậu không tin, đúng không? - Giư-lê-vin nốc một hơi cạn cốc rượu và uống cả nước chanh của tôi.

- Trên Sao Thổ không có sự sống - tôi nói chắc chắn - trên ấy khí vừa độc, vừa hại như thế, cho nên...

- Còn tôi nói với cậu: đấy là dân Sao Thổ. Thậm chí không cần bàn cãi! - Giư-lê-vin kêu lên cáu kỉnh đến nỗi những người ngồi ở bên phải cũng ngoái đầu sang - Chỉ vì họ mà cuộc sống của tôi mới lộn tùng phèo lên. Cậu hãy nghe tiếp, cái chính nhất còn ở phía trước.

Họ kêu lên, tức giận, có người thậm chí còn dọa sẽ biến cả khe núi thành tro bụi, quét khỏi mặt đất bạn bè, đồng chí của tôi vì sự vu khống đối với hành tinh và cả nền văn minh mẫu mực của họ. Chỉ huy khó khăn lắm mới lấy lại được trật tự.

“Khoan đã, - ông ta nói, - Hỡi những người Sao Thổ thông thái. Trừng trị bọn thổ dân bao giờ ta cũng kịp, nhưng đầu tiên cần phải xem chúng đã quay được cái gì ở dưới đấy?”.

Tôi liền giải thích với họ: Phim chưa xong, còn ba cảnh chưa quay được, các thủ pháp chưa được hoàn chỉnh, âm thanh còn chưa có, và đại loại như thế.

“Không sao, chúng ta sẽ xem cái gì đã quay được. - Chỉ huy trả lời và hỏi thăm dò: - Những hộp phim đã quay rồi, giờ nằm đâu?”.

“Chúng còn nằm đâu nữa, - tôi nói, - ngoài cái két sắt của Mi-sa Bác-cốp-xki. Ông ta cả ngày cả đêm bên két này. Phim đã chụp ở trong lán của đạo diễn chính, phía dưới chúng ta. - Tôi nói và chỉ ngón tay xuống sàn. Kỳ lạ thay, con tàu bỗng trở nên trong suốt như kính, và lần nữa, tôi thấy phía dưới mình cả vương quốc đang mê ngủ.

“Hãy chỉ lán nào?” - Chỉ huy ra lệnh.

“Kia kìa, - tôi nói, - cạnh con sông nhỏ, gần vực, trên mái có vẽ rồng rắn ấy”.

Tôi chưa kịp ngậm miệng thì các tia vàng nọ đã xuyên tới lán, lôi két sắt vào trong con sứa, như kiểu lôi tôi, rất nhẹ nhàng, mà két sắt hơn hai tạ chứ ít đâu, phải bốn người vất vả mới kéo nó lên nổi xe. Chưa kịp ngoảnh mặt, két sắt đã đứng cạnh tôi rồi.

“Chìa khóa, lũ nghếch quên mất chìa khóa rồi!” - Và tôi lại chỉ tay xuống sàn, nhưng sàn đã mờ đi và trở lại như cũ.

Còn chìa khóa nào nữa! Theo hiệu của Chỉ huy, một trong số họ đến gần két sắt, thò tay xuyên qua thành vào bên trong. Không, cậu thử tưởng tượng: xuyên qua lớp vỏ thép xe tăng vào trong!

Hắn lôi ra chín hộp phim và lập tức cùng với chúng biến khỏi phòng. Ngay đấy, ánh sáng mờ đi, và trên đầu, trong không khí, tôi trông thấy các cảnh “Đổ bộ lên Sao Thổ” hiện lên và những người Sao Thổ nhìn thành quả của chúng tôi, tất cả đều xem. Thật ra, thỉnh thoảng, tiếng la ó không tưởng được nổi lên, đấy là khi chiếu những cảnh về Sao Thổ. Còn khi chiếu đến đoạn cuối, chỗ Ca-chi-a Pa-xca-lê-va và Mác-rôi-a-nhi hôn nhau, họ tống tôi ra khỏi phòng. Tôi hiểu ngay: bây giờ số phận của tôi sẽ được quyết định. Tôi ngồi trong hành lang nhỏ, giữa những ngọn lửa đang nhấp nháy trên tường, răng đánh cầm cập, cơn sốt ập đến, cả người đảo điên, bàn chân giật giật.

Tôi không nhớ phải đợi đến bao lâu, cuối cùng chiếc bóng bay lại đưa tôi trở về phòng. Ở đấy bây giờ trống rỗng. Chỉ huy ngồi trên ghế cao của mình, cùng với ông ta có năm, sáu người nữa. Và tất nhiên, họ đọc quyết định của mình cho tôi nghe. Thứ nhất, tất cả cảnh phim về Sao Thổ bị họ cắt và mang theo mình, với mục đích gì, tôi không rõ. Thứ hai, thay vào chỗ phim bị lấy, họ sẽ để vào hộp một số phim cảnh thời sự về cuộc sống thật sự của Sao Thổ. Điều này có nghĩa là để cho dân Trái Đất, dù chưa chiếm được sự tin cậy hoàn toàn của những thế giới khác bên ngoài, bắt đầu hiểu ít nhiều là sẽ đến lúc họ được gặp những nền văn minh như thế nào. Cũng dễ hiểu là trong tương lai, chứ không phải bây giờ. Để cho tâm lý người Trái Đất phát triển theo hướng cần thiết. Thứ ba... đấy là điều đụng chạm đến tôi. Xem xét kỹ việc tôi, họ thương hại và không mổ tôi như con ếch. Có lẽ tôi làm cho họ động lòng bằng những lời van lạy. Còn cuối cùng chỉ huy nói:

“I-liu-sa, chúng tôi sẽ không chiếu dọi để xóa trí nhớ về cuộc làm quen hôm nay của chúng ta. Chúng tôi sợ rằng, lỡ tính sai tí chút, chạm phải chỗ giấu món quà thiên bẩm quý giá của anh. Rằng I-liu-sa, anh là sinh vật có trí tuệ độc nhất trong hệ mặt trời chúng ta, mà có thể trong cả thiên hà, có khả năng như thế với các ngôn ngữ. Anh - ông ta nói - hãy giữ lấy mình. Sau này, cứ bao giờ những đoàn thám hiểm của chúng bay đến đây, mà họ thường đến luôn, anh sẽ là phiên dịch, nếu có sự cần thiết, có việc xảy ra. Nhưng chỉ có điều là chúng ta cần thỏa thuận một cách nghiêm chỉnh: những điều gì anh nghe, thấy, không nói với ai một lời. Hãy thề bằng lời nguyền đáng sợ nhất, rằng bí mật sẽ được giữ không suy suyển. Còn nếu anh nói với ai, lúc ấy thì cứ tự trách mình, chứ chẳng còn trách ai được nữa. Chúng tôi sẽ làm anh câm đi một cách không thương tiếc, thêm vào đó, chúng tôi sẽ làm anh mất hình người.

Cậu hãy tưởng tượng, anh bạn, ông ta còn dọa tôi thế này, ông nói rằng, chúng tôi sẽ biến anh thành con vật, không cần bàn cãi. Đúng là nhà ảo thuật, hả? “Chỉ cần trong nháy mắt - ông ta nói - chúng tôi sẽ biến anh thành con bò, hoặc con dê, hoặc chó, hoặc còn là con vật bất kỳ nào nữa. Chúng tôi, những người Sao Thổ, biến dạng bề ngoài đầy quyến rũ của anh dễ như bỡn”.

Tôi xoa gáy suy nghĩ và, tất cậu hiểu, đã thề. Còn trốn đi đâu nữa, phải làm bất cứ điều gì để cứu lấy mạng mình. Nào, tôi hút thêm điếu nữa, cho tôi tý lửa, anh bạn. Tôi nói bật lửa cậu có hạng đấy, người biết của sẽ bỏ ra trăm bạc để mua cũng không hề tiếc. Mà là bật Ti-tan, cậu nói vậy đúng không?

- Ti-tan - tôi khẳng định, còn Giư-lê-vin kéo một hơi thuốc dài, tiếp:

- Phần còn lại chẳng hay như thế nữa đâu. Họ bay đến Châu Phi, đến bộ lạc Nga-lơ thật sự để quay bộ phim của họ, thậm chí tôi còn nhớ tên là “Cuộc đổ bộ xuống Trái Đất”. Nếu tôi mà nói, họ cần bao nhiêu thời gian để hoàn thành bộ phim, chắc cậu lại không tin. Mỗi một đêm, hiểu chưa? Lập tức hàng trăm máy quay phim cùng hoạt động, hàng trăm trường quay, chứ đâu như xưởng phim của ta. Không cần nói gì, kỹ thuật họ tiến khá xa. Trái Đất còn lâu mới đuổi theo kịp ...

Và tia sáng lại đưa tôi về buồng tàu vũ trụ. Cha mẹ ơi, sao mà tôi cảm thấy nó tồi tàn đến thế! Giống như tôi từ cung điện Pê-téc-bua lạc vào chiếc lều gỗ. Để che mắt, tôi đóng cửa buồng lại, nhưng ghé mắt vào khe hở tò mò xem tất cả sẽ kết thúc thế nào. Tôi nhận thấy ánh sáng tím nhạt mờ dần. Những tia lửa nhấp nháy trên mình con sứa hình như tối đi cho đến lúc cuối cùng tàu Sao Thổ mất hẳn, cứ như là đã không hề có nó vậy. Bỗng nhiên, như có ai mở công tắc, vương quốc mê ngủ của chúng tôi bừng tỉnh lại. Động cơ đi-ê-den bắt đầu làm việc, ánh sáng lan tỏa khắp nơi. Bác-cốp-xki, như thường lệ, vung loa của mình, thổ dân Nga-lơ quay cuồng trong điệu nhảy ghê sợ của họ, đang diễn thử.

Tôi trèo ra khỏi tàu vũ trụ, thoáng cái đã từ trên đồi xuống, chạy đến bên Bác-cốp-xki - tất cả y nguyên ở chỗ của mình, hầu như không hề có gì xảy ra. Tôi bí mật ngó vào lán của Bác-cốp-xki thì két sắt vẫn hoàn toàn nguyên vẹn. Ít hôm sau, Bác-cốp-xki đi Mát-xcơ-va mấy ngày mang theo tất cả các cuốn phim, chắc là hắn đã phát hiện ra món quà của hành tinh khác. Còn lúc từ Mát-xcơ-va trở về, hắn tuyên bố đắc thắng với mọi người rằng đã tìm ra một phương pháp đặc biệt để quay cảnh tự nhiên trên Sao Thổ, gì đấy như cách hóa trang gây kích thích cực mạnh, vì vậy hãy xếp xó liều trại, không cần các vai phụ nữa, giải tán đoàn quay phim, những gì còn lại sẽ quay nốt ở Mát-xcơ-va tại trường quay.

Đến tháng năm, “Cuộc đổ bộ lên Sao Thổ” đã được hoàn thành. Tiếc là cậu không xem nó, nhất thiết cậu nên xem. Phim chiếu sáu giờ liền mà xem không thể rời ra được. Sao Thổ thế nào cơ chứ! Những lâu đài bay! Những ảnh chụp dưới nước: với những quái thú nhiều đầu, người cá, chúng có vạn ngàn trên đó. Những trận ẩu đả của thú dữ, mỗi con trăm rưởi mét. Còn những thành phố thế nào! Nhà như những cái cây mọc từ dưới đất lên cao chừng mười ki-lô-mét. Dân Sao Thổ như chuồn chuồn bay lượn giữa trời. Đấy là thiên đường. Chỉ có thiếu thiên thần mà thôi, còn mọi cái thì đúng là thiên đường.

Đến mùa thu, Bác-cốp-xki chiếm hết các giải thưởng chính trong nước, ở Ta-sken, ở Nô-vô-xi-biếc-xcơ, ở Ki-si-nhốp và ở liên hoan phim thế giới Mát-xcơ-va. Khắp nơi. Gửi “Đổ bộ” đến Can-nư - thắng lợi rực rỡ! Ở Vê-nê-xi-a và ở đây Bác-cốp-xki vượt lên tất cả, cả Phê-li-nhi, cả Biu-nhiu-e-lơ, cả Béc-gơ-man. Cậu yên trí. Cũng trong năm ấy, từ Tờ-ri-e-xtơ, hắn mang về “Tiểu hành tinh kim cương”, từ Phi-líp-pin - “Bông sen vàng”. Khắp nơi, Bác-cốp-xki được đón tiếp như thế nào! Có ai đó còn dễ dàng phong cho hắn là Giáo chủ của nền điện ảnh hiện đại, mà Giáo chủ gì hắn ở cái tuổi hơn bốn mươi bảy một tý ấy, tôi nói phải không?

Việc dễ hiểu là tôi đi khắp nơi với hắn, lượn lờ khắp, và vinh quang của hắn phản chiếu vào cả tôi, như thường nói. Hắn trên truyền hình, tôi cũng trên truyền hình, hắt hôn tay phu nhân tổng thống, thì tôi cũng cúi xuống, biết thế nào khác, phiên dịch riêng mà, thiếu tôi hắn chẳng đi đâu được một bước, mà hắn chẳng giỏi gì tiếng nước ngoài... và thế là cuối cùng cả “mười ba Ô-xca-rơ” rơi vào tay hắn một lúc, thử tưởng tượng điều đó là thế nào!

Trong số diễn viên, có ba người được nhận: Pôn Nhiu-men, Phi-líp Noa-rê, và Ca-chi-a Pa-xca-lê-va, cô gái Bun-ga-ri xinh đẹp đã từng nổi tiếng trong “Chiếc sừng dê”, chắc cậu biết. Biên kịch nhận, quay phim, họa sĩ dàn cảnh, họa sĩ hóa trang, thậm chí cả đạo diễn âm thanh người ta cũng không tiếc các tượng vàng, chưa bao giờ có như vậy trong cả lịch sử điện ảnh...

Và mọi người đổ xô ra đón khi chúng tôi trở về. Đất mẹ từ Hô-li-út - tôi sẽ không kể chi tiết, thế nào thì cậu cũng không tin. Hai năm liền chúng tôi sống như vương đế. Nói chung, tất cả, từ anh chiếu phim di động đến nhà viện sĩ, gập người trước Bác-cốp-xki! Anh hùng! Ủy viên mọi hội đồng chấm thi quốc tế! Chủ tịch hàn lâm nghệ thuật điện ảnh thế giới. Hắn bỏ vợ với hai con và cưới luôn một ả người Pháp. Tôi cũng vứt bỏ trường đại học, và thiếu bằng tốt nghiệp, tôi không phải là hạng bét trên hành tinh...

Khi lễ tiệc chính vừa lắng xuống, Bác-cốp-xki thông báo tiếp về ý đồ mới của mình. Hắn quyết định lần này sẽ đi vào lịch sử, làm một sự kiện vĩ đại tiếp, gọi là “Tấm gương Át-chi-la”. Hắn quyết định tạm hoãn với viễn tưởng, mặc cho những lời đề nghị váng đầu. “Tôi - hắn nói - phải nghỉ ngơi, hồi phục sau “Đổ bộ”. Tất cả đều đồng tình với hắn, nhưng còn tôi thì hiểu cái cơ bản, dù vậy tôi vẫn ngậm tăm. Xem này, chai thứ hai đã hết nửa mà mắt chưa cay. Tất cả là do nỗi nhục gậm xé tôi, tôi không thể tha thứ cho Mi-sa Bác-cốp-xki với những cái nghệ thuật đểu cáng của y được, vì vậy mà rượu mất tác dụng.

Hãy chú ý nghe tôi: bây giờ, bắt đầu đều buồn thảm nhất. Tháng rưỡi cuối cùng này chúng tôi và Bác-cốp-xki chơi rông ở đây, ở Xu-đắc. Lại hội nghị chuyên đề quốc tế. Lần nữa, Mi-sa lại được tâng bốc lên trời. Người ta trao gì đó cho hắn, những phần thưởng này y có cứ là hàng đống. Còn tuần trước chúng tôi ghé vào đây, vào quán cà phê này để nhấm nháp tí chút. Ở đây ấm cúng, ban ngày hầu như không có người, mà cái chính là bàn ở đây là một phần trong số đạo cụ của cuộc đổ bộ lên Sao Thổ, cậu thấy hình dung nó phức tạp thế nào rồi.

- Chúng giống như quỹ đạo hành tinh với hai mặt trời.

- Có lẽ nó chính là thế, - Giư-lê-vin đồng tình, - bác học các anh rõ hơn. Những bàn này của chúng tôi nằm trong phòng chung ở tàu vũ trụ. Tay phụ trách ở đây lúc ấy đã thuyết phục chúng tôi bán, những bàn này làm ông ta mất trí... Nhưng thôi, chẳng cần nói về điều ấy.

Chúng tôi ngồi với Mi-sa, nhấm nháp cô-nhắc, và hãy tưởng tượng, hắn đã nói điều gì, đồ đểu cáng.

“Tôi, - hắn nói, - bây giờ đã biết nhiều thứ tiếng, và không có cậu, tôi cũng đủ xoay xở. Nhưng cái chính - hắn nói - tôi cảm thấy khó xử khi đi cùng cậu đến với giới thượng lưu”.

“Khó xử có nghĩa là gì? - tôi kinh ngạc với sự xỏ xiên của Mi-sa. - Cùng đi khắp 52 nước, ăn chung hàng đấu muối, ở đâu tôi cũng trung thành, như con chó, với anh. Tôi đã tận tình và bỗng: “Đùng! Khó xử!”.

“Khó xử, - hắn nói - là vì vợ tôi bây giờ. Bri-gít, không chịu nổi cậu. Thì cậu thử nhìn lại mình một lần nữa trong gương xem. Mũi như quả mận, mắt thì y hệt mắt chó, tai lại dựng ngược, hói đến tận gáy, cứ như là được đánh xi ấy!”.

Lúc này nỗi tức giận chiếm lấy tôi, thậm chí đến nghẹt thở! Ái chà mày, tôi nghĩ, kẻ được giải thưởng một cách vô liêm sỉ, vì con mụ đàn bà trát phấn bôi son mà phản lại bạn chí thân của mình!

“Có thể, dù tôi có hói đến tận gáy - tôi điềm tĩnh trả lời - nhưng lương tâm trước khán giả trong sạch. Tôi không gặm thứ bánh mì ăn cắp được, như một số vĩ nhân, người được giải thưởng, chủ tịch, giáo chủ khác”.

“Mày buộc tội bánh mì ăn cắp nào đấy? - Bác-cốp-xki vít lên, ngó nhìn tứ phía - Mày, - hắn nói - đồ hói trán, nói dối, phải có chừng mực”.

Anh bạn ơi, cậu có thể tưởng tượng rằng chính hắn, hắn rủa tôi là đồ hói trán! Đáng lẽ hắn phải dập đầu mà lạy cái chỗ hói này, thế mà...

Tôi nắm chặt hai tay dưới bàn, im lặng, máu sôi lên vì nhục, còn trong đầu cứ như con gõ kiến dùng mỏ mổ: “Đồ hói trán! Đồ hói trán”. Tôi, cũng dễ hiểu, không phải là Mac-lông Brăng-dơ, cũng không là A-len Đơ-lông nhưng cũng có ý thức nào đó về mình. Không tôn trọng bản thân, không những con người mà thậm chí loài vật cũng sẽ không sống nổi, tôi nói có phải không:

“Chà, Mi-sa - tôi nói - mày là con vật bẩn thỉu! Lẽ ra mày phải rửa chân cho tao vì “Đổ bộ lên Sao Thổ”, vì rằng tao giúp mày từ hạng tiểu nhân, từ hạng lái buôn nên người. Mày đã quên khuấy rằng, người ta muốn đuổi mày từ năm thứ ba như thế nào, bởi mày không có khả năng sáng tạo, rằng bố mày, phụ trách cửa hàng đồ cũ, phải run lên như cầy sấy để cứu mày ra sao rồi hả?”.

Nói chung, trí tôi mờ đi, quên cả những lời thề nguyền đáng sợ với những người ngoài hành tinh, quên hết tất cả trên đời. Và tôi kể cho Bác-cốp-xki sự thật hoàn toàn về người Thổ tinh. Nói hết, không giấu giếm điều gì, tôi nghĩ, thôi thì để sự thật làm cho nó nghẹt thở, đồ bịp bợm.

Và cậu nghĩ gì, anh bạn tâm tình của tôi ơi? Hắn bình thản nghe đến hết, thậm chí không thèm nhíu lông mày, còn sau đó đứng lên và nói :

“Mày điên rồi - hắn nói - hiển nhiên là điên. Tất cả những cái đó là sự ngu xuẩn cực kỳ hỗn độn, sự nhảm nhí của trí tưởng tượng bệnh hoạn. Cần phải cho mày - hắn nói - vào nhà thương điên, hơn nữa phải nhanh chóng, còn tao - hắn nói - khi muốn sẽ lo liệu việc này. Từ nay về sau - hắn nói - con chồn hôi hói trán, đừng có mà chạm mặt với tao!”.

Và hắn bỏ đi, đồ phản phúc, ngay ngày đó hắn bay về Mát-xcơ-va, từ đó - sang Pa-ri của hắn, đến với ả Bri-gít lem luốc phấn son. Còn tôi thì bắt đầu uống vì nhục, xấu hổ và đau đớn...

Giư-lê-vin lấy khăn lau nước mắt và thở dài cay đắng:

- Điều vặt vãnh thế này cứ ám ảnh trong đầu: hai tai, mà thật, cứ đúng là tai chó...

- Không đáng buồn phiền vô ích - tôi nói - thí dụ ở những người I-ran cổ, chó được thần thánh hóa là đấng tối cao A-khu-ra-ma-đe và được thờ phụng như một vị thánh.

- Cám ơn, người anh em, đã an ủi - mắt Giư-lê-vin sáng lên - Ôi chà, cứ để cho hắn mất mặt luôn ở Pa-ri của hắn! Còn cậu, anh bạn, nếu thực sắp sang đó, lập tức thử tò mò xem cái mặt mẹt đểu cáng Bác-cốp-xki, tôi không biết mình giống con gì, còn kẻ lá mặt lá trái này y hệt con chó núi đáng sợ và hung dữ, điều này được nói rất tế nhị trong thơ cổ mà cậu vừa đọc.

- Tôi hứa với ông là sẽ tò mò xem con chó núi Bác-cốp-xki - tôi mỉm cười trả lời và nhận được từ ông một nụ cười thiểu não.

Tôi nhìn quanh. Ông già nhỏ bé ngồi đoán chữ đã biến mất, đôi trẻ si tình ôm nhau quay lưng về phía chúng tôi và ngắm mặt trời đang lặn. Bà bán hàng thiu thiu ngủ. Ngoài ra không còn bóng người nào nữa trong khách sạn.

- Nhưng còn cậu, cậu có tin tôi không, anh bạn? - Giư-lê-vin hỏi tôi vẻ cầu khẩn và hút tiếp thuốc lá.

- Tôi tin ông - Tôi nói - tôi tin tất cả đúng như thế. Chỉ còn một chi tiết hoàn toàn tôi không hiểu được. Tại sao ông quyết định phá lời thề? Ông không sợ họ sẽ thực hiện lời hăm dọa ư?

Giư-lê-vin gãi gãi cạnh tai và trả lời:

- Nói thật là tôi sợ. Nhưng đã mang tội lỗi trong lòng thì trốn đâu cho thoát? Tôi tính thế này: nếu như họ đang theo dõi tôi, cứ cho là thế, thì dù sao từ Sao Thổ họ cũng chẳng thể biến tôi thành dê được, khoảng cách xa đến thế, hàng triệu ki-lô-mét. Họ lại cần bay đến đây lần nữa. Còn ở đây đừng hòng đánh lừa tôi, tôi đã có kinh nghiệm rồi. Bây giờ không có cái gì lôi nổi tôi ra ngoại thành, vào rừng, vào công viên được nữa. Tôi sẽ sống ở nơi đông người nhất. Chính cậu cũng hiểu, con sứa của họ sẽ không lảng vảng trên Mát-xcơ-va, thậm chí cả trên Xu-đan, họ có ngốc nghếch đâu.

- Ông nói đúng - tôi nói - có lẽ tất cả những cuộc thám hiểm của người hành tinh khác bị cấm để lộ mình theo cách ấy. Nhưng dù sao, vẫn còn cách khác. Họ có thể quay trên quỹ đạo và phái một người đặc trách xuống hóa kiếp ông.

- Cậu khờ lắm, anh bạn ạ. - Giư-lê-vin cười thoải mái - Cứ cho họ muốn cử ai đến thì cử. Bây giờ cậu hãy xét xem: Chẳng lẽ hắn ta lại có thể xuất hiện chỗ đông người? Tôi đã nói với cậu là họ giống những con chó lùn, quái thai không tưởng được, so với họ, tôi còn đẹp hơn cả Giê-rắc Phi-líp. Và nếu con bù nhìn thế kia trong áo bảo hiểm bằng vàng xuất hiện, cứ cho là trên bãi biển, hoặc trong cửa hàng, hoặc ở đâu đi nữa, cậu tưởng tượng xem, đám đông như thế nào sẽ dồn lại? Nếu kẻ đi hóa kiếp tôi có kịp dùng sức bắt tôi để kéo lên con sứa của hắn đi nữa, thì hắn cũng không thể sống sót mà chuồn nổi, hãy yên tâm.

- Nói chung đừng lầm lẫn sự quái thai của họ - tôi nói - Đúng hơn là ông mới làm quen với những người máy. Hình dạng thật của những người mà ông đã trao lời thề, chắc ông chưa được thấy. Ngoài ra, không ai ngăn cản họ làm áo quần bảo hiểm bề ngoài tuyệt đối giống người trái đất và cho người đến đây. Ông tha lỗi cho tôi, tôi là bác học, quen với lối tư duy lô-gích.

- Lô-gích bác học của cậu yếu lắm, anh bạn ạ - Giư-lê-vin trả lời, không suy nghĩ - Thế máy gây mê và máy biến dạng tôi hắn mang theo người à? Máy này thể tích lớn bằng năm khách sạn của chúng ta ấy, cái đầu nhà bác học của cậu ạ. Chính tôi đã thấy trong con sứa.

- Kỹ thuật không ngừng hoàn thiện không riêng ở trên Trái Đất - tôi nói với người tiếp chuyện lạ thường của mình.

- Nào, cho tôi châm tý lửa - Giư-lê-vin đề nghị sau một lúc trầm tư - Grand merci, nói như con rái cá lọ lem Bri-gít. Và dù sao bật lửa của cậu cũng là ngoại hạng, thích chết đi được. Cũng phải thôi: bằng ti-tan.

- Ông đúng đấy, nó bằng ti-tan. Nó được làm ở ti-tan, vệ tinh có người ở của Sao Thổ. Còn trên chính Sao Thổ thì không có sự sống - tôi nói và bấm bốn nút cần thiết trên bật lửa, đúng một thoáng trước khi Giư-lê-vin cất tiếng sủa.

NGUYỄN VĂN THẢO dịch

« Lùi
Tiến »